Nghiên cứu ảnh hưởng của sóng hài tới chất lượng điện năng và các đề xuất để làm giảm ảnh hưởng của sóng hài Nghiên cứu ảnh hưởng của sóng hài tới chất lượng điện năng và các đề xuất để làm giảm ảnh hưởng của sóng hài luận văn tốt nghiệp thạc sĩ
Trang 1-
ĐỂ LÀM GIẢM ẢNH HƯỞNG CỦA SÓNG HÀI
Hà Nội 2006 Người hướng dẫn khoa học: TS Bùi Đức Hùng
Trang 2bộ môn Thiết bị điện-Điện tử, tôi cảm thấy mình rất vinh dự vì truớc đây là sinh viên và giờ đây là nghiên cứu sinh cao học tại bộ môn Bằng luận văn này tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy giáo, cô giáo trong bộ môn đã trang bị những kiến thức rất mang tính thực tiễn cao để chúng tôi những kĩ sư và sau này là những thạc sĩ ngành Thiết bị điện-Điện tử có thể
tự tin áp dụng những kết quả nghiên cứu vào trong công việc của mình
Để luận văn có thể hoàn thành như ngày hôm nay được tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến thầy Tiến Sĩ Bùi Đức Hùng - Bộ môn Thiết bị điện_Điện tử- Trường đại học Bách Khoa Hà Nội đã luôn tạo điều kiện giúp đỡ và tận tình hướng dẫn tôi tiếp cận một vấn đề khoa học trong lĩnh vực Điện
Tôi cũng xin gửi lời cám ơn sâu sắc tới các đồng nghiệp của tôi tại Trung tâm Điện tử công nghiệp thuộc Viện nghiên cứu Điện tử, Tin học, Tự động hoá, giám đốc trung tâm cũng như ban lãnh đạo Viện luôn tạo điều kiện về thời gian và đóng góp đầy nhiệt tình về chuyên môn và lý thuyết của các đồng nghiệp để tôi có những hiểu biết sâu hơn về luận văn
Cuối cùng tôi muốn cám ơn gia đình, bạn bè luôn là nguồn cổ vũ và động viên trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu luận văn của mình
Mặc dù đã cố gắng hết sức mình, nhưng do khó khăn về tài liệu, khoảng thời gian nghiên cứu và khả năng hạn chế của bản thân cho nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được các góp ý từ các
thầy giáo cũng như từ các bạn đồng nghiệp để vấn đề nghiên cứu trong luận văn được sáng tỏ hoàn thiện hơn
Hà Nội ngày tháng … năm 2006
Trang 3CHƯƠNG 2 - CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG ĐIỆN NĂNG - 10 -
2.1 PHI TUY ẾN - 11 -
2.2 CÁC BIẾN ĐỔI ĐIỆN ÁP TRONG THỜI GIAN NGẮN - 14 -
2.3 BIẾN THIÊN ĐIỆN ÁP TRONG THỜI GIAN DÀI - 18 -
2.4 MÉO D ẠNG SÓNG - 21 -
2.5 DAO ĐỘNG ĐIỆN ÁP - 24 -
2.6 CÁC BIẾN ĐỔI TẦN SỐ - 25 -
2.7 M ẤT CÂN B ẰNG ĐIỆN ÁP - 26 -
CHƯƠNG 3 - ĐIỀU HOÀ - 28 -
3.1 THẾ NÀO LÀ MÉO ĐIỀU HOÀ - 29 -
3.2 MÉO DÒNG ĐIỆN VÀ ĐIỆN ÁP - 33 -
3.3 CÁC ĐẠI LƯỢNG C ỦA H Ệ TH ỐNG ĐIỆN NĂNG Ở ĐIỀU KI ỆN KHÔNG SIN
-34 - 3.4 CÁC CHỈ SỐ ĐIỀU HOÀ - 39 -
3.5 CÁC NGU ỒN ĐIỀU HOÀ - 41 -
3.6 CÁC TÍNH CH ẤT ĐÁP ỨNG C ỦA H Ệ TH ỐNG - 47 -
3.7 ẢNH HƯỞNG CỦA SÓNG ĐIỀU HOÀ BẬC CAO TRONG LƯỚI ĐIỆN ĐẾN CÁC THI ẾT B Ị - 53 -
CHƯƠNG 4 - ĐÁNH GIÁ MÉO ĐIỀU HOÀ VÀ CÁC BIỆN PHÁP HẠN CHẾ ĐIỀU HOÀ - 64 -
4.1 ĐÁNH GÍA MÉO ĐIỀU HOÀ - 64 -
4.2 CÁC Y ẾU T Ố ĐỂ ĐIỀU CH ỈNH ĐIỀU HOÀ - 68 -
4.4 CÁC THIẾT BỊ ĐỂ ĐIỀU CHỈNH MÉO ĐIỀU HOÀ - 73 -
4.5 CÁC TIÊU CHUẨN LIÊN QUAN ĐẾN ĐIỀU HOÀ TRÊN THẾ GIỚI - 82 -
CHƯƠNG 5 - ĐÈN HUỲNH QUANG-NÂNG CAO HỆ SỐ CÔNG SUẤT VÀ LỌC ĐIỀU HOÀ CHO TẢI ĐÈN HUỲNH QUANG - 92 -
5.1 GIỚI THIỆU CHUNG ĐÈN HUỲNH QUANG - 92 -
5.2 C ẤU TRÚC H Ệ TH ỐNG ĐÈN HU ỲNH QUANG - 93 -
5.3 CÁC PHƯƠNG PHÁP KH ỞI ĐỘNG ĐÈN - 98 -
CHƯƠNG 6 - THÍ NGHIỆM LỌC NHIỄU CHO NGUỒN TẢI ĐIỀU HOÀ LÀ ĐÈN HU ỲNH QUANG - 101 -
6.1 NHI ỆM V Ụ C ỦA THÍ NGHI ỆM - 101 -
6.2 CHỌN ĐÈN HUỲNH QUANG - 101 -
6.3 NGUỒN ĐIỀU HOÀ LÀ ĐÈN SỬ DỤNG CHẤN LƯU ĐIỆN TỬ - 101 -
6.4 NGU ỒN ĐIỀU HOÀ LÀ ĐÈN HU ỲNH QUANG S Ử D ỤNG CH ẤN LƯU ĐIỆN T Ừ VỚI TỤ BÙ CÔNG SUẤT - 106 -
Trang 4PH ẦN MỞ ĐẦU
Theo các cơ quan, tổ chức giám sát chất lượng điện năng của các quốc gia
cũng như của quốc tế thì méo dạng sóng của điện áp, dòng điện được xếp vào
một trong các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng điện năng, nó gây ra rất nhiều
các sự cố cho hệ thống điện cũng như cho người sử dụng Thông qua phân
tích Furrier thì méo dạng sóng có thể coi là sự tổng hợp của các sóng hài với
các tần số là số nguyên lần tần số dao động cơ bản Với hệ thống cung cấp
điện năng thì các sóng hài này làm cho hệ số công suất giảm, gây ra hiện
tượng cộng hưởng khi đáp ứng tần số trở kháng hệ thống là trùng với tần số
một trong các sóng hài, điều này đặc biệt nguy hiểm vì khi đó dòng điện điện
áp có thể được khuyếch đại lên hàng chục, hàng trăm lần gây ra hiện tượng
cháy nổ, hỏng cách điện …Với các thiết bị của người sử dụng thì sóng hài có
thể làm cho các thiết bị đó hoạt động không chính xác do các thiết bị chỉ được
thiết kế để làm việc với các dạng sóng lý tưởng, làm các thiết bị hỏng, quá tải
cho đường dây trung tính
Trong các thập kỉ gần đây, các thiết bị điện tử công suất được sử dụng trong
các thiết bị của các hộ tiêu thụ điện, hiện nay chúng chiếm một vị trí đáng kể
trong dân dụng cũng như trong công nghiệp Chúng ta có thể thấy các thiết bị
này rất quen thuộc như các bộ nguồn một chiều cung cấp cho các máy tính,
máy in, máy phô tô, trong công nghiệp thì có các bộ biến tần, các bộ chỉnh
lưu công suất lớn Chúng là các nguồn điều hoà phát các dòng điều hoà vào
trong hệ thống, và sự có mặt của chúng trong hệ thống điện dẫn đến hệ thống
ngày càng phức tạp bởi lúc này hệ thống chứa rất nhiều nguồn phát điều hoà
Liên quan đến vấn đề tiết kiệm điện năng, hiện nay Việt Nam đã có các dự án
và chính sách tiết kiệm điện để quy định việc sử dụng khai thác nguồn điện
cho các thiết bị với hiệu năng cao Điều hoà liên quan đến hệ số công suất, sự
Trang 5có mặt của chúng gây tổn hao phụ làm cho hệ số công suất của hệ thống giảm
xuống, do đó giảm thiểu và loại trừ các sóng điều hoà cũng được xem xét như
là một yếu tố góp phần tăng cường nâng cao hệ số công suất cho hệ thống
cũng như giảm tổn hao năng lượng
Vì vậy đi kèm với việc sử dụng các thiết bị điện tử công suất ngày càng phổ
biến, nhận thức các sự cố do sóng hài mang lại cho hệ thống cũng như người
sử dụng và xét đến yếu tố tiết kiệm điện năng thì phải nghiên cứu mọi mặt
liên quan đến điều hoà Đó là các nghiên cứu về nguồn phát điều hoà, các tính
chất của nguồn điều hoà, đánh giá các tác động của điều hoà lên hệ thống, lên
các thiết bị người sử dụng, đánh giá khả năng đáp ứng trở kháng theo tần số
của hệ thống để tìm ra các tần số điều hoà cộng hưởng nguy hiểm và tìm ra
các biện pháp hạn chế và loại trừ các sự cố nguy hiểm có thể xảy ra
- Tổng quát các khái niệm cơ bản về điều hoà
- Nắm được cơ bản về nguồn phát điều hoà
- Các tác động của điều hoà
- Các biện pháp điều chỉnh điều hoà
- Đưa ra một mô hình phát điều hoà trong thực tế, lựa chọn biện pháp
lọc điều hoà
- Rút ra được những kết luận của đề tài nghiên cứu, đưa ra hướng có
thể nghiên cứu tiếp theo
3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Sóng hài và các tác động của sóng hài đến chất lượng điện năng
- Các biện pháp để khắc phục các tác động tiêu cực của sóng hài
- Đưa ra mô hình nguồn điều hoà là đèn huỳnh quang sử dụng chấn lưu
điện tử và chấn lưu từ có tụ bù là các nguồn sóng hài
Trang 6- Chọn và thiết kế bộ lọc thực tế để có thể hạn chế sóng hài
5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI:
Đề tài được xây dựng gồm có hai phần:
- Lý thuyết giúp người đọc có những khái niêm cơ bản về điều hoà
- Phần thực hành: chọn lựa một nguồn phát điều hoà rất hay gặp trong
thực tế đó là đèn huỳnh quang Đưa ra một cấu trúc bộ lọc để chứng
minh trực quan sinh động tính lý thuyết đã được đề cập ở phần lý
thuyết trên, đề tài cũng cho thấy khả năng áp dụng vào thực tế để có thể
hạn chế các loại điều hoà có cùng tính chất như nguồn phát điều hoà là
tải như trên
6 PHUƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Tóm tắt các lý thuyết cơ bản
- Từ lý thuyết đó xây dựng mô hình thực tế, có sử dụng máy tính để hỗ
trợ để tính toán các tham số cho các mô hình thực tế
- Từ các kết quả đo đạc từ thực tế để kiểm định lý thuyết
Luận văn được chia làm sáu hương
Chương 1: Giới thiệu tổng quan về chất lượng điện năng, các định nghĩa, các
khái niệm liên quan đến điện năng
Chương 2: Phân loại các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng điện năng
Chương 3: Các khái niệm về điều hoà, về méo dạng sóng, nguồn phát điều
hoà trong hệ thống điện, sự tác động của sóng điều hoà lên các thiết bị trong
hệ thống, và đáp ứng trở kháng của hệ thống đối với từng điều hoà
Chương 4: Đánh giá méo điều hoà trên hệ thống, các phương pháp để kiểm
soát điều hoà, và các tiêu chuẩn điều hoà trên thế giới
Trang 7Chương 5: Giới thiệu về đèn huỳnh quang là tải phi tuyến phát ra điều hoà có
chỉ số THD-I rất cao khi dùng chấn lưu điện tử và chấn lưu điện từ có tụ bù
công suất
Chương 6: Lọc sóng hài cho tải phát ra điều hoà là đèn huỳnh quang
Ph ụ lục I, II: Kết quả thí nghiệm, kết luận, đánh giá và đưa ra hướng mới cho
nghiên cứu tiếp theo
Trang 8CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN
Chất lượng điện năng là một lĩnh vực nghiên cứu rất rộng bao gồm các
phương pháp và các thiết bị được thiết kế tính toán sao cho duy trì được dạng
sóng sin hoặc là gần hình sin của nguồn cung cấp tại điện áp định mức và tần
số định mức của hệ thống điện năng
Sự phát triển của khoa học công nghệ trong thời gian gần đây, đặc biệt
là các tiến bộ trong việc ứng dụng các thiết bị điện tử công suất đã mang lại
rất nhiều sự thuận tiện trong công nghệ cũng như các lợi ích về mặt kinh tế
Nhưng song song cùng với các ưu điểm đó thì các tiến bộ công nghệ trên có
những tác động không nhỏ đến chất lượng điện năng của nguồn cung cấp, đòi
hỏi phải nghiên cứu tìm hiểu và khắc phục những ảnh hưởng đó Các hệ thống
điện năng ngày nay các chỉ số chất lượng luông nằm trong giới hạn cho phép,
và đôi khi nhưng rất hiếm là vượt ra ngoài giới hạn này, để tránh các tình
trạng nguy hiểm xuất hiện do điều kiện này gây ra thì độ tin cậy và độ an toàn
của hệ thống cần thiết phải tuân theo các tiêu chuẩn nhất định của để đảm bảo
chất lượng cho hệ thống điện năng Một trong các vấn đề chính đang được
đặc biệt quan tâm hiện nay là các tính chất của điện áp trong lĩnh vực năng
lượng điện, và một trong các tính chất đó là điều khiển và dự báo các điều hoà
xuất hiện trong hệ thống
Vì chất lượng điện áp đã trở thành một đặc điểm quan trọng của hàng
hoá tiêu dùng trên thị trường, nên người ta liên tục tập trung vào việc tìm
kiếm, mô tả về chất lượng điện năng và trên hết là dự đoán cách thức phản
ứng của hệ thống điện năng Với việc mở rộng tải điện tử công suất, đặc biệt
là trong các mạng phân phối đã mang lại sự bất cập cho hoạt động của hệ
thống và đòi hỏi một phương pháp phân tích sâu sắc và toàn diện để dự đoán
Trang 9các sự cố nghiêm trọng liên quan đến chất lượng công suất trước khi nó xảy
ra Hay nói cách khác, là phải áp dụng các tiêu chuẩn một cách nghiêm khắc
để giúp cho việc kiểm soát các ảnh hưởng trong một giới hạn cho phép
Chất lượng điện năng được đưa ra định nghĩa vào đầu thập kỉ 80 của
thế kỉ 20 và ngay lập tức nó trở thành một khái niệm gây tranh cãi trong hệ
thống công nghiệp năng lượng, cho đến ngày nay thì còn rất nhiều các bất
đồng về việc sử dụng khái niệm trên, về cách định nghĩa nó và việc áp dụng
nó thế nào cho chính xác Nguyên nhân chính là rất khó có thể định nghĩa một
đại lương vật lý kiểu công, và vì thế một số khái niệm khác đã được sử dụng
để thay thế cho khái niệm này Một trong các khái niệm này là “chất lượng
điện áp”, nó được sử dụng rất nhiều trong các ấn bản tại châu Âu và được
hiểu là chất lượng của sản phẩm do nhà cung cấp điện đưa ra cho người sử
dụng Định nghĩa tiếp theo bổ sung cho khái niệm trên là “chất lượng dòng
điện”, nó được định nghĩa là sự sai lệch của dòng điện thực tế với dòng điện
sin lý tưởng Vì vậy trong khi chất lượng điện áp quan tâm đến cái mà nhà
cung cấp điện đưa cho người sử dụng thì chất lượng dòng điện lại quan tâm
đến cái mà người sử dụng nhận được thì hệ thống cung cấp Một khái niệm
tiếp theo là “chất lượng nguồn cung cấp” (quality of supply) là một khái niệm
hữu dụng nếu không quan tâm đến các trách nhiệm của người sử dụng, bởi vì
như theo khái niệm nguồn cung cấp đã không bao hàm các mối quan hệ tích
cực của người sử dụng Một khái niệm sau là “chất lượng tiêu thụ” (quality of
consumption), nhưng khái niệm này ít được dùng trong ngành công nghiệp
năng lượng cho nên không nên quan tâm nhiều đến nó Trong các tiêu chuẩn,
thuật ngữ “chất lượng điện năng ” đã được chính thức sử dụng rất nhiều nơi
Ở Mỹ trong tiêu chuẩn của IEEE (Institue of Electric and Electronic
Trang 10Engineers ), một trong các tiêu chuẩn của Uỷ ban hợp tác các tiêu chuẩn
( Standard Coordinate Committees) SCC, cụ thể là SCC 22 đã chính thức viết:
Chất lượng điện năng Mặc dù trong các tài liệu (tiêu chuẩn) của IEC
(International Electronical Commission) U ỷ ban điện quốc tế, một tổ chức
thiết lập các tiêu chuẩn về điện trên quốc tế, thuật ngữ “chất lượng điện năng”
không hề xuất hiện chính thức, mãi cho đến năm 2002 rong một bản dự thảo
tiêu chuẩn của IEC thuật ngữ “chất lượng điện năng ” mới được sử dụng lần
đầu tiên Và cũng cần nhấn mạnh rằng IEC ngày càng chấp nhận thuật ngữ
“chất lượng điện năng ” hơn Nhận xét về nội dung các đóng góp chính cho
vấn đề định nghĩa chất lượng điện năng ở những năm gần đây, nói chung chất
lượng điện năng thường được sử dụng để biểu thị chất lượng của điện áp
Cùng với việc tập trung định nghĩa chất lượng điện năng, người ta cũng mô tả
nó như là một vấn đề tác động đến trước tiên người tiêu dùng, kèm theo định
nghĩa vấn đề liên quan đến chất lượng điện năng như sau: Bất kì một vấn đề
công su ất sử dụng đều cho thấy sự sai lệch tần số, dòng điện, điện áp gây nên
các h ỏng hóc hay sự hoạt động sai cho các thiết bị của người sử dụng thì đó
là v ấn đề của chất lượng điện năng Thêm vào đó, đối với các ứng dụng có
thể định nghĩa chất lượng điện năng theo độ tin cậy và biểu diễn nó dưới dạng
thống kê, ví dụ hệ thống có độ tin cậy 99,98% Với các nhà sản xuất thiết bị
có thể định nghĩa chất lượng điện năng là các tính chất của hệ thống điện cho
phép các thiết bị của họ có thể hoạt động tương thích mà không có sự cố gì
Tuy nhiên các tính chất này có thể rất khác nhau, điều đó phụ thuộc vào các
tiêu chuẩn của mỗi nước hoặc mỗi vùng địa lý
Do các vấn đề liên quan đến chất lượng điện năng ảnh hưởng rất lớn
đến các thiết bị của người sử dụng cũng như đối với hệ thống điện nên các cơ
quan tiêu chuẩn hoá của các quốc gia cũng như quốc tế đã bắt đầu định nghĩa
và phân loại chất lượng điện năng liên quan đến các hiện tượng trong hệ
Trang 11thống năng lượng Theo các định nghĩa được đưa ra của IEEE, khởi đầu từ
IEEE Emerald Book , mô tả chất lượng điện năng là một khái niệm của việc
nối nguồn và nối đất cho các thiết bị nhạy cảm mà theo cách đó là phù hợp
cho vi ệc hoạt động của các thiết bị đó Vào năm 2000 IEC đã bắt đầu có bước
khởi đầu về vấn đề chất lượng điện năng kết quả là đưa ra được một bản dự
thảo và đề nghị việc định nghĩa chất lượng điện năng theo cách sau: Chất
lượng điện năng là một bộ các hệ số định nghĩa các đặc tính của nguồn cung
c ấp năng lượng khi phân phối cho người sử dụng tại các điều kiện hoạt động
bình thường, với mặt nguồn cung cấp hoạt động liên tục và các tính chất của
điện áp(sự đối xứng, tần số, biên độ và dạng sóng) Tuy nhiên định nghĩa này
vấp phải rất nhiều sự nhầm lẫn bởi vì sự giới hạn của chất lượng điện năng
trong các điều kiện hoạt động bình thường Do đó, người ta đã chỉnh sửa định
nghĩa thành: Các tính chất về điện tại một điểm cho trước trong một hệ thống
điện, được đánh giá đối lập với một bộ các hệ thống công nghệ mẫu tham
chi ếu (với một chú ý là: trong nhiều trường hợp các hệ số này có thể liên
quan đến sự tương thích về mặt điện được cung cấp bởi lưới điện và các tải
được nối với lưới đó) Tuy nhiên, trong phiên bản tại Đức của chính bản dự
thảo này (được xuất bản vào 06/2003) người ta gọi là “spannungsqualität”
dịch một cách trực tiếp có nghĩa là chất lượng điện áp Tóm lại, thuật ngữ chất
lượng điện năng vẫn còn là một chủ đề tranh cãi vì thế việc đưa ra được một
định nghĩa cuối cùng là vấn đề của tương lai
Tổng kết các tranh luận ở trên, có thể nói rằng mặc dù thuật ngữ chất
lượng điện năng được sử dụng theo các nghĩa hơi khác nhau, hay đều giống
nhau tại một số quốc gia và một số tiêu chuẩn nhưng các thuật ngữ chất lượng
điện áp, chất lượng điện năng đều có một điểm chung là chúng tính đến sự
tương tác giữa các ứng dụng và người sử dụng, tức là giữa hệ thống năng
lượng và tải Điều cần nhấn mạnh ở đây là các mối tương tác này ngày càng
Trang 12được tăng cường, đặc biệt là trong thời đại công nghệ thông tin và xã hội hoá
thông tin, mang lại những cơ hội mới cho độ tin cậy và chất lượng của hệ
thống cung cấp điện Chất lượng điện năng liên quan trực tiếp đến độ an toàn
và chức năng của các cơ cấu hạ tầng cơ bản của mỗi quốc gia và trong mấy
năm gần đây vấn đề chất cải thiện nâng cao chất lượng điện năng ngày càng
nhận được những quan tâm chú ý của các quốc gia Ở Mỹ đã triển khai các
chương trình kiểu như Đề xuất cho Sự phát triển và Ứng dụng của Độ an toàn,
Độ tin cậy, Chất lượng và Sẵn có (Proposal for Development of Security,
Reliability, Quality and Availability SRQA ), hay Mô hình Tối ưu Các cấu
hình Hệ thống Năng lượng cho Nền kinh tế Số (Modeling for Optimizing
Power System Configurations for Digital Economy ) Họ đặt ra các điều
khoản định nghĩa mức độ an toàn dành cho quản lý chiến lược và các thành
phần then chốt để quản lý các hệ thống điện hiện đại phục vụ cho tiêu dùng số
ngày càng tăng và dựa trên các chương trình an ninh dành cho các cấu trúc
trọng điểm tương tự như hệ thống năng lượng theo quan điểm chính trị Vấn
đề an ninh sẽ được kết hợp với độ ổn định và chất lượng điện, với các hệ
thống đánh giá giám sát và tự động hoá, với các phương pháp đo lường, và
với các tiêu chuẩn an toàn của các hệ thông năng lượng điện Để thoả mãn tất
cả các yêu cầu trên đồng thời làm giảm đi tính phức tạp của các phương pháp
đánh giá thì các cấu trúc hạ tầng then chốt ví dụ như các hệ thống năng lượng
điện phải đảm bảo về vấn đề an ninh và vấn đề tin cậy trong quá trình hoạt
động
Trang 13CHƯƠNG 2 - CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG ĐIỆN
NĂNG
Trong hệ thống điện có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng điện
năng Vấn đề rất bình thường đặt ra trong nghành công nghiệp năng lượng
điện thực tế là việc phân loại các yếu tố ảnh hưởng đó theo các tính chất điện
học của điện áp và được thử nghiệm trên các thiết bị tiêu dùng khác nhau Các
tính chất được thử nghiệm về mặt điện bao gồm: dạng sóng, các giá trị trung
bình, các cân bằng điện áp pha của dòng và áp Theo các các cố gắng quốc tế
gần đây để tiêu chuẩn hoá các định nghĩa thuật ngữ chất lượng điện năng thì
các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng điện bao gồm các yếu tố như sau:
Phân lo ại Ph ổ tần điển hình Thời gian điển
hình
Biên độ điện
áp điển hình 1.0 Các phi tuy ến
1.1 Xung
1.1.1 Nano giây 5- ns tăng < 50 ns
1.1.2 Micro giây 1-µs tăng 50 ns-1ms
1.1.3 Mili giây 0.1- ms tăng >1ms
Trang 143.3 Quá điện áp > 1 phút 1,1-1,2 pu
4.0 Mất cân bằng điện áp Ổn định 0,5-2%
5.0 Méo d ạng sóng
5.1 Kho ảng một chiều Ổn định 0-0,1%
5.2 Điều hoà 0-100thđiều hoà Ổn định 0-20%
5.3 Các n ội điều hoà 0-6kHz Ổn định 0-2%
5.5 Nhi ễu Băng tần rộng Ổn định 0-1%
6.0 Dao động điện áp <25Hz Liên tiếp 0,1-7%
7.0 Bi ến đổi tần số công nghiệp <10s
Chú ý: s=giây, ns nano giây, µs = micro giây, ms = mili giây, kHz = kilohertz, MHz =
megahertz,
2.1 PHI TUY ẾN
Phi tuyến là các nhiễu mà có thời gian kéo dài lớn hơn ba chu kì
(50Hz-60ms) Các nhiễu này xuất phát từ rất nhiều nguyên nhân: ví dụ đóng cắt tụ
điện, phóng điện trong đèn ballast, các nhiễu này có thể được xếp vào các loại
xung và các loại dao động Các nhiễu xung xuất hiện trong khoảng thời gian
nhỏ hơn 1ms, có tính chất thời gian lên giá trị đỉnh và từ giá trị đỉnh xuống rất
nhọn Các dao động phi tuyến nói chung là có thời gian tồn tại là nhỏ hơn một
chu kì dao động (tần số của nguồn kích thích) và có tần số dao động thường
trên 5kHz
Thuật ngữ phi tuyến đã được sử dụng trong phân tích các biến đổi hệ
thống điện năng để chỉ ra một sự kiện không theo mong muốn hoặc mang tính
chất tức thời của tự nhiên Đối với nhà phân phối điện năng, họ sẽ hiểu phi
tuyến theo kiểu sét đánh vào đường dây, còn người tiêu thụ điện thì hiểu đó là
sự bất bình thường khi quan sát nguồn cung cấp, làm cho nguồn xuất hiện các
khoảng lõm, lồi, hay có thể là các khoảng ngắt
Phi tuyến có thể được phân loại thành hai dạng:
Xung phi tuy ến:
Xung phi tuyến là một sự thay đổi đột nhiên trong điều kiện làm
việc ổn định của điện áp hoặc dòng điện hay cả hai mà sự thay đổi này
Trang 15không làm thay đổi giá trị cực tính của điện áp hay dòng điện (Khởi
đầu điện áp hay dòng điện có thể là âm hay dương)
Có nhiều nguyên nhân gây ra xung phi tuyến trong đó nguyên nhân
phổ biến nhất là sét Bởi vì bản thân xung phi tuyến chứa rất nhiều các
điều hoà bậc cao cho nên các thành phần mạch của đường dây có thể
làm chúng thay đổi rất nhanh, sự thay đổi là rất đáng kể khi ta quan sát
tại các điểm khác nhau trong hệ thống Nói chung các xung phi tuyến
không thể truyền đi xa được
Dao động phi tuyến:
Dao động phi tuyến là sự thay đổi đột nhiên trong các điều kiện ổn
định của điện áp và dòng điện hoặc cả hai mà sự thay đổi này làm thay
đổi chiều cực tính của điện áp hay dòng điện bao gồm cả hai giá trị âm
và dương
Hình 2.1
Trang 16Dao dộng phi tuyến được nhận ra thông qua phân tích tần số,
khoảng thời gian tồn tại và biên độ Tuỳ theo tần số dao động mà chúng
được phân loại vào tần số thấp (fdđ<5kHz), trung bình
(5kHz≤fdđ<500kHz) và tần số cao (500kHz≤fdđ<5MHz)
Nguyên nhân:
Dao động phi tuyến tần số cao: Thường là kết quả của việc hệ thống
cục bộ phản ứng lại với xung phi tuyến
Dao động phi tuyến tần số trung bình:
Do quá trình nạp đi nạp lại của tụ điện
Do qúa trình đóng cắt đường dây
Do hệ thống phản ứng lại với xung phi tuyến
Trang 172.2 CÁC BI ẾN ĐỔI ĐIỆN ÁP TRONG THỜI GIAN NGẮN
Loại này bao gồm các loại ngắt thời gian ngắn và lõm điện áp được xếp
trong tiêu chuẩn IEC Mỗi loại khác nhau có thể được xếp loại vào trường hợp
t ức thời (instaneous), thoáng qua (momentary), tạm thời( temporary), điều này
phụ thuộc vào khoảng thời gian tồn tại của chúng
Các biến đổi điện áp trong thời gian ngắn là do các sự cố trong hệ
thống, do quá trình năng lượng hoá các tải lớn đòi hỏi dòng khởi động cao,
hay là do các tổn hao liên tục trong các kết nối trên đường dây điện Các biến
đổi này phụ thuộc vào vị trí phát sinh sự cố và phụ thuộc vào các điều kiện
của hệ thống điện, các sự cố này có thể gây ra:
Lõm điện áp: Thuật ngữ lõm điện áp đã được sử dụng trong nhiều năm để
mô tả độ suy giảm của điện áp trong một khoảng thời gian nào đấy Mặc dù
lõm điện áp không được chính thức định nghĩa, nhưng các nhà phân phối điện
ngày càng sử dụng nhiều thuật ngữ trên, các nhà sản xuất thiết bị điện và
người tiêu dùng tương tự cũng chấp nhận và sử dụng Lõm điện áp được hiểu
là mức suy giảm điện áp trong khoảng 10% đến 90% giá trị trung bình của nó
trong khoảng thời gian từ nửa chu kì (50Hz-10ms) đến một phút
Các lõm điện áp thường liên quan đến sự cố hệ thống điện, nhưng cũng
có thể là do việc năng lượng hóa các tải lớn hay do quá trình khởi động động
cơ công suất lớn
Trang 18Mặc dù có rất nhiều cố gắng, nhưng các nhà tiêu chuẩn vẫn chưa đưa ra
được khoảng thời gian thống nhất chung dành cho lõm điện áp một cách rõ
ràng Khoảng thời gian tồn tại lõm điện áp được định nghĩa trong một vài ấn
bản có giới hạn thay đổi từ hai mili giây (một phần mười chu kì-tần số điện áp
50Hz) cho đến một phút Các điện áp mà có khoảng thời gian tồn tại nhỏ hơn
10 ms (nửa chu kì-tần số điện áp 50Hz) rất khó để có thể xác định một cách
hiệu quả thông qua sự thay đổi giá trị điện áp tương đối của các giá trị điện áp
có tần số cơ bản Vì thế các hiện tượng này được xếp vào loại phi tuyến như
đã xét ở trên Các dưới điện áp mà có thời gian kéo dài trêm một phút nói
chung là có thể được điều khiển bởi các thiết bị điều chỉnh điện áp và nó
thường là do các nguyên nhân khách quan nào đó gây ra chứ không phải là do
sự cố bắt nguồn từ hệ thống điện Chúng được xếp vào lớp biến thiên điện áp
thời gian dài
Hình2.3 biểu diễn lõm điện áp điển hình liên quan đến lỗi pha-đất
Trang 19Biến thiên điện áp thời gian ngắn được chia thành ba loại khác nhau:
tức thời 0,5≤t<30 chu kỳ (600ms) , thoáng qua 30 chu kỳ ≤t< 3 s, tạm thời
3s≤t<1phút
Nguyên nhân c ủa lõm điện áp:
- Do sự cố trong lưới truyền tải và phân phối Lõm kéo dài phụ thuộc
vào việc điều chỉnh thời gian của các hệ thống bảo vệ để cách ly sự cố cần có
thiết bị cắt, nguyên nhân chủ yếu gây lõm điện áp là dòng điện qua tổng trở
của mạch tăng đột ngột, làm tăng điện áp rơi trên lưới do đó điện áp tại điểm
quan sát giảm đi Ví dụ mặc dù khi sự cố nguồn cung cấp bị cắt nhưng vẫn
còn điện áp dư trên động cơ không đồng bộ và đồng bộ trong quá trình giảm
tốc (từ 0,3-1s) hoặc giảm điện áp tồn dư trong tụ điện…
- Do đóng cắt công suất lớn như động cơ không đồng bộ, lò hồ quang,
máy hàn cũng dẫn đến sự suy giảm đột ngột của điện áp
- Do suy giảm điện áp quá độ (∆T<T/2) khi đóng cắt tụ điện, đóng cắt
máy cắt, cháy cầu chì, chuyển mạch của các bộ biến đổi nhiều pha
Điện áp lồi: Được định nghĩa là sự tăng của điện áp trong khoảng 1,1 đến 1,8
lần giá trị định mức của điện áp tại tần số công nghiệp (50Hz-60Hz) và tồn tại
trong khoảng thời gian từ 0,5 chu kì (10ms-50Hz)cho đến một phút
Cũng như với các lõm điện áp, điện áp lồi cũng liên quan đến các tình
trạng sự cố của hệ thống điện, nhưng chúng không phổ biến như lõm điện áp
Một trong các nguyên nhân sinh ra điện áp lồi là khi một pha bị sự cố chạm
đất thì trên hai pha còn lại sẽ có sự tăng điện áp tạm thời tạo ra điện áp lồi
Điện áp lồi cũng có thể được sinh ra do cắt một tải lớn hay đang nạp năng
lượng cho một dãy tụ
Trang 20Điện áp lồi được nhận dạng bằng biên độ (giá trị trung bình) và khoảng
thời gian tồn tại của nó Mức độ nguy hiểm của điện áp lồi phụ thuộc vào vị trí
sự cố, trở kháng hệ thống và vấn đề nối đất Đối với hệ thống không nối đất,
khi có ngắn mạch một pha, thì các pha còn lại điện áp có thể đạt giá trị gấp
1,73 lần giá trị trung bình lúc chưa ngắn mạch Đối với các hệ thống điện được
nối đất, khi có ngắn mạch pha đất trên một pha, tại các vị trí gần trạm biến áp
thì điện áp tăng là rất ít thậm chí là không tăng do các trạm biến áp để tránh
các điều hoà thường thiết kế sơ đồ đấu dây ∆/Y Tuỳ theo vị trí của sự cố xuất
hiện trên đường dây hoặc vị trí của điểm xét mà cho ta các giá trị điện áp lồi
khác nhau
Ng ắt: xuất hiện khi điện áp nguồn cung cấp giảm xuống dưới 10% giá trị
định mức trong khoảng thời gian không vượt quá một phút
Hình2.4 Hình biểu diễn điện áp lồi gây ra bởi lỗi chạm đất một pha
Trang 212.3 BI ẾN THIÊN ĐIỆN ÁP TRONG THỜI GIAN DÀI
Chúng là các quá điện áp, dưới điện áp, hay trạng thái duy trì ngắt ở
điều kiện làm việc ổn định Các ảnh hưởng này có khoảng thời gian tồn tại
trên một phút
Dưới điện áp
Dưới điện áp là sự suy giảm điện áp bên dưới 90% điện áp định mức
hiệu dụng rms và thời gian tồn tại của nó phải lớn hơn một phút Dưới điện áp
đôi khi được gọi là “Brownout” mặc dù thuật ngữ này không được định nghĩa
một cách rõ ràng Brownout thường được các nhà cung cấp điện năng sử dụng
khi họ cố tình giảm điện áp hệ thống xuống cho phù hợp với nhu cầu sử dụng
điện cao điểm hoặc một lý do quan trọng khác
Các sự cố nảy sinh do dưới điện áp có rất nhiều từ việc các thiết bị
không hoạt động cho đến thiết bị hoạt động sai lệch hay là các sự cố trong quá
trình khởi động của thiết bị Có thể trong hệ thống đang hoạt động ở dưới điện
áp nhưng chưa chắc đã phát hiện được ngay, khi một thiết bị mới được lắp đặt
làm cho cấu trúc của mạng điện thay đổi, và tải tổ hợp mới sẽ làm suy giảm
điện áp xuống đến điểm lúc đó các sự cố dưới điện áp được nhận thấy một
cách rõ ràng Bên cạnh việc gây ra các hoạt động sai lệch cho các thiết bị thì
dưới điện áp liên tục có thể tác động rất lớn đến tuổi thọ của chúng, ví dụ như
với các động cơ, chúng sẽ bị quá nhiệt khi hoạt động ở điện áp thấp
Nói chung dưới điện áp là một vấn đề thường xuyên xảy ra do rất nhiều
các nguyên nhân khác nhau nằm ngoài sự điều khiển của người sử dụng Các
nhà cung cấp điện năng luôn luôn muốn duy trì cung cấp điện cho người sử
dụng với độ dao động sai lệch điện áp khoảng ±5%, tuy nhiên các yếu tố ví dụ
như thời tiết, nhu cầu sử dụng quá cao, hay nhiều nguyên nhân khác nữa có
thể làm cho mức điện áp lưới dao động trong giới hạn ±10% Thậm chí ở các
điều kiện lý tưởng mọi người cũng có thể nhận thấy các mức độ điện áp lưới
Trang 22tăng giảm khác nhau trong các khoảng thời gian khác nhau trong một ngày,
do nhu cầu sử dụng điện tăng lên từ 8 giờ sáng và đạt đến biên độ đỉnh trong
khoang 3-4 giờ chiều
Các tính chất của trạm hệ thống phân phối cũng có thể góp phần làm
cho điện áp duy trì ở mức thấp một cách thường xuyên Ví dụ, người tiêu
dùng ở cuối đường dây có thể là các đối tượng chịu dưới điện áp do điện áp
rơi trên đường dây
Quá điện áp:
Điện áp đặt vào thiết bị có giá trị trung bình vượt quá 110% giá trị quy
định trong khoảng thời gian lớn hơn 1 phút thì được coi là quá điện áp Có rất
nhiều nguyên nhân gây ra quá điện áp trong lưới điện, nhưng có thể liệt kê ra
các dạng điển hình nhất của quá điện áp do các sự cố hay các yếu tố không
mong muốn gây nên:
- Sự cố cách điện: khi phát sinh sự cố cách điện pha-đất trong lưới có
trung tính cách ly hoặc nối đất qua tổng trở, điện áp các pha không bị
sự cố có thể đạt đến điện áp dây gây quá điện áp cho các thiết bị hạ áp
Cộng hưởng sắt từ: Đó là hiện tượng cộng hưởng dao động phi tuyến
xảy ra trong mạch từ gồm tụ điện và điện cảm bão hoà Hiện tượng này
làm xuất hiện các sóng hài điện áp bậc cao với biên độ lớn
Hình2.5 Đồ thị minh hoạ dạng sóng của dưới điện áp
Trang 23- Đứt dây trung tính: Khi đứt dây trung tính các thiết bị điện ở các pha
tải nhỏ chịu quá điện áp chịu quá điện áp có thể bằng điện áp dây
- Sự cố bộ điều chỉnh điện áp của máy phát điện và đầu phân thế của
máy biến áp
- Hiện tượng quá bù áp: tụ bù công suất phản kháng Q không được điều
chỉnh thích hợp làm cho QC lớn hơn QL là cảm kháng của lưới Điện áp
sẽ tăng cao khi tải nhỏ
Ng ắt duy trì:
Khi điện áp của nguồn cung cấp bằng không trong khoảng thời gian lớn
hơn một phút thì được gọi là ngắt duy trì Nói chung các ngắt điện áp kéo dài
quá một phút thì thường là kéo dài vĩnh viễn do đó thường cần có sự tác động
của người sửa chữa và vận hành để phục hồi lại hệ thống Tuy nhiên ngắt duy
trì phải được hiểu là các hiện tượng của hệ thống điện năng và chúng không
hề có sự liên hệ nào với tình trạng mất điện của lưới
Hình2.6 Dạng sóng quá điện áp
ạng sóng của ngắt duy trì
Trang 242.4 MÉO D ẠNG SÓNG
Méo dạng sóng được định nghĩa là sự sai lệch ổn định so với dạng sóng
lý tưởng của tần số điện năng, được tính chất hoá bằng cách phân tích phổ tần
số của sự sai lệch
Có rất nhiều loại méo dạng sóng nhưng ta xếp chúng thành năm loại cơ bản:
Dòng m ột chiều: Sự xuất hiện của dòng điện hay điện áp một chiều trong
mạng điện xoay chiều được gọi là khoảng một chiều Khoảng một chiều xuất
hiện do nhiễu từ trường trái đất hoặc do tác động của chỉnh lưu nửa chu kì
Các thành phần dòng điện một chiều trong các mạng xoay chiều có thể có
những ảnh hưởng bất lợi cho máy biến áp do chúng làm nghiêng lõi sắt từ do
đó làm cho lõi sắt của máy biến áp có thể bị bão hoà ngay cả trong các điều
kiện làm việc bình thường của nó Điều này là nguyên nhân chính dẫn đến
việc phát nhiệt và làm tuổi thọ của máy biến áp giảm xuống Thành phần một
chiều cũng làm tăng khả nănng ăn mòn điện phân của các điện cực và các
thiết bị nối khác đang nối đất
Các điều hoà (hay sóng hài): là các dòng điện hay điện áp có dạng hình sin
có tần số bằng số nguyên lần tần số của nguồn cung cấp (thường được gọi là
tần số sóng cơ bản, thông thường là 50Hz, 60 Hz) Các sóng bị méo có thể
được phân tích thành tổng của sóng có tần số cơ bản và các điều hoà Các
điều hoà bắt nguồn từ các tải hay các thiết bị có tính chất phi tuyến trong hệ
thống điện
Các mức độ méo của điều hoà có thể biểu diễn qua cách phân tích phổ
tần của các điều hoà thành phần với các biên độ và các góc pha Để đánh giá
thông thường người ta cũng sử dụng một tiêu chuẩn đơn giản nữa là THD
(Total harmonic distortion-méo điều hoà tổng)
Trang 25Các mức độ méo có thể được đánh giá thông qua hệ số THD như đã nói
ở trên, nhưng để đánh mức độ méo theo THD đôi khi cũng gặp phải khó khăn
Ví dụ, rất nhiều bộ điều khiển tốc độ sẽ phát ra THD rất cao khi nó hoạt động
ở tải nhẹ, nhưng nó không được quan tâm nhiều lắm bởi vì biên độ của các
điều hoà dòng là rất nhỏ, mặc dù là độ méo tương đối của nó rất cao
Để giải quyết vấn đề đánh giá mức độ các dòng điện điều hoà, trong
IEEE Std-519-1992 định nghĩa một tiêu chuẩn khác TDD (Total Demand
Distortion-Méo nhu cầu tổng) Tiêu chuẩn này cũng tương tự như tiêu chuẩn
THD nhưng khác ở chỗ độ méo được biểu diễn là tỉ lệ phần trăm của dòng
điện tải với dòng nhu cầu chứ không phải là phần trăm của biên độ dòng điện
có tần số cơ bản
N ội điều hoà: Các dòng điện hay điện áp chứa các thành phần tần số không
phải là số nguyên lần tần số cơ bản (50-60Hz) được gọi là các nội điều hoà
Chúng dường như là các tần số rời rạc hay là các phổ tần số mở rộng
Người ta có thể tìm thấy nội điều hoà trong các mạng với các lớp điện
áp khác nhau Nguyên nhân chính gây ra nội điều hoà trong hệ thống điện là
các bộ biến đổi tần số tĩnh, các bộ biến đổi phản hồi, các động cơ cảm ứng và
các thiết bị hồ quang Đường dây điện mang tín hiệu cũng có thể chứa các nội
điều hoà
Hình2.8 Phân tích sóng điều hoà của dòng điện
Trang 26Tuy nhiên các ảnh hưởng của nội điều hoà cho hệ thống điện năng là
không đáng kể lắm
Notching: là các nhiễu điện áp tuần hoàn xuất hiện trong các thiết bị điện tử
công suất khi dòng điện đảo mạch từ pha này sang pha khác Khi notching
xuất hiện trong mạch, nó có thể được nhận dạng thông qua phân tích phổ tần
số của điện áp chịu tác động Tuy nhiên notching được coi là một trường hợp
đặc biệt, các thành phần tần số tổ hợp nên notching rất cao, thường thì không
thể dễ dàng xác định được với các thiết bị đo đạc dùng trong các phân tích
sóng điều hoà
Hình minh hoạ sau lấy ra từ một bộ biến đổi ba pha tạo ra dòng một
chiều liên tục Các notching xuất hiện khi dòng điện đảo chiều từ pha này
sang pha khác Trong thời gian đảo chiều đó, có một sự ngắn mạch tức thời
giữa hai pha kéo điện áp xuống đến gần điểm không
Nhi ễu: được định nghĩa là các tín hiệu điện không mong muốn với phổ tần rất
rộng nhưng nhỏ hơn 200kHz được xếp chồng lên điện áp hay dòng điện của
hệ thống trong các đường dây pha, đường dây trung tính hay các đường dây
tín hiệu
Hình2.9
Trang 27Các nhiễu trong các hệ thống điện năng có thể là do các thiết bị điện tử
công suất, các mạch điều khiển, các thiết bị hồ quang, các tải có bộ chỉnh lưu
bán dẫn và do đóng cắt nguồn Các vấn đề liên quan đến nhiễu sẽ bị làm xấu
thêm nếu việc nối đất không thể loại trừ được các nhiễu ra khỏi hệ thống.Về
cơ bản, nhiễu chứa bất kì méo không mong muốn của tín hiệu điện mà không
thể xếp loại vào méo điều hoà hay các phi tuyến Nhiễu ảnh hưởng đến các
thiết bị điện tử ví dụ các máy tính, các bộ điều khiển lập trình được Nếu sử
dụng các bộ lọc, tách biệt máy biến áp, bộ điều hoà đường dây có thể làm
giảm được các tác động xấu của nhiễu
2.5 DAO ĐỘNG ĐIỆN ÁP
Dao động điện áp: là các biến đổi có hệ thống của điện áp hay là một
chuỗi thay đổi các điện áp ngẫu nhiên, nhưng biên độ của các thay đổi điện
áp thay đổi này thường là không vượt quá vùng giới hạn đã được xác định
theo tiêu chuẩn ANSI C 84.1 là 0,9 ÷1,1 pu
Các tải mà dẫn đến các biến đổi liên tục hoặc nhanh chóng của dòng
điện tải có thể gây nên các biến đổi điện áp thường được hiểu là các rung điện
áp Thuật ngữ rung (flicker) được bắt đầu từ việc tác động của dao động điện
Hình2.10
Trang 28áp lên các đèn sợi đốt có thể được cảm nhận bởi mắt người Dao động điện áp
là một hiện tượng điện từ trong khi đó rung là một kết quả không mong muốn
của dao động điện áp trong một số tải Tuy nhiên hai thuật ngữ dao động điện
áp và rung thường được kết nối cùng nhau trong các tiêu chuẩn Vì thế thông
thường người ta hay sử dụng thuật ngữ phổ biến chính rung điện áp (voltage
flicker) để mô tả các dao động điện áp
Các biến đổi tần số được định nghĩa là sự sai lệch tần số cơ bản hệ
thống điện khỏi gía trị định mức của nó (thường là 50Hz-60Hz)
Tần số của hệ thống điện năng liên quan trực tiếp đến tốc độ quay của
máy phát điện cung cấp điện cho hệ thống Tần số sẽ có biến đổi nhỏ nếu có
sự cân bằng động giữa các thay đổi tải và máy phát điện Độ dịch tần số và
thời gian tồn tại của nó phụ thuộc vào các tính chất của tải và sự phản ứng của
hệ thống điều khiển máy phát điện đối với các sự thay đổi tải
Biến đổi tần số mà vượt ra khỏi giới hạn cho phép trong tình trạng hoạt
động ổn định của hệ thống điện có thể là do các lỗi hệ thống truyền tải điện
năng quy mô cực lớn, một vùng tải đang không được kết nối, hay một lượng
lớn nguồn phát điện đang ở trạng thái đóng
Hình 2.11 Dạng sóng của dao động điện áp
Trang 29Lu ận văn thạc sĩ 2004-2006 LÊ ANH TU ẤN
Trong phụ lục D của tiêu chuẩn ANSI (ANSI Std C84.-1989) mất cân
bằng điện áp được xác định là tỉ lệ phần trăm giữa độ lệch lớn nhất khỏi giá
trị trung bình của điện ba pha chia cho giá trị trung bình của điện áp ba pha đó
% không cân bằng điện áp = Độ lệch lớn nhất so với giá trị trung binh
Giá trị trung bình 100%
Không cân bằng điên áp cũng có thể được xác định bằng cách sử dụng
phương pháp thành phần đối xứng Tỉ lệ phần trăm của tỉ số thành phần thứ tự
nghịch, thứ tự không cho thành phần thứ tự thuận được sử dụng để tính độ
mất cân bằng
Hình2.12 Dạng sóng của biến đổi tần số
Hình 2.13
Trang 30Các điện áp không được cân bằng sẽ dẫn đến một loạt các sự cố Điển
hình nhất là nó làm phát nóng các động cơ ba pha Trong một số trường hợp,
điện áp không được cân bằng sẽ gây ra các ảnh hưởng tác động xấu đến các
bộ điều khiển tốc độ, việc loại bỏ tác hại này có thể sử dụng một bộ lọc một
chiều cho đầu ra bộ chỉnh lưu Nguyên nhân chính gây ra điện áp không cân
bằng là do tải ba pha không đối xứng
Trang 31CHƯƠNG 3 - ĐIỀU HOÀ
Méo điều hoà là một trong các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng năng
lượng điện Nó được sinh ra do các nhà máy công nghiệp sử dụng các bộ
điều chỉnh tốc độ để điều chỉnh động cơ điện, các thiết bị sử dụng đóng cắt,
hay do các thiết bị điện có tính chất phi tuyến phi tuyến Méo điều hoà gây ra
rất nhiều vấn đề nghiêm trọng trong khi hệ thống đang hoạt động nên điều cần
thiết là người kĩ sư hay người điều hành thiết bị phải hiểu được những khái
niệm cơ bản của méo sóng điều hoà, biết cách phát hiện ra khi nào thì sóng
điều hòa xuất hiện khi nào thì chúng trở thành vấn đề lớn phải quan tâm và
quan trọng nhất là biết cách đối phó khi có sự cố
Nếu hệ thống có dung lượng có thể đáp ứng được các nhu cầu của các
tải thì điều hoà sẽ không trở thành vấn đề có thể ảnh hưởng đến hệ thống mặc
dù là chúng có thể tác động đến các đường dây điện thoại Các sự cố hệ thống
nảy sinh khi tụ điện trong hệ thống cộng hưởng với một tần số điều hoà nhất
định làm cho lượng méo đột nhiên tăng lên trên mức bình thường Các cộng
hưởng thường xảy ra ở hệ thống cung cấp điện, nhưng các trường hợp cộng
hưởng điều hoà nguy hiểm nhất lại thường ở các hệ thống công nghiệp bởi vì
tại đây cộng hưởng đạt tới mức độ rất lớn
Thực tế trong các hệ thống điện năng ngày nay, có rất ít các trường hợp
méo dạng sóng của dòng điện và điện áp là do ngẫu nhiên, hầu hết các méo
này thường tuân theo một chu kì nhất định, qua phân tích chúng sẽ được cho
là tổng các sóng hình sin có tần số nguyên lần tần số cơ bản Các dạng sóng
này gần như là lặp lại từ chu kì này sang chu kì khác, chúng thay đổi thì thay
đổi chậm, điều này dẫn đến việc sử dụng thuật ngữ điều hoà để mô tả việc
méo theo chu kì của dạng sóng Khi các bộ biến đổi công suất điện tử đầu tiên
được đưa ra vào cuối những năm 70, đã cuốn hút rất nhiều sự quan tâm của
các kĩ sư điện về khả năng hệ thống điện có thích hợp với méo điều hoà Cùng
Trang 32thời gian đó cũng đã có rất nhiều các dự đoán về tương lai của hệ thống khi
mà các thiết bị này được phép xuất hiện Một vài nghiên cứu thì lại quá cường
điệu cho rằng các thiết bị này sẽ gây các sự cố nghiêm trọng trong hệ thống
và không nên được áp dụng, các kết quả tranh cãi của các nhà tiên phong này
về vấn đề điều hoà mới mẻ ở thời đại họ đã đưa đến cho các nhà phân tích
ngày nay sự hiểu biết rộng hơn về tất cả các mặt của chất lượng điện năng
Méo điều hoà nguyên nhân là do các thiết bị tải phi tuyến trong hệ
thống điện năng Một thiết bị phi tuyến là thiết bị mà sự thay đổi của dòng
điện không tỉ lệ thuận với sự thay đổi điện áp cung cấp cho thiết bị đó Kết
quả là trong khi điện áp có dạng hình sin hoà toàn thì dòng điện kết quả bị
méo, tăng điện áp lên chỉ một vài phần trăm cũng có thể dẫn đến dòng điện
tăng lên nhiều lần và kéo theo là dòng điện có dạng sóng rất khác hình sin Và
đây chính là nguồn của hầu hết các méo điều hoà trong hệ thống điện
Thực tế ngày nay sử dụng nhiều các phần tử phi tuyến, ví dụ các thiết
bị đóng cắt điện tử công suất (tranzitor công suất, thyristor, diode) trong các
mạch chỉnh lưu, điều chỉnh tốc độ, trong các bộ biến tần, trọng cuộn dây lõi
sắt hoạt động dưới nguồn cung cấp từ lưới điện Theo lý thuyết các phần tử
phi tuyến có tính chất tạo tần, trong trường hợp này các phần tử phi tuyến
hoạt động với nguồn điều hoà tần số lưới điện công nghiệp fCN nên ở chế độ
xác lập đáp ứng thường chứa các tần số bội m.f (m=0,1,2,3…) và trong một
số trường hợp cả số ước của f
Trang 33Sự tạo tần này có thể được giải thích như sau:
Các phần tử phi tuyến hoạt động dưới nguồn kích thích điều hoà có tần
số fCN, kết quả là dạng sóng của dòng điện trong mạch sẽ méo nhưng tuần
hoàn theo điện áp, điều này thoả mãn điều kiện Jordan-Dicrichlet là điều kiện
cho phép một chuỗi hàm khai triển được thành chuỗi Fourier:
Hàm số f(x) tuần hoàn chu kì 2L, thoả mãn định lý Jordan-Dicrichlet
trên đoạn [-L,L]
f(x)= ∑=∞
=
π+
π+n
1 n
n n
L
nxsinbL
nxcosa(2
a
Trong đó:
1a
1
Thay các giá trị
L = π, x = ω.t f(x) = ∑=∞
πω+
π
πω+n
1 n
n n
0
)tnsinbtncosa(2
Hình 3.1 Tải phi tuyến
Trang 34Hình 3.2 Tín hiệu méo
= ∑=∞
=
ω+
ω
+n
1 n
n n
0
)t(nsinb)tncos(
a(2
aRút gọn lại biểu thức trên:
f(x) = ∑=∞
=
θ+ω
+n
1 n
n n
0
)tnsin(
A2
aTrong đó:
2 n 2 n
n
n n
b
a)(gtan θ = Hình vẽ sau minh hoạ phân tích dạng sóng tuần hoàn không lý tưởng
có thể tồn tại trong thực tế qua phép phân tích Furrier ta được các dạng sóng
tuần hoàn lý tưởng với các tần số khác nhau, ở đây ta chỉ lấy việc phân tích
thành các bước sóng có bậc 3, 5, 7 còn các bậc cao hơn coi nhỏ và có thể bỏ
qua khi phân tích
Trang 35Hình 3.3 Phân tích tín hiêu FFT Như vậy nếu xuất hiện tải phi tuyến lưới điện xoay chiều thì theo kết
quả phân tích Fourier nói trên dạng sóng của điện áp và dòng điện là sẽ tổng
hợp được các dạng sóng khác nhau với tần số là bội của tần số lưới điện xoay
chiều Ta nói chúng sinh ra các tần số điều hoà cho hệ thống điện
Thông thường, các điều hoà bậc cao (trên 25) được bỏ qua đối với các
phân tích của hệ thống Mặc dù chúng có thể ảnh hưởng đến các thiết bị điện
tử công suất thấp, nhưng những tác động của chúng đến hệ thống điện năng là
không đáng kể Đối với một hệ thống điện năng điển hình thì cũng rất khó
khăn để thu thập các dữ liệu một cách chính xác liên quan đến các tần số này
Khi tần số cộng hưởng của hệ thống nằm trong các giới hạn này thì các công
hưởng này làm cho các dạng sóng điện áp đi qua điểm không nhiều lần trong
nửa chu kì dẫn đến các sai lệch trong các mạch đo thời gian
Trang 363.2 MÉO DÒNG ĐIỆN VÀ ĐIỆN ÁP
Như đã đề cập ở trên, khi có tải điều hoà dòng điện sẽ không còn dạng
sin nữa, dòng điện méo này được phân tích thành các thành phần điều hoà
Cho nên các tải phi tuyến dường như là nguồn của các dòng điều hoà và nó
bơm các dòng điều hoà này vào trong hệ thống truyền tải điện Đối với hầu
hết các nhà phân tích thì họ thường xem các dòng điều hoà sinh ra bởi các tải
phi tuyến này như là các nguồn dòng
Các dòng điều hoà chảy qua trở kháng của hệ thống gây nên các điện
áp điều hoà, ở hình vẽ trên, méo điện áp sinh ra do các dòng điện bị méo chảy
qua các tải tuyến tính Các dòng điều hoà chảy qua trở kháng của hệ thống
gây ra các điện áp rơi đó, điều này làm cho các điện áp điều hoà xuất hiện tại
các thanh dẫn tải Lượng méo điện áp này phụ thuộc vào trở kháng và dòng
điện méo Mặc dù điều dòng điện hoà tải gây nên méo điện áp, nhưng nó
không điều khiển được các điện áp méo đó Nếu đặt tải tại hai vị trí khác nhau
trên hệ thống kết quả sẽ cho hai giá trị điện áp méo khác nhau Thừa nhận
thực tế này là cơ sở để phân chia trách nhiệm quản lý điều hoà được định
nghĩa trong một số các tiêu chuẩn phổ biến trên thế giới:
+ Quản lý lượng dòng điều hoà bơm vào hệ thống được thực hiện tại
các ứng dụng của hộ sử dụng điện
Điện áp rơi Điện áp bị méo
Điện áp sin
Dòng tải méo Hình 3.4 Điện áp điều hoà gây ra bởi các dòng điều hoà chảy trong hệ thống
Trang 37+ Giả thiết là dòng điều hoà tồn tại trong hệ thống là nằm trong giới
hạn cho phép ( nhỏ hơn 5%), thì các nhà phân phối điện sẽ quản lý điện
áp méo thông qua việc điều chỉnh các trở kháng của hệ thống
3.3 CÁC ĐẠI LƯỢNG CỦA HỆ THỐNG ĐIỆN NĂNG Ở ĐIỀU KIỆN
KHÔNG SIN
Các đại lượng truyền thống như giá trị trung bình, công suất (phản
kháng, tích cực, biểu kiến ), hệ số công suất cosϕ, các thứ tự pha được định
nghĩa cho tần số cơ bản và ở điều kiện điện áp và dòng điện là sin hoàn toàn
Nếu điều hoà tồn tại thì hệ thống không còn hoạt động ở điều kiện sin nữa
Công suất biểu kiến ứng dụng cho cả hai điều kiện hình sin và không
sin Công suất biểu kiến có thể được viết như sau:
S = Urms x Irms
Trong đó Urms : giá trị hiệu dụng của điện áp
Irms : giá trị hiệu dụng của dòng điện
Ở điều kiện sin thì dạng sóng điện áp và dòng điện chỉ chứa thành phần
tần số cơ bản, vì thế các giá trị trung bình có thể được biểu diễn đơn giản
bằng công thức sau
1
U2
1
=rms
2
1rms
Trong đó:
U1, và I1 là các giá trị biên độ cực đại của điện áp và dòng điện tần số
cơ bản
Trong điều kiện ở dạng không sin, dạng sóng bị méo tuần hoàn có thể
được phân tích thành các dạng sóng điều hoà hình sin có tần số gấp nguyên
Trang 38lần tần số sóng cơ bản và có biên độ khác nhau Giá trị trung bình của các
dạng sóng được tính toán như là căn bậc hai của tổng các bình phương thành
phần riêng lẻ
Trong đó Uk và Ik_ là biên độ cực đại của điều hoà bậc k
Công su ất tích cực: Công suất tích cực P thường được ngụ ý là công suất
thực, nó biểu diễn công suất hữu ích tiêu thụ bởi tải để thực hiện các công
việc thực ví dụ để biến đổi dạng năng lượng điện thành các dạng năng lượng
khác Việc biến đổi năng lượng điện thành ánh sáng và nhiệt của đèn sợi đốt
là một ví dụ điển hình của việc biến đổi năng lượng Công suất tích cực là tỉ lệ
năng lượng được tải tiêu thụ và được biểu diễn dưới dạng W P cũng có thể
được tính toán bằng trung bình tích số của dòng điện và điện áp tức thời
∫
= T
0
dt)t(i)t(uT
1PKhi có các điều hoà thì u(t), i(t) là xếp chồng của các thứ tự điều hoà
u(t) = u1sin(ωt+ϕ1) + u2sin(2ωt+ϕ2) + u3sin(3ωt+ϕ3) +…+
p
psin(pωt θ )
i p là số bậc điều hoà
2 max k
2 3
2 2
2 1
max k 1 k
2 k
2
1)
U2
1(
2 3
2 2
2 1
max k
1 k
2 k
2
1)
I2
1(
Trang 39Thay vào biểu thức tính P ở trên
dx))θtωpsin(
i(φtωksin(
u(T
1 k
k k
uk là gía trị cực đại của điện áp bậc k
ip là giá trị biên độ cực đại của dòng điện bậc p
Xét trong một chu kì, và thay giá trị x = ωt, x∈[-π,π]
dx))θpxsin(
i(φkxsin(
u(π2
1 k
k k
1P
+
−
−+
−
=
dx))θφ(x)pkcos((
2
1dx))θφ(x)pkcos((
2
1P
π π
π
p k
++
+
−
−+
B
Nếu m # 0
0)βπmsin(
m
1)βπmsin(
m
1)
βmxsin(
.βcosdxβcosdx
)βmxcos(
π
π π
π
0P
p k kp
Nếu k#p
Nếu k=p
Trang 40Từ biểu thức tính giá trị công suất P
dx))θpxsin(
i(φkxsin(
u(π2
1 k
k k
k k k
ki cos(φ θ )
u2
k rms I cosU
P
Trong đó Urmsk và Irmsk là giá trị hiệu dụng của điện áp và dòng
điện điều hoà bậc k
θk là góc lệch pha của điện áp và dòng điện điều hoà
bậc k
kmax là bậc điều hoà cao nhất xét đến trong quá trình phân tích
Phương trình tính công suất tích cực này đúng cho cả các điều kiện sin
và không sin Đối với trường hợp sin, P có thể được tính toán ở dạng sau:
1 1
rms 1 rms 1 1 1
2
IU
=
Trong đó θ1 là góc pha giữa tần số và dòng điện tại tần số cơ bản Công
thức trên cho thấy rằng công suất là một hàm của các đại lượng tần số cơ bản
Trong trường hợp không sin, sự tính toán của công suất tích cực còn phải bao
gồm sự đóng góp của các thành phần điều hoà Tuy nhiên, các điện áp méo
nói chung ở mức thấp trên các hệ thống (nhỏ hơn 5%) cho nên công thức trên
có thể coi là giá trị xấp xỉ của công suất tích cực thực Nhưng sự xấp xỉ này
không được sử dụng khi tính toán công suất biểu kiến và công suất phản
kháng bởi vì hai thành phần trên nói chung bị tác động của méo