1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Xây dựng bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quanchương I, II - Sách giáo khoa Tin học 11 Trung học phổ thông

74 134 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KT-ĐG bằng TNKQ tỏ ra có nhiều ưu điểm như: kiểm tra được nhiều kiến thức, kỹ năng trong một thờigian ngắn, do đó có thể trải ra trên một nội dung rất rộng góp phần chống học tủ, họclệch

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

A PHẦN MỞ ĐẦU 3

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 3

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 5

3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 5

4 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 6

5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 6

6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6

B PHẦN NỘI DUNG 8

C HƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 8

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA KIỂM TRA- ĐÁNH GIÁ TRONG DẠY HỌC 8

1.1.1 Khái niệm về KT-ĐG 8

1.1.2 Mối quan hệ giữa kiểm tra và đánh giá 9

1.1.3 Ý nghĩa của việc KT- ĐG kết quả học tập của học sinh 10

1.1.4 Chức năng chủ yếu của KT- ĐG trong dạy học 11

1.1.5 Vai trò và nhiệm vụ của KT-ĐG trong QTDH 11

1.1.6 Những yêu cầu sư phạm của KT-ĐG 12

1.1.7 Quy trình tiến hành kiểm tra - đánh giá 13

1.1.8 Thực trạng của hoạt động KT-ĐG kết quả học tập môn Tin học 14

1.1.9 Một số nội dung cần lưu ý trong tổ chức KT-ĐG môn tin học 14

1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN 16

1.2.1 Khái niệm TNKQ 16

1.2.2 Ưu điểm và những hạn chế của phương pháp TNKQ 17

1.2.3 Các dạng câu TNKQ 18

1.2.4 Quy trình xây dựng một bài TNKQ 24

1.2.6 Phương pháp phân tích và đánh giá câu hỏi TNKQ 25

1.2.7 Cách thức ra đề và tổ chức thi 30

1.2.8 Cách chấm bài kiểm tra trắc nghiệm 31

1.3 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRẮC NGHIỆM CÁC MỨC TRÍ NĂNG 32

1.3.1 Đại cương 32

1.3.2 Biết 32

1.3.3 Hiểu 32

1.3.4 Áp dụng 33

1.3.5 Phân tích 33

1.3.6 Tổng hợp 33

1.3.7 Thẩm định 33

1.4 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 33

Trang 2

C HƯƠNG 2: CỤ THỂ HOÁ CHUẨN KIẾN THỨC, KỸ NĂNG, CẤP ĐỘ

ĐÁNH GIÁ VÀ XÂY DỰNG BỘ CÂU HỎI TNKQ PHẦN

CHƯƠNG I, II- SGK 35

2.1 CỤ THỂ HOÁ CHUẨN KIẾN THỨC, KỸ NĂNG, CẤP ĐỘ ĐÁNH GIÁ PHẦN CHƯƠNG I, II - SGK TIN HỌC 11 35

2.1.1.Vai trò, vị trí, ý nghĩa của chuẩn kiến thức, kỹ năng đối với việc 35

2.1.2 Một số căn cứ khi xây dựng chương trình và chuẩn kiến thức, 35

2.1.3 Xác định mục tiêu và chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương I,II- SGK Tin học 11 37

2.1.4 Cụ thể hoá chuẩn kiến thức, kỹ năng và cấp độ đánh giá của từng bài học cụ thể trong chương I, II - SGK Tin học 11 39

2.2 XÂY DỰNG BỘ CÂU HỎI TNKQ PHẦN CHƯƠNG I và II 45

2.2.1 Xây dựng bộ câu hỏi TNKQ cho bài 1 - Chương I 45

2.2.2 Xây dựng bộ câu hỏi TNKQ cho bài 3 - Chương II 45

2.3 CÁC BƯỚC XÂY DỰNG BỘ CÂU HỎI TNKQ CHO TỪNG BÀI Ở CHƯƠNG I, II - SGK TIN HỌC 11 46

2.3.1 Cách xây dựng bộ câu hỏi 46

2.3.2 Hướng dẫn sử dụng bộ câu hỏi 48

2.4 KẾT LUẬN CHƯƠNG II 48

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆP SƯ PHẠM 50

3.1 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA THỰC NGHIỆM 50

3.1.1 Mục đích của thực nghiệm 50

3.1.2 Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 50

3.2 PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 50

3.2.1 Chọn đối tượng và địa bàn thực nghiệm 50

3.2.2 Tiến hành xây dựng bộ đề thi 51

3.2.3 Tổ chức kiểm tra học sinh 57

3.2.4 Phân tích, thẩm định bộ câu hỏi TNKQ phần chương I, II-SGK .57

3.3 PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ BỘ CÂU HỎI TNKQ 57

3.3.1 Quy trình tiến hành đánh giá bài kiểm tra bằng TNKQ 57

3.3.2 Phân tích câu hỏi đề kiểm tra số 1 58

3.3.3 Xác định độ khó và độ phân biệt của câu hỏi trong đề kiểm tra số 1 .65

C PHẦN KẾT LUẬN 73

D TÀI LIỆU THAM KHẢO 75

Trang 3

Để quán triệt quan điểm trên của Đảng, giáo dục phải đào tạo học sinh trởthành những con người vừa có khả năng đáp ứng những yêu cầu phát triển kinh tế -

xã hội trước mắt, vừa có khả năng sáng tạo để đưa đất nước đi lên, tiếp kịp bạn bètheo yêu cầu mới của cộng đồng Muốn vậy bắt buộc phải đổi mới phương pháp dạyhọc (PPDH) sao cho thích ứng

Việc đổi mới PPDH chỉ thực sự có hiệu quả nếu tiến hành đồng bộ với đổi mới

cơ sở vật chất thiết bị, đặc biệt là phương pháp kiểm tra đánh giá (KT-ĐG) kết quảhọc tập

Đổi mới PPDH giúp học sinh biết cách tự học và hợp tác học tích cực, chủđộng sáng tạo trong phát hiện và giải quyết vấn đề

Từ trước tới nay việc KT-ĐG ở trường phổ thông phần lớn sử dụng phươngpháp kiểm tra truyền thống Phương pháp này tuy có nhiều ưu điểm nhưng nặng vềkhả năng ghi nhớ, trình bày lại nội dung của thầy đã truyền thụ, bộc lộ nhiều hạn chế

về nâng cao tính tích cực học tập và khả năng vận dụng linh hoạt, sáng tạo các kiếnthức, kỹ năng của người học trong các tình huống thực tế đa dạng hiện nay Để khắcphục những hạn chế trên, nhiều nước trên thế giới đã nghiên cứu và vận dụngphương pháp đánh giá bằng trắc nghiệm khách quan (TNKQ) KT-ĐG bằng TNKQ

tỏ ra có nhiều ưu điểm như: kiểm tra được nhiều kiến thức, kỹ năng trong một thờigian ngắn, do đó có thể trải ra trên một nội dung rất rộng góp phần chống học tủ, họclệch…

Ở nước ta việc sử dụng TNKQ để đánh giá kết quả học tập chỉ mới được thíđiểm ở một số môn học ở trường Đại học Và năm học vừa qua, 2006-2007 trong kỳ

Trang 4

thi tuyển sinh Đại học đã áp dụng thi TNKQ ở một số môn Đến nay Bộ giáo dụcđào tạo cùng các Sở giáo dục khởi xướng và khuyến khích nghiên cứu, áp dụngphương pháp TNKQ trong việc kiểm tra, đánh giá chất lượng học tập của học sinh.Việc xây dựng hệ thống câu hỏi TNKQ cho mỗi bài học, mỗi chương còn là bài tậpgiúp cho học sinh tự KT-ĐG kết quả học tập nhằm kích thích tinh thần tự lực tronghọc tập ở mỗi bài học đồng thời lập ngân hàng câu hỏi kiểm tra theo chương haytheo từng học kì.

Môn tin học là một môn học còn khá mới mẻ, mặc dù đã được đưa vào giảngdạy từ những năm 1990, tuy nhiên năm 2006 lần đầu tiên được đưa vào là một mônhọc chính thức ở NTPT Chính vì vậy việc xác định các chuẩn kiến thức, kỹ năng vàcấp độ đánh giá theo chuẩn kiến thức, kỹ năng đó là rất quan trọng, nhằm nâng caohiệu quả dạy và học môn tin học ở NTPT

SGK (Sách giáo khoa) Tin học 11 trang bị cho học sinh một số khái niệm cơbản về lập trình và ngôn ngữ lập trình bậc cao Trong đó, chương I giới thiệu về một

số khái niệm về lập trình và ngôn ngữ lập trình Chương II giới thiệu về chươngtrình đơn giản, qua chương này học sinh sẽ biết về cấu trúc chương trình, các kiếnthức cơ bản về kiểu dữ liệu, phép toán, biểu thức, câu lệnh gán, tổ chức vào/ra đơngiản và cách thực hiện chương trình trong môi trường Pascal

Phương pháp TNKQ không phải là một vấn đề mới và đã có nhiều đề tài luậnvăn đã nghiên cứu về phương pháp này Tuy nhiên riêng với bộ môn Tin học thì mớiđược Bộ GD-ĐT chính thức đưa vào chương trình phổ thông vào năm 2006 nên mới

có rất ít đề tài bàn về việc nghiên cứu cụ thể hóa chuẩn kiến thức, kỹ năng và cấp độđánh giá chương trình SGK chuẩn và xây dựng bộ câu hỏi TNKQ hoàn chỉnh đểKT-ĐG kết quả học tập của học sinh trong QTDH môn Tin học Năm học 2006 -

2007 có một số sinh viên làm khóa luận nghiên cứu về đề tài cụ thể hóa chuẩn kiếnthức, kỹ năng, cấp độ đánh giá và xây dựng hệ thống câu hỏi TNKQ Nhưng những

đề tài đó chỉ mới nghiên cứu chương trình SGK Tin học 10 Riêng đối với chươngtrình SGK Tin học 11 chỉ có một số sách viết về câu hỏi và bài tập trắc nghiệm như:

Câu hỏi và bài tập trắc nghiêm Tin học 11 - Quách Tuấn Kiên (chủ biên).

Trang 5

Xuất phát từ những lý do đã trình bày ở trên và thấy được vai trò của việc kiểmtra TNKQ trong quá trình tiếp thu kiến thức của học sinh, nâng cao được chất lượng

học tập nên tôi chọn đề tài: “Xây dựng bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan

chương I, II - Sách giáo khoa Tin học 11 Trung học phổ thông”.

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

- Cụ thể hoá các chuẩn kiến thức, kỹ năng theo từng bài học, từng chươngtrong chương I và II, SGK Tin học 11 Từ đó đưa ra cấp độ đánh giá theo chuẩn kiếnthức, kỹ năng đó

- Xây dựng và đánh giá bộ câu hỏi TNKQ cho phần chương I và II - SGK Tinhọc 11 để góp phần nâng cao hiệu quả KT-ĐG thành quả học tập của học sinh trongquá trình học Tin học ở nhà trường phổ thông

- Thiết kế bộ câu hỏi trắc nghiệm trên phần mềm Tin học và hướng dẫn sửdụng

3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

 Nghiên cứu nội dung SGK Tin học 11

 Cụ thể hoá mục tiêu, các chuẩn kiến thức, kỹ năng cho từng bài học trongchương I và II, SGK Tin học 11

 Nghiên cứu cơ sở lý luận về KT-ĐG kết quả học tập của học sinh

 Nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về việc xây dựng bộ câu hỏiTNKQ thông qua các tài liệu tham khảo

 Xây dựng ma trận kiến thức

 Xây dựng câu hỏi TNKQ theo từng đơn vị kiến thức với số lượng khoảng

100 câu của chương I và II, SGK Tin học 11

 Nêu rõ cách thức tiến hành xây dựng câu hỏi TNKQ

 Thiết kế các câu hỏi trắc nghiệm trên phần mềm MC MIX hoặc phần mềmthi trắc nghiệm trên mạng

 Thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá hệ thống câu hỏi TNKQ về độ tincậy, độ giá trị và tính khả thi của nó trong việc học sinh tự KT-ĐG kết quả học tập

 Hoàn thiện kết quả nghiên cứu để báo cáo

Trang 6

4 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

 Cơ sở lý luận về kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh

 Cơ sở lý luận và thực tiễn về việc xác định chuẩn kiến thức kỹ năng, câuhỏi TNKQ

 Nội dung SGK Tin học 11, phần chương I và II, SGV Tin học 11, Sách bàitập Tin học 11 và một số tài liệu tham khảo khác nhằm đưa ra những mục tiêu cụ thể

để soạn thảo hệ thống câu hỏi TNKQ cho từng bài, từng chương

 Phần mềm MC MIX hoặc phần mềm thi trắc nghiệm trên mạng để thiết kế

Do thời gian và khả năng có hạn, đề tài của tôi chỉ cụ thể hoá chuẩn kiến thức,

kỹ năng, cụ thể hoá mục tiêu bài học, từ đó xây dựng bộ câu hỏi TNKQ rồi thiết kếcâu hỏi TNKQ trên phần mềm tin học Thực nghiệm sư phạm để đánh giá hệ thốngcâu hỏi TNKQ

6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

- Nghiên cứu chương trình SGK Tin học 11 và các sách tham khảo liên quan

- Nghiên cứu những tài liệu về KT-ĐG

- Nghiên cứu những tài liệu về phương pháp TNKQ

- Nghiên cứu về phần mềm thi trắc nghiệm

Phương pháp điều tra

- Thăm dò, trao đổi ý kiến với giáo viên các trường phổ thông về vấn đề xácđịnh chuẩn kiến thức, kỹ năng, xác định các cấp độ đánh giá

- Tham khảo ý kiến giáo viên THPT và các thầy cô giáo chuyên môn có kinhnghiệm khi tiến hành xây dựng bộ câu hỏi TNKQ

Trang 7

- Sử dụng phiếu điều tra để thăm dò thái độ của học sinh đối với việc KTĐGkết quả học tập bằng phương pháp TNKQ.

Phương pháp thực nghiệm sư phạm

- Thông qua thực nghiệm sư phạm để thẩm định câu hỏi

- Xử lý số liệu dựa vào thống kê toán học

Trang 8

Nhiều nhà nghiên cứu giáo dục trong và ngoài nước đã đưa ra nhiều định nghĩa

về KT-ĐG Tuy nhiên có thể hiểu sự thống nhất các định nghĩa về KT-ĐG như sau:KT-ĐG là một quá trình dẫn đến sự đánh giá có giá trị về kết quả hoặc về cáchhoạt động của một học sinh đang học Đó là quá trình xác định mục đích, yêu cầu,nội dung, chương trình, lựa chọn phương pháp tiến hành kiểm tra, tập hợp số liệu đểđánh giá kết quả học tập Đồng thời sử dụng những thông tin thu được từ kiểm tra đểgóp phần nâng cao hiệu quả học tập của học sinh [16]

Kiểm tra có thể hiểu là việc thu thập những dữ liệu thông tin về một lĩnh vực

nào đó làm cơ sở cho việc đánh giá Bất cứ một kiểm tra sư phạm nào cũng đòi hỏi

sự thu lượm thông tin và việc tìm ra một khuôn khổ đối chiếu nhằm xác định đượcviệc đã đạt được hoặc chưa đạt được mục tiêu mà nội dung chương trình đề ra.Trong lý luận dạy học, quan niệm kiểm tra là giai đoạn kết thúc của QTDH,đảm nhận một chức năng lý luận dạy học cơ bản, chủ yếu không thể thiếu được củaQTDH Chức năng đó bao gồm ba chức năng bộ phận: đánh giá, phát hiện lệch lạc

và điều chỉnh Ba chức năng này liên kết thống nhất với nhau

* Đánh giá kết quả học tập của học sinh: Quá trình xác định trình độ đạt tớinhững chỉ tiêu của mục đích dạy học, xác định xem khi kết thúc một giai đoạn thìQTDH đã hoàn thành đến mức độ nào về kiến thức, kỹ năng, trình độ tư duy,…[17]

* Phát hiện lệch lạc: Nhờ đánh giá sẽ phát hiện ra cả mặt tốt, lẫn mặt chưa tốttrong trình độ đạt tới của học sinh Trên cơ sở phát hiện ra thực trạng của kết quả,tìm hiểu kỹ những nguyên nhân lệch lạc từ đó đề ra được những phương án giảiquyết Những lệch lạc nếu sửa chữa, loại trừ kịp thời thì chất lượng sẽ tiến lên.[6]

* Điều chỉnh qua kiểm tra: Giáo viên điều chỉnh kế hoạch hành động trong quy

Trang 9

trình công nghệ dạy học của mình, tùy theo nội dung và tính chất của những lệchlạc, nhằm mục đích là uốn nắn, loại trừ lệch lạc, tháo gỡ những khó khăn thúc đẩyquá trình chiếm lĩnh tri thức khoa học.[6]

Vậy bản chất khái niệm kiểm tra thuộc phạm trù phương pháp, nó giữ vai tròliên hệ ngược trong QTDH, nó cho biết thông tin về kết quả vận hành, góp phầnquan trọng cho sự điều khiển tối ưu giữa giáo viên và học sinh Vì thế nếu việc kiểmtra được tiến hành thường xuyên, đúng yêu cầu thì việc học tập của học sinh sẽ tốthơn

1.1.1.2 Đánh giá

Khái niệm đánh giá có thể hiểu là căn cứ vào những số liệu, những thông tin đểđưa ra những nhận xét và đề xuất các biện pháp để QTDH đạt kết quả tốt hơn Nóicách khác, đánh giá là quá trình thu thập và lý giải kip thời, có hệ thống những thôngtin về hiện trạng, khả năng hay nguyên nhân của chất lượng và hiệu quả giáo dụccăn cứ vào mục tiêu giáo dục, làm cơ sở cho chủ trương và biện pháp giáo dục tiếptheo, nhằm cải thiện thực trạng, điều chỉnh nâng cao chất lượng và hiệu quả giảngdạy Hay là mô tả một cách định tính và định lượng: tính đầy đủ, tính đúng đắn, tínhchính xác, tính vững chắc của kiến thức, mối liên hệ của kiến thức với đời sống, cáckhả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, mức độ thông hiểu, khả năng diễn đạtbằng lời nói, bằng văn viết, bằng chính ngôn ngữ chuyên môn của học sinh và cảthái độ của học sinh trên cơ sở phân tích các thông tin phản hồi từ việc quan sát,kiểm tra, đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ được giao, đối chiếu với những chỉtiêu, yêu cầu dự kiến, mong muốn đạt được của môn học.[19]

1.1.2 Mối quan hệ giữa kiểm tra và đánh giá [19]

Kiểm tra, đánh giá trong dạy học là vấn đề hết sức phức tạp, luôn luôn chứađựng những nguy cơ sai lầm, không chính xác Đây là một quá trình bao gồm haicông việc có nội dung khác nhau, nhưng có liên quan mật thiết với nhau Khi nóiđến đánh giá không thể bỏ qua vấn đề kiểm tra, vì kiểm tra là khâu mở đầu để đánhgiá chất lượng học tập của học sinh Qua kiểm tra cho ta những thông tin, những sốliệu, đó là cơ sở để đưa ra những nhận xét, đánh giá Do đó người ta thường viết

“kiểm tra- đánh giá” hoặc nói “đánh giá thông qua kiểm tra” để chứng tỏ mối quan

hệ tương hỗ và thúc đẩy lẫn nhau giữa hai hoạt động này

Trang 10

1.1.3 Ý nghĩa của việc KT- ĐG kết quả học tập của học sinh

Đánh giá kết quả học tập của một hoạt động là nhằm phát hiện và uốn nắn kịpthời những sai sót, điều chỉnh hiệu quả hoạt động đang tiến hành theo phương hướng

cơ bản đã đề ra, đồng thời xác định kết quả của hoạt động trên cơ sở đối chiếu vớiyêu cầu, mục đích đã đề ra cho hoạt động ở những thời điểm nhất định, tạo điều kiệnthúc đẩy, hoàn thiện hoạt động một cách tích cực dành kết quả tối ưu

Trong dạy học, kiểm tra và đánh giá là một quá trình đào tạo và tự đào tạo conngười mới theo mục đích giáo dục, nó thể hiện sự vận hành của mối liên hệ ngượcngoài mà không thể thiếu được của quá trình dạy học Nó là một bộ phận hợp thànhrất quan trọng và tất yếu của toàn bộ quá trình dạy học Kết quả của toàn bộ quátrình dạy học ở mức độ quan trọng phụ thuộc vào việc tổ chức kiểm tra và đánh giákết quả học tập của học sinh một cách đúng đắn Công tác kiểm tra đánh giá trongdạy học là một việc làm phức tạp, bởi lẽ kết quả kiểm tra đánh giá được chính là kếtquả tổng hợp của nhiều yếu tố tác động trong quá trình dạy học mang lại

* Kiểm tra đánh giá nhằm cung cấp cho thầy và trò những thông tin về kết quảdạy và học, trước hết là về mặt tri thức và kỹ năng của học sinh, nhưng cũng lưu ý

cả về mặt năng lực, thái độ và phẩm chất của học sinh cùng với sự diễn biến của quátrình dạy học Kiểm tra và đánh giá là một chức năng được thực hiện rất thườngxuyên trong toàn bộ quá trình dạy học

* Một mặt kiểm tra cung cấp cho giáo viên những thông tin về tình hình lĩnhhội kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của học sinh cùng những đặc điểm tâm lý của họ vàomột thời điểm nào đó hay sau một quá trình dài, làm cơ sở cho việc lập kế hoạch dạyhọc, tạo tiền đề cho việc đi sâu vào giáo dục cá biệt Mặt khác kết quả kiểm tra cũnglàm cho học sinh ý thức được họ đã đạt được mục đích đến mức độ nào còn nhữngchổ nào cần phải nỗ lực khắc phục Nó còn là động lực thúc đẩy việc học tập có ýthức, với tinh thần trách nhiệm cao của học sinh

* Việc kiểm tra thường đi kèm với đánh giá đúng mức và công minh của thầygiáo và tập thể học sinh Đánh giá hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các kiểu xácnhận, đồng tình hay không đồng tình cho đến việc đánh giá bằng lời hay cho điểm

Cơ sở quan trọng để đánh giá là những bài kiểm tra, nhưng ngoài ra phải căn cứ vào

cả quá trình theo dõi học sinh

* Mục đích của kiểm tra đánh giá không chỉ ở chỗ cho học sinh một điểm số,

Trang 11

mà điều quan trọng là qua đó phải phân tích kết quả cho học sinh thấy chổ mạnh,chổ yếu của mình, chổ nào đã nắm vững, chổ nào còn lỗ hổng hoặc sai sót, và nếu

có thể thì vạch rõ nguyên nhân sai lầm để cả thầy và trò căn cứ vào đấy mà có nhữngbiện pháp giúp đỡ hay khắc phục

* Kiểm tra đánh giá còn nhằm mục đích để phân loại, sàng lọc học sinh, để cóquyết định thành công hay thất bại của học sinh Đánh giá còn nhằm mục đích bảo

vệ sự phát triển của xã hội.[20]

1.1.4 Chức năng chủ yếu của KT- ĐG trong dạy học [10]

- Chức năng định hướng: KT-ĐG nhằm phân tích các phương tiện vật chất và

định ra một kế hoạch lý tưởng về tiến trình của hành động Đây là đánh giá chuẩnđoán hay đánh giá dự báo

- Chức năng điều chỉnh: Đánh giá là khâu quan trọng nhằm tác động ngược

trong thời điểm hiện thực Đây là đánh giá uốn nắn

- Chức năng xác nhận hay xếp loại: Đây chính là chức năng đánh giá tổng hợp.

Khi thực hiện chức năng này cần xác định mục tiêu mà ta nhằm tới

1.1.5 Vai trò và nhiệm vụ của KT-ĐG trong QTDH [17], [12]

Việc KT-ĐG kết quả học tập của học sinh có những vai trò, nhiệm vụ cụ thểsau:

- Tạo đường liên hệ ngược trong QTDH

- Tạo điều kiện cho học sinh nắm vững và củng cố những kiến thức trong nộidung chương trình

- Góp phần hình thành ở học sinh những kỹ năng, thói quen trong học tập nhưbiết cách lĩnh hội, nắm vững kiến thức, phương pháp nhận thức khoa học bộ mônTin học, vận dụng các kiến thức đã học để tiếp thu các kiến thức mới và tham giacác hoạt động thực tiễn ngoài xã hội

- Góp phần vào việc hình thành thế giới quan khoa học, giáo dục tư tưởng đạođức và những phẩm chất khác cho học sinh theo mục tiêu giáo dục đề ra

KT-ĐG có ảnh hưởng tâm lý rất lớn đến việc học tập bộ môn của học sinh Vìvậy, nó phải được tiến hành hợp lý, đúng phương hướng, phù hợp với các quan điểmdạy học hiện đại Hình 1 bên dưới là sơ đồ thể hiện vai trò, vị trí của KT-ĐG trongQTDH.[10]

Trang 12

Hình 1 Vai trò của kiểm tra đánh giá trong quá trình dạy và học

1.1.6 Những yêu cầu sư phạm của KT-ĐG [7], [11], [14]

Lý luận và thực tiễn dạy học ngày nay chứng tỏ rằng, KT-ĐG chỉ có tác dụngkhi tuân thủ theo các yêu cầu sư phạm sau:

1.1.6.1 Đảm bảo tính khách quan

Đây là yêu cầu quan trọng nhất khi tiến hành KT-ĐG Yêu cầu này đòi hỏitrong quá trình kiểm tra phải tạo điều kiện để học sinh bộc lộ rõ thực chất về khảnăng và trình độ của mình, ngăn chặn mọi hành vi thiếu trung thực trong học tập haytrong kiểm tra

Biểu hiện tính khách quan trong kiểm tra là:

- Nội dung kiểm tra phải phù hợp với yêu cầu chung của chương trình đề ra,không thể xuất phát từ ý muốn chủ quan của người ra đề

- Tổ chức kiểm tra nghiêm túc theo đúng yêu cầu quy chế

Tính khách quan của đánh giá thể hiện ở chỗ:

- Chuẩn đánh giá (thang điểm) đúng đắn, rõ ràng, toàn diện

- Tổ chức chấm bài nghiêm túc, tránh thiên vị, định kiến

1.1.6.2 Đảm bảo tính toàn diện

Đây là yêu cầu đòi hỏi KT-ĐG phải đánh giá học sinh về các mặt:

- Khối lượng, chất lượng chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của môn học

- Năng lực tư duy và hoạt động trí tuệ lẫn năng lực tự học, tự sáng tạo

Mục tiêu Trình độ

xuất phát của học sinh (kiểm tra ban đầu)

Kỹ năng bộmôn

Kiến thức

bộ môn

Trình độphát triển

tư duy bộmôn

Kiểmtrađánhgiá

Trang 13

- Tinh thần, ý thức, thái độ học tập.

- Số lượng, chất lượng lẫn nội dung, hình thức

- Kết quả cuối cùng lẫn cả quá trình học tập

1.1.6.3 Đảm bảo tính thường xuyên và hệ thống

KT-ĐG phải đảm bảo tính thường xuyên vì:

- Có KT-ĐG thường xuyên, giáo viên và học sinh mới thu được những thôngtin ngược về kết quả dạy học, từ đó có cơ sở để điều chỉnh PPDH

- Có KT-ĐG thường xuyên mới tạo được động lực kích thích, thúc đẩy tính tíchcực học tập của học sinh

KT-ĐG phải mang tính hệ thống, nghĩa là giáo viên phải tuân thủ nghiêm ngặtcác quy định về chế độ kiểm tra, thi cử Các kỳ kiểm tra và thi phải tiến hành mộtcách khoa học, có hệ thống, có kế hoạch

1.1.6.4 Đảm bảo tính phát triển

QTDH luôn vận động và phát triển, việc KT-ĐG tri thức, kỹ năng, kỹ xảo củahọc sinh cũng đòi hỏi phải được xem xét theo hướng phát triển của người học Cầnđánh giá cả quá trình trên cơ sở xem xét kết quả từng giai đoạn học tập và rèn luyệncủa học sinh Tuyệt đối không được nhầm lẫn giữa kết quả học tập chưa tốt ở mộtgiai đoạn nhất định với kết quả khả quan chung của cả một quá trình Giáo viên phảibiết trân trọng những cố gắng, đánh giá cao những nỗ lực, thành tích tốt của họcsinh, không nên có thành kiến với học sinh có kết quả chưa đạt yêu cầu

1.1.6.5 Đảm bảo tính công khai

Việc tổ chức KT-ĐG phải được tiến hành công khai: công khai về kế hoạch,nội dung tiến hành kiểm tra, công khai kết quả Kết quả đánh giá phải được công bốkịp thời để mỗi học sinh có thể tự xem xét, đánh giá kết quả học tập của chính bảnthân mình

1.1.7 Quy trình tiến hành kiểm tra - đánh giá [8], [16]

Về cơ bản quy trình này gồm có 5 bước:

Buớc 1: Xây dựng hệ thống chỉ tiêu về nội dung đánh giá tương ứng với hệ

thống mục tiêu dạy học đã được cụ thể hoá đến chi tiết

Trang 14

Bước 2: Thiết kế công cụ đánh giá về kế hoạch sử dụng chúng.

Bước 3: Thu thập số liệu đánh giá

Bước 4: Xử lý số liệu.

Bước 5: Hình thành hệ thống kết luận của sự đánh giá và đưa ra những đề xuất

về điều chỉnh QTDH

1.1.8 Thực trạng của hoạt động KT-ĐG kết quả học tập môn Tin học

- Do chưa có chuẩn kiến thức, kỹ năng, thái độ cho nên mức độ kiến thức, kỹnăng, thái độ để KT-ĐG kết quả dạy học ở mỗi nơi là khác nhau

- Điều kiện về trang thiết bị không đồng đều là nguyên nhân dẫn đến yêu cầu vềcác mặt cần đánh giá cũng như mức độ đánh giá là khác nhau, có nơi có lúc chỉ đánhgiá về mặt lý thuyết, không đánh giá được kỹ năng thực hành Ngược lại có nhữngnơi chỉ thiên về kỹ năng thực hành, coi nhẹ kiến thức lý thuyết Có khi việc KT-ĐGlại thiên về một số nội dung nào đó, không toàn diện hoặc không đúng trọng tâm

- Mặt bằng kiến thức, kỹ năng tin học của học sinh ở các nơi khác nhau là khácnhau

1.1.9 Một số nội dung cần lưu ý trong tổ chức KT-ĐG môn tin học [11], [12]

- Việc KT-ĐG bao gồm cả lý thuyết và thực hành, hình thức có thể là tự luậnhoặc trắc nghiệm, kiểm tra vấn đáp, trên giấy hoặc trên máy Nội dung môn tin họcrất thuận lợi cho ra đề kiểm tra trắc nghiệm Cần tăng cường sử dụng phương phápkiểm tra trắc nghiệm để có thể kiểm tra phạm vi kiến thức rộng và để tiết kiệm thờigian

- Việc KT-ĐG không chỉ thực hiện để lấy điểm vào sổ điểm cho học sinh, màquan trọng hơn nữa là cung cấp thông tin phản hồi để điều chỉnh QTDH giúp nângcao hiệu quả của QTDH Cần khai thác triệt để ba chức năng của kiểm tra đánh giá

- Đặc điểm đặc trưng của môn Tin học là kiến thức đi đôi với thực hành, kiểmtra kiến thức có lẽ đã quen thuộc với nhiều giáo viên, còn kiểm tra thực hành ở khíacạnh nào đó còn chưa quen Không nên lạm dụng máy vi tính trong kiểm tra Cầnphân biệt bài tập và thực hành

- Cũng xin lưu ý có những phần kiểm tra lại không nên thực hiện trên máy vitính, ví dụ muốn kiểm tra học sinh về quy tắc đặt tên tệp của hệ điều hành hoặc tên

Trang 15

biến trong ngôn ngữ lập trình, và sử dụng trắc nghiệm đặt tên tệp đúng hoặc tên biếnđúng, nếu thực hiện trên máy vi tính học sinh có thể chỉ cần gõ vào máy vi tính, vàcăn cứ vào thông báo của máy vi tính để chọn đáp án mà không cần biết vì sao.

- Tin học là một môn học mới đưa vào trường phổ thông và có những đặc thùriêng như liên quan chặt chẽ với sử dụng máy tính, cách suy nghĩ và giải quyết vấn

đề theo quy trình công nghệ, coi trọng làm việc theo nhóm… Vì vậy có thể đánh giáhọc sinh thông qua:

+ Mức độ nắm vững kiến thức cơ bản: có thể thực hiện thông qua bài kiểm trabằng trắc nghiệm hoặc tự luận

+ Khả năng sử dụng máy vi tính và ứng dụng phần mềm: có thể thực hiện bằngbài kiểm tra thực hành (trên máy tính hoặc trên giấy)

+ Khả năng giải quyết vấn đề, thể hiện qua khả năng biết đề xuất phươnghướng giải quyết và biết lựa chọn công cụ thích hợp để giải quyết, có thể thực hiệnkiểm tra bằng giao vấn đề, bài tập lớn

+ Khả năng làm việc theo nhóm

+ Cần lưu ý đến việc tự đánh giá hoặc học sinh tự đánh giá lẫn nhau

- Kể từ năm học 2006 - 2007, môn tin học là môn học chính khoá và được dạy

ở tất cả các trường THPT Như vậy, việc KT-ĐG môn tin học phải được thực hiệntheo quy định chung về KT-ĐG giống các môn học khác như toán, văn…

- Bộ GD - ĐT đã có chương trình giáo dục phổ thông môn tin học, trong đó đãquy định chuẩn kiến thức, kỹ năng cho từng nội dung cụ thể Việc KT-ĐG kết quảdạy học môn Tin học ở tất cả các lớp nói chung và lớp 11 nói riêng đều căn cứ vàochuẩn kiến thức, kỹ năng, thái độ đã được quy định trong chương trình Chuẩn kiếnthức, kỹ năng là cơ sở để đảm bảo tính thống nhất về nội dung và mức độ cần đạtđược của học sinh trên toàn quốc Và đây cũng là cơ sở pháp lý cho việc KT-ĐG kếtquả học tập của học sinh

- Trong chuẩn do bộ Giáo dục và đào tạo nêu ra bên cạnh mức độ yêu cầu vềkiến thức, kỹ năng còn có thái độ Mặc dù đã nêu khá cụ thể yêu cầu về thái độ,nhưng nói chung việc KT-ĐG thái độ của học sinh còn gặp nhiều khó khăn Bêncạnh việc đánh giá kết quả cuối cùng cần phải đánh giá được quá trình học sinh đi

Trang 16

đến kết quả cuối cùng đó Việc KT-ĐG kết quả học tập của học sinh phải được thựchiện thường xuyên, liên tục.

- Bên cạnh những hình thức kiểm tra miệng kiểm, tra 15 phút, 45 phút, kiểm tracuối học kỳ, kiểm tra cuối năm học, giáo viên cần phải tiến hành quan sát, đánh giáhọc sinh trong các giờ thực hành

- Mỗi một học kỳ, mỗi một học sinh phải có ít nhất một bài kiểm tra thực hành,đây là yêu cầu bắt buộc trong qui định về kiểm tra, đánh giá môn Tin học của BộGD& ĐT

- Giáo viên cần căn cứ vào các bài tập, câu hỏi cuối bài để xác định các kiếnthức, kỹ năng cần KT-ĐG Tuy nhiên, dựa trên thực tế trình độ của học sinh cũngnhư điều kiện về trang thiết bị mà giáo viên định ra nội dung, phương thức tiến hànhKT-ĐG phù hợp

- Giáo viên tự bố trí kiểm tra miệng, kiểm tra dưới 45 phút để đảm bảo đủ sốlượng điểm kiểm tra theo quy định

- Sau mỗi bài thực hành phải đánh giá và cho điểm Phải dùng điểm thực hànhlàm ít nhất một điểm trong các điểm xếp loại của học sinh

Như vậy do đặc thù của môn tin học nên việc KT-ĐG bao gồm cả lý thuyết vàthực hành, hình thức có thể là tự luận hoặc TNKQ

1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN

1.2.1 Khái niệm TNKQ [10], [22]

Trắc nghiệm trong giáo dục là một phương pháp đo để thăm dò một số đặcđiểm năng lực trí tuệ của học sinh (chú ý, tưởng tượng , ghi nhớ…) hoặc để KT-ĐGmột số kiến thức kỹ năng, kỹ xảo, thái độ của học sinh

Cho đến nay người ta thường hiểu bài trắc nghiệm là một bài tập nhỏ, hoặc câuhỏi có kèm theo câu trả lời sẵn, yêu cầu học sinh khi suy nghĩ, dùng một ký hiệu đơngiản đã quy ước để trả lời

TNKQ là dạng trắc nghiệm trong đó mỗi câu hỏi có kèm câu trả lời sẵn Loạicâu hỏi này cung cấp cho học sinh một phần hay tất cả thông tin cần thiết và đòi hỏihọc sinh phải chọn một câu để trả lời hoặc cần điền thêm một vài từ Loại này còngọi là câu hỏi đóng, được xem là TNKQ và chúng đảm bảo tính khách quan khi

Trang 17

chấm điểm TNKQ phải xây dựng sao cho mỗi câu hỏi chỉ có một câu trả lời đúnghoặc một câu trả lời “tốt nhất” (thực ra tính khách quan ở đây cũng không tuyệt đối,tính chủ quan của dạng trắc nghiệm này có thể nằm ở việc lựa chọn nội dung đểkiểm tra và ở việc định ra câu trả lời sẵn Điều này phụ thuộc vào giáo viên ra đề).

1.2.2 Ưu điểm và những hạn chế của phương pháp TNKQ

1.2.2.1 Ưu điểm [6], [7]

TNKQ có thể giúp ta khảo sát được lượng kiến thức lớn trong thời gian ngắn,nếu được soạn thảo kỹ có thể đo được kết quả học tập của học sinh theo cách phânloại 6 mức của Bloom Ngoài ra việc đánh giá này hoàn toàn khách quan, độ tin cậy

và độ chính xác rất cao

Về khả năng đo được

Học sinh chọn một câu đúng nhất trong số các phương án trả lời cho sẵn hoặcviết thêm một từ đến một câu trả lời nên:

- Đo được các suy luận như sắp đặt ý tưởng, suy diễn, so sánh và phân biệt

- KT-ĐG kiến thức của học sinh về các sự kiện một cách hữu hiệu

- Kiểm tra trên số lượng học sinh khá đông

Về lĩnh vực KT-ĐG

Loại TNKQ có thể bao gồm nhiều lĩnh vực rộng rãi trong mỗi bài thi Vớinhiều câu hỏi bao quát khắp nội dung chương trình giảng dạy, độ tin cậy của bài trắcnghiệm tăng lên

Sự phân bố điểm rải đều và rộng nên có thể phân biệt được rõ ràng trình độ củahọc sinh

Về ảnh hưởng đối với học sinh

- Khuyến khích học sinh tích luỹ nhiều kiến thức và khả năng qua bài làm

- Do số lượng câu hỏi trong một bài trắc nghiệm lớn và rải đều khắp chươngcủa môn học nên học sinh phải tự giác, tích cực học tập Tránh tình trạng học tủ, họclệch

Về công việc soạn thảo đề thi

- Có thể kiểm tra được phổ rộng

- Chia nhỏ vấn đề hỏi tránh được sự hiểu nhầm

- Trong câu hỏi thiết kế các phương án nhiễu căn cứ vào những sai lầm, ngộnhận,…của học sinh

Trang 18

Về công việc chấm điểm

- Việc chấm điểm loại TNKQ sẽ nhanh chóng và chính xác hơn do các câu trảlời đã được chọn sẵn khi ấn định khóa chấm điểm theo tiêu chuẩn đúng hay sai

- Có thể sử dụng các phương tiện hiện đại trong chấm bài và phân tích kết quả kiểm tra

1.2.2.2 Nhược điểm [7], [18]

- So với trắc nghiệm tự luận việc soạn câu TNKQ đúng chuẩn và hay là rất khó.Yêu cầu người ra đề phải có chuyên môn khá tốt, có nhiều kinh nghiệm

- Việc soạn câu hỏi TNKQ tốn nhiều thời gian, công sức đầu tư

- Muốn có bộ câu hỏi TNKQ đáng tin cậy phải qua quá trình thử nghiệm với sốlượng học sinh đủ lớn và được hiệu chỉnh nhiều lần

- Không hoặc rất khó đánh giá được khả năng diễn đạt, sử dụng ngôn ngữ vàquá trình tư duy của học sinh để đi đến câu trả lời

- Không góp phần rèn luyện cho học sinh khả năng trình bày, diễn đạt ý kiếncủa mình Thường thì kiến thức yêu cầu không cao lắm, do đó hạn chế việc pháttriển tư duy ở học sinh khá giỏi, làm cho họ cảm thấy không thoả mãn khi bản thân

có thể tìm ra được câu trả lời hay hơn

- Chỉ giới hạn suy nghĩ của học sinh trong một phạm vi xác định, do đó hạn chếviệc đánh giá khả năng sáng tạo của học sinh

- Nếu số lượng đề thi không đủ lớn và không được bảo mật thì học sinh sẽ dựavào câu dẫn trong đề kiểm tra cũ để chuẩn bị sẵn các phương án trả lời

Loại trắc nghiệm điền khuyết hay có câu trả lời ngắn thực ra chỉ là một loại, chỉkhác dạng thức vấn đề được đặt ra Nếu được trình bày dưới dạng câu hỏi trực tiếphoặc một lời chỉ dẫn đặc biệt, chúng ta gọi là loại có câu trả lời ngắn

Nếu được trình bày dưới dạng một câu phát biểu chưa đầy đủ chúng ta gọi làloại điền khuyết, loại câu này thích hợp cho những vấn đề tính toán, đánh giá các

Trang 19

biểu thức hiểu biết về khái niệm, định nghĩa, nguyên lý, giải thích dữ kiện, diễn đạt

- Học sinh mất cơ hội đoán mò vì phải nhớ hoặc nghĩ ra cách trả lời

- Loại câu hỏi này giúp học sinh luyện trí nhớ về những điều căn bản để ápdụng và suy luận trong những tường hợp cụ thể

 Hạn chế:

- Khó soạn thảo những câu hỏi đòi hỏi mang tính suy luận cao

- Thiếu yếu tố khách quan khi chấm điểm vì giáo viên có thể hiểu sai giá trị củacâu trả lời mang tính sáng tạo

- Giáo viên thương trích nguyên văn từ trong SGK

- Sự chấm điểm cũng mất thời gian vì các khoảng trống để điền vào thườngnằm rải rác khắp trang giấy thay vì được xếp thành cột

c Phạm vi áp dụng

Thích hợp cho các câu KT-ĐG ở các mức hiểu biết các nguyên lý, giải thíchcác dữ liệu, diễn đạt ý kiến, thái độ,…

d Những lưu ý khi viết loại câu hỏi này.

- Lời chỉ dẫn phải rõ ràng, tránh lấy nguyên văn từ sách ra để khỏi khuyếnkhích học sinh học thuộc lòng

- Tránh viết các câu diễn tả mơ hồ, dài dòng

- Câu hỏi phải được viết để câu trả lời càng gọn gàng càng tốt và chỉ một trả lờiđúng mà thôi

- Không nên đặt chỗ trống ở đầu câu và đừng nên trừ trống quá nhiều chỗ trọngyếu

e Ví dụ

Hãy điền các kiểu dữ liệu chuẩn vào chổ trống sao cho đúng nhất?

Trang 20

A Kiểu… có miền giá trị từ 0 đến 255;

B Kiểu… có miền giá trị có từ 0 đến 216-1;

C Kiểu… có miền giá trị từ -231 đến 231-1;

D Kiểu… có miền giá trị từ -215 đến 215-1;

1.2.3.2 Trắc nghiệm loại đúng - sai [7], [22]

a Khái niệm

Câu trắc nghiệm loại đúng - sai thường gồm một câu phát biểu để học sinhphán đoán đúng hay sai Loại câu hỏi đúng - sai có tên chung là trắc nghiệm có haitrả lời Những hình thức tương tự của loại câu hỏi trắc nghiệm này là những câu hỏitrực tiếp để trực tiếp trả lời “có” hay “không”

d Những lưu ý khi viết loại câu hỏi này

- Nên dùng từ chính xác và thích hợp để câu hỏi được rõ ràng

- Nên soạn các câu hỏi sao cho nội dung có ý nghĩa hoàn toàn đúng hoặc hoàntoàn sai

- Tránh dùng các câu ở thể phủ định, nhất là thể phủ định kép

- Nên viết những câu hỏi mang tính vận dụng, không nên trích nguyên văn câuhỏi từ SGK

Trang 21

- Tránh làm những câu trở nên sai vì một chi tiết vụn vặt hoặc vì ý tưởng muốnđánh bẫy học sinh.

- Mỗi câu trắc nghiệm chỉ nên diễn đạt một ý độc nhất tránh bao gồm nhiều chitiết

- Chọn câu dẫn sao cho học sinh trung bình khó nhận ra là đúng hay sai

- Trong bài trắc nghiệm không nên bố trí số câu đúng bằng số câu sai, khôngnên sắp đặt số câu đúng theo một trật tự có tính chu kỳ

- Nếu số câu hỏi ở hai dãy khác nhau thì yếu tố may rủi càng giảm đi

Hạn chế: Học sinh mất nhiều thời gian đọc trước khi trả lời các câu hỏi loạinày

c Phạm vi áp dụng

Thích hợp nhất trong việc đánh giá các khả năng nhận biết các hệ thức, thiếtlập các mối tương quan giữa giả thiết và kết quả

Trang 22

d Những lưu ý khi soạn thảo câu hỏi

- Dãy thông tin nêu ra không nên quá dài, nên thuộc cùng một loại, có liênquan với nhau, học sinh có thể dễ nhầm lẫn

- Cột câu hỏi và cột câu trả lời không nên bằng nhau, nên có những câu trả lời

dư ra để câu tiêu đề cuối cùng vẫn còn nhiều khả năng để lựa chọn, làm cho học sinh

có sự cân nhắc kỹ cả câu cuối cùng

- Thứ tự các câu trả lời không ăn khớp với thứ tự các câu hỏi để gây thêm khókhăn khi lựa chọn Phải xác định hướng làm cơ sở cho việc kết hợp và chỉ rõ mộtcâu trả lời chỉ được sử dụng một lần hay nhiều hơn

quá trình này còn tiếp tục.

trị có thể được thay đổi trong quá trình thực hiện chương trình

có thể thực hiện trên máy và có thể lưu trữ để sử dụng lại khi cần thiết.

1.2.3.4 Trắc nghiệm với loại câu hỏi nhiều lựa chọn (MCQ) [8], [15], [22]

a Khái niệm

Loại câu hỏi MCQ này thường có 2 phần, phần phát biểu chính hay còn gọi làphần câu dẫn và phần trả lời gồm có 4 hoặc 5 phương án trả lời sẵn để học sinh lựachọn lấy phương án đúng nhất hoặc hợp lý nhất Những câu trả lời không đúng hoặc

ít hợp lý hơn gọi là phương án nhiễu hay câu mồi

b Ưu điểm và hạn chế

Ưu điểm:

- Có thể đo được những mức độ cao hơn về nhận thức

- Độ tin cậy cao vì yếu tố đoán mò giảm

- Có độ giá trị cao nhờ tính chất có thể đo được những mức trình độ khác nhau(khả năng nhớ, áp dụng các nguyên lý, suy diễn,…) rất hữu hiệu

Trang 23

- Có thể phân tích được tính chất mỗi câu hỏi: câu nào quá dễ, quá khó, haykhông có giá trị đối với các mục tiêu cần trắc nghiệm.

- Khách quan khi chấm điểm

Hạn chế:

- Việc soạn thảo câu hỏi khó

- Có thể không đo được các khả năng phán đoán tinh vi

c Phạm vi áp dụng

- Có thể dùng để kiểm tra những trình độ cao hơn về nhận thức đồng thời cóthể KT-ĐG nhiều mục tiêu giảng dạy, học tập khác nhau

d Những lưu ý khi soạn thảo câu hỏi

- Phần dẫn câu hỏi phải diễn đạt một cách rõ ràng, mang trọn ý nghĩa của mộtvấn đề cần hỏi Các câu trả lời để chọn phải là những câu khả dĩ thích hợpvới nhữngvấn đề đã nêu

- Đảm bảo các câu trả lời phải rõ ràng, ngắn gọn và phù hợp với câu dẫn

- Học sinh phải xem xét và phân biệt kỹ càng khi lựa chọn câu trả lời, do đótính chất tuyệt đối trong trắc nghiệm đúng sai được nhường chỗ cho tính chất tươngđối khi học sinh phải lựa chọn câu trả lời đúng nhất hay hợp lý nhất trong số cácphương án trả lời đã cho

- Với một câu hỏi đã nêu, phải giữ mọi câu trả lời cùng một dạng hành văn

- Phải chắc chắn chỉ có một câu trả lời đúng còn các câu khác là nhiễu Cácphương án nhiễu phải có vẻ hợp lý để thu hút sự chú ý của học sinh

- Tránh một câu hỏi đề cập đến một vấn đề đang gây nhiều tranh luận

- Không nên đưa quá nhiều ý vào một câu hỏi và chỉ đúng vấn đề cần hỏi

- Nên trình bày dưới các hình thức mới đối với các câu hỏi nhằm đo sự hiểubiết, sự suy luận

- Đối với các câu hỏi định lượng, nên căn cứ vào khả năng tính toán, khả năngsai lầm của học sinh khi suy luận, vận dụng công thức để xây dựng các phương ánnhiễu một cách phù hợp

e Ví dụ

Chương trình dịch là:

A Dịch ngôn ngữ tự nhiên ra ngôn ngữ máy;

Trang 24

B Dịch ngôn ngữ máy ra ngôn ngữ tự nhiên;

C Dịch từ hợp ngữ ra ngôn ngữ bậc cao;

D Dịch từ ngôn ngữ bậc cao ra ngôn ngữ máy;

1.2.4 Quy trình xây dựng một bài TNKQ [7], [20]

Để xây dựng một đề TNKQ có chất lượng, thông thường giáo viên thực hiệntheo quy trình sau đây:

Bước 1: Xác định mục đích cần KT-ĐG

Đề ra nhằm kiểm tra và đánh giá kết quả học tập sau khi học xong một chủ đề,một chương, một học kỳ hay toàn bộ chương trình một lớp, một cấp học Tuỳ theoyêu cầu đề ra để kiểm tra 15 phút, 1 tiết, cuối kỳ hay thi cuối cấp

Đề ra phải đảm bảo được độ khó nhằm đánh giá được kiến thức của học sinhnắm được Bên cạnh đó cũng cần có độ phân biệt trong mỗi câu hỏi để phân biệtđược trình độ của mỗi học sinh Từ đó có PPDH hiệu quả hơn cho từng loại họcsinh

Bước 2: Xác định nội dung của đề

Muốn xây dựng tốt bài kiểm tra TNKQ người ra đề cần nắm được những nộidung nào cần kiểm tra, đánh giá theo ba lĩnh vực: kiến thức, kỹ năng và thái độ.Trong đó kiến thức và kỹ năng lại nêu rõ hơn thành các mức độ: nhận biết, thônghiểu, vận dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá (sẽ được trình bày kỹ hơn ở phần sau)

Bước 3: Bảng đặc trưng câu hỏi

Để chuẩn bị biên soạn các câu hỏi TNKQ, thông thường sau khi đã phân tíchnội dung dạy học thành các mục tiêu giảng dạy cụ thể, người ta phải thiết lập bảngđặc trưng phân phối các câu hỏi một cách chi tiết Hiện nay người ta sử dụng cácloại bảng khác nhau như: bảng đặc trưng các câu hỏi theo các đề mục trong nội dungchương trình giảng dạy, bảng đặc trưng các câu hỏi theo mục tiêu giảng dạy

Trong thực tế người ta sử dụng kết hợp cả hai loại bảng đặc trưng trên, đó làmột ma trận hai chiều Bảng đặc trưng này đã phân loại từng câu hỏi TNKQ ra thànhhai chiều cơ bản: một chiều là các chủ đề dạy học hay các đề mục, các mục tiêugiảng dạy hay các nội dung quy định trong chương trình theo hàng dọc, hàng ngang

là các năng lực đòi hỏi ở học sinh Từ bảng đặc trưng được xây dựng, ta xây dựng sốlượng câu hỏi ứng với thời gian cần thiết

Trang 25

Bước 4: Chọn loại câu hỏi

Tuỳ theo nội dung giảng dạy và mục tiêu đánh giá mà chúng ta chọn loại câuhỏi với các yêu cầu ở học sinh cần đạt được: câu hỏi định tính, phân tích, tổng hợp,

so sánh, áp dụng Các câu hỏi cũng phải thoả đáng về độ khó và hợp với yêu cầu cầnđánh giá và trình độ nhận thức của học sinh

Bước 5: Biên soạn câu hỏi trắc nghiệm

Căn cứ vào bảng đặc trưng câu hỏi, thông thường để có được bài trắc nghiệm

có chất lượng, chúng ta nên theo các quy tắc tổng quát sau:

 Bảng phát thảo các câu hỏi trắc nghiệm

 Số lượng câu hỏi xây dựng nhiều hơn số lượng câu hỏi cần dùng Để sau khixem xét lại hoặc nhờ các giáo viên góp ý kiến, chúng ta loại bỏ những câu hỏi khôngđạt chất lượng

 Mỗi câu hỏi nên gắn với một mục tiêu cần xác định, có như vậy chúng tamới có hy vọng đo được điều cần đo

 Mỗi câu hỏi phải được diễn đạt rõ ràng từ câu chữ đến ngữ pháp

 Mỗi câu hỏi nên đặt thể xác định hơn là thể phủ định hay phủ định kép

 Sắp xếp các câu hỏi theo từng nội dung và mức độ khó tăng dần

 Trước khi loại câu hỏi bằng phương pháp phân tích thống kê, phải duyệt lạicẩn thận, tham khảo ý kiến của giáo viên để tránh việc loại những câu hỏi hay mà tachỉ căn cứ vào các chỉ số thống kê

1.2.6 Phương pháp phân tích và đánh giá câu hỏi TNKQ

1.2.6.1 Mục đích của việc phân tích câu hỏi [16], [17]

- Sửa chữa lại những câu hỏi chưa hay, lựa chọn những câu hỏi đạt chất lượng

- Thông qua kết quả của bài kiểm tra có thể giúp cho giáo viên đánh giá đượcmức độ thành công của công tác giảng dạy, từ đó giáo viên có thể kịp thời điềuchỉnh về phương pháp dạy học, nội dung kiến thức một cách phù hợp, đồng thờigiúp học sinh thấy được những lỗ hổng trong kiến thức trong quá trình học tập

1.2.6.2 Phân tích câu hỏi [9]

Để phân tích câu hỏi của một bài trắc nghiệm, chúng ta thường so sánh câu trảlời của mỗi câu hỏi của mỗi học sinh với điểm số chung của toàn bài kiểm tra với sự

Trang 26

mong muốn là có nhiều học sinh ở nhóm điểm cao và ít học sinh ở nhóm điểm thấptrả lời đúng câu hỏi.

Phân tích câu hỏi và hệ thống kết quả kiểm tra nhằm xác định các chỉ số như độkhó, độ phân biệt của câu hỏi cũng như tỉ lệ % học sinh đạt được so với yêu cầu kiếnthức trong chương Việc phân tích đòi hỏi nhiều thời gian nếu không có sự hỗ trợcủa máy tính Qua sự phân tích đó cho phép chúng ta nâng cao giá trị của bài trắcnghiệm

Để phân tích câu hỏi thông thường người ta chia học sinh làm 3 nhóm:

- Nhóm điểm cao (H) có khoảng 27% học sinh đạt điểm cao nhất

- Nhóm điểm thấp (L) có khoảng 27% học sinh đạt điểm thấp nhất

- Nhóm điểm trung bình (M) có khoảng 46% học sinh còn lại

Nếu ta gọi:

n: Tổng số học sinh dự thi trắc nghiệm

nH: Số học sinh trong nhóm giỏi chọn câu trả lời đúng

nM: Số học sinh trong nhóm trung bình chọn câu trả lời đúng

nL: Số học sinh trong nhóm kém chọn câu trả lời đúng

Độ khó của một câu hỏi: DV nH nM nL

n n Max

n n DI

+ Độ phân biệt: DI > 0,3 trở lên

+ Các phương án nhiễu lôi kéo học sinh trong nhóm kém chọn

Trong thực tế tuỳ theo mục đích của việc kiểm tra nên độ khó của câu hỏi cóthể 30% và độ phân biệt 0,2 là chấp nhận được Việc phân tích câu hỏi dựa vào cácchỉ số thống kê có ý nghĩa tương đối

1.2.6.3 Phương sai của câu hỏi và của bài trắc nghiệm

a Ma trận biểu thị điểm số [5], [8]

Trang 27

Để biểu thị số đạt được của các học sinh tham gia kiểm tra, dùng ma trận điểm

số được trình bày trong bảng 2.1, trong đó mỗi phần tử của ma trận chỉ có thể là “1”(dành cho câu trả lời đúng) và “0” (dành cho câu trả lời sai) Điểm của các học sinhtrên các câu hỏi được xếp theo hàng, điểm của các học sinh tham gia kiểm tra trongtừng câu hỏi được xếp theo cột dọc Như vậy, mỗi điểm số Xij trong ma trận manghai chỉ số: chỉ số j cho biết vị trí của hàng và chỉ số i cho biết vị trí của cột

Bảng1.1: Ký hiệu tổng quát của ma trận điểm số

n i i

X

2 1

n i i

X

N ij j=1

X

1

N jn j

b Phương sai điểm số của câu hỏi và bài kiểm tra [5], [15]

- Điểm số của toàn bài kiểm tra của học sinh thứ j được tính theo

công thức tj = 

n i ji

X

1

Vì mỗi câu trả lời được điểm 0 hoặc 1, nên tổng điểm của học sinh thứ j chính

là số câu hỏi học sinh đó trả lời đúng

- Tổng số học sinh trả lời đúng câu hỏi thứ i còn gọi là tần số đáp đúng câu hỏi

thứ i, kí hiệu fi được tính bằng công thức: fi =

1

N ji j

X

Trang 28

- Tỉ số học sinh trả lời đúng mỗi câu thứ i trong tổng số học sinh gọi là tần suấttrả lời đúng câu hỏi thứ i (kí hiệu pi)

pi = f i

N = 1

N ji j

X N

= X i

- Như vậy tần suất đáp sai câu hỏi thứ i (kí hiệu qi) sẽ là qi = 1- pi

Từ công thức tính phương sai: 2

n i i

Độ tin cậy của một công cụ hay một dụng cụ đo lường là tính chất: Công cụ ấy

có thể đo được đại lượng cần đo với sự ổn định, chính xác hay đáng tin cậy đến mứcnào Trong thực tế các phép đo luôn tồn tại một sai số e nào đó, tức là nếu gọi T là

Trang 29

giá trị thật của đại lượng cần đo thì đại lượng đo được X nằm trong khoảng e<X<T+e Nói cách khác số đo mà chúng ta nhận được nằm trong giới hạn (T e), vàtrong phạm vi đó chúng ta có thể tin cậy đại lượng đo được X có một sai số là e.Trong thực tế, để ước tính độ tin cậy của một bài TNKQ, người ta thường sửdụng các công thức sau:

T-+ Công thức Kuder - Richardson (KR20): R0 = 2

1

1 1 1

n

i i i t

pi là tần suất đáp đúng câu hỏi thứ i

qi = 1- pi

Trong điều kiện giả định là mọi câu hỏi đều có tần suất đáp đúng, nghĩa là vớimọi câu hỏi thì p và q đều bằng nhau, ta có công thức trên dưới dạng đơn giản hơngọi là công thức KR21: R= 2

R R

Trong đó: R11 là độ tin cậy ước tính cho toàn bài TNKQ

R1/21/2 là hệ số tương quan giữa điểm số trên hai nữa bài TNKQ

Với: Xi là tổng số điểm của học sinh thứ i làm bài TNKQ câu hỏi lẻ

Yi là tổng số điểm của học sinh thứ i làm bài TNKQ câu hỏi chẵn

N là số học sinh tham gia làm bài kiểm tra, i = 1N

+ Lý thuyết trắc nghiệm đã chứng tỏ rằng có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến độ tincậy của bài TNKQ đó là:

 Bài TNKQ càng thuần nhất thì độ tin cậy càng cao Nhưng một bài TNKQđược coi là thuần nhất nếu phần lớn các câu hỏi trong bài có độ khó trung bình, khi

đó có nguy cơ thu hẹp nội dung đánh giá, tức là giảm độ giá trị của bài

Trang 30

 Các bài TNKQ có mục đích khác nhau sẽ có độ tin cậy khác nhau.

 Nếu chiều dài của bài trắc nghiệm tăng lên k lần thì độ tin cậy sẽ tăng theocông thức Spearman - Brown: Rk=1 ( 1)

Khi chúng ta muốn dùng bài TNKQ để đánh giá kết quả học tập của học sinh,chúng ta cần xét độ giá trị về nội dung Các câu hỏi trong bài TNKQ phải bao trùmcác nội dung các kiến thức đã học Do đó, trước khi xét đến tính chất giá trị này,chúng ta phải hiểu rõ mục tiêu giảng dạy, các kiến thức, kỹ năng phải nắm được saukhi học Như vậy mức độ giá trị được ước lượng bằng cách so sánh nội dung đề cậptrong các câu hỏi TNKQ với nội dung của chương trình

Một bài TNKQ không thể có một hệ số giá trị nhất định để dùng cho mọi mụcđích với mọi nhóm người Một bài TNKQ hay mà độ tin cậy thấp thì không có ích,một bài TNKQ có độ tin cậy cao mà độ giá trị thấp thì không có ý nghĩa

từ 2 phút, câu trả lời đơn giản thường chỉ từ 0,2 - 0,5 điểm

Trong một bài kiểm tra trắc nghiệm, cần lưu ý sắp xếp sao cho đầy đủ các dạngcâu hỏi trắc nghiệm Cần ước tính sao cho thời gian làm bài sát với thời gian kiểmtra để học sinh chỉ có thể tự mình suy nghĩ và thao tác nhanh mới kịp thời gian.Tránh sự sắp xếp các câu trả lời đúng theo một quy luật ở tất cả các câu trả lời,các câu hỏi cùng loại ở gần nhau để bài kiểm tra mang tính khoa học hơn

Trang 31

Đáp án và biểu điểm cho mỗi câu trả lời cũng cần phải được chuẩn bị cẩn thậnkhi ra đề [17]

1.2.7.2 Tổ chức thi

Tùy theo mục đích sư phạm, bài kiểm tra có thể được thực hiện ở đầu tiết, cuốitiết hoặc trong tiết học Mỗi bài trắc nghiệm có quy định thời gian để hoàn thành,phù hợp với số lượng câu, độ khó của bài

Với những bài kiểm tra từng phần, tiến hành trong mười phút của tiết học cóthể dùng máy chiếu phóng các câu hỏi lên bảng, học sinh xem chung và ghi trả lờilên phiếu làm bài cá nhân

Đối với những đợt kiểm tra cuối kỳ, cuối năm học giáo viên phải in thành các

đề khác nhau và phát cho học sinh làm bài Để hạn chế học sinh nhìn bài hay traođổi chúng ta cần phát nhiều đề kiểm tra xen kẻ theo phương án giáo viên chọn lựa [9]

1.2.8 Cách chấm bài kiểm tra trắc nghiệm

Chấm bài trắc nghiệm là một việc làm đơn giản và nhanh gọn Giáo viên đốichiếu với đáp án, làm một bài mẫu theo đúng đáp án, sau đó đối chiếu mỗi bài làmcủa học sinh với bài mẫu, gạch bỏ những câu trả lời sai và cuối cùng tính số câu trảlời đúng

Để tăng năng suất chấm, có thể dùng bảng đục lỗ làm bảng bìa, trình bày theođúng kích cỡ như phiếu bài làm, có đục lỗ ở những câu đúng (đối với loại câu nhiềulựa chọn) Người chấm áp bảng đục lỗ lên phiếu làm bài của học sinh, nhìn qua các

lỗ đục, nếu thấy có ký hiệu lựa chọn câu đúng thì tính là câu trả lời đúng

Đơn giản nhất là đánh giá mỗi bài làm bằng tổng số câu trả lời đúng với đáp án.Những câu học sinh để trắng thì không kể đúng hoặc sai

Người ta còn tính điểm theo công thức: S = W

n-1

R 

S: Điểm

R: Tổng số câu trả lời đúng

W: Tổng số câu trả lời sai

n: Số câu lựa chọn trong một câu trắc nghiệm

Trang 32

Việc chấm bài trên một lượng lớn học sinh cần có những phiếu làm bài thíchhợp với việc chấm bài bằng máy, hoặc tổ chức cho học sinh làm bài trên máy vi tính

để máy tự động chấm và báo ngay kết quả [9], [10]

1.3 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRẮC NGHIỆM CÁC MỨC TRÍ NĂNG

1.3.1 Đại cương

Khoa học giáo dục trong những năm sau này đã đạt được nhiều tiến bộ vượtbậc Đã có nhiều cách phân loại các mức trí thức một cách cụ thể, rõ ràng, nhưng nổibậc nhất có lẽ phải kể đến cách phân loại của Bloom (1971) và các bạn đồng sự Cácnhà giáo dục này đã chia các mức trí năng thành sáu loại chính: Biết, Hiểu, Áp dụng,Phân tích, Tổng hợp và Đánh giá

Theo định nghĩa và cách phân loại này, mỗi mức trí năng được tạo dựng dựatrên mức trí năng ở mức thấp hơn

Mỗi mức trí năng tổng quát trên đây được phân chia thành nhiều mức phức tạphơn Một cách đại cương, mỗi mức trí năng A được phân chia thành nhiều mức trínăng loại AB, rồi mỗi loại AB được phân chia thành những loại ABC Sau đâychúng ta sẽ lần lượt xem xét tóm lược định nghĩa của từng loại mức trí năng.[8], [22]

1.3.2 Biết

Mức tri thức loại biết theo định nghĩa, bao gồm việc có thể nhớ lại các điều đặcbiệt hoặc tổng quát, nhớ lại các phương pháp và quá trình, hoặc nhớ lại một dạngthức, một cấu trúc, một mô hình mà học viên đã có lần gặp trong quá khứ ở lớp học,trong sách vở, hoặc ngoài thực tế Như vậy, trong phép đo lường, học viên chỉ cầnnhớ lại đúng điều được hỏi đến Sự việc nhớ lại có thể xảy ra trọn vẹn hoặc mộtphần, nguyên dạng đã học hoặc dưới một dạng đã thay đổi ít nhiều Người ta lạiphân chia mức trí thức biết ra ba loại chi tiết hơn, đó là: biết các điều đặc biệt, biếtcác phương cách và phương tiện để đối phó với các vấn đề đặc biệt, biết các điều tổngquát và trừu tượng trong một lĩnh vực [8]

1.3.3 Hiểu

Mức tri thức loại hiểu dùng mô tả sự kiện học sinh biết được giáo viên đang nói

gì khi giảng bài, một trang sách một bài viết có ý nghĩa gì, hoặc một thí nghiệm diễnchứng đang xảy ra như thế nào và vì sao Ở mức tri thức này không những học sinhnhớ lại và phát biểu lại nguyên dạng vấn đề đã học mà còn có thể thay đổi vấn đề đã

Trang 33

học sang một dạng khác tương đương nhưng có ý nghĩa hơn đối với học viên Mức

này gồm có ba loại là: diễn dịch, giải thích, ngoại suy [8]

1.3.4 Áp dụng

Mức trí năng loại áp dụng bao gồm việc ứng dụng các điều trừu tượng đã họcvào các trường hợp đặc biệt, cụ thể Thí dụ áp dụng các định luật khoa học để giảithích các hiện tượng riêng rẽ [8]

1.3.5 Phân tích

Mức trí năng loại phân tích bao gồm việc phân tích các điều học hỏi thànhnhiều phần, nhiều yếu tố, sắp xếp theo thứ tự hoặc theo ngôi thứ của các yếu tố ấy,tìm hệ thức có thể có giữa các ý tưởng để làm sáng tỏ những điều học hỏi một cách

có hệ thống Mức này được chia thành ba mức nhỏ là: phân tích các phần tử, yếu tố,phân tích các hệ thức, phân tích các nguyên tắc tổ chức [8], [23]

1.3.6 Tổng hợp

Mức trí năng tổng hợp bao gồm khả năng đi từ các phần riêng lẻ để sắp xếp.Mức trí năng tổng hợp bao gồm khả năng đi từ các phần riêng lẻ để sắp xếp, tổnghợp thành một cấu trúc, một dạng thức, một tổng thể gắn liền tất cả các phần ấy vớinhau với điều kiện sự tổng hợp này chưa hề được trình bày trong các bài học Mứcnày được chia thành ba mức nhỏ là: tổng hợp thành một phần chung duy nhất, tổnghợp thành một kế hoạch, dự án hoạt động, tổng hợp thành một tập hợp các hệ thức

trừu tượng [8]

1.3.7 Thẩm định

Mức trí năng này liên quan đến khả năng có thể phán đoán giá trị của các tàiliệu, các phương pháp đối với những mục đích nhất định nào đó, xem thử tài liệu ấyhoặc phương pháp ấy có hội đủ những tiêu chí đặt ra không Các tiêu chí đánh giá cóthể do học viên đặt ra hoặc đã cho sẵn Mức này được chia thành hai mức nhỏ là:đánh giá dựa trên bằng chứng nội tại, đánh giá dựa trên bằng chứng bên ngoài [8]

1.4 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Phương hướng chung hiện nay là giáo dục và đào tạo đang tiếp tục đổi mới mộtcách toàn diện mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục…Việc đổi mớiphương pháp dạy học là đổi mới cả phương pháp dạy, phương pháp học và phươngpháp KT-ĐG Bởi vậy, dạy - học - KT-ĐG là một quá trình, là 3 khâu then chốt củaquá trình sư phạm nhằm đạt mục tiêu đào tạo

Trang 34

Chương này tập trung nghiên cứu và trình bày cơ sở lý luận về KT-ĐG, cơ sở

lý luận về TNKQ và trắc nghiệm các mức trí năng Những nghiên cứu này làm cơ sởcho việc xác định cấp độ đánh giá và xây dựng bộ câu hỏi trắc nhiệm ở các chươngsau

Trang 35

Chương 2

CỤ THỂ HOÁ CHUẨN KIẾN THỨC, KỸ NĂNG, CẤP ĐỘ ĐÁNH GIÁ VÀ XÂY DỰNG BỘ CÂU HỎI TNKQ

PHẦN CHƯƠNG I, II- SGK TIN HỌC 11

2.1 CỤ THỂ HOÁ CHUẨN KIẾN THỨC, KỸ NĂNG, CẤP ĐỘ ĐÁNH GIÁ PHẦN CHƯƠNG I, II - SGK TIN HỌC 11

2.1.1.Vai trò, vị trí, ý nghĩa của chuẩn kiến thức, kỹ năng đối với việc KT- ĐG

Việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông hiện nay thể hiện rõ thông quachương trình và chuẩn kiến thức, kỹ năng

Chương trình là một tập hợp các yếu tố học vấn phổ thông mà nền giáo dục cầnphải truyền lại cho thế hệ trẻ Nội dung học vấn được chia ra các khối lớp và đượcsắp xếp thành một trật tự phân chia giảng dạy theo thời gian

Chuẩn kiến thức là những yêu cầu mà học sinh phải nắm được trong từng bàihọc, từng phần học Chương trình và chuẩn kiến thức là pháp lệnh còn SGK chỉ làtài liệu tham khảo chủ yếu Giáo viên có thể tham khảo nhiều tài liệu khác nhaumiễn là đảm bảo đầy đủ chuẩn kiến thức, kỹ năng cần truyền thụ đến học sinh

Có thể nói rằng việc ban hành chuẩn kiến thức, kỹ năng, thái độ của môn học làbước tiến quan trọng về công tác quản lý chỉ đạo dạy học Việc dạy - học, chỉ đạodạy - học, KT-ĐG kết quả dạy - học đều phải căn cứ vào chuẩn môn học Việc nắmvững chuẩn kiến thức, kỹ năng của môn học là rất cần thiết để thầy cô giáo tổ chứcdạy học đúng về mục tiêu và đúng về mức độ Tránh đi sâu vào các vấn đề khôngthuộc mức độ do chuẩn quy định, gây quá tải không cần thiết Bên cạnh đó, nhờchuẩn kiến thức, kỹ năng mà việc KT-ĐG trình độ nhận thức của học sinh chính xác

và sát thực hơn

2.1.2 Một số căn cứ khi xây dựng chương trình và chuẩn kiến thức, kỹ năng Chương trình môn tin học của THPT được xây dựng trên cơ sở những căn cứ chính sau đây: [2]

 Mục tiêu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông BGD& ĐT ban hành:

Trang 36

- Góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện: Tăng cường bồi dưỡngcho thế hệ trẻ lòng yêu nước, tinh thần tự tôn dân tộc, lòng nhân ái, ý thức tôn trọngpháp luật, tinh thần hiếu học, chí tiến thủ.

- Hỗ trợ tích cực việc đổi mới phương pháp dạy và học Phát huy tư duy sángtạo và năng lực tự học, khả năng ứng dụng kiến thức đã học của học sinh

- Tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông của các nước tiên tiến trong khu vực vàtrên thế giới

- Đảm bảo tính kế thừa, phát huy ưu điểm của chương trình thí điểm

- Đảm bảo các tiêu chuẩn cơ bản, tinh giản, sát thực tiễn và điều kiện của nềngiáo dục Việt Nam

Các mục tiêu nêu trên là bắt buộc cho việc xây dựng chương trình của mọi mônhọc trong đó có môn tin học

Sau đây là một số căn cứ theo đặc thù riêng của môn tin học:

Căn cứ 1: Tin học là môn bắt buộc cho mọi đối tượng học sinh THPT, không

phân hoá theo chuyên ban, được dạy cho cả ba lớp 10,11,12 (mỗi tuần 2 tiết đối vớilớp 10; 1.5 tiết đối với lớp 11và lớp 12)

Căn cứ 2: Môn tin học ở trung học cơ sở là môn tự chọn nên tin học ở THPT

được xây dựng trên giả thiết là môn học mới, học sinh học từ đầu

Căn cứ 3: Chương trình và chuẩn môn tin học đã được xây dựng dựa trên kết

quả thí điểm triển khai chương trình và SGK, ý kiến của các hội đồng thẩm định, ýkiến đóng góp của các sở, trường, giáo viên môn tin học của các địa phương có thíđiểm

Căn cứ 4: Hiện nay ở các địa phương, cơ sở vật chất còn thiếu, số lượng máy

tính có thể chưa đủ, kết nối Internet còn rất hạn chế Đặc biệt đội ngũ giáo viên cònthiếu về số lượng và yếu về chất lượng Khi xây dựng, ban xây dựng chương trình

và chuẩn đã xem xét các yếu tố thực tế như đặc thù của môn học và sự khác nhau vềtrình độ tin học của học sinh ở các vùng miền khác nhau Tuy nhiên, vì chương trình

và chuẩn sẽ được áp dụng trong nhiều năm nên yêu cầu mức độ về kiến thức và kỹnăng cần đảm bảo mức chuẩn cần có đối với học sinh THPT

Trang 37

2.1.3 Xác định mục tiêu và chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương I,II- SGK Tin

học 11

2.1.3.1 Mục tiêu chung của môn tin học ở bậc phổ thông

Trong thập niên gần đây sự ra đời của Máy tính điện tử đã ảnh hưởng đến tất cảcác ngành khoa học khác nhau trong đời sống xã hội Sự phát triển mạnh mẽ củacông nghệ thông tin đã đặt cho các nhà trường trên thế giới phải xây dựng mộtchương trình học phù hợp và đưa môn tin học vào NTPT

Do vậy mục tiêu chung của môn tin học ở bậc THPT đó là:

 Môn tin học nhằm cung cấp cho học sinh những kiến thức phổ thông vềngành khoa học tin học

 Giúp học sinh nhận biết được vai trò của máy tính trong xã hội ngày nay

 Hình thành và phát triển khả năng tư duy thuật toán, năng lực sử dụng cácthành tựu của ngành khoa học Tin học trong học tập và trong các lĩnh vực hoạt độngcủa mình sau này.[2]

2.1.3.2 Mục tiêu cụ thể của cấp Trung học phổ thông [2]

Về kiến thức

Trang bị cho học sinh một cách tương đối có hệ thống các khái niệm cơ bảnnhất ở mức phổ thông về tin học - một ngành khoa học với những đặc thù riêng - cáckiến thức về hệ thống, thuật toán, cấu trúc dữ liệu, lập trình, cơ sở dữ liệu

Về kỹ năng

Học sinh bước đầu biết sử dụng máy tính, biết soạn thảo văn bản, sử dụng

Internet, khai thác được các phần mềm thông dụng, giải được các bài toán đơn giảnbằng máy tính, bước đầu sử dụng được một hệ quản trị cơ sở dữ liệu quan hệ cụ thể

Về thái độ

Rèn luyện cho học sinh phong cách suy nghĩ và làm việc khoa học như sự hamhiểu biết, tìm tòi sáng tạo, chuẩn mực, chính xác trong suy nghĩ và hành động, say

mê môn học, cẩn thận trong công việc, hợp tác tốt với bạn bè

2.1.3.3 Xác định chuẩn kiến thức, kỹ năng SGK Tin học 11 [2]

Về kiến thức

Trang bị cho học sinh một số khái niệm cơ bản về lập trình và ngôn ngữ lậptrình bậc cao

Ngày đăng: 12/06/2019, 22:39

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w