1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hệ thống chính trị là gì hệ thống chính trị ở việt nam hiện nay bao gồm những thiết chế nào phân tích mối quan hệ giữa các thiết chế trong HTCT việt nam hiện nay và sự cần thiết phải đổi mới đồng bộ các yếu tố cấu thành hệ

26 478 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 55,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giai đoạn 1945 – 1954: “Hệ thống chính trị dân chủ nhân dân” dựa trên cơ sở khối đại đoàn kết dân tộc tậphợp trong Mặt trận Việt Minh và Liên – Việt, nòng cốt là liên minh công – nông –

Trang 1

Câu 6: Hệ thống chính trị là gì? Hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay bao gồm những thiết chế nào? Phân tích mối quan hệ giữa các thiết chế trong HTCT Việt Nam hiện nay và sự cần thiết phải đổi mới đồng bộ các yếu tố cấu thành hệ thống chính trị?

Dàn ý:

1 Hệ thống chính trị là gì

2 Hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay bao gồm những thiết chế nào?

3 Mối quan hệ giữa các thiết chế trong HTCT Việt Nam hiện nay

- Mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước

- Mối quan hệ giữa Mặt trận tổ quốc và Nhà nước

- Mối quan hệ giữa Đảng và Mặt trận tổ quốc

4 Sự cần thiết phải đổi mới đồng bộ các yếu tố cấu thành hệ thống chính trị?

để củng cố, duy trì và phát triển chế độ đương thời phù hợp với lợi ích của chủ thể giaicấp cầm quyền

Trang 2

Hệ thống chính trị xuất hiện cùng với sự thống trị của giai cấp, Nhà nước và thực hiệnđường lối chính trị của giai cấp cầm quyền, do đó hệ thống chính trị mang bản chấtgiai cấp của giai cấp cầm quyền.

Trong chủ nghĩa xã hội, giai cấp công nhân và nhân dân lao động là chủ thể thực sựcủa quyền lực, tự mình tổ chức và quản lý xã hội, quyết định nội dung hoạt động của

hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa

2 Hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay bao gồm những thiết chế nào?

Ở nước ta, giai cấp công nhân và nhân dân lao động là chủ thể chân chính của quyềnlực Bởi vậy, hệ thống chính trị ở nước ta là cơ chế, là công cụ thực hiện quyền làmchủ của nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng

Hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay bao gồm:

+ Đảng Cộng sản Việt Nam

+ Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

+ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị

3 Mối quan hệ giữa các thiết chế trong HTCT Việt Nam hiện nay

- Mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước là quan hệ mục đích nắm quyền và hoạt độngquản lý xã hội Đảng lãnh đạo xã hội chủ yếu thông qua nhà nước và các đoàn thểquần chúng Đường lối chủ trương của Đảng được nhà nước tiếp nhận và thể hiện hóa

cụ thể bằng pháp luật và những chủ trương, chính sách, kế hoạch, chương trình cụ thể

- Mối quan hệ giữa Mặt trận tổ quốc và Nhà nước: Mặt trận tổ quốc tham gia xâydựng, giám sát và bảo vệ Nhà nước, vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện quyềnbầu cử, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, tham gia xây dượng pháp luật…Nhà nước lại dựa vào Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể để phát huy quyền làm chủ vàsức mạnh có tổ chức của nhân dân, tôn trọng và tạo mọi điều kiện để nhân dân trựctiếp hoặc thông qua đoàn thể của mình tham gia xây dựng, quản lý và bảo vệ Nhànước

- Mối quan hệ giữa Đảng và Mặt trận tổ quốc: Đảng tham gia ủy ban Mặt trận vớitrách nhiệm thực hiện chương trình của Mặt trận tổ quốc và tích cực tham gia công tác

Trang 3

Mặt trận Đảng lãnh đạo Mặt trận thông qua đường lối, chủ trương, chính sách đúngđắn, đáp ứng yêu cầu nguyện vọng và lợi ích chính đáng của các tầng lớp nhân dân.Đảng tiến hành công tác tuyên truyền, vận động, thuyết phục, tổ chức kiểm tra.

4 Sự cần thiết phải đổi mới đồng bộ các yếu tố cấu thành hệ thống chính trị?

Trước 1989, hệ thống chính trị gọi là “hệ thống chuyên chính vô sản”, qua đó nhândân thực thi quyền lực xã hội hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay bao gồm Đảng,Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và năm đoàn thể chính trị - xã hội (Tổng Liên đoàn Laođộng Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp phụ nữ ViệtNam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội nông dân Việt Nam) và mối quan hệ giữacác thành tố trong hệ thống

Ở mỗi giai đoạn cách mạng, hệ thống chính trị mang nội hàm đặc thù, được gọi bằngnhững thuật ngữ khác nhau

Giai đoạn 1945 – 1954:

“Hệ thống chính trị dân chủ nhân dân” dựa trên cơ sở khối đại đoàn kết dân tộc (tậphợp trong Mặt trận Việt Minh và Liên – Việt), nòng cốt là liên minh công – nông – tríthức, có cơ sở kinh tế là nền sản xuất tư nhân hàng hóa nhỏ, tự cấp, tự túc, do Đảngcộng sản lãnh đạo, sự lãnh đạo này ẩn dấu trong vai trò của Quốc hội – Chính phủ, cácđảng viên trong hai cơ quan này và lãnh tụ

Cơ sở tư tưởng lúc này là “Dân tộc trên hết Tổ quốc trên hết”

Đã xuất hiện ở mức độ nhất định sự giám sát của xã hội dân sự đối với Nhà nước vàĐảng; có sự phản biện của hai Đảng (Đảng Dân chủ và Đảng Xã hội) đối với ĐảngCộng sản Việt Nam

Hệ thống chính trị dân chủ nhân dân đã hoàn thành nhiệm vụ đánh đuổi bọn xâm lược,thống nhất đất nước, gây dựng cơ sở cho CNXH

Trong thời kỳ 1954 – 1989:

Hệ thống chính trị dân chủ nhân dân chuyển sang làm nhiệm vụ của chuyên chính vôsản ở miền Bắc (1954-1975) và trên cả nước (1975-1989) Cơ sở hình thành ở nước ta

Trang 4

là lý luận Mác-Lenin về thời kỳ quá độ và chuyên chính vô sản, kinh nghiệm của cácnước XHCN và thực tiễn đất nước.

Điểm cốt lõi trong cơ sở chính trị này là Đảng cộng sản lãnh đạo toàn diện và tuyệtđối, cơ sở kinh tế là nên kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp, dựa trêncông hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu Nhà nước trở thành một tổ chức kinh tế - xã hộibao trùm Cơ sở xã hội là kết cấu gồm giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầnglớp trí thức

Hệ thống chuyên chính vô sản được xây dựng đã hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ, xâydựng bước đầu chế độ mới XHCN ở miền Bắc, bảo đảm cho miền Bắc hoàn thành vaitrò quyết định nhất trong sự nghiệp cách mạng cả nước và trong chống Mỹ, cứu nước,giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Nó cũng góp phần đem lại những thànhtựu quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc

Từ sau năm 1975, hệ thống chính trị bộc lộ nhiều nhược điểm Mối quan hệ giữaĐảng – Nhà nước và nhân dân ở từng cấp, từng đơn vị chưa được xác định rõ, cònchống lấn, chế độ trách nhiệm chưa nghiêm, pháp chế còn nhiều thiếu sót

Bộ máy nhà nước cồng kềnh, cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, bao cấp dẫn tới chưaphát huy được dân chủ xã hội

Sự lãnh đạo của Đảng chưa ngang tầm nhiệm vụ, có tình trạng tập trung quan liêu.Các đoàn thể chưa phát huy vai trò tổ chức, động viên quần chúng tham gia hoạt động

và quản lý kinh tế - xã hội

Trước những hạn chế còn tồn đọng đó, Đảng quyết định đổi mới dựa trên quan hệkinh tế và chính trị Đổi mới là một quá trình, bắt đầu từ đổi mới kinh tế, trước hết làđổi mới tư duy kinh tế, đồng thời từng bước đổi mới hệ thống chính trị

Đường lối đổi mới đã đạt được những thành công rực rỡ, có ý nghĩa lịch sử với côngcuộc đổi mới ở nước ta Song đặt ra vấn đề then chốt là khắc phục những hạn chế còntồn tại Năng lực và hiệu quả lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các

tổ chức chính trị - xã hội chưa ngang tầm với đòi hỏi của tình hình nhiệm vụ mới.Việc cải cách nền hành chính quốc gia còn rất hạn chế, chưa nhanh, nhạy và hiệu quảthấp Phương thức tổ chức chưa thoát khỏi tình trạng hành chính, xơ cứng; hiện tượng

Trang 5

“viên chức hóa”, tham nhũng chưa được xóa bỏ; quyền làm chủ của dân còn bị viphạm Vai trò giám sát, phản biện còn yếu, thiếu hợp lý Phương thức lãnh đạo củaĐảng còn chậm đổi mới, có mặt lúng túng.

Những hạn chế này xuất phát từ nguyên nhân chủ yếu là nhận thức về đổi mới hệthống chính trị chưa có sự thống nhất cao, trong hoạch định và thực hiện một số chủtrương, giải pháp còn có sự ngập ngừng, lúng túng, thiếu dứt khoát, không triệt để.Việc đổi mới chưa được quan tâm đúng mức, chậm trễ so với đổi mới kinh tế Lý luận

về hệ thống chính trị và về đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta còn nhiều điểm chưasáng tỏ

Câu 7: Phân tích vai trò đặc biệt quan trọng của nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người Việt Nam hiện nay?

- Các văn kiện của Đảng như Nghị quyết Trung ương lần thứ năm (khoá VIII), kếtluận của Hội nghị Trung ương lần thứ IX (khoá IX) và văn kiện Đại hội X, đều khẳngđịnh sứ mệnh cao quý nhất của văn hoá là góp phần trực tiếp xây dưng con người vànguồn nhân lực có chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá,hiện đại hoá

- Hội nghị Trung ương lần thứ năm (khoá VIII) đã nhấn mạnh đến những phẩm chất

cơ bản của con người mới mà chúng ta cần xây dựng để tạo nên nguồn nhân lực cungcấp chất lượng cao, phù hợp với những đòi hỏi khách quan của sự nghiệp công nghiệphoá, hiện đại hoá đất nước

- Tại Đại hội X, Đảng ta coi nhiệm vụ của văn hoá là "xây dựng và hoàn thiện giá trị,nhân cách con người Việt Nam, bảo vệ và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong thời

kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 6

- Cần kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống tích cực và tiến bộ của con ngườiViệt Nam, phê phán những yếu tố lạc hậu và tiêu cực, xây dựng những giá trị mới

- Cần quan tâm hơn nữa đến công tác giáo dục lý tưởng chính trị, đạo đức, phẩm chất

và nâng cao tính công dân cho đội ngũ lao động mới

Trong nhiệm vụ xây dựng con người Việt Nam, văn hoá cần nỗ lực thực hiện ba mụctiêu lớn:

- Một là, xây dựng và hoàn thiện hệ thống các giá trị mới của con người Việt Namtrong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế

- Hai là, kiên quyết phê phán, đấu tranh chống lại những biểu hiện tiêu cực trong tưtưởng,đạo đức lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân, chống lạibệnh quan liêu tham nhũng, lãng phí và các tệ nạn xã hội nhằm làm lành mạnh hoá

xã hội

- Ba là, bồi dưỡng các giá trị văn hoá trong thanh niên, học sinh sinh viên là một yêucầu, nội dung được đặc biệt nhấn mạnh

=> Bên cạnh nhiệm vụ phát triển kinh tế, nhiệm vụ quan trọng hiện nay của chúng ta

là xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc theo định hướngXHCN trong đó, xây đựng con người Việt Nam XHCN là vấn đề trung tâm

Bài làm

Văn hóa có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bồi dưỡng, phát huy nhân tố conngười và xây dựng xã hội mới.Việc phát triển kinh tế - xã hội cần đến nhiều nguồn lựckhác nhau: tài nguyên thiên nhiên, vốn… Những nguồn lực này đều có hạn và có thể

bị khai thác cạn kiệt Chỉ có tri thức con người mới là nguồn lực vô hạn, có khả năngtái sinh và tự sinh không bao giờ cạn kiệt Các nguồn lực khác sẽ không được sử dụng

có hiệu quả nếu không có những con người đủ trí tuệ và năng lực khai thác chúng.Năm 1990, UNDP (Chương trình phát triển của Liên hợp quốc) đưa ra những tiêu chímới để đánh giá mức độ phát triển của quốc gia, trong đó có chỉ số phát triển conngười Tức là, quốc gia nào đạt thành tự giáo dục cao, có vốn trí tuệ toàn dân nhiềuhơn thì chứng tỏ xã hội đó phát triển hơn, có khả năng tăng trưởng dồi dào Như vậy,văn hóa trực tiếp tạo dựng và nâng cao vốn “tài nguyên người” Nền văn hóa mà

Trang 7

chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Tiên tiến là yêunước và tiến bộ mà nội dung cốt lõi là lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hộitheo chủ nghĩa Mác-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhằm mục tiêu tất cả vì con người.Tiên tiến không chỉ về nội dung tư tưởng mà cả trong hình thức biểu hiện, trong cácphương tiện chuyền tải nội dung Văn hoá là của con người, chỉ có ở con người Vănhoá, đối với một con người, đó là tài và đức, đối với một quốc gia, đó là nền tảng dântrí, là trí tuệ, cốt cách và bản lĩnh của dân tộc Vai trò động lực của văn hoá được thựchiện thông qua con người Nhận thức sâu sắc vai trò của văn hoá cũng như mối quan

hệ hữu cơ giữa văn hoá và con người, các văn kiện của Đảng như Nghị quyết Trungương lần thứ năm (khoá VIII), kết luận của Hội nghị Trung ương lần thứ IX (khoá IX)

và văn kiện Đại hội X, đều khẳng định sứ mệnh cao quý nhất của văn hoá là góp phầntrực tiếp xây dưng con người và nguồn nhân lực có chất lượng cao đáp ứng yêu cầucủa sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá Hội nghị Trung ương lần thứ năm (khoáVIII) đã nhấn mạnh đến những phẩm chất cơ bản của con người mới mà chúng ta cầnxây dựng để tạo nên nguồn nhân lực cung cấp chất lượng cao, phù hợp với những đòihỏi khách quan của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Đó là nhữngcon người được phát triển toàn diện cả đức lẫn tài, cả thể lực lẫn trí tuệ, cả đạo đức,thẩm mỹ lẫn kỹ năng lao động, ý chí và bản lĩnh trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.Tại Đại hội X, Đảng ta coi nhiệm vụ của văn hoá là "xây dựng và hoàn thiện giá trị,nhân cách con người Việt Nam, bảo vệ và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong thời

kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập kinh tế quốc tế Bồi dưỡng các giá trị vănhoá trong thanh niên, học sinh, sinh viên, đặc biệt là lý tưởng sống, lối sống, năng lựctrí tuệ, đạo đức và bản lĩnh văn hóa con người Việt Nam" Điều cần nhấn mạnh là,chúng ta cần kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống tích cực và tiến bộ củacon người Việt Nam, phê phán những yếu tố lạc hậu và tiêu cực, xây dựng những giátrị mới Đặc biệt, chúng ta phải quan tâm hơn nữa đến công tác giáo dục lý tưởngchính trị, đạo đức, phẩm chất và nâng cao tính công dân cho đội ngũ lao động mới, tạođiều kiện cho họ có thể thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trách nhiệm công dân đối với chế

độ XHCN đối với nhân dân, dân tộc, đồng thời, được hưởng thụ một cách xứng đáng

so với những đóng góp, cống hiến của họ cho xã hội.Trước mắt, trong nhiệm vụ xâydựng con người Việt Nam, văn hoá cần nỗ lực thực hiện ba mục tiêu lớn:

Trang 8

Một là, xây dựng và hoàn thiện hệ thống các giá trị mới của con người Việt Namtrong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế Có thể nói,đây là một đòi hỏi rất cao và mới đối với văn hoá Bởi vì, trong những năm qua, cuộcvận động xây dựng con người mới tuy có bề rộng, nhưng chưa sâu, chưa bền vững íthiệu quả và chưa hình thành được dư luận xã hội định hướng các chuẩn mực giá trịmới Đây là một yêu cầu có tính bao quát, tổng thể, đồng thời là cơ sở và định hướnggiải quyết các nhiệm vụ trước mắt Theo chúng tôi, từ những điểm mạnh của conngười Việt Nam đã được Đảng xác định, cần cụ thể hoá thành những tiêu chí, chuẩnmực phù hợp với từng giới, từng ngành, từng địa phương đơn vị Đó là các phẩm chất:

có tinh thần yêu nước, phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội có tinh thầnđoàn kết, có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, tôn trọng kỷ cương phép nước,cần cù lao động và có ý thức học hỏi vươn lên

Hai là, kiên quyết phê phán, đấu tranh chống lại những biểu hiện tiêu cực trong tưtưởng,đạo đức lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân, chống lạibệnh quan liêu tham nhũng, lãng phí và các tệ nạn xã hội nhằm làm lành mạnh hoá

xã hội Đây là đòi hỏi bức xúc của toàn xã hội trong sự nghiệp xây dựng con ngườitheo hệ giá trị chân - thiện - mỹ

Ba là, bồi dưỡng các giá trị văn hoá trong thanh niên, học sinh sinh viên là một yêucầu, nội dung được đặc biệt nhấn mạnh Yêu cầu văn hoá trong việc xây dựng thế hệtrẻ Việt Nam về nhân cách là một việc cực kỳ cần thiết, vừa có tính cơ bản, chiếnlược, vừa rất cấp bách Chúng ta đều biết rõ rằng sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh làngười đặc biệt quan tâm đến vấn đề bồi dưỡng thế hệ trẻ Bởi với Người, thế hệ trẻchính là tương lai của đất nước Tại Đại hội X, Đảng ta đã nhấn mạnh các giá trị lớn

mà văn hoá phải chăm lo nuôi dưỡng cho thanh niên, sinh viên, học sinh là lý tưởngsống, lối sống năng lực trí tuệ vẻ đẹp đạo đức và bản lĩnh văn hoá Các giá trị đó mang

ý nghĩa rất quan trọng đốivới thế hệ trẻ Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiệndại hoá và hội nhập giao lưu quốc tế Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ươnglần thứ 9 (khoá IX) đã khẳng định quyết tâm triển khai trong thực tiễn giải pháp pháttriển giáo dục - đào tạo, khoa học và công nghệ, coi đó là quốc sách hàng đầu, đòi hỏicác cấp, các ngành và toàn xã hội phảiquán triệt sâu sắc hơn nữa ý nghĩa, vai trò động

Trang 9

lực của các yếu tố văn hoá, xã hội và con người đối với sự phát triển nhanh, bền vữngcủa đất nước Một trong những vấn đề cấp thiết hiện nay là nâng cao chất lượng giáodục toàn điện và chú trọng hiệu quả kinh tế -xã hội của giáo dục - đào tạo Nhiệm vụcủa giáo dục và đào tạo trong những năm tới là nâng cao chất lượng giáo dục toàndiện, đổi mới cơ cấu tổ chức, nội dung phương pháp dạy và học, thực hiện "chuẩnhoá, hiện đại hoá, xã hội hoá", chấn hưng nền giáo dục Việt Nam Muốn vậy, phảichuyển đổi mô hình giáo dục, đổi mới mạnh mẽ giáo dục mầm non và giáo dục phổthông, phải phát triển hệ thống giáo dục hướng nghiệp và dạy nghề, đổi mới hệ thốnggiáo dục Đại học và sau Đại học, phải đảm bảo đủ số lượng, nâng cao chất lượng độingũ giáo viên ở tất cả các cấp học, bậc học Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương phápgiáo dục, phát huy tính tích cực, sáng tạo của người học, thực hiện xã hội hóa giáodục, đổi mới cơ chế quản lý giáo đục, tăng cường hợp tác quốc tế về giáo dục và đàotạo.

Bởi vậy, bên cạnh nhiệm vụ phát triển kinh tế, nhiệm vụ quan trọng hiện nay củachúng ta là xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc theo địnhhướng XHCN trong đó, xây đựng con người Việt Nam XHCN là vấn đề trung tâm

Câu 8: So sánh những nội dung cơ bản của chính sách xã hội trước đổi mới và trong thời kỳ đổi mới? Tại sao trong thời kỳ đổi mới, Đảng CSVN lại nâng tầm các vấn đề

xã hội lên thành chính sách xã hội?

Dàn ý

I So sánh những nội dung cơ bản của chính sách xã hội trước đổi mới và trong thời kỳđổi mới

1 Trước thời kỳ đổi mới

a Chủ trương của Đảng về giải quyết các vấn đề xã hội

Chủ trương của Đảng về các vấn đề xã hội qua các giai đoạn 1945-1954, 1955-1975,1975-1985

b Đánh giá việc thực hiện đường lối

- Những thành tựu mà việc thực hiện đường lối mang lại

Trang 10

- Hạn chế và nguyên nhân của đường lối.

2 Trong thời kỳ đổi mới

a Chủ trương giải quyết các vấn đề xã hội

b Kết quả thực hiện đường lối đổi mới chính sách xã hội

- Nêu những thay đổi về nhận thức về vấn đề phát triển xã hội của Đảng và nhân dân

- Nêu những thành tựu về lĩnh vực phát triển xã hội

c Hạn chế và nguyên nhân của hạn chế

II Trong thời kỳ đổi mới, Đảng CSVN lại nâng tầm các vấn đề xã hội lên thành chínhsách xã hội

- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (tháng 12-1986), lần đầu tiên Đảng ta nâng cácvấn đế xã hội lên tầm chính sách xã hội

- Nêu những quan điểm của Đại hội VIII của Đảng (T6-1996)

Chính văn

So sánh những nội dung cơ bản của chính sách xã hội trước đổi mới và trong thời kỳđổi mới

1 Trước thời kỳ đổi mới

a.Chủ trương cuả Đảng về giải quyết các vấn đề xã hội

- Giai đoạn 1945 - 1954:

Ngay sau cách mạng tháng Tám và trong những năm thực hiện nhiệm vụ "kháng chiếnkiến quốc" chính sách xã hội cấp bách là làm cho dân có ăn, có mặc, có chỗ ở và đượchọc hành Tiếp sau đó là làm cho người nghèo thì đủ ăn, người đủ ăn thì khá giàu,người khá giàu thì giàu thêm Chủ trương này đã nhanh chóng đi vào cuộc sống và đạtđược những hiệu quả thiết thực

Các vấn đề xã hội được giải quyết trong mô hình Dân chủ nhân dân:

+ Chính phủ có chủ trương và hướng dẫn để các tầng lớp nhân dân chủ động và tự tổchức giải quyết các vấn đề xã hội của chính mình

Trang 11

+ Chính sách tăng gia sản xuất nhằm tự cấp tự túc, chủ trương tiết kiệm, đồng camcộng khổ trở thành phong trào rộng rãi, từ cơ quan chính phủ đến bộ đội, dân chúng,được coi trọng như đánh giặc

+ Khuyến khích mọi thành phần xã hội phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường Thựchiện chính sách điều hoà lợi ích giữa chủ và thợ

- Giai đoạn 1955 - 1975:

Các vấn đề xã hội được giải quyết trong mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu cũ, trong hoàncảnh chiến tranh Chế độ phân phối về thực chất là theo chủ nghĩa bình quân Nhànước và tập thể đáp ứng các nhu cầu xã hội thiết yếu bằng chế độ bao cấp tràn lan dựavào viện trợ

- Giai đoạn 1975 - 1985:

Các vấn đề xã hội được giải quyết theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu baocấp, trong hoàn cảnh đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội nghiêmtrọng, nguồn viện trợ giảm dần, bị bao vây, cô lập, cấm vận

b Đánh giá việc thực hiện đường lối

- Chính sách xã hội trong giai đoạn này tuy có nhiều điểm hạn chế nhưng đã bảo đảmđược sự ổn định của xã hội, đồng thời còn đạt được thành tựu phát triển đáng tự hàotrên một số lĩnh vực như văn hoá, giáo dục, y tế, lối sống, đạo đức, kỷ cương và ansinh xã hội, hoàn thành nghĩa vụ của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn

- Những thành tựu đó nói lên bản chất tốt đẹp của chế độ mới và sự lãnh đạo đúng đắncủa Đảng trong giải quyết các vấn đề xã hội trong điều kiện chiến tranh kéo dài, kinh

Trang 12

+ Đã hình thành một xã hội đóng, ổn định nhưng kém năng động, chậm phát triển vềnhiều mặt

- Nguyên nhân cơ bản của các hạn chế trên là chúng ta đặt chưa đúng tầm chính sách

xã hội trong quan hệ với chính sách kinh tế, chính trị, đồng thời lại áp dụng và duy trìquá lâu cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp

2.Trong thời kỳ đổi mới

a) Chủ trương giải quyết các vấn đề xã hội

Một là, khuyến khích mọi người dân làm giàu theo pháp luật, thực hiện có hiệu quảcác chính sách xoá đói giảm nghèo

Hai là, xây dựng, hoàn chỉnh hệ thống chính sách bảo đảm cung ứng dịch vụ côngcộng thiết yếu, bình đẳng cho mọi người dân về giáo dục và đào tạo, tạo việc làm vàthu nhập, chăm sóc sức khỏe cộng đồng văn hóa thông tin, thể dục thể thao Xây dựng

hệ thống an sinh xã hội đa dạng, phát triển mạnh hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm

y tế, tiến tới bảo hiếm y tế toàn dân Đa dạng hóa các loại hình cứu trợ xã hội , Tiếptục đổi mới chính sách tiền lương, chính sách phân phối thu nhập

Ba là, phát triển hệ thống y tế công bằng và hiệu quả, bảo đảm mọi người dân đềuđược chăm sóc và bảo vệ sức khỏe

Bốn là, xây dựng chiến lược quốc gia về nâng cao sức khoẻ, tầm vóc con người ViệtNam, tăng tuổi thọ và cải thiện chất lượng giống nòi

Năm là, thực hiện tốt các chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình

Sáu là, chú trọng chính sách ưu đãi xã hội Vận động toàn dân tham gia các hoạt động

"đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn" đối với các lão thành cách mạng, vớinhững người có công với nước, người hưởng chỉnh sách xã hội Chăm sóc lối sống vậtchất và tinh thần của người già, nhất là những người già cô dơn không nơi nương tựa.Giúp đỡ nạn nhân chất độc da cam, người tàn tật, trẻ mồ côi, lang thang

Bảy là, đổi mới cơ chế quản lý và phương thức cung ứng các dịch vụ công cộng pháttriển về quy mô gắn với chất lượng và hiệu quả các dịch vụ công cộng, nâng cao nănglực quản lý của Nhà nước

Trang 13

b) Kết quả thực hiện đường lối đổi mới chính sách xã hội

Sau hơn 20 năm đổi mới chính sách xã hội, nhận thức về vấn đề phát triển xã hội củaĐảng và nhân dân ta đã có những thay đổi:

- Từ tâm lý thụ động, ỷ lại vào Nhà nước và tập thể, trông chờ sự viện trợ đã chuyểnsang tính năng động, chủ động và tính tích cực xã hội của tất cá các tầng lớp dân cư

- Từ chỗ đề cao quá mức lợi ích của tập thể một cách chung chung, trừu tượng: thihành chế độ phân phối theo lao động trên danh nghĩa nhưng thực tế là bình quân - càobằng đã từng bước chuyển sang thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao dộng vàhiệu quả kinh tế, đồng thời phân phối theo mức đóng góp các nguồn lực khác vào sảnxuất - kinh doanh và thông qua phúc lợi xã hội Nhờ vậy công bằng xã hội được thếhiện ngày càng rõ hơn

- Từ chỗ không đặt đúng tầm quan trọng của chính sách xã hội trong mối quan hệtương tác với chính sách kinh tế, đã đi đến thống nhất chính sách kinh tế với chínhsách xã hội

- Từ chỗ Nhà nước bao cấp toàn bộ trong việc giải quyết việc làm đã dần dần chuyểntrọng tâm sang thiết lập cơ chế, chính sách để các thành phần kinh tế và người laođộng đều tham gia tạo việc làm

- Từ chỗ không chấp nhận có sự phân hoá giàu - nghèo đã đi đến khuyến khích mọingười làm giàu hợp pháp đi đôi với liên tục xoá đói, giảm nghèo, coi việc một bộ phậndân cư giàu trước là cần thiết cho sự phát triển

- Từ chỗ muốn nhanh chóng xây dựng một cơ cấu xã hội "thuần nhất" chỉ còn có giaicấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức đã đi đến quan niệm cần thiếtxây dựng một cộng đồng xã hội đa dạng, trong đó giai cấp, các tầng lớp dân cư đề cónghĩa vụ quyền lợi chính đáng, đoàn kết chặt chẽ, góp phần xây dựng nước Việt Namgiàu mạnh

Qua hơn 20 năm đổi mới, lĩnh vực phát triển xã hội đạt nhiều thành tựu:

- Tính năng động xã hội khác hẳn thời bao cấp Một xã hội đang dần dần hình thànhvới những con người không chờ bao cấp, dám nghĩ, dám chịu trách nhiệm Không

Ngày đăng: 08/04/2018, 19:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w