Học thuyết tự thản trúng độc bị trúng độc tự nhiên cho rằng, già yếu là kết quả của sự tích tụ trong cơ thể những sản vật chuyển hóa tức quá trình trao đổi chất có tính độc.. Ví dụ, cặn
Trang 1VŨ QUỐC TRUNG
Y HỌC C ỔT R UY Ề NVỚI S ỨC K HOẺ
ngưòi gi
Trang 2Y h ọ c c ổ tru y ền với sứ c kh oẻ NÂN(Ỉ CAO T L Ổ I THỌ NÍỈƯỜI (xIÀ
Trang 3v ũ QUÕC TRUNG
(Sưu tầm và tuyển soạn)
Y học cổ truyền với sức khoẻ
NÂNG cno TUỔI THỌ NGƯỜI Gin
NHÀ XUẤT BẢN VĂN HÓA THÔNG TIN
HÀ NÔI - 2004
Trang 4Phần thứ nhất
QUY LUẬT NGHIỆT NGÃ -
CON NGƯỜI RỒI SẼ GIÀ NUA
CON NGƯỜI có THỂ "TRƯỜNG SINH BẤT LÃO"?
Con người rồi phải già đi, đó là quy luật tự nhiên Người già là tài sản quý của xã hội, người già hôm nay là người trẻ người trung niên hôm qua, trong họ
có rất nhiều chuyên gia, giáo sù, các nhân tài quản lý các chuyên ngành, những tài năng trên mọi lĩnh vực Ti'0ng thực tiễn, họ đã tích lũy được kinh nghiệm phong phú, tri thức uyên bác, họ là người sáng tạo, người kế thừa, người truyền bá văn minh vật chất và văn minh tinh thần của đất nước Người già xứng đáng đưỢc xã hội tôn trọng, yêu quý và quan tâm Già yêu là một giai đoạn trên đường phát triển của đời người Con người, nếu không gặp "đứt gánh" giữa đường, đều trải qua một quá trình diễn biến từ lúc ra đời, dần dần trưởng thành, trung niên, dần già yếu rồi chết.
Già yếu là một quá trình diễn biến từ từ theo tuổi đời Quãng tuổi 45 - 65, chức năng hệ thống cơ quan
Trang 5cơ thể người dần dần chuyển biến theo hướng chững lại rồi tụt lùi, từ 65 tuổi trở đi tình trạng sa sút đó càng xảy ra nhanh chóng.
Hàng ngàn năm qua, không ít người lo tìm thuôc thần tiên, những mong "trường sinh bất lão" Nhưng cho đến nay, kết luận của khoa học và thực tế nghiệt ngã vẫn là, sự già yếu và tử vong là quy luật tự nhiên không thể tránh né Hay như người xưa nói
"Sinh, lão, bệnh, tử" là quy luật của tạo hóa.
Con người vì sao sẽ già yêu đi ? Đây là một câu hỏi khó đặt trước các nhà sinh vật học, y học Con người
đã từng bước đi sâu nghiên cứu các mặt như hình thái bệnh lý, chức nàng sinh lý, hóa học sinh vật, sinh vật học tế bào, sinh vật học phân tử và xã hội học , trước sau đã nêu ra hơn 300 luận thuyết và giả thiết vê sự già đi của cơ thế con người Các loại học thuyết đều thấy vấn đê già yếu quá phức tạp, nguyên nhân dẫn đến già yếu đến nay vẫn chưa có kết luận chính xác, đầy đủ Trong đó, thuyết sắp xếp
"gen" giải thích sự già yếu đi của sinh vật là có ảnh hưởng khá rộng, học thuyết này được học giả người
Mỹ Haiphicơ đê ra sớm nhất từ 1961 Học thuyết này cho rằng, từ phát triển đến già yếu, trong cơ thể đã xếp đặt sẵn một trình từ trưốc.
Toàn bộ quá trình sông của con người từ tê bào trứng thụ tinh đến phát triển của thai, chào đời, lớn lên, thành thục, già yếu rồi chết, đều có sự sáp xếp
Trang 6của gen trong tê bào trứng thụ tinh Các sinh vật khác nhau có gen khác nhau, cho nên tuổi thọ của các sinh vật cũng khác nhau Sự xếp đặt gen di truyền là nguyên nhân cơ bản quyết định sự già yếu
đi của sinh vật.
Tính theo sô lần phân đôi tê bào thì tuổi thọ tự nhiên của loài người ít nhất cũng phải trên 100 năm Hiện nay đa sô" học giả cho rằng, gen di truyền là nhân tô" quyết định sự già yếu ở con người, cũng tức
là sự sắp xếp gen di truyền là nguyên nhân cơ bản quyết định quá trình già yếu ở cơ thể con người Còn tất tật các nguyên nhân khác chỉ là nhân tô" thứ yếu.
Học thuyết tự thản trúng độc (bị trúng độc tự
nhiên) cho rằng, già yếu là kết quả của sự tích tụ trong cơ thể những sản vật chuyển hóa (tức quá trình trao đổi chất) có tính độc Ví dụ, cặn bã thức ăn đọng lại trong ruột già chịu tác dụng của vi khuẩn sẽ lên men có độc tô thôi, khiến cơ thể bị trúng độc mãn tính (từ từ, năm này qua năm khác) dẫn đến già yếu.
Thuyết biến chất Prôtêin cho rằng, cơ thể già yếu
bắt dầu từ sự già yêu của tê bào, mà tê bảo già yếu là kết quả của sự thay đổi trong kết cấu và chức năng của tê bào Sự biến đổi trong chất keo của để bào, nhất là sự biến đổi tinh chất prôtêin, sẽ làm cho trạng thái keo bị vón cứng, hoạt tinh enzim giảm sút,
từ đó dẫn đến già yếu.
Trang 7Thuyết chồng chéo cho rằng, già yếu là kết quả của
những phản ứng trùng lập chồng chéo nhau dần dần phải xảy ra giữa axít amin và chất prôtêin là những thứ cần cho sự sông Kiii axít amin (ADN) oxi hóa và giao chéo nhau, sẽ ảnh hưởng đến chức năng truyền ghi và phục chê (chương trình), làm cho việc hỢp thành prôtêin bị rối loạn, ảnh hưởng sự sông còn của tê bào
Sự chồng chéo này sẽ tăng nhanh theo thòi gian.
Thuyết gốc hóa học tự do của sự già yếu hiện
đang là lĩnh vực sôi động nhất trong nghiên cứu hóa sinh hiện đại Gôd tự do là tên gọi chung cho nguyên tử hoặc phân tử có mang điện tử không đủ cặp Chúng rất động, rất dễ sinh phản ứng với các chất khác, khiến những vật chất ấy trở thành vật
bị ôxy hóa mạnh nên mất đi vai trò ban đầu của chúng Trong tế bào, gôc tự do sẽ gây phản ứng với phân tử nằm kề nó, dẫn đến hàng loạt phản ứng dây chuyền Gôc tự do làm cho tế bào bị tổn thương không thể cứu vãn.
Thuyết chức năng miễn dịch giảm sút cho rằng, tuổi thọ của người hên quan đến chức năng của tuyến nội tiết mà tuyến nội tiết lại liên quan với chức năng miễn dịch của tế bào người Chức năng miễn dịch tế bào giảm sút, khiến cho cơ thể dần dần già yếu đi.
Thuyết rối loạn tuyến nội tiết cho rằng, sự biến đổi của chức năng nội tiết có thể kéo dài hoặc tăng
Trang 8nhanh tốc độ già yếu của con người Ví dụ, cắt bỏ tuyến hoóc môn giới tính sẽ dẫn đến suy yếu sớm, nếu tiêm kích tố hoóc môn giối tính sẽ ngăn ngừa đưỢc sự liệt sớm Cho nên nhận định rằng, chức nàng tuyến sinh dục sa sút là nguyên nhân chủ yêu dẫn đến sự già yếu.
Thuyết điều tiết thích ứng cho rằng sự biến chu3’ên lần đâu tiên thể hiện sự già yếu phát sinh trong gen diều tiết Tức là, một sô" sán vật chuyển hóa nào đó của cơ thể cùng với gen điều tiết tạo nên một loại prôtêin, nó có thể ngăn chặn thao túng gen dãn đên có sự thay đổi trong kết cấu: Không truyền ghi (sao chép) tin tức chương trình nhu’ bình thường, ảnh hưởng đến sự hỢp thành châ"t prôtêin và enzin, cuối cùng dẫn đến cái chết của tê bào.
Tóm lại, già nua tuổi tác là một hiện tượng phức tạp, theo đà phát triển mạnh của khoa học - kỹ thuật, nhất là sự di sâu nghiên cứu sinh vật học té bào và sinh vật học phân tử, điều bí mật của sự già yếu rồi sẽ đến lúc được làm sáng tỏ.
TUỔI THỌ CON NGƯỜI
Sống qua một năm người ta thêm một tuổi, tuổi tăng theo năm tháng như thế gọi là tuổi tự nhiên Tuổi sinh lý là loại tuổi được xác định theo tình trạng
Trang 9chức năng sinh lý của các hệ thông, các cơ quan của con người, gồm tim, phổi, thận, gan, dạ dày, ruột
và kể cả bề ngoài như mặt, da, râu tóc, răng lợi, cơ bắp v.v ỏ vào tuổi đó Tuổi tự nhiên và tuổi sinh lý
có thế khác nhau, một số người tuy tuổi còn trẻ nhưng mặt đã nhăn nhúm, tóc bạc từng đám, răng rụng, cơ bắp teo tóp, lúng gù lườn vẹo, bưốc đi thở dôc, như người già Lại có những người thọ 100 tuổi, tuy tuổi tự nhiên đã đủ cả trăm, nhưng da dẻ vẫn hồng hào, cơ bắp săn chắc, răng lợi đầy đủ, tai thính,mắt tinh, nhanh tay nhanh chân, tim phổi lành mạnh.
Tuổi tâm lý là loại tuổi được xác định theo trạng thái tâm lý ỏ vào giai đoạn tuổi tự nhiên nào đó đã định về các mặt như tư duy, ký ức, ý chí, tính cách,
sở thích Một sô' người không kể tuổi tác, tinh thần
ủy mị, lười hoạt động, lười động não, hờ hững với mọi
sự xung quanh, ý chí kém, sức nhớ hết sức kém, biểu
hiện ở họ rõ ràng là chưa lão đã suy Nhưng một sô'
người tuổi tuy cao , mà tinh thần vẫn phấn chấn, ưa hoạt động, hăng hái, thích giao thiệp rộng, sức nhố tôt, luôn luôn lạc quan yêu đời, thật quả là già mà không yếu.
Đánh giá tuổi thọ của mỗi người dài ngắn là căn
cứ vào tuổi tự nhiên Nhưng nó có quan hệ khăng khít vối tuổi sinh lý và tuổi tâm lý Xét theo tình trạng chung thì, người có tuổi sinh lý và tuổi tâm lý
Trang 10nhỏ hơn tuổi tự nhiên thì có tuổi thọ dài hơn, nếu hai tuổi ấy lớn hơn tuổi tự nhiên thì thường là già đi rất nhanh Nhưng, chỉ cần nỗ lực chủ quan, xếp đặt tốt cách ăn uống, nghỉ ngơi, rèn luyện, vui chơi, tập
dưỡng sinh đúng cách, cố gắng sao cho tuổi sinh lý,
tuổi tâm lý của mình được "trẻ lại"thì có thể trì hoãn được sự già nua Người già cần dinh dưỡng hỢp lý, ăn uông hàng ngày cần ăn ít calo, ít chất mỡ (lipit),ít đường, ăn đủ chất protit (đạm) và sinh tô" (sinh tô" B,
c, E, rất cần cho người già Sinh tô" B giúp ăn ngon, sinh tô" c tăng cường sức chông bệnh, sinh tô" E làm chậm quá trình oxi hóa, có thế kéo dài tuổi thọ), chú
ý ăn nhiều rau tươi, không nên ăn quá mặn, Sự sông
là ở vận động, người già cần thường xuyên tham gia một sô" bài thể dục vừa sức, như chạy lấy sức khỏe, đi
bộ, luyện thái cực quyền, luyện khí công tăng cường chức năng của các cơ quan toàn thân như tim, phôi
có thể làm chậm sự suy thoái ơ những cơ quan này và cần kết hỢp khéo léo giữa lao động va nghỉ ngơi Không ít người già muôn phát huy chút nhiệt tình còn lại, vẫn tiếp tục làm việc trí lực hoặc thê lực, nhưng cần chú ý vừa sức Người già rất dễ bị kiệt sức
và rất khó phục hồi.
Người già do tê bào não già đi, tuần hoàn thông máu chậm đi, việc cấp ôxi và chất dinh dưỡng giảm v.v nên rất dễ mệt mỏi Đương nhiên, lao động trí
óc chỉ cần không quá sức, càng dùng trí óc nhiều, môi
Trang 11liên hệ giữa các tế bào thần kinh càng "liên tục", phản xạ có điều kiện được hình thành cũng càng nhiều và không bị xơ cứng, phản ứng sẽ càng nhanh nhạy Lao động thể lực cũng đem lại kết quả như thế Thòi gian ngủ ngon vê đêm của người già ít hơn trung niên và thanh niên, cho nên, ngoài giấc ngủ trua ra, có thể sau khi làm việc 1-2 tiếng đồng hồ thì
đi dạo, chơi thể thao, và nếu có điều kiện thì ngả lùng ít phút "Người yêu đời sống lâu", tính tình lạc quan yêu đời chủ yếu nhờ tu dưỡng tư tưởng, tới mức lòng dạ thanh thán, thái độ bao dung, ý chí kiên cường, g.ặp khó khăn phải lấy làm tự hào khi ta vượt qua được Tính tình lạc quan còn có quan hệ mật thiêt với môi trường xung quanh Tôn kính người già, yêu quý người già một nền nếp xã hội tô"t đẹp quan tâm đên người già sẽ đem đến cho người già niềm vui sông lốn Gia đình hòa thuận, ấm êm, là nhân tô" quan trọng giúp người già sông lâu.
NHỦTVG THAY Đ ổl VỂ CHỨC NĂNG
TÂM LÝ ở NGƯỜI GIÀ
Theo thời gian, năm tháng khi vê già các chức năng sinh lý như tuần hoàn, hô hấp, tiêu hóa, tiết niệu, sinh dục, thần kinh cũng đổi thay khác nhiều vối
Trang 12khi còn trẻ, "mười bảy bẻ gãy sừng trâu" Chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu những thay đổi đó ở tuổi già Những biến đổi bên ngoài.' Theo tuổi tác tăng lên, tuyến mỡ dưới da giảm đi, sắc tô" tế bào lắng đọng, tóc thưa thớt, dòn gãy, bạc trắng thậm chí rụng; râu cũng bạc, mặt da xác, xô"p, khô, nhiều nếp nhăn, thường xuất hiện những vết chàm hoặc bớt màu nâu của tuổi già Gân cơ bắp của người già mất tính đàn hồi và co rút, dáng đi chậm chạp, răng lợi cũng co rút, răng bị lung lay hoặc rụng, đôi môi trễ xuôhg, móng tay dòn gẫy và cong queo
Chiểu cao và thế trọ n g cơ th ế giảm.' Từ 30 - 90
tuổi, chiều cao của nam giối tính chung là giảm đi 2,25%, còn nữ giới giảm 2,5% về trọng lượng cơ thể thì
ở tuổi 30 - 40 nam và 40 - 50 nữ là đạt đến đỉnh cao
nhất, sau đó dần dần sút giảm đi Trong quá trình tàng tuổi thì chiều cao và cân nặng ỏ người già đều giảm đi,
đó là hiện tưỢng khá phố biến Trong tố chức xương và
cơ bắp ở người già dần dần mâ"t nước, nên bắp thịt teo
lại, những tổ chức co dãn đàn hồi thoái hóa và xơ hóa,
những hiện tưỢng này cũng làm sút cân.
Chất xương ở người già mềm xôp, độ cứng và độ dẻo đều giảm sút, những biến đổi co rút ỏ cột sống cũng là nguyên nhân làm chiều cao và thể trọng giảm sút Có những người già xương sôhg cong gù, cẳng chân chịu lực bị vẹo đi, cũng là nguyên nhân làm giảm chiều cao.
Trang 13Hệ th ôn g tim m ạch suy yếu: Trái tim người già màu nhợt nhạt và co nhỏ, nhẹ đi, van dày lên và cứng, từ 60 tuổi trở đi mất dần tính nhịp nhàng cử động, nhịp tim nói chung đều giảm đi Lượng máu bơm mỗi phút của tim từ 30 - 80 tuổi giảm chừng 30% Người già khi vận động, lượng bơm máu của tim ít hơn ỏ người trẻ, sau vận động cần thời gian dài hơn để trở về nhịp tim đập bình thường, sức chiu đựng của tim cũng yếu Tuổi già tăng thêm thì động mạch dần xơ cứng, rất dễ mắc chứng cao huyết áp, chứng này lại rất dễ làm cho thất trái dày lên Người già thường có hiện tượng động mạch vành cấp không
đủ máu, nên người già rất dễ mắc chứng loạn nhịp Tĩnh mạch ở người già mất tính đàn hồi làm cho mạch máu nỏ ra, rất dễ bị mắc bệnh trĩ.
Hô hấp suy giảm.' Tổ chức phổi của người già thường teo tóp đi, nhưng phế nang thì nở ra, vách phê nang mỏng đi, tính đàn hồi cũng kém đi làm cho lượng khí hít vào và hoạt lượng phổi đều giảm, lượng khí dư thừa tăng lên Do kết cấu của phổi thay đôi và mạng vi ti huyết quản của phổi giảm đi, làm cho việc khuyếch tán và lợi dụng ô xy (tính theo hệ số) giảm
đi Cơ điều khiển việc thở hít ở người già co teo, hoạt động của lồng ngực bị hạn chế, hoạt lượng phổi càng
bị ảnh hưởng.
Chức n ăn g tiêu hóa kém,- Động tác nhai nuốt ở người già, khả năng nhu động của đường thực quản,
Trang 14tốic độ Ợ hơi, tiêu hóa, hấp thụ của dạ dày và ruột đều sút kém so vối người trẻ Dạ dày chứa được ít, ỏ
tuổi 60 vị toan tiết ra chỉ bằng 40-50% ở người trẻ,
những biên đổi này dễ dẫn đến chứng viêm dạ dày ở người già thường gặp hiện tượng dạ dày và ruột kết
nở to, nội tạng sa thấp, táo bón tế bào gan cũng suy giảm, buồng gan nhỏ đi Khả năng tái sinh tế bào gan sẽ giảm theo tuổi, chức năng giải độc và chức năng tổng hỢp albumin của gan cũng đều kém
Hệ th ô n g tiế t niệu, sinh dụ c không bình
th ư ờn g; Thế tích của quả thận người già nhỏ đi, nhẹ
đi Người già từ 70 tuổi trở lên đơn vị thận sẽ giảm còn bằng 1/2 - 2/3 của người trẻ, tỷ suất lọc của tiểu cầu thận có thể bị giảm 35 - 45%, lưu lượng máu có hiệu quả chảy qua thận cũng có thể giảm mất 47- 73% Do đó, chức năng bài tiết của thận giảm sút Niêm mạc bàng quang của người già dễ bị teo tóp, dễ sinh chứng viêm bàng quang Nam giới thường còn mắc chứng phì đại tuyến tiền liệt, ở tuổi 60 - ,70 có đên 70% mắc chứng này Nữ giối ở tuổi già bỊ ảnh hưởng bởi kích tố nữ giảm sút, niêm mạc âm đạo mỏng đi, mất tính mềm mại co dãn, nước nhờn tiết ra
ít, âm đạo co hẹp Nam giỏi ở tuổi 60 tinh hoàn teo đi
rõ rệt việc tạo tinh trùng dần dần giảm đi Nhưng, ngay như trên 90 tuổi, ở một sô" người tinh hoàn vẫn sinh sản ra tinh trùng Do đó có thể nói chức năng sinh dục ở nam giới có thể duy trì suô"t đòi Nhưng
Trang 15chức năng sinh dục ở nữ giới thì dần dần giảm sút
theo đà lão hóa của bộ máy sinh dục.
T h ần kinh trí nhớ sa sút.- Đại não của người RÌà dần dần có hiện tượng già nua nhưng sự lão hóa của tế bào đại não thì diễn ra chậm hơn ơ tuổi 70, trọng lượng của não bằng 95% người trẻ khỏe, ở tuổi
80 chỉ còn 90%, đến tuổi 90 còn bằng 80% Não teo dần đi, màng cứng bọc ngoài não mọc dầy lên, mạng
cơ nhện dưới màníĩ cứng này dần dần xơ hóa và vôi hóa Các khoảng trông bên trong não gọi là não thất nay theo tuổi tác cứ to rộng dần, nước chấp ở lưng não nhiều thêm Chính là vì tế bào não giảm đi nên não co lại và nhẹ đi Thần kinh truyền lệnh ở người già chậm dần, thời gian phản ứng lâu hơn Người già, nhất là từ tuổi 65 trở đi, cảm giác nóng lạnh, cảm giác với rung động, độ nhạy của xúc giác đểu kém, vị giác đôi với ngọt, m ặn cũng giảm sút, thị lực kém, độ thính tai cũng thế, thậm chí mắt bị mò, tai nghễnh ngãng Phản xạ cơ bắp yếu, vận động chậm chạp Vì mạch máu não xơ cứng và não bị teo, nên sức nhớ những sự việc mới kém cỏi Người già nhớ rất rõ mọi chuyện thở ấu thơ, hay ngủ gật, giấc ngủ ngắn, dễ mất ngủ
Hệ th ố n g nội tiế t giảm sút,- ó người già bộ máy nội tiết biến đổi theo hướng già cỗi, tuyến giáp trạng nhỏ đi, chức năng do kích tố của tuyến tạo ra cũng sa sút Kích tô' tụy tạng lên màng tế bào, các
Trang 16tổ chức cũng giảm dần đi, trong tuyến thượng thận cũng vậy, màu sắc thì lợt lạt đi, sô^ lượng kích tô" tình dục giảm thấp.
Khi về già ngoài sự đổi thay xảy ra ở những hệ thông kể trên, hệ tạo máu, hệ vận động, hệ miễn dịch cũng đều biến đổi theo kiẹu thụt lùi.
TÂM LÝ NGƯỜI GIÀ
Người già có thể chia theo tuổi như sau: 60 - 64 tuổi là người bước vào tuổi già; 6 5 - 7 9 tuổi là người già tuổi thấp; 80- 89 tuổi là người già tuổi cao; 90 tuổi trở lên là người già trường thọ; trên 100 tuổi là người già trăm tuổi hoặc là ngôi sao tuổi thọ.
Người bước vào tuổi già phải trải qua một thòi kỳ
"sang tuổi" tâm lý Vừa bắt đầu rời khỏi cương vỊ công tác quen thuộc mấy chục năm, trong tư tưởng tình cảm tâm lý ngay cả cách sông thường ngày đều thay đổi tận gốc, có một số người không sao phù hỢp nổi với sự đổi thay to lớn như thế về mặt tâm lý ở
thòi gian này Một số người cả đòi chỉ cắm cúi cho
công việc, coi công việc là lẽ sông, nay sự rời bỏ đột ngột công việc gắn bó, sẽ cảm thấy hoang mang, lòng
dạ xáo động, đứng ngồi không yên, có một cảm giác hụt hẫng, như thế ta đã là người vô dụng, tình cảm
Trang 17suy sụp Tôn lão kính hiền là truyền thông tôt đẹp,
xã hội và các ngành hữu quan cần có sự quan tâm, sắp xếp tốt cho người già, nhất là cần để tâm đến những người nghỉ hưu vừa bưốc vào tuổi già Bản thân người già cần nhận biết quy luật tự nhiên của
sự chuyển hóa chất - thay đổi, cũ mới c ầ n đánh giá đúng bản thân, nhận thức đúng đắn giá trị một đòi người, nghỉ hưu rồi vẫn có thể tìm cho mình một việc làm thích hỢp phát huy nhiệt tình còn lại, thể hiện giá trị vốn có của bản thân trong công việc mới Theo khả năng thích ứng và theo tính cách tâm lý, chúng
ta thường gặp các cụ ở mấy dạng sau đây: đại đa sô các cụ, có kinh nghiệm đời sông phong phú, có trí tuệ, cảm thấy một đời mình thu lượm được không ít, là đã
có những thành tựu (đáng giá) Nay nghỉ hưu, nắm bắt được hiện thực, theo sức tham gia công tác, thích hỢp hoạt động xã hội, tìm được niềm vui trong nhiệt tình công hiến còn lại Trong quan hệ vối mọi người
tự cảm thấy vừa lòng, cảm thấy tràn trề hạnh phúc hưởng những năm tháng cuôi đời Một sô" vị vui vẻ vừa ý với sự về nghỉ của mình, họ cảm thấy thích ứng đưỢc vối hoàn cảnh mới, luôn cảm thấy hài lòng mọi
sự quan tâm về tinh thần lẫn vật chất của con cháu
Họ thấu tình đạt lý, không đòi hỏi quá cao vối "cuộc
đời" Nhưng bên cạnh đó cũng có một số ít người
không chịu thừa nhận thực tế của tuổi già Họ hoạt động không ngơi để mong chặn được nỗi kinh hoàng
Trang 18của tuổi già ập đến, họ đầu tắt mặt tốì bận rộn suốt ngày những mong né tránh được tuổi già và cái chết
Và thậm chí còn có một sô^ người, vì chưa đạt được mục tiêu của đòi mình, sinh ra oán hận và đi đến tuyệt vọng Họ hoặc là quy tội cho người khác, rằng người khác không gặp gian truân như họ hoặc, quy tội cho bản thân và từ đó sinh ra tự oán tự sỉ vả mình ! Vậy điều cần nhất ở các vị cao tuổi là biết phân tích bản thân, lạc quan yêu đời, và mãi mãi vững vàng, có ý thức khắc phục, cải tiến được trạng thái tâm lý không hay về tính cách, tự mình khống chế, không để tâm lý kém vui đó che phủ lên cuộc sông những năm tháng cuôl đòi.
Những người thân sống cùng người già, nhất là lớp con cháu và bạn bè xóm giềng cần phân tích tâm
lý người già theo như tính cách, thói quen, thị hiếu, bệnh tậ t của cụ già Những cụ trời cho vẫn tráng kiện thì thường không "chịu già" thường muôn làm những việc hoặc động tác quá sức chịu đựng, không thật chú ý đến việc ăn uông, đi lại, không thật giữ gìn khi trời quá lạnh hoặc quá nóng.v.v
Chúng ta cần phải thường xuyên nhắc nhở, quan tâm đến những cụ già ở dạng này, các cụ cần "cân nhắc" để hoạt động vừa sức Những cụ người yếu, lắm bệnh hoặc tuổi cao sức yếu, chậm chạp run rẩy, phản ứng lờ đò, mọi việc thường lực bất tòng tâm, sinh ra tâm lý phiền muộn Một số vị ưa sạch, thích
Trang 19lao động, nhiều năm qua mọi việc đều tự làm, nay thường không muôh nhờ cậy, rất khó chịu về sự làm phiền người khác, sự người khác chán ngán mình.v.v Với những vị này, cần nhiệt tình quan tâm, chủ động giúp đổ, luôn luôn trò chuyện vói các
cụ, đánh tan môi lo ấy, bằng hành động thực tê để các cụ thấy chăm sóc tô^t người già là trách nhiệm của gia đình, con cháu Tôn trọng thiết tha nhưng không ngả theo chiều xót xa, để các cụ cảm thấy sự
ấm cúng của gia đình xã hội Có những cụ sỢ bệnh hoặc tự ám ảnh là mình bị mắc bệnh, nhưng lại sỢ mọi người biết bệnh, thật là mâu thuẫn, nên tâm tưởng rất nặng nề Với những cụ dạng này, ta phải chú trọng giải quyết phần tâm lý hoài nghi lo sỢ, nếu thấy trong người không được khỏe, ta rưóc cụ đi viện kiểm tra, để các cụ khỏi thắc thỏm, có bệnh thì chữa, không bệnh thì phòng Những cụ liệt giường lâu ngày, hoạt động tâm lý khá phức tạp, có cụ sinh ra tiêu cực, coi mình như ngọn đèn (ngọn nến) trưốc gió, thường là có tâm lý chán đời và mất lòng tin Ta cần
có sự quan tâm hêt sức chu đáo cùng sự an ủi tinh thần, tăng cường chữa trị và chăm sóc, tăng lòng tin chiến thắng bệnh tật cho các cụ.
Quy luật phát triển khách quan của giối sinh vật cuôì cùng là già yếu và chết Nhưng nếu chúng ta nỗ lực có thể ngăn ngừa quy luật khắc nghiệt ấy đến sớm, đạt tới điều mong muốn là thêm mỗi năm một tuổi thọ và những năm cuôi đòi sông hạnh phúc.
Trang 20TUỔI MÃN NỘI TIẾT NAM
Mãn nội tiết nam có nghĩa là ngưng chức năng sinh dục, tương tự sự ngưng có kinh ở phụ nữ.
Nhiều đàn ông tới độ tuổi ngũ tuần cảm thấy băn khoăn, tự đặt ra nhiều câu hỏi, nhất là khi thấy thể lực suy giảm.
Phải chăng ở họ cũng diễn ra tình trạng thiếu hụt (hoóc môn) như ở phụ nữ đến tuổi mãn kinh ?
Thực ra không hề có tình trạng đột ngột ngưng tiết hóc môn như ở phụ nữ Theo đúng nghĩa đen mà nói thì không có cái gọi là mãn nội tiết ở nam giỏi, bộ tinh hoàn vẫn làm đầy đủ chức năng: vừa sản xuất tinh trùng vừa tiêt ra hoóc môn nam testosteron Cho tới khi tuổi đời đã cao, việc sản xuất tinh trùng vẫn đưỢc duy trì ít nhất trên lý thuyết, đàn ông giữ vững khả năng sinh con đến tận 50-60 tuổi,
có khi hơn Tuy nhiên từ khoảng 40 đến 45 tuổi trở
đi, sô lượng và chất lượng tinh trùng giảm dần, rất từ
từ, và rất khác nhau tùy từng người Cũng cần nhắc lại là có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng xấu tới sản xuất tinh trùng: nghiện thuốc, nghiện rượu, suy dinh dưỡng, lao lực, stress, một sô chất độc, hóa trị liệu, các bức xạ ion Do đó, việc giảm testosteron không phải chỉ có một nguyên nhân duy nhất.
Trang 21Trong thực tiễn, lượng thành phần "tự do" trong testosteron, thành phần hoạt động về mặt sinh học giảm sút rõ ràng ở một phần ba cho tới phần nửa ở những người có tuổi từ 55 trở lên.
Ngưòi ta thường nói tới mãn nội tiết nam khi có những triệu chứng: mệt mỏi nói chung hoặc mệt mỏi khi vận động cơ bắp, khó tập trung ý chí, hay quên Những rôi loạn lặt vặt này có thể do làm việc quá sức hoặc do những nguyên nhân khác.
Cũng có những người bị mất ngủ, dễ cáu gắt, hoặc trầm uất nhẹ, thờ ơ với công việc đang làm Một số khác íthì than phiền bị những cơn hồi hộp, chóng mặt, hoặc rôl loạn tiêu hóa.
Nếu xuất hiện sau một chấn thương tình cảm sau một trục trặc trong gia đình hoặc trong nghề nghiệp thì những rối loạn vừa kể thường do nguyên nhân tâm lý.
Nếu chỉ là sự sụt giảm khả năng tình dục thì có thể nghĩ tới nguyên nhân do mãn nội tiết nam, do suy giảm hoạt động nội tiết Có những triệu chứng khiến ta hướng theo phía giảm hoạt động nội tiết: lông ở bộ phận sinh dục thưa đi và ít xoăn, dịch hoàn nhỏ bốt và nhạy cảm, da bìu giảm trương lực, ít nếp nhăn, vú hơi to lên chút ít.
Thông thường vào khoảng 50 - 60 tuổi nam giới hay thấy những rôl loạn nho nhỏ vè đường tiểu tiện như đái vặt khó nhịn,đái đêm một hai lần, phải rặn
Trang 22mạnh nưốc tiểu mới ra hết, tia yếu rồi nhỏ giọt ở đoạn cuôi Đây là dấu hiệu tuyến tiền liệt bắt đầu phì đại, một sự cố thường xảy ra ở độ tuổi này.
Tuyến tiền liệt là một hạch nhỏ hình hạt dẻ tiết ra tinh dịch, nằm dưối bàng quang, ông đái (niệu đạo) chạy xuyên qua nó, khi tuyến tiền liệt phình to sẽ chèn ép niệu đạo khiến nước tiểu khó chảy ra, bàng quang khó cạn hẳn Có thể do tuyến tiền hệt bị viêm nhiễn và sung huyết nhưng cũng có thể đây là khởi đầu chứng u lành tính, rất phổ biến ở những người trên 60 mươi Nếu có dấu hiệu nghi ngờ, cần khám tiết niệu, làm siêu âm tuyến tiền liệt, khi cần có thể làm sinh thiết hoặc soi ống đái.
TUỔI MÃN KINH, MÙA THU cuộc ĐỜI PHỤ NỮ
Trong suôt thòi gian kéo dài từ 35 - 45, người phụ
nữ sống trong trạng thái nội tiết đặc biệt Buồng trứng đều đặn tiết ra từng chút một chất estradiol và
cứ mỗi chín mươi phút lại có một lần tiết mạnh Trong mười bôh ngày sau chu kỳ, có thêm chất progesteron nhập cuộc Hoóc môn thứ hai này có vai trò riêng của nó, đồng thời giúp cơ thể thải estradiol Hai hoóc môn hòa trong máu tác động vào các cơ quan sinh dục và nhiều loại mô trong đó có hệ thần kinh, da, các tuyến nội tiết và gan là cơ quan sẽ thải
Trang 23loại chúng Chúng duy trì khả năng sinh nở qua việc mỗi tháng lại chuẩn bị cho dạ con tiếp nhận một noãn bào đã thụ tinh, và nếu không xảy ra thụ tinh, chúng sẽ đẩy các chất đó ra ngoài theo kinh nguyệt Chức năng của hai hoóc môn này không chỉ có thế Chúng còn đóng vai trò quan trọng trong sinh lý phụ
nữ Nhờ hai hoóc môn này mà cơ quan sinh dục và làn da được nuôi dưỡng đầy đủ Cũng nhò chúng mà khung xương được bảo vệ và kích hoạt Sau nữa, chúng kìm hãm sự tạo mõ và các yếu tô" gây đông máu, nhờ vậy phụ nữ còn thấy kinh đưỢc bảo vệ chốiig các chứng bệnh về tim mạch.
Tuổi mãn kinh là một giai đoạn mâ"u chô"t trong cuộc đời người phụ nữ Trước hết đó là tuổi hết khả năng sinh nở Và chủ yếu hơn hết, đó là độ tuổi bản
lề giữa hai quãng đòi người Lúc này, người phụ nữ ý thức rõ mùa thu cuộc đời đã đến và vì con cái đã trưởng thành nên đôi khi có cảm tưởng mình không còn hữu ích với gia đình như trưốc Ivíột số người còn thêm nỗi lo mình không hấp dẫn như xưa hoặc không đáp ứng không khêu gợi được nhiệt tình chăn gô’i nữa Tất cả những điều đó có thể dẫn tới thái độ
ít nhiều tự ti nó ảnh hưởng tối cá tính.
Có người vượt qua cửa ải này với lòng thanh thản, trong khi một sô" người khác lại bị những rôi loạn tâm lý Sự khác biệt này là do tính cách từng người, phần khác do hoàn cảnh gia đình, xã hội Và cũng
Trang 24còn tùy thuộc những rôi loạn chức năng có thê xảy ra vối từng người.
Có tới gần nửa phụ nữ đến tuổi mãn kinh bị những rối loạn ít nhiều khó chịu, đôi khi ngay từ trúớc đó một hoặc hai năm, ở thời kỳ tiền mãn kinh Các triệu chứng thường thấy và gây khó chịu nhất là các cđn bừng bừng kèm theo hoặc thay thê bằng những đợt đố mồ hôi Trong một thòi gian dài trước kia, khoa học chưa giải thích được nguyên nhân những rối loạn trên, chúng xuất hiện thất thường và gây nên những khó chịu cho cuộc sông.
Ngày nay, y học cho rằng nguyên nhân có thế là
do trục trặc có tính phản xạ của vùng hạ đồi nằm phía dưới não bộ là vùng có chức năng điều hòa hoạt động các tuyến nội tiết lại vừa điêu hòa chức nàng khác như buồn ngủ, đói, thân nhiệt.v.v
Các rôi loạn khác; mất ngủ, căng thẩng, hồi hộp, cảm giác mệt mỏi, béo phì đôi khi kèm theo chứng ăn uống vô độ có lẽ do thiếu hụt hoóc môn, hoặc ảnh hưởng của thiếu hụt đối với vùng hạ đồi Ngoài ra yếu tô tâm lý và tình cảm cũng có vai trò nhất định Những rô"i loạn kể trên dẫn đến cảm thấy tâm trạng trầm uất, mệt mỏi, thờ ơ, đầu óc căng thẳng dễ nóng nẩy với xung quanh.
Ngay trong thòi kỳ tiền mãn kinh cũng đã diễn ra những thay đổi sinh học,thòi kỳ này có thể đến từ hai hoặc ba năm truốc tuổi mãn kinh Lúc đó, buồng
Trang 25trứng giảm tiết chất progesteron khiến thê cân bằng với oestrogen không duy trì được nữa Quá nhiều oestrogen đôi khi biểu hiện bằng những cơn đau trước
kỳ kinh, kinh không đều hoặc rong kinh dễ gây u xơ
dạ con, u lành trong vú Tuyến yên còn bội tiết một hoóc môn "kích hoạt" có tên LH hòng buộc trứng tăng tiết progesteron Đến tuổi mãn kinh, tuyên yên bội trứng tiến oestrogen nhúng vô hiệu Tỷ lệ LH và FSH trong máu cao, đó là dấu hiệu của tuổi mãn kinh.
ở người còn kinh nguyệt, tổng cholesterol thấp cholesterol "tốt" cao, nhưng khi mãn kinh tổng cholesterol cao (nhấtlà loại xấu LDL), cholesterol tôt tụt thấp Độ đặc của máu tăng, tế bào tơ huyết cũng tăng Những biến đổi này rõ ràng uy hiếp hệ thống mạch máu, là một nguyên nhân quan trọng gây các bệnh tim mạch sau tuổi mãn kinh, trong khi trước đó phụ nữ vẫn được bảo vệ hữu hiệu chống loại bệnh này.
ở tuổi mãn kinh, sự thiếu hụt hoóc môn ảnh hưởng tới nhiều cơ quan: da, xương, hệ thông tim mạch, bộ phận sinh dục Tuy nhiên, ở những người khác nhau, mức độ và phạm vi ảnh hưởng rát khác nhau.
ở thời kỳ tiền mãn kinh, mức tương đôi dư thừa oestrogen khiến các niêm mạc và các mô tuyến phình đại Ngược lại, khi đến tuổi mãn kinh, tình trạng thiếu oestrogen khiến buồng trứng teo dần Niêm mạc âm đạo trở nên khô, mỏng manh hơn, dễ bị viêm nhiễm hơn Âm hộ giảm mềm mại, có khi hơi bị teo,
Trang 26do đó có thể khó khăn khi giao hỢp Niêm mạc vùng
cổ dạ con và cả bên trong cũng teo bớt nên đôi khi sẽ gây chảy máu Tuyến vú cũng có xu hưổng teo dần, đường tiểu tiện dưới cũng vậy, dẫn tới khó tiểu tiện hoặc viêm nhiễm.
Tuổi mãn kinh còn là tuổi dễ bị ung thư bộ phận sinh dục: ung thư cổ tử cung, ung thư tử cung, nhất
là sau khi cớ quan này đã phình đại ở thời kỳ tiền mãn kinh Đây cũng là lúc ung thư vú, ung thư
buồng trứng dễ tái phát.
Thiếu hụt oestrogen còn làm da khô và mỏng đi,
dễ bị nhăn Nhất là da mặt, nơi có nhiều tế bào tiếp nhận oestrogen Lớp chân bì dưới da mất độ ẩm, giảm các sỢi colagen và sỢi co dãn Đồng thòi tình trạng thiếu hụt hóc môn nữ cũng khiên lông mặt mọc nhiều trong khi tóc mọc chậm lại.
ở tuổi mãn kinh, khung xương nhanh chóng mất các chất khoáng, tăng nguy cơ bị loãng xương nhất là trong mười năm tiếp theo, tức vào khoảng từ năm mươi đến sáu mươi tuổi Quá trình này đặc biệt diễn
ra nhanh ở các xương xô’p nhất là các đôt sôhg, các đầu xương ô'ng.
ở tuổi mãn kinh, chứng loãng xương gây hai nguy
cơ Đặc biệt từ tuổi sáu mươi trở đi, có nguy cơ dồn đôt sông, do những nứt gãy li ti, gây đau, cứng người Nếu dồn nhiều lưng sẽ bị gù,biến dạng kèm theo vẹo cột sông, chiều cao thân hình có thế hụt đi nhiều
Trang 27xăngtimét Nếu va chạm mạnh có thế làm gãy cột sống, gãy xương cổ tay Từ bảy mươi trở lên, nguy cơ lớn hơn hết là gãy cố xương đùi dù chỉ bị chấn động rất nhẹ: bước hụt trên thảm trải sàn, trên bậc cầu thang hoặc té ngã Tai nạn gãy xương này là nguy
cơ thường trực cho một phần ba các bà cụ trên tám mươi tuổi, ngoài ra các cụ còn dễ bị nhiều căn bệnh khác như viêm phổi, viêm đường tiểu tiện, nghẽn mạch, viêm tĩnh mạch.
Khi còn kinh nguyệt, phụ nữ rất hiếm khi bị mắc các bệnh tim mạch, nhưng từ tuổi mãn kinh trở về sau nguy cơ ngày càng tăng.
Có nên điều tri mãn kinh ?
Đâv là vấn đê còn nhiêu tranh cãi, với các ý kiên khác nhau, phía phản đôi cho rằng "thòi kỳ mãn kinh là thời kỳ tự nhiên", dù sao cũng chỉ có tính giao thời mà người phụ nữ nào cũng phải chấp nhận, thuôd men gì cho thêm rắm rôi mà kết quả chang có
gì rõ rệt.
Phía ủng hộ điều trị cho rằng dù sao khi tình trạng thiếu hụt hoóc môn nữ cũng không khác tình trạng thiếu hụt insulin, thiếu hụt hoóc môn tuyến giáp, tuyến yên hoặc tuyến thượng thận trong tất
cả những tình trạng đó, người ta đểu phải điều trị nhằm bổ huyết cho thiếu hụt đề phòng nguy hiểm
Sự thiếu hụt oestrogen rõ ràng gây nguy hiểm: teo niêm mạc sinh dục, loãng xương, tai biến tim mạch,
Trang 28không kề nhưng chứng bốic hoả và các rôi loạn chức năng khác đôi khi rất khó chịu.
Việc điều trị mãn kinh cần phải linh hoạt và phải căn cứ vào tình trạng của từng người mà quyết định việc điều trị Đó là những người khi bắt đầu tuổi mãn kinh và bị những rôi loạn chức năng như bôc hoả.v.v những người có nguy cơ loãng xương Phải
đo độ chất khoáng trong xương mới đánh giá được mức tiêu hao vô"n xương Những phụ nữ có nguy cơ tai biến tim mạch (cao huyết áp, cao cholesterol, tiểu đường) cũng cần điều trị với điều kiện kiểm soát thật chặt những bất thường đó.
Những ai không được điều trị vì có phản chỉ định ?
Đó là những người dễ bị ung thư sinh dục, đang có u
xơ tử cung, u nang buồng trứng, u xơ vú Các trường hỢp có tiền sử viêm tắc động mạch cũng phải coi là có phản chỉ định.
Trong quá trình điều trị, cần có thầy thuốc chuyên sản khoa giám sát c ầ n theo dõi huyết áp, vú, bộ phận sinh dục theo dõi tổng cholesterol và HDL, đường huyết.
Tuổi mãn kinh là bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời người phụ nữ với rất nhiều biến đổi cả về tâm lý, sinh lý vì thể ở thòi kỳ này người phụ nữ phải tự điều chỉnh (ăn uông, sinh hoạt, làm việc )
để thích ứng với những biến đổi không thể chông lại được để sông vui, sôhg khỏe.
Trang 29Phần thứ hai
BỆNH NGƯỜI GIÀ VÀ CÁCH PHÒNG CHỐNG
TẢNG HUYẾT ÁP NỖI LO CỦA NGƯỜI GIÀ.
Tăng huyết áp là chứng bệnh thường gặp ở người cao tuổi, bệnh mang tính tổng hỢp, phát triển chậm
và từ từ; ngày càng có xu thế gia tăng, đặc biệt ở các nước có nền kinh tê phát triển.
1 NHƯ THẾ NÀO GỌI LÀ TẢNG HUYẾT ÁP
ở người khỏe mạnh, có huyết áp (HA) tôi đa (HA tâm thu) là 120mmHg và HA tốì thiểu (HA tâm trương) là SOmmHg và thường biểu hiện bằng chỉ sô" 120/80mmHg Nếu HA tối đa là 140mmHg và HA tôi thiểu là QOmmHg được coi là tăng huyết áp Nếu HA tốĩ đa nằm trong khoảng 140-160mmHg và HA tôi thiểu nằm trong khoảng 90-95mmHg, được coi là tăng huyết áp giới hạn.
Trang 30Tuy nhiên HA cịn phụ thuộc vào nhiều yếu tơ" khác nhau như: giới tính, ở nam HA thường cao hơn nữ Vào lứa tuổi người già thường cĩ HA cao hơn giới trẻ thường từ 10-20mmHg Vào vị trí trong cơ thể; HA tơi
đa ở chân thường cao hơn ở tay 20mmHg cịn HA tốì thiểu thì khơng chênh lệch.
Người ta thường chia bệnh tăng huyết áp ra làm 2 loại: Loại tăng huyết áp thường xuyên cĩ thể lành tính và cĩ thể ác tính; loại tăng HA cơn trên cơ sở HA bình thưịng, cĩ những cơn cao vọt, những lúc này thường gây tai biến.
Theo Tổ chương tổ thế giĩi (WHO) ở người lốn tuổi
cĩ HA bình thường nếu HA tơì đa dưối 140mmHg và
HA tơl thiểu dưới 90mmHg Nếu HA tối đa trên lơOmmHg và HA tơi thiểu trên 95mmHg là tăng huyết áp.
Năm 1993, cùng với Hội tăng huyết áp thế giối, WHO đã quy định lại như sau: Từ 140/90 trở lên được coi là tăng huyết áp.
Tăng HA nhẹ, nếu HA tốì đa 140-180mmHg
HA tối thiểu 90-105mmHg Tăng HA vừa và nặng; HA tơi đa > ISOmmHg
HA tối thiểu lOõmmHg
Theo con số điều tra của Viện tim mạch Việt Nam,
HA bình thường của người Việt Nam là 120 / 75mmHg ở nam giới thường 122 / 76mmHg, ở nữ giối
119 / 75nimHg.
Trang 31Tuy nhiên đối với người tăng huyết áp, cũng có thể chỉ tăng HA tối đa còn HA tôi thiểu vẫn bình thường; cũng có thể tàng cả HA tôi đa và HA tôi thiểu khi hiệu số của HA tối đa và HA tối thiểu nhỏ, khoảng 15-12mmHg; hoặc HA tối thiểu > 100, lúc này cơ thể rất mệt mỏi và khó chịu Cũng cần nói thêm rằng, đôi với y học cổ truyền không có khái niệm bệnh tăhg huyết áp Các khái niệm về bệnh tăng huyết áp như
ta thường hiểu lại nằm trong khái niệm về chứng
"huyễn vựng" của y học cổ truyền Trong những năm gần đây các nhà y học cổ truyền phương Đông nói chung và y học cổ truyền Việt Nam nói riêng, qua nghiên cứu trên thực nghiệm cũng như trên thực tiễn lâm sàng thấy rằng chứng huyết vựng trong y học cổ truyền nói chung có các triệu chứng giông với các tiáệu chứng của bệnh tăng huyết áp Mặc dù vậy, những vị thuốc và phương thuôc cố truyền chữa chứng huyễn vựng vẫn được sử dụng vối tính chất dễ chữa bệnh tăng huyết áp.
Đổ xác định xem một người có bị tăng huyết áp
hay không, người ta có thề dựa vào một số dấu hiệu
sau đây;
Bệnh nhân thường có các cơn đau đầu dữ dội, căng đầu, hoa mắt, chóng mặt, buồn nôn, mặt thường đỏ, mắt đỏ do sung huyết, mắt mờ đi Tình trạng nậng, hơi thở thường gấp, tim đập nhanh; thậm chí chân tay bị co quắp, về phía y học cổ truyền thường kết
Trang 32hỢp giữa các triệu chứng lâm sàng với việc chẩn mạch đê xem xét tình trạng HA.
Vê mật chẩn mạch, y học cổ truyền coi mạch huyên là loại mạch điển hình của chứng tăng huyết áp; đó là loại mạch dài suôt 3 bộ (thôn, quan, xích)
có độ trương lực lớn "căng như sỢi dây đàn" Đe có kết luận chính xác về tinh trạng tàng huyết áp của một người, hiện nay người ta thường tiến hành kiểm tra HA bằng các máy đo HA Công việc kiểm tra thường tiên hành đo ít nhất 2 lần với những điều kiện giốhg nhau, vào giò nhất định, thường tiến hành vào buổi sáng có thể từ 8-10 giờ Sau đó lấy giá trị trung bình của các lần đo Khi tiến hành đo HA, bệnh nhân có thể ngồi hoặc nằm để đo cầ n chú ý thêm rằng khi tiến hành kiểm tra HA người bệnh cần ở trạng thái thoải mái tránh các hoạt động nặng như chạy nhẩy; cần nghỉ ngơi 5-10 phút trưốc khi đo và tránh các thức ăn mang tính kích thích như rượu, bia,
cà phê, tránh hút thuốc lá hoặc uốhg các thuốc chữa hen suyễn, tránh những kích thích về cảm xúc và cũng không đo sau khi ăn no.
2 PHÂN LOẠI BỆNH TẢNG HUYẾT ÁP
Y hoc hiện đai
Theo y học hiện đại bệnh tăng huyết áp được chia
ra làm 2 loại:
Trang 33- Nguyên phát: Loại tăng huyêt áp không rõ nguyên
nhân; có thế do bẩm sinh, thó loni này chiếm ty lệ cao tới 85-90% trong tổng sô người bị tăng huvết áp.
- Thứ phát: Loại tăng huyét á]i do sau một chứng
bệnh nào đó Ví dụ:Viêm cầu thận, viêm bê thận bám sinh, hẹp động mạch chủ nhiễm dộc thai nghén, hoặc tinh thấn căng thẳng
y học co tru y ền
Y học cô truyền coi bệnh tăng hu\’ết áp là bệnh thuộc chứng huyễn vựng, đầu thông, can dưỡng thương cường Căn cứ vào chứng trạng bệnh, người
ta chia làm một sô loại hình nhu sau:
7 Thê con nhiệt (can dương thượng cang)
Triệu chứng: Đau đầu, căng đầu, hoa mát, mắt đỏ,
ù lai, môi miệng khô, đáng, chân tay hay bị co rút, tê
bi, đầu lưỡi đỏ, rêu trắng hoặc hơi vàng, mất ngủ, lòng bàn chân nóng, mạch huyền.
Bài thuốc điểu trị:
Hạ khô thảo 15g Xuyên khung lOg
2 Thểđàni hỏa nội thịnh (đàm thấp):
Triệu chứng: mắt mờ, đầu căng, đau đầu ngực
Trang 34sườn đầy tức, mái đỏ, miệng khô đáng, dòm dính quánh, réu lưỡi vàng dầv dẩu lưỡi dỏ hay lợm giọng buồn nón kém ăn it ngủ; mạch huyền hoạt Thê đàm
thấp thưòng gặp ờ nhũng người có thé trạng l)éo có
hàm lượng cholesterol (mỡ máu cao).
Bài thuốc điều trị:
Triệu chứng- Hoa mat, chóng mặt, đầu nặng chân
bước không thật, tai ù, ])hiền táo dễ cáu gắt, chân tay
tê bi, chất lưỡi đỏ, rêu tráng, mỏng, mạch huyền.
Bài thuốc điểu trị:
Tiên linh kỳ 12g
4 Thê can thận âm hư:
Triệu chứng: nhức dầu hoa mát, ù tai hay hoang
hôt dễ sỢ hãi, mắt hay dỏ, miộng khô, chất lưổi dỏ, ít rêu Lving đau, gôì mỏi, di tính; khi ngủ hay bị mê; mạch huyền, tê, sác Thê này thường gcặp ở những người già mà động mạch bị xo' cứng.
Trang 35Bài thuốc điêu trị:
Dạ giao chăng
5 Thê tâm iỳ hu’:
Triệu chứng: Thường xáy l a (j người cao tuổi.
kèm theo các chíine viém loét dạ dày tá tráne biếu hiện hoa mát, dau dẩu da khô, kém ăn kém ngủ phân nát Kêu lưòi móng tráng Mạch huyổn tế.
Bài thuốc diếu irị:
6 Thê ám dương lưỡng hư:
Triệu chứng- Chóng mặt đau chầu; sắc nicặt trắng bệch, chân tay lạnh, mềm yêu, cơ teo nhẽo, tiểu đêm nhiêu lần, liệt dương hoạt tinh Người luôn có cảm giác sỢ lạnh, gió lạnh, nước lạnh Người luôn có tâm trạng phiền muộn, miệng khô, lưỡi bỏng hơi hồng Mạch trầm tế.
1 5 g H o à n g k ỳ l õ g lOg T á o n h â n lOg lOg B ạ c h t r u ậ t lOg
õg C a m t h ả o 3 g
2 0 g
Trang 36Bời thuốc diếu trị:
3 NHĨING NGUYÊN NHÂN DÁN ĐÊN TẢNG HUYẾT ÁP
1 Nguyên nhân bên tro n g
o/ Viêm thận:
Viêm thận cấp tính hoặc mạn tính đều có nguy cơ dẫn đến tăng huyết áp Thường có những biểu hiện ban đầu là phù; thường bắt đầu từ mặt, mắt (mí mắt trên).
Thời kỳ đầu huyết áp tăng cao và dao dộng lớn, thòi kỳ sau dẫn đến huyết áp tối thiểu tăng; có những biểu hiện đau lưng, sỢ lạnh, chân tay mỏi, cơ mềm nhược Tiểu ít; nước tiểu thường vàng thẫm; đôi khi đục như nưốc gạo hoặc có máu Kém ăn kém ngủ, mệt mỏi.
b / Viêm đài thận mạn tính:
Biểu hiện thời kỳ đầu, thân nhiệt thường hạ vối thòi gian kéo dài, đau lưng đi tiểu nhiều lần, không nín tiểu được, khi đi thường đau buôt, đầu thường đau căng, tim đập nhanh.
Trang 37Huyết áp tăng cao, thế trạng suy nliược thiêu máu, phù thũng Trong nưốc tiêu có thê có máu mủ
và vi khuẩn
c ị Lao thận:
Biểu hiện thân nhiệt thấp, tự ra nhiều mổ hôi Đi tiểu nhiều lẩn, lượng nhiều, thường nưóc tiếu có máu Có thê biêu hiện các chức nàng tnận bị giảm kèm theo cao huyết áp
d ! Nang thận:
Biêu hiện đau lưng đôi khi đau bụng có thể đi tiếu
ra máu Khi các nang phát triển HA thường tăng, đồng thòi với sự xơ cứng các động mạch
Trang 38- Do hẹp miệng của động mạch chủ thường do bẩm sinh (tim tiên thiên) Đa phần thấy ở nam giới Tính chất nặng hay nhẹ là do mức độ hẹp của miệng động mạch chủ Có ngưồi khi tuổi trưởng thành mới phát hiện thấy Cơ thế thường biểu hiện mệt mỏi, đau vùng tim, tim đập nhanh Huyết áp ở tay cao, huyết
áp ở chân lại thấp hơn Thời gian đầu huyết áp thường biểu hiện cao ở mức độ vừa kèm theo đau đầu, chóng mặt, tiểu nhiều, tiểu đêm, chân tay vô lực
tê bì, co quắp Với các xét nghiệm máu thấy hàm lượng kali giảm và natri tăng Ngoài ra hẹp động mạch chủ cũng là nguyên nhân gây tăng huyết áp.
h Cường năng tuyến giáp:
Do hoóc môn tuyên giáp phân tiết quá nhiều dẫn đến tim đập nhanh, tinh thần căng thảng nhiều mồ hôi; sỢ nóng, mắt bị lồi; phù tuyến giáp, thường ăn nhiều mà trọng lượng cơ thể lại giảm, do chuyển hóa
cơ bạn tăng kèm theo là tăng huyết áp tôi đa; huyết
áp tôi thiểu thấp.
i Do nhiễm độc thai nghén:
Một sô" phụ nữ khi có thai, những biểu hiện cao huyết áp.
k Do tầng hàm lượng cholesterol trong máu
Vượt quá giói hạn cho phép (5,6mmol/l) sẽ ảnh hưởng đến thành mạch.
Trang 392 N guyên nh ân bên ngoài.
- Do ăn uôhg:
Do ăn nhiều các chất cay nóng, kích thích trong thời gian kéo dài như rượu, cà phê, thuốc lá hoặc chê
độ ăn uống quá nhiều mở động vật, ăn mặn.
- Do căng thang thần kinh (do làm việc nghỉ ngơi không điều độ dẫn đến lo nghĩ, sỢ hãi).
- Do các yếu tô môi trường như quá nhiêu tiếng động mạnh, tiếng ồn ào
- Uông thuôc tránh thai, thuôc corticoid cũng là nguyên nhân gây tăng HA.
Như vậy có rất nhiều nguyên nhân có thể dẫn đến bệnh tăng huyết áp Tuy nhiên người ta vẫn thấy ràng nguyên nhân bên trong là nguyên nhân chủ yến dẫn đến bệnh này; mặc dù không phải nguyên nhân bên ngoài không kém phần quan trông dẫn đến bệnh tăng huyết áp Do đó để phòng trị bệnh tăng huyết áp
có hiệu quả cần phải kết hỢp, vừa điều trị các nguyên nhân bên trong đồng thời khắc phục những yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến bệnh tăng huyết áp.
4 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐÊN HUYẾT ÁP
Để phòng và trị bệnh tăng huyết áp cần nắrn vững được các yếu tô có ảnh hưởng đến HA Đe xét các yếu
tô ảnh hưởng đến huyết áp, ta có thể dựa vào công thức sau đây:
Trang 40Q = p. (1)
Hr'
81n Công thức này được suy ra từ định luật Poiscuille
vê sự vận chuyên chất lỏng trong một ông.
Trong đó Q là lưu lượng Trong trường hỢp mạch máu thì Q là lưu lượng máu trong mạch, p là huyết áp; r là bán kính lòng mạch; 1 là chiểu dài mạch, n là
độ nhớt của máu Có thế suy ra:
81n Huyết áp p = Q (2) -
Từ công thức trên có thể thấy rằng:
- Lưu lượng của máu phụ thuộc chủ yếu vào sức đập của tim Tim đập càng nhanh bao nhiêu lưu lượng máu càng lớn bấy nhiêu.
- Độ nhớt của máu phụ thuộc chủ yếu vào các thành phần trong huyết tương; trong số đó ảnh hưởng đáng kể là các chất mỡ (cholesterol) , các chất triglycerid, các muôi mật V.V