Những hạn chế, bất cập về thủ tục thi hành án dân sự cũng đã dẫn đến việc Chấp hành viên lúng túng, nhận thức và áp dụng sai lầm pháp luật về thủ tục thi hành án trong quá trình thi hành
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LÊ ANH TUẤN
Chuyên ngành : Luật Dân Sự - Tố tụng
Mã sô : 60 38 30
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC■ ■ ■ ■
Người hướng dẫn khoa học: Tiến sỹ Đinh Trung Tụng
THƯ' VIệ N
TRƯONG L/ - 1w 1 U Ã7 HA N Q i
PHÒNG ;;OC A " ỵ ỉ ỵ ì
HÀ NỘI, NĂM 2004
Trang 3Chương 2: THỦ TỤC THI HÀNH ÁN DÂN s ự THEO PHÁP LUẬT 34 HIỆN HÀNH VÀ THỰC TIEN á p d ụ n g
2.1 Thủ tục thi hành án dân sự theo pháp luật hiện hành 342.2 Những sửa đổi, bổ sung về thủ tục thi hành án dân sự theo 53Pháp lệnh 2004
2.3 Thực tiễn áp dụng pháp luật về thủ tục thi hành án dân sự 612.3.1 Những kết quả cơ bản đã đạt được trong thực tiễn áp dụng 61pháp luật về thủ thi hành án dân sự
2.3.2 Những hạn chế, bất cập về thủ tục thi hành án dân sự 66
Trang 4Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG Đ ổ i MỚI THỦ TỤC THI HÀNH ÁN 84DÂN S ự VIỆT NAM
3.1 Những yêu cầu đặt ra đối với việc đổi mới thủ tục thi hành án 84dán sự ở nước ta hiện nay
3.2 Quan điểm đổi mới thủ tục thi hành án dân sự 883.3 Một số kiến nghị đổi mới thủ tục thi hành án dân sự 90
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Tắc giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Tiến sỹ luật học Đinh Trung Tụng, các thầy giảo, cô giảo đã chỉ bảo tận tình; xin cảm ơn cảc anh, chị, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã động viên, khuyến khích, giúp đỡ, đóng góp ý kiến quý báu để tác giả hoàn thành bản luận văn này.
Lê Anh Tuấn
Trang 6PHẦN MỞ ĐẨU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài:
Thi hành án là hoạt động đảm bảo hiệu lực bản án, quyết định của Toà
án, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân Hoạt động thi hành án hiệu quả thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, của bản án và quyết định của Toà án Tuy rằng có tầm quan trọng như vậy, nhưng không ít người chưa nhìn nhận đúng vị trí, vai trò của công tác thi hành án nói chung và thi hành án dân sự nói riêng, nên có nơi, có lúc hoạt động thi hành án dân sự ít được quan tâm, dẫn đến hiệu quả hoạt động của các Cơ quan thi hành án dân sự chưa cao, án dân sự còn tồn đọng nhiều
Tình trạng án dân sự tồn đọng nhiều như hiện nay (xem Phụ lục 3)
đang là vấn đề nhức nhối không chỉ của các Cơ quan thi hành án, mà còn là vấn đề chung của toàn xã hội Việt Nam Tại nhiều kỳ họp Quốc hội, không ít đại biểu Quốc hội đã chất vấn Chính phủ và các cơ quan chức năng khác vì sao án dân sự tồn đọng nhiều và yêu cầu phải sóm có giải pháp đổi mới, tháo
gỡ những ách tắc trong hoạt động thi hành án dàn sự Năm 2003, Bộ Tư pháp
đã phối hợp với Viện Kiểm sát nhản dân tối cao và Văn phòng Chính phủ tiến hành tổng kết 10 năm thi hành án dân sự từ khi công tác này được chuyển giao từ Toà án nhân dân các cấp sang các cơ quan thuộc Chính phủ (tháng 7/1993) đã khẳng định nhiều bất cập, tồn tại trong công tác thi hành
án dân sự, trong đó có vấn đề thủ tục thi hành án dân sự, đòi hỏi phải được đổi mới để công tác thi hành án dân sự đạt hiệu quả hơn
Đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự là một nội dung của công cuộc đổi mới hoạt động Tư pháp đã được ghi nhận tại nhiều văn bản, như: Nghị quyết Trung ương 8 Khoá VII, Nghị quyết Trung ương 3 Khoá VIII, Báo cáo chính Irị u i Đại hội Đảng lần thứ IX Nghị quyếl số 08 - NQ/TW ngày 02/1/2002 của Bộ Chính trị “vồ một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” Nghị quyết Hội nghị lần thứ Chín Ban chấp hành Trung ương Đảng Khoá
Trang 7IX cũng tiếp tục xác định “đẩy mạnh đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp tập trung thực hiện tốt công tác thi hành án, nhất là thi hành án dân
sự, khắc phục cư bản tình trạng tồn đọng kéo dài”
Để thực hiện tốt chủ trương “đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan thi hành án dân sự”, giảm án dân sự tồn đọng, nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự, thì một trong những nội dung quan trọng phải thực hiện là đổi mới thủ tục thi hành án dân sự
Pháp luật nước ta đã quy định về thủ tục thi hành án dân sự Thủ tục thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay chủ yếu được quy định tại Pháp lệnh thi hành án dân sự ngày 21/4/1993 (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh 1993), Nghị định số 69/CP ngày 18/10/1993 của Chính phủ "quy định thủ tục thi hành án dân sự", một số Thông tư của Bộ Tư pháp, Thông tư lièn tịch của Bộ Tư pháp,
Bộ Tài chính, Bộ Công an và Toà án nhân dân tối cao (TANDTC), Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC) và vãn bản pháp luật khác hướng dẫn thực hiên một số quy định liên quan đến thủ tục thi hành án dân sự
Thực tế cho thấy, thủ tục thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật hiện nay bộc lộ nhiều hạn chế, bất câp, có nhiều quy định không khoa học, không đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn, gây khó khăn cho hoạt động th hành án dàn sự, làm tồn d >ng không ít bản án, quyết định của Toà án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác được thi hành theo thủ tục thi hành án dân sự, ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự tham gia vào quá trình thi hành án dân sự
Những hạn chế, bất cập về thủ tục thi hành án dân sự cũng đã dẫn đến việc Chấp hành viên lúng túng, nhận thức và áp dụng sai lầm pháp luật về thủ tục thi hành án trong quá trình thi hành bản án, quyết định của Toà án, nên
có trường hợp cả hai bên đương sự được thi hành án và phải thi hành án đều khiếu nại cho rằng Cơ quan thi hành án thực hiện không đúng quy định của pháp luật về thủ tục thi hành án dân sự, gây thiệt hại đến lợi ích của họ
Trang 8Những yếu tố nêu trên đặt ra yêu cầu cần phải đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự nói chung, thủ tục thi hành án dân sự nói riêng.
2 Tình hình nghiên cứu về nội dung của đề tài:
Việc nghiên cứu về thi hành án dân sự trong thời gian qua nhìn chung còn chưa được quan tâm đầy đủ Trong quá trình thực hiện Đề án cải cách tư pháp, xây dựng các Nghị quyết Trung ương Đảng, vấh đề thi hành án dân sự đã được đặt ra
và triển khai nghiên cứu ở mức độ nhất định Đề tài "Thừa phát lại" do Viộn nghiên cứu khoa học pháp lý Bộ Tư pháp và Sở Tư pháp thành phố Hồ Chí Minh phối hợp thực hiện đã bước đầu đưa ra những căn cứ cho khả năng xã hội hoá một số hoạt động thi hành án dân sự Bên canh đó còn có Đề tài khoa học cấp Bộ về "Mô hình quản lý thống nhất công tác thi hành án" do Cục thi hành án dân sự - Bộ Tư pháp chủ trì, Đề tài khoa học cấp nhà nước độc lập "Luận cứ khoa học và thực tiễn của việc đổi mới tổ chức hoạt động thi hành án ở Việt Nam trang giai đoạn mới" do Bộ
Tư pháp chủ trì đang được thực hiện, Luận án Thạc sỹ luật học "Một số vẵh đề về
tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự Việt Nam" của tác giả Trần Văn Quảng,
Luân án Thạc sỹ luật học "Các biện pháp cưỡng chế thi hành án dàn sự, thực tiễn
áp dụng và hướng hoàn thiện" của tác giả Nguyễn Công Long, Luận án Thạc sỹ luật học “Civil Execution in V letnam: Reality, Problems and Suggestions Townds a WellFunctioning System” (Thi hành án dân sự Việt Nam: Thực trạng, vấn đề và những gợi ý hướng tới một hệ thống hoàn thiện) của tác giả Lê Kim Dung, Luận văn Thạc sỹ luật học “Hoàn thiện pháp luật về thi hành án dân sự” của tác giả Nguyễn Thanh Thuỷ, Luận văn Thạc sỹ luật học “Xã hội hoá một số nội dung thi hành án dân sự” của tác giả Lê Xuân Hồng, Luận văn Thạc sỹ luật học “Thi hành quyết định trọng tài tại Việt Nam” của tác giả Trần Anh Tuấn, Luận văn Thạc sỹ luật học “Đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Quang Thái; ngoài ra, trên diễn đàn sách, báo pháp lý cũng xuất hiện một
số bài nghiên cứu, trao đổi, đề cập về thi hành án dân sự, trong đó có thủ tục thi hành án dân sự
Trang 9Tuy nhiên, nhìn chung kết quả của nhữig công trình nghiên cứu trên mới dừng lại ở một số khía cạnh của các vấn đề về thi hành án dân sự, chưa
có một đề tài nào tập trung nghiên cứu sâu, toằn diện vấn đề thủ tục thi hành
án dân sự
Luận văn này là một trong những công trình nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên về thủ tục thi hành án dân sự Nội dung của Luận văn đề cập một cách có hệ thống khái niệm, đặc điểm, ý nghía, lịch sử quy định về thủ tục thi hành án dân sự Việt Nam qua các thời kỳ; tìm hiểu thủ tục thi hành án dân sự theo quy định pháp luật của một số nước tiêu biểu trên thế giới và khu vực; đặc biệt là đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về thủ tục thi hành án dân sự vào thực tiễn và chỉ ra những bất cập về thủ tục thi hành án dân sự ở Việt Nam; đề xuất những kiến nghị đổi mới thủ tục thi hành án dân sự nhằm hoàn thiện pháp luật về thi hành án dân sự nói chung và thủ tục thi hành án dân sự nói riêng ở Việt Nam Những kết luận và kiến nghị đổi mới thủ tục thi hành án dân sự được đưa ra trong Luận văn này nhằm góp phần trực tiếp vào việc quản lý, chỉ ỏ o nghiệp vụ thi hành án dân sự và nghiên cứu xây dưng
Bộ luật Thi hành án, nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự ở nước
ta trong giai đoạn hiện nay và thời gian tới
Trong thời gian qua, học viên đã nghiên cứu và đề xuất nhiều ý kiến tháo
gỡ hạn chế, hất cập về thủ tuc thi hành án dân sự tại nhiều bài báo được đăng trồn
các tạp chí chuycn ngành và một số công trình khoa học đã bảo vệ (xem phụ lục 1) Xuất phát từ mong muốn công tác thi hành án dân sự ở Viột Nam đạt hiệu quả
hơn, hoạt động thi hành án dân sự tuân theo thủ tục chặt chẽ, khoa học, phù với chủ trương của Đảng về cải cách, đổi mới hoạt động tư pháp và tiếp tục “tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự” mà Thủ tướng Chính phủ đã chỉ thị tại Chỉ thị số 20/2001/CT-TTg ngày 11/9/2001, học viên chọn đề lài “Đổi mới thủ tục thi hành án dân sự Việt Nam” để làm Luận văn tốt nghiệp Cao học luật Khoá IX, Trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 103 Mục đích nghiên cứu của đề tài:
Từ việc nghiên cứu các quy định của pháp luật về thủ tục thi hành án dân
sự và trên cơ sở đánh giá thực tiễn áp dụng thủ tục thi hành án dân sự ở Việt Nam, cùng với việc so sánh pháp luật về thủ tục thi hành án dân sự của một số nước trên thế giới và khu vực, Đề tài sẽ đạt tói những mục đích sau đây:
- Làm rõ khái niệm thi hành án, thi hành án dân sự và thủ thi hành án dân sự, đặc điểm và ý nghĩa của thủ tục thi hành án dân sự Việt Nam
- Làm rõ những quy định về thủ tục thi hành án dân sự Việt Nam theo pháp luật hiện hành
- Chỉ ra những bất cập và yêu cầu đổi mới về thủ tục thi hành án dân
sự Việt Nam hiện hành
- Đưa ra các kiến nghị đổi mới về thủ tục thi hành án dân sự Việt Nam, góp phần hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự Việt Nam, đặc biệt là việc xây dựng Bộ )uật Tin hành án mà Chính phủ đã giao cho Bộ Tư pháp chủ trì dự thảo để dự kiến trình Quốc hội thông qua vào năm 2005
4 Phương pháp nghiên cứu:
Trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm của Đảng về cải cách hành chính, cải cách tư pháp, Đề tài được nghiên cứu chủ yếu bằng phương pháp luận duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử, phương pháp khoa học lịch sử, khoa học hệ thống, phương pháp hệ thống, phân tích, tổng hợp, quy nạp, so sánh, kết hợp với phương pháp điều tra xã hội học, khảo sát thực tiễn và một số phương pháp luận khác, để lựa chọn những vấn đề cần thiết đưa vào nội dung nghiên cứu
5 Bố cục của Luận văn:
Luận văn gồm 3 phần: Lời nói đầu, 3 chương, kết luận và phụ lục, tài liệu tham khảo
- Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thủ tục thi hành án dân sự
- Chương 2: Thủ tục thi hành án dân sự theo pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng
- Chư(^ng 3: Phương hướng đổi mới thủ tục thi hành án dân sự Việt Nam
Trang 11Chương 1 MỘT SỐ VẪN ĐỂ LÝ LUẬN VỂ THỦ TỤC THI HÀNH ÁN DÂN s ự
1 1 KHÁI NIỆM THI HÀNH ÁN, THI HÀNH ÁN DÂN s ự VÀ THỦ TỤC THI HÀNH ÁN DÂN s ự
1.1.1 Khái niệm thi hành án
Có thể khẳng định rằng, cho đến nay, khái niệm thi hành án đang là đề
tài tranh luận, có nhiều nhà khoa học nhìn nhận trên nhiều phương diện khác
nhau về thi hành án và đưa ra những loại quan điểm khác nhau về khái (liệm
thi hành án
Loại quan điểm thứ nhất, cho rằng thi hành án là hoạt động tố tụng
Song, thi hành án là hoạt động tố tụng nào và nằm ở giai đoạn nào của quá
trình tố tụng, thì lại có những ý kiến khác nhau
Có ý kiến cho rằng, thi hành án là một gií { đoạn tố tụng và là giai
đoạn cuối cùng của tố tụng Quan điểm này xuất phát từ quan niộm cho rằng
thi hành án là m ột giai đoạn nằm trong quá trình giải quyết vụ án, theo đó,
giai đoạn tố tụng trước của giai đoạn xét xử là giai đoạn chuẩn bị xét xử,
còn thi hành án là giai đo in hậu xét xử, giai đoạn thực thi các phán quyết
của Toà án trên thực tế Trong quá trình thi hành án, vai trò và trách nhiộm
của Toà án gắn chặt với hoạt động thi hành án, được biểu hiộn như trách
nhiệm của Toà án trong việc “giải thích những điểm chưa rõ, có sai sót
hoặc sai lầm về số liệu” khi Cơ quan thi hành án yêu cầu hoặc "xem xét
kháng nghị để xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án,
quyết định có vi phạm thủ tục tố tụng" khi Cơ quan thi hành án kiến nghị
Với quan niệm này, thì thi hành án được hiểu là giai đoạn kết thúc trình tự
tố tụng, là khâu cuối cùng kết thúc một vụ án được xét xử làm cho pháp
quyết của Toà án có hiệu lực pháp luật
Trang 12Ý kiến khác lại cho rằng, thi hành án là hoạt động tố tụng hành chính, bởi vì hiện nay các Cơ quan thi hành án dân sự là các cơ quan thuộc Chính phủ (thuộc hệ thống cơ quan hành chính trong bộ máy nhà nước) và việc giải quyết kháng nghị, khiếu nại trong thi hành án khác hẳn về hình thức, thủ tục
so với việc giải quyết kháng nghị, khiếu nại trong tố tụng
Ý kiến khác cho rằng, thi hành án là một thủ tục tố tụng đặc biệt mang
cả đặc trưng của tố tụng dân sự, tố tụng hình sự và tố tụng hành chính, thi hành án vừa tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự, vừa biểu hiện tính cưỡng chế của Nhà nước
Có ý kiến lại cho rằng, thi hành án thuộc loại tố tụng "hỗn hợp" vì "thi hành án có rất nhiều trình tự, thủ tục và đặc trưng giống các loại tố tụng khác"
Loại quan điểm thứ hai, coi thi hành án dân sự là hoạt động quản lý hành
chính - tư pháp, thì cho rằng, quá trình tố tụng mà trọng tâm là việc xét xử của Toà án chấm dứt khi Toà án ra phán quyết nhân danh Nhà nước, trong đó Toà
án đã xác định quyền, nghĩa vụ của các bên, còn việc thi hành phán quyết đó lại
là một giai đoạn khác, không thuộc quá trình tố tụng Thi hành án không phải là giai đoạn tố tụng, bởi vì thi hành án có mục đích khác với mục đích tố tụng; tố tụng là quá trình đi tìm sự thật của các vụ việc đã diễn ra trên thực tế, trên cơ sở
đó đưa ra cách giải quyết vụ việc theo đúng quy định của pháp luật, còn thi hành án là quá trình tiến hành các hoạt động nhằm thực hiện các bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật [34, tr.76]
Loại quan điểm thứ ba cho rằng, thi hành án là hoạt động tư pháp của
Nhà nước nhằm đưa ra và đảm bảo thi hành các bản án, quyết định của Toà
án và các quyỗt định khác theo quy định của pháp luật
Quan điểm này xuất phát từ nguyên lý “gốc” của hoạt động thi hành
án là bản án, quyết định của Toà án và các quyết định khác theo quy định của pháp luật và khi thực hiện nhiệm vụ thi hành án, Cơ quan thi hành án
Trang 13phải thi hành theo đúng quyết định của Toà án chứ không phải theo mệnh lệnh hành chính Việc thi hành án thông qua vai trò hoạt động của cá nhân những người được Nhà nước giao trách nhiệm thi hành bản án, quyết định của Toà án, đó là Giám thị viên, Chấp hành viên hoặc các cơ quan, tổ chức
và người có thẩm quyền khác Hoạt động hành chính trong lĩnh vực thi hành
án chẳng qua cũng chỉ để đảm bảo phục vụ cho chức năng chính của Cơ quan thi hành án là tổ chức thi hành án theo quy định của pháp luật [46]
Theo chúng tôi, mỗi loại quan điểm nêu trên đều có những cơ sở khoa học riêng Chúng tôi cho ràng thi hành án là một thủ tục tố tụng có tính chất
tư pháp và chỉ cần xác định thi hành án là thủ tục tố tụng thi hành án, mà không nên coi đó là một giai đoạn của thủ tục tố tụng hình sự, dân sự, hành chính hay tố tụng khác và cần hiểu thi hành án là thủ tục tố tụng độc lập so với các hoạt động tố tụng khác như điều tra, kiểm sát hoặc xét xử, bởi lẽ:
Thứ nhất, không nên Liểu “tố tụng” chỉ là "thưa kiện tại Toà án nói
chung" [27], là hoạt động của cơ quan Toà án xét xử để đi tìm “chân lý”, mà cần xem xét đến bản chất của tố tụng, v ề bản chất, thực ra tố tụng chỉ là việc thực hiện các quy định của pháp luật hình thức theo thủ tục nhất I' I)h để giải quyết các quan hc xã hội theo đúng sự điều chỉnh của pháp luật nội dung, nhằm đảm bảo lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân Tố tụng được thực hiên bởi nhiều cơ quan, tuỳ theo tính chất
và mức độ do pháp luật quy định Hoạt động của Cơ quan tiến hành tố tụng nói chung, Cơ quan thi hành án nói riêng nhằm mục đích bảo đảm để bản án, quyết định của Toà án hoặc quyết định của cơ quan có thẩm quyền khác được thực thi trên thực tế Hoạt động nào tuân theo thủ tục do pháp luật hình thức quy định là hoạt động tố tụng Dó đó có nhiều loại tố tụng: Tố tụng dân
sự, tố tụng hình sự, tố tụng hành chính, tố tụng thi hành án
Thứ hai, ch thể tiến hành thi hành án có rất nhiều loại, đó có thể là
Toà án, Cơ quan Công an, Cơ quan thi hành án dân sự, chính quyền xã,
Trang 14phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi người phải thi hành án cư trú, làm việc hoặc cơ sở chuyên khoa y tế Vai trò của từng loại chủ thể tham gia vào quá trình thi hành án có sự khác nhau đối với từng loại việc thi hành án Ví dụ, trong việc thi hành án tử hình, Hội đồng thi hành án tử hình gồm có đại diện Toà án, Công an, Viện Kiểm sát; trong việc thi hành khoản tiền khấu trừ thu nhập của người bị phạt cải tạo không giam giữ, thì cơ quan, tổ chức được giao
quản lý người phải thi hành án có trách nhiệm khấu trừ từ 5% đến 20% thu
nhập của người phải thi hành án để nộp cho Cơ quan thi hành án dân sự theo quy định tại Nghị định số 59/2000/NĐ-CP ngày 30/10/2000 của Chính phủ
Các chủ thể tiến hành việc thi hành án phải tuân thủ các quy định về thi hành án, như: trình tự, thủ tục ra quyết định thi hành án, cách thức tổ chức việc thi hành án, giải quyết khiếu nại hoặc trả lời kháng nghị về thi hành án Những thủ tục này được thực hi sn một cách độc lập do người có thẩm quyền thi hành án tiến hành, mà không phụ thuộc vào các hoạt động tố tụng khác,
như: điều tra, truy tố hoặc xét ] ủ
Trong hoạt động thi hành án dân sự, người có quyền trực tiếp tiến hành việc thi hành án là Chấp hành viên, kể cả Chấp hành viên là Thủ trưởng Cơ quan thi hành án Chấp hành viên là người được Nhà nước giao trách nhiệm thi hành các bản án, quyết định dàn sự Khi thực hiộn nhiệm vụ, quyển hạn của mình, Chấp hành viên phải tuân theo pháp luật, chịu trách nJi lộm trước pháp luật về việc thi hành án Pháp luật quy định cho Chấp hành viên những nhiệm vụ, quyền hạn độc lập, như: Thi hành đúng nội dung bản án, quyết định dân sự; Áp dụng đúng đắn các quy định của pháp luật về thủ tục thi hành án, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự; Triệu tập đương sự, người có liên quan đến trụ sở Cơ quan thi hành
án hoặc Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi thi hành án để thực hiện việc thi hành án; Giải thích, thuyết phục các đương sự tự nguyện thi hành án; Ân định thời hạn để người phải thi hành án tự nguyện thi hành án; Xác minh tài sản, điều
Trang 15kiện thi hành án của đương sự; Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp tài liệu để xác minh địa chỉ, tài sản của người phải thi hành án hoặc phối hợp với cơ quan hữu quan xử lý vật chứng, tài sản; Quyết định áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án theo quy định của pháp luật để bảo đảm thi hành án Thủ trưởng Cơ quan thi hành án có quyền yêu cầu Toà
án đã ra bản án, quyết định giải thích bằng vãn bản những điểm chưa rõ trong bản án, quyết định đó để thi hành hoặc kiến nghị với người có thẩm quyền xem xét việc kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nếu có căn cứ cho thấy có vi phạm pháp luật trong việc giải quyết vụ án hoặc phát hiện có tình tiết mới Những nhiệm
vụ, quyền hạn này của Chấp hành viên tạo ra tính độc lập của hoạt động thi hành án dân sự
Thứ ba, về tính chất của việc thi hành án, thì tất cả các bản án, quyết
định của Toà án và quyết định của Trọng tài đều có tính chất tư pháp hiểu theo nghĩa rộng, tức là không chỉ là việc xét xử, mà bao gồm cả lĩnh vực bổ trợ tư pháp Vì thế, thủ tục thi hành án được hiểu theo nghĩa rộng là một ìhủ tục tố tụng tư pháp không chỉ diễn ra sau hoạt động xét xử của Toà án và giải quyết tranh chấp về kinh tế, thương mại của Trọng tài Bởi vì, trong nhiều trường hợp, trước hoặc trong kh Toà án tiến hànb việc xét xử vụ án hoặc trước, trong khi Trọng tài giải quyết vụ tranh chấp thương mại, thì Cơ quan thi hành án đã tiến hành thi hành quyết định của Toà án, như: Quyết định áp dụng biên pháp ngăn chặn, quyết định khẩn cấp tạm thời Thủ tục th: hành các bản án, quyết định của Toà án, của Trọng tài độc lập với thủ tục xét xử của Toà án
Thủ tục thi hành án bao gồm thủ tục thi hành án dân sự và thủ tục thi hành án không phải là dân sự
Như vậy, không thể xếp thi hành án vào loại tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, tố tụng kinh tế, tố tụng hành chính, tố tụng lao động hay tố tụng
Trang 16trọng tài và cũng không phải là một giai đoạn của các loại tố tụng đó Vì vậy, chỉ cần nêu ra một khái niệm thi hành án chung với ý nghĩa là thủ tục tố tụng
tư pháp độc lập so với các thủ tục điều tra, truy tố và xét xử
Từ những phân tích nêu trên có thể đưa ra khái niệm thi hành án là thủ
tục tố tụng tư pháp do cơ quan, tổ chức, người cố thẩm quyền tiến hành đ ể thi hành bản án, quyết định của Toà án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước, tổ chức khác do pháp luật quy định, nhằm bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền vào lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức và cá nhân.
1.1.2 Khái niệm thi hành án dân sự
Thi hành án dân sự là một loại thi hành án, nên cũng có thể hiểu thi hành án dân sự là thủ tục tố tụng tư pháp thi hành các bản án, quyết định về dân sự của Tòa án và các quyết định khác theo quy định của pháp luật
Hiện nay, có hai loại ý kiến không giống nhau về khái niệm "dân sự" trong thi hành án và có cách hiểu khác nhau về khái niệm thi hành án dân sự
Loại ỷ kiên thứ nhất cho rằng, thi hành án dân sự chỉ là viộc thi hành
các bản án, quyết định của Toà án về giải quyết vụ án dân sự theo trình tự do pháp luật tố tụng dân sự quy dịnh Ý kiến này căn cứ trên cơ sở quan niệm về
"dân sự" theo nghĩa hẹp, đó là căn cứ vào Điều 1 của Bộ luật Dân sự năm 1995, theo đó, quan hộ dân sự bao gồm quan hệ về tài sản và nhân thân phi tài sản phát sinh trong giao lưu dân sự Vì vây, khái niệm "dân sự" trong thi hành án bao gồm những vụ việc liên quan đến quan hộ tài sản và nhân thân phi tài sản, như: Bản án, quyết định về tranh chấp các loại hợp đồng dân sự, về hôn nhân gia đình và một số loại án khác có tính chất dân sự Các loại bản án, quyết định khác về lao động, hành chính, quyết định về tài sản trong vụ án hình sự, quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp, quyết định giải quyết tranh chấp kinh tế hoặc thương mại của Trọng tài có thủ tục thi hành riêng, tuỳ từng trường hợp cụ thể để xác định loại tố tụng thi hành bản án, quyết định đó
Trang 17Loại ý kiến ihứ hai cho rằng, thi hành án dân sự phải được hiểu theo
nghĩa rộng, tương thích với cách hiểu khái niệm "dân sự" theo nghĩa rộng, đó
là những quan hệ không phải là hình phạt về nhân thân đối với cá nhân Ý kiến này so sánh với pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới, việc tổ chức thi hành các bản án có nguồn gốc pháp luật về nội dung là luật tư (luật dân
sự, kinh doanh, thưomg mại, lao động) được thực hiện theo một thủ tục chung
mà không có sự tách bạch căn bản việc thực thi án dân sự, hôn nhân gia đình, kinh tế, thương mại hay lao động [46]
Chúng tôi đồng ý với loại ý kiến thứ hai là phải hiểu từ "dân sự" trong thi hành án theo nghĩa rộng, không chỉ là bản án, quyết định dân sự của Toà
án, mà còn là bản án, quyết định khác của Toà án và quyết định của cơ quan,
tổ chức khác mà pháp luật quy định do Cơ quan thi hành án dân sự thi hành
Các bản án, quyết định dân sự do Cơ quan thi hành án dân sự thi hành không chỉ là bản án, quyết địf h của Toà án về vụ án dân sự, kinh tế, lao động, phá sản doanh nghiệp, bản án hoặc quyết định dân sự của Toà án nước ngoài, mà còn thi hành các quyết định về dân sự, phạt tiền, tịch thu tài sản,
xử lý vật chứng, tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí trong bản án, quyết định của Toà án về vụ án hình sự và quyết định về phần tài sản trong bản án, quyết định của Toà án về vụ án hành chính Hơn nữa, Cơ quan thi hành án dân sự còn được g' ao nhiêm vụ thi hành quyết đinh của tổ chức không phải là Toà án, đó là quyết định của Trọng tài
Như vậy, có thể đưa ra khái niộm thi hành án dân sự là thủ tục tố tụng thi
hành các bản án, quyết định về dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định về hình sự, hành chính và quyết định khác do Cơ quan thi hành án dân sự thực hiện theo quy định của pháp luật.
1.1.3 Khái niệm thủ tục thi hành án dân sự
Thủ tục là “những việc cụ thể phải làm theo một trình tự quy định để lien hành một công việc có tính chất chính thức" [27, tr.960] Trình tự là “sự
Trang 18sắp xếp lần lượt, thứ tự trước sau" [27, tr.1037] Như vậy, có thể hiểu khái niệm thủ tục là việc thực hiện công việc nhất định theo những quy định cụ thể được sắp xếp theo trình tự nhất định.
Công tác thi hành án dân sự được thực hiện bởi nhiều công việc Mỗi công việc cụ thể của quá trình thi hành án dân sự được thực hiện theo thủ tục riêng, như: Thành lập, giải thể Cơ quan thi hành án; bổ nhiệm, miễn nhiệm, điểu động, thuyên chuyển, cách chức Chấp hành viên; thủ tục thi hành một việc thi hành án dân sự Vậy, khái niệm thủ tục thi hành án dân sự được hiểu như thế nào ?
Có ý kiến cho rằng, cần hiểu thủ tục thi hành án dân sự là toàn bộ những hoạt động của công tác thi hành án dân sự, bao gồm cả công tác thành lập, kiện toàn Cơ quan thi hành án và hoạt động thi hành các bản án, quyết định do Cơ quan thi hành án thực hiện
Chúng tôi cho rằng, thủ tục thi tiành án dân sự là những quy đinh trong việc thi hành bản án, quyết định của Toà án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước, tổ chức có thẩm quyền khác Đó là các thủ tục từ việc giao nhận bản án, quyết định dân sự, đến thủ tục tổ chức thi hành án, giải quyết khiếu nại và kháng nghị về thi hành án dân sự Đối với thủ tục kiện toàn tổ chức bộ máy, cán
bộ Cơ quan thi hành án; cấp phát kinh phí cho hoạt động của Cơ quan thi hành
án không xác ( >nh là thủ tục thi hành án dân sự Như vậy, trong công tác thi hành án dân sự có nhiều hoạt động, mỗi hoạt động có những thủ tục nhất định
Thủ tục thi hành án dân sự mang tính chất tư pháp, do Cơ quan thi hành án tiến hành để thi hành án Bởi lẽ, hoạt động xét xử của Toà án để ra bản án, quyết định hoặc hoạt động giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại của Trọng tài là những hoạt động tư pháp
Có thể đưa ra khái niệm thủ tục thi hành án dân sự lữ trình tự thi hành các bản án, quyết định về dân sự, hôn nhãn và gia đình, lao động, quyết định
về tài sản trong bản án, quyết định về hình sự, hành chính và quyết định khác do Cơ quan thi hành án dân sự thực hiện theo quy định của pháp ỉuật.
Trang 191.2 ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA CỦA THỦ TỤC THI HÀNH ÁN DÂN
Sự VIỆT NAM
1.2.1 Đặc điểm của thủ tục thi hành án dân sự
1.2.1.1 Là thủ tục được pháp luật quy định
Thủ tục thi hành án dân sự là những quy định trong các văn bản quy
phạm pháp luật do Nhà nước ban hành theo một trình tự nhất đinh Chỉ có
những quy định về thú tục thi hành án dân sự được quy định trong văn bản pháp
luật thì mới được xác định là thủ tục thi hành án dân sự Các quy định này có
thể được quy định trong các văn bản pháp luật chuyên ngành về thi hành án dân
sự hoặc ở các văn bản pháp luật liên quan đến thi hành án dân sự
1.2.1.2 Lả thù tục độc lập so với thủ tục khởi tố, điều tra, xét xử vụ
án hoặc giải quyết vạ kiện trọng tài
Sau khi có bản án, quyết định của Toà án hoặc quyết định của cơ quan
nhà nước, tổ chức có thẩm quyền khác, thì trên cơ sở bản án, quyết định do
Toà án chuyển giao hoặc đơn yêu cầu thi hành án của đương sự, Cơ quan thi
hành án dân sự ra quyết định th: hành án và thụ lý, tổ chức việc thi hành án
Th tục này độc lập với các thủ tục khác trong việc giải quyết vụ án hoặc vụ
kiện trọng tài
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện thủ tục thi hành án dân sự, tuỳ
từng trường hợp sẽ có sự phối hợp giữa Cơ quan thi hành án với các cơ quan,
tổ chức đã tiến hành điều tra, truy tố, xét xử vụ án hoặc giải quyết vụ kiện
Irọng tài
1.2.1.3 Được thực hiện bằng nhiều thủ tục khác nhau
Quá trình thi hành án dân sự thực hiện thông qua nhiều thủ tục, theo
trình tự trước sau Mỗi khâu trong quá trình thi hành án dân sự được thực
hiện bằng nhiều thủ tục khác nhau, tạo ra "xâu chuỗi" của toàn bộ quá trình
Trang 20không phải thực hiệr hoặc có những thủ tục phải thực hiện ngay ở giai đoạn đầu, giữa hoặc sau kii đã thi hành xong việc thi hành án Ví dụ, thủ tục giải quyết khiếu nại hoặc thực hiện kháng nghị của Viện Kiểm sát.
1.2.2 Ý nghĩa của thủ tục thi hành án dân sự
1.2.2.1 Là cơ !Ở pháp lý đảm bảo thỉ hành bẩn án, quyết định của Toà án hoặc quyết đinh của cơ quan có thẩm quyền khác được thi hành theo thủ tục thi hành án dân sự
Bản án, quyết định của Toà án hoặc quyết định của cơ quan có thẩm quyền nếu không được thi hành, thì chỉ là phán quyết trên giấy, vì thế phải được thi hành Để thi hành bản án, quyết định dân sự đó thì phải có thủ tục thi hành án dân sự Khi pháp luật đã quy 1’rnh về thủ tục thi hành dân sự, thì những bản án, quyết định này có cơ sở pháp lý để bảo đảm thi hành trên thực tế
Thủ tục thi hành án dân sự là cơ sở pháp lý để thi hành đúng những bản
án, quyết định đã có hiệu lực thi hành, tránh tình trạng thi hành những bản án, quyết định chưa có hiệu lực ứ i hành hoặc những bản án, quyết tunh đã có hiệu lực thi hành nhưng không được đưa ra thi hành theo quy định của pháp luật
1.2.2.2 Bảo đảm hoạt động thi hành án đúng đắnỊ uy tín và danh du của Chấp hành viên, cán bộ C ơ quan thi hành án dân sự
Thủ tục thi hành án dãn sự có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm hoạt động thi hành án đúng đắn của Chấp hành viên, cán bộ Cơ quan thi hành án, hạn chế tình trạng Cơ quan thi hành án “lạm quyền” tổ chức thi hành những bản án, quyết định không thuộc thẩm quyền thi hành của mình, đồng thời ngăn chặn việc
Cơ quan thi hành án từ chối, “đùn đẩy” trách nhiệm thi hành những bản án, quyết đinh mà cơ quan mình có trách nhiệm tổ chức thi hành
Mặt khác, thủ tục thi hành án dân sự tạo cơ sở pháp lý cho Chấp hành viên, cán bộ Cơ quan thi hành án căn cứ vào đó để thực hiện, để bảo vộ quá trình thi hành án, bảo vệ quan điểm, uy tín và danh dự của mình
Trang 211.2.2.3 Là cơ sở bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự
Việc thi hành án dân sự đúng thủ tục do pháp luật quy định bảo đảm bản
án, quyết định có hiệu lực thi hành theo thủ tục thi hành án dân sự kịp thời là
một trong những cơ sở bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích của
đương sự tham gia vào việc thi hành án và của cơ quan, tổ chức, cá nhân liên
quan Thủ tục thi hành án dân sự không được quy đinh hoặc quy ( nh không rõ
ràng, không khoa học sẽ không có căn cứ pháp lý hoặc dẫn đêh việc áp dụng
không đúng pháp luật, làm phức tạp quá ừình thi hành án, gây tốn kém kinh
phí, không kịp thời hoặc không bảo đảm được lợi ích của Nhà nước, quyền và
lợi ích hợp pháp của đương sự, dẫn đến khiếu kiện bức xúc, kéo dài
13 VÀI NÉT LỊCH s ử VỂ THỦ TỤC THI HÀNH ÁN DÂN s ự VIỆT NAM
1.3.1 Thòi kỳ trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945
Thời kỳ này, ở giai đoạn dưới chế độ phong kiến, thủ tục thi hành án nói
chung và thi hành án dân sự nói riêng hình thành, tồn tại cùng với hoạt động xét
xử của Toà án Các luật lệ lúc bấy giờ, như: Bộ luật Hồng Đức, Bộ luật Gia
Long chưa phân định rõ ràng giữa thủ tục thi hành án và thủ tục xét xử
Đến giai đoạn đất nước ta dưới thời nửa phong kiến nửa thuộc địa, thủ
tục thi hành án dân sự chủ yếu do tổ chức Thừa phát lại tliực hiện Theo quy
định tại Luật Tố tụng dân sự ban hành kèm theo Nghị định ngày 16/3/1910
của Toà quyền Đ ông Dương và Nghị định số 111/BTP ngày 02/2/1950 của
Bộ trưởng Bộ Tư pháp Chính quyền do Bảo Đại làm Quốc trưởng, thì Thừa
phát lại được giao làm nhiều công việc có tính chất hành chính tại Toà án và
thi hành các bản án Chế định Thừa phát lại hình thành và tồn tại ở Việt Nam
từ trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 cho đến nàm 1950, sau đó tiếp tục
tồn tại dưới chế độ Ngụy quyền Sài Gòn cho đến ngày miền Nam hoàn toàn
lỊÌải p h ỏ n g
Trang 22Thừa phát lạ là công lại do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm và quản
lý, hành nghề trên cơ sở quy định của pháp luật, được hưởng thù lao của khách hàng và chịu sự chỉ đạo trực tiếp của những công chức có trách nhiệm của Toà án, như: Chưởng lý, Biộn lý, Thẩm phán, Lục sự
Tổ chức Thùa phát lại chủ yếu được thành lập và hoạt động ở các
thành phố lớn, còn b nông thôn thì việc thi hành án dân sự do chính quyền cơ
sở thực hiện
Thủ tục thi hành án dân sự do Thừa phát lại thực hiện theo quy định của pháp luật và không chịu sự chi phối của mệnh lẽnh hành chính Trong quá trình thi hành án dân sự, Thừa phát lại được quyền yêu cầu cơ quan, tổ
chức liên quan giúp đỡ để đảm bảo thi hành án dân sự hil u quả, được thu lộ
phí theo quy định của Nhà nước, nhưng Thừa phát lại không được từ chối việc thi hành án dân sự khi có yêu cầu, nếu không có lý do chính đáng đó là yêu cầu thuộc vào điều cấm kỵ
Trong thời kỳ này, thủ tục thi hành án dân sự chưa được quy định chặt chẽ và cụ thể, nhưng trong các văn bản pháp luật cũng đã có những quy định
về thủ tục thi hành án dân sự, như vấn đề về: Biộn pháp bĩ«o đảm thi hành án
dân sự “Sai áp bảo toàn” tức là kê biên tài sản của đương sự theo Lênh của
Toà án để bảo đảm thi hành số nợ phải trả; “Sai áp chỉ”, còn gọi là sai áp chi phó, tức là kê biên tài sản hoặc tiền của con nợ đang do người thứ ba giữ để thi hành án dân sự; khi phát mại tài sản để thi hành án dân sự, nếu khồng có
ai trả giá cao hơn giá đã ấn định, thì người thanh toán tuỳ theo tình hình cụ thể có quyền xin Toà án cho hạ giá tài sản; nếu người mắc nợ tẩu tán tài sản
để trốn tránh nghĩa vụ thi hành án dân sự, thì có thể bị câu thúc thân thể hoặc
xử lý hình sự bằng hình thức khác
1.3.2 Thòi kỳ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay
Thủ tục thi hành án dân sự trong thời kỳ này có những bước phát triển dần dần hoàn thiện hơn qua các giai đoạn lịch sử sau đây:
Trang 23"Về việc thi hành án Hình và án Hộ", thì thi hành án dân sự ở nước ta giai đoạn này tồn tại dưới hai hình thức là: Thừa phát lại và Ban tư pháp xã.
Thủ tục thi hành án dân sự đã được quy định bằng những nguyên tắc, thể thức chấp hành các bản án, quyết định của Toà án và xác định trách nhiệm của Thừa phát lại, nhấn mạnh vai trò của Ban Tư pháp xã, các cơ quan, tổ chức hữu quan trong việc thi hành án dân sự Nhà nước không chỉ tôn trọng quyền định đoạt của đương sự trong giao lưu dân sự, thương sự và
tố tụng, mà thông qua thủ tục thi hành án dân sự còn thể hiện việc bảo đảm quyền tự định đoạt của đương sự trong việc thi hành án dân sự
1.3.2.2 Gỉaơ đoạn từ năm 1950 đến 1980
Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950 về “Cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng” tạo nên sự thay đổi
có tính chất bước ngoặt trong tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự Theo quy định của sắc lênh này, thì việc thi hành án dân sự do Thừa phát lại và Ban Tư pháp thực hiện được thay thế bằng Thẩm phán huyện dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chánh án Toà án Thủ tục thi hành án dân sự từ chỗ căn cứ vào đơn yêu cầu của đương sự trở thành trách nhiệm của Nhà nước, Toà án chủ động thi hành án dân sự mà không chờ yêu cầu của người được thi hành án
Trang 24Trên cơ sở Hiến pháp năm 1959, Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm
1960 đã xác định tại Điều 24 là: “Tại các Toà án nhân dân địa phương có nhân viên chấp hành án làm nhiệm vụ thi hành những bản án và quyết định dân sự, những khoản xử về bồi thường và tài sản trong các bản án, quyết định hình sự”, thì việc thi hành án dân sự do nhân viên chấp hành án thực hiện theo thủ tục do pháp luật quy định
Ngày 13/10/1972, Chánh án Toà án nhân dân tối cao ra Quyết định
số 186/TC về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên; cùng ngày này, Toà án nhân dân tối cao cũng ban hành Thông tư số 187-TC hướng dẫn thi hành Quyết định số 186-TC nêu trên, tên gọi “Chấp hành viên” được ra đời thay cho “nhân viên chấp hành án” để làm nhiệm vụ thi hành án dân sự Chấp hành viên được đặt tại Toà án, dưới sự quản lý, chỉ đạo trực tiếp của Chánh án Toà án TANDTC cũng đã ban hành Thồng tư
số 442-TC ngày 04/7/1968 "Về viộc đẩy mạnh công tác thi hành án" và Công văn số 827/CV ngày 23/10/1979 ban hành "Điều lè tạm thời về cổng tác thi hành án" có quy đ tih về thủ tục thi hành án dân sự
Trong giai đoạn này, Chấp hành viên có quyền ( nh cho đương sự một thời hạn để tự nguyên th.1 hành án, áp dụng biện pháp cưỡng chế mà pháp luật cho phép sau khi có sự thoả thuận với Chánh án nơi Chấp hành viên công tác, yêu cầu lực lượng bảo vộ trật tự trị an giúp sức khi cần thiết,
đề nghị Toà án có thẩm quyền cho hoãn, tạm đình chỉ thi hành án và nhiều thủ tục khác về thi hành án dân sự Ngoài ra, pháp luật cũng quy định irách nhiệm của Uỷ ban hành chính xã, phường và các cơ quan liên quan irong việc hỗ trợ thi hành án dân sự, Viện Kiểm sát nhân dân các cấp kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong thi hành án dân sự Nhìn chung, thủ tục thi hành án dân sự được quy định khá chi tiết, cụ thể, khẳng định trách nhiệm chủ động của Nhà nước đối với việc thi hành các bản án, quyết định của Toà án
Trang 251.3.2.3 Giai đoạn từ 1981 đến 1993
Sự ra đời của Hiến pháp năm 1980 kéo theo m ột loạt các văn bản pháp luật khác được ban hành Điều 16 Luật Tổ clức Toà án nhân dân năm 1981
và Nghị định số 143-HDBT ngày 22/11/19^1 của Hội đồng Bộ trưởng về
“Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tu pháp” đã giao cho Bộ Tư pháp đảm nhiệm công tác quản lý Toà án nhân cÈn địa phương về mặt tổ chức, trong đó có công tác thi hành án dân sự N*ày 18/7/1992, Bộ Tư pháp và TANDTC ban hành Thông tư liên ngành số 472 về “Quản lý công tác thi hành án trong thời kỳ trước mắt” quy định tậ các Toà án nhân dân cấp tỉnh
có Phòng thi hành án nằm trong cơ cấu, bộ náy của Toà án để giúp Chánh
án cấp tỉnh chỉ đạo công tác thi hành án và tạ] Toà án nhân dân cấp huyện có Chấp hành viên hoặc cán bộ thi hành án dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chánh
án cấp huyện Thủ tục thi hành án dân sự kh&ig có gì thay đổi lớn so với giai đoạn liền trước đó
Ngày 28/8/1989, u ỷ ban Thường vụ Qnốc hội thông qua Pháp lệnh thi hành án dân sự đầu tiên ở nước ta, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/1/1990 Tiếp đó, một số văn bản pháp luật khác cũng được ban hành hướng dẫn về thủ tục thi hành án dân sự theo quy định tại Pháp lệnh này, như: Thông tư liên ngành số 06-89/TTLN ngày 07/12/1989 của TANDTC, VKSNDTC, Bộ
Tư pháp "Hướng dẫn thực hiện một số quy định của Pháp lệnh thi hành án dân sự"; Thông tư liên ngành số 09 TT/LN ngày 10/12/1989 của TANDTC, VKSNDTC, Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp "Hướng dẫn việc xét xử và thi hành án đối với các khoản tiền bồi thường, bồi hoàn, thanh toán tài sản, cấp dưỡng trong các bản án hình sự và dân sự trong tình hình hiện nay"
Từ đó, cơ chế chủ động thi hành án dân sự và cơ chế thi hành án dân sự theo đơn yêu cầu song song tồn tại ở nước ta, với những thủ tục thi hành án dân
sự khá cụ thể Việc ra quyết định thi hành án dân sự do Chánh án Toà án nhân dân thực hiện Chấp hành viên là người tổ chức việc thi hành án dân sự
Trang 261.3.2.4 Giai đoạn từ 1993 đến nay
Với đường lối đổi mới và cải cách bộ máy nhà nước, Hiến pháp năm
1992 và một số văn bản pháp luật quan trọng khác như: Luật Tổ chức Chính phủ năm 1992, Luật tổ chức Toà án nhân càn năm 1992 đã đặt ra những nguyên tắc nền tảng cho quá trình cải cách tu pháp, trong đó có công tác thi hành án dân sự
Theo Nghị quyết "Về việc bàn giao côru tác thi hành án dân sự từ Toà án nhân dân các cấp sang các cơ quan của Chính ohủ" được Quốc hội khóa IX kỳ họp thứ Nhất thông qua ngày 06/10/1992, Pháp lệnh 1993 và Chỉ thị số 266/TTg ngày 02/6/1993 của Thủ tướng Chính phủ "Về triển khai việc bàn giao và tăng cường công tác thi hành án dân sự", tháng 7/1 ủ93, công tác thi hành án dân sự được bàn giao từ Toà án nhân dân các cấp sang các cơ quan của Chính phủ, từ đó hình thành hệ thống Cơ quan quan lý công tác tìi hành án dân sự và Cơ quan thi hành án dân sự độc lập với hệ thống Toà án Pkáp lệnh 1993 quy định Cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiêm thi hành bản án, quyết đinh về dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, quyết đinh về tài sản trong bản án, quyết đinh hình sự
và các quyết định khác theo quy đinh của pháp luật
Luật Phá sản doanh nghiệp ngày 30/12/1993 và Nghị định số 189/CP ngày 23/12/1994 của Chính phủ "Hướng dẫn thi hành Luật Phá sản doanh nghiệp"; Pháp lệnh công nhận và tl i hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân
sự của Toà án nước ngoài ngày 17/4/1993; Pháp lệnh công nhận và thi hành tại Việt Nam quyết định của Trọng tài nước ngoài ngày 27/9/1995; Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế ngày 16/3/1994; Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh lao động ngày 11/4/1996; Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ
án hành chính ngày 21/5/1996; Nghị quyết số 287-NQ/UBTVQH9 ngày 29/5/1995 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội "Về việc giải quyết một số vấn đề tổn tại trong việc giải quyết các tranh chấp hợp đồng kinh tế của Trọng tài kinh lế các cấp"; Pháp lệnh Trọng tài Thương mại ngày 25/2/2003 và nhiều
Trang 27văn bản pháp luật khác đã quy định Cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm
thi hành một số loại bản án, quyết định là: Bản án, quyết định dân sự của Toà án
nước ngoài và quyết định của Trọng tài nước ngoài đã được Toà án Việt Nam
công nhận và cho thi hành tại Việt Nam, quyết định về phần tài sản trong bản án,
quyết định của Toà án về vụ án hành chính, quyết định tuyên bố phá sản doanh
nghiệp, quyết định của Trọng tài kinh tế Nhà nước các cấp đã có hiệu lực trước
ngày 01/7/1994, quyết định của Trung tâm Trọng tài được thành lập theo Nghị
định 116/CP ngày 05/9/1994 của Chính phủ, quyết định trọng tài của Trung tâm
Trọng tài quốc tế Việt Nam được thành lập và hoạt động theo Quyết đinh số
204/TTg ngày 28/4/1993 và Quyết định số 114/TTg ngày 16/2/1996 của Thủ
tướng Chính phủ đã có hiệu lực nhưng chưa được thi hành, quyết định trọng tài
theo quy định tại Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003
Thủ tục thi hành án dân sự trong thời kỳ này đã có những tiến bộ rất
cơ bản, đã được pháp luật quy định cụ thể, chặt chẽ và dễ áp dụng hơn rất
nhiều với các thời kỳ trước
Ngày 14/1/2004, Ưỷ ban rhường vụ Quốc hội thông qua Pliáp lệnh thi
hành án dân sự mới (sau đây gọi tắt là Pháp lênh 2004) có hiệu lực thi hành kể
từ ngày 01/7/2004, thay thế Pháp lệnh 1993 Tại thời điểm chúng tôi nghiên
cứu và hoàn thành Luận văn này, thủ tục thi hành án dân sự vẫn đang được áp
dụng theo các quy định tại Pháp lộnh 1993 và các văn bản hướng dẫn thi hành
Pháp lệnh này Tuy nhiên, chúng tôi cũng đã nghiên cứu và đánh giá về những
sửa đổi, bổ sung của Pháp lệnh năm 2004 để đưa ra những kiến nghị không
trùng với những hạn chế, bất cập về thủ tục thi hành án dân sự đã được khắc
phục tại Pháp lệnh năm 2004
1.4 THỦ TỤC THI HÀNH ÁN DÂN s ự THEO PHÁP LUẬT CỦA MỘT SỐ NƯỚC
Nghiên cứu pháp luật của một số nước trên thế giới và trong khu vực
cho thấy, thủ tục thi hành án dân sự của các nưỡc có sự khác nhau và được quy
Trang 28định khá cụ thể; có những thủ tục thi hành án <f nước ta giống nước này, nhưng lại khác nước khác và ngược lại Trong phần nà/, xin giới thiêu những nội dung
cơ bản về thủ tục thi hành án dân sự theo pháp liật của một số nước sau đây:
1.4.1 N hật Bản
Sau khi người được thi hành án có đm yêu cầu thì việc thi hành án mới được tiến hành Người được thi hành án phải tự tìm hiểu về tình trạng tài sản của người phải thi hành án để cung cấp thóng tin cho Cơ quan thi hành án, trong đơn yêu cầu phải chỉ rõ tài sản của người phải thi hành án
Người được thi hành án phải nộp kèm theo đơn yêu cầu thi hành án lệ phí, chi phí đặt cọc Nếu họ không đặt cọc hoic đặt cọc không đủ, Chấp hành viên có quyền từ chối, trừ trường hợp được m ễn theo quy định của pháp luật Ngoài các khoản lệ phí giấy tờ nêu trên, ngưòi được thi hành án còn phải nộp
lệ phí thi hành án và các chi phí cần thiết khác
Thời hiệu thi hành án dân sự là 10 năm
Có 5 loại cưỡng chế thi hành án là: Cưỡng chế theo yêu cầu, bao gồm việc thi hành các yêu cầu vể thanh toán tiền và cưỡng chế thi hành các yêu cầu không liên quan đến việc thanh toán tiền; Cưỡng ch ế trên cơ sở các biện pháp cưỡng chế, được chia thành cưỡng chế trực tiếp và cưỡng chế gián tiếp; Cưỡng chế thi hành tổng hợp và tbi hành riêng lẻ; Cưỡng chế thi hành án trên cơ sở chức năng, bao gồm việc thi hành để thoả mãn m ột yêu cầu và việc thi hành biện pháp bảo đảm; Cưỡng ch ế trên cơ sở hiệu quả, được chia thành thi hành thực tế và thi hành lạm thời
Pháp luật thi hành án dân sự của Nhạt Bản quy định cấm kê biên một số tài sản, như: Tượng phật, bài vị tang lễ và những thứ cần thiết để sử dụng trực tiếp trong dịch vụ hoặc trong lễ hội; Gia phả, nhật ký, sách thương mại hoặc những thứ khác cần thiết đối với người phải thi hành án; Huân chương, huy chương và những thứ khác biểu thị cho danh dự mà người phải thi
Trang 29hành án hoặc họ hàng của người này được nhấn; Chân tay giả và những thứ khác dùng để hỗ trợ cho cơ thể mà người phải thi hành án cần dùng.
Việc thi hành cưỡng chế đối với tàu biển được xác định là m ột trong những hình thức thi hành cưỡng chế yêu cầu thanh toán tiền để đảm bảo thi hành án Việc thi hành cưỡng chế đối với tàu biển được áp dụng đối với tàu biển có tổng trọng tải từ 20 tấn trở lên và được thực hiện thông qua biện pháp mua bán cưỡng chế tàu biển
Đối với việc cưỡng chế trả nhà, thì trong trường hợp một ngôi nhà mà bên phải thi hành án đang là đối tượng của một quyết định cho phép tiến hành quản lý cưỡng chế, nếu bên phải thi hành án không có chỗ ở khác, thì Toà thi hành án có thể căn cứ vào đơn đề nghị của người phải thi hành án để cho phép họ
và người thân của họ được sử đụng ngôi nhà đó trong một thời gian nhất định
1.4.2 C ộng hoà Pháp
Thừa phát lại là người trực tiếp thi bành án dân sự
Các biộn pháp cưỡng chế thi hành án dân sự gồm có: Kê biên thanh toán nợ; Kê biên tiền lương, tiền công; Kê biên và bán các tài sản là động sản
của người mắc nợ đang do người thứ ba giữ; Phong toả động s a; Các biện
pháp thi hành án đối với các phương tiộn cơ giới đường bộ; Kê bièn các tà sản
vô hình; Cưỡng chế tri nhà
Mọi tài sản của người phải thi hành án đều có thể bị kê biên, kể cả tài sảo đó đang do người thứ ba giữ Tuy nhiên, những tài sản sau đây không thể
bị ké biên: Tài sản không thể bị kê biên theo luật; Thực phẩm, tiền trợ cấp nuôi dưỡng, trừ khoản tiền mà bên kê biên trả để cấp dưỡng cho bên bị kê biên; Các tài sản có thể định đoạt được nhưng được người viết di chúc hoặc người tặng cho tuyên bố không thể kê biên hoặc là theo sự cho phép của Thẩm phán và trong một tỷ lệ do Thẩm phán quyết định, được các chủ nợ sau này khi đã quyết định tặng cho hoặc mở thừa kế mà không thể kê biên; Động sản cần thiết cho cuộc sống, việc làm của người phải thi hành án và gia đình họ,
Trang 30nếu như không phải để chi trả cho khoản nợ trong chừng mực mà sắc lệnh của Tổng thống cho phép, tuy nhiên những động sản đó vẫn có thể bị tịch biên nếu nằm ngoài nơi cư trú và nơi làm việc thường xuyên của con nợ, nếu đó là tài sản có giá trị như tài sản quý, hiếm, xa xỉ hoặc là tài sản có số lượng lớn vượt quá nhu cầu cần thiết; những động sản hữu hình của nghiệp sản thương mại; Vật dụng cẩn thiết của người tàn tật hay dùng để chãm sóc người ốm.
Trong việc thi hành cưỡng chế trả nhà, trừ trường hợp có quy định đặc biệt, việc trục xuất hoặc cưỡng chế ra khỏi một toà nhà, một nơi ở, chỉ được tiến hành nếu có quyết định của Toà án hoặc trên cơ sở một biên bản hoà giải
có hiệu lực thi hành, sau khi đã có lệnh tống đạt giải toả nhà
Việc bắt giữ tàu biển để thi hành án là m ột trong những biện pháp bảo đảm thi hành án Sau khi có bản án, quyết định của Toà án buộc bên phải thi hành án phải thanh toán tiền mặt hoặc tài sản cho bên được thi hành án, thì Thẩm phán Toà án có thể ra quyết C nh bắt giứ tàu biển để bán
1.4.3 Cộng hoà liên bang Đức
Việc thi hành án dân sự do Toà án khư vực đảm nhiệm Ở Toà án này
có Thẩm phán, Nhàn viên toà án, Chấp hành viên và Nhân viên thi hành án Chấp hành viên chịu sự giám sát trực tiếp của Chánh án Toà án cấp khu vực
Thời hiệu thi hành án là 30 nãm kể từ mgày bản án, quyết định có hiộu lực pháp luật Ngoài việc thi hành các bản á n , qu y ết định về dân sự, Chấp hành viên còn thi hành cả các phán quyết của trọng tài, các quyết định của Toà án về phá sản doanh nghiệp
Chấp hành viên thực hiện việc cưỡng c h ế thi hành đối với các trường hợp sau: Cưỡng chế thi hành đòi tiền từ động sản của con nợ; Cưỡng chế thi hành vào giấy tờ có giá trị của con nợ; Cưỡng chế thi hành đối với hoa màu chưa được thu hoạch; Cưỡng chế thi hành việc trả lại đồ vật, trong đó có việc cưỡng c h í buộc ra khỏi nhà
Trang 31Đối với trường hợp không có tài sản là cộng sản để thi hành án thì Toà
án áp dụng các biện pháp cưỡng chế khác, như: Khấu trừ thu nhập; Trừ vào quyền yêu cầu của con nợ đối với người khác: Trừ vào quyền tài sản của con nợ; Yêu cầu cưỡng chế, phát mại tài sản của con nợ là bất động sản Việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế phải đảm bảo cho người bị cưỡng chế vẫn đủ khả năng tiếp tục cuộc sống ở mức độ vừa phải, có điều kiện làm việc và nuôi sống gia đình
bản có gj í trị thi hành là giấy tờ mà trong đó những quyền pháp lý được
quy đ ịn h rõ ràng theo Luật Thi hành án Đối vời những văn bản này, Cơ quan thi hành án có thể ra quyết đi íih thi hành án và tổ chức thi hành án giản lược trả nợ theo yêu cầu của chủ nợ khi đến hạn thanh toán nợ mà con nợ không thanh toán Nếu bên con nợ phủ nhận nợ thì có thể độ đơn yêu cầu Toà án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự
Các biện pháp cưỡng chế có thể áp dụng là: K ê biên tài sản; Trừ lương hoặc tiền công của con nợ; Đuổi người thuê nhà ra khỏi nhà cho thuê; Phá dỡ các công trình xây dựng; Can thiệp vào việc thực hiện các hơp đồng; Khôi phục lại tình trạng ban đầu của tài sản bị xâm chiếm; Một số biện pháp mang tính chất cảnh báo đối với những hành vi chống đối của con nợ và người có liên quan
Chấp hành viên có quyền áp dụng biện pháp phạt tiền Nếu Chấp hành viên đã phạt tiền mà con nợ vẫn không đến thì Cơ quan thi hành án
có quyền yêu cầu cảnh sát bắt Cơ quan thi hành án cũng có quyền yêu
Trang 32c ầ u cảnh sát tạm giữ con nợ, khi con nợ CC tình trì hoãn không lập danh sách kê khai tài sản của mình theo yêu cầu của Cơ quan thi hành án.
Đối với việc cưỡng chế trả nhà, Chấp hành viên thông báo cho người đang thuê nhà biết việc họ sẽ bị đuổ ra khỏi nhà cho thuê nếu họ
cố tình không trả tiền thuê, sau đó, Cơ qian thi hành án sẽ giao ngôi nhà mà con nợ đang thuê cho chủ nhà
1.4.5 Bang C alifornia (Hoa Kỳ)
Cơ quan thi hành án dân sự được tổ chức theo đơn vị hành chính quận, hạt Cơ quan thi hành án chịu trách nhiệm thi hành các bản án của
Toà án ở Bang m ình và các bản án do Toà án ở các Bang khác uỷ thác.
Cách thức cưỡng chế thi hành mà Chấp hành viên có thể lựa chọn là: Phong toả tài khoản tại ngân hàng; Phong toả các tài sản m à con nợ được nhận; Khấu trừ lương, tài sản do người thứ ba giữ; Kê biên các động sản; Kê biên và bán bất động sản; Thanh lý th iết bị kinh doanh hoặc tài sản khác; Tịch biên, thu giữ các lợi nhuận m à con nợ được hưởng; Thu hồi quyền sở hữu bất động sản hoặc tài sản hữu hình khác
Theo đề ngh của người phải thi hành án, căn cứ vào mức sinh
hoạt chung, Toà án sẽ xem xét, quyết định những tài sản cần thiết để lí 1
cho người phải thi hành án và không kê biên những tài sản đó
Quá trình thi hành án có m ột số ngoại lệ đối với con nợ trong trường hợp nếu: Con nợ bị tuyên bố phá sản sẽ được m iễn trừ, nếu con
nợ là doanh nghiệp; Chỉ được thu hồi tài sản của con nợ tính đến thời điểm phá sản; Trong trường hợp con nợ chỉ có m ột chỗ ở duy nhất, nếu
kê biên bán nhà để thi hành án thì phải để lại cho gia đình người phải thi hành án khoản tiền nhất định; Khoản tiền cấp dưỡng nuôi con, tiền con nợ nhận được từ Toà án được m iễn khấu trừ; Tài sản, lợi ích, lợi nhuận thuộc quyền sở hữu của bên thứ ba; Các công cụ, phương tiện
Trang 33làm việc của người phải thi hành án được giới hạn phải để cho người phải thi hành án và m ột sô'ngoại lệ khác.
1.4.5 Cộng hoà Liên bang Nga
Theo quy định của Bỏ luật tố tụng Cộng hoà Liên bang Nga, thì Toà
án đảm nhiệm việc thi hành án dân sự Chấp hành viên là người thi hành các bản án, quyết định của Toà án Bản án được Chấp hành viên của Toà án nơi
cư trú hoặc nơi làm việc của con nợ hoặc nơi người đó có tài sản thi hành Trong những trường hợp cần thiết, Chấp hành viên có thể tiếp tục hoạt động của mình bên ngoài địa phạn của mình nhưng ở ranh giới một thành phố hoặc vùng Nếu con nợ đến vùng thuộc Toà án khác m à Chấp hành viên biết
rõ địa chỉ, thì Chấp hành viên gửi giấy thi hành án đến Toà án nơi mà con nợ
cư trú và thông báo cho người được thi hành án
1.4.7 Singapore
V iệc tổ chức thi hành án dân sự ở Singapore do Toà án đảm nhiệm Các nhân viên thi hành án thuộc Bộ phân thi hành án của Toà án vừa có nhiêm V I thi hành án, vừa c ó nhiệm vụ tống đạt giấy tờ, ữ ự c hiện các lệnh bắt giữ
K hi có bản án, người được thi hành án đến gặp người phải thi hành án để xem xét khả năng thi hành án của họ và yêu cầu họ phải thi hành N ếu người phải thi hành án không thi hành, người được thi hành
án m uốn được thi hành phải có đơn yêu cầu thi hành án gửi Toà án
Các biện pháp cưỡng chế được thể hiện bằng các lênh của Toà án: Lệnh tịch thu tài sản; Lệnh tịch thu các thu nhập của người phải thi hành án; Lệnh trục xuất người phải thi hành án ra khỏi nhà; Lệnh tháo dỡ nhà
Đối với việc thi hành bản án trả nhà, nhân viên thi hành án ấn định ngày người phải thi hành án phải trả lại nhà cho người được thi hành án và nói rõ nếu không sẽ tiến hành cưỡng chế Trường hợp người
Trang 34phải thi hành án cố tình dây dưa không trả nhà, nhân viên thi hành án yêu cầu cảnh sát đi cùng để đưa người phải thi hành án và đồ đạc của họ
ra ngoài, trả lại nhà cho người được thi hành án
Trong trường hợp người phải thi hành án là cá nhân thực sự không
có tài sản để thi hành thì có thể làm đơn yêu cầu Toà án ra qu y ết định tuyên bố phá sản Nếu được Toà án tuyên bố phá sản, thì hoạt động thi hành án đối với họ chấm dứt
1.4.8 Thái Lan
Tổ chức cơ quan thi hành án ở Thái Lan bao gồm: Ban thư ký, ban tài chính, ban thi hành án dân sự, ban thực hiện dịch vụ theo chỉ định các vụ phá sản; trung tâm nhận giữ tài sản, ban k ế toán thi hành án và nhân giữ tài sản của các khu vực và tỉnh, thành Tổ chức các cơ quan thihành án Thái Lan chưa được thống nhất, chặt chẽ trong toàn quốc Ở
m ột số tỉnh, công tác thi hành án vẫn do L ục sự của Toà án đảm nhiệm Chức nãng của Cơ quan thi hành án chủ yếu là thi hành các bản án, quyết định của Toà án về dân sự và phá sản Chấp hành viên được giao trách nhiệm thi hành đúng nội dung bản án của Toà án và được quyền
áp dụng các biện pháp cưỡng chế để thi hành án
K hi nhận được đơn đề nghị ra lộnh thi hành án của người được thi hành án, Toà án ra m ột lệnh gọi là: " Lệnh thi hành án" và gửi Lệnh này cho Chấp hành viên do Toà án chỉ định để tổ chức thi hành Trong Lệnh này, Toà án phải nói rõ những việc phải làm để Chấp hành viên căn cứ vào đó thi hành
1.4.9 Trung Quốc
Toà án đảm nhiệm việc thi hành án dâm sự Bản án, quyết định dân sự
và phần tài sản trong bản án, quyết định hình sự đã có hiệu lực pháp luật do Toà án nhân dân sơ thẩm thi hành Những bán án, quyết định mà luật pháp
Trang 35quy định là do Toà án nhân dân thi hành sẽ do Toà án nhân dân nơi người phải thi hành án cư trú hoặc nơi có tài sản của người phải thi hành án thi hành Công tác thi hành án do Thi hành viên tiến hành Căn cứ vào yêu cầu thực tế, Toà án nhân dân cơ sở, Toà án nhân dân trung cấp có thể lập Cơ quan thi hành án Chức trách của Cơ quan thi hành án sẽ do Toà án nhân dân tối cao quy định trong quá trình thi hành án, Thi hành viên thông báo cho người phải thi hành và ra lệnh cho người đó phải thi hành trong thời gian chỉ
đ ị nh, quá hạn không thi hành thì cưỡng chế thi hành
1.4.10 Philippines
Nếu bản án của Toà án là chung thẩm hoặc thời hạn kháng cáo đã hết thì có thể coi bản án đã sang giai đoạn thi hành án Lúc đó, Toà án không có quyền từ chối ra quyết định thi hành trừ m ột số trường hợp như: X uất hiện các trường hợp hoặc tình huống làm cho việc thi hành án trở nên không hợp lý hoặc không thể thực hiên được; nếu có sự thay đổi
từ phía đương sự làm cho viêc thi hành trở nên không công bằng
Q uyết định thi hành án chỉ có hiộu lực khi nội dung của nó hoàn toàn tuân thủ bản án, không làm thay đổi n ộ i dung của bản án Thời hạn
ra quyết định thi hành án là 60 ngày
Toà án có trách nhiệm thi hành án th eo đúng thủ tục do pháp luật quy định, có quyền áp dụng biộn pháp cưỡng ch ế cần tl lết để bảo d 'ÍĨ1
việc thi hành án dân sự đạt kết quả
Trang 36Chương 2 THỦ TỤC THI HÀNH ÁN DÂN s ự THEO PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH
VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
Như đã nêu ở Chương I, Pháp lệnh 1993 đã được thay thế bằng Pháp lệnh 2004, nhưng do Pháp lệnh 2004 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2004, do đó, hiện nay Pháp lệnh 1993 và các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành Pháp lệnh này vẫn đã và đang có hiệu lực thi hành Vì vậy, trong Chương này, chúng tôi làm rõ các quy định về thủ tục thi hành án dân
sự theo Pháp lệnh 1993 và các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành Pháp lênh này, đổng thời nêu rõ những sửa đổi, bổ sung về thủ tục thi hành án dân
sự theo Pháp lệnh 2004, những hạn chế, bất cập và thực tiễn áp dụng thủ tục thi hành án dân sự
2.1 THỦ TỤC Tỉữ HÀNH ÁN DÂN s ự THEO PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH
Ngoài các quy định về thủ tục thi hành án dân sự tại Pháp lệnh 1993, Chính phủ và các cơ quan chức năng khác đã ban hành nhiều văn bản pháp luật, có quy định về vấn đề này, như:
- Nghị định số 69/ƠP ngày 18/10/1993 của Chính phủ "Quy đ ih về thủ tục thi hành án dân sự";
- Thông tư liên ngành số 981/ITLN ngày 21/9/1993 của Bộ Tư Pháp, Toà án nhân dân tối cao, Viên kiểm sát nhân dân tối cao "Hướng dẫn thực hiện một số quy định của Pháp lệnh thi hành án dân sự";
- Thông tư liên ngành số 02/TTLN ngày 17/9/1993 của Bộ Tư pháp,
Bộ Nội vụ và Viện Kiểm sát nhân dân tối cao "Hướng dẫn về việc bảo vệ cưỡng chế thi hành án dân sự";
- Nghị quyết số 287-NQ/UBNTVQH9 ngày 29/5/1995 của Ưỷ ban Thường vụ Quốc hội "Về việc giải quyết một số vấn đề tồn tại trong việc giải quyết các tranh chấp hợp đồng kinh tế của Trọng tài kinh tế các cấp"
Trang 37- Thông tư số 67ATT-THA ngày 05/7/1996 của Bộ Tư pháp "Hướngdẫn một số vấn đề về tổ chức hoạt động thi hành án dân sự";
- Nghị định số 86-CP ngày 19/12/1996 của Chính phủ ban hành "Quychế bán đấu giá tài sản";
- Thông tư số 399/PLDSKT ngày 07/4/1997 của Bộ Tư pháp "Hướng dẫn một số quy định về bán đấu giá tài sản";
- Thông tư liên tịch số 01/TTLN ngày 19/6/1997 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân nhân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính "Hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản trong các vụ án hình sự và dân sự";
- Thông tư liên tịch số 119/ĨTLT ngày 04/6/1997 của Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính "Hướng dẫn kê biên tài sản của doanh nghiệp để đảm bảo thi hành án";
- Thông tư liên tịch số số 06/1998/ITLT ngày 24/10/1998 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tài chính và
Bộ Tư pháp "Hướng dẫn một số vấn đề về bảo quản và xử lý tài sản là Vật chứng, tài sản bị kê biên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự";
- Quyết đ nh số 1766/1998/QĐ-BTC ngày 07/12/1998 c ủa Bộ trưởng
Bộ Tài chính ban hành "Quy chế quản lý và xử lý tài sản kh có quyết định
tịch thu sung quỹ Nhà nước và iì i sản được xác lạp quyền sở hữu Nhà nước";
- Thông tư liên tịch số 12/2001/TTLT-BTP-VKSTC ngày 26/2/2001 của Bộ Tư pháp, Viộn kiểm sát nhân dân tối cao "Hướng dẫn thực hiộn một
số quy định của pháp luật về thi hành án dân sự";
- Thông tư số 05/2002AT-BTP ngày 27/2/2002 của Bộ Tư pháp
"Hướng dẫn chuyển giao một số vụ việc trong thi hành án cho Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn trực tiếp đôn đốc thi hành";
- Nghị định số 18/2002/NĐ-CP ngày 18/2/2002 của Chính phủ ban hành "Quy chế quản lý kho vật chứng"
Trang 38Căn cứ vào các văn bản pháp luật hiện hành, ngoại trừ thủ tục thi hành quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp có những đặc thù riêng, thì thủ tục thi hành án dân sự có những nội dung cơ bản được thực hiên theo trình tự sau đây:
2.1.1 Cấp và nhận bản sao bản án, quyết định của Toà án, nhận đơn yêu cầu thi hành án, nhận quyết định uỷ thác thi hành án
Đây là thủ tục đầu tiên trong quá trình tổ chức một việc thi hành án dân sự Khi bản án, quyết định của Toà án được thi hành thì Toà án đã tuyên bản án, quyết định đó phải cấp cho người được thi hành án và người phải thi hành án bản sao bản án hoặc quyết định có ghi “để thi hành” Toà án cũng có trách nhiệm chuyển giao bản sao bản án, quyết định đã có hiệu lực thi hành cho Cơ quan thi hành án dân sự để chủ động ra quyết định thi hành án đối với các khoản chủ động thi hành án quy định tại Điều 20 Pháp lệnh 1993
Đối với những bản án, quyết định không thuộc diện chủ động thi hành
án, người được thi hành án có quyền làm đơn gửi kèm theo bản sao bản án, quyết định của Toà án đến Cơ quan thi hành án để yêu cầu thi hành án
Cơ quan thi hành án có trách nhiệm nhận bản sao bản án, quyết định
do Toà án chuyển giao và nhận đơn yêu cầu thi hành án do người được thi hành án gửi đến theo quy định của pháp luật
Khi nhận bản sao bản án, quyết định đo Toà án chuyển giao, Cơ quan thi hành án phải vào sổ nb ìn bản sao bản án, quyết định của Toà án Trong trường hợp nhận đơn yêu cầu thi hành án, thì Cơ quan thi hành án phải vào
Sổ nhận đơn yêu cầu thi hành án
2.1.2 Ra quyết định thi hành án
Pháp lệnh 1993 quy định Thủ trưởng Cơ quan thi hành án là người có thẩm quyền ra quyết định thi hành án và có hai cơ chế thi hành án dân sự là Chủ động thi hành án và Thi hành án theo đơn yêu cầu, do đó, thủ tục ra
Trang 39quyết định thi hành án dân sự đối với các việc thi hành án theo diện chủ động
và các việc thi hành án theo đơn yêu cầu cũng khác nhau
- V ề các khoản chủ động ra quyết định thi hành án và các khoản ra
quyết định theo đơn yêu cầu, Cơ quan thi hành án chủ động ra quyết định thi
hành án đối với 7 loại bản án, quyết định của Toà án (5 loại quy định tại
Điều 20 Pháp lệnh 1993 là bản án, quyết định về trả lại tài sản hoặc bồi
thường thiệt hại tài sản xã hội chủ nghĩa, phạt tiền, tịch thu tài sản và án phí;
các quyết định khẩn cấp tạm thời của Toà án và 2 loại theo hướng dẫn của
Cục Thi hành án dân sự, Bộ Tư pháp là bản án, quyết định về trả lại tài sản
cho cá nhân hoặc trả lại tài sản cho cơ quan, tổ chức mà tài sản cơ quan, tổ
chức được trả lại không phải là tài sản xã hội chủ nghĩa, quyết định về tiêu
huỷ tang vật)
Đối với các trường hợp khác, Cơ quan thi hành án chỉ ra quyết định thi
hành án khi đã có đơn yêu cầu thi hành án hợp lệ của người có quyền yêu
cầu thi hành án
- V ề thời hạn ra quyết định thi hành án, đối với loại việc chủ động ra
quyết định, thì trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án,
quyết định do Toà án chuyển giao, Cơ quan thi hành án phải ra quyết C nh thi
hành án Đối với loại viộc thi hành án theo đơn yêu cầu, trong thời hạn 10
ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu thi hành án, Cơ quan thi hành án
phải ra quyết định thi hành án
- V ề phạm vi ra quyết định thi hành án, đối với loại việc chủ động thi
hành án, Cơ quan thi hành một quyết định thi hành án chung cho tất cả các
khoản chủ động của một bản án, quyết định của Toà án Đối với việc thi
hành án theo đơn yêu cầu, Cơ quan thi hành án có thể ra một hoặc nhiều
quyết định đối với các khoản được thi hành theo đơn yêu cầu trong một bản
án, quyết định của Toà án
Trang 40- Vê' mẫu quyết định thi hành án, có hai loại mẫu quyết định thi hành án
Mẫu 1 được sử dụng để ra quyết định thi hành án đối với trường hợp chủ động thi hành án, mẫu la được sử dụng để ra quyết định thi hành án đối với trường hợp thi hành án theo đơn yêu cầu
Trong trường hợp Cơ quan thi hành án nhận uỷ thác thi hành án, thì tuỳ trường hợp mà ra quyết định thi hành án theo mẫu quyết định thi hành án phù hợp với loại việc thi hành án chủ động hoặc theo đơn yêu cầu
2.1.3 Lập hồ sơ thi hành án và thụ lý việc thi hành án dân sự
Sau khi ra quyết định thi hành án, Thủ trưởng Cơ quan thi hành án phân công Chấp hành viên thi hành quyết định thi hành án đó Trong thời hạn 2 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án, Chấp hành viên phải lập hồ sơ thi hành án và vào sổ thụ lý thi hành án Hồ sơ thi hành án và
Sổ thụ lý thi hành án được ban hành theo mẫu thống nhất Thời hạn thụ lý việc thi hành án được tính từ ngày vào sổ thụ lý thi hành án
2.1.4 Tổ chức việc thi hành án dân sự
Đây là giai đoạn quan trọng nhất trong quá trình thi hành một việc thi hành án dân sự Trong giai đoạn này, Chấp hành viên phải thực hiện nhiều thủ tục thi hành án
- Định thời hạn tự nguyên thỉ hành án
Chấp hành viên có trách nhiệm ấn định thời hạn không quá 30 ngày cho người phải thi hành án để tự nguyện thi hành án Việc ấn định thời hạn tự nguyện thi hành án được gửi cho người phải thi hành án thông qua Giấy báo
tự nguyện thi hành án
- Xác minh điều kiện thi hành án
Khi xác minh điều kiện thi hành án, Cơ quan thi hành án phải lập Biên bản xác minh Việc xác minh tài sản phải có sự tham gia của đại diện chính