1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hệ thống kiềm chế đối trọng trong hiến pháp mỹ

106 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 11,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhờ có sự tác động của hệ thống kiểm chế đối trọng mà có được thế cân bằng quyền lực giữa các cơ quan thực hiện chức năng lập pháp, hành pháp, tư pháp, bảo đảm không có cơ quan nào nắm t

Trang 1

iỉỌ GIAO DỰC V/ LT Pír: ' p

- y * ờ G Đ ; r HA i ộ c

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Tư PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

TRẦN THỊ HIỂN

ĐỀ TÀI

HỆ THỐNG KIỂM CHẾ ĐỐI TRỌNG TRONG HIẾN PHÁP MỸ

Chuyên ngành : LUẬT HIẾN PHÁP

Mã s ô : 50501

LUÂN ÁN THAC SỸ LUÂT HOC

Người hướng dẫn khoa học : PTS QlạiLụẪn <Dvutjạ.

-HÀ

Trang 3

NỘ11998-Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và xin trân trọng cảm ơn tất cả các thầy, cô giáo, gia đình, bạn

bè và đồng nghiệp đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo và tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành bản luận án này Trong đổ, đặc biệt là :

- PTS Luật Nguyễn Đăng Dung - Phó Chủ nhiệm khoa Luật trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn.

- PGS-PTS Lê Minh Tâm - Quyền Hiệu trưởng trường Đại học Luật Hà Nội.

- PTS Lê Minh Thông - Phó Viện trưởng Viện

nghiên cứu Nhà nước - pháp luật Trung tâm khoa học xã hội và nhản văn.

- PTS Thái Vĩnh Thắng- phó Chủ nhiệm khoa Luật hành chính - Nhà nước trường Đại học Luật Hà Nội.

- PTS Trần Ngọc Đường - Chù nhiệm khoa Nhà

nước và pháp ỉuật, Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.

- Ban Giám hiệu trường Đại học Luật Hà Nội.

- Khoa Hành chính - Nhà nước trường Đại học Luật Hà Nội.

Hà Nội, ngày tháng nám 1998

TÁC GIẢ ĐỀ TÀI

£7vần £7hi '3ôlền

Trang 4

MỤC LỤC • «

LỜI NÓI ĐẮU Trang 01

CHƯƠNG 1 KHÁI NIỆM KIỀM CHẾ ĐỐI TRỌNG, sự XUẤT HIỆN HỆ

THỐNG KIỂM CHẾĐỐI TRỌNG TRONG HIẾN PHÁP MỸ

Trang 04

1.1 Khái niêm kiềm chế đối trọng Trang 04

1.2 Sự xuất hiên hê thống kiểm chế đối trọng ưong

2.1 Kiểm chế đối trọng giữa lập pháp - hành pháp Trang 22

2.2 Kiểm chế đối trọng giữa lập pháp và tư pháp Trang 52

2.3 Kiểm chế.đối trọng giữa hành pháp - tư pháp Trang 67

2.4 Những biểu hiện khác của hệ thống kiểm chế

đối ưọng ưong Hiến pháp Mỹ

Trang 74

2.4.1 Mối quan hệ giữa Hạ Nghị viện và Thượng nghị

viên

Trang 74

2.4.2 Mối quan hẹ giữa liên bang và tiểu bang Trang 81

2.5 Ảnh hưởng của các đảng phái chính trị đến việc

thực hiện kiềm chế đối trọng ò Mỹ

Trang 90

Trang 5

LỜI NÓI ĐẨU

Việt Nam đang thực hiện sự nghiệp đổi mới trong một hoàn cảnh quốc tế biến động mạnh mẽ Với phương châm mở rộng giao lưu Quốc tế, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa v m ngày 27/7/1991 Tổng Bí thư Đỗ Mười

đã phát biểu "Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nơóc trong cộng đổng thế giới"

Đât nước Hoa Kỳ với 50 bang làm thành một dải đất kéo dài từ Đại Tây Dương đến Thái Bìnii Dương Hoa kỳ là một nưđc phát triển, có vai trò quan trọng trên trường Quốc tế Hiến pháp Hoa Kỳ là bản Hiến pháp ra đời sớm nhất trên thế giói Hcm 200 năm qua nó vẫn đang tồn tại, vẫn có hiệu lực Hiến pháp Hoa Kỳ cùng với hệ thống kiểm chế đối trọng đã là một sự kiện quan trọng trong quá trình đấu tranh giành quyền dân chủ của nhân dân thế giới Quá trình đấu tranii giành độc lập của nhân dân Mỹ, ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến sự hình thành Hiến pháp Mỹ Điểm nổi bật có thể nhận thấy ngay đó là tính thoả hiệp, sự khẳng định quyển tư hữu và thiết lập một Nhà nước tư sản đủ mạnh để đàn áp sự chống đối của bất cứ số đông nào Trải qua bao biến động xã hội có tính chất quốc nội và quốc tế, Hiến pháp

Mỹ vản tổn tại, mặt trái của điều này thể hiện sự thống trị lâu dài của giai cấp tư sản Mỹ Tuy nhiên chúng ta cũng phải thừa nhận sự sáng suốt của các nhà lập Hiến Hoa Kỳ cùng trình độ pháp lý của họ, thừa nhận những điểm hợp lý, hợp quy luật làm cho nó có thể tồn tại lâu dài và đã là cơ sở pháp lý quan trọng cho tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước Mỹ Chúng ta tìm hiểu Hiến pháp Mỹ để nâng cao kiến thức pháp lý và để hiểu rõ hơn về một nước Mỹ quá khứ và hiện tại

Với mong muốn tìm hiểu sâu hơn về Hiến pháp Mỹ, nhất là về khía cạnh tổ chức thực hiện quyền lực Nhà nưỚG và cơ chế kiểm soát quyền lực

hy vọng có thể góp một phần nhỏ bé vào việc đổi mới tổ chức bộ máy Nhà nước ta nhằm nàng cao hiệu quả quản lý Nhà nước và phục vụ chính sách neoại giao của Nhà nước ta Tôi mạnh dạn chọn đề tài "Hệ thống kiềm chế đối trọng trong Hiến pháp Mỹ" làm đề tài luận án Thạc sỹ của mình

Trang 6

* Mục đích của luận án :

- Trình bày có tính hệ thống những vấn đề cơ bản nhất của kiềm chế

đối trọng như khái niệm, nguyên nhân xuất hiện, nội dung biểu hiện cụ thể của hệ thống kiềm chế đối trọng trong Hiến pháp Mỹ

- Phân tích những điểm tích cực, những điểm hạn chế của hệ thống kiềm chế đối trọng trong Hiến pháp Mỹ Qua đó rút ra những điểm hợp lý của hệ thống kiềm chế đối trọng, có thể vận dụng ở Việt Nam

- Nêu ra một số kiến nghị qua quá trình nghiên cứu viết luận án, với mong muốn góp phần hoàn thiện bộ máy Nhà nước

* Phương pháp nghiên cứu :

Phương pháp nghiên cứu có tính chất chủ đạo và nền tảng của luận án

là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác -

Lê Nin, kết hợp với phương pháp hệ thống hoá, phương pháp so sánh, diễn giải và quy nạp

* Đối tượng và phạm vi nghiên cứu :

Đối tượng nghiên cứu của Luận án là hệ thống kiềm chế đối trọng trong Hiến pháp Mỹ

Phạm vi nghiên cứu của Luận án giới hạn chủ yếu nghiên cứu hệ thống kiềm chế đối trọng trong Hiến pháp Mỹ, song có liên hệ so sánh với kiềm chế đối trọng ở một số nước tư sản khác

* Kết cấu của Luận án.

Ngoài lời nói đầu, kết luận, bảng danh mục tài liệu tham khảo, luận

án gồm hai chương

Chương I : Khái niệm kiềm chế đối trọng Sự xuất hiện hệ thống kiềm

chế đối trọng trong Hiến pháp Mỹ

Trang 7

Chương 2 : Nội dung của Hệ thống kiềm chế đối trọng trong Hiến

pháp Mỹ

Trong quá trình làm đề tài, mặc dù đã có sự cố gắng nỗ lực lớn, song bản luận án không thể tránh khỏi những điểm hạn chế, thiếu sót nhất định, tôi rất mong có được sự chỉ bảo của các thầy cô và đổng nghiệp để có kết quả tốt hơn

Trang 8

HỆ THỐNG KIỂM CHẾ Đ ố i TRỌNG TRONG H Ế N PHÁP MỸ

CHƯƠNG I

KHÁI NIỆM KIỂM CHẾ Đ ố i TRỌNG, s ự XUẤT HIỆN

HỆ THỐNG KIỂM CHẾ Đ ố i TRỌNG TRONG HIẾN PHÁP MỸ

1.1 KHÁI NIỆM KIỂM CHẾ ĐỐI TRỌNG :

Khi tìm hiểu về nhà nước, một trong những vấn đề được đặt lên hàng đầu đó là : Cách thức tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước Vấn đề quyền lực Nhà nước luôn là vấn đề cần thiết Nhưng vấn đề kiểm soát quyền lực cũng cần thiết không kém Một nhà nước dù được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập quyền hay nguyên tắc phân quyền thì nguy cơ lạm dụng quyền lực vận luôn có thể xảy ra, nếu không có một sự kiểm soát, chế ngự hợp lý lẫn nhau giữa các cơ quan công quyền Có thể nói : Kiểm chế đối trọng là cơ chế kiểm soát, chế ngự lẫn nhau để ngán chặn sự lạm quyền hay lấn át quyền và duy trì thế cân bằng giữa các cơ quan thực thi quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp của Nhà nước tư sản

Nhà nước luôn là đại diện chính thức cho toàn quốc gia trong tất cả các mối quan hệ đối nội, đối ngoại, Nhà nước lại có pháp luật và cả bộ máy bạo lực để đảm bảo cho nó là tổ chức giữ vị trí trung tâm trong cơ chế thực hiện quyền lực chính trị Nhà nước có cơ sở xã hội và phạm vi tác động rộng lớn nhất, đổng thời là chủ thể thực hiện quyền lực, nên nhà nước có thể buộc các giai cấp, các tầng lớp xã hội phải phục tùng ý chí của mình Quyền lực nhà nước được hiểu là sức mạnh của nhà nước Với sức mạnh này, nhà nước

có thể buộc các thành viên trong xã hội phải phục tùng ý chí của mình

Hiện nay đa số các nhà nước đều tuyên bố trong hiến pháp của mình : Quyền lực nhà nước được thực hiện nhân danh nhân dân và đại diện cho lợi ích của toàn xã hội Song thực tế quyển lực nhà nước xét về bản chất giai cấp, chủ yếu là quyền lực của giai cấp thống trị và một phần là quyền lực xã hội ở một mức độ nhất định quyền lực nhà nước cũng chịu ảnh hưởng từ

Trang 9

phía các lực lượng xã hội, tổ chức xã hội Do vậy, nhà nước hoạt động trước hết vì lợi ích của một giai cấp hay một liên minh giai cấp nhất định, ngoài ra

nó còn phải tính đến lợi ích của các tầng lớp khác trong xã hội Ngoài chức nàng chấn áp, nhà nước còn phải thực hiện chức năng xã hội, tức là Nhà nước phải thực hiện những hoạt động nhằm bảo đảm trật tự an toàn và trật tự

xã hội, bảo vệ lợi ích chung của cả cộng đổng Muốn cho quyền lực Nhà nước được thực hiện một cách có hiệu quả, phải tìm cho nó một cơ chế vận hành phù hợp

Kiềm chế đối trọng là một nguyên tắc căn bản trong tổ chức thực hiên quyền lực Nhà nước tư sản Nhờ có sự tác động của hệ thống kiểm chế đối trọng mà có được thế cân bằng quyền lực giữa các cơ quan thực hiện chức năng lập pháp, hành pháp, tư pháp, bảo đảm không có cơ quan nào nắm trọn vẹn quyền lực Nhà nước trong tay mình, lấn át hoặc chi phối hoàn toàn hoạt động của các cơ quan khác, đồng thời không có cơ quan nào nằm ngoài sự giám sát, kiểm tra từ phm cơ quan khác Quyên lực Nhà nước và quyền lực của từng cơ quan đều bị hạn chế trong một phạm vi nhất định.

Tất nhiên, hệ thống kiềm chế đối trọng không thể có được trong Nhà nước phong kiến, khi mà mọi quyền lực Nhà nước tập trung trong tay một người đó là một Ông Vua hay một Nữ hoàng Quyền lực Nhà nước được coi

là thẩm quyền và được chiếm giữ theo nguyên tắc thế tập Vua tự mình đặt

ra luật lệ, tự mình tổ chức và thực hiện luật lệ đó đổng thời cũng là người phán xét tối cao để bảo vệ pháp luật Vua là tất cả, Vua là đức tối cao khi đó mọi người không thể nghĩ đến việc kiểm tra xem đức tối cao đó làm đúng hay sai Theo Montesquiew : Mọi tự do sẽ biến hết cả nếu chính một nguời hay một tập đoàn các thân hào, quý tộc hay bình dân hành xử cả 3 quyền làm Luật, thi hành Luật và xét xử

Hệ thống kiềm chế đối trọng chỉ có thể có được khi quyền lực Nhà nước được phân chia hay phân công thành 3 quyền năng : lập pháp, hành pháp, tư pháp tức là khi Nhà nước tư sản ra đời Sự phân chia hay phần công này nhằm mục đích chống sự độc tài trong thực hiện quyển lực Nhà nước, qua đó đảm bảo được quyền tự do của công dân Song điều đó cũng chỉ có

Trang 10

ý nghĩa thực sự khi đảm bảo được tính độc lập và vị trí ngang bằng của ba loại quyền năng lập pháp, hành pháp, tư pháp Bởi vì : "Khi mà quyền lập pháp và hành pháp nhập lại trong tay một người hay một viên Nguyên lão thì sẽ không còn gì là tự do nữa, vì người ta sợ rằng chính ông ta hay viện

ấy chỉ đặt ra luật độc tài để thi hành một cách độc tài

Cũng không có gì là tự do nếu quyền tư pháp không tách khỏi quyền lập pháp và quyền hành pháp Nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền lập pháp thì người ta sẽ độc đoán đối với quyền sống và quyển tự do của công dần, quan toà sẽ là người đặt ra Luật Nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền

hành pháp thì ông quan toà sẽ có cả sức mạnh của kẻ đàn áp" (ỉ)

Muốri đảm bảo được tính độc lập và vị trí ngang bằng của các quyền năng lập pháp, hành pháp, tư pháp thì không thổ không có sự chuyên môn hoá của các công quyền, tức là mỗi cơ quan công quyển chỉ đảm nhận một chức năng của riêng mình, không xầm lấn sang Gnh vực hoạt động của các

cơ quan Nhà nước khác Hiện nay đa số các Nhà nước hiện đại đều có sự phân công : Quốc hội (Nghị viện) đảm nhận chức năng lập pháp; Chính phủ (nội các) đảm nhận chức năng hành pháp và Toà án đảm nhận chức năng xét

xử Song nếu chỉ dừng ờ việc chuyên môn hóa các công quyền đảm bảo tính

độc lập của mỗi quyền mà giữa các cơ quan công quyền không có sự chế ước lẫn nhau, kiềm chế lẫn nhau thì quyền lực Nhà nước ngay lập tức sẽ bị phân tán và không có khả năng thực hiện được Chính vì vậy, mỗi cơ quan công quyền cần có một phương tiện tương xứng để có thể kiểm tra, chế ước hoạt động của nhau hay nói cách khác các cơ quan công quyền phải được tồn tại trong một hệ thống kiềm chế đuợc Hiến pháp ghi nhận

Một điểm nữa cần phải nói đến đó là ở Nhà nước phân quyền chính cơ chế kiềm chế đối trọng đã là sợi dây liên kết giữa ba quyền : lập pháp, hành pháp, tư pháp làm cho chúng không biệt lập, phân tán mà tổn tại thế cân bằng trong một quyền lực thống nhất là quyền lực Nhà nước

( ỉ ) Trích : Tinh thần pháp luật -Montesquieu trang 100 -101 NXB Giáo dục

ỉ 996.

Trang 11

Như vậy còn có thể hiểu : kiềm chế là sự can thiệp vừa đủ vào tổ chức và hoạt động của nhau giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp

để các cơ quan này "đủ sợ" mà làm tốt hơn chức năng nhiệm vụ của mình Song sự can thiệp đó phải giữ ở mức không làm mất đi tính độc lập tương đối của từng cơ quan Còn đối trọng là sự tương xứng, cân bằng về quyền lực giữa các cơ quan công quyền cấp cao, có được từ các phương tiện kiềm chế Kiềm chế và đối trọng là hai yếu tố không thể tách rời trong tổ chức và hoạt động của những Nhà nước áp dụng nguyên tắc tam quyển phân lập

Các nước khác nhau có sự quy định khác nhau về mức độ can thiệp vào tổ chức và hoạt đông của nhau giữa các cơ quan công quyền, ví dụ : cơ quan lập pháp có thể can thiệp vào việc tổ chức bộ máy hành pháp thông qua việc lựa chọn các thành viên của Chính phủ hoặc phê chuẩn sự lụa chọn

ấy Còn đối vói hoạt động của Chính phủ, Quốc hội có thể kiềm chế thông qua việc bày tỏ ý kiến của mình với Chính phủ Quốc hội có thể kiểm tra, giám sát hoạt động của Chính phủ thông qua hoạt động của các ủy ban điểu tra của Quốc hội, qua việc chất vấn các thành viên của Chính phủ hoặc yêu cầu các thành viên của Chính phủ phải điểu trần trước Quốc hội vể một vấh

đề nào đó

Sự kiềm chế đối trọng của Chính phủ đối với Quốc hội thể hiện qua hoạt động như : triệu tập hoặc bế mạc các khoá họp của Quốc hội, có thể thiết lập Nghị trình của Quốc hội, đề nghị các vấn đề mà Quốc hội sẽ thảo luận hoặc quyết đinh, có thể yêu cầu Quốc hội thảo luận lại một lần nữa đạo luật mà Quốc hội đã thông qua, có thể phủ quyết tuyệt đối hoặc hạn chế đối với các đạo luật mà Quốc hội đã thông qua, có thể ban hành hay không ban hành các đạo luật của Quốc hội Thậm chí có trường hợp Chính phủ có thể giải tán Quốc hội trước thời hạn

Sự kiềm chế của Toà án đối với Quốc hội thể hiện ờ chỗ Toà án có thể

kiểm soát tính hợp hiến của các đạo luật thường của Quốc hội, nếu Toà án tuyên bố một đạo luật nào đó là bất hợp hiến thì đương nhiên đạo luật đó sẽ

vô hiệu vì toà án sẽ không áp dụng nó Ngược lại sự kiềm chế của Quốc hội

Trang 12

đối với Tòa án có thể thông qua việc Quốc hội là cơ quan tối cao, xét xử những vụ án đặc biệt

ở những Nhà nước liên bang, kiểm chế đối trọng còn có thể thể hiện trong mối liên hệ giữa liên bang và tiểu bang

Tựu chung lại kiềm chế đối trọng được hiểu là một nguyên tắc hoạt động của bộ máy Nhà nước Tư sản, nhằm mục đích ngăn chặn sự lạm dụng quyền lực Nhà nước, trong đó mỗi cơ quan đều có một phương tiện tương

xứng để kiểm tra hoạt động của nhau, tạo ra sự độc lập tương đối, cần thiết

từ đó duy trĩ thế cân bằng về quyền lực Nhà nước giữa các cơ quan công quyền

Tất cả các Nhà nước hiện tại đều có sử dụng những biện pháp nhằm ngăn chặn lạm quyền, tuy nhiên mỗi nước quy định một khác nhau, tùy thuộc vào đặc điểm riêng của hình thức chính thể, của tình hình chính trị -

xã hội hay phong tục tập quán của mỗi nước Phần tiếp theo của bản Luận

án này sẽ đi sâu tìm hiểu hê thống kiểm chế đối trọng của Nhà nước Mỹ - Một Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc phân quyền cứng rắn

Trong luận án vấn đề kiềm chế đối trọng trong Hiến pháp Mỹ được nghiên cứu dưới góc độ : "Hệ thống kiềm chế đối trọng" tức là đi sâu tìm hiểu tổng thể các quy phạm Hiến pháp quy định một cách lôgic, có hệ thống

về kiềm chế đối trọng cùng với cơ chế, cách thức vận hành của nó

1.2 SỤ XUẤT HIỆN HỆ THỐNG KIỀM CHẾ ĐỐI TRỌNG TRONG HIẾN PHÁP MỸ

Tư tưởng lập hiến của những nhà Lập hiến Hoa Kỳ như : George Washington, Alexander Hamilton, James Madison, John Jay đã chịu ảnh hưởng của những yếu tố lịch sử, kinh tế, ván hoá, chính trị - xã hội của thời

kỳ lập quốc, và cũng chính những yếu tố này đã là những yếu tố gổp phần làm nên bản Hiến pháp đầu tiên trên thế giới mà giá trị của nó vẫn nguyên vẹn đến hôm nay Nói đến Hiến pháp Mỹ, người ta không thể không nói đến

hệ thống kiềm chế đối trọng, bởi vì nó là một trong những giá trị của Hiến pháp Mỹ Những yếu tố lịch sử kinh tế, văn hoá, chính trị - xã hội thời lập

Trang 13

quốc cũng đã là những nguyên nhân làm xuất hiện hộ thống kiềm chế đối trọng trong Hiến pháp Mỹ.

Vùng đất Châu Mỹ là Hợp chủng quốc Hoa Kỳ ngày nay, xưa kia vốn

là nơi sinh sống của những bộ tộc người da đỏ mà tổ tiên của họ đã từ miền Đông á tói khoảng 25.000 năm trước đây Vùng đất Châu Mỹ được khám phá vào thế kỷ 15 Người Tây Ban Nha đã là những di dân châu Âu đầu tiên đặt chân lên đất nước sẽ là Hoa Kỳ sau này Sau đó có thêm các di dân người Pháp, người Hà Lan, người Thuỵ Điển và đặc biệt là cuộc di dân ổ ạt của người Anh vào những năm đầu của thế kỷ xvn.

Người châu Âu di dân sang Mỹ với nhiều nguyên do khác nhau trong

đó có cả lỹ do, do mạo hiểm mong muốn tìm được sự giàu có ở vùng đất mới này hoặc do tránh nạn thanh trừng giữa các tôn giáo Theo nhà tư tưởng

tư sản R.L.Bruck Berger trong cuốn nền Cộng hoà Mỹ (La Republique Americaine) thì cuộc di dân của người Anh sang Mỹ là hậu quả của mối bất hoà về tôn giáo giữa Anh Hoàng và tín đổ Thanh giáo Phía nhà Vua không tán thành thuyết tự do sát tín trong tôn giáo Thể hiện rõ nét ttong tuyên bố

Jacques đệ nhất (1603 - 1625) "không có giám mục, không có vua nếu đó là

chương trình của giáo các người, thì ta sẽ buộc phải chịu theo ý ta hoặc đuổi

các người ra khỏi xứ" (I) Vì vậy các tín đổ này đã di cư qua Hà Lan sang

Mỹ Nói chung tất cả những người dân di cư sang Mỹ dù vì bất kỳ nguyên

do nào, cũng đều có thái độ chán ngán lục địa châu Âu cả về mặt kinh tế và

tư tưởng, họ chán nền cai trị của vua chúa cùng với những trật tự phong kiến Châu Âu Đây cũng là một trong những căn nguyên cơ bản tác động đến tư tưởng độc lập của Mỹ quốc sau này và nó cũng là cơ sở cho sự hình thành tư tưởng cộng hoà dân chủ ở Mỹ

Cư dân của vùng đất châu Mỹ ngày càng tăng về số lượng Chẳng ai nghi ngờ về vấn đề : "Thế giới mới thuộc quyền vị lãnh đạo quốc gia có đoàn người thám hiểm mang cờ của quốc gia mình đặt chân tới, không cần

có sự đồng ý của những người da đỏ "man rợ" đang sống ở đây Trên vùng

(ỉ) : Xem BrucKberger R.L Nền Cộng hoà Mỹ quốc - Sài Gòn.

Trang 14

đất châu Mỹ này đã diễn ra những cuộc tàn sát đẫm máu giữa người da trắng và người da đỏ (đặc biệt là giữa người da đỏ và người Pháp) Thêm vào

đó là cuộc chiến tranh, ữanh giành thuộc địa giữa người Anh và người Pháp trên đất Bắc Mỹ được biểu hiện bằng các cuộc chiến tranh kéo dài trong suốt hơn 70 năm, bắt đầu từ năm 1689 Ngày 10.2.17Ố3 Pháp buộc phải ký hiệp ước Paris kết thúc cuộc chiến tranh đế quốc giữa Anh và Pháp trên đất Bắc Mỹ Quyển kiểm soát các thuộc địa đã hoàn toàn thuộc vế Anh Quốc" (1)

Trong những năm hậu chiến đẩy biến cố kể từ năm 1763 - 13 thuộc địa của Anh tại Mỹ châu liên kết rất chặt chẽ với Mẫu quốc Mối liên hệ này

có được là do luật pháp của Anh Hoàng Mặt khác cũng còn do nguyên nhân là vì dân thuộc địa tại Mỹ phần lớn là di dân người Anh Thời kỳ này các thuộc địa vẫn còn tách biệt nhau, không có mối liên hệ với nhau 13

thuộc địa còn theo các quy chế pháp lý khác nhau : hoặc nhà vua chỉ định

các thống đốc cho thuộc địa hoặc là thuộc địa theo kiểu ân chiếu, nhưng đều có đặc điểm chung là các thuộc địa đều thực hiện chế độ đại biểu giành được quyền tự trị nhất đinh kết hợp với việc phục tùng mẫu quốc

Ngay trong bối cảnh lịch sử đó thì ờ một vài nơi tại các thuộc địa đã

có những cá nhân bắt đầu quan niệm mình là nnhững người Mỹ, có cá tínhriêng biệt của người Mỹ và họ có ý tưởng sau này sẽ thống nhất 13 bang thuộc địa đó trong một quốc gia độc nhất, ý tưởng đó ngày càng rõ nét trong những năm rối loạn sau 1770

Nghị viện Anh ra đời Đây là một sự kiện lịch sử đáng ghi nhận, sợ kiện này đem lại quyền tự do dân chủ cho dân chúng, chống lại sự độc tài

của Nhà vua Sự kiện lớn lao này đã vượt khỏi biên giới Anh quốc và những

người dân thuộc địa ở Mỹ cũng biết đến Dân thuộc địa Mỹ bất bình vì bị

chi phối về kinh tế, bị từ chối về sự bình đẳng họ đòi có đại diện ờ Nghị

viện Anh - điều mà Nghị viện Anh không thể chấp nhận ở thời điểm ấy, bởi

( ỉ ) Xem Lịch sử nước Mỹ Bản dịch của Lê Minh Đức, Nguyễn Nghị Nhà xuất bản Thông tin văn hoá 1994.

Trang 15

vì Anh Hoàng có rất nhiều thuộc địa, nếu mỗi thuộc địa đểu có đại diện ở

Nghị viện thì nước Anh sẽ trở thành thiểu số trong chính Nghị viện của họ Thời đó xuất hiện tư tưởng cho rằng "nếu cho người Anh ở Mỹ quyền đại diện trong Nghị viện tức là một hội nghị gổm những người phiêu lưu đã

mang theo quyền lập pháp của Anh quốc" (1) Sự khước từ không chấp nhận

cho dân thuộc địa có quyền tham gia vào Nghị viện lập pháp cũng chính là nguyên nhân đản đến nổi dậy chống lại nền cai trị của người Anh

Sự mâu thuẫn giữa chính quốc và thuộc địa ngày càng trò nên gay gắt

Sự mâu thuẫn này cũng có những nét đặc thù riêng, đó là mâu thuẫn giữa những người cùng mang dòng máu Anh, họ dễ gần nhau hơn bởi tính truyền thống và văn hoá có nhiều điểm tương đồng nhưng cũng khó gần nhau bởi

vì sự ra đi cũng là sự đoạn tuyệt với chính quốc Thêm vào đó là những mâu thuẫn về kinh tế Dân chúng khắp các thuộc địa nổi dậy chống lại chế độ chính sách thuế của Anh quốc và nhất là chống lại lệnh cấm các thuộc địa phát hành tiền giấy Người dân thuộc địa cho rằng họ là người khai phá lục

địa, họ phải được toàn quyền quyết định Địa vị của họ và của người Anh ờ

chính quốc là ngang nhau, họ không thể bị người Anh ở chính quốc cai trị.

Yếu tố quan trọng nhất để tạo nên khoảng cách mỗi ngày một lớn

giữa chính quốc và các thuộc địa đố là sự phổ biến một cách hết sức rộng rãi

tại các thuộc địa các tư tưởng và học thuyết cộng hoà đối lập với tất cả mọi hình thức độc tài và độc đoán của chủ nghĩa quân chủ Đặc biệt là tư tưởng

về Nhà nước của John Locke và Montesquieu Một sự kiện trọng đại đáng được ghi nhận trong lịch sử nước Mỹ đã xảy ra, đó là ngày mùng 4 tháng 7 năm 1776 bản tuyên ngôn độc lập Mỹ đã được tuyên bố Bản tuyên ngôn độc lập tố cáo sự lạm dụng độc đoán của Quốc Vương George Đệ tam, tố cáo các cấm đoán mà Quốc vương áp dụng đối với dân thuộc địa, điều này chứng tỏ các tác giả của bản tuyên ngôn độc lập (cũng là các nhà lập hiến Hoa Kỳ sau này) đã bị ảnh hưởng của các học thuyết phân quyền Các điều khoản của hợp bang được thông qua một cách khó khăn vào năm 1777 và được phê chuẩn càng khó khăn hơn vào năm 1782 Đây là một cố gắng vô

(1) : Xem BrucKberger R.L Nền Cộng hoà Mỹ quốc - Sài Gòn

Trang 16

cùng lớn lao của các thuộc địa Mỹ trên con đường đi tới một chính quyển trung ương.

Sau khi giành độc lập, Mỹ đã có điều kiện để phát triển Giai cấp tư sản cần củng cố vai trò thống trị của mình chế độ hiệp bang tỏ ra không còn phù hợp nữa nên đã nảy sinh tư tưởng xây dựng một liên bang vững mạnh vì những mục đích sau :

Thứ nhất : Tổ chức một chính quyền trang ương có quyển hạn đủ

mạnh để bảo vệ quyền lợi của giai cấp tư sản, cụ thể là thiết lập một chế độ tiền tệ thống nhất, thủ tiêu sự hạn chế lưu thông hàng hoá, thực hiện chế độ thuế quan, bảo hộ hàng hóa bản xứ, làm cho sản phẩm của Mỹ có thể cạnh tranh vói các nước khác

Thứ hai : Sau chiến tranh thắng lợi, giai cấp tư sản cầm quyển nghĩ

đến việc phải bảo vệ quyền lợi giai cấp mình, hạn chế quyền lợi của các giai cấp khác Chế độ Hiệp bang hiện hữu không đủ manh để dẹp "phiến loạn” Giai cấp tư sản cần một chính quyền trung ương đủ mạnh để bảo vệ sợ thống trị của mình

Thứ ba: Đối với các bang ở Mỹ tình trạng Hiệp bang là một điều kiện

để thực dân Anh lợi dụng mâu thuẫn giữa các bang mà tiến hành mua chuộc, chia rẽ nhằm mục đích cai trị trên toàn lục địa Điều đó rất có hại

cho giai cấp tư sản Mỹ bởi chính họ cũng đang mong muốn mở rộng kinh tế

của mình trên toàn lục địa và củng cố vai trò của Mỹ trên thế giới

Ngày 27 tháng 5 năm 1787 dưói danh nghĩa là sửa đổi bản Điểu lệ

của Hiệp bang Hội nghị các bang đã họp ở Philadelphia xóa bỏ bản điều lệ

hợp bang và dự thảo một bản Hiến pháp mới Các bang đẵ chọn những

người có khả năng nhất để đại diện cho mình ờ Hội nghị Đa số đại diện là ở

tầng lớp giàu có trong xã hội nên tư tưởng nhiều khi bảo thủ Nói như thế

không có nghĩa là những người tham dự hội nghị ở Philadelphia đều là

những người phản động Họ là những người ôn hòa biết lắng nghe dư luận chung và không muốn đưa vào Hiến pháp một điều khoản nào trực tiếp đi ngược lại các nguyện vọng của quần chúng Theo Sorgin - Một giáo sư

Trang 17

người Mỹ thì "những ông tổ sáng lập Hoa Kỳ là những nhà hoạt động chính trị giàu kinh nghiệm và sáng suốt, biết chế ngự những tư tưởng bảo thủ mà

chắc chắn sẽ không được đa số cử tri ủng hộ" (1) "Hiến pháp Hoa Kỳ là

sự thỏa hiệp giữa các nhóm này vối toàn thể cử tri" (2) Chính điểu này là

nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự hình thành hệ thống kiềm chế đối trọng trong Hiến pháp Mỹ vì dù muốn hay không, giai cấp tư sản Mỹ đang muốn thủ tiêu chế độ phong kiến thì họ phải tranh thủ sự đồng tình của đông đảo các tầng lớp khác trong xã hội, nhất là tầng lớp nhân dân lao động

"Trong thời tiền cách mạng Hoa Kỳ, tư tuởng coi Hiến pháp như một văn kiện quan trọng và cơ bản vẫn còn là một tư tưởng xa lạ, thì ở một số người thuộc tầng lớp tư sản cấp tiến đã có ý trông đợi cơ hội để dự thảo ra những bản Hiến pháp cho họ mà không lệ thuộc vào hiến chương của nhà

Vua hay căn cứ vào những tập quán, tập tục Năm 1116 khi Đại hội lục địa

đề nghị thiết lập một hội đổng gồm đại diện của các thuộc địa thì lúc này chưa có một chính quyền thống nhất được thành lập để giải quyết những vấn

đề quan trọng Các tiểu bang được mời ra để thảo luạn những bản Hiến pháp cho riêng họ và sau đó đến bản Tuyên ngôn độc lập Từ một vài tiểu bang cơ bản đầu tiên, các Hiến pháp được lập lên trước hết do những cơ quan lập pháp thường lệ đã được triệu tập vì mục đích lập pháp, từ đây tập tục tổ chức

các hội nghị thảo ra văn kiện cán bản được hình thành" (3).

Bất luận số mệnh của Hiến pháp ra sao đi nữa, tư tưởng bắt buộc phải

có một Hiến pháp là một tư tưởng không thể nào bị xoá nhoà tại Hoa Kỳ Có hai khuynh hướng tư tưởng chính trị vào thời này Những người dân chủ ôn hoà theo Mandison và nhứng người dân chủ cực đoan theo thuyết của Jefferson Đều đồng ý rằng cần phải có một bản Hiến pháp

[(1) (2) : Xem chính trị học tập 1 - NXB Thông tin Khoa học xa hội]

(3) Xem lịch sử của nước Mỹ - sách đã dẫn.

Trang 18

Hiến pháp được quan niệm là cần thiết để giới hạn quyền hành của chính phủ bằng một ván bản pháp luật căn bản, để che chở cho cá nhân Đó

là lập luận của những nhà tư tưởng tư sản Mỹ còn trên thực tế cần phải thấy rằng đây là mục tiêu cuả giai cấp tư sản muốn từng bước đánh đổ giai cấp phong kiến

Các bang giành được độc lập, chính quyền hiện hữu hợp bang không còn hiệu quả nữa, tất yếu dẫn đến một hình thức tổ chức Nhà nước mái và như vậy Hiến pháp 1787 đã ra đời - Hiến pháp của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ

Hiến pháp của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ ra đời trong hoàn cảnh cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản chống giai cấp phong kiến đang trở nên mạnh

mẽ, đồng thời những tư tưởng mới về Nhà nước của Jon Locke và Montesquieu đang được phổ biến rộng rãi Giai cấp tư sản Mỹ đã mạnh dạn đưa ra một hình thức Nhà nước mói mẻ, mang đậm nét dân chủ tư sản

"Hoa kỳ đã thiết lập một hộ thống tổ chức Công quyển về hình thức gần giống Anh quốc, xong các quan niệm dân chủ đối lập lại các nét quan liêu và quân chủ của hệ thống công quyền Anh, làm cho dân được bình

đẳng hơn về mặt chính trị, được đại diện nhiều hơn ờ cơ quan lập pháp tiểu

bang và Liên bang, làm cho địa phương đữợc tự trị nhiều hơn và làm cho con người được tợ do, ít bị chính quyền kiểm soát hơn trước Hoa Kỳ đã hoàn tất Hệ thống này phản ánh một sự dung hoà giữa các ý niệm của Anh

và của Pháp" (1)

Có thể nói rằng thuyết phân quyền của John Locke và Montesquieu

đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến tư tưởng những nhà Lập hiến Hoa Kỳ Học thuyết chính trị - pháp lý vể Nhà nước gắn với tên tuổi John Locke và Montescmieu chống lại sự chuyên chế của chế độ phong kiến, mọi quyển lực NTià nước tập trung vào tay nhà vua

(1) Xem những cuộc nói chưvện về Luật pháp Hoa kỳ Berman J.Harold - Sài Gòn 1968.

Trang 19

Theo quan điểm của các tác giả xây dựng lên thuyết phân quyển thì quyền lực Nhà nước phải được phân chia thành các quyền năng khác nhau

và phải trao cho các cơ quan khác nhau nắm giữ, có như thế mới tránh được chuyên chế độc tài Tư tưởng của Học thuyết phân quyền được các nhà lập Hiến Hoa Kỳ áp dụng triệt để bởi vì thực tế nó đang là vũ khí sắc bén nhất

để đánh vào giai cấp phong kiến

Cũng theo thuyết phân quyền : quyền lực Nhà nước không chỉ được phân chia thành quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp để chuyên môn hoá các quyền mà giữa các cơ quan đảm nhiệm các quyền này phải có

cơ chế kiểm soát lẫn nhau, chế ước lẫn nhau tạo ra thế cân bằng về quyền lực giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp Đây là cơ sở lỷ luận khoa học cho sự hình thành hệ thống kiềm chế đối trọng trong Hiến pháp Mỹ

Cùng với sự phát triển của lịch sử, với sự xuất hiện của chủ nghĩa nhân ván, chủ nghĩa phục hưng cận đại, với yêu cầu đề cao giá trị nhản phẩm, quyền và khả năng của con người thì nhu cầu đòi hỏi dân chủ của tầng lớp bị trị ngày càng cao Những yêu cầu về quyền bình đẳng quyền tự

do và quyền được tham gia vào hoạt động của Nhà nước, của xã hội ngày càng tăng Cuộc cách mạng tư sản đã kết liễu chế độ phong kiến chuyên chế, đồng thời mở ra một thời đại mà tự do dân chủ của công dân được Nhà nước thừa nhận và ít nhiều có sự đảm bảo thực hiện Đứng trứoc xu thế chung của thời đại về nhu cầu đòi quyền tự do, dân chủ của dân chúng, giai cấp tư sản Mỹ không thể quay lại để thiết lập một Nhà nước quân chủ chuyên chế và cũng không thể thiết lập một nhà nước quân chủ đại nghị như Anh quốc bởi nhiều nguyên nhân trong đó có nguyên nhân do sự không thuần chủng của người Mỹ Dân Mỹ là dân di cư từ nhiều nước trong đó phần lớn là dân Anh, xong chính những người Mỹ gốc Anh này cũng muốn khẳng định sự độc lập và không muốn thiết lập một nhà nước giống như Anh quốc - Nơi mà họ đã phải bỏ ra đi

Tiếp thu tư tưởng tiến bộ của thuyết phàn quyền các nhà lập hiến Hoa

Kỳ đã thừa nhận và thể hiện nó trong Hiến pháp Liên bang

Trang 20

Theo quan điểm của các nhà Lập hiến Hoa Kỳ thì sự phân quyển được đặt ra nhằm bảo vệ tự do (của nhân dân cũng như của mỗi ngành quyền lực) Sự hình thành ba loại cơ quan công quyền dựa trên một hệ thống chung, đó là do sự lựa chọn của nhân dân nhưng bằng ba phương pháp khác hẳn nhau Mỗi ngành theo một đường lối riêng biệt, không phụ thuộc nhau Ông Mandison cho rằng :"phương pháp ngăn ngừa sự tập trung nhiều quyền lực trong một bộ hoặc một ngành là giao phó cho mỗi bộ, mỗi ngành những phương tiện được tiên liệu trong Hiến pháp để mỗi bộ, mỗi ngành có thể chống đối lại sự can thiệp, sự xâm lấn của ngành, bô khác Phương tiện chống đối cần phải cần xứng với lực lượng uy hiếp của ngành hoặc bộ đối

phương" (1), "chúng ta cần phải tổ chức cơ cấu của chính quyền theo một hệ

thống khiến cho các ngành các bộ của chính quyển, trong các liên hộ giữa chúng, tự chúng kiểm soát lẫn nhau và duy trì cho nhau được vững vàng’Ỵ2j

Qua đó có thể thấy rằng nguyên tắc phản quyền được coi là một trong những nguyên tắc chính txị pháp lý mà những nhà Lập hiến Hoa Kỳ đã lựa chọn và áp dụng Họ cho rằng Nhà nước Mỹ phải là một Nhà nước Cộng hoà liên bang chứ không thể khác được và Nhà nước phải được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc phân quyển Phân quyền để kiểm soát lẫn nhau

và để giữ mực cân đối Phân quyền và kiềm chế đối trọng là hai yếu tố không thể tách rời, chúng hợp nhất với nhau tạo thành nguyên tắc quan trọng nhất trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước Mỹ, trong đố phân quyền là yếu tố thuộc về tổ chức bộ máy Nhà nước còn kiềm chế đối trọng

là yếu tố thuộc về hoạt động của bộ máy Nhà nước

Sở đĩ các nhà lập Hiến Hoa Kỳ thống nhất đi đến thành lập một Nhà nước Cộng hoà Liên bang bởi vĩ họ nhận định rằng : "Trong một cộng hoà tập trung, dân chúng giao phó quyền hạn cho một chính phủ độc nhất Để ngăn ngừa chính phủ lạm dụng quyền lực mà dân chúng giao phó, chính phủ

phải được chia thành nhiều ngành khác nhau và hoàn toàn riêng biệt, ở Mỹ

[(ỉ), (2) : Xem Luận về Hiến pháp Hoa Kỳ - Sài Gòn - Việt Nam khảo dịch xã]

Trang 21

dân chúng giao phó quyền lực cho hai chính phủ, Chính phủ liên bang và Chính phủ tiểu bang Quyến lực của mỗi Chính phủ cũng được chia thành nhiều ngành nhiều bộ, như vậy ở Mỹ sự ngăn ngừa chính quyền lạm dụng quyền lực được nhân lên gấp hai bởi vì có hai chính phủ kiểm soát lẫn nhau,

và mỗi chính phủ lại tự kiểm soát mình do sự phân chia thành nhiều ngành,

nhiều bộ" (ỉ).

Các nhà lập hiến Hoa Kỳ rất chú trọng đến vấn đề ngăn ngừa sự lạm dụng quyền lực Nhà nước Theo họ "Chính phủ là cái phản chiếu rõ ràng nhất bản tính của loài người Nếu người là thần thánh thì không cần đến Chính phủ, và nếu người được thần thánh cai trị thl Chính phủ của loài người không cần đến những khoản tiên liệu để Chính phủ kiểm soát dân chúng và Chính phủ tự kiểm soát lấy mình Nếu thành lập một Chính phủ để người cai trị người thì sự khó khăn lớn nhất là phải làm thế nào để Chính phủ cai trị được dân chúng và phải làm thế nào để Chính phủ tự kiểm soát

lấy mình" (2).

Vì lý do gì mà các nhà Lập Hiến Hoa Kỳ lại lo sợ quyền lực Nhà nước bị lạm dụng ? Điểu này có thể giải thích là vì : Cuộc đấu tranh giữa giai cấp tư sản và giai cấp phong kiến đang lên Giai cấp phong kiến đang bị coi là lỗi thời, để đẩy nhanh hơn nữa sự sụp đổ của chế độ phong kiến, giai cấp tư sản đã giương cao khẩu hiệu "mọi quyền lực thuộc về nhân dân" Mặc dù không được trực tiếp tiếp xúc với Vua Anh, nhưng dân thuộc địa đã biết đến Vua Anh qua chế độ chính sách thuế đối với dân thuộc địa Dân thuộc địa thực sự đã thấy chán ngán chế độ chuyên chế Họ xác định rằng :

để tránh rơi vào chủ nghĩa độc tài chuyên chính, mọi chính quyền phát xuất

từ nhân dân, đều phải bao gồm ba thứ quyền lực : Quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp và phải tách biệt nhau Để hạn chế quyền lực của Vua phải thành lập ra một cơ quan gọi là Nghị viện có chức năng lập pháp, thêm nữa cả Vua và Nghị viện đều phải tuân theo Hiến pháp Nghị viện là

[(ỉ) : Xem Luận về Hiến pháp Hoa Kỳ - Sài Gòn - Việt Nam khảo dịch xã] [(2) : (Luận về Hiến pháp Hoa Kỳ - Trang 81 - Sách đã dẫn)]

Trang 22

cơ quan do dân chúng bầu ra, chính điều này làm cho giai cấp tư sản e ngại,

họ e ngại sự chuyên chính của đa số có thể áp dụng trên thiểu số Họ sợ rằng quần chúng có thể gây sức ép đòi đặt lại vấn đề quyền tư hữu và họ e ngại cái mà một đại biểu của bang Vừginia, Edmund Randolph, gọi là "sự náo động và ngông cuồng của nền dân chủ" Họ đã nhận thấy rằng cần phải ngăn chặn sự tiếm quyền của cả Nghị viện, không tuyệt đối hoá quyền lập pháp của Nghị viện, cần phải đặt quyền lập pháp của Nghị viện trong giới hạn Hiến pháp và cần phải có sự kiềm chế từ phái các cơ quan khác đối với Nghị viện Do vậy mà ý tưởng thiết lập một hệ thống kiềm chế đối trọng được hình thành và được thể hiện trong Hiến pháp

Đối với nước Mỹ sự lo lắng vể lạm dụng quyền lực Nhà nước còn do tình trạng có mâu thuản giữa các bang Các bang đều không muốn bị bang khác cai trị Sở đĩ có mâu thuẫn giữa các tiểu bang vì các tiểu bang có những khác nhau vế đặc điểm kinh tế, về diện tích, về dân số dẫn đến khác nhau về quyền lợi được Chính phủ Liên bang bảo vệ Trong những khác biệt, trầm trọng nhất là những khác biệt liên quan tới phương thức các bang được đại diện tại Quốc hội Các bang lớn (Masschusetts, New York, Penusylvania, Virginia) đòi họ phải được đại diện nhiều hơn trong Quốc hội như vậy thì chính các bang lớn sè lãnh đạo liên bang nên các bang nhỏ yêu cầu tất cả các bang đều có số đại biểu bằng nhau trong Quốc hội Chính

do điểm mâu thuẫn này mà cuối cùng phải có giải pháp, Quốc hội Mỹ gổm hai Viện: Hạ viộn và Thượng viện trong đó Hạ viện gồm các đại biểu được bầu theo tỷ lê dân số, Thượng viện gổm các thành viên được bầu theo tỷ lệ mỗi bang hai đại biểu Với cơ cấu Quốc hội gổm hai viện các nhà lập hiến Hoa Kỳ cho rằng sẽ hạn chế được sự lạm dụng quyền lực bởi vì như vậy quyền lực lập pháp sẽ được phân chia cho cả hai Viện, Viện này ràng buộc Viện kia do quyền ngăn cản và tương hỗ Một đạo Luật phải được thông qua bởi cả hai Viện, Viện này rồi đến Viện kia Mặt khác cơ cấu Quốc hội gồm hai viện còn là một giải pháp để dung hoà mâu thuẫn giữa các tiểu bang Đồng thời đây cũng là một trong những mắt xích của hệ thống kiềm chế đối trọng trong Hiến pháp Mỹ

Trang 23

Một lý do nữa khiến các nhà lập hiến Hoa Kỳ lo sợ quyền lực Nhà nước bị lạm dụng và cần phải có biện pháp ngân chặn đổ là phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản đang lên, lực lượng của giai cấp vô sản rất đông đảo và mạnh mẽ Giai cấp tư sản lo sợ sức manh của đông đảo quần chúng lao động trước số ít các trùm tư sản Họ cũng phải trù liệu những biện pháp nhằm ngăn cản quyền lực Nhà nước có thể tập trung vào tay những đại diện của giai cấp vô sản, và để có thể bảo vệ quyền lợi của giai cấp tư sản ngay

cả trong trường hợp xấu nhất là trường hợp giai cấp tư sản không nắm được chính quyền

Tóm l ạ i: Hệ thông kiềm chế đối trọng xuất hiện trong Hiến pháp Mỹ

do những nguyên nhân cơ bản sau :

Thứ nhất : Do chính lịch sử hình thành Nhà nước Mỹ : Hợp chủng

quốc Hoa Kỳ được hình thành từ 13 bang thuộc địa của Anh Hoàng, người

Mỹ nguyên thuỷ phần lớn là người Anh di cư sang Những người di cư dù bất kỳ lý do nào họ cũng đều cảm thấy chán ngán chế độ quân chủ của Anh Quốc, chán ngán trật tự xã hội phong kiến châu Âu Dân thuộc địa Mỹ phải trải qua những cuộc chiến tranh đầy gian khổ, hy sinh mới giành được quyền độc lập, thoát khỏi sự lệ thuộc vào Anh quốc Do vậy họ không thể thiết lập một chính thể giống như chính thể đã làm họ phải chán ngán ra đi

Thứ h a i: Quyền lực Nhà nước luôn luôn bị đe dọa bởi sự lạm dụng.

Sự lo sợ quyền lực Nhà nước sẽ bị lạm dụng (từ nhiểu phía) là một trong những nguyên nhân trực tiếp làm xuất hiện hệ thống kiềm chế đối trọng trong Hiến pháp Mỹ Tấm gương về sự lạm dụng quyền lực Nhà nước

của những ông vua phong kiến vẫn còn đó ò Mỹ mặc dù không trực tiếp

thấy vua Anh, nhưng sự cai trị của vua Anh đã thể hiện ở khắp mọi nơi Thêm vào đó là sự tương quan lực lượng giữa các giai cấp trong xã hội, giai cấp phong kiến đang lâm vào tình trạng suy thoái, giai cấp tư sản đang được nhìn nhận là giai cấp có tư tưởng cấp tiến, nhưng giai cấp tư sản không đủ mạnh để có thể vừa đánh đổ giai cấp phong kiến vừa duy trì sự thống tn tuyệt đối đối với số đông quần chúng nhân dân lao động thuộc giai cấp vô

Trang 24

sản đang ngày một lớn mạnh Sợ lựa chọn hệ thống kiềm chế đối trọng là một biện pháp ngăn ngừa nguy cơ đe dọa quyền lợi của giai cấp tư sản có thể xảy ra trong trường hợp cơ quan Nhà nước do đa số nhân dân lao động bầu ra Các nhà lập hiến Hoa Kỳ lo ngại sự tiếm quyền của Nghị viện có thể xảy ra, nên đã chủ tâm xây dựng một nền hành pháp đủ mạnh để có thể giữ thế cân bằng Hơn nữa Hiến pháp Hoa Kỳ xác định chính quyển liên bang là một chính quyền hạn chế (tức là chỉ có những quyền do Hiến pháp ban cho

mà thôi) nên cũng cần phải có một cơ quan thực hiện quyền tư pháp để xác định xem Quốc hội có đi vượt khỏi xa các quyến ấy không?

Thứ ba : v ề mặt nhận thức, trào lưu hạn chế quyền lực Nhà nước đã

được phổ biến Thuyết phân quyền của John Locke và Montesquieu đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến tư tưởng các nhà lập hiến Hoa Kỳ Tại Mỹ thời kỳ đố

đã dấy lên một tư tưởng cho rằng "Chính phủ tốt nhất là một Chính phủ ít

quyển lực nhất" (ỉ) Có thể nói nguyên tắc phân quyển đã được nhận thức

và được áp dụng một cách nhanh chóng ở Mỹ, bởi các nhà lập hiến 1787, họ chủ trương áp dụng nguyên tắc phân "chánh độc tài và làm thế nào cho độc

tài không ngóc đầu lên được" (2) Trong thời kỳ thuộc địa nguyên tắc phân

quyền được coi là một nguyên tắc chính trị và thực tế nó đã trở thành khẩu

hiệu để chống lại ách thống trị của Thực dân Anh Ngày 4/7/1776 tuyên ngôn độc lập Mỹ ra đời Nguyên tắc phân quyền trở thành một nguyên tắc chính trị pháp lý được ghi nhận trong Hiến pháp của các bang và Hiến pháp

1787 của Liên bang Học thuyết phân quyền được chấp nhận và áp dụng điều đó cũng có nglũa là hệ thống kiềm chế đối trọng được hình thành

Thứ tư: Hợp chủng quốc Hoa Kỳ được hình thành buổi đầu do sự hợp

nhất của 13 bang thuộc địa Mỹ, chính điều này cũng là nguyên nhân làm xuất hiện hệ thống kiềm chế đối trọng trong Hiến pháp Hoa Kỳ bởi vì cả 13 bang, mỗi bang đều cần có sự công bằng và hợp lý trong việc được chính phủ liên bang bảo vệ lợi ích của mình, do đó cần có biện pháp thỏa đáng để

(1) Xem : Luận về Hiến pháp Hoa Kỳ - Sách đã dẫn,

(2) xem : Thuyết tam quyền phân lập và bộ máy Nhà nước tư sản hiện đại Viện Thông tin khoa học xã hội - Hà Nội ỉ 992.

Trang 25

giải quyết mối quan hệ về quyển lực giữa liên bang và tiểu bang, nhằm đảm bảo sự bĩnh đẳng về địa vị pháp lý của các tiểu bang trong tổ chức và thực hiện quyền lực Nhà nước, tránh tình trạng bang lớn cai trị bang nhỏ.

Trên đây là những nguyên nhân cơ bản làm xuất hiện hệ thống kiềm chế đối trọng trong Hiến pháp Mỹ

Hiến pháp 1787 của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ ra đời là sự kiện quan trọng, đánh dấu sự ra đời và phát triển của Nhà nước Mỹ Hiến pháp 1787 là

sự thoả thuận vĩ đại, nó không chỉ là sự thỏa thuận giữa quyền lợi khác nhau của các bang, quyền lợi khác nhau của các nhóm tư sản mà còn thể hiện sự thoả hiệp giữa giai cấp tư sản và toàn bộ cử tri Có thể nói người Mỹ rất tự hào về lịch sử lập hiến của mình Họ tự hào về bản Hiến pháp sớm nhất trong lịch sử lập hiến thế giới và nó vẫn còn tồn tại đến ngày nay trải qua bao biến động xã hội có tính chất quốc nội và quốc tế, nhưng mặt trái của

nó thể hiện sự thống trị lâu dài của giai cấp tư sản

Quá trình đấu tranh giành độc lập, ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến quá trình hình thành Hiến pháp Mỹ Điểm nổi bật, có thể nhận thấy ngay, đó chính là tính thoả hiệp, sự khẳng định quyền tư hữu và thiết lập một Nhà nước tư sản đủ mạnh để đàn áp sự chống đối của bất cứ số đông nào Tuy nhiên chúng ta cũng phải thừa nhận sự sáng suốt của các nhà Lập hiến Hoa

Kỳ cùng trình độ pháp lý của họ, thừa nhận những điểm hợp lý, hợp quy luật làm cho nó có thể tồn tại lâu dài và đã là cơ sở pháp lý quan trọng cho tổ chức, hoạt động của bộ máy Nhà nước Mỹ Hiến pháp Mỹ được coi là một sản phẩm của nhân loại, có những giá trị nhất định Chúng ta tìm hiểu Hiến pháp Mỹ để nâng cao kiến thức pháp lý và để hiểu rõ hơn về một nước Mỹ quá khứ và hiện tại

*

Trang 26

CHƯƠNG II

NỘI DUNG HỆ THỐNG KlÊM c h ế Đ ố i t r ọ n g t r o n g h iế n p h á p m ỹ

Hệ thống kiềm chế đối trọng là một cơ chế kiểm soát quyền lực với nội dung chủ yếu là quyền hạn của bên này đối vái bên kia, trong mối quan

hệ giữa các cơ quan công quyền vói nhau, giữa trung ương với địa phương hoặc giữa các bộ phận của một cơ quan với nhau, sao cho với những quyền hạn ấy các bên có thể kiểm soát lẫn nhau, chế ước lẫn nhau nhằm ngăn cản

sự lạm quyền và duy trì thế cân bằn quyền lực giữa các bên

Với mong muốn quyền lực của các cơ quan Nhà nước phải bị hạn chế

và không thể bị lạm dụng, những nhà lập Hiến Hoa Kỳ thực hiộn sự kiềm chế đối trọng theo cách thức cơ bản sau :

Thứ n h ấ t: Giao quyền cho các cơ quan Nhà nước nhưng không giao

trọn vẹn, đây chính là sự hạn chế quyền lực của từng cơ quan Hoạt động của cơ quan này vẫn chịu sự ảnh hưởng của cơ quan khác, vẫn có sự tham gia của cơ quan khác ở mức độ nhất định đủ để chống lộng quyển

Thứ hai : Lấy cánh quyền lực này đối trọng với cánh quyền lực kia

sao cho không một ngành quyền lực nào có ưu thế tuyệt đối

Thứ ba : Thực hiện phân chia rành mạch giữa các cơ quan lập pháp,

hành pháp, tư pháp, đảm bảo độc lập tương đối cho mỗi cơ quan

2.1 KIỂM CHẾ ĐỐI TRỌNG GIỮA LẬP PHÁP VÀ HÀNH PHẮP :

Nước Mỹ từ năm 1787 tới nay là một Nhà nước liên bang có chính thể

Cộng hoà Tổng thống, với sự phân quyền rõ rệt giữa lập pháp và hành pháp

và có sự độc lập ở mức độ cao của hai cơ quan này Điều này làm cho người

Mỹ rất tự hào rằng họ đã tìm ra một cơ cấu chính trị mói lạ chưa từng có trong lịch sử

Mối quan hệ trung tâm nhất trong tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước đó là quan hệ giữa cơ quan lập pháp và hành pháp Nếu hành pháp được lập ra bởi đảng đa số trong Quốc hội, chịu trách nhiệm trước Quốc hôi,

Trang 27

có thể bị Quốc hội giải tán hoặc có thẩm quyền giải tán Quốc hội thì đó là chính thể Cộng hoà Đại nghị Nếu lập pháp và hành pháp độc lập về tổ chức, không có chung nhân viên, đều do dân cử theo những cách thức khác nhau Cơ quan lập pháp và hành pháp đều chịu trách nhiệm trước cử tri thì

đó là chính thể Cộng hoà Tổng thống Nầà nước Mỹ có chính thể Cộng hoà Tổng thống một biến dạng của chính thể Cộng hoà dân chủ Chính thể này

có đặc trưng là : Tổng thống có quyền lực rất lớn, là trung tâm quyền lực Nhà nước, vừa là người đứng đầu quốc gia vừa là người đứng đầu chính phủ, không có chức vụ thủ tướng Tổng thống do nhân dân trực tiếp hoặc gián tiếp bầu ra nên chỉ chịu trách nhiệm trước nhân dân, không chịu trách nhiệm trước Quốc hội độc lập với Quốc hội và nắm trọn vẹn quyền hành pháp trong tay Tổng thống có quyển tự mình lựa chọn, bổ nhiệm các thành viên của chính phủ từ số các chính khách không phải là nghị sỹ và có thể tự ý bãi miễn họ bất cứ lúc nào Tổng thống có quyền cử, triệu hổi các đại sứ, có quyền thay mặt Chính phủ kỷ kết các điều ước quốc tế, Tổng thống thống soái các lực lượng vũ trang Quốc hội cũng do cử tri bầu ra, nắm toàn quyền lập pháp, về mặt hình thức Tổng thống và chính phủ không có sáng quyền lập pháp Quốc hội và Tổng thống độc lập với nhau, giữa Chính phủ và Quốc hội không có sự chung nhân viên Một người không thể đồng thời vừa

là nghị sỹ vừa là thành viên của Chính phủ Quốc hội không có quyền đánh

đổ Chính phủ, không thể buộc Tổng thống từ chức bằng việc bỏ phiếu tín nhiệm ngoại trừ trường hợp Tổng thống phạm tội do luật định Tổng thống cũng không có quyền giải tán Nghị viện trữớc thời hạn, nhưng lại có quyền phủ quyết các đạo luật mà Quốc hội đã thông qua Tổng thống tổ chức và lãnh đạo nội các Các thành viên của Nội các không cố định mà do Tổng thống quyết định, Nội các là tập thể cố ván và giúp việc Tổng thống, chịu

trách nhiệm trước Tổng thống, ở chính thể Cộng hoà Tổng thống, quyền tư pháp cũng được trao cho toà án Toà án xét xử các vụ án trên cơ sở pháp

luật, đổng thời toà án tối cao có quyền kiểm tra tính hợp hiến của các đạo luật

Nhà nước Mỹ áp dụng nguyên tắc phân quyền một cách cứng rắn : Trong bộ máy Nhà nước có sự phân chia, tách biệt độc lập và chuyên môn

Trang 28

hoá các cơ quan công quyền theo ông Madison - một trong những nhà lập hiến Hoa Kỳ - thì Nhà nước Mỹ " phân quyền để kiểm soát lẫn nhau và giữ

mực cân đối" (1) hay nói cách khác : trong bộ máy Nhà nước Mỹ giữa các

cơ quan công quyền tổn tại thế cân bằng quyền lực và cơ chế kiềm chế đối trọng, để ngăn cản kiểm soát lần nhau

Quyền lập pháp được hiểu là quyền làm luật, sửa đổi luật và giám sát việc thi hành luật Theo Montesquieu "quyền lập pháp do nhiều người thì

hơn là một người ban hành" (ỉ) bởi vì ông cho rằng : quyền lập pháp thể

hiộn ý chí chung của cả quốc gia, nên quyền lập pháp phải được trao vào tay nhiều người tức là một cơ quan, thì luật pháp mới được quy định một cách hoàn hảo Cơ quan này khồng nên là toàn thể dân chúng mà chỉ nên bao gồm đại diộn của dân chúng

ở Mỹ quyền lập pháp được giao cho Quốc hội Điều 1 khoản 1 của

Hiến pháp 1787 qui định "Mọi quyền hành lập pháp do bản Hiến pháp này chấp thuận, sẽ trao cho một Quốc hội của Hiệp chủng quốc, gồm có một Thượng nghị viện và một Hạ nghị viện"

Như vậy Quốc hội Mỹ gồm có hai viện : Hạ nghị viện và Thượng nghị viện

Hạ nghị viện gồm các đại biểu do nhân dận toàn hợp chủng quốc bầu

ra SỐ đại biểu của mỗi bang được cử ra theo tỷ lệ dân số của bang ấy, theo nguyên tắc cứ ba mươi ngàn người có một đại biểu nhưng ít nhất mỗi bang

có 1 đại biểu Nhiệm kỳ của Hạ nghị viện là 2 năm Muốn ứng cử nghị sỹ

Hạ nghị viện phải trên 25 tuổi là công dân Mỹ ít nhất 7 năm và trong thời gian tuyển cử phải cư trú ở nơi bang mình ứng cử Những nhà lập hiến Hoa

Kỳ cho rằng : Cần phải xác định nhiệm kỳ cho nghị viện bởi vì phương tiện

phòng ngừa để duy trì chính thể cộng hoà, có rất nhiều và khác nhau nhưng trong số đó phương tiên có hiệu quả nhất là hạn chế nhiệm kỳ của các nhà lãnh đạo, khiến cho họ phải luôn luôn giữ gìn đúng trách nhiệm của họ đối

{(ỉ) Xem : Luận về Hiến pháp Hoa Kỳ - Sài Gòn Việt Nam khảo dịch xã]

Trang 29

với nhàn dân Các nhà lập hiến Hoa Kỳ cung cho rằng : nhiệm kỳ của Hạ viện quy định 2 năm là phù hợp bởi vì cứ 2 nãm một lần tổ chức tuyển cử sẽ

có ích lợi cho công vụ liên bang và vẫn duy trì được nển tự do của nhân dân Hơn nữa đó là khoảng thời gian không quá ngắn để cho họ có lòng cương trực, trí phán đoán hợp lý, có một sự hiểu biết đầy đủ về những vấn đề mà mình có nhiệm vụ quy định luật lệ, có đủ thời gian tích lũy những hiểu biết

để có thể xảy ra tình trạng "ngay sau cuộc tuyển cử hàng năm là bắt đầu tình trạng chuyên chế”, cử tri bầu ra nghị sĩ Hạ nghị viện phải có đủ những điều kiện nhất định Lúc đầu Hiến pháp quy định chung đó là người có đủ tư cách cần thiết như đối với các cử tri bầu ra ngành lập pháp đông hơn của từng bang, đến năm 1865, đó là những công dân từ đủ 21 tuổi trở lên (đến nám 1920 là công dân nam, nữ từ đủ 21 tuổi trở lên và đến nám 1971 thì đó

là công dân Mỹ đủ 18 tuổi trở lên)

Thượng nghị viện gồm những đại biểu do các bang bầu ra Mỗi bang không phân biệt lớn nhỏ được bầu ra 2 đại diện vào Thượng nghị viện Tu chính Hiến thứ 17 ngày 31/5/1913 quy định Nghị sỹ Thượng nghị viện do dân chúng của mỗi tiểu bang bầu lên thay vì trước đó là do Quốc hội lập pháp của mỗi tiểu bang tuyển lựa Nhiệm kỳ của Thượng nghị viện là 6 năm Muốn ứng cử nghị sỹ Thượng nghị viện phải từ đủ 30 tuổi, là công dân nước Mỹ ít nhất 9 năm và khi tuyển cử phải cư trú ở bang mình ứng cử sở

đĩ tiêu chuẩn về độ tuổi, thời gian là công dân Mỹ của Thượng nghị sỹ phải cao hơn Hạ nghị sỹ bởi vì trọng trách của một Thượng nghị sỹ đòi hỏi họ phải có sự hiểu biết rộng rãi hơn và thận trọng hơn so với Hạ nghị sỹ Đổng thời Thượng nghị sỹ phải có độ tuổi và thời gian là công dân Mỹ cao để đủ

độ chính chắn cũng như đủ khả năng thoát bỏ tư tưởng, tập quán cũ khi chưa

là công dân Mỹ vì thông thường quyền lợi quốc gia phải tương quan với quyền lợi của các tiểu bang và quyền lợi của nước ngoài Nghị sỹ thượng viện cần có đủ khả năng xét đoán những vấn đề ngoại giao với các nước khác Nhiệm kỳ của Thượng nghị sỹ là 6 năm và cứ sau 2 năm lại có 1/3 số

[(ỉ) Xem : Tinh thần pháp luật - Montesquieu - NXB Giáo dục 1996]

Trang 30

Thượng nghị sỹ được bầu lại để vừa đảm bảo cho các Nghị sỹ có lập trường cương quyết, có đủ thời gian để tích luỹ những hiểu biết về mục đích cúng như công việc lập pháp, vừa đảm bảo được cả sự đổi mới lẫn tính ổn định của Thượng nghị viện.

Lý do Quốc hội Mỹ được tổ chức thành hai viện có thể được giải thích bởi cơ cấu Liên bang Để đại diện cho hai khuynh hướng : Một hướng thiên về quyền lợi của tiểu bang, một hướng thiên về quyền lợi liên bang

"Tại hội nghị lập hiến ở Philadelphia có hai ý kiến đối lập nhau về việc tổ

chức cơ quan lập pháp Thứ nhất là ý kiến của đại diện các bang lớn, đông dân cư yêu cầu nghị sỹ của ghị viện phải được bầu theo tỷ lệ dân số ý kiến thứ hai đại diện các bang nhỏ có dân số ít hơn thì yêu cầu Nghị viện Mỹ phải được thành lập với thành phần đại diện đổng đều cho tất cả các bang Đương nhiên ý kiến này không được các bang lớn chấp nhận Sau những cuộc tranh cãi sôi nổi Vấn đề này đã được giao cho một uỷ ban hoà giải, cuối cùng hội nghị đẫ bỏ phiếu chấp thuận một giải pháp dung hòa đó là : Quốc hội gồm hai viện Hạ viện và Thượng viện Hạ viện gồm các đại biểu được bầu theo tỷ lệ mỗi bang hai đại biểu dù dân số của bang ít hay nhiều Đây là một thỏa hiộp khôn khéo và hợp lý đã được các đại biểu của hội nghị

lập hiến chấp nhận" (1).

Nhưng khi áp dụng thoả hiệp này cũng gây nhiều khó khăn trầm trọng bởi khi tính số đại biểu của các bang tại Hạ viện, dân số của bang có tính những người nô lệ hay không? hay những người nô lộ chỉ bị coi là một thứ tài sản? Đây là nhh vực lần đầu tiên diễn ra cuộc đối đầu gay cấn giữa một bên là các bang phía Bắc vốn ít nô lệ với một bên là các bang phía Nam ngược lại có số nô lộ rất đông Các bang phía Bắc không đổng ý tính dân số

cả số người nô lệ để ấn định số đại biểu hạ viện và chỉ tính khi phân bổ thuế Các bang phía Nam đĩ nhiên có chủ trương hoàn toàn ngược lại Cuối cùng hội nghị đưa ra một thoả hiẽp : cứ 5 người nô lệ bằng 3 người da trắng, trong việc tính số đại biểu cũng như trong việc tính thuế trực tiếp Cho đến

(ỉ) Xem : Lịch sử nước Mỹ - Sách đã dẫn trang 129.

Trang 31

tu chính Hiến pháp thứ XV ngày 30/3/1870 quy định " Hiệp chủng quốc cũng như bất cứ một tiểu bang nào sẽ không có quyền phủ nhận hoặc hạn chế quyền đầu phiếu của các công dân Hiệp chủng quốc vì lý do chủng tộc, màu da hoặc xưa kia là nô lệ".

Mỹ là Nhà nước liên bang, cơ quan lập pháp của liên bang được thành lập vừa theo nguyên tắc đại diện cân xứng vừa theo nguyên tắc đại diộn bình đẳng giữa các bang Hạ nghị viện được thành lập theo nguyên tắc đại diện cân xứng thì Thượng nghị viện phải được thành lập theo nguyên tắc bình đẳng Về cơ cấu của mỗi Viện gồm có : Chủ tịch, phó chủ tịch và các uỷ ban, song con đường hình thành và hoạt động của những bộ phận này có sự khác nhau giữa hai viện

Hạ nghị viện sẽ bầu ra chủ tịch và các nhân viên khác của viên Chủ tích Hạ nghị viện bao giờ cũng là đảng viên của Đảng đa số ở Hạ nghị viên

và có uy quyền khá lớn trong Quốc hội Đó là người có thể chỉ định nhân, viên của các uỷ ban chuyên môn, những người này phối hợp với các uỷ ban tương ứng của Thượng nghị viện để giải quyết những điểm khác biệt giữa Thượng nghị viện và Hạ nghị viện về cùng một vấn đề

Bản thảo luận chung của nhóm nghị sỹ Thượng nghị viện và Hạ nghị viện thường được cả hai Viện thông qua Như vậy quyết định vể một số vấn

đề quan trọng có thể tuỳ thuộc ờ sự lụa chọn xem ai là ngữời được Chủ tịch

Hạ nghị viện cử đi họp ò các hội nghị như trên Chủ tích Hạ nghị viện độc

quyền quyết định Nghị sỹ nào được phép lên diễn đàn phát biểu Trong trường hợp có sự nghi ngờ không biết uỷ ban nào có quyền cứu xét một dự luật, chủ tịch Hạ nghị viện sẽ quyết định vấn đề này Chủ tịch Hạ nghị viên

có quyền bổ nhiệm một nghị sỹ thay thế mình điều khiển phiên họp để mình lên diễn đàn

Trong nghị viện Mỹ, ngoài văn phòng còn có các uỷ ban tương ứng với chức năng của viện "Hệ thống các uỷ ban của Quốc hội Mỹ có quy mô quyền lực rộng lớn và hoạt động có tính độc lập tương đối cao Quốc hội

Mỹ gổm có hai loại uỷ ban Thứ nhất là các uỷ ban thường trực được thành lập theo quy định của pháp luật, nhiều uỷ ban trong số này có ngần sách

Trang 32

riêng Thứ hai, là các uỷ ban đặc biệt được thành lập theo quyết định của mỗi viện để nghiên cứu điểu tra một hoạt động nào đó của bộ máy hành pháp Các uỷ ban Quốc hội Mỹ ngoài việc nghiên cứu, xem xét trước các dự

án luật còn có quyền giám sát một cách độc lập hoạt động của các quan chức trong bộ máy hành pháp Chủ tịch các uỷ ban quan trọng của Quốc hội

là các đảng viên của Đảng chiếm đa số trong Nghị viện Đây là trung tâm lãnh đạo hoạt động của Nghị viện Mỹ Hiện nay Quốc hội Mỹ có 16 uỷ ban thường trực ở thượng viện và 22 uỷ ban ở Hạ viện, trong hệ thống các ủy ban Quốc hội Mỹ còn có uỷ ban Toàn viện và uỷ ban Hoà giải, để giải quyết

những vấn đề chuyên sâu" (1).

Nghị sỹ Quốc hội Mỹ không phải chịu trách nhiệm trước cử tri và không bị cử tri bãi miễn, Nghị sỹ phải chịu trách nhiệm trước Đảng mà Nghị sỹ đó là thành viên

Quyển lập pháp thuộc vể Quốc hội Quốc hội có quyền làm mọi đạo luật cần thiết, có quyền đề nghị sửa đổi Hiến pháp Trong Hnh vực lập pháp, thẩm quyền của Thượng nghị viện và Hạ nghị viện gần như ngang nhau, cả

hai viện đều có quyền sáng quyền lập pháp, tức là đều có quyển đưa ra các

dự án luật Một đạo luật thông thường chỉ được coi là đã thông qua khi có

đa số phiếu tán thành ở cả hai Nghị viện Tuy nhiên quyền lập pháp của hai

viện cũng có sự khác nhau nhất định, có sự kiềm chế và đối trọng với nhau, vấn đề này sẽ nghiên cứu kỹ hơn trong phần kiềm chế đối trọng giữa hai viện của Quốc hội

Quyền lập pháp được trao cho Quốc hội, song không có nghĩa là Quốc hội được độc quyền một cách tuyệt đối để thực hiện quyển lập pháp của mình Để ngăn chặn sự tiếm quyền của'Quốc hội, quyền lập pháp được đặt trong mối liên hệ với các quyền hành pháp, quyền tư pháp hay nói cách khác là được đặt trong cơ chế kiềm chế đối trọng giữa các cơ quan công quyền cấp cao

(1) Xem : PTS Nguyễn Đăng Dung, PTS Bùi Xuân Đức Luật Hiến pháp các nước tư bản 1994.

Trang 33

Quyền hành pháp là quyền thi hành luật, quyền này thuộc vể Chính phủ, mà đứng đầu là Tổng thống Quyền hành pháp là quyền lực chấp hành

vì hoạt động của nó không phải do chính nó đặt ra Hoạt động của cơ quan hành pháp luôn trực tiếp tác động đến quyền của công dân nên hoạt động đó phải được thực hiện trên cơ sở có sự cho phép, tán thành của cơ quan lập pháp, sự tán thành đó được biểu hiện dưới hình thức các đạo luật Điều đó

có nghĩa là mọi hành vi của cơ quan hành pháp có liên quan trực tiếp tới quyền và nghĩa vụ của công dân đều phải dựa trên cơ sở luật, đều phải do luật điểu chỉnh, cơ quan hành pháp chỉ được thực hiện những gì mà đã được luật cho phép

Điều 2 khoản 1 Hiến pháp Mỹ quy định "Quyển hành pháp được trao cho một vị Tổng thống Hiệp chủng quốc Mỹ châu" Nhiệm kỳ của tổng thống là 4 năm do các tuyển cử viên bầu ra Tổng thống là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt Nhà nước trong cả hai Enh vực đối nội và đối ngoại, đổng thời là người đứng đầu nền hành pháp cho nên Tổng thống có quyền lực rất lớn Tổng thống Hoa Kỳ theo Hiến pháp quy định : do toàn dân bầu nhưng theo lối đầu phiếu gián tiếp Những nhà Lập hiến Hoa Kỳ sợ rằng nếu Tổng thống được bầu bởi một cuộc phổ thông đầu phiếu trực tiếp thì Tổng thống với sự tấn phong của toàn dân sẽ có nhiều uy tín, dễ lấn át Quốc hôi

và có khuynh hướng độc tài Mặt khác Tổng thống được quy định là sẽ được

bầu gián tiếp bởi cử tri đoàn nhằm tạo điều kiện để Tổng thống có thể độc

lập hơn nữa trước các phong trào của quần chúng Tuy nhiên với sự tiến triển của chế độ chính trị mặc dù vẫn áp dụng chế độ bầu cử gián tiếp, ngày nay trong thực tế Tổng thống Hoa Kỳ được xem là đã được bầu cử trực tiếp Quá trình bầu cử Tổng thống được diẽn ra qua 3 giai đoạn :

- Giai đoạn thứ nhất: đề cử ứng cử viên ra tranh cử chức Tổng thống,

có thể nói giai đoạn này là giai đoạn thuộc về các đảng phái chính trị Các chính đảng họp hội nghị toàn quốc để đề cử ra các ứng cử viên

- Giai đoạn thứ hai : vào ngày thứ ba liền sau ngày thứ hai đầu tiên

của tháng 11 năm tuyển cử cử tri toàn quốc bầu ra tuyển cử đoàn viên tổng

số tuyển cử đoàn viên bằng tổng số nghị sỹ Quốc hội Hợp chủng quốc Số

Trang 34

tuyển cử đoàn viên của mỗi bang bằng số nghị sỹ ở thượng viện và hạ viện

của mỗi bang trong Quốc hội Để bảo đảm sự vô tư thì những nghị sỹ và

những công chức đương nhiệm không thể được bầu làm tuyển cử đoàn viên

- Giai đoạn thứ ba : Vào ngày thứ 2 tuần thứ 3 tháng giêng các tuyển

cử đoàn bỏ phiếu để bầu Tổng thống và Phó tổng thống trong phiếu của

mình tuyển cử đoàn phải ghi rõ bầu ai là tổng thống và ai là Phó tổng thống,

trong đó ít nhất phải có một người không cư trú ở bang mình Sau đó người

ta lập danh sách gổm tất cả những người được phiếu bầu và tổng số phiếu

của từng người, danh sách đó được ký xác nhận và niêm phong gửi đến cho

ông Chủ tịch Thượng nghị viện, ở trụ sở của Chính phủ Hợp chủng quốc,

trước cả Thượng nghị viện và Hạ nghị viện, Chủ tịch Thượng nghị viên sẽ

mở niêm phong các danh sách và cuộc kiểm phiếu bắt đầu Người nào được

nhiều phiếu hơn cả và số phiếu ấy là quá bán của tổng số tuyển cử đoàn thì

sẽ trúng cử Giai đoạn 3 trên phương diện pháp lý là giai đoạn quan trọng vì

Tổng thống chính thức được bầu từ ngày này, nhưng trong thực tế giai đoạn

này mang nhiều tính hình thức, vì mỗi tuyển cử đoàn đã cam kết rằng sẽ bỏ

phiếu cho ứng cử viên của Đảng mình Nếu sự việc diễn ra đúng như vậy thì

có thể nói Tổng thống Mỹ được bầu cử bởi toàn dân, qua cuộc bầu cử phổ

thông đầu phiếu trực tiếp Tuy nhiên Tổng thống Mỹ cũng có trường hợp

không phải là đại diện của đại đa số dân chúng : trường hợp thứ nhất là

trường hợp không có ứng cử viên nào chiếm đa số tuyệt đối phiếu bầu của

tuyển cử đoàn, trong trường hợp này Hạ nghị viện liên bang sẽ bỏ phiếu

chọn Tổng thống trong số ba ứng cử viên được nhiều phiếu nhất, Thượng

nghị viện sẽ bỏ phiếu chọn Phó tổng thống Để lựa chọn Tổng thống và Phó

tổng thống, Nghị viện sẽ thành lập một uỷ ban u ỷ ban của Hạ nghị viện

bao gồm đại diện của 2/3 tiểu bang còn uỷ ban của Thượng viện gồm 2/3

tổng số Thượng nghị sỹ, sự lựa chọn Tổng thống và Phó tổng thống phải có

đa số các tiểu bang và các Thượng nghị sỹ chấp thuận thì mới có giá trị

Trường hợp thứ hai Tổng thống đắc cử với đa số phiếu của tuyển cử đoàn

nhưng thiểu số trong nhân dân Trường hợp này xảy ra hai lần : Lần thứ nhất

vào năm 1876 ông Rutheríord Hayes trúng cử tổng thống nhưng lại có

phiếu bầu của cử tri ít hơn ông Samucl Tilden, lần thứ hai vào năm 1888

Trang 35

ông Ben Zaamin Harrison trúng cử Tổng thống nhưng có số phiếu của cử tri

ít hơn ông Grover Cleneland sở dĩ có trường hợp này xảy ra vì theo cách

thức bầu Tổng thống : ứng cử viên nào thắng cử à mỗi khu vực bầu cử thì sẽ

giành tất cả đại cử tri ở khu vực bầu đó

Người ra tranh cử Tổng thống Hoa Kỳ phải có đủ ba điều kiện : Phải

từ 35 tuổi trở lên, có quốc tịch Hoa Kỳ, đã cư trú ở Hoa Kỳ ít nhất 14 năm Nhiệm kỳ của tổng thống là 4 năm Từ năm 1951 trở về trước, theo quy định

thì tổng thống có thể tái cử liên tục các nhiệm kỳ tiếp theo Nhưng Geoge

Washington người Tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ - Người anh hùng đã có công lớn trong sự nghiệp cách mạng giải phóng 13 thuộc địa của Anh tại Bắc Mỹ đi đến thống nhất Hợp chủng quốc Hoa Kỳ - đã từ chối ra tranh cử lần thứ 3 Tôn trọng Wasshington các tổng thống kế tiếp sau đã noi gương ông, không ai ra tranh cử lần thứ 3 Cho đến khi Tổng thống Rooservelt đắc

cử, không tôn trọng tập tục trên ông đã tái cử lần 3 vào năm 1940, lần 4 vào năm 1944 Để tránh tình trạng một người giữ chức Tổng thống quá lâu,

có thể dẫn đến tình trạng độc tài hơn nữa để tỏ lòng tôn kính vị Tổng thống đầu tiên của nước iMỹ, năm 1947 Quốc hội Liên bang đã biểu quyết thông qua tu chính án Hiến pháp thứ 22, trong đó quy định không một người nào được bầu làm Tổng thống quá hai lần điểu này đã được đa số các tiểu bang phê chuẩn vào năm 1951 Do đó từ năm 1951 trở đi, không ai có thể được bầu tổng thống quá 2 nhiệm kỳ tức là quá 8 năm

Tổng thống Mỹ là nguyên thủ quốc gia, là người đứng đầu Nhà nước, đứng đầu bộ máy Hành pháp Chính chức năng đứng dầu bộ máy Hành pháp

đã làm cho Tổng thống là nguyên thủ quốc gia có thực quyền Tất cả quyển lực Nhà nước tập trung trong tay Tổng thống, ông là người duy nhất có quyền quản lý đất nước và về mặt hình thức ông không có nghĩa vụ chia sẻ với bất kỳ ai quyền lực ấy Chính vì lẽ đó có nhiều người cho rằng Tổng thống Mỹ không khác nào một vị Hoàng đế, chỉ có điều đây không phải là một vị Hoàng đế đích thực với nguyên nghĩa của từ này, một Hoàng đế do bầu cử mà ra chứ không phải một Hoàng đế thế tập

Trang 36

Như trên đã nói Tổng thống Mỹ do nhân dân gián tiếp bầu ra, do đó Tổng thống độc lập với Quốc hội và có quyền lực rất lớn, ngang với Quốc hội Thẩm quyền của Tổng thống được thể hiện trong nhiều nhh vực khác nhau : Do nắm quyền hành pháp và là nguyến thủ quốc gia nẽn Tổng thống

có quyền đề cử theo ý kiến và vối sự chấp thuận của Thượng nghị viện, bổ nhiệm các quan chức cao cấp của bộ máy hành pháp, nhưng không được bổ nhiệm những người đang là nghị sỹ Tuy về mặt hình thức pháp lý được quy

, định như vậy, song trong thực tế Tổng thống gần như có toàn quyền quyết

định nhân sự Chính phủ Tổng thống tự mình lựa chọn, tự mình bổ nhiệm và

tự mình bãi miễn các vị bộ trưởng bất cứ lúc nào v ề nguyên tấc, các bộ trưởng không hợp thành một cơ quan bàn bạc, chịu trách nhiệm tập thể trước nghị viện mà chỉ chịu trách nhiêm trước Tổng thống Các bộ trưởng là người giúp việc cho Tổng thống, thực hiện những chính sách của Tổng thống, không được mâu thuẫn với đường lối chính sách của Tổng thống Các cuộc họp của Chính phủ không theo định kỳ các thành viên của Chính phủ không phải là cố định mà do Tổng thống quyết định Chính phủ không phải là cơ quan quyết sách mà là tập thể cố vấn và bô máy giúp viộc của Tổng thống

Tổng thống Mỹ thực hiện quyền hạn của mình với tữ cách vừa là nguyên thủ quốc gia vừa là người đứng đầu Chính phủ Mặc dù trong Hiến pháp Mỹ không có điều khoản nào quy định về cơ cấu tổ chức cũng như nhiệm vụ quyền hạn của Chính phủ, song có thể thấy Chính phủ Mỹ có quyền hạn khá lớn trong nhiều nhh vực thông qua những quy định về quyền hạn của Tổng thống - Người đứng đầu Chính phủ

Tổng thống thiết lập bộ máy giúp việc cho mình sau khi ông đắc cử bằng việc bổ nhiệm các quan chức Chính phủ Tuy nhiẽn việc bổ nhiệm này

về hình thức là phải đựoc Nghị viện chấp thuận Hiến pháp Mỹ không quy định thành phần và cơ cấu của Chính phủ, vì vậy số lượng các bộ trưởng trong Chính phủ hầu như không cố định mà có sự thay đổi tuỳ thuộc vào người đứng đầu Chính phủ Số lượng các vị bộ trưởng có thể dao động từ 5,

Trang 37

7, 10 đến 15 vị "đến nám 1991 Chính phủ Mỹ có 15 bộ trưởng" (ỉ), trong

đó Bộ Tài chính và Bộ Ngoại giao là hai Bộ có vị trí quan trọng nhất Bên cạnh đó còn có một bộ máy giúp việc cho Chính phủ có tên là văn phòng Tổng thống, Nha ngân sách hành chính, Nha về vấn đề khoa học và công nghệ những cơ quan giúp việc này được phân công phụ trách sáu vấn đề : ngoại giao và an ninh quốc phòng, đối nội, kinh tế, quan hệ với nghị viện, hành chính và quản lý, các quan hệ xã hội

Trong bộ máy giúp việc của Tổng thống Mỹ có rất nhiều nhà khoa học có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, họ không đảm nhận chức năng quản lý hành chính, chỉ đảm nhận chức năng phân tích khoa học và tư vấn

Từ năm 1972 nhiều nhà nghiên cứu thế giới tư bản đã khẳng định : bộ máy

tư vấn của Tổng thống về những vấn để khoa học và công nghệ thường xuyên được củng cố là yếu tố không thể tách khỏi quá trình hình thành các chính sách, chế độ xã hội và các quyết định thông qua hàng loạt các vấh đề

có nội dung liên quan đến đời sống xã hội hiện tại Dưới hàng ngũ bộ trưởng, thứ trưởng làm việc trong bộ máy hành pháp là các viên chức chuyên nghiệp Nếu như các bộ trưởng, thứ trưởng và các quan chức chính phủ thường bị thay đổi theo sự thay đổi chính phủ thì các viên chức chuyên nghiệp không bị thay đổi khi thành lập chính phủ mới Sự ổn định đội ngũ chuyên gia khoa học trong bộ máy hành chính có ý nghĩa to lớn trong việc

Ổn định chế độ xã hội, làm cho việc thay đổi chính phủ không ảnh hưởng trực tiếp đến việc giải quyết các vấn đề cụ thể có liên quan đến đời sống của công dân, các viên chức loại này được tuyển lựa hoặc bổ nhiệm theo cấp bậc, được xếp vào ngạch viên chức Nhà nước Vấn đề tổ chức và hoạt động của chính phủ là một yếu tố có vai trò không nhỏ trong việc bảo đảm sự ổn định về chính trị xã hội và tốc độ phát triển của nước Mỹ Chính phủ Mỹ đóng vai trò tư vấn cho Tổng thống, việc giải quyết mọi vấn đề thuộc thẩm quyền của cơ quan hành pháp trung ương đều nằm trong tay Tổng thống

Tổng thống có quyền uỷ quyền cho phó Tổng thống hoặc Bộ trưởng thực

hiện một nhiệm vụ nào đó thuộc thẩm quyền của mình, xong cũng có thể hủy bỏ quyết định đó

(ỉ) Xem PTS Thái Vĩnh Thắng - Tạp chí Luật học s ố 5/1996 trường Đại học Luật Hà Nội.

Trang 38

Tổng thống Mỹ là một chức vụ dân cử, có quyền lực Nhà nước rất lớn bởi vị trí vừa là nguyên thủ quốc gia vừa là người đứng đầu nền hành pháp,

có thể nói Tổng thống Mỹ đã thực hiộn mọi nhiệm vụ và quyền hạn của mình một cách tương đối độc lập Tổng thống độc lập với Quốc hội vì Tổng thống không do Quốc hội bầu ra mà do cử tri bầu ra Tổng thống và chính phủ không phải chịu trách nhiệm trước Quốc hội mà chỉ chịu trách nhiệm trước cử tri Quốc hội không thể lật đổ chính phủ, ngược lại Tổng thống cũng không thể giải tán Quốc hội trước thời hạn Tổng thống cũng có thể độc lập với các thành viên khác của chính phủ thông qua quyền hoàn toàn quyết định các chính sách của chính phủ không cần qua nội các, hoàn toàn nắm quyền điều hành và quản lý mọi Enh vực hoạt động của đất nước

Thực hiện nguyên tắc phân quyền cứng rắn triột để, giữa cơ quan lập pháp và hành pháp của Nhà nước Mỹ có sự chuyên môn hoá và độc lập ở mức độ cao Nhưng điều đó không có nghĩa là Quốc hội và Chính phủ hoàn toàn không có mối liên hệ gì với nhau, Quốc hội và Chính phủ đều có thể làm tất cả những gì mà mình muốn, không có một giới hạn nào Thực ra hoạt động của Quốc hội và Chính phủ vẫn có giới hạn, giới hạn đó là : Hiến pháp, sự túi nhiệm của cử tri, cơ chế kiềm chế đối trọng

Trên cơ sở đã tìm hiểu vể quyền lập pháp, quyền hành pháp cùng với các thiết chế thực hiện các quyền dó, chúng ta đi tìm hiểu về sự kiềm chế đối trọng giữa lập pháp và hành pháp

Vói mục đích là bảo vệ tự do, độc lập cho mỗi ngành quyền lực Các

nhà lập quốc Hoa Kỳ đã áp dụng nguyên tắc phân quyển trong tổ chức và

hoạt động của bô máy Nhà nước Hoa Kỳ, mà nội dung chủ yếu là : Mỗi ngành cần có ỷ chí độc lập, riêng biệt, mỗi ngành cần phụ thuộc lẫn nhau càng ít càng tốt trong tổ chức nội bộ và hoạt động của mỗi ngành Như vậy việc xây dựng hệ thống kiềm chế đối trọng giữa các cơ quan công quyền cấp cao có màu thuẫn với nguyên tắc phân quyền hay không ? Khi mà nội dung của kiềm chế đối trọng với sự thể hiện của nó giống như sự xâm phạm vào

tổ chức nội bộ, xâm phạm vào hoạt động của ngành quyền lực này vào ngành quyền lực kia

Trang 39

Mong muốn của các nhà lập hiến Hoa Kỳ khi thiết lập hệ thống kiềm chế đối trọng không mâu thuẫn với nguyên tắc phân quyền Theo họ phân quyền và kiềm chế đối trọng đều nhằm mục đích chung là ngăn ngừa sự tập trung quyền lực và sự lạm dụng quyền lực của bất cứ ai Cũng theo các nhà lập Hiến Hoa Kỳ sự tập trung quyền lực tất yếu phải dẫn đến sự lạm dụng quyền lực, bởi vì quyền lực đối vdi con người luôn luôn có xu hướng tha hoá Do đó áp dụng nguyên tắc phân quyền và kiềm chế đối trọng trong tổ chức và hoạt động của bô máy Nhà nước là hoàn toàn cần thiết Kiềm chế

và đối trọng là một phần trong nội dung của nguyên tắc phân quyền

Nhữ phần 2 của chương I đã trình bày : các nhà lập hiến Hoa Kỳ cho rằng phương pháp ngăn ngừa sự tập trung nhiều quyền lực trong một bô hoặc một ngành là giao phó cho mỗi bộ, mỗi ngành những phương tiện được tiên liệu trong Hiến pháp, để mỗi bộ, mỗi ngành có thể chống đối lại sự can thiệp hoặc xâm lấn của ngành, bộ khác Phương tiện chống đối cần phải cân xứng với lực lượng uy hiếp của ngành, của bộ đối phương

Như vậy theo các nhà Lập hiến Hoa Kỳ thì hệ thống kiềm chế đối trọng được hiểu như là sự cung cấp phựơng tiện để chống lại sự tiếm quyền của ngành kia Muốn không có sự tập- trung quyền lực phải thực hiện phân quyền với nội dung là các cơ quan càng phụ thuộc nhau càng ít càng tốt Muốn độc lập ngăn chặn sự tiếm quyền thì phải trù liệu cho sự xâm lấn của ngành khác và như vậy hộ thống kiềm chế đối trọng được đặt ra - đó là mong muốn của những nhà Lập hiến Hoa Kỳ

Trong mối quan hệ giữa Quốc hội - thực thi quyền lập pháp với Tổng thống - thực thi quyền hành pháp, sự kiềm chế đối trọng thể hiện cụ thể như sau :

Quyền lập pháp thuộc về Quốc hội Hợp chủng quốc Hoa Kỳ Quốc hội có quyền làm mọi đạo luật cần thiết để thực hiện quyền lực của mình, có quyền làm mọi đạo luật và quy tắc cần thiết liên quan tới lãnh thổ liên bang hoặc các tài sản khác thuộc quyền sở hữu của Hợp chủng quốc, Ngoài ra Quốc hội còn có quyền đề nghị sửa đổi Hiến pháp, thi hành quyền lực liên

Trang 40

bang tại tất cả những nơi mà Chính phủ liên bang mua được với sự thoả thuận của Quốc hội tiểu bang để xây cất các thành trì, kho, xưởng chế tạo

vũ khí, xưởng đóng thuyền và các công cụ cần thiết khác

Có thể nói Hiến pháp Mỹ đã thực hiện sự chuyên môn hoá các công quyền ở mức độ cao Quốc hội là cơ quan có chức năng lập pháp, độc quyền sáng quyền lập pháp Tổng thống - Người đứng đầu bộ máy hành pháp và các Bộ trưởng nội các của Tổng thống không có quyền sáng quyền lập pháp tức là không có quyền trình dự án luật trước Quốc hội Quy định này thể hiện sự phân quyền tuyệt đối trong chính thể của Nhà nước Mỹ đổng thời cũng nhằm nâng cao vai trò đích thực của Quốc hội trog nhh vực lập pháp

đã được Hiến pháp phân chia, không làm cho hoạt động của Quốc hội trở thành chỉ là hình thức Mặc dù vậy, Tổng thống vẫn có ảnh hưởng rất lớn đến quyền lập pháp của Quốc hội

Bắt đầu từ những ảnh hưởng đến sáng quyền lập pháp của Quốc h ộ i: Mỗi năm khi Quốc hội khai mạc, Tổng thống đọc một bài diễn văn trong đó phác hoạ những khuynh hướng chung của một chương trình lập pháp hoặc Tổng thống thường xuyên gửi sang Quốc hội những bản thông điệp về tình trạng liên bang, tất nhiên những thông điệp hay phương hướng của một dự

án luật nào đó của Tổng thống chỉ có tính chất nhắc nhở, giới thiệu và đề nghị chứ không mang tính mệnh lệnh buộc Quốc hội phải tuân theo, Quốc hội rất tự do với những đề nghị này Tuy nhiên trên thực tế, sự can thiệp của Tổng thống Mỹ - Người đứng đầu hành pháp vào quá trình lập pháp của Quốc hội thông qua những bản thông điệp mà Tổng thống gửi cho Quốc hội hay thông qua những phác thảo khuynh hướng chung của các dự án luật mà Tổng thống vẽ ra đã tác động rất mạnh mẽ đến hoạt động của Quốc hội Thực tế cho thấy rất nhiều dự án luật của Quốc hội Mỹ là do Tổng thống đề nghị, thông qua các thông điệp gửi Quốc hội bởi vì Tổng thống đã biết lợi dụng ảnh hưởng đối vói các Đảng viên của Đảng mình trong Quốc hội, hơn nữa bằng sự cố gắng của cá nhân ông ta có thể vận động để các dự án của mình được các nghị sỹ trước tiên là đưa ra Quốc hội, sau đó là qua các uỷ ban của hai viện, gây ảnh hưởng tới các thuyết trình viên, cổ vũ các nhóm

Ngày đăng: 16/02/2021, 19:29

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w