Thực trạng này đã đặt ra yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện về thể chế thi hành án; đổi mới quy trình, thủ tục THADS; nâng cao vị thế, vai trò, trách nhiệm của hệ thống tổ chức THADS trong
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TẠ QUANG MINH
THỦ TỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ THEO LUẬT THI HÀNH ÁN 2008
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TẠ QUANG MINH
THỦ TỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ THEO LUẬT THI HÀNH ÁN 2008
Chuyên ngành : Luật dân sự
Mã số : 60 38 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Công Bình
HÀ NỘI - 2012
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Tạ Quang Minh
Trang 4về thủ tục thi hành án dân
24
Chương 2: NỘI DUNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA LUẬT THI HÀNH
ÁN DÂN SỰ NĂM 2008 VỀ THỦ TỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Trang 52.1.2 Thủ tục giải thích bản án, quyết định 35 2.2 Thủ tục yêu cầu và nhận đơn yêu cầu thi hành án dân sự 36
2.2.2 Thủ tục nhận đơn yêu cầu thi hành án dân sự 40 2.3 Thủ tục ra quyết định thi hành án và quyết định ủy thác thi
hành án dân sự
41
2.3.1 Thủ tục ra quyết định thi hành án dân sự 41 2.3.2 Thủ tục ra quyết định ủy thác thi hành án dân sự 43 2.4 Thủ tục tổ chức và thực hiện thi hành án dân sự 46 2.4.1 Thủ tục thông báo về việc thi hành án dân sự 46 2.4.2 Thủ tục xác minh điều kiện thi hành án dân sự 50 2.4.3 Thủ tục ấn định thời gian tự nguyện thi hành án dan sự 53 2.4.4 Thủ tục giao, nhận, xử lý vật chứng, tài sản 54
Chương 3: THỰC TIỄN THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA
LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ NĂM 2008 VỀ THỦ TỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VÀ KIẾN NGHỊ
64
3.1 Thực tiễn thực hiện các quy định của Luật thi hành án dân
sự về thủ tục thi hành án dân
64
3.1.1 Những kết quả đạt được trong việc thực hiện các quy định
của Luật thi hành án dân sự về thủ tục thi hành án dân sự
64
Trang 63.1.2 Những hạn chế, vướng mắc trong việc thực hiện các quy
định của Luật thi hành án dân sự năm 2008 về thủ tục thi
hành án dân sự
66
3.1.2.1 Về thủ tục yêu cầu thi hành án dân sự 66 3.1.2.2 Về thủ tục thông báo thi hành án dân sự 69 3.1.2.3 Về thủ tục xác minh thi hành án dân sự 74 3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và thực hiện Luật thi
hành án dân sự năm 2008 về thủ tục thi hành án dân sự
82
3.2.1 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện Luật thi hành án dân sự
năm 2008 về thủ tục thi hành án dân sự
82
3.2.1.1 Sửa đổi, bổ sung kết cấu Chương 3 Luật thi hành án dân sự
quy định về thủ tục thi hành án dân sự
3.2.2 Một số kiến nghị nhằm thực hiện các quy định của Luật thi
hành án dân sự năm 2008 về thủ tục thi hành án dân sự
87
3.2.2.1 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật thi
hành án dân sự
87
3.2.2.2 Nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực tổ chức
thi hành án dân sự của Chấp hành viên và cán bộ thi hành
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLDS : Bộ luật Dân sự BLTTDS : Bộ luật Tố tụng dân sự TAND : Tòa án nhân dân TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao THADS : Thi hành án dân sự UBND : Ủy ban nhân dân VKSND : Viện kiểm sát nhân dân VKSNDTC : Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của công công cuộc đổi mới mà Đảng ta đã đề ra là từng bước xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Đó là một Nhà nước, trong đó vai trò pháp chế được
đề cao, pháp luật được tôn trọng và bảo đảm thực hiện Ở đây, yêu cầu bức xúc hàng đầu là phải tạo ra và duy trì ý thức coi trọng pháp luật trong quản lý
xã hội, quản lý nhà nước Đặc biệt yêu cầu pháp chế phải được coi là một nội dung hết sức quan trọng của nhà nước pháp quyền Pháp chế đòi hỏi phải chấp hành nghiêm chỉnh các phán quyết nhân danh Nhà nước của Tòa án nhân dân (TAND) Điều 36 Hiến pháp 1992 đã khẳng định: "Các bản án quyết định của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang và mọi công dân tôn trọng; những người và đơn vị hữu quan phải chấp hành nghiêm chỉnh" [24, tr 10] Phán quyết của Tòa án nhân danh Nhà nước sẽ chỉ là những quyết định trên giấy nếu không được tổ chức thi hành hoặc thi hành không đầy đủ trên thực
tế Hoạt động thi hành án kém hiệu quả sẽ gây dư luận xấu, ảnh hưởng trực tiếp đến lòng tin của nhân dân đối với tính nghiêm minh của pháp luật
Xác định đúng vai trò và ý nghĩa của hoạt động thi hành án, trước tình hình hoạt động thi hành án kém hiệu quả, kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa IX
đã quyết định bàn giao công tác thi hành án dân sự (THADS) từ TAND các cấp sang các cơ quan của Chính phủ từ tháng 6 năm 1993 Thực tiễn đã chứng minh sự đúng đắn, kịp thời của chủ trương đó, bước đầu tạo sự chuyển biến đáng khích lệ, làm thay đổi cục diện thi hành án sau nhiều năm trì trệ, góp phần quan trọng vào việc thiết lập kỷ cương, nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân Song bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn hoạt động thi hành án cũng đặt ra những vấn đề mới có tính cấp bách cần được tiếp tục nghiên cứu giải quyết
Trang 9Các văn bản pháp luật về thi hành án, đặc biệt là Pháp lệnh THADS năm 2004 là văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất trong lĩnh vực THADS, được ban hành trong bối cảnh nước ta đang trong thời kỳ đổi mới, hoà nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới một cách toàn diện Về cơ bản, pháp lệnh vẫn giữ nguyên các quy định về trình tự, thủ tục THADS của Pháp lệnh THADS năm 1993, trong đó có sửa đổi, bổ sung một số nội dung quan trọng về trình tự, thủ tục thi hành án Những kết quả đạt được sau hơn bốn năm thực hiện Pháp lệnh THADS năm 2004 là cơ bản Tuy nhiên, so với đòi hỏi của thực tiễn và yêu cầu nhiệm vụ đặt ra trong tình hình mới thì Pháp lệnh THADS năm 2004 đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập, làm giảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tính nghiêm minh của pháp luật; quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và Nhà nước theo bản án, quyết định của Toà án chưa được bảo đảm, nhiều việc gây bức xúc trong xã hội Thực trạng này đã đặt ra yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện về thể chế thi hành án; đổi mới quy trình, thủ tục THADS; nâng cao vị thế, vai trò, trách nhiệm của hệ thống tổ chức THADS trong bộ máy nhà nước để đáp ứng đòi hỏi của công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, trong đó các quyền tự
do dân chủ và lợi ích chính đáng của con người phải được pháp luật bảo đảm
và bảo vệ toàn vẹn; mọi vi phạm pháp luật xâm phạm quyền tự do, lợi ích chính đáng của công dân đều bị nghiêm trị và bảo đảm thực thi các lợi ích đó trên thực tế thông qua hoạt động thi hành án là giai đoạn cuối cùng của quá trình tố tụng
Nhận thức được tầm quan trọng đặc biệt của công tác THADS đối với công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách
tư pháp đến năm 2020 đã quy định: "Xây dựng cơ chế bảo đảm mọi bản án của Toà án có hiệu lực pháp luật phải được thi hành, các cơ quan hành chính vi phạm bị xử lý theo phán quyết của Toà án phải nghiêm chỉnh chấp hành" [12] Ngoài ra, công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ
Trang 10nghĩa hiện nay đòi hỏi hệ thống pháp luật phải ngày càng được hoàn thiện, có tính pháp điển cao, trong đó thi hành án là một vấn đề hết sức hệ trọng, liên quan trực tiếp đến hiệu lực và hiệu quả của công tác quản lý nhà nước, đến trật tự kỷ cương pháp luật và ảnh hưởng sâu sắc đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, do đó, việc phải có một văn bản có hiệu lực pháp lý cao của Quốc hội về THADS là hết sức cần thiết Xuất phát từ các yêu cầu đó tại
kỳ họp thứ 4, ngày 14 tháng 11 năm 2008 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam Khoá XII đã thông qua Luật THADS Có thể nói, trong
trong lĩnh vực THADS, Luật THADS là văn bản chuyên ngành đầu tiên về THADS có hiệu lực pháp lý cao nhất Luật THADS được ban hành đã giải quyết được nhiều vấn đề bất cập của các văn bản pháp luật trước đó, tạo cơ sở nâng cao hiệu quả THADS Tuy vậy, sau một số năm thực hiện Luật này cũng cho thấy vẫn còn những hạn chế, vướng mắc chưa được giải quyết triệt để làm ảnh hưởng đến kết quả THADS Để tìm ra các biện pháp khắc phục các hạn chế, vướng mắc góp phần giải quyết tình trạng án tồn đọng thì việc tiếp tục nghiên cứu các quy định của Luật THADS là cần thiết Vì vậy, học viên đã
chọn đề tài "Thủ tục thi hành án dân sự theo Luật thi hành án 2008" nghiên
cứu làm luận văn thạc sỹ luật học
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thời gian qua, việc nghiên cứu về THADS nhìn chung là bước đầu đã được đẩy mạnh Trong quá trình thực hiện công cuộc cải cách tư pháp, cũng như xây dựng Luật THADS và sau khi Luật THADS được ban hành các vấn đề về thủ tục THADS đã được đặt ra và triển khai nghiên cứu ở mức độ
nhất định như đề tài luận án tiến sĩ luật học "Hoàn thiện pháp luật thi hành án
dân sự ở Việt Nam hiện nay" của Nguyễn Thanh Thuỷ bảo vệ tại Học viện
Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh năm 2008; đề tài nghiên cứu
khoa học cấp trường "Những điểm mới của Luật Thi hành án dân sự 2008" do
Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2010 v.v… Ngoài ra, còn có các bài nghiên
Trang 11cứu, trao đổi về thi hành án công bố trên các báo, tạp chí chuyên ngành luật
như bài "Những khó khăn trong xác minh thi hành án" của Đinh Duy Bằng
đăng trên Tạp chí dân chủ và pháp luật, số chuyên đề về THADS, 3/2011; bài
"Bàn về tính dân chủ trong pháp luật về thi hành án dân sự " của Bùi Thái Bình, đăng trên Tạp chí dân chủ và pháp luật, số 03/2012; bài "Thông báo thi
hành án dân sự những vấn đề từ thực tiễn" của Duy Đinh, đăng trên Tạp chí
dân chủ và pháp luật, số chuyên đề về THADS 5/2010; bài "Những vướng mắc
trong trường hợp người phải thi hành án làm đơn đề nghị thi hành án" của
Nguyễn Thành Nam, đăng trên Tạp chí dân chủ và pháp luật, số 04/2008; bài
"Những vướng mắc từ thực tiễn thi hành luật thi hành án dân sự" của Nguyễn Thị Khanh, đăng trên Tạp chí dân chủ và pháp luật, số 05/2010; bài "Bàn về
xác minh thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự" của
Phan Tấn Pháp, đăng trên Tạp chí dân chủ và pháp luật, số 07/2010 v.v Những công trình nghiên cứu này bước đầu đã nghiên cứu về một số vấn đề
về thủ tục THADS Tuy nhiên, do mục đích nghiên cứu các công trình nghiên cứu nêu trên mới dừng lại ở một số khía cạnh riêng lẻ của các vấn đề thủ tục THADS mà chưa tập trung nghiên cứu tổng thể, toàn diện các vấn đề về thủ tục THADS theo Luật THADS
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu là làm rõ những vấn đề lý luận về thủ tục THADS, đánh giá thực trạng pháp luật thi hành án hiện hành và thực tiễn THADS Qua việc nghiên cứu tìm ra các giải pháp trước mắt và lâu dài nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về THADS, góp phần giải quyết tình trạng tồn đọng án, nâng cao hiệu quả hoạt động THADS
Để thực hiện được mục đích trên, việc nghiên cứu đề tài có các nhiệm
vụ cụ thể sau đây:
- Nghiên cứu các vấn đề lý luận về thủ tục THADS, như khái niệm THADS, khái niệm thủ tục, vai trò của thủ tục THADS; quá trình hình thành
Trang 12và phát triển các quy định của pháp luật Việt Nam từ năm 1945 đến nay về thủ tục THADS;
- Nghiên cứu các quy định của Luật THADS về thủ tục THADS, từ đó phát hiện những khiếm khuyết, bất cập trong các quy định của Luật THADS
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu đề tài là những vấn đề lý luận về THADS, các quy định của Luật THADS về thủ tục THADS và thực tiễn tổ chức thi hành
án của các cơ quan THADS Ngoài ra, việc nghiên cứu cũng được tiến hành đối với một số các quy định của các văn bản pháp luật khác có quy định về thủ tục THADS để so sánh, đối chiếu và tham khảo
THADS không phải chỉ là hoạt động có tính chất chuyên môn, nghiệp
vụ đơn thuần, mà còn mang ý nghĩa chính trị - xã hội sâu sắc Việc nghiên cứu toàn diện những vấn đề lý luận pháp luật THADS và thực tiễn THADS và các vấn đề khác có liên quan là một vấn đề rộng lớn, phức tạp không chỉ riêng đối với khoa học pháp lý, mà còn là nhiệm vụ của các lĩnh vực khoa học khác như
xã hội học, lịch sử, quản lý nhà nước… Tuy vậy, phạm vi nghiên cứu của đề tài này chỉ tập trung làm rõ những vấn đề về thủ tục THADS, các quy định pháp luật hiện hành về THADS và thực tiễn thực hiện chúng trong những năm gần đây
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và
Trang 13pháp luật, quá trình nghiên cứu đã sử dụng và kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học như phương pháp so sánh, thống kê, phương pháp phân tích, tổng hợp…
6 Những điểm mới của luận văn
Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên một cách có hệ thống về thủ tục THADS theo Luật THADS, luận văn có những điểm mới cơ bản sau đây:
- Làm rõ được một các vấn đề lý luận về thủ tục THADS, như khái niệm THADS, khái niệm thủ tục, vai trò của thủ tục THADS; quá trình hình thành và phát triển các quy định của pháp luật Việt Nam từ năm 1945 đến nay
về thủ tục THADS;
- Phân tích làm rõ được nội dung các quy định của Luật THADS về thủ tục THADS, nhận diện được những khiếm khuyết, bất cập trong các quy định của Luật THADS về thủ tục THADS;
- Làm rõ thực tiễn thực hiện các quy định của Luật THADS về thủ tục THADS và phát hiện được một số hạn chế trong việc thực hiện các quy định của Luật THADS về thủ tục THADS;
- Đã tìm được một số các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của Luật THADS về thủ tục THADS và nâng cao hiệu quả thực hiện chúng trên thực tế
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thủ tục thi hành án dân sự
Chương 2: Nội dung các quy định của Luật Thi hành án dân sự năm
2008 về thủ tục thi hành án dân sự
Chương 3: Thực tiễn thi hành các quy định của Luật Thi hành án dân
sự năm 2008 về thủ tục thi hành án dân sự và kiến nghị
Trang 14Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA THỦ TỤC THI HÀNH
ÁN DÂN SỰ
1.1.1 Khái niệm thủ tục thi hành án dân sự
Theo Đại từ điển tiếng Việt, thi hành là: "Thực hiện điều đă chính thức quyết định" [46, tr 1559] Như vậy, thi hành án có thể được hiểu là thực hiện bản án, quyết định của Tòa án trên thực tế Bản án, quyết định của Tòa
án được hiểu là văn bản pháp lý của Tòa án nhân danh Nhà nước tuyên tại phiên tòa, giải quyết về các vấn đề trong vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính THADS là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước nhằm thực hiện bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án trong thực tiễn Với ý nghĩa là giai đoạn cuối cùng của quá trình giải quyết một vụ án, nên chỉ khi nào việc thi hành án được giải quyết xong thì quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, công dân mới được đảm bảo, phán quyết của Tòa án mới có hiệu lực thực thi trong thực tiễn đời sống Nếu như bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà không được thi hành hoặc thi hành không nghiêm chỉnh thì trật tự kỷ cương xã hội bị vi phạm, quyền lực nhà nước bị xem thường Một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của công công cuộc đổi mới mà Đảng ta đã đề ra là từng bước xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Đó là một Nhà nước, trong đó vai trò pháp chế được đề cao, pháp luật được tôn trọng và bảo đảm thực hiện Ở đây, yêu cầu bức xúc hàng đầu là phải tạo ra và duy trì ý thức coi trọng pháp luật trong quản lý xã hội, quản lý nhà nước Đặc biệt yêu cầu pháp chế phải được coi là một nội dung hết sức quan trọng của nhà nước pháp quyền Pháp chế đòi hỏi phải chấp hành nghiêm chỉnh các phán quyết nhân danh Nhà nước của TAND Chính vì vậy Điều 36 Hiến pháp 1992 đã khẳng định: "Các bản án quyết định
Trang 15của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang và mọi công dân tôn trọng; những người và đơn vị hữu quan phải chấp hành nghiêm chỉnh" [24]
Thi hành án và các giai đoạn tố tụng trước đó có mối quan hệ nhân quả với nhau Trong lĩnh vực thi hành án hình sự, nếu ở giai đoạn điều tra, các
cơ quan tiến hành tố tụng không kiên quyết áp dụng đầy đủ, kịp thời các biện pháp ngăn chặn như thu giữ, kê biên, phong tỏa tài sản thì đến giai đoạn thi hành án, cơ quan thi hành án sẽ gặp rất nhiều khó khăn do đương sự cất giấu, tẩu tán tài sản dẫn đến tình trạng án tồn đọng không thể thi hành được Hoặc nếu một bản án, quyết định được Tòa án tuyên một cách công bằng, thấu tình, đạt lý, rõ ràng, cụ thể, được dư luận ủng hộ, đồng tình thì việc thi hành án sẽ
dễ dàng, nhanh chóng hơn nhiều Ngược lại, nếu bản án, quyết định của Tòa
án được tuyên không khách quan, toàn diện và công bằng, thiếu tính khả thi
sẽ gây cản trở cho việc thi hành án, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với các cơ quan nhà nước Đồng thời, "việc thi hành án nhanh chóng, kịp thời sẽ
có tác động tích cực trở lại đối với hoạt động xét xử, củng cố, tăng cường uy tín của cơ quan xét xử" [37, tr 9]
Theo quy định của Hiến pháp năm 1992 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) năm 2002 thì VKSND không thực hiện chức năng kiểm sát chung như trước đây, có nghĩa là không thực hiện chức năng kiểm sát đối với hoạt động hành chính mà chỉ kiểm sát đối với hoạt động tư pháp Tuy nhiên, trong Luật tổ chức VKSND hiện hành vẫn có một chương với nhiều điều quy định về kiểm sát thi hành án Trong thực tiễn, VKSND các cấp
đã ban hành nhiều kháng nghị đối với các quyết định về thi hành án Tuy nhiên, tính chất của kháng nghị trong giai đoạn thi hành án có nhiều điểm không giống với kháng nghị trong giai đoạn xét xử Điều này cho thấy rõ mối quan hệ mật thiết, đan xen giữa các cơ quan tiến hành tố tụng với cơ quan thi hành án, giữa pháp luật tố tụng tư pháp với pháp luật về thi hành án, giữa quan hệ pháp luật tố tụng với quan hệ pháp luật về thi hành án
Trang 16"Quá trình thi hành án nhằm khôi phục lại tình trạng ban đầu về quyền
và nghĩa vụ của các chủ thể, do đó, các trình tự, thủ tục thi hành án cũng được quy định chặt chẽ bởi pháp luật giống như những thủ tục tố tụng trước đó vì đều liên quan đến quyền con người, quyền công dân" [37, tr 10] Hơn nữa, yêu cầu đặt ra đối với những người tiến hành các công việc về THADS như Chấp hành viên cũng không thấp hơn những người tiến hành tố tụng trước đó
là phải độc lập và tuân theo pháp luật để bảo đảm duy trì sự thật trong bản án, quyết định của Tòa án và tiến tới đạt được sự thật trên thực tế Nếu họ không độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong THADS thì giá trị sự thật mà bản án, quyết định của Tòa án đã xác định sẽ không còn nguyên nghĩa của nó, trừ trường hợp các đương sự có sự thỏa thuận tự nguyện khác trong quá trình thi hành án
Bản chất của thi hành án là dạng hoạt động chấp hành nhưng là chấp hành phán quyết của cơ quan xét xử với các cách thức và biện pháp khác nhau nhằm buộc người có nghĩa vụ được xác định trong bản án, quyết định của Tòa
án phải thực hiện đúng các nghĩa vụ của mình Mục đích cuối cùng của thi hành án là bảo đảm cho các quyết định của Tòa án được ghi trong bản án, quyết định được thực thi trên thực tế chứ không phải là ra văn bản áp dụng pháp luật hoặc quyết định có tính điều hành - nét đặc trưng của hoạt động hành chính Mặt khác, tính chất chấp hành không chỉ là yêu cầu trong hoạt động thi hành án mà còn là yêu cầu bắt buộc trong các giai đoạn tố tụng trước
đó với ý nghĩa cao nhất là chấp hành các quy định của pháp luật, bản thân pháp luật được Nhà nước ban hành có tính bắt buộc chung mà mọi người phải tôn trọng thực hiện
Hiện nay, trong sách báo pháp lí cũng như trên thực tiễn, cụm từ ghép
"thi hành án" thường được dùng chung với các từ khác trong các nhóm từ như công tác thi hành án, hoạt động thi hành án, lĩnh vực thi hành án, giai đoạn thi hành án Xét về mặt cấu trúc ngữ pháp, trong các nhóm từ trên, các từ công tác, hoạt động, lĩnh vực, giai đoạn là danh từ có nghĩa chung nhất của nội hàm
Trang 17xác định; còn "thi hành án" lại đóng vai trò với nghĩa là định ngữ, vì vậy nếu hiểu các nhóm từ đó như khái niệm "thi hành án" thì chưa đúng Bởi vì, thứ nhất, các từ công tác, hoạt động, lĩnh vực, giai đoạn có nghĩa không giống nhau nên khi ghép với "thi hành án" chúng cũng hàm chứa những nội dung khác nhau; thứ hai, nếu sử dụng các nhóm từ đó cùng với các từ như bản chất, đặc điểm, chức năng, hình thức, mô hình thì sự sai lệch lại tăng thêm Chẳng hạn, "khi nói bản chất của công tác thi hành án; đặc điểm của hoạt động thi hành án; hình thức hoạt động thi hành án (lẽ ra phải là bản chất, đặc điểm, hình thức của thi hành án) thì những từ công tác, hoạt động không còn ý nghĩa ban đầu; ở đây chỉ thấy nổi rõ nghĩa của thi hành án" [37, tr 11].Khái niệm thường được biểu đạt bằng danh từ hay cụm từ, trong đó danh từ hay cụm từ là từ loại còn tính từ chỉ kết hợp để hình thành khái niệm nhánh trong từ loại đó Ví dụ, khái niệm quản lí được hiểu là sự tác động liên tục, có
tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lí lên đối tượng quản lí Từ khái niệm đó, ta có thể phân biệt "quản lí kinh tế với quản lí văn hoá, xã hội và trong các trường hợp này, quản lí luôn đóng vai trò danh từ" [37, tr 12]
Với sự phân tích trên và để bảo đảm tính logic của các khái niệm khoa học có liên quan đến thi hành án, "thi hành án" cần sử dụng như khái niệm độc lập Theo đó, có những khái niệm chỉ loại hình thi hành án như thi hành
án hình sự, THADS, thi hành án kinh tế, thi hành án lao động, thi hành án hành chính Cũng từ cách hiểu này, có thể nhìn nhận các vấn đề cơ bản của thi hành án như bản chất, đặc trưng, chức năng, hình thức, nguyên tắc, phương pháp, mô hình tổ chức của thi hành án ở những cấp độ chung và cụ thể theo từng loại hình và những cụm từ như công tác thi hành án, lĩnh vực thi hành
án, hoạt động thi hành án sẽ được sử dụng theo đúng nghĩa của chúng
Hiện nay khái niệm THADS vẫn được hiểu theo nhiều cách khác nhau
mà chưa có sự thống nhất chung Cụ thể là:
- Quan điểm thứ nhất cho rằng THADS là một hoạt động tư pháp - hoạt động tố tụng dân sự Theo quan điểm này thì có xét xử sẽ phải có thi
Trang 18hành án, thi hành án củng cố kết quả của công tác xét xử, bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định dân sự của Toà án nên thi hành án là giai đoạn không thể thiếu trong quá trình tố tụng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự Thi hành án là một giai đoạn tố tụng:
Bởi nếu tách ra thì sẽ không thực hiện được mục tiêu chung của toàn bộ quá trình tố tụng Khi chân lý được làm sáng tỏ thể hiện trong bản án, quyết định của Tòa án, thì mới dừng lại ở việc làm rõ đúng hay sai, phải hay trái trên văn bản giấy tờ Muốn nó được thực hiện trên thực tế, cần phải chờ ở hiệu quả của công tác thi hành án
Vì vậy, thi hành án là giai đoạn tiếp theo của quá trình xét xử Ở giai đoạn này, cơ quan thi hành án áp dụng các biện pháp được pháp luật quy định để đưa chân lý trở thành hiện thực trong đời sống thực tế [43, tr 8]
Hoạt động thi hành án gắn liền với quá trình xét xử, tiếp theo quá trình xét xử Thi hành án là hoạt động bảo vệ pháp luật khác về bản chất với các hoạt động hành chính là tổ chức và quản lý "Thi hành án là nhằm mục đích thực thi các phán quyết của Tòa án, đảm bảo các phán quyết của Tòa án được thi hành và thi hành có hiệu quả trên thực tế Hoạt động thi hành án này gắn liền với quá trình xét xử, chịu sự chi phối của quá trình xét xử" [44, tr 8] THADS
có đầy đủ những đặc trưng của hoạt động tố tụng dân sự như là hoạt động bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, mang tính độc lập v.v Hơn nữa, "tòa án chỉ là một trong các cơ quan tư pháp chứ không phải là cơ quan tư pháp duy nhất" [2, tr 11] Vì thế, thi hành án cũng là một hoạt động chấp hành nhưng là chấp hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án
- Quan điểm thứ hai cho rằng, thi hành án là một thủ tục hành chính Theo đó, quá trình tố tụng chỉ do Tòa án thực hiện.Tố tụng là quá trình tiến hành giải quyết các vụ án theo quy định của pháp luật; quá trình này sẽ trải qua nhiều giai đoạn, song các giai đoạn ấy lại có mối liên quan mật thiết với
Trang 19nhau trong một thể thống nhất chung và xét xử là giai đoạn của cùng quá trình
tố tụng Vì vậy, "bản án, quyết định chính là kết quả đánh dấu sự kết thúc của quá trình tố tụng đó" [44, tr 13] Hơn nữa "thi hành án là hoạt động mang tính điều hành và chấp hành là đặc trưng của hoạt động hành chính" [2, tr 11] Thi hành án là dạng hoạt động có tính chấp hành, vì thi hành án chỉ được tiến hành trong khuôn khổ pháp luật quy định nhằm thực hiện các các bản án và quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật
- Quan điểm thứ ba lại cho rằng, thi hành án là một thủ tục hành chính -
tư pháp Trước hết vì thi hành án có mục đích và bản chất khác với mục đích, bản chất của tố tụng Mục đích của tố tụng là xác định chứng cứ để lập trạng thái ban đầu của sự việc Với mục đích đó, toàn bộ quá trình tố tụng được diễn ra theo một quá trình hết sức chặt chẽ và khi có quyết định giải quyết vụ việc của Tòa án thì quá trình tố tụng kết thúc Trong khi đó, thi hành án có mục đích là thực hiện bản án, quyết định của Tòa án Quá trình này do các chủ thể thi hành án tự giác thi hành hoặc do cơ quan có thẩm quyền buộc phải thi hành Về bản chất, thi hành án cũng là một dạng hoạt động tư pháp vì căn
cứ để thi hành án là các bản án, quyết định của Tòa án Hơn nữa, thi hành án còn được thực hiện bởi các cơ quan tư pháp (theo nghĩa rộng) Không thể đồng nhất hoạt động thi hành án với hoạt động tố tụng, bởi lẽ hoạt động thi hành án có tính chất chính trị, pháp lư, xã hội của nó Nghiên cứu hoạt động thi hành án hiện nay cần đặt trong vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền Về bản chất, hoạt động thi hành án được thể hiện ở ba phương diện chủ yếu sau đây:
+ Xác định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quá trình thi hành án;
+ Tính đặc thù trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan thi hành án; + Đặc thù trong các quan hệ về thủ tục thi hành án (đây là một vấn đề
có thể dẫn đến sự nhầm lẫn với quan hệ tố tụng) Quan hệ thủ tục thi hành án
có thể bao gồm cả quan hệ tố tụng và quan hệ khác mang tính hành chính - tư
Trang 20pháp Nhưng cần khẳng định rằng, các quan hệ mang tính hành chính tư pháp chủ yếu hơn
Thi hành án là hoạt động của cơ quan nhà nước Tuy nhiên, ở một số lĩnh vực, một số công việc, Nhà nước có thể xây dựng hành lang pháp lý để thực hiện xã hội hóa hoạt động này Đây là điểm khác so với hoạt động tố tụng, hoạt động tố tụng mang tính quyền lực tư pháp, không thể xã hội hóa Thi hành
án không mang tính tố tụng thuần túy mà có nhiều tính chất của giai đoạn mang tính hành chính - tư pháp Ở đây có nhiều điểm khác nhau giữa tố tụng
và quá trình thực hiện thi hành án Hoạt động thi hành án là hoạt động đặc thù
mà chủ thể thực thi không phải là Tòa án "Các thủ tục trong quá trình thi hành án mang nặng tính hành chính - tư pháp hơn (đặc biệt là trong thi hành
án kinh tế, tuyên bố phá sản doanh nghiệp, lao động và một phần của thi hành
án hình sự đối với loại hình phạt không phải là hình phạt tù )" [44, tr 10-12]
Do đó, thi hành án cần được quan niệm là thủ tục hành chính - tư pháp
Các quan điểm trên xuất phát từ những lý do khác nhau và đều có tính hợp lý Thực ra, khó có thể "xếp" THADS với bất cứ loại tố tụng nào vì những lẽ sau đây:
Thứ nhất, như đã trình bày ở phần khái niệm thi hành bản án, bản chất
và mục đích tố tụng là sự xác định sự thật khách quan của các vụ việc để trên
cơ sở đó áp dụng đúng đắn quy định của pháp luật vào từng trường hợp cụ thể Quá trình này kết thúc khi sự thật đã được khẳng định bằng một phán quyết của Tòa án Ở đây chân lý đã được sáng tỏ, nội dung quan hệ pháp luật
đã được Tòa án xác định cụ thể bằng bản án, cơ quan thi hành án chỉ thực thi các nghĩa vụ đã được xác định mà không có quyền thay đổi chúng Hiện nay phạm vi áp dụng thủ tục THADS rất rộng Nhiều quan hệ pháp luật trước đó
đã được giải quyết theo nhiều thủ tục tố tụng khác nhau như dân sự, hành chính, hình sự, trọng tài Tuy nhiên, các phán quyết về tài sản của Toà án, Trọng tài, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh đều được đưa ra tổ chức thi hành
Trang 21theo thủ tục THADS, nếu coi THADS là một giai đoạn tố tụng, thì sẽ xác định
nó thuộc thủ tục tố tụng cụ thể nào hay mang tính "tố tụng tổng hợp"
Thứ hai, về cơ chế quản lý và trình tự thủ tục thi hành án đã có sự thay
đổi căn bản Công tác THADS từ năm 1993 đến nay do Chính phủ thống nhất quản lý: Theo quy định của Luật THADS, thì Bộ Tư pháp là cơ quan giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về công tác thi hành án và chịu trách nhiệm tổ chức thi hành án trong phạm vi cả nước; Bộ Quốc phòng phối hợp với Bộ Tư pháp giúp Chính phủ quản lý nhà nước về công tác THADS trong quân đội theo quy định của Chính phủ Hệ thống các cơ quan THADS đã được thành lập và đi vào hoạt động ổn định với 63 Cục thi hành án; 09 cơ quan thi hành án cấp quân khu) và 698 Chi cục thi hành án Việc ra quyết định thi hành án và tổ chức thi hành án thuộc thẩm quyền của Thủ trưởng cơ quan thi hành án (cơ quan hành chính-tư pháp) thay vì Chánh án như trước đây Như chúng ta đã biết, THADS là hoạt động kế tiếp của giai đoạn xét xử (giai đoạn cuối cùng của hoạt động tố tụng) và là giai đoạn rất quan trọng trong quá trình bảo vệ quyền lợi của đương sự, mục đích của quá trình tố tụng
là làm rõ sự thật khách quan của vụ án Như vậy, có thể nói, khi kết thúc hoạt động xét xử, thì sự thật khách quan đó hay nói cách khác công lý đã được làm sáng tỏ, nội dung quan hệ pháp luật đã được toà án xác định và phán quyết cụ thể Quá trình tổ chức thi hành án, cơ quan thi hành án chỉ thực thi các nghĩa
vụ đã được Toà án phán quyết mà không có quyền xác lập quyền, nghĩa vụ khác Vì vậy, việc tổ chức thi hành án đơn thuần chỉ là thủ tục hành chính - tư pháp, việc coi THADS là một giai đoạn tố tụng độc lập là khó có cơ sở
Thứ ba, xét về mặt truyền thống cũng như pháp luật thực định, thì Tòa
án hoặc cơ quan trọng tài luôn là chủ thể trung tâm của bất cứ hoạt động tố tụng nào Trong khi đó chủ thể trung tâm của hoạt động thi hành án không phải là Tòa án, mà là cơ quan thi hành án thuộc hệ thống hành pháp và chấp hành viên
Trang 22Thứ tư, THADS là dạng hoạt động mang tính hành chính - tư pháp, vì
cơ sở của THADS là các bản án, quyết định dân sự của Tòa án, đồng thời các cơ quan tham gia vào THADS chủ yếu là các cơ quan tư pháp (theo nghĩa rộng)
Thi hành án là một hoạt động diễn ra sau quá trình xét xử của Tòa án Các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật là cơ sở để tiến hành các hoạt động thi hành án Do đó, có thể khẳng định rằng không có kết quả của hoạt động xét xử thì không thể có hoạt động thi hành án Song thi hành án là một hoạt động hành chính- tư pháp, chứ không phải là hoạt động tố tụng (hình sự, dân sự), bởi vì xét về mặt bản chất của vấn đề, thì thi hành án hoàn toàn khác với tố tụng Bản chất và mục đích của tố tụng là xác định sự thật của các vụ việc để trên cơ sở đó giải quyết từng trường hợp theo đúng quy định của pháp luật Toàn bộ quá trình tố tụng diễn ra theo một trình tự hết sức chặt chẽ, tuân thủ các nguyên tắc bình đẳng, công khai, dân chủ, tôn trọng quyền và lợi ích của người tham gia tố tụng Khi có phán quyết của Tòa án, nghĩa là khi sự thật được khẳng định và việc áp dụng pháp luật đã hoàn thành thì quá trình tố tụng kết thúc
Từ những phân tích trên đây, chúng ta có thể hiểu khái niệm THADS như sau: THADS là hoạt động hành chính- tư pháp, mang tính quyền lực nhà nước, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền Nhà nước tiến hành nhằm buộc cá nhân, cơ quan, tổ chức phảu thực hiện các nghĩa vụ về tài sản hoặc nghĩa vụ dân sự khác theo bản án, quyết định của Tòa án để đảm bảo trật tự pháp luật, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức và Nhà nước Như vậy THADS chủ yếu là thi hành các bản án, quyết định dân sự của Tòa
án Tuy phạm vi bản án quyết định dân sự được Luật THADS quy định mở rộng hơn so với Pháp lệnh THADS năm 2004 Điều này cho thấy pháp luật về THADS đang được Đảng và Nhà nước ta quan tâm hoàn thiện sao cho phù hợp với hoàn cảnh đất nước, phù hợp với quá trình cải cách tư pháp hiện nay
Vậy hiểu như thế nào là thủ tục nói chung và thủ tục THADS nói riêng? Theo Từ điển tiếng Việt, thủ tục là "những việc cụ thể phải làm theo một trật
Trang 23tự quy định, để tiến hành công việc có tính chất chính thức" [23, tr 927] THADS bao gồm nhiều công việc phức tạp, để thi hành án hành án có hiệu quả thì các công việc về thi hành án phải được thực hiện theo một trật tự, cách thức nhất định do pháp luật quy định căn cứ vào nội dung, tính chất và tác dụng của công việc đó đối với kết quả THADS Và cũng Theo Từ điển tiếng
Việt thì trình tự là "sắp xếp lần lượt, thứ tự trước sau" [23, tr 1001] Từ đó, có thể rút ra kết luận: Thủ tục thi hành án dân sự là trình tự thực hiện những việc
cụ thể về thi hành án dân sự do pháp luật thi hành án dân sự quy định
Theo quy định của Luật THADS thì thủ tục thi hành dân sự bao gồm: Thủ tục cấp, chuyển giao bản án quyết định, thủ tục ra quyết định THADS, thủ tục tổ chức và thực hiện THADS v.v… Ngoài ra, cũng theo quy định của Luật THADS thì các bản án, quyết định được thi hành theo thủ tục THADS bao gồm: Bản án, quyết định của Toà án về dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế; bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài được Toà án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam; quyết định về dân sự, phạt tiền, tịch thu tài sản, xử lý vật chứng, tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí trong bản án, quyết định của Toà án về hình sự; quyết định về phần tài sản trong bản án, quyết định của Toà án về hành chính; quyết định tuyên bố phá sản; quyết định của Trọng tài thương mại Việt nam; bản án, quyết định khác do pháp luật quy định
1.1.2 Đặc điểm của thủ tục thi hành án dân sự
Sau khi giải quyết các tranh chấp dân sự, Ṭòa án ra bản án, quyết định công nhận các quan hệ pháp luật, các sự kiện có ý nghĩa pháp luật hoặc buộc người phải thi hành án có nghĩa vụ phải làm một việc hoặc không được làm một việc việc vì lợi ích của người được thi hành án Như vậy, quan hệ pháp luật về THADS phát sinh ngay tại thời điểm bản án, quyết định dân sự của Tòa án có hiệu lực pháp luật hoặc những bản án, quyết định dân sự của Tòa
án chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay Tuy nhiên, mức độ
Trang 24tác động, tính chủ động của cơ quan thi hành án, chấp hành viên đối với từng loại bản án, quyết định, từng giai đoạn thi hành án có khác nhau Có loại bản
án, quyết định cơ quan THADS, chấp hành viên phải chủ động ra quyết định thi hành án, đôn đốc, chịu trách nhiệm đến cùng về kết quả thi hành án như đối với các trường hợp bản án, quyết định về trả lại tài sản xă hội chủ nghĩa; bản án, quyết định về phạt tiền; bản án, quyết định về tịch thu tài sản; bản án quyết định về án phí; bản án quyết định về tiêu hủy tang vật; các quyết định khẩn cấp tạm thời Có loại bản án, quyết định, cơ quan thi hành án, chấp hành viên chỉ tham gia vào quá trình thi hành án khi có yêu cầu của người được thi hành án sau khi đă thụ lý thi hành án, có lúc chấp hành viên chỉ giữ vai trò
"chứng kiến", giải thích, hướng dẫn các bên (được thi hành án và phải thi hành án) tự thi hành án Nhưng khi người phải thi hành án bất chấp kỷ cương, pháp luật, coi thường lợi ích của người được thi hành án, cố ý không thực hiện nghĩa vụ của mình, thì cơ quan thi hành án, chấp hành viên phải thực hiện quyền được Nhà nước giao là huy động lực lượng, trấn áp, bắt buộc người phải thi hành án phải thực hiện những hành vi mà Ṭòa án nhân danh Nhà nước đă tuyên Đó là cưỡng chế thi hành án Như vậy, cưỡng chế thi hành án là hoạt động đặc thù của quá trình thi hành các bản án, quyết định của Tòa án, bản chất của nó là dùng quyền lực của Nhà nước theo thủ tục do pháp luật qui định buộc người phải thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ thi hành án của họ
Để bảo đảm hiệu quả của THADS, pháp luật phải quy định cụ thể thủ tục THADS So với các thủ tục tố tụng và thủ tục thi hành án khác, thủ tục
THADS có những đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, thủ tục THADS là một thủ tục mang tính chất tư pháp và do
pháp luật quy định
Thủ tục THADS được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật
do Nhà nước ban hành, chỉ có những quy định về thủ tục THADS được quy
Trang 25định trong văn bản pháp luật mới được có giá trị pháp lý trên thực tế Hiện nay, thủ tục THADS được quy định trong Luật THADS có hiệu lực vào 1/7/2009 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật này như Nghị định 58/2009/NĐ-CP Ngoài ra, thủ tục THADS còn được quy định cả trong Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) và các văn bản pháp luật khác có liên quan
THADS chỉ phát sinh trên cơ sở bản án, quyết định của Tòa án sau khi giải quyết các tranh chấp dân sự theo nghĩa rộng, đó là bản án, quyết định về dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình; quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự (phạt tiền, tịch thu tài sản, án phí); quyết định về tài sản và quyền tài sản trong bản án, quyết định hành chính; bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành ở Việt Nam Tuy nhiên, nếu như trong thi hành án hình sự, thi hành án hành chính, hoạt động thi hành án hình
sự, thi hành án hành chính chỉ phát sinh trên cơ sở bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, thì hoạt động THADS không những được phát sinh trên cơ
sở bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật, mà còn được phát sinh trên cơ sở những bản án, quyết định dân sự của Tòa án chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay, đó là bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm về cấp dưỡng, trả công lao động, nhận người lao động trở lại làm việc, trả lương, trợ cấp mất việc làm, bảo hiểm xã hội hoặc bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tổn thất tinh thần của công dân; quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
Thứ hai, thủ tục THADS là thủ tục độc lập so với thủ tục khởi tố, điều
tra, xét sử vụ án hoặc giải quyết vụ kiện trọng tài Sở dĩ nó độc lập với các thủ tục khác trong việc giải quyết vụ án hoặc vụ kiện trọng tài là bởi, sau khi có bản án, quyết định của Tòa án thì trên cơ sở bản án, quyết định do Tòa án chuyển giao hoặc đơn yêu cầu thi hành án của đương sự, cơ quan THADS ra quyết định THA và thụ lý, tổ chức việc thực hiện THA Song, trong quá trình THADS thì tùy từng trường hợp cụ thể mà không nên cứng nhắc bởi tính độc
Trang 26lập của thủ tục THADS Trong nhiều trường hợp THADS và cần có sự phối hợp giữa cơ quan THADS với các cơ quan, tổ chức đã tiến hành điều tra, truy
tố, xét xử vụ án về việc THADS được thuận lợi
Thứ ba, thủ tục THADS bao gồm nhiều thủ tục khác nhau Quá trình
THADS ở mỗi khâu các công việc phải thực hiện là khác nhau nên đã tạo ra
"xâu chuỗi " các thủ tục trong suốt quá trình THADS Tuy nhiên, trong quá trình THADS không phải thực hiện ngay ở giai đoạn đầu, giữa hoặc sau khi
đã thi hành xong việc thi hành án Ví dụ: thủ tục giải quyết khiếu nại hoặc thực hiện kháng nghị của Viện kiểm sát Sự phát triển, diễn biến của hoạt động THADS không phải là một quá trình tự phát mà theo một cơ chế chặt chẽ do pháp luật về THADS qui định Trong quan hệ THADS, Nhà nước sử dụng quyền lực công để đảm bảo thi hành án, nhưng Nhà nước cũng không cho phép Cơ quan thi hành dân sự, chấp hành viên lạm dụng quyền lực Nhà nước quy định hệ thống văn bản pháp luật về THADS một cách chi tiết, cụ thể, khoa học, chặt chẽ bao gồm các nguyên tắc, thủ tục trong THADS nhằm tạo cơ sở pháp luật cho cơ quan thi hành án, chấp hành viên thực hiện nhiệm
vụ thực thi các bản án, quyết định của Tòa án trên thực tế Thủ tục THADS không được qui định hoặc qui định không rõ ràng, không khoa học sẽ dẫn đến việc áp dụng không đúng pháp luật, làm phức tạp quá tŕnh thi hành án, gây tốn kém kinh phí, không kịp thời hoặc không bảo đảm được lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, dẫn đến khiếu kiện bức xúc, kéo dài Mặt khác, do cơ quan thi hành án là một bộ phận trong bộ máy nhà nước nên hoạt động thi hành án trong một quá tŕnh thi hành án đều phải tuân theo nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung và điều
đó chứng tỏ sự diễn biến và phát triển của hoạt động THADS luôn chịu sự tác động, điều chỉnh trực tiếp của pháp luật về THADS và rộng hơn là của cả hệ thống pháp luật
Thứ tư, thủ tục THADS được áp dụng thi hành các quyết định về tài
sản là chủ yếu
Trang 27Theo quy định của pháp luật hiện hành, thủ tục THADS được áp dụng
để thi hành các bản án, quyết định về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động và các quyết định về tài sản trong các bản án, quyết định hành chính, hình sự, quyết định của trọng tài thương mại v.v Mặc dù hoàn toàn khác biệt về tính chất của quan hệ pháp luật, nhưng nghĩa
vụ thi hành án trong tất cả các bản án, quyết định này đều có tính chất tương đồng đó là nghĩa vụ tài sản hoặc các công việc phải thực hiện Đây là cơ sở để xác định tính chất "dân sự"nhằm phân biệt với thi hành án hình sự Tuy nhiên, thuật ngữ "dân sự" không thể hiện đủ nội hàm của khái niệm loại hình thi hành án có tính chất tổng hợp này, mặc dù vậy cho đến nay các luật gia vẫn chưa đưa ra được một khái niệm khác
Thứ năm, trong thủ tục THADS luôn tồn tại ba chủ thể với địa vị pháp
luật khác nhau, đó là cơ quan thi hành án, chấp hành viên với người phải thi hành án và người được thi hành án
Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, giữ gìn trật tự, kỷ cương trong THADS là trách nhiệm của Nhà nước, không phải là việc riêng của công dân Cơ quan thi hành án, chấp hành viên tham gia quan hệ pháp luật về THADS không phải vì lợi ích của chính mình, mà nhân danh cơ quan nhà nước, thực hiện quyền lực nhà nước, thực hiện trên thực tế những phán quyết
về dân sự của Tòa án, nhằm bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của các công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xă hội chủ nghĩa
Là chủ thể bắt buộc trong quan hệ THADS, chấp hành viên nhân danh Nhà nước, thực thi quyền lực nhà nước thông qua hoạt động thi hành án Những phán quyết về dân sự của Tòa án nhân danh quyền lực nhà nước được chấp hành viên bảo đảm thực thi trên thực tế, được thực hiện nhưng không phải vì lợi ích của chính bản thân mình, mà vì lợi ích mà pháp luật bảo vệ, bản án, quyết định của Ṭa án đă có hiệu lực pháp luật phải được các đương sự nghiêm chỉnh chấp hành, các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã
Trang 28hội, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân tôn trọng Để chấp hành viên có cơ
sở pháp lý hoạt động, pháp luật qui định cho chấp hành viên những quyền hạn nhất định, như trong trường hợp bản án, quyết định dân sự của Tòa án đă có hiệu lực pháp luật, hai bên đương sự tự nguyện bàn bạc và thỏa thuận với nhau việc thực hiện quyền và nghĩa vụ theo nội dung và quyết định của bản
án, thì chấp hành viên đóng vai trò là người "xác nhận" việc tự nguyện và thỏa thuận đó và làm các thủ tục theo qui định của pháp luật THADS Trường hợp một bên là chủ thể của quan hệ pháp luật THADS cố ý không tôn trọng bản án, quyết định của Tòa án, không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ của mình
mà có biểu hiện chây ỳ, coi thường pháp luật mặc dù đă được chấp hành viên
cơ quan thi hành án phân tích, giải thích, giáo dục, thì chấp hành viên phải áp dụng biện pháp cưỡng chế, buộc người phải thi hành án phải thực hiện nghĩa
vụ theo phán quyết mà Tòa án đă tuyên Trường hợp áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án không những thể hiện quyền lực nhà nước, mà còn thể hiện bản chất dân chủ của chế độ xă hội chủ nghĩa cũng như trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
Thứ sáu, trong thủ tục THADS, việc thi hành bản án, quyết định theo
yêu cầu của người được thi hành án là một đặc điểm của THADS, xuất phát
từ nguyên tắc tự nguyện, tự thỏa thuận, bình đẳng của các bên trong giao lưu dân sự
Pháp luật công nhận sự thỏa thuận, tự nguyện của người được thi hành
án và của người phải thi hành án về việc chấp hành bản án, quyết định của Tòa án, nếu sự thỏa thuận đó không vi phạm lợi ích của Nhà nước, của xă hội Điều đó có nghĩa sau khi tranh chấp đă được phân xử, các bên vẫn có quyền tiếp tục thể hiện ý chí của mình trong quá trình thi hành án Đây là điểm khác nhau cơ bản của THADS so với thi hành hình sự, thi hành án hành chính
Bên cạnh cơ chế thi hành án theo yêu cầu của người được thi hành án, pháp luật THADS của nước ta còn quy định cơ chế chủ động thi hành án,
Trang 29không phụ thuộc vào ý chí của người được thi hành án và người phải thi hành
án Quy định này xuất phát từ yêu cầu bảo vệ tài sản xă hội chủ nghĩa, tính nghiêm minh và tính kịp thời của THADS trong việc bảo đảm lợi ích của đương sự, bảo đảm hiệu quả hoạt động của Tòa án và cơ quan thi hành án
1.1.3 Vai trò của thủ tục thi hành án dân sự
Trong quá trình THADS, các quan hệ phát sinh giữa các chủ thể tham gia vào quá trình này khá đa dạng Mỗi chủ thể tham gia vào các quan hệ này với những động cơ mục đích khác nhau Trên thực tế, không phải chủ thể nào tham gia quan hệ cũng thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình một cách có thiện chí và đúng đắn Vì vậy, các quy định của pháp luật THADS về quyền
và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quan hệ, thủ tục thi hành án, thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế THADS v.v có tác dụng điều chỉnh các quan
hệ đó, bảo đảm cho các cơ quan THADS tổ chức THADS được thuận lợi và nâng cao được hiệu quả của việc THADS Mặt khác, các quy định đó của pháp luật THADS còn có tác dụng nâng cao được ý thức trách nhiệm của các chủ thể trong việc THADS, làm cho việc thi hành án được thực hiện nhanh chóng và đúng đắn, bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự Ngoài ra, "việc thực hiện đúng các quy định về thủ tục THADS sự còn phát huy được tác dụng giáo dục của công tác THADS, góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của công dân, ổn định các quan hệ xã hội, làm cho xã hội phát triển" [2, tr 21-22] Hoạt động thi hành án là giai đoạn cuối cùng của quá trình tố tụng, tuy là giai đoạn cuối cùng, nhưng thi hành án có ý nghĩa vô cùng quan trọng vì đây là giai đoạn đưa bản án, quyết định đã có hiệu lực của Toà án vào đời sống xã hội, mà nó còn khẳng định giá trị thực sự kết quả của toàn bộ quá trình tố tụng, và qua đó góp phần bảo đảm hiệu lực quản lý nhà nước Thi hành án không chỉ là hoạt động nghiệp vụ mà còn thể hiện trách nhiệm của nhà nước trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Thủ tục THADS là
cơ sở pháp lý đảm bảo thi hành bản án, quyết định của Tòa án và thể hiện tính
Trang 30nghiêm minh của pháp luật Nếu các bản án, quyết định đó không được đem
ra thi hành thì đó chỉ là những phán quyết trên giấy tờ, không có giá trị pháp
lý ràng buộc các bên trong quan hệ THADS Do vậy, việc pháp luật quy định
về thủ tục THADS là điều cần thiết và đảm bảo cho tiến trình thực thi các bản
án, quyết định trên thực tế Có như thế, quyền lợi của Nhà nước, của cá nhân,
cơ quan, tổ chức xã hội mới được bảo đảm Như vậy, thủ tục THADS là cơ sở pháp lý để thi hành đúng những bản án, quyết định chưa có hiệu lực hoặc đã
có hiệu lực nhưng không được đưa ra thi hành vì những lý do chủ quan
Không những thế, thủ tục THADS còn là cơ sở cho hoạt động thi hành
án được đúng đắn của Chấp hành viên, cán bộ cơ quan THADS, hạn chế tình trạng lạm quyền để thi hành những bản án, quyết định không thuộc thẩm quyền thi hành án của mình, đồng thời ngăn chặn việc cơ quan THADS từ chối, đùn đẩy trách nhiệm thi hành những bản án, quyết định mà cơ quan mình có trách nhiệm phải thi hành Bên cạnh đó, việc luật hóa các thủ tục THADS trong pháp luật THADS còn là cơ sở pháp lý cho chấp hành viên, cán
bộ cơ quan thi hành căn cứ vào đó mà thực hiện, bảo vệ quá trình THADS, bảo vệ quan điểm cũng như uy tín, danh dự của chính mình Có làm được như vậy mới tạo được lòng tin của dân chúng vào hệ thống pháp luật
Thủ THADS được quy định đầy đủ, cụ thể trong LHADS tạo điều kiện cho hoạt động THADS được tiến hành nhanh chóng, hiệu quả Ví dụ: Quy định về thủ tục cấp, chuyển giao bản án, quyết định của Tòa án chặt chẽ
sẽ nâng cao trách nhiệm của Tòa án trong việc cấp, chuyển giao bản án, quyết định của Tòa án cho đương sự, cơ quan thi hành án cao hơn, khắc phục tình trạng không cấp, không chuyển hoặc cấp, chậm chậm chuyển bản án, quyết định cho đương sự, cơ quan THADS Quy định về thủ tục thi hành án trong một số trường hợp cụ thể để giải quyết khó khăn, vướng mắc trong quá trình
tổ chức thi hành án đối với một số trường hợp cụ thể như thi hành phần dân
sự trong bản án, quyết định hình sự, trong đó có quy định về việc trại giam, trại tạm giam thu án phí, tiền phạt và các khoản phải thu khác đối với người
Trang 31phải thi hành án đang chấp hành hình phạt tù; thủ tục thi hành quyết định khẩn cấp tạm thời; biện pháp xử lý trong trường hợp bản án đã thi hành xong, nhưng bị huỷ do quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Toà án và thủ tục thi hành bản án về phá sản Quy định về miễn, giảm THADS, trong đó có việc miễn thi hành đối với các khoản thu cho ngân sách nhà nước có giá trị không quá 500.000 đồng, mà thời gian tổ chức thi hành án đã quá 5 năm, tính đến thời điểm Luật THADS có hiệu lực thi hành nhưng người phải thi hành án không có điều kiện thi hành án bảo đảm việc miễn giảm THADS đúng đắn, giảm án tồn đọng và không làm thất thoát tài sản của Nhà nước
Như vậy, những quy định về thủ tục THADS là cơ sở bảo đảm lợi ích của Nhà nước quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự Việc THADS đúng thủ tục do pháp luật quyết định bảo đảm bản án, quyết định có hiệu lực thi hành theo thủ tục thủ tục THADS kịp thời là một trong những cơ sở bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và doanh nghiệp được bảo vệ, kỷ cương phép nước được tôn trọng, trật tự xã hội được củng cố Thủ tục THADS không được quy định hoặc quy định không được rõ ràng, thiếu khoa học sẽ không có căn cứ pháp lý để thực hiện THADS hoặc dẫn đến áp dụng pháp luật không đúng, không đầy đủ, làm phức tạp quá trình THADS, gây tốn kém kinh phí của Nhà nước, không kịp thời hoặc không đảm bảo được lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
1.2 SƠ LƯỢC SỰ PHÁT TRIỂN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ THỦ TỤC THI HÀNH ÁN DÂN
1.2.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1950
Ngay sau Cách mạng Tháng 8 thành công, để xây dựng và củng cố chính quyền mới Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật, trong đó có các quy định liên quan đến vấn đề THADS Theo Sắc lệnh ngày 10/10/1945 về việc cho tạm thời giữ các luật lệ hiện hành ở Bắc, Trung và Nam nếu những luật lệ ấy không trái với các nguyên tắc độc lập của Nhà nước Việt Nam và
Trang 32chính thể dân chủ cộng hòa và Nghị định số 37 ngày 01/12/1945 về tổ chức
Bộ Tư pháp thì tổ chức THADS sẽ tồn tại dưới hai hình thức: Thừa phát lại và ban tư pháp xã Như vậy, hoạt động THADS không có gì thay đổi so với thời
kỳ trước, song việc chính thức thành lập ban tư pháp xã là một sự thay đổi lớn, chính thức có thêm một cơ quan chức năng thực hiện công tác THADS Mặc dù tồn tại hai lực lượng thi hành nhưng việc thi hành án dù do thừa phát lại hay ban tư pháp xã tiến hành điều thể hiện quyền lực nhà nước và được bảo đảm bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước Thừa phát lại thực hiện THADS ở khu vực thành thị, ban tư pháp xã thực hiện việc thi hành án ở nông thôn
Trong các văn bản pháp luật này cũng quy định rõ những nguyên tắc thể thức chấp hành các bản án, quyết định của Tòa án và xác định trách nhiệm của thừa phát lại, nhấn mạnh vai trò của ban tư pháp xã, các cơ quan, tổ chức hữu quan trong việc THADS Điều này đã cho thấy thời kỳ này Nhà nước không chỉ tôn trọng quyền định đoạt của đương sự trong giao lưu dân sự, thường thương sự và tố tụng mà còn thể hiện việc bảo đảm quyền tự định đoạt của đương sự trong hoạt động THADS
Có thể nói, trong giai đoạn này, THADS thể hiện rất đặc thù, đó là sự kết hợp giữa nhà nước và tổ chức phi nhà nước trong THADS Hoạt động THADS vừa được cơ quan công quyền, trực tiếp là Ủy ban nhân dân xã, phường thực hiện, vừa do tổ chức xã hội nghề nghiệp là tổ chức Thừa phát lại đảm nhận
1.2.2 Giai đoạn từ năm 1950 đến năm 1989
Sang tới giai đoạn năm 1950 đến 1989 thì các quy định về thủ tục THADS đã có những bước phát triển mới Thủ tục THADS được quy định trong Sắc lệnh số 85 ngày 22/5/1950 của Hồ Chí Minh về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng, Hiến pháp năm 1959, Luật tổ chức TAND năm 1960, Luật tổ chức VKSND năm 1960 v.v Đây là cơ sở tạo nên sự thay đổi có tính chất bước ngoặt trong tổ chức và hoạt động THADS Trong lĩnh THADS,
Trang 33Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quy định về nguyên tắc, trình tự, thủ tục THADS như Thông tư số 4176/HCTP ngày 28/11/1957 của
Bộ Tư pháp quy định về cưỡng chế thi hành án, Thông tư 4296/DS ngày 09/12/1957 của Bộ Tư pháp quy định về thứ tự ưu tiên trong chia tiền thi hành
án v.v Trên cơ sở quy định của Hiến pháp năm 1959, Luật tổ chức TAND năm 1960 và Luật tổ chức VKSND năm 1960 các cơ quan có thẩm quyền tiếp tục ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể trình tự, thủ tục THADS như Thông tư số 01/TTg ngày 01/01/1966 của Thủ tướng Chính phủ về việc các
cơ quan, xí nghiệp nhà nước, đơn vị quân đội giúp đỡ thi hành án những bản
án về hôn nhân và gia đình xử người công nhân, viên chức, quân nhân phải cấp tiền nuôi dưỡng cho vợ con, Thông tư số 01/NCPL ngày 11/02/1966 của Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) về việc chấp hành án về khoản bồi thường, Thông tư số 442/TC ngày 04/7/1968 của TANDTC về đẩy mạnh công tác thi hành án, Quyết định số 186/TC ngày 13/10/1972 của Chánh án TANDTC về
tổ chức, nhiệm vụ của Chấp hành viên v.v Đến năm 1975, miền Nam hoàn toàn được giải phóng, đất nước thống nhất các văn bản THADS nói trên vẫn được thực hiện Trong giai đoạn này Chấp hành viên có quyền cho đương sự một thời gian để tự nguyện thi hành án, áp dụng biện pháp cưỡng chế mà pháp luật cho phép sau khi có sự thỏa thuận với công an nơi Chấp hành viên công tác, yêu cầu lực lượng bảo vệ trật tự trị an giúp sức khi cần thiết, đề nghị Tòa án có thẩm quyền cho hoãn, tạm đình chỉ thi hành án và những thủ tục khác về THADS Ngoài ra pháp luật cũng Quy định trách nhiệm của Ủy ban hành chính
xã, phường và các cơ quan liên quan trong việc hỗ trợ THADS
Nhìn chung ở thời kỳ này có thể khẳng định thủ tục THADS đã bước đầu được quy định khá cụ thể và khẳng định được trách nhiệm của Nhà nước đối với việc thi hành các bản án, quyết định của Tòa án Đây là giai đoạn đánh dấu sự ra đời của rất nhiều văn bản pháp luật có tính chất quyết định trong nhiều lĩnh vực, là cơ sở tạo nên sự thay đổi có tính chất bước ngoặt trong tổ chức và hoạt động THADS
Trang 34Sự ra đời Hiến pháp năm 1980 là cơ sở pháp lý cho việc ban hành hàng loạt các văn bản pháp luật khác có liên quan như LTCTAND năm 1981, Quyết định số 143/HĐBT ngày 22/11/1981 của Hội đồng Bộ trưởng về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tư pháp đã giao cho Bộ Tư pháp đảm nhiệm công tác quản lý TAND địa phương về mặt tổ chức, trong đó có công tác THADS Thông tư liên ngành số 472/TTLN ngày 18/7/1982 của của Bộ
Tư pháp và TANDTC quy định về quản lý THADS trong phạm vi cả nước; Thông tư số 637/TTTHA của Bộ tư pháp ban hành ngày 28/5/1985 quy định
về trình tự thủ tục THADS, trong đó quy định tương đối cụ thể về trình tự, thủ tục THADS
1.2.3 Giai đoạn từ năm 1989 đến năm 2008
Phải khẳng định đây là giai đoạn phát triển có tính chất vượt bậc của pháp luật về thủ tục THADS Bởi lẽ, trong giai đoạn này đã có rất nhiều văn bản pháp quy cụ thể liên quan tới thủ tục THADS, tạo khung pháp lý quan trọng cho việc tổ chức, thực hiện các hoạt động THADS
Đầu tiên phải kể đến sự ra đời của Pháp lệnh THADS đầu tiên của nước ta được của Ủy ban thường vụ quốc hội ban hành ngày 28/8/1989 và có hiệu lực thi hành từ này ngày 01/1/1990 Pháp lệnh này bao gồm bảy chương với 43 điều luật quy định về đối tượng, thẩm quyền, thủ tục THADS, quyền hạn của chấp hành viên và việc xử lý vi phạm trong THADS Đây là văn bản pháp luật có hiệu lực cao nhất về THADS đầu tiên được ban hành ở nước ta Việc ban hành Pháp lệnh THADS năm 1989 đã tạo ra bước ngoặt trong công tác THADS Sau khi ban hành Pháp lệnh này, các cơ quan có thẩm quyền đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thi hành như Thông tư liên ngành số 05-89/TTLN ngày 06/12/1989 của TANDTC, Bộ Tài chính và Ủy ban vật giá nhà nước hướng dẫn thực hiện một số quy định của PTHADS về hội đồng định giá; Thông tư liên ngành số 06-89/TTLN ngày 07/12/1989 của TANDTC, Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC) và Bộ Tư pháp hướng dẫn quy
Trang 35định của Pháp lệnh THADS năm 1989 là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc kiện toàn tổ chức và hoạt động THADS nói chung và thủ tục THADS nói riêng
Theo đó, công tác thi hành án vẫn do Tòa án thực hiện, nhưng đã có sự chuyên môn hóa giữa các cán bộ làm nhiệm vụ xét xử và các cán bộ làm nhiệm
vụ thi hành án; đồng thời sẽ song song tồn tại hai cơ chế, một là cơ chế chủ động thi hành án của Tòa án và hai là cơ chế THADS theo đơn yêu cầu của đương
sự, với những thủ tục THADS khá cụ thể và rõ ràng Việc ra quyết định THADS sẽ do Chánh án TAND thực hiện, Chấp hành viên là người trực tiếp
tổ chức việc THADS Điểm mới của văn bản pháp luật này là đã đề cao quyền
tự định đoạt của đương sự trong THADS và xác định rõ chức danh, nhiệm vụ
và quyền hạn của cán bộ làm công tác THADS Tuy nhiên, việc Tòa án thực hiện kiêm nhiệm hai chức năng này là một gánh nặng rất lớn, đồng thời nó còn không đảm bảo được tính khách quan, công bằng trong hoạt động THADS
Tiếp đó, Luật tổ chức Chính phủ năm 1992, Luật tổ chức TAND năm
1992 đã đặt ra nguyên tắc nền tảng cho quá trình cải cách tư pháp, trong đó có công tác THADS, Nghị quyết về việc bàn giao công tác THADS từ TAND các cấp sang các cơ quan của Chính phủ được Quốc hội khóa IX thông qua ngày 06/10/1993 Để triển kahi thực hiện các văn bản này, ngày 21/4/1993 Pháp lệnh THADS năm 1993 được ban hành thay thế cho Pháp lệnh THADS năm 1989 Pháp lệnh THADS năm 1993 có hiệu lực từ ngày 01/36/ 1993 bao gồm bảy chương với 50 điều luật So với Pháp lệnh THADS năm 1989 thì Pháp lệnh THADS năm 1993 quy định về thẩm quyền, thủ tục THADS, quyền hạn của Chấp hành viên và việc xử lý vi phạm trong THADS cụ thể hơn Thực hiện theo Pháp lệnh THADS năm 1993, công tác THADS được bàn giao từ Tòa án sang cơ quan Chính phủ, từ đó Chính phủ và cơ quan có thẩm quyền đã ban hành những văn bản pháp luật quy định về tổ chức, trình
tự, thủ thục THADS như Nghị định số 69/CP ngày 18/10/1993 quy định thủ tục THADS; Thông tư liên nghành số 981/TTLN ngày 21/9/1993 của Bộ tư pháp, TANDTC, VKSNDTC hướng dẫn thực hiện một số quy định của Pháp
Trang 36lệnh THADS; Thông tư số 555/TT- THA ngày 24/7/1993 của Bộ Tư pháp hướng dẫn một số vấn đề về công tác THADS, Thông tư số 67/TT-THA ngày 05/7/1996 của Bộ Tư pháp hướng dẫn một số vấn đề về tổ chức hoạt động THADS; Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của TANDTC, VKSNDTC, Bộ Tư pháp và Bộ Tài chính hướng dẫn việc xét xử và thi hành
án về tài sản… Nhìn chung sự ra đời của Pháp lệnh THADS năm 1993 và các văn bản hướng dẫn là cơ sở pháp lý quan trọng để giải quyết việc THADS kịp thời đáp ứng yêu cầu của công tác THADS vào hoàn cảnh đó, xây dựng một
cơ chế quản lý nhà nước thống nhất đối với công tác THADS, quy định tương đối cụ thể về trình tự, thủ tục thi hành án tạo cơ sở pháp lý, nâng cao hiệu quả hoạt động THADS
Đứng trước yêu cầu đẩy mạnh đổi mới, cải cách tư pháp mà Đảng và Nhà nước đặt ra, trong những năm gần đây ngành tư pháp luôn xác định công tác THADS là một nhiệm vụ trọng tâm, đặc biệt là sau khi Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/1/2002 của Bộ Chính trị về "một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới" và Nghị quyết hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành
trung ương Đảng khóa IX xác định: "Đẩy mạnh đổi mới tổ chức và hoạt động
của các cơ quan tư pháp…tập trung thực hiện tốt công tác thi hành án, nhất là THADS, khắc phục cơ bản tình trạng tồn đọng kéo dài" [9], Bộ Tư pháp đã đẩy nhanh tiến độ soạn thảo để trình các cơ quan có thẩm quyền xem xét, ban hành Pháp lệnh THADS mới thay thế Pháp lệnh THADS năm 1993 Ngày 14/11/2004 Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua Pháp lệnh THADS năm
2004 thay thế cho Pháp lệnh THADS năm 1993, có hiệu lực thi hành án kể từ ngày 01/7/2004 Thủ tục THADS được quy định tại Chương 3 của Pháp lệnh này, gồm 19 điều, từ Điều 18 đến Điều 36 Ngoài ra, còn được hướng dẫn cụ thể trong Nghị định số 173/2004/NĐ-CP ngày 30/09/2004 quy định về thủ tục, cưỡng chế và xử phạt hành chính trong THADS; Nghị định của Chính phủ số 164/2004/NĐ-CP ngày 14/9/2005 quy định về kê biên, bán đấu giá quyền sử dụng đất để thi hành án; Thông tư của Bộ Quốc phòng số
Trang 37117/2005/TT-BQP ngày 12/08/2005 hướng dẫn việc xử lý tài sản tịch thu theo bản án, quyết định của Toà án dân sự và trách nhiệm của đơn vị quân đội được THADS; Thông tư liên tịch của TANDTC, VKSNDTC, Bộ tư pháp, Bộ công
an và Bộ tài chính số 02/2005/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-BTP-BCA-BTC ngày 17/6/2005 hướng dẫn việc miễn, giảm thi hành án đối với khoản tiền phạt và phí; Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 136/2005/QĐ-TTg ngày 09/6/2005 về việc hỗ trợ tài chính về ngân sách nhà nước để THADS
Ngoài việc kế thừa các quy định hợp lý của các pháp lệnh được ban hành trước đó, Pháp lệnh THADS năm 2004 đã quy định nhiều vấn đề mới về THADS như quyền yêu cầu thi hành án của người phải thi hành án, lệ phí thi hành án v.v… Phải khẳng định rằng, so với các văn bản pháp luật được ban hành trước thì Pháp lệnh THADS năm 2004 đã quy định chi tiết, cụ thể hơn các vấn đề về thủ tục THADS, đó là điều kiện thuận lợi cho quá trình thực hiện các quy định đó trên thực tế Tuy nhiên, việc áp dụng Pháp lệnh này trong thời gian tiếp theo là không phù hợp với thực tiễn tình hình kinh tế - xã hội, không phù hợp với mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền, cải cách hành chính và xu thế hội nhập quốc tế Ví dụ: Thời hiệu yêu cầu thi hành án là quá ngắn; hay để thi hành một bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật thì cần phải có quyết định thi hành án của Chánh án hoặc Thủ trưởng cơ quan THADS có thẩm quyền Có nhiều loại quyết định về thi hành án như: hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ, tạm ngừng thi hành án; quá trình thi hành án cũng bị kéo dài do phải ấn định thời hạn tự nguyện thi hành án ngay cả sau khi đương
sự không thỏa thuận được với nhau, về việc tự thi hành mà phải có đơn yêu cầu cơ quan THADS ra quyết định thi hành án…Theo đó, nhìn một cách tổng thể thì có thể thấy thủ tục THADS theo Pháp lệnh này còn mang tính phức tạp, nhiều thủ tục kéo dài và tốn kém
Ngoài ra, trong thời gian này Nhà nước còn ban hành BLTTDS trong đó
có quy định một số vấn đề về THADS Tuy nhiên, các quy định của BLTTDS chỉ mang tính nguyên tắc nên không có quy định cụ thể về thủ tục THADS
Trang 381.2.4 Giai đoạn từ năm 2008 đến nay
Nhằm kế thừa và luật hóa các quy định của các văn bản pháp luật về THADS trước đây, đặc biệt Pháp lệnh THADS và các văn bản hướng dẫn thi hành Pháp lệnh này, đồng thời xây dựng những quy định mới trên cơ sở tổng kết thực tiễn THADS của nước ta qua các thời kỳ, cũng như tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm của nước ngoài phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, ngày 14/11/2008 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 đã chính thức thông qua Luật THADS và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2009 Thủ tục THADS được quy định cụ thể tại Chương 3 Luật THADS và hướng dẫn tại Nghị định 58/2009/NĐ-CP ngày 13/07/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật THADS (Nghị định 58/2009/NĐ-CP)
Với những quy định mang tính chất đột phá, trong Luật THADS có nhiều quy định mới về trình tự, thủ tục THADS với 39 điều luật nhằm đảm bảo tính cụ thể, đầy đủ hơn nữa trong các quy định phá bỏ nhiều hàng rào cản
về thủ tục theo hướng có lợi cho dân Ví dụ: Pháp lệnh THADS năm 2004 quy định thời hiệu thi hành án là 3 năm kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa
án có hiệu lực pháp luật thì nay Luật THADS đã mở rộng thời hiệu yêu cầu thi hành án lên 5 năm bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật; quy định rõ thứ tự thanh toán tiền thi hành án; quy định rút ngắn thời hạn tự nguyện thi hành án
Việc ban hành Luật THADS nhằm thay thế cho Pháp lệnh THADS năm 2004 đã thực sự khẳng định giá trị hiệu lực pháp lý của các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực THADS Đồng thời, khắc phục được những thủ tục rườm rà, phức tạp, kéo dài và tốn kém mà Pháp lệnh THADS năm 2004 đã quy định Có thể khẳng định đây là văn bản chuyên ngành đầu tiên về THADS có hiệu lực pháp lý cao nhất Công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay đòi hỏi hệ thống pháp luật phải ngày càng được hoàn thiện, có tính pháp điển cao, trong đó thi hành án là một
Trang 39vấn đề hết sức hệ trọng, liên quan trực tiếp đến hiệu lực và hiệu quả của công tác quản lý nhà nước, đến trật tự kỷ cương pháp luật và ảnh hưởng sâu sắc đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, Luật THADS ra đời đã đáp ứng yêu cầu thực tiễn hiện nay
Như vậy, nhìn một cách tổng thể và khái quát lại đã cho thấy Đảng và Nhà nước ta đã và đang ngày một hoàn thiện pháp luật về thủ tục THADS, nhằm tạo hành lang pháp lý cho quá trình tổ chức, thực hiện THADS, giúp cho việc vận dụng pháp luật cũng được linh hoạt và đơn giản hơn các giai đoạn trước, bảo vệ được quyền và lợi ích cho người dân Tuy nhiên, các quy định hiện nay về THADS vẫn còn những hạn chế nhất định, chưa có sự thống nhất cao với các luật chuyên ngành khác nên việc thi hành chúng không tránh khỏi những hạn chế Để nâng cao hiệu quả của công tác THADS và tiếp tục thực hiện chủ trương cải cách tư pháp Đảng đã đề ra chúng ta vẫn phải tiếp tục bổ sung, sửa đổi hoàn thiện các quy định của pháp luật THADS hiện hành
Tựu chung lại, công tác thi hành án nói chung và công tác THADS nói riêng đang trở thành vấn đề vô cùng bức xúc trong giai đoạn hiện nay Vấn đề đẩy mạnh công tác THADS là một trong những chiến lược đã được đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đề ra Để góp phần thực hiện chủ chương này, trước hết về lý luận đòi hỏi phải nghiên cứu, tổng kết đánh giá toàn diện về công tác THADS THADS có một ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với quá trình giải quyết vụ án của Toà án, nó củng cố kết quả công tác xét xử, đảm bảo hiệu lực của bản án, quyết định về phần dân sự của Toà án bảo vệ lơi ích của Nhà nước, của tập thể các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân góp phần củng cố pháp chế xã hội chủ nghĩa Qua công tác thi hành án Toà án có điều kiện kiểm tra lại đường lối xét xử của mình đối với từng vụ án cụ thể trên cơ sở đó tổng kết kinh nghiệm nâng cao chất lượng công tác xét xử Nâng cao hiệu quả của việc thi hành bản án, quyết định vừa là nhiệm vụ trước mắt
và lâu dài của công tác THADS
Trang 40Chương 2
NỘI DUNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ NĂM 2008
VỀ THỦ TỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Thủ tục THADS được thực hiện theo phương thức: Thủ tục thi hành
án trong trường hợp các đương sự thỏa thuận được việc thi hành án, thủ tục thi hành án theo đơn yêu cầu thi hành án và thủ tục cơ quan thi hành án chủ động thi hành án Thủ tục THADS theo đơn yêu cầu bao gồm nhiều thủ tục khác nhau: Thủ tục cấp bản án, chuyển giao, giải thích bản án, quyết định; thủ tục yêu cầu thi hành án, nhận đơn yêu cầu thi hành và ra quyết định thi hành án; thủ tục trả lại đơn yêu cầu thi hành án và thủ tục kết thúc thi hành án Thủ tục cơ quan thi hành án chủ động thi hành án về cơ bản vẫn tương tự như thủ tục thi hành án theo đơn yêu cầu thi hành án, tuy nhiên có một số điểm khác biệt như cơ quan thi hành án chủ động ra quyết định thi hành án, chủ động xác minh thi hành án mà không cần có yêu cầu của đương sự
2.1 THỦ TỤC CẤP, CHUYỂN GIAO VÀ GIẢI THÍCH BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH 2.1.1 Thủ tục cấp và chuyển giao bản án, quyết định
Theo Điều 27 Luật THADS thì: "Tòa án đã ra bản án, quyết định được quy định tại Điều 2 của Luật này phải cấp cho đương sự bản án, quyết định có