1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ che sáng đến sinh trưởng cây nghiến gân ba excentrodendron tonkinensis trong giai đoạn vườn ươm

65 3 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 3,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PỜ PÓ NU “NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ ĐỘ CHE SÁNG ĐẾN SINH TRƯỞNG CỦA CÂY NGHIẾN GÂN BA Excentrodendron tonkinensis TRONG GIAI ĐOẠN VƯỜN ƯƠM TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN”

Trang 1

PỜ PÓ NU

“NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ ĐỘ CHE SÁNG ĐẾN SINH

TRƯỞNG CỦA CÂY NGHIẾN GÂN BA (Excentrodendron tonkinensis)

TRONG GIAI ĐOẠN VƯỜN ƯƠM TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC

NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Nông lâm kết hợp

Khóa học : 2015 – 2019

Thái Nguyên - Năm 2019

Trang 2

PỜ PÓ NU

“NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ ĐỘ CHE SÁNG ĐẾN SINH

TRƯỞNG CỦA CÂY NGHIẾN GÂN BA (Excentrodendron tonkinensis)

TRONG GIAI ĐOẠN VƯỜN ƯƠM TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC

NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Nông lâm kết hợp

Khóa học : 2015 – 2019 Giảng viên hướng dẫn: TS Đặng Thị Thu Hà

Thái Nguyên - Năm 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học nghiên cứu của bản thân em Các số liệu và kết quả nhiên cứu là quá trình điều tra trên thực địa hoàn toàn trung thực, chưa công bố trên các tài liệu, nếu có gì sai sót

em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Thái Nguyên, ngày 27 tháng 05 năm 2019

Xác nhân của giáo viên hưỡng dẫn Người viết cam đoan

TS ĐẶNG THỊ THU HÀ Pờ Pó Nu

XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN

Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên

đã sửa chữa sai sót sau khi hội đồng chấm yêu cầu!

(Ký, họ và tên)

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt 4 năm được học tập tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên bản thân em cũng như bao bạn sinh viên khác được sự quan tâm dạy bảo của thầy cô giáo

Được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường và Ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, Em thực hiện đề

tài“Nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ che sáng đến sinh trưởng cây

Nghiến gân ba (Excentrodendron tonkinensis) trong giai đoạn vườn ươm”

tại Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên

Trong quá trình thực hiện đề tài em đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô giáo trong khoa Lâm nghiệp Đặc biệt em xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến giáo viên hướng dẫn TS Đặng Thị Thu Hà đã tận tình giúp đỡ em

Em cũng xin cảm ơn sự giúp đỡ của Ths La Quang Độ, đã giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đề tài Nhân dịp này em chân thành cảm ơn sự giúp

đỡ quý báu đó

Để hoàn thành đề tài này không thể không nói đến sự động viên, giúp

đỡ nhiều mặt của bạn bè và người thân trong gia đình

Trong suốt quá trình thực tập, mặc dù em đã cố gắng hết sức nhưng do kinh nghiệm cũng như trình độ của bản thân còn hạn chế Vì vậy đề tài không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của thầy cô giáo và các bạn để đề tài hoàn thiện hơn

Thái Nguyên, ngày tháng 6 năm 2019

Sinh viên

Pờ Pó Nu

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 4.1 Ảnh hưởng của chế độ che sáng đến sinh trưởng chiều cao cây

Nghiến gân ba 24Bảng 4.2 Ảnh hưởng của chế độ che sáng đến đường kính cổ rễ của cây

Nghiến gân ba 26Bảng 4.3 Ảnh hưởng của chế độ che sáng đến động thái ra lá của cây Nghiến

gân ba 28Bảng 4.4 Số lượng và tỷ lệ chất lượng cây Nghiến gân ba theo các tháng tuổi 31Bảng 4.5 Tổng hợp sâu hại cây Nghiến giai đoạn vườm ươm 33Bảng 4.6 Tổng hợp bệnh hại cây Nghiến giai đoạn vườn ươm 34

Trang 6

DANH MỤC HÌNH

Hình 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm về chế độ che bóng cho cây Nghiến gân ba 18 Hình 4.1 Biểu đồ ảnh hưởng của chế độ che sáng đến sinh trưởng ( vn ) cây

Nghiến gân ba 25 Hình 4.2 Biểu đồ ảnh hưởng của chế độ che sáng đến sinh trưởng 00 cây

Nghiến gân ba 27 Hình 4.3 Biểu đồ ảnh hưởng của chế độ che sáng đến Động thái ra lá của cây

Nghiến gân ba 30 Hình 4.4: Biểu đồ chất lượng của cây Nghiến gân ba ở các công thức thí

nghiệm (%) 32

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC BẢNG iii

DANH MỤC HÌNH iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC VIẾT TẮT vii

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2

1.3 Ý nghĩa của đề tài 2

1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 2

1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 3

Phần 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 4

2.2 Nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam 5

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 5

2.2.2 Tình hình nguyên cứu trong nước 9

2.3 Điều kiện tự nhiên của khu vực nghiên cứu 15

2.3.1 Vị trí địa lý 15

2.3.2 Địa hình 15

2.3.3 Đặc điểm khí hậu, thời tiết 15

2.3.4 Đặc điểm khu thí nghiệm 16

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 17

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu: 17

Trang 8

3.3 Nội dung 17

3.3.1 Ảnh hưởng của chế độ ánh sáng tới sinh trưởng cây nghiến gân ba 17

3.3.2 Ảnh hưởng của ánh sáng đến chất lượng của cây Nghiến gân ba 17

3.3.3 Tình hình sâu, bệnh hại và biện pháp phòng trừ của cây Nghiến gân ba 17

3.3.4 Đề xuất một số biện pháp chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh hại của cây Nghiến gân ba 17

3.4 Phương pháp nghiên cứu 17

3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu 17

3.4.2 Chuẩn bị, bố trí thí nghiệm và các bước tiến hành 18

3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 21

Phần 4 KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 24

4.1 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của ánh sáng đến sinh trưởng cây Nghiến gân Ba 24

4.1.1 Sinh trưởng chiều cao cây Nghiến 24

4.1.2 Sinh trưởng đường kính cổ rễ cây Nghiến 26

4.1.3 Động thái ra lá của cây Nghiến gân ba 28

4.2 Ảnh hưởng của ánh sáng đến chất lượng của cây Nghiến gân ba 30

4.3 Kết quả sâu bệnh hại và biện pháp phòng trừ 33

4.4 Đề xuất một số biện pháp chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh hại của cây Nghiến gân ba 35

Phần 5 KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 36

5.1 Kết luận 36

5.2 Tồn tại 37

5.3 Kiến nghị 37

TÀI LIỆU THAM KHẢO 38 PHỤ LỤC

Trang 9

Hi Giá trị chiều cao vút ngọn của một cây

Di Giá trị đường kính cổ rễ của một cây

Trang 10

PHẦN 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Tài nguyên thực vật rừng của nước ta rất phong phú và đa dạng Tuy nhiên Việt Nam đang phải đối mặt với thực trạng đáng lo ngại, đó là con người đang lạm dụng quá mức việc khai thác sử dụng các nguồn tài nguyên này và kết quả là nhiều loài thực vật bị suy giảm, thậm chí đã tuyệt chủng hoặc đang đứng nguy cơ tuyệt chủng Vì vậy việc bảo vệ nguồn gen cây rừng được coi là nhiệm vụ cấp bách hiện nay

Cây Nghiến gân ba (Excentrodendron tonkinensis) là cây gỗ lớn có giá

trị cao, một trong loại gỗ nhóm tứ thiết Nghiến gân ba là loài cây thường xanh, có vai trò quan trọng phòng hộ, bảo vệ môi trường, giữ cân bằng sinh thái, nhất là ở các vùng núi đá vôi Nghiến gân ba một loài cây có trong sách

đỏ Việt Nam và thế giới Theo Lê Mộng Chân và cs (2000) [4], Nghiến gân

ba là loài thực vật bản địa Bắc Việt Nam - Nam Trung Quốc Nghiến gân ba được xếp nhóm thực vật rừng hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại (IIA) trong Nghị định Chính phủ 32/2006/NĐ-CP [5] Theo Sách đỏ việt nam (2007) [3], tuy có khu phân bố rộng, nhưng bị khai thác rất mạnh (trước đây để lấy gỗ dùng trong xây dựng và làm tà vẹt, hiện nay dùng làm thớt chủ yếu xuất khẩu trái phép qua biên giới) Số cá thể trưởng thành đã bị chặt phá

> 50% Vì vây việc tạo giống để gây trồng nhằm bảo tồn, phát triển, góp phần bảo tồn đa dạng sinh học, bảo tồn nguồn gen thực vật quý, hiếm

Tuy nhiên, cơ sở khoa học và các đặc điểm sinh lý, sinh thái cũng như

kỹ thuật gieo ươm và trồng rừng loài cây này còn nhiều hạn chế, nhất là đặc điểm sinh lý, sinh thái cây con trong giai đoạn vườn ươm Do đó việc thực

hiện đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ che sáng đến sinh trưởng

cây Nghiến gân ba (Excentrodendron tonkinensis) trong giai đoạn vườn

Trang 11

ươm” nhằm tìm hiểu sự ảnh hưởng của chế độ che sáng đến sinh trưởng

chiều cao cây, đường kính cổ rễ, động thái ra lá, chất lương cây con của Nghiến gân ba, xác định công thức giàn che tốt nhất, góp phần hoàn thiện tài liệu kỹ thuật gieo ươm cây giống trồng rừng bảo tồn Nghiến gân ba tại tỉnh Thái Nguyên

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

- Đánh giá được khả năng sinh trưởng của cây nghiến giai đoạn vườn ươm ở các chế độ che sáng khác nhau

- Xác định được công thức che sáng tốt nhất tới sinh trưởng của cây con Nghiến gân ba về chiều cao (Hvn), đường kính cổ rễ (D00) và động thái ra

lá của cây cũng như tình hình sâu, bệnh hại cây Nghiến gân ba

1.3 Ý nghĩa của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

- Qua nghiên cứu thực tiễn đề tài giúp ta làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, ứng dụng lý thuyết đã học được trong nhà trường và thực tiễn sản xuất

- Học tập và hiểu biết về kinh nghiệm, kỹ thuật trong thực tiễn tại địa bàn nghiên cứu

- Tạo cho sinh viên một tác phong làm việc tự lập khi ra thực tế

- Giúp tôi hiểu thêm về sự ảnh hưởng của giàn che với độ che bóng khác nhau tới sinh trưởng của cây Nghiến gân ba trong giai đoạn vườn ươm

- Biết được tầm quan trọng của loài thực vật quý hiếm như cây Nghiến gân ba nói riêng, và các loài cây quý, hiếm khác

- Biết được tầm quan trọng của công tác bảo tồn và lưu giữ nguồn gen thực vật quý hiếm trong sự nghiệp bảo vệ và phát triển rừng và bảo tồn đa dạng sinh học hiện nay

- Kết quả nghiên cứu của khoá luận sẽ là cơ sở cho các nghiên cứu khác

về loài cây Nghiến gân ba

Trang 12

1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn

- Áp dụng kết quả nghiên cứu của cây Nghiến gân ba trong giai đoạn vườn ươm, để giúp cho cây sinh trưởng tốt nhất, đảm bảo số lượng, chất lượng cây con để làm sao tăng tỷ lệ xuất vườn, giảm chi phí, hạ giá thành sản xuất

- Việc nghiên cứu ảnh hưởng của giàn che và đánh giá đặc điểm sinh thái, tình trạng phân bố của loài Nghiến gân ba nhằm đề xuất một số giải pháp tạo giống cây con Nghiến gân ba phục vụ bảo tồn nguồn gen thực vật quý hiếm tại tỉnh Thái Nguyên

Trang 13

PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu

Hiện nay, do nhiều nguyên nhân khác nhau làm cho nguồn tài nguyên ĐDSH trên thế giới cũng như của việt nam đã và đang bị suy giảm Nhiều hệ sinh thái và môi trường sống bị thu hẹp diện tích và nhiều taxon loài và dưới loài đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng trong một tương lai gần Yêu cầu đặt ra phải tìm hiểu nghiên cứu, sinh trưởng cây nghiến giai đoạn vườn ươm

để từ đó đề xuất các giải pháp nhằm chăm sóc cây sinh trưởng tốt

Ánh sáng là yếu tố vô cùng quan trọng cho sự sinh trưởng của cây vì nó rất cần cho quá trình quang hợp Nhờ quá trình quang hợp mà cây tổng hợp các hợp chất hữu cơ làm nguyên liệu để xây dựng nên cơ thể và tích lũy năng lượng ở trong cây để tiến hành sinh trưởng Cho nên trong một khoảng thời gian nào đó như những ngày râm mát, những ngày mưa, hay ban đêm không

có ánh sáng cây vẫn sinh trưởng được Nhưng trong suốt chu kỳ sống của cây thì cây rất cần nhiều ánh sáng Tùy theo nhu cầu ánh sáng đối với sự sinh trưởng của cây mà người ta chia thực vật thành hai nhóm là cây ưa sáng và cây ưa bóng Cây ưa sáng sinh trưởng mạnh trong điều kiện ánh sáng đầy đủ, còn cây ưa bóng sinh trưởng tốt trong điều kiện bóng râm thích hợp Ðại bộ phận cây trồng ở nước ta là cây ưa sáng Còn những cây chịu bóng thường phân bố dưới tán cây rừng, dưới tán cây ăn quả lâu năm, chúng sử dụng chủ yếu ánh sáng tán xạ để quang hợp Ánh sáng không những ảnh hưởng đến sự sinh trưởng một cách gián tiếp thông qua quang hợp mà còn tác động trực tiếp đến sự sinh trưởng của tế bào Cường độ ánh sáng mạnh ức chế pha giãn của

tế bào làm cho giai đoạn này kết thúc sớm hơn nên cây ở nơi có ánh sáng chiếu mạnh thường có chiều cao cây thấp Còn trong bóng tối hoặc bóng râm giai đoạn giãn kéo dài hơn, cây vươn dài và gây ra hiện tượng “vống”

Trang 14

Nhu cầu ánh sáng của cây trong giai đoạn vườn ươm Sự sống sót ban

đầu của cây con ở điều kiện đất trồng rừng cũng phụ thuộc và việc điều chỉnh ánh sáng trong giai đoạn vườn ươm Những cây con sinh trưởng với cường độ ánh sáng thấp sẽ hình thành các lá chịu bóng Nếu bất ngờ đưa chúng ra ngoài ánh sáng và kèm theo điều kiện ẩm độ, nhiệt độ thay đổi, chúng sẽ bị ức chế bởi ánh sáng mạnh Điều này có thể làm cho cây con tử vong bằng các lá ưa sáng Kimmins (1998) [22] Chế độ ánh sáng được coi là thích hợp cho cây con ở vườn ươm khi nó tạo ra tỷ lệ lớn giữa rễ/chiều cao thân, hình thái tán lá cân đối, tỷ lệ chiều cao/đường kính bằng hoặc gần bằng 1 Đặc điểm này cho phép cây con có thể sống sót và sinh trưởng tốt khi chúng bị phơi ra ánh sáng hoàn toàn Vì thế, trong gieo ươm nhà lâm học phải chú ý đến nhu cầu ánh sáng của cây con Kimmins (1998) [22]; Nguyễn Xuân Quát (1985 [16]; Nguyễn Văn Thêm (2002-2003) [18]

2.2 Nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Những nghiên cứu về bảo tồn nguồn gen

Tài nguyên di truyền các dạng sống của sinh vật trên trái đất không chỉ

là kết quả của chọn lọc tự nhiên và nhân tạo, mà còn là thành quả lao động sáng tạo của loài người, nó mang lại cho con người những lợi ích lớn vì được sống trong mối quan hệ hài hòa với thiên nhiên

Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, các hoạt động kinh tế xã hội có chủ ý hoặc nhiều khi là vô thức mà con người đã không nhận thức được đầy đủ sự cần thiết phải giữ mối quan hệ chung sống hài hòa giữa con người với thiên nhiên Vì thế con người đang hàng ngày hàng giờ gây tổn hại tới môi trường sống của mình, trong đó có việc đang làm mất đi nhiều dạng sống của sinh vật Con số thống kê cho thấy thế giới sinh vật đã mất đi hàng triệu dạng sống, cả các nguồn gen tự nhiên lẫn các nguồn gen giống vật nuôi,

Trang 15

cây trồng mà các thế hệ loài người phải rất dày công và trải qua lịch sử hàng vạn năm mới tạo ra được

Rừng nhiệt đới được xem như những “kho chứa” về tính đa dạng sinh

học (ĐDSH) của thế giới Kanowski và Boshier (1997) [13], nên sự suy thoái

về số lượng lẫn chất lượng của rừng nhiệt đới đồng nghĩa với sự suy giảm tính ĐDSH Vì vậy, việc phát triển những chiến lược hiệu quả nhằm bảo tồn, khôi phục và phát triển tính ĐDSH cho hệ sinh thái rừng nhiệt đới đang nhận được sự quan tâm của nhiều tổ chức quốc tế và nhiều dự án bảo tồn ĐDSH cho hệ sinh thái rừng nhiệt đới đang được tiến hành trên quy mô toàn cầu

Theo Tewari (1993) [23], thì bảo tồn nguồn gen hay bảo tồn nguồn tài nguyên di truyền là quản lý sự sử dụng của con người đối với nguồn tài nguyên di truyền để có thể thu được lợi ích ổn định lớn nhất cho thế hệ hiện tại trong khi vẫn duy trì tiềm năng của chúng để đáp ứng yêu cầu và nguyện vọng của các thế hệ mai sau

Bảo tồn các tài nguyên sống có ba mục tiêu chủ yếu, đó là (1) Bảo vệ các hệ sinh thái (bảo tồn thiên nhiên), (2) Bảo tồn sự đa dạng di truyền (bảo tồn nguồn gen) và (3) Bảo đảm sử dụng lâu bền các nguồn tài nguyên Như vậy có thể dễ dàng nhận thấy vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng của bảo tồn nguồn gen trong chiến lược bảo vệ đa dạng sinh học FAO (1993) [24] Bảo tồn nguồn gen thực chất là bảo tồn đa dạng di truyền tồn tại bên trong mỗi loài và giữa các loài Đa dạng di truyền là biến dị di truyền có trong biến dị tự nhiên Biến dị tự nhiên có bên trong, kích thước quần thể và sự cách ly Cùng với quá trình tiến hóa của mỗi loài là kết quả của các tương hỗ phức tạp giữa các yếu tố khác nhau như di truyền, phản ứng với sự đa dạng của môi trường sống, hệ thống nhân giống, mức độ lai chéo, lai giống, yếu tố này thường tạo nên các quần thể khác biệt về mặt di truyền bên trong một loài và tạo nên các

cá thể khác biệt nhau về mặt di truyền bên trong quần thể

Trang 16

Đặc điểm của nguồn gen cây rừng nhiệt đới là có rất nhiều chủng loại, trong đó có một số lớn là chưa có ích hoặc chưa biết giá trị sử dụng của chúng, số loài được gây trồng và sử dụng không nhiều, cây rừng có đời sống dài ngày và khoảng sống lớn, khu phân bố rộng với nhiều biến dị chưa được biết Nên ngoài nhiệm vụ bảo tồn tính đa dạng di truyền, bảo tồn nguồn gen cây rừng còn có nét đặc thù là phải gắn với nhiệm vụ bảo vệ thiên nhiên, Phải

có sự thỏa hiệp giữa các nhân tố sinh học với các nhân tố kỹ thuật, kinh tế và hành chính

Ở đây việc bảo tồn nguồn gen cây rừng thường gắn bảo tồn nguồn gen các cây thuốc, cây nông nghiệp hoang dại và động vật sinh sống trong rừng

Vì vậy bảo tồn nguồn gen cây rừng cũng liên quan chặt chẽ với điều chế rừng

Giữa bảo tồn nguồn gen với bảo vệ thiên nhiên tuy có quan hệ mật thiết với nhau, song lại có sự phân biệt quan trọng Bảo tồn thiên nhiên là nhằm bảo vệ các diện tích đại diện cho các sinh cảnh và các quần xã, những đối tượng có thể phân định được Còn bảo tồn nguồn gen thì đi xa hơn, nó quan tâm đến những khác biệt di truyền, những cái hướng chỉ có thể đoán định chứ không thể phân biệt được

Bảo tồn nguồn gen quan tâm đến các mẫu quần thể khác nhau, có thể là đường cắt theo vĩ độ và độ cao, thường là trên các vùng rộng lớn, do đó một khu bảo tồn nguồn gen phải bao gồm một phổ biến dị di truyền Vì vậy nó có thể rất rộng hoặc rất phân tán

Việc bảo tồn nguồn gen không phải sẽ được thực hiện cho tất cả các loài cây hiện có ở một địa phương nào đó mà là tùy theo vai trò của chúng trong nền kinh tế quốc dân, và các giá trị thẩm mỹ, tiến hóa luận Theo tiêu chuẩn do Tổ chức quốc tế về bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên (International Union for Conservation of Nature and Natural Resources - IUCN) thì việc xác định các loài ưu tiên bảo tồn còn cần phải theo mức độ bị

Trang 17

đe dọa của chúng Những loài được ưu tiên bảo tồn chính là những loài có nguy cơ tuyệt chủng lớn nhất

Các hoạt động cần ưu tiên, bao gồm: khảo sát, thu thập đánh giá, bảo tồn, sử dụng Bảo tồn nguồn gen cây rừng được tiến hành bằng các phương thức khác nhau

Hiện nay, các nước có nền lâm nghiệp tiên tiến cũng chỉ tập trung bảo tồn nguồn gen cho một số cây trồng rừng chủ yếu.Ví dụ, ở châu Âu tập trung

ở nhóm cây lá kim, ở Trung Cận Đông là nhóm Sổi Giẻ (Quercus) vv… Ở

các nước Bắc Âu, bảo tồn nguồn gen cũng chỉ tập trung ở một số loài lá kim

thuộc các chi Picea, Pinus, Psendotauga, Larix… và một số loài cây lá rộng

thuộc chi Populus Tại Thái Lan, việc bảo tồn nguồn gen tại chỗ cũng chỉ tập

trung cho 5 loài cây ưu tiên là: Gõ đỏ (Aflezia xylocarpa), Dầu rái (Dipterocarpus alatus), Sao đen (Hopea odorata), Giáng hương quả to (Pterocarpus maorocarpa) và Tếch (Tectona grandis)

Đối với từng loài cây nhu cầu ánh sáng trong từng giai đoạn có khác nhau cần có những nghiên cứu cụ thể The Georgr Baur: việc trù tính sao cho

có bóng râm thích hợp thường là điều căn bản đến sản xuất cây con để trồng rừng cho thỏa đáng và có thể xác định độ che sáng cần thiết bằng thí nghiệm hoặc bằng cách mò mẫm thăm dò

Năm 1949, Kozlovxki Dẫn theo Nguyễn Văn Thêm (1992) [18], cho rằng sự thiếu hụt ánh sáng là thường xuyên đối với cây con Khi bị che bóng mật độ và tái sinh của cây con sẽ giảm Wallter (1947); Rousse (1962, 1967) Những nhận định về vai trò của ánh sáng đối với tái sinh của cây gỗ ở rừng mưa nhiệt đới tìm thấy trong các tài liệu của Richards (1952), Banard (1954)

và Baur (1961-1962) [1],

Khi nghiên cứu vai trò của những yếu tố tối thiểu đối với sinh trưởng của cây con, Karpov (1969) và Rusin (1970) cho rằng cải thiện điều kiện sinh

Trang 18

trưởng của cây con theo yếu tố đa lượng có ảnh hưởng đáng kể đến sức sống của cây con (dẫn theo Nguyễn Văn Thêm (2002-2003) [22]

Theo Mazin (1996), ánh sáng sẽ trở thành yếu tố giới hạn, khi nghiên cứu về sinh thái của hạt giống và sinh trưởng cây gỗ non, Ekata và Singh (2000) [21], đã nhận thấy rằng, cường độ ánh sáng có ảnh hưởng rõ rệt tới sự nẩy mầm, sự sống sót và quá trình sinh trưởng của cây con

Năm 1981, Sasaki và Mori đã tiến hành nghiên cứu và đánh giá khả năng chịu bóng của một số loài như Shorea talura, Sovalis, Hopea helferei và Vatica odorata Kết quả cho thấy sinh trưởng của cây con bị ức chế khi cường

độ ánh sáng cao hơn 50% Ảnh hưởng của chế độ tưới nước đến sinh tưởng của cây đã được đề cập ở mức độ tế bào Kramer (1993), Wagt và cộng sự (1998) Sands và Mulligan (1990) sự lớn lên của lá rất nhạy cảm với nước Dẫn theo Nguyễn Văn Thêm (2002) [18]

2.2.2 Tình hình nguyên cứu trong nước

Các nghiên cứu về chế độ che bóng cho một số loài cây khác đã có nhiều tác giả đề cập đến như:

Nguyễn Hoàng Duy Lưu (2018) [25], khi nghiên cứu Ảnh hưởng của mức độ che sáng và lượng dung dịch tưới đến sự sinh trưởng phát triển của cây hương thảo đã đưa ra được kết quả: mức che thích hợp nhất cho sự sinh trưởng phát triển của cây là 50% tương ứng cường độ ánh sáng (19.300 – 22.700 lux) và 200-250 ml/cây/ngày Cây có lá xanh tốt, tỷ lệ cây xuất vườn loại I đạt 100%

Theo Nguyễn Thị Chuyền (2016) [6], khi nghiên cứu ảnh hưởng của

ánh sáng và thành phần ruột bầu đến sinh trưởng của cây con Sơn huyết

(Melanorrhoea laccifera Pierre) trong giai đoạn vườn ươm đưa ra kết quả về

ánh sáng có ảnh hưởng khá rõ đến chất lượng cây con Sơn huyết trong giai đoạn vườn ươm Ánh sáng cũng có ảnh hưởng khá rõ đến tỷ lệ sống và khả

Trang 19

năng sinh trưởng cả về đường kính gốc và chiều cao vút ngọn của cây con Sơn huyết trong giai đoạn vườn ươm Giai đoạn 2 tháng đầu kể từ khi cấy cây vào bầu cần che sáng từ 50 - 75%, giai đoạn từ 2 - 4 tháng tuổi cần che sáng khoảng 50%, giai đoạn từ 4 - 6 tháng tuổi cần che sáng với tỷ lệ 25 - 50%; giai đoạn từ 6 - 8 tháng chỉ cần che sáng khoảng 25% là phù hợp và cho khả năng sinh trưởng cao nhất cả về đường kính gốc và chiều cao cây Sơn huyết, sau 8 tháng tuổi cần phải dỡ bỏ dàn che hoàn toàn để huấn luyện cây con trước khi xuất vườn đi trồng khoảng 1 tháng

Báo cáo kết quả đề tài: Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật gây trồng

một số loài cây bản địa Trai Lý (Garcinia fagraeoides A,Chev), Vù Hương (Cinnamomum balansae Lec) và Sưa (Dalbergia tonkinensis Prain) nhằm

phục hồi các trạng thái rừng nghèo kiệt tại Tây Bắc Hà Văn Tiệp (2015) [19],

đã đưa ra kết quả: Ảnh hưởng che bóng đến sinh trưởng cây Sưa Công thức che bóng 50% có ảnh hưởng trội nhất đến sinh trưởng chiều cao của cây con trong vườn ươm Ảnh hưởng của che bóng đến sinh trưởng cây con Trai lý, cho thấy công thức che bóng 75% có ảnh hưởng trội nhất đến sinh trưởng chiều cao, cây đạt chiều cao trung bình lớn nhất 25,3cm Khi gieo ươm Trai lý cần che bóng 75% cho cây con

Đoàn Đình Tam (2015) [17], khi nghiên cứu: Ảnh hưởng của các chế

độ che sáng khác nhau đến sinh trưởng, Hình thái giải phẫu và hàm lượng diệp lục của Chò chỉ ở giai đoạn vườn ươm Đã đưa ra được kết quả: Ánh sáng có ảnh hưởng khác nhau đến sinh trưởng Ở cường độ chiếu sáng 50% cây có sinh trưởng chiều cao mạnh nhất là 23,6cm đạt tỷ lệ 222,9% và giảm dần ở cường độ chiếu sáng ở 75%, 25% và 100%

Phạm Hữu Hạnh và cs (2015) [9], đã đưa ra kết quả ảnh hưởng của ánh

sáng đến sinh trưởng của cây Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria) trong giai

đoạn vườn ươm: Cây con thích hợp với độ che sáng 75%, tỷ lệ sống đạt

Trang 20

98,2%, đường kính gốc (Doo) đạt 0,26 cm, chiều cao vút ngọn (Hvn) đạt 11,73 cm Giai đoạn từ sau 2 tháng đến 6 tháng tiếp theo cây con thích hợp ở

độ che sáng 50%, tỷ lệ sống đạt 91,7%, đường kính gốc (Doo) đạt 0,34 cm, chiều cao vút ngọn (Hvn) đạt 17,32cm Giai đoạn từ sau 6 tháng đến 8 tháng tiếp theo cây con thích hợp ở độ che sáng 25%, tỷ lệ sống đạt 89,8%, đường kính gốc (Doo) đạt 0,39 cm, chiều cao vút ngọn (Hvn) đạt 21,20 cm Từ sau 8 tháng có thể dỡ bỏ dàn che hoàn toàn để huấn luyện cây con trước khi đem trồng Như vậy, ánh sáng có ảnh hưởng khá rõ đến chất lượng cây con Hoàng đằng trong giai đoạn vườn ươm

Nguyễn Việt Cường và cs (2014) [7], kết quả nghiên cứu bước đầu về

tạo cây con bằng hạt loài cây Mỏ chim (Cleidion spiciflorum Burm) ở vườn

ươm bao gồm thành phần ruột bầu và chế độ che sáng cho cây con ở giai đoạn

4 tháng tuổi Kết quả nghiên cứu cho thấy: cây Mỏ chim thuộc loài cây ưa sáng, tuy nhiên ở giai đoạn bắt đầu cấy cây đến 4 tháng tuổi tốt nhất nên che sáng 25% cho cây con

Đỗ Anh Tuấn (2013) [20], Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của chế độ che sáng và thành phần ruột bầu đến tỷ lệ sống, sinh trưởng đường kính cổ rễ (Doo) và chiều cao vút ngọn (Hvn) của cây con Giổi ăn hạt Đã đưa ra kết quả nhân tố che sáng được chia làm 5 mức: đối chứng, che sáng 25%, che sáng 50%, che sáng 75% và che sáng 100% Kết quả nghiên cứu cho thấy việc che sáng có ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của cây con Giổi ăn hạt ở giai đoạn vườn ươm, và mức độ che sáng phù hợp biến động theo giai đoạn tuổi của cây Giai đoạn 4 tháng tuổi mức che sáng 75% là tốt nhất, sang giai đoạn 6 và 8 tháng tuổi thì mức che sáng 50% là phù hợp

Nguyễn Thị Mừng (1997) [13], đã nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ che

bóng đến sinh trưởng của cây Cẩm lai (Dalbergia bariaensis) trong giai đoạn

vườn ươm, kết quả nghiên cứu đã chứng tỏ rằng, ở giai đoạn từ 1 - 4 tháng tuổi,

Trang 21

mức độ che bóng 50 - 100% (tốt nhất 75%) đảm bảo cho Cẩm lai, sinh khối, sinh trưởng chiều cao đều lớn hơn so với đối chứng (không che bóng) Nhưng đến tháng thứ 6, các chỉ tiêu trên lại đạt cao nhất ở tỷ lệ che bóng 50%

Khi nghiên cứu gieo ươm Dầu song nàng (Dipterocarpus dyeri Pierre),

Nguyễn Tuấn Bình (2002) [2], nhận thấy độ tàn che 25% - 50% là thích hợp cho sinh trưởng của Dầu song nàng 12 tháng tuổi,

Nghiên cứu về cây Huỳnh liên (Tecoma stans (L.) H.B.K) trong giai

đoạn 6 tháng tuổi, Nguyễn Thị Cẩm Nhung (2006) [15], nhận thấy độ che sáng thích hợp là 60%

Vũ Thị Lan và cs (2006) [10], khi nghiên cứu về ảnh hưởng của độ tàn

che đến sinh trưởng của Gỗ đỏ (Afzelia xylocarpa Craib) nhận thấy rằng độ

tàn che thay đổi có ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng đường kính, chiều cao và sinh khối của cây con gỗ đỏ Sau 6 tháng, đường kính của gỗ đỏ dưới các độ tàn che khác nhau có sự phân hóa thành 4 nhóm; trong đó thấp nhất ở độ tàn che 100%, cao nhất ở độ tàn che 25% Chiều cao thân cây gỗ đỏ 6 tháng tuổi phân hóa thành 3 nhóm; trong đó thấp nhất ở thí nghiệm thức đối chứng, kế đến ở độ tàn che 25% - 75%, cao nhất ở độ tàn che 100% Kết quả nghiên cứu cũng đã chứng tỏ rằng, giá trị lớn nhất về sinh khối của gỗ đỏ 6 tháng tuổi chỉ đạt được dưới độ tàn che 25%, thấp nhất ở độ tàn che 100% Ngoài ra, sự suy giảm sinh khối của cây con gỗ đỏ sẽ xảy ra khi chúng không được che bóng hoặc được che bóng từ 50% - 100%

Các nghiên cứu về sâu, bệnh hại cho một số loài cây khác đã có nhiều tác giả đề cập đến

Nguyễn Văn Độ (2013) [8], kết quả điều tra thành phần sâu hại vườn ươm cây rừng tại các tỉnh: Yên Bái, Hà Tây và Hoà Bình đã xác định được 27 loài sâu hại thuộc 18 họ trong 6 bộ, 5 loài sâu chính có mức độ phá hoại cao: Sâu xám, Rế mèn nâu lớn, Rế mèn nâu nhỏ, Dế dũi và Bọ xít muỗi

Trang 22

Trước kia việc phòng trừ sâu hại vườn ươm cây rừng ở địa phương chủ yếu bằng kinh nghiệm với các thuốc có tính độc hại cao, tồn dư lâu như các loại thuốc DDT, 666, Wofatox (Nguyễn Đình Hanh 1965, Đặng Vũ Cẩn 1972) Do lạm dụng các loại thuốc trừ sâu trên gây ra hiện tượng nhờn thuốc đưa đến hiệu quả diệt sâu thấp lại ảnh hưởng đến sức khỏe đối với người và gia súc, đồng thời gây ô nhiễm môi trường

Từ năm 1971 với nhiều công trình nghiên cứu, Trần văn Mão đã bắt đầu công bố một số bệnh cây như: quế, hồi… ông đã xác định được nguyên nhân gây bệnh, điều kiện phát triển và phương pháp phòng trừ một số bệnh hại Trần Văn Mão (1997) [11]

Hiện nay nước ta đã có các cơ quan về lâm nghiệp, các bộ phận chuyên trách về phòng trừ sâu bệnh hại như Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam, Viện điều tra quy hoạch rừng và các trung tâm bảo vệ rừng Trần Văn Mão (1997) [11]

Việc nghiên cứu các biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại cây rừng phải được kết hợp giữa các cán bộ nghiên cứu, cán bộ giảng dạy môn bệnh cây rừng với các cơ quan nghiên cứu bệnh cây của các nước trên thế giới để tìm ra phương pháp khác nhau để phòng trừ bệnh cây phát huy tác dụng, bảo vệ tài nguyên rừng hiện tại và tương lai Trần Văn Mão (1995) [12]

Các nghiên cứu về cây Nghiến gân ba

Sách đỏ Việt Nam (2007) [3], mô tả Đặc điểm nhận dạng:

Cây gỗ lớn, cao 30 - 35m, đường kính tới 80 - 90cm Lá đơn trong đó có 3 gân gốc Hoa đơn tính cùng gốc, Quả khô hình 5 cạnh (giống quả Khế), tự

mở, đường kính 1,8cm

Sinh học, sinh thái:

Ra hoa tháng 3 - 4, có quả tháng 8 – 10 Cây ưa sáng, mọc rải rác trong rừng thường xanh mưa mùa ẩm ở vùng núi đá vôi, ở độ cao dưới 800 m, tái sinh bằng hạt, cây mạ và cây con gặp khá phổ biến dưới tán rừng

Trang 23

Phân bố:

Trong nước: Sơn La (Thuận Châu, Sông Mã, Mộc Châu), Hà Giang, Tuyên Quang (Chiêm Hoá), Cao Bằng (Quảng Hoà, Trùng Khánh, Hạ Lang, Thạch An), Bắc Kạn (Chợ Đồn, Ba Bể), Lạng Sơn (Hữu Liên, Bắc Sơn), Quảng Ninh, Bắc Giang, Hoà Bình (Mai Châu, Pà Cò)

Thế giới: Trung Quốc

Giá trị:

Gỗ quý, màu nâu đỏ, cứng, thớ thẳng, vân đẹp, ít co rút, dùng đóng thuyền, làm bệ máy và để xây dựng; cũng thường được dùng làm thớt, làm bệ các tượng mỹ nghệ cao cấp

Tình trạng:

Tuy có ở các Khu bảo tồn thiên nhiên Pà Cò - Hang Kia, Hữu Liên và Vườn quốc gia Ba Bể, nhưng tại những nơi đó vẫn bị chặt trộm, Loài đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng ngoài thiên nhiên

Theo Nguyễn Thị Bích Ngọc (2017) [14], Nghiến (Burretiondendron

hsienmu Chun et Haw) là một loài cây bản địa có giá trị kinh tế cao, tuy nhiên

hiện nay nguồn cây mẹ có khả năng gieo giống trong tự nhiên đã khan hiếm Nên các nghiên cứu nhân giống là cần thiết nhằm góp phần phục vụ công tác bảo tồn, gây trồng và phát triển loài Kết quả nghiên cứu của đề tài: Nghiên cứu phẩm chất gieo ươm hạt Nghiến và ảnh hưởng của ánh sáng đến sinh trưởng cây Nghiến, trong giai đoạn vườn ươm đã đưa ra được kết quả: Cường

độ che sáng thích hợp nhất là 50% sau 12 tháng thí nghiệm

*Nhận xét chung

Các công trình nghiên cứu trên đã đánh dấu một bước phát triển mới về nghiên cứu ảnh hưởng của ánh sáng và sâu, bệnh hại cây con trong giai đoạn vườn ươm, có ý nghĩa rất lớn trong sản xuất thực tiễn và khoa học Những công trình nghiên cứu này góp phần bổ sung thêm lượng kiến thức ảnh hưởng

Trang 24

của ánh sáng, sâu bệnh hại cây rừng trong việc điều tra nghiên cứu xác định tác động ảnh hưởng của ánh sáng và sâu, bệnh hại, đề xuất các biện pháp che sáng, phòng trừ, quản lí dịch bệnh, nhằm phát triển tốt cây con Nghiến ba gân trong giai đoạn vườn ươm

2.3 Điều kiện tự nhiên của khu vực nghiên cứu

2.3.1 Vị trí địa lý

Đề tài được tiến hành tại Trung Tâm ĐT, NC&PT Thủy sản vùng Đông Bắc, trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, thuộc địa bàn xã Quyết Thắng, Căn cứ vào bản đồ địa lý Thành Phố Thái Nguyên thì vị trí của trường như sau:

- Phía Bắc giáp với phường Quan Triều

- Phía Nam giáp với phường Thịnh Đán

- Phía Tây giáp với xã Phúc Hà

- Phía Đông giáp với khu dân cư trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên

2.3.2 Địa hình

Địa hình của xã chủ yếu là đồi bát úp không có núi cao Độ dốc trung bình 10 - 15°, độ cao trung bình 50 - 70m, địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam

Vườn ươm nằm ở khu vực chân đồi, hầu hết đất ở đây là loại đất feralit phát triển trên đá sa thạch Do vườn ươm mới chuyển về đây nên đất lấy để hoạt động đóng bầu gieo cây là đất mặt ở đồi tương đối tốt

2.3.3 Đặc điểm khí hậu, thời tiết

Vườn ươm thực hiện Khoá luận nằm trong khu vực xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên, thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết chia làm 4 mùa, song chủ yếu là hai mùa chính: mùa mưa và mùa khô Mùa mưa

từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau

- Chế độ nắng: số giờ nắng cả năm là 1,588 giờ, tháng 5 - 6 có số giờ nắng nhiều nhất khoảng (178-180 giờ)

Trang 25

- Chế độ nhiệt: nhiệt độ trung bình năm khoảng 22 - 230C; chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm khoảng 2 - 50C; nhiệt độ cao tuyệt đối là 370C, nhiệt độ thấp tuyệt đối là 30C

- Lượng mưa: trung bình năm khoảng 1500 - 200 mm/năm, tập trung chủ yếu vào mùa mưa (tháng 6,7,8,9) chiếm 85% lượng mưa cả năm, trong đó tháng 7 có số ngày mưa nhiều nhất

- Độ ẩm không khí: trung bình đạt khoảng 82% Độ ẩm không khí nhìn chung không ổn định và có sự biến thiên theo mùa, cao nhất vào tháng 7 (mùa mưa) lên đến 86,8%, thấp nhất vào tháng 3 (mùa khô) là 70%, sự chênh lệch

độ ẩm không khí giữa 2 mùa khoảng 10 - 17%

- Gió, bão: hướng gió thịnh hành chủ yếu vào mùa nóng là gió mùa Đông Nam và mùa lạnh là gió Đông Bắc; do nằm xa biển nên xã Quyết Thắng nói riêng và thành phố Thái Nguyên nói chung ít chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão

2.3.4 Đặc điểm khu thí nghiệm

Vườn ươm được bố trí hệ thống tưới tiêu đầy đủ cho việc chăm sóc, công tác quản lí vệ sinh được thực hiện tốt thường xuyên, vị trí giao thông thuận tiện cho vận chuyển Vườn ươm Trung Tâm ĐT, NC&PT Thủy sản vùng Đông Bắc Trường Đại Học Nông Lâm thái Nguyên thuộc địa bàn xã Quyết Thắng sản xuất các loại cây, phục vụ bảo tồn và phát triển nguồn gen thực vật quý, hiếm trong đó cây lâm nghiệp, cây nông nghiệp, cây dược liệu, với nhiều loại cây khác nhau: Trong đó cây Nghiến gân ba được tạo ra bằng sinh sản hữu tính

Trang 26

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Loài Nghiến gân ba (Excentrodendron tonkinensis)

- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ che sáng đến

sinh trưởng Doo, Hvn, số lá của cây Nghiến gân ba và tình hình sâu, bệnh hại cây nghiến gân ba trong giai đoạn vườn ươm, làm cơ sở đề xuất các biện pháp

bảo tồn và phát triển loài

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu:

- Đề tài được tiến hành từ tháng 1/2019 đến tháng 6/2019

- Địa điểm nghiên cứu: Tại vườn ươm Trung tâm ĐT, NC&PT thuỷ sản vùng Đông Bắc trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

3.3 Nội dung

Để đạt được các mục tiêu, khóa luận nghiên cứu các nội dung chính sau:

3.3.1 Ảnh hưởng của chế độ ánh sáng tới sinh trưởng cây nghiến gân ba 3.3.2 Ảnh hưởng của ánh sáng đến chất lượng của cây Nghiến gân ba 3.3.3 Tình hình sâu, bệnh hại và biện pháp phòng trừ của cây Nghiến gân ba 3.3.4 Đề xuất một số biện pháp chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh hại của cây Nghiến gân ba

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu

Sử dụng phương pháp nghiên cứu kế thừa có chọn lọc các tài liệu, số liệu, kết quả của các đã nghiên cứu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu trước đây

Tổng hợp và phân tích số liệu điều tra: từ những số liệu thu thập qua các mẫu điều tra trên mô hình bố trí thí nghiệm, tiến hành tổng hợp và phân tích thí nghiệm bằng các phương pháp thống kê toán học trong lâm nghiệp

Trang 27

3.4.2 Chuẩn bị, bố trí thí nghiệm và các bước tiến hành

Bước 1: Chuẩn bị công cụ, vật tư phục vụ nghiên cứu

- Lưới đen, do Thái Lan sản xuất, sử dụng hai loại lưới có thiết kế che sáng khác nhau: loại che sáng 25% và loại che sáng 50% Với chế độ che sáng 75% dùng 2 lượt lưới che sáng 75% và 25%

- Cây Nghiến gân ba đã được gieo 7 tháng tuổi tại vườn ươm

-Thước đo cao (Thước nhựa 50 cm, chia tới mm), thước dây, thước Panme (Thước kẹp thép không gỉ 150mm - H245)

Các công thức che sáng như sau:

Công thức 1 _ không che sáng: 30 cây x 3 = 90 (cây)

Công thức 2 – che sáng 25%: 30 cây x 3 = 90 (cây)

Công thức 3 – che sáng 50%: 30 cây x 3 = 90 (cây)

Công thức 4 – che sáng 75%: 30 cây x 3 = 90 (cây)

Và các công thức được bố trí theo sơ đồ sau:

Lần lặp 1 Công thức 1 Công thức 2 Công thức 3 Công thức 4

Lối đi Lần lặp 2 Công thức 4 Công thức 3 Công thức 2 Công thức 1

Lối đi Lần lặp 3 Công thức 2 Công thức 4 Công thức 1 Công thức 3

Hình 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm về chế độ che bóng cho cây Nghiến gân ba

Trang 28

Bước 3: Chăm sóc thí nghiệm

- Làm cỏ trong luống: nhổ sạch sẽ ở trong bầu và quanh luống kết hợp với xới nhẹ, phát cỏ kế sát hàng rào nhằm phòng trừ ổ sâu bệnh

- Làm giàn che sáng Sử dụng tre làm giàn che sáng cho cây nghiến Giàn che có cọc cao 1,5 m để đi lại chăm sóc dễ dàng Lưới che kín để tránh ánh sáng chiếu chéo buổi sáng và buổi chiều

- Sâu bệnh hại: Trong quá trình chăm sóc thí nghiệm, thường xuyên theo dõi sâu, bệnh hại cây nghiến, phun thuốc phòng sâu bệnh cho cây theo định kỳ

Thời gian đo đếm các chỉ tiêu về sinh trưởng được tiến hành theo định

kỳ Trong mỗi CTTN theo dõi 90 cây Các cây được đánh dấu trong các công thức thí nghiệm và được đánh số thứ tự cho từng cây để tránh nhầm lẫn cho các lần đo sau

- Đo chiều cao vút ngọn (Hvn): sử dụng thước đo chiều cao và độ chính xác là 0,1cm Đặt thước sát cổ rễ đến ngọn cây Chiều cao toàn thân (từ mặt bầu đến đỉnh ngọn cây)

- Đo đường kính cổ rễ (D00): đo bằng thước kẹp Panme với độ chính xác 0,1 mm Đặt thước đo sát cổ rễ để đo

- Số lá: đếm số lá non mới ra theo thứ tự của các cây đo chiều cao, đường kính cổ rễ của các công thức (những cây được đánh dấu)

- Tiêu chuẩn cây con đủ tiêu chuẩn xuất vườn:

Chiều cao vút ngọn: ≥ 45 cm, đường kính cổ rễ ≥ 0,5 cm, cây không bị

Trang 29

cụt ngọn, không có hiện tượng sâu, bệnh hại và không bị vỡ bầu

- Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ với ba lần lặp lại,

30 cây/công thức/1 lần lặp Tiến hành đo đếm chỉ tiêu sinh trưởng của cây con, sâu, bệnh hại 30 ngày 1 lần Các chỉ tiêu theo dõi: Doo, Hvn, Số lá, chất lượng được ghi vào mẫu biểu 3.1:

Mẫu biểu 3.1 Các chỉ tiêu sinh trưởng chất lượng của cây con

Lần đo: Công thức Ngày tháng năm 2019

Lần lặp: Người đo đếm:

STT D 00

(cm)

H vn (cm)

Số lá (lá)

Chất lượng Ghi chú Tốt TB Xấu

1

2

TB

 Điều tra sâu bệnh hại

Sâu hại Thường xuyên quan sát khi thấy các loại sâu hại phải tiến

hành các biện pháp bắt diệt sâu hại bằng phương pháp cơ giới Nếu số lượng sâu tới mức gây hại không bắt được hết, cần phải phun thuốc Kết quả sau khi thu thập tình hình sâu hại được ghi vào mẫu biểu 3.2

Mẫu biểu 3.2 Phiếu theo dõi sâu hại lá cây nghiến giai đoạn vườn ươm

Loài sâu hại: Khu vực: Lần đo: Người đo đếm: Ngày đo đếm

STT cây Tổng số lá Số lá bị sâu hại ở các cấp

Trang 30

không bắt được hết thì cần phải phun thuốc

Bệnh hại lá: Thường xuyên quan sát khi thấy các loại bệnh hại phải

tiến hành các biện pháp bắt diệt bệnh hại bằng phương pháp cơ giới Nếu số lượng bệnh nhiễm quá nhiều phun thuốc hoặc nhổ bỏ Kết quả sau khi thu thập được ghi vào mẫu biểu 3.3

Mẫu biểu 3.3 Phiếu theo dõi bệnh hại lá

Loài sâu hại: Khu vực: Lần đo:

Người đo đếm: Ngày đo đếm

Trong đó: vn là chiều cao vút ngọn trung bình

00: là đường kính gốc trung bình

Di : là giá trị đường kính gốc của một cây

Hi : Là giá trị chiều cao vút ngọn của một cây

Trang 31

n : Là dung lượng mẫu điều tra

i : Là thứ tự cây thứ i

100(%)

4

0

x NV

Cấp 1: Những lá bị hại dưới 1/4diện tích lá,

V : Là trị số của cấp cao nhất (V luôn luôn bằng 4)

Sau khi có R% chúng ta có thể đánh giá mức độ hại như sau :

- Khoẻ: R < 10%

- Hại nhẹ: R = 10-15%

- Hại vừa: R = 15-25%

Trang 32

- Hại nặng: R = 25-50%

- Hại rất nặng: R = > 50%

 Sử dụng các loại thuốc phòng bệnh:

- Trên cơ sở điều tra đánh giá, xác định các loại sâu, bệnh hại tai khu

vực trồng Nghiến gân ba Phải cân nhắc kỹ trước khi sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và tuân thủ nguyên tắc 4 đúng: Đúng thuốc, đúng liều lượng và nồng

độ, đúng lúc và đúng cách

- Chỉ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật đối với các loài sâu hại khi chúng

hại cây ở mức tới ngưỡng gây hại (hại nặng trở lên)

- Thuốc phòng chống nấm cần phun theo định kỳ vào những tháng có

độ ẩm cao, có khả năng gây bệnh hại nặng cho cây

Từ những số liệu thu thập được qua công tác ngoại nghiệp, tiến hành sử dụng ANOVA để so sánh sự khác nhau về sinh trưởng về đường kính, chiều cao, động thái ra lá của các công thức thí nghiệm Để có bảng phân tích phương sai một nhân tố ANOVA :

Ta thực hiện trên phần mềm excel như sau:

Nhập số liệu vào bảng tính,

Click Tools  Data Analysis  ANOVA: Single Factor,

Trong hộp thoại ANOVA: Single Factor,

Input range: Khai vùng dữ liệu (…)

Grouped by:

Nếu số liệu nhắc lại của từng công thức thí nghiệm sắp xếp theo hàng

thì đánh dấu Rows và mục Label in Firt Column nếu trong vùng dữ liệu vào

có chứa cột tiêu đề

Nếu số liệu nhắc lại của từng công thức thí nghiệm sắp xếp theo cột thì

đánh dấu vào Columns và mục Label in Firt Rows nếu trong vùng dữ liệu

vào có chứa hàng tiêu đề

Alpha: Nhập (0,05) hay (0,01)

Input range: Khai vùng xuất kết quả.

Ngày đăng: 23/05/2021, 09:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
18. Nguyễn Văn Thêm (2002), Sinh thái rừng, Nhà suất bản Nông nghiệp, Chi nhánh TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh thái rừng
Tác giả: Nguyễn Văn Thêm
Năm: 2002
19. Hà Văn Tiệp (2015) Báo cáo kết quả đề tài: “Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật gây trồng một số loài cây bản địa Trai Lý (Garcinia fagraeoides A.Chev), Vù Hương (Cinnamomum balansae Lec) và Sưa (Dalbergia tonkinensis Prain) nhằm phục hồi các trạng thái rừng nghèo kiệt tại Tây Bắc”. Trung tâm Khoa học sản xuất Lâm nghiệp vùng Tây Bắc - Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật gây trồng một số loài cây bản địa Trai Lý "(Garcinia fagraeoides" A.Chev), Vù Hương ("Cinnamomum balansae" Lec) và Sưa ("Dalbergia tonkinensis" Prain) nhằm phục hồi các trạng thái rừng nghèo kiệt tại Tây Bắc”
20. Đỗ Anh Tuấn (2013), Ảnh hưởng của che sáng và thành phần ruột bầu đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của cây con giổi ăn hạt (Michelia tonkinensis A.Chev), Tạp chí Khoa học lâm nghiệp số năm 2013 trang (2838-2844).II. TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Michelia tonkinensis" A.Chev), "Tạp chí Khoa học lâm nghiệp
Tác giả: Đỗ Anh Tuấn
Năm: 2013
22. Kimmins, J.P, (1998), Forest ecology. Prentice-Hall, Upper Saddie, New Jersey 23. Tewari.D.N, (19930), Forestry research: India introduction.preliminary result,proceedings on Bio - Refor – Indonesia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Forest ecology. Prentice-Hall
Tác giả: Kimmins, J.P
Năm: 1998
21. Ekata Khurana and J.S Singh (2000), Ecology of seeds and seedlings grown for conservation and restoration of tropical dry forests: a total, Department of Botany, Hindu Banaras University, Varanasi India Khác
24. FAO, (1993). Conservation of genetic resources in tropical forest management, Principles and concepts, FAO, Rome, Forestry Paper No.107.III. INTERNET Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w