1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo bàn về học thuyết tam quyền phân lập và kiềm chế, đối trọng trong hiến pháp hoa kỳ

9 414 5

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 188,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dù không có điều khoản nào của Hiến pháp quy định rõ ràng rằng ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp của nhà nước liên bang phải được tách bạch nhưng Điều 1, Điều 2 và Điều 3 của H

Trang 1

TS NguyÔn ThÞ ¸nh V©n * iến pháp Hoa Kỳ thừa nhận học thuyết

tam quyền phân lập và kiềm chế, đối

trọng Mặc dù không có điều khoản nào của

Hiến pháp quy định rõ ràng rằng ba quyền

lập pháp, hành pháp và tư pháp của nhà nước

liên bang phải được tách bạch nhưng Điều 1,

Điều 2 và Điều 3 của Hiến pháp lần lượt trao

ba quyền năng nói trên cho Quốc hội, Tổng

thống (người đứng đầu và đại diện cho cơ

quan hành pháp) và Toà án tối cao của Hoa

Kỳ (đại diện cho cơ quan tư pháp); đồng thời

cũng tạo cơ sở pháp lí để mỗi cơ quan nhà

nước nói trên, ở một mức độ nhất định, có

thể kiềm chế việc sử dụng quyền lực của các

cơ quan còn lại Bài viết này bàn về sự thể

hiện học thuyết trên trong Hiến pháp Hoa Kỳ

và tìm lời giải cho hai câu hỏi: 1) Liệu thực

sự có tam quyền phân lập trong bối cảnh mỗi

một trong ba cơ quan nhà nước đều có thể

kiềm chế và đối trọng lẫn nhau? 2) Liệu có

nhất thiết phải thừa nhận đồng thời cả hai

yếu tố trên trong hiến pháp mới đảm bảo

hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước?

1 Tam quyền phân lập trong Hiến

pháp Hoa Kỳ

Tam quyền phân lập là học thuyết được

xây dựng dựa trên ba nguyên tắc: Một là

chính phủ phải được phân chia thành ba cơ

quan: lập pháp, hành pháp và tư pháp; hai là

mỗi cơ quan thực thi một chức năng riêng

biệt, phù hợp với mình và không được lấn át

chức năng của cơ quan khác; ba là nhân sự

của mỗi cơ quan phải được tách bạch sao cho không một người hoặc nhóm người nào

có thể đồng thời làm việc trong nhiều hơn một cơ quan nói trên.(1) Bằng cách đó, mỗi

cơ quan đều có được sự độc lập cần thiết trong quá trình thực hiện chức năng của mình và không có một người hoặc một nhóm người nào có thể kiểm soát được toàn bộ bộ máy nhà nước

Học thuyết tam quyền phân lập có nguồn gốc từ thời Hy Lạp cổ đại, đến Thời đại Ánh

sáng (Age of Enlightenment, từ thế kỉ

XVII-XVIII), học thuyết này đã đối mặt với hai trường phái quan điểm triết học đối lập Trong khi được đa số ủng hộ như John Locke, James Harington và Montesquieu thì học thuyết cũng đã bị kịch liệt phản đối bởi Thomas Hobbes.(2)

Ngày nay, đa số các nhà nghiên cứu đều thừa nhận rằng học thuyết tam quyền phân

lập hướng tới hai mục tiêu: Một là nhằm

ngăn chặn khả năng tập trung quyền lực thái quá, cội nguồn của tình trạng chuyên chế vì theo học thuyết này ba quyền lực nhà nước quan trọng được trao cho ba cơ quan nhà nước riêng biệt chứ không tập trung trong

tay một người hay một nhóm người; hai là

H

* Giảng viên chính Trung tâm luật so sánh Trường Đại học Luật Hà Nội

Trang 2

nhằm trang bị cho mỗi cơ quan nhà nước

những phương tiện cần thiết để đảm bảo

ngăn chặn nguy cơ quyền lực riêng có của

mình bị các cơ quan còn lại xâm phạm Tuy

nhiên, trên thực tế, không phải tất cả các

quốc gia đều thừa nhận một sự phân chia

quyền lực khắt khe giữa các cơ quan nhà

nước Anh quốc là ví dụ tiêu biểu cho quốc

gia mà ở đó học thuyết tam quyền phân lập

không được chú ý tới trong nhiều thế kỉ Ở

Hoa Kỳ, trong khi nhà nước liên bang coi

trọng học thuyết tam quyền phân lập thì một

số bang dường như lại không quan tâm tới

học thuyết này, ví dụ bang New Jersey,

Dealware và Pennsylvania(3)…

1.1 Quyền lập pháp

Điều 1 Hiến pháp Hoa Kỳ thành lập ra

Quốc hội - cơ quan lập pháp của Hoa Kỳ với

hai viện: Hạ nghị viện và Thượng nghị viện

Để đảm bảo những vấn đề gây tranh cãi

được thảo luận tự do tại Quốc hội, các nghị

sĩ được miễn chịu trách nhiệm về những lời

phát biểu của mình trong phiên họp tại viện

nơi mình là thành viên và sẽ không bao giờ

bị chất vấn về những lời phát biểu đó tại bất

kì cơ quan nào khác

Quốc hội Hoa Kỳ là cơ quan duy nhất có

quyền làm luật ở cấp liên bang và không

được uỷ quyền lập pháp của mình cho bất kì

cơ quan nhà nước nào Quy định này của

Hiến pháp đã được nhiều phán quyết của

Toà án tối cao Hoa Kỳ củng cố thêm, theo

đó bất kể uỷ quyền cho cơ quan tư pháp hay

cơ quan hành pháp làm luật, hành vi đó của

Quốc hội đều bị coi là trái với hiến pháp

Một trong những án lệ được thiết lập sớm

nhất vào năm 1825 có liên quan tới Điều 1

Hiến pháp là phán quyết của Toà án tối cao

của Hoa Kỳ trong vụ Wayman v Southard(4) Trong vụ này, Toà án tối cao đã tuyên Quốc hội vi hiến khi trao cho các toà án quyền lập pháp Sở dĩ có lời tuyên án đó là do Điều 17 Luật hệ thống toà án năm 1789 (Act of 1789) và Điều 7 Luật thành lập các toà án tư pháp ở Hoa Kỳ năm 1793 (Act of 1793) đã cho phép các toà án ở Hoa Kỳ được ban hành các quy tắc tố tụng để áp dụng tại toà

án mình với điều kiện các quy tắc đó không được trái với pháp luật của Hoa Kỳ Nói cách khác, bằng hai điều khoản nói trên, Quốc hội Hoa Kỳ đã uỷ quyền cho toà án ban hành luật về các quy tắc tố tụng áp dụng tại toà Trong con mắt của Toà án tối cao Hoa Kỳ, Quốc hội Hoa Kỳ rõ ràng đã có hành vi đi ngược lại Điều 1 của Hiến pháp Năm 1935, trong vụ A.L.A Schechter Poultry Corp v United States,(5) tính hợp hiến của Luật phục hồi công nghiệp quốc gia năm 1933 (National Industrial Recovery Act) cũng đã bị Toà án tối cao Hoa Kỳ phủ nhận Điều 3 của Luật này đã cho phép Tổng thống Hoa Kỳ ban hành Bộ luật cạnh tranh công bằng Tòa án tối cao Hoa Kỳ đã tuyên: Tổng thống không có quyền ban hành bộ luật nói trên vì Điều 1 Hiến pháp Hoa Kỳ đã trao toàn bộ quyền lập pháp cho Quốc hội Nói cách khác, Quốc hội đã vi phạm Điều 1 Hiến pháp khi trao quyền lập pháp hiến định của riêng mình cho Tổng thống

1.2 Quyền hành pháp

Điều 2 Hiến pháp trao quyền hành pháp cho Tổng thống Để đảm bảo sự độc lập của

cơ quan hành pháp, Hiến pháp quy định Tổng thống do dân bầu trực tiếp với nhiệm

kì bốn năm, bất kể vị Tổng thống đó có được các đảng phái chính trị của Quốc hội ủng hộ

Trang 3

hay không; đồng thời, Tổng thống được

miễn tố hình sự trong suốt nhiệm kì nhưng

có thể bị điều trần tại phiên toà do Thượng

nghị viện mở và chỉ bị kết tội khi có đa số

phiếu tuyệt đối tán thành

Điều khoản này còn trao cho Tổng thống

trách nhiệm đảm bảo pháp luật được thực thi

một cách trung thành trên thực tế Trách

nhiệm hiến định này không buộc cá nhân

Tổng thống Hoa Kỳ phải trực tiếp cưỡng chế

việc thi hành pháp luật mà đúng hơn, các cán

bộ cấp dưới của Tổng thống phải giúp việc

cho Tổng thống Tổng thống có quyền miễn

nhiệm các công chức Chính phủ (executive

officers) không đảm đương được trách nhiệm

hiến định này Bản thân Quốc hội Hoa Kỳ

không thể tự ý miễn nhiệm các công chức

Chính phủ mà cũng không được phép cản trở

Tổng thống trong quá trình thực hiện quyền

hạn này Tuy nhiên, Tổng thống không được

phép sử dụng quyền hạn này để can thiệp

vào nhân sự của những cơ quan không thuộc

khối hành pháp, ví dụ các cơ quan như: Uỷ

ban khiếu nại chiến tranh, Uỷ ban thương

mại giữa các bang (Interstate Commerce

Commission) và Uỷ ban thương mại liên

bang là những tổ chức bán tư pháp

(quasi-judicial) và bán lập pháp (quasi-legislative)

Thêm vào đó, Quốc hội không thể đơn

phương cản trở các công chức Chính phủ

trong quá trình họ thực thi trách nhiệm của

mình Trong vụ INS v Chadha,(6) Toà án tối

cao đã vô hiệu hoá một đạo luật trao quyền

phủ quyết cho một trong hai viện của Quốc

hội đối với quyết định hành chính của Bộ

trưởng tư pháp (Attorney General) Những

phán quyết trong những năm sau đó của toà

án đã củng cố thêm cho nguyên tắc pháp lí

mà Toà án tối cao đã thiết lập trong vụ án trên, theo đó, thậm chí ngay cả khi có sự đồng thuận của cả Thượng nghị viện và Hạ nghị viện, Quốc hội cũng không thể bác bỏ quyết định hành chính nào đó Tuy nhiên, Quốc hội lại có quyền làm luật để định ra những chuẩn mực, điều chỉnh hành vi của các công chức Chính phủ vì luật khác với sự phủ quyết đơn phương bằng văn bản của Quốc hội ở chỗ văn bản phủ quyết của Quốc hội không phải qua khâu đệ trình lên Tổng thống để xin phê chuẩn trước khi được ban hành

1.3 Quyền tư pháp

Điều 3 Hiến pháp Hoa Kỳ cho phép Quốc hội thành lập ra Toà án tối cao của Hoa Kỳ và các toà án liên bang cấp dưới đồng thời trao quyền tư pháp liên bang cho

hệ thống toà án này

Thẩm phán liên bang do Tổng thống bổ nhiệm trên cơ sở đề xuất của Thượng nghị viện và phải được Thượng nghị viện phê chuẩn Thẩm phán liên bang có nhiệm kì cả đời với mức lương ổn định trong suốt nhiệm

kì Quy định này nhằm đảm bảo sự độc lập,

vô tư và kiên định của các thẩm phán liên bang trong quá trình xét xử trước bất kì cám

dỗ nào, dù là quyền lực hay vật chất Nếu thẩm phán liên bang không có được những

sự bảo đảm hiến định nói trên, toà án không thể thực thi hiệu quả quyền tư pháp của liên bang Những toà án thực thi quyền tư pháp nói trên được gọi là “toà án hiến định” (constitutional courts) khác với các “toà án luật định” (legislative courts) cũng do Quốc hội Hoa Kỳ thành lập dưới hình thức các cơ quan bán tư pháp và các uỷ ban Thành viên của các toà án luật định không được hưởng cùng sự bảo đảm về an ninh, nhiệm kì và

Trang 4

lương bổng như các thẩm phán của toà án

hiến định Các toà án luật định không được

thực thi quyền tư pháp của nhà nước liên

bang Hoa Kỳ Theo Toà án tối cao Hoa

Kỳ,(7) các toà án luật định không được xét xử

các vụ việc tư pháp mà chỉ được xét xử

những vụ việc liên quan đến công quyền

(public rights), đó là những vụ việc giữa

Chính phủ và các cá nhân công dân có liên

quan tới các quyết định hành chính

Như vậy, mặc dù không có điều khoản

nào của Hiến pháp quy định rõ bản hiến

pháp thừa nhận học thuyết tam quyền phân

lập nhưng có thể nói nội dung của học thuyết

này được thể hiện rõ nét trong Điều 1, 2 và 3

của Hiến pháp Hoa Kỳ và đã được khẳng

định thêm bằng hàng loạt án lệ có liên quan

Tuy nhiên, sự phân chia quyền lực ở Hoa Kỳ

không phải là tuyệt đối mà cũng theo Hiến

pháp Hoa Kỳ, mỗi một trong ba cơ quan nhà

nước, trong quá trình thực thi các quyền

năng hiến định của mình, ở một mức độ nhất

định, vẫn chịu sự kiểm tra chéo bởi hai cơ

quan còn lại Nói cách khác, cùng với yếu tố

phân chia quyền lực, Hiến pháp Hoa Kỳ còn

thừa nhận cả yếu tố kiềm chế và đối trọng

2 Kiềm chế và đối trọng trong Hiến

pháp Hoa Kỳ

Kiềm chế và đối trọng có mối liên hệ

chặt chẽ với tam quyền phân lập James

Madison(8) cho rằng học thuyết tam quyền

phân lập không đòi hỏi sự phân chia cứng

nhắc ba quyền lực nhà nước; rằng ba cơ

quan nhà nước không nên hoạt động quá

tách biệt đến mức không thể tiến hành bất cứ

sự kiểm soát hiến định nào đối với nhau mà

theo lí thuyết kiềm chế và đối trọng, không

có cơ quan nào của nhà nước có thể hành

động mà không phải chịu sự giám sát bởi hai

cơ quan nhà nước còn lại ở mức độ cần thiết Kiềm chế và đối trọng là cơ chế được thiết

kế để cho phép mỗi một trong ba cơ quan nhà nước nói trên đều có thể hạn chế khả năng lạm dụng quyền lực của hai cơ quan còn lại.(9) Như vậy, mặc dù theo học thuyết tam quyền phân lập, Quốc hội có chức năng làm luật, Chính phủ có chức năng thực thi pháp luật và toà án có chức năng xét xử nhưng mỗi một cơ quan nhà nước này đều có quyền kiểm soát hoặc hoạt động chức năng hoặc nhân sự của nhau trong chừng mực nào

đó Ví dụ: Theo Hiến pháp Hoa Kỳ: 1) Quốc hội có quyền làm luật nhưng luật của Quốc hội có thể bị Tổng thống phủ quyết hoặc bị toà án bãi bỏ do vi hiến; 2) Tổng thống và các thành viên nội các có quyền hành pháp nhưng một số hành vi của họ cần được Thượng nghị viện phê chuẩn, còn một số hành vi khác có thể bị toà án vô hiệu hoá; 3) Toà án tối cao nắm quyền tư pháp cao nhất nhưng thẩm phán của Toà lại do Tổng thống

bổ nhiệm với sự phê chuẩn của Thượng nghị viện và có thể bị Quốc hội điều trần

Việc kiểm soát lẫn nhau giữa ba cơ quan nhà nước sẽ tạo ra sự cân bằng quyền lực, làm cho không một cơ quan nào có thể tuỳ tiện sử dụng quyền lực hiến định trong quá trình thực thi các hoạt động chức năng của mình, tránh dẫn đến tình trạng chuyên quyền, độc đoán

2.1 Kiềm chế và đối trọng từ phía cơ quan lập pháp(10)

Theo Hiến pháp Hoa Kỳ, Quốc hội có quyền can thiệp vào vấn đề nhân sự của cơ quan hành pháp, thể hiện ở quyền chỉ định

và miễn nhiệm Tổng thống, quyền phê chuẩn danh sách các quan chức Chính phủ do Tổng

Trang 5

thống bổ nhiệm Cụ thể là khi không có ứng

cử viên nào của chức Tổng thống đạt được

đa số phiếu trong cuộc tuyển cử, Hạ nghị

viện có quyền chọn ra Tổng thống từ ba ứng

cử viên sáng giá nhất Thượng nghị viện cũng

có quyền tương tự trong cuộc tuyển cử Phó

Tổng thống nhưng chỉ được lựa chọn từ một

trong số hai ứng cử viên sáng giá nhất trong

số các ứng cử viên của chức phó Tổng

thống Nếu ghế phó Tổng thống bị bỏ trống,

Tổng thống có thể chỉ định phó Tổng thống

với điều kiện sự chỉ định đó phải được chấp

thuận bởi cả hai viện của Quốc hội

Ngoài ra, khi bổ nhiệm thành viên của nội

các, các đại sứ và các công chức Chính phủ

cấp cao, Tổng thống cũng cần có sự tư vấn và

chấp thuận của Thượng nghị viện trừ khi việc

bổ nhiệm diễn ra trong thời gian giữa các

phiên họp của Thượng nghị viện Khi đó Tổng

thống có thể bổ nhiệm tạm thời các chức vụ

nói trên mà không cần có sự phê chuẩn của

Thượng nghị viện Quốc hội cũng có thể miễn

nhiệm Tổng thống bằng cách mở một phiên

toà xét xử khi có đơn tố cáo Tổng thống

(impeachment trial) và nếu xét thấy Tổng

thống thực sự có hành vi vi phạm pháp luật

Hạ nghị viện có quyền tố cáo cả công

chức Chính phủ và thẩm phán còn Thượng

nghị viện có quyền mở phiên toà xét xử tất

cả đối tượng nói trên khi có lời cáo buộc

Cần lưu ý rằng các thượng nghị sĩ và hạ nghị

sĩ không được xem là các công chức (civil

officers), vì vậy họ không thuộc đối tượng

có thể bị tố cáo theo quy định nói trên Tuy

nhiên, mỗi viện của Quốc hội đều có quyền

miễn nhiệm nghị sĩ nào đó của mình nếu có

đủ số phiếu tán thành hiến định từ các nghị

sĩ của viện đó Trong khi Hạ nghị viện chỉ

cần quá bán số phiếu tán thành của các hạ nghị sĩ là có thể miễn nhiệm một hạ nghị sĩ thì để làm được điều đó, Thượng nghị viện cần có tới 2/3 số phiếu tán thành của các thượng nghị sỹ

Quốc hội có quyền can thiệp vào bộ máy của cơ quan tư pháp như thành lập ra các toà

án cấp dưới của Toà án tối cao và xác định thẩm quyền cũng như quy mô của các toà án này Các thẩm phán liên bang mặc dù do Tổng thống bổ nhiệm nhưng cần phải được Thượng nghị viện chấp thuận Quốc hội còn quyết định mức lương của thẩm phán liên bang và của các công chức Chính phủ mặc

dù không có quyền tăng hay giảm lương của Tổng thống và các thẩm phán liên bang trong suốt nhiệm kì của họ

2.2 Kiềm chế và đối trọng từ phía cơ quan hành pháp(11)

Là người đứng đầu cơ quan hành pháp nhưng Tổng thống Hoa Kỳ được phép can thiệp vào hoạt động lập pháp của Quốc hội thông qua việc sử dụng quyền phủ quyết đối với dự luật đã được Quốc hội thông qua Tuy nhiên, quyền phủ quyết này có thể bị vô hiệu hoá nếu mỗi viện có tới 2/3 số phiếu tán thành dự luật bị Tổng thống phủ quyết sau khi dự luật đó quay trở lại viện đã đệ trình

dự luật đó lên Tổng thống trừ trường hợp phủ quyết “bỏ túi” (pocket veto)

Trong thực tiễn, sáu vị Tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ hầu như hiếm khi sử dụng đến quyền phủ quyết Ví dụ, Goerge Washington chỉ phủ quyết hai dự luật; James Monroe chỉ

sử dụng quyền phủ quyết một lần; John Adams, Thomas Jefferson và John Quincy Adams không sử dụng quyền năng hiến định này lần nào; còn James Madison - người tin

Trang 6

tưởng vững chắc vào cơ quan hành pháp

hùng mạnh, đã phủ quyết tới bảy dự luật

Tuy nhiên, không ai trong số sáu Tổng thống

đầu tiên của Hoa Kỳ lại dùng quyền phủ

quyết để điều khiển chính sách quốc gia Chỉ

mãi tới thời Andrew Jackson - Tổng thống

thứ bảy của Hoa Kỳ, lần đầu tiên quyền phủ

quyết mới được sử dụng như một thứ vũ khí

chính trị Trong suốt hai nhiệm kì của mình,

vị Tổng thống này đã phủ quyết tới 12 dự

luật, nhiều hơn tổng số các dự luật mà cả sáu

vị Tổng thống tiền nhiệm đã phủ quyết

Một vài người kế nhiệm Jackson đã

không dùng đến quyền phủ quyết, trong khi

những người khác thỉnh thoảng mới khai

thác quyền năng này Chỉ sau nội chiến, các

Tổng thống Hoa Kỳ mới sử dụng quyền phủ

quyết để tạo nên sự đối trọng với Quốc hội

trên thực tế Đặc biệt đáng chú ý là những

cuộc đấu tranh giữa Andrew Johnson với

Quốc hội, với tư cách là đảng viên Đảng dân

chủ, đã phủ quyết tới vài đạo luật tái thiết do

các đảng viên cấp tiến của Đảng cộng hoà

thông qua Quốc hội Hoa Kỳ tuy nhiên đã cố

gắng loại bỏ tới 15 trong số 29 phủ quyết

của Johnson Hơn nữa, Quốc hội cũng đã cố

gắng hạn chế quyền hạn của Tổng thống

bằng cách thông qua Luật nhiệm kì (Tenure

of Office Act of 1867) Đạo luật này quy

định Thượng nghị viện phê chuẩn việc miễn

nhiệm các thành viên cấp trên của nội các

Khi Johnson vi phạm đạo luật này một cách

có tính toán vì cho rằng đây là đạo luật vi

hiến, Hạ nghị viện đã cáo buộc vị Tổng

thống này nhưng Thượng nghị viện đã tuyên

ông trắng án, chỉ với một phiếu chống.(12)

Sau vụ cáo buộc Andrew Johnson, Grover

Cleveland đã nỗ lực phục hồi quyền lực của

Tổng thống Việc buộc tội Johnson được thừa nhận là đã gây tổn hại lớn cho chức vụ Tổng thống Hoa Kỳ tới mức đã có ý kiến cho rằng Tổng thống chỉ còn là sự tượng trưng còn người phát ngôn của Hạ nghị viện

mới đúng là thủ tướng của Hoa Kỳ trên thực

tế Grover Cleverland - đảng viên Đảng dân chủ đầu tiên ủng hộ Johnson, đã cố gắng phục hồi quyền lực của Văn phòng Tổng thống bằng cách phủ quyết tới hơn 400 dự luật trong nhiệm kì thứ nhất(13) của mình, nhiều gấp hai lần số dự luật mà 21 vị Tổng thống tiền nhiệm của ông đã phủ quyết gộp lại Ngoài quyền phủ quyết, trường hợp hai viện của Quốc hội không thể thống nhất được ngày giờ cho phiên họp tiếp theo, Tổng thống sẽ có quyền quyết định Tổng thống còn có thể triệu tập họp khẩn cấp đối với mỗi viện hoặc cả hai viện của Quốc hội Không chỉ có quyền can thiệp vào hoạt động lập pháp, Tổng thống Hoa Kỳ còn có quyền can thiệp vào hoạt động tư pháp, kể cả việc can thiệp vào vấn đề nhân sự của cơ quan này Cụ thể, Tổng thống có thể bổ nhiệm thẩm phán trên cơ sở tư vấn của Thượng nghị viện và phải được Thượng nghị viện chấp thuận; có quyền phát lệnh tha bổng hoặc ân xá mà không cần có sự phê chuẩn của bất cứ viện nào của Quốc hội hoặc thậm chí ý kiến của phạm nhân

2.3 Kiềm chế và đối trọng từ phía cơ quan tư pháp

Toà án Hoa Kỳ có quyền kiểm soát cả cơ quan lập pháp và cơ quan hành pháp thông qua việc giám sát bằng thủ tục tư pháp (judicial review) đối với các văn bản pháp luật do các cơ quan này ban hành Quyền giám sát bằng thủ tục tư pháp thực ra không

Trang 7

được ghi nhận cụ thể trong Hiến pháp Hoa

Kỳ mà do các nhà lập hiến mường tượng

ra(14) và được củng cố thêm bằng tiền lệ pháp

do Toà án tối cao của Hoa Kỳ thiết lập từ vụ

Marbury v Madison.(15) Trong phán quyết

này, Toà án tối cao đã phủ nhận một phần

hiệu lực của đạo luật liên bang với lí do Quốc

hội Hoa Kỳ đã vượt quá quyền hiến định khi

thông qua đạo luật đó Toà cũng khẳng định

rằng quyền giám sát bằng thủ tục tư pháp của

Tòa (theo Luật hệ thống toà án năm 1789)

không chỉ áp dụng đối với luật của các bang

mà còn áp dụng với cả luật của liên bang;

rằng Quốc hội liên bang chỉ có quyền giới

hạn theo Hiến pháp liên bang, vì vậy, luật

của liên bang cũng phải chịu sự giám sát

bằng thủ tục tư pháp của toà án liên bang

Mặc dù phán quyết trên của Toà án tối

cao đã vấp phải một vài sự phản đối, chủ yếu

xuất phát từ động cơ chính trị cá nhân nhưng

dù sao cũng đã thiết lập nên cơ sở pháp lí

vững chắc, giúp toà án bãi bỏ hiệu lực của

một đạo luật nếu đạo luật đó vi hiến Quyền

năng này thuộc về bất cứ toà án nào của Hoa

Kỳ nhưng chỉ phán quyết của Toà án tối cao

tuyên đạo luật nào đó vi hiến mới có giá trị

ràng buộc trên phạm vi toàn quốc Phán quyết

của Toà phúc thẩm liên bang về vấn đề tương

tự chỉ có giá trị ràng buộc trong phạm vi lãnh

thổ mà Toà có thẩm quyền xét xử.(16)

Quyền giám sát bằng thủ tục tư pháp đối

với tính hợp hiến của các văn bản pháp luật,

tuy nhiên, có thể bị Quốc hội hạn chế vì

Quốc hội có có quyền giới hạn thẩm quyền

của các toà án Một sự hạn chế hiến định duy

nhất đối với quyền của Quốc hội trong việc

giới hạn thẩm quyền của toà án có liên quan

tới Toà án tối cao Đó là Toà án tối cao chỉ

có thể thực thi thẩm quyền xét xử phúc thẩm trừ những vụ việc liên quan đến các bang và những vụ việc ảnh hưởng tới các đại sứ, các

bộ trưởng hoặc lãnh sự nước ngoài (được xét

xử sơ thẩm) Quốc hội còn được phép giới hạn quyền lực của Chánh án Tòa án tối cao khi ở trong cương vị chủ toạ phiên toà do Thượng nghị viện mở để luận tội Tổng thống Theo nguyên tắc của Thượng nghị viện, trong tình huống đó, chủ toạ phiên toà không được trao nhiều quyền hạn, vì vậy ở những phiên toà loại này, vai trò của Chánh

án Toà án tối cao khá hạn hẹp

Như vậy, quyền của toà án trong việc giám sát bằng thủ tục tư pháp dường như là phương tiện duy nhất cho phép toà kiềm chế được hoạt động của hai cơ quan còn lại Cho tới trước nội chiến, Toà án tối cao mới chỉ thực thi quyền năng này hai lần để vô hiệu hoá các đạo luật được Quốc hội thông qua với lí do vi hiến: Lần thứ nhất vào năm 1803 trong vụ Marbury v Madison và lần thứ hai vào năm 1857 trong vụ Scott v Sandford.(17) Mặc dù ngày nay, Toà án tối cao đã thực thi quyền năng này một cách rộng rãi hơn nhưng vẫn khó có thể nói rằng Toà có nhiều quyền lực chính trị bằng Quốc hội hoặc Tổng thống Hoa Kỳ Nói cách khác, toà án xem ra là cơ quan yếu thế nhất trong số ba

cơ quan nhà nước nói trên ở Hoa Kỳ

3 Hệ quả nào từ việc thừa nhận học thuyết tam quyền quyền phân lập và kiềm chế, đối trọng trong Hiến pháp Hoa Kỳ?

Trên thực tế, đã có ý kiến cho rằng sự phân chia ba quyền lực nhà nước ở Hoa Kỳ chính là nguyên nhân dẫn đến tình trạng hoạt

Trang 8

động thiếu hiệu quả trong bộ máy nhà nước vì

khi các đảng phái chính trị khác nhau nắm giữ

Quốc hội và chức vụ Tổng thống, rất có thể

xảy ra tình trạng bế tắc trong hoạt động lập

pháp do thiếu sự hợp tác giữa hai đảng phái

chính trị này Khi đó, rất có khả năng, Tổng

thống sẽ dễ dàng từ chối phê chuẩn một dự

luật đã được Quốc hội thông qua và lẽ dĩ

nhiên, hoạt động lập pháp sẽ bị đình trệ Vì

vậy, có một số ý kiến đề xuất xây dựng chế độ

nghị viện theo đó cùng một đảng phái chính trị

hoặc các đảng phái liên minh vừa kiểm soát cơ

quan hành pháp, vừa kiểm soát cơ quan lập

pháp nhằm giúp bộ máy nhà nước hoạt động

hiệu quả hơn Chế độ nghị viện này cũng được

Tổng thống Woodrow Wilson ủng hộ.(18)

Ý kiến trên về khiếm khuyết của học

thuyết tam quyền phân lập có phần hợp lí,

tuy nhiên, không vì thế mà có thể phủ nhận

hoàn toàn vai trò của học thuyết này

Montesquieu, một trong những người tiên

phong, ủng hộ học thuyết tam quyền phân

lập đã đưa ra nhận định nổi tiếng về tầm

quan trọng của học thuyết này trong chế độ

dân chủ: “Khi quyền lập pháp và hành pháp

được trao cho cùng một người, hoặc một

nhóm quan chức, có thể dẫn đến khả năng

mất tự do và nảy sinh tình trạng thâu tóm

quyền lực, bởi lẽ cùng một quốc vương, hoặc

một thượng nghị viện sẽ ban hành những

đạo luật chuyên chế và thực thi những đạo

luật này theo cách thức bạo ngược Sẽ càng

mất tự do hơn nếu quyền tư pháp không

được bóc tách khỏi quyền lập pháp và hành

pháp Nếu kết hợp với quyền lập pháp, cuộc

sống và sự tự do của nhân dân sẽ bị đặt dưới

sự kiểm soát độc đoán vì khi đó người thẩm

phán sẽ đồng thời là người làm luật Nếu kết hợp với quyền hành pháp, người thẩm phán

có thể hành xử bằng bạo lực và đàn áp”.(19) Như vậy, theo Montesquieu, việc bóc tách các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp sẽ giúp củng cố nền tự do vì việc làm này có khả năng ngăn ngừa tình trạng độc đoán, bạo lực và đàn áp James Madison dường như cũng ủng hộ quan điểm này khi khẳng định rằng tam quyền phân lập ở Hoa Kỳ không được thiết kế để tối đa hoá tính hiệu quả trong hoạt động của bộ máy nhà nước mà để tối đa hoá quyền tự do.(20)

Như vậy, cả Montesqueue và Madison đều cho rằng tam quyền phân lập được sử dụng để tăng cường hay tối đa hoá tự do Tuy nhiên, để bộ máy nhà nước vận hành tốt

và đảm bảo tự do cho dân thì cần có cơ chế thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy này Chính vì vậy, Madison đã

đề cao yếu tố kiềm chế, đối trọng và cho rằng việc thừa nhận đồng thời hai yếu tố này

sẽ vừa tối đa hoá tự do và ngăn ngừa tình trạng chuyên quyền độc đoán lại vừa tăng cường hiệu quả trong hoạt động của ba cơ quan nhà nước: lập pháp, hành pháp và tư pháp Lí do là mặc dù tam quyền phân lập có khả năng ngăn ngừa tình trạng chuyên quyền, độc đoán nhưng lại có nguy cơ làm giảm hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước Nhưng nếu tam quyền phân lập kết hợp với kiềm chế và đối trọng sẽ không có

cơ quan nào trong số ba cơ quan nhà nước nói trên có thể lạm dụng thái quá quyền lực của riêng mình tới mức tuỳ tiện trong quá trình hoạt động vì luôn có sự giám sát và đối trọng cần thiết từ hai cơ quan còn lại

Trang 9

Tóm lại, mặc dù tam quyền phân lập

giúp các cơ quan nhà nước có được sự độc

lập cần thiết để thực hiện tốt chức năng của

mình và là điều cần có cho một xã hội dân

chủ nhưng nếu chỉ có tam quyền phân lập,

rất có thể sẽ dẫn đến tình trạng trì trệ trong

hoạt động của bộ máy nhà nước Kiềm chế

và đối trọng, vì vậy, sẽ là giải pháp giúp mỗi

một trong ba cơ quan nhà nước nói trên có

thể kiểm soát hoạt động chức năng của nhau

ở mức độ cần thiết, không cho phép bất cứ

cơ quan nào lạm quyền, làm tổn hại tới hiệu

quả hoạt động của cả bộ máy nhà nước Vì

vậy, việc thừa nhận đồng thời hai yếu tố trên

trong hiến pháp Hoa Kỳ hoàn toàn đúng đắn

Tuy nhiên, với những nền tảng hiến định đó,

liệu bộ máy nhà nước Hoa Kỳ có thực sự

hoạt động hiệu quả và đảm bảo một xã hội tự

do, dân chủ hay không còn tuỳ thuộc nhiều

vào thực tiễn vận hành của bộ máy nhà nước

cũng như mức độ tuân thủ hiến pháp của

chính các cơ quan nhà nước nói trên./

(1).Xem: M.J.C Vile, “Constitutionalism and the

Separation of Powers” (1967), (2nd ed.) (Indianapolis,

Liberty Fund 1998), Chapter I, at http://oll.Liberty

fund.org/

(2).Xem thêm: “Separation of Powers under the

United States Constitution”, http://www.economic

expert.com/

(3) Ở New Jersey và Delaware, Thống đốc bang vừa

hành sự với tư cách thẩm phán của Toà án tối cao

(Toà phúc thẩm trong trường hợp của Delaware) của

bang lại vừa là người đứng đầu một viện của cơ quan

lập pháp; ở Delaware và Pennsyvania, thành viên của

Hội đồng hành pháp đồng thời cũng là thẩm phán…

(4).Xem: Wayman v Southard 23 U.S 1 (1825)

(5).Xem: A.L.A Schechter Poultry Corp v United

States, 295 U.S 495 (1935)

(6).Xem: INS v Chadha , 462 U.S 919 (1983)

(7).Xem: Murray’s Lessee v Hoboken Land &

Improvement Co., 59 US 272 (1856)

(8) James Madison là chính trị gia, nhà triết học chính trị của Mỹ (1751-1836) đồng thời là Tổng thống thứ 4 của Mỹ (1809 - 1817) Ông được xem là một trong những người đã sáng lập ra nước Mỹ, là tác giả chính của Hiến pháp Mỹ và của hơn 1/3 những công trình nghiên cứu mang tên “The Federalist” với những bình luận về Hiến pháp Mỹ có ảnh hưởng lớn nhất

(9).Xem: James Madison, “The Federalist” No 47, at

325 - 326, http://www.constitution.org/

(10).Xem: Article II, Section 1 & Article I, Section 3, the US Constitution; xem The Twelfth Admendment

of the US Constitution in 15th June 1804

(11).Xem: Article I, Section 7, the US Constitution

Về biểu thống kê số lần phủ quyết của các tổng thống

Mỹ: xem Zoe David, “Presidential Vetoes, 1989 –

2000”, http://www.senate.gov/reference/

(12).Xem: Douglas O Linder, “The Impeachment

Trial of Andrew Johnson”, http://www.law.umkc.edu /faculty/projects/

(13).Xem: American President - An Online Reference

Resource: Andrew Johnson (Impeachment of Andrew Johnson), Miller Center of Public Affair, University

of Virginia, at http://millercenter.org/academic/ (14).Xem ví dụ: “The Federalist” sđd

(15).Xem: Marbury v Madison, 5 U.S 137 (1803)

(16) Hệ thống toà án liên bang Mỹ có 13 toà phúc thẩm trong đó 11 toà phụ trách 11 vùng lãnh thổ và mỗi toà phúc thẩm đó sẽ chịu trách nhiệm xét xử phúc thẩm đối với những vụ việc đã xử bởi toà án cấp quận/huyện liên bang trong vùng lãnh thổ mình quản

lí khi có kháng cáo, kháng nghị

(17).Xem: Scott v Sandford 60 U.S 393 (1857) (18).Xem: “The Papers of Woodrow Wilson”, Arthur

Link ed et al., Princeton: Princeton University Press,

at 148-149

(19).Xem: Montesquieu, “The Spirit of the Laws”,

vol 1, trans Thomas Nugent (London: J Nourse, 1777),

at 221

(20).Xem: “Separation of Powers – The Issue: When

do the actions of one branch of the Federal Governement unconstitutionally intrude upon the powers of another branch?”, http://www.law.umck.edu/

Ngày đăng: 20/12/2015, 06:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w