1. Trang chủ
  2. » Hoá học lớp 11

Quyền tiếp cận văn hóa và sở hữu trí tuệ

10 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 421,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên thực tế, vấn đề quyền tiếp cận văn hóa được thể hiện trong nhiều lĩnh vực của đời sống, vì vậy, hệ thống thể chế hiện hành còn bộc lộ một số hạn chế như: bảo đảm quyền thực hành l[r]

Trang 1

QUYỀN TIẾP CẬN VĂN HÓA VÀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ

Phạm Văn Chính & Ngô Minh Quân

(Học viên cao học, Khoa Luật ĐHQG Hà Nội)

Cùng với sự phát triển của xã hội thì ngoài việc nâng cao các điều kiện về đời sống vật chất thì con người còn có nhu cầu tiếp cận hay thụ hưởng đời sống tinh thần mà đó là các giá trị văn hóa Hay nói cách khác, con người có tiếp cận các giá trị văn hóa mà theo các nhà nghiên cứu về nhân quyền có thể gọi đây là quyền tiếp cận văn hóa Văn hóa được biểu hiện ra bên ngoài thông qua các hình thức vật chất hoặc phi vật chất và điều này có nhiều điểm liên quan đến các quy tắc

về sở hữu trí tuệ, vốn là sự độc quyền để bảo vệ lợi ích cho chủ sở hữu, tuy nhiên, pháp luật vẫn có các điều chỉnh phù hợp với quyền tiếp cận văn hóa của con người

mà không ảnh hưởng đến sở hữu trí tuệ thông qua hai nguyên tắc đặc thù là sử dụng hợp lý và quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến các tác phẩm văn hóa dân gian

1 Văn hóa và quyền tiếp cận văn hóa

Văn hóa là một trong những lĩnh vực chủ yếu của đời sống xã hội của con người, bao gồm toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong suốt quá trình lịch sử của xã hội loài người, là một hệ thống các giá trị phản ánh bước tiến, mức độ và trình độ nhân tính hóa và ý thức về tự do, sự sáng tạo và hoàn thiện nhân cách của con người Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan niệm: “Văn hóa là sự tổng hợp một phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với những nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của

sự sinh tồn152”

Cũng với cách hiểu và quan niệm trên, văn hóa có ý nghĩa quan trọng trong việc xác lập bản sắc của một dân tộc mà theo đó một dân tộc sẽ không tồn tại nếu cái bản sắc - nền văn hóa - của nó bị mai một, bị xâm lăng và đồng hóa Cũng giống như sự sống còn của thiên nhiên, sự đa dạng văn hóa quyết định đến sự sống còn của loài người nói chung Tôn trọng và bảo vệ sự đa dạng văn hóa là tôn trọng và bảo vệ chính con người và xã hội loài người

Với tính cách là một bộ phận hợp nhất của hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần do chính con người sáng tạo ra, văn hóa hiện hữu sinh động và phổ biến trong các quan hệ giữa con người với giới tự nhiên, giữa các cá nhân với nhau và giữa cá nhân với xã hội Văn hóa có vai trò quan trọng trong việc xác lập đời sống tinh thần cho mỗi cá nhân và toàn xã hội, văn hóa giúp cho con người trở nên ngày càng nhân văn, tôn trọng và hợp tác với nhau trong quá trình sản xuất và đời sống xã hội

152 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tập 3, trang 431

Trang 2

Văn hóa là một trong bốn thành tố hay trụ cột của sự phát triển bền vững (kinh tế - văn hóa - xã hội - môi trường) Phát triển, suy đến cùng chính là nhằm giải phóng mọi năng lực vốn có của các cá nhân, nhờ đó giải phóng triệt để sức sản xuất của xã hội, thúc đẩy tiến bộ xã hội, đảm bảo và hiện thực hóa các quyền và tự

do cơ bản của tất cả mọi người ngày nay trong các quyền con người, quyền tiếp cận văn hóa là một trong những quyền ngày càng được coi trọng trong việc phát triển và hoàn thiện nhân cách cá nhân của mỗi người, cũng như trong việc xác lập và sáng tạo giá trị văn hóa của cộng đồng người, của từng dân tộc và quốc gia dân tộc153

Quyền tiếp cận văn hóa đặc biệt quan trọng đối với những nhóm người dễ bị tổn thương (người nghèo, người thu nhập thấp, nông dân, cộng đồng dân tộc thiểu số…) và những cộng đồng, quốc gia đang phát triển - khu vực mà quá trình toàn cầu hóa văn hóa và nền kinh tế thị trường đang có nguy cơ làm mai một bản sắc văn hóa dân tộc cũng như những trở ngại và tác động tiêu cực từ sự hội nhập và phát triển

Xét về mặt quản lý xã hội, quyền tiếp cận văn hóa hay tiếp cận dựa trên văn hóa là một phương pháp, công cụ trong hoạch định và thực thi chính sách và chương trình ấy văn hóa là trọng tâm của xuất phát điểm và đích hướng đến Ngày nay, quyền tiếp cận văn hóa là một phương pháp được áp dụng phổ biến trong cộng đồng quốc tế, đặc biệt ở các quốc gia đang phát triển và trong bối cảnh thế giới đang

có toàn cầu hóa sâu sắc Quyền tiếp cận văn hóa là một đòi hỏi bức thiết trong quá trình phát triển lấy con người làm trung tâm; là phương tiện để làm “nhân bản hóa” các quan hệ sản xuất hiện đại154 Trong xu thế thịnh hành của nền kinh tế thị trường

và sự phát triển nóng và mất cân đối giữa các lĩnh vực của đời sống xã hội (kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường) đang diễn ra mạnh mẽ ở các quốc gia đang phát triển (trong đó có Việt Nam), tiếp cận văn hóa được xem như là một công cụ mạnh mẽ để tạo lập sự cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế với hệ thống an sinh xã hội hiệu quả và bảo vệ môi trường hướng tới sự phát triển bền vững

Đối với mỗi cá nhân, quyền tiếp cận văn hóa bao gồm các quyền được tôn trọng, được thụ hưởng và được tham gia vào quá trình sáng tạo ra các giá trị văn hóa; đồng thời, quyền tiếp cận văn hóa là quyền thụ hưởng các giá trị văn hóa Quyền thụ hưởng, quyền thể hiện và thực hành văn hóa đóng vai trò quan trọng trong việc sáng tạo ra các giá trị văn hóa của cá nhân và cộng đồng Quyền tiếp cận văn hóa, với tính cách là một quyền cơ bản của con người, chỉ ra những nguyên tắc bất di bất dịch:

153 Huỳnh Ngọc Thu (2015), Văn hóa là gì?, Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn - Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, truy cập tại: http://nhanhoc.hcmussh.edu.vn/?ArticleId=e1f687b2-14d1-417b-b0cf-8956e0aa5632

154 The Geneva Academy (2018), Economic, Social And Cultural Rights And Sustainable Development Goals, at:

https://www.geneva-academy.ch/joomlatools-files/docman-files/Research%20Brief%20Economic,%20Social%20and%20Cultural%20Rights%20and%20SDGs.pdf

Trang 3

không phân biệt đối xử; bình đẳng về cơ hội thụ hưởng giá trị và thực hành đời sống văn hóa; trách nhiệm giải trình của chủ thể nghĩa vụ là nhà nước

Quyền được thực hành văn hóa, được hưởng thụ và được tham gia vào sáng tạo ra các giá trị văn hóa có mối liên hệ chặt chẽ, không thể tách rời Cá nhân sẽ không thể tham gia vào quá trình sáng tạo giá trị văn hóa nếu không được tiếp cận, được thực hành và hưởng thụ các giá trị do người khác hay cộng đồng sáng tạo ra

Bảo đảm quyền tiếp cận văn hóa liên hệ mật thiết với việc bảo đảm các quyền tự do cơ bản khác, đặc biệt là quyền tiếp cận thông tin, quyền được giáo dục

và quyền tự do biểu đạt Trọng tâm của con người nói chung và của quyền tiếp cận văn hóa nói riêng, đó là nguyên tắc bình đẳng Bình đẳng không chỉ đơn thuần là sự đối xử một cách như nhau, mà điều quan trọng hơn là tôn trọng và thừa nhận sự khác biệt và đa dạng Thực tiễn cho thấy điều này không dễ dàng trong quá trình phát triển xã hội dựa trên sự thống nhất chung của đa dạng các giá trị và nền văn hóa khác biệt

Quyền con người nói chung, cũng như quyền tiếp cận văn hóa nói riêng, đã

từ rất lâu được nghiên cứu trên phạm vi toàn quốc, đặc biệt là từ khi ra đời

của Tuyên ngôn thế giới về quyền con người và hàng loạt các công ước quốc tế về quyền con người trong những năm 60 và 70 của thế kỷ XX Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 đã trịnh trọng tuyên bố “mọi người đều có quyền tự do

tham gia vào đời sống văn hóa của cộng đồng” (Điều 27)155 Điều 15 (1) của Công ước quốc tế về quyền kinh tế - xã hội và văn hóa (ICESCR) được Đại hội đồng Liên

hợp quốc thông qua năm 1996 đã quy định cụ thể về quyền văn hóa, theo đó quyền văn hóa được xem là những quyền của con người trên lĩnh vực văn hóa, bao gồm quyền: a) Được tham gia vào đời sống văn hóa; b) Được hưởng các lợi ích và những ứng dụng của tiến bộ khoa học phục vụ cho lợi ích con người; c) Được bảo hộ các quyền lợi về tinh thần và vật chất phát sinh từ bất kỳ sáng tạo khoa học, văn học, nghệ thuật nào của mình; d) Quyền tự do không thể bị tước bỏ khỏi hoạt động sáng tạo và nghiên cứu khoa học156

Những năm 60 và 70 của thế kỷ XX, các nhóm nghiên cứu về người bản địa, các dân tộc thiểu số cũng như các nhóm xã hội khác đã xây dựng những luận cứ khoa học về tình trạng báo động của những nền văn hóa và giá trị văn hóa truyền thống của nhiều dân tộc và cộng đồng người trên thế giới Đồng thời chỉ rõ cho thấy khả năng tiếp cận quyền về văn hóa của những cộng đồng người này bị hạn chế do những mặt trái của quá trình phát triển kinh tế thị trường và toàn cầu hóa Các nhóm

155 United Nations (1948), Universal Declaration of Human Rights (UDHR), at:

https://www.un.org/en/udhrbook/pdf/udhr_booklet_en_web.pdf

156 United Nations (1966), International Covenant on Economic, Social and Cultural Rights, at:

https://www.ohchr.org/documents/professionalinterest/cescr.pdf

Trang 4

nghiên cứu của Liên hợp quốc về từng chủ đề cụ thể liên quan đến quyền của người bản địa và văn hóa đã giúp Liên hợp quốc xây dựng và cho ra đời hàng loạt các văn kiện quốc tế, nhằm tạo khung khổ pháp lý cho việc bảo vệ và thúc đẩy quyền tiếp

cận văn hóa của mọi cồng đồng Chẳng hạn, Công ước của UNESCO về di sản văn hóa và thiên nhiên (thông qua năm 1972); Tuyên ngôn của Liên hợp quốc về bảo vệ những nhóm thiểu số về ngôn ngữ, tôn giáo, sắc tộc và dân tộc; Tuyên ngôn của Liên hợp quốc về quyền của các dân tộc bản địa…

Vào cuối thập niên 80 và 90 của thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, những thách thức toàn cầu đối với sự phát triển bền vững toàn cầu đối với sự phát triển bền vững được nhấn mạnh trong các công trình nghiên cứu và diễn đàn chính trị quốc tế UNESCO đã đặc biệt nhấn mạnh đến sự đa dạng các nền văn hóa và coi việc tôn trọng, bảo vệ và thực thi quyền tiếp cận văn hóa là nền tảng của việc tôn trọng, bảo

vệ và thực thi quyền tiếp cận văn hóa là nền tảng của việc tôn trọng và thúc đẩy các

quyền cơ bản của con người Tuyên ngôn thế giới về đa dạng văn hóa (2001) và Công ước về bảo vệ và thúc đẩy sự đa dạng các hình thức văn hóa của UNESCO, Công ước của UNESCO về bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới và Công ước bảo vệ

di sản văn hóa phi vật thể, Công ước châu Âu về giá trị của di sản văn hóa đối với

xã hội… đều được đề cập đến các quyền về tiếp cận văn hóa; đồng thời nhấn mạnh

đến tầm quan trọng của việc phải tăng cường công tác giáo dục và phổ biến các giá trị và di sản văn hóa, bảo đảm quyền được tiếp cận các giá trị này của tất cả mọi người Việt Nam là một quốc gia tham gia tích cực và thực thi nghiêm chỉnh các

công ước quốc tế về quyền con người, bao gồm Công ước quốc tế về quyền kinh tế -

xã hội và văn hóa Các quy định quốc tế về quyền con người đã được nội luật hóa

vào trong hệ thống pháp luật Việt Nam được thông qua các chính sách, chương trình quốc gia và bảo đảm trong thực tiễn Điều 50 của Hiến pháp năm 1992 quy định, “ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng”157 Bộ luật Dân sự (1995), Luật Di sản văn hóa (2001), Luật Điện ảnh (2006), Luật Xuất bản (2004), Luật Khoa học và Công nghệ (2000)… đã cụ thể hóa những nguyên tắc hiến định về quyền tiếp cận văn hóa Nhà nước cũng đã thông qua rất nhiều các chính sách và chương trình quốc gia nhằm thúc đẩy hoạt động sáng tạo và thụ hưởng các giá trị văn hóa

2 Các vấn đề sở hữu trí tuệ liên quan đến quyền tiếp cận văn hóa

Sở hữu trí tuệ được hiểu là việc sở hữu các tài sản trí tuệ – những kết quả từ hoạt động tư duy, sáng tạo của con người Đối tượng của loại sở hữu này là các tài sản phi vật chất nhưng có giá trị kinh tế, tinh thần to lớn góp phần quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển nền văn minh, khoa học, công nghệ của nhân loại,

đó là các tác phẩm văn học, nghệ thuật, các công trình khoa học kỹ thuật ứng dụng

157 Quốc Hội (2013), Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013

Trang 5

cũng như các tên gọi, hình ảnh được sử dụng trong các hoạt động thương mại Trong phạm vi nội dung liên quan đến quyền tiếp cận văn hóa có hai nội dung hay nguyên tắc chính mà cần chú ý đến đó là quyền tác giả với nguyên tắc sử dụng hợp

lý (Fair use) và quyền với các tác phầm văn học dân gian làm tiền đề cho việc bảo đảm mọi cá nhân đều có quyền tiếp cận văn hóa mà không bị hạn chế các vấn đề liên quan của sở hữu trí tuệ

Nguyên tắc “Sử dụng hợp lý” là một ngoại lệ của việc bảo vệ bản quyền theo luật Mỹ mà theo đó nguyên tắc này cho phép người ta được tiếp cận, sử dụng một sản phẩm có bản quyền với một mức độ nhất định mà không phải xin phép tác giả hoặc chủ sở hữu158 Nguyên tắc này đã được áp dụng tại Việt Nam mà theo đó tại Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009 và hợp nhất 2013 quy định tại Điều 25 (Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao) và Điều 26 (Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao) là các trường hợp sử dụng hợp lý Sử dụng hợp lý (fair use) mang bản chất là giới hạn phạm vi độc quyền đối với chủ sở hữu quyền tác giả nhưng phải đảm bảo rằng người thực hiện hành vi sử dụng đó không được làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm, không gây phương hại đến các quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm Các tình huống sử dụng không xâm phạm quyền tác giả bao gồm:

a) Tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy của

cá nhân;

b) Trích dẫn hợp lý tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để bình luận hoặc minh họa trong tác phẩm của mình;

c) Trích dẫn tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để viết báo, dùng trong ấn phẩm định kỳ, trong chương trình phát thanh, truyền hình, phim tài liệu;

d) Trích dẫn tác phẩm để giảng dạy trong nhà trường mà không làm sai ý tác giả, không nhằm mục đích thương mại;

đ) Sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu; e) Biểu diễn tác phẩm sân khấu, loại hình biểu diễn nghệ thuật khác trong các buổi sinh hoạt văn hóa, tuyên truyền cổ động không thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào;

g) Ghi âm, ghi hình trực tiếp buổi biểu diễn để đưa tin thời sự hoặc để giảng dạy;

158 Đỗ Thị Minh Thủy (2018), Vấn đề cân bằng lợi ích trong bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ - từ lý luận đến thực tiễn giải quyết tranh chấp tại tổ chức thương mại thế giới, Bộ Khoa học và Công nghệ, truy cập tại: https://most.gov.vn/thanhtra/tin-tuc/4/466/van-de-can-bang-loi-ich-trong-bao-ho-quyen-so-huu-tri-tue -tu-ly-luan-den-thuc-tien-giai-quyet-tranh-chap-tai-to-chuc-thuong-mai-the-gioi.aspx

Trang 6

h) Chụp ảnh, truyền hình tác phẩm tạo hình, kiến trúc, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng được trưng bày tại nơi công cộng nhằm giới thiệu hình ảnh của tác phẩm đó;

i) Chuyển tác phẩm sang chữ nổi hoặc ngôn ngữ khác cho người khiếm thị; k) Nhập khẩu bản sao tác phẩm của người khác để sử dụng riêng 159

Như đã trình bày từ trước đó, sở hữu trí tuệ là sự độc quyền của chủ sở hữu trong việc khai thác các giá trị của tác phẩm văn hóa, nghệ thuật thì nguyên tắc sử dụng hợp lý là một nguyên tắc giúp tăng cơ hội tiếp cận các giá trị văn hóa nghệ thuật trên của con người Mọi người không gặp các giới hạn trong việc tiếp cận các giá trị văn hóa nghệ thuật và có quyền khai thác giá trị tinh thần của tác phẩm văn học nghệ thuật đó, các chủ thể ngoài chủ sở hữu tác phẩm chỉ bị hạn chế trong việc khai thác các giá trị liên quan đến tài sản của tác phẩm văn học nghệ thuật đó như việc chuyển nhượng quyền khai thác thương mại tác phẩm,… Có thể thấy đây là một nguyên tắc quan trọng của sở hữu trí tuệ đã dự liệu trước để bảo vệ các lợi ích

xã hội nói chung160 cũng như là quyền tiếp cận văn hóa của con người

Tiếp đến, không chỉ đứng trên phương diện áp dụng nguyên tắc sử dụng hợp

lý, quyền tiếp cận văn hóa của con người được đảm bảo cần phải có các quy tắc liên quan đến sở hữu trí tuệ phù hợp chú trọng vào lĩnh vực văn hóa nghệ thuật dân gian

vì đây là một lĩnh vực đặc thù, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc và cần có các chính sách đảm bảo các văn hóa nghệ thuật này không bị mai một và có cơ sở để mọi người có quyền tiếp cận các văn hóa dân gian161 này, tuy nhiên, các quy định hiện tại vẫn gặp một số vướng mắc trong việc đảm bảo thực hiện cũng như triển khai trên thực tế để tạo điều kiện giữ gìn các tác phẩm văn hóa dân gian này Trước đây, đối với những tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian được quy định tại khoản 1 Điều 748 Bộ luật dân sự năm 1995 quy định việc tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian được thực hiện theo quy định riêng của pháp luật Ngoài ra, Luật sở hữu trí tuệ

bỏ sự phân biệt các loại tác phẩm khác nhau, thông qua việc loại bỏ quy định các tác phẩm được Nhà nước bảo hộ riêng theo Bộ luật dân sự năm 1995, như vậy các tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian được xếp hạng ngang hàng với các tác phẩm khác Tuy nhiên, tin tức thời sự thuần túy và văn bản của các cơ quan Nhà nước không còn được bảo hộ

Đầu tiên, Điều 23 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 quy định: “Tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian là sự sáng tạo tập thể trên nền tảng truyền thống của một nhóm hoặc các cá nhân nhằm phản ánh khát vọng của cộng đồng, thể hiện tương xứng đặc điểm văn hóa và xã hội của họ, các tiêu chuẩn và giá trị được lưu truyền

159 Quốc Hội (2009), Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi bổ sung năm 2009

160 Lê Nết (2012), Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

161 United Nations (1989), Recommendation on the Safeguarding of Traditional Culture and Folklore, at: http://portal.unesco.org/en/ev.php-URL_ID=13141&URL_DO=DO_TOPIC&URL_SECTION=201.html

Trang 7

bằng cách mô phỏng hoặc bằng cách khác Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian bao gồm: Truyện, thơ, câu đố; Điệu hát, làn điệu âm nhạc; điệu múa, vở diễn, nghi

lễ và các trò chơi; Sản phẩm nghệ thuật đồ họa, hội họa điêu khắc, nhạc cụ, hình mẫu kiến trúc và các loại hình nghệ thuật khác được thể hiện dưới bất kỳ hình thức vật chất nào đó162“ Để sửa chữa những lỗi như vừa phân tích, Khoản 2, 3 Điều 20 Nghị định 100/2006/NĐ-CP ngày 21/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Bộ luật dân sự, Luật sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan: “Sử dụng tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian quy định tại khoản 2 Điều 23 của Luật Sở hữu trí tuệ là việc nghiên cứu sưu tầm, giới thiệu giá trị đích thực của tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian” và “Người sử dụng tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian quy định tại khoản 2 Điều này phải thoả thuận

về việc trả thù lao cho người lưu giữ tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian và được hưởng quyền tác giả đối với phần nghiên cứu sưu tầm, giới thiệu của mình”

Ngoài ra còn quá nhiều hạn chế khi quy định về quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian, như không thể biết chính xác ai là người lưu giữ tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian, chưa có quy định về mối quan hệ giữa tác giả của tác phẩm phái sinh từ tác phẩm gốc là tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian với người lưu giữ tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian (nếu xác định được) trong luật này không đề cập đến cộng đồng, nghệ nhân, người sưu tầm là những chủ sở hữu quyền tác giả, chỉ đề cập đến các chủ sở hữu quyền tác giả và quyền liên quan khác

Kế đó, Điều 37 quy định: “Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả bao gồm tổ chức, cá nhân có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả gồm người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm và chủ sở hữu quyền tác giả quy định tại tại các Điều 37 đến Điều 42 của Luật này” Điều 36 quy định: “Chủ sở hữu quyền tác giả là tổ chức cá nhân nắm giữ một, một số hoặc toàn bộ các quyền tài sản quy định tại Điều 20 của luật này” Sự tiến bộ trong hệ thống pháp luật Việt Nam về quyền sở hữu trí tuệ nói chung, đối với tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian nói riêng quan trọng sau đây:

Khẳng định việc Nhà nước Việt Nam bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực quyền tác giả, chống lại bất cứ hành vi sử dụng các đối tượng sở hữu quyền tác giả

mà không được phép của chủ sở hữu đối tượng đó Các quy định của luật pháp Việt Nam về quyền sở hữu trí tuệ nói chung và đối với tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian nói riêng dần dần phù hợp theo pháp luật quốc tế về quyền sở hữu trí tuệ để Việt Nam từng bước tham gia các công ước và hiệp ước quốc tế, nhất là về các khía cạnh của quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại (TRIPs) Ngoài ra, việc quy định các vấn đề liên quan đến văn hóa nghệ thuật dân gian còn tạo điều kiện cho

162 Quốc Hội (2009), Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi bổ sung năm 2009

Trang 8

việc lưu giữ và phát triển văn học nghệ thuật dân gian, tránh việc bị mai một và có nguy cơ mất đi các tác phẩm văn học dân gian ảnh hưởng đến quyền tiếp cận văn hóa của con người nói chung163

Đặc biệt, việc Nhà nước có biện pháp bảo hộ, duy trì và giữ gìn các giá trị nhân văn thể hiện trong các tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian là cần thiết, là một trong những giải pháp nhằm bảo vệ và giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc Tuy nhiên không thể bảo hộ theo quy định chung về quyền tác giả, vì chúng là di sản văn hóa của cộng đồng và tác giả của nó là nhân dân Nó là kết quả lao động trí tuệ sáng tạo của nhiều thế hệ nhân dân và thể hiện bản sắc riêng của cộng đồng dân tộc Khi chưa có Luật sở hữu trí tuệ, các tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian không thuộc tác phẩm được bảo hộ theo các tiêu chí của pháp luật về quyền tác giả, đây là một bước tiến bộ quan trọng trong pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ ở việt nam

Kinh tế thị trường có xu hướng đặt lợi ích kinh tế lên hàng đầu và quá trình toàn cầu hóa kinh tế đang đặt ra những thách thức đối với việc đảm bảo quyền tiếp cận văn hóa của những cộng đồng người và các quốc gia đang phát triển Vấn đề bản quyền tác giả, quyền sở hữu trí tuệ và việc thực thi những chính sách bảo hộ ngặt nghèo một mặt là cơ sở để bảo vệ lợi ích kinh tế và thúc đảy quá trình sáng tạo

và sản xuất, nhưng mặt khác nó có những tác động tiêu cực đến mức độ thụ hưởng giá trị văn hóa và thành tựu khoa học - kỹ thuật thế giới của những quốc gia đang phát triển cũng như những nhóm người có thu nhập thấp, người nghèo và những nhóm dễ bị tổn thương khác Là một quốc gia thành viên của WTO, Việt Nam cũng phải tuân thủ những nguyên tắc và quy định của tổ chức này và của pháp luật quốc

tế nói chung, trong đó chịu sự ràng buộc pháp lý chặt chẽ của TRIPS (Hiệp định về các quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại) Quyền tiếp cận văn hóa chỉ ra nghĩa vụ của Nhà nước phải đảm bảo quyền này cho mọi cá nhân và các cộng đồng người, đồng thời, nhà nước chỉ ra khả năng có thể tiếp cận được các giá trị và đời sống văn hóa trong điều kiện có thể chi trả được hoàn toàn miễn phí dựa trên các nguyên tắc như đã nêu Đáng tiếc, trong thực tế các sản phẩm văn hóa nói riêng và mọi hoạt động của đời sống văn hóa nói chung không dễ dàng đến được với tất cả mọi người vì những rào cản về thể chế (như khung khổ pháp luật, chính sách) cũng như khả năng thực thi và nhận thức của người dân trên thực tế (như điều kiện vật chất cần thiết, trình độ năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý và thực thi…)164

163 Vũ Phương Lan (2006), Bảo hộ quyền tác giả với tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian theo pháp luật Việt Nam – Một số bất cập về lý luận và giải pháp, Tạp chí luật học số 11/2006

164 United Nations (1999), Challenge is to find solutions to economic, social, cultural and political problems, foreign minister of senegal tells human rights commission, at:

https://www.un.org/press/en/1999/19990412.hrcn907.html

Trang 9

3 Các khuyến nghị

Trên thực tế, vấn đề quyền tiếp cận văn hóa được thể hiện trong nhiều lĩnh vực của đời sống, vì vậy, hệ thống thể chế hiện hành còn bộc lộ một số hạn chế như: bảo đảm quyền thực hành lối sống văn hóa, mặc dù luật di sản văn hóa có quy định nhà nước và xã hội bảo vệ, phát huy những thuần phong mỹ tục trong lối sống, nếp sống của dân tộc,… Các vấn đề liên quan đến sở hữu trí tuệ, trong đó có hai vấn đề cốt lõi ảnh hưởng đến quyền văn hóa của công dân là nguyên tắc sử dụng hợp lý và các quy định pháp luật có liên quan bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ với các tác phẩm văn hóa nghệ thuật dân gian dù đã được quy định trong pháp luật, tuy nhiên việc phổ biến nhận thức về quyền tiếp cận văn hóa của cá nhân thông qua các nguyên tắc trên không được triển khai mạnh mẽ trên thực tiễn để các cá nhân có thể ý thức về quyền mà họ có quyền được hưởng Nhìn chung, quyền tiếp cận văn hóa ở Việt Nam chưa thực sự có đủ sự gắn chặt quyền tiếp cận các giá trị văn hóa trong mối quan hệ với tổng thể quyền con người, cũng như chưa có được các biện pháp đảm bảo một cách hệ thống và đa chiều đáp ứng với đời sống thực tiễn Công tác quản lý nhà nước về văn hóa hiện còn nhiều bất cập do hạn chế ngay từ nội dung các văn bản pháp luật, chưa rõ ràng, thống nhất, chưa có các điều khoản có tính dự báo và phạm vi có thể bao sân được những hiện tượng văn hóa xã hội mới xuất hiện; đó là chưa kể một số quy định đặt ra nhưng không gắn liền với các biện pháp đảm bảo thực hiện, các chế tài áp dụng chưa phù hợp Những tồn tại trên đòi hỏi cần phải tìm

ra các giải pháp để hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận các giá trị văn hóa

Có thể nói, việc xây dựng và phát triển văn hóa mới tiến hành chủ yếu trong lĩnh vực hoạt động của văn hóa, chưa gắn kết chặt chẽ, chưa xuất phát được từ trong kinh tế và chính trị, cũng chưa có được các giải pháp giám sát, điều chỉnh cần thiết, hữu ích, kịp thời nên hiệu quả đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất là lĩnh vực

tư tưởng, đạo đức, lối sống còn chưa cao Với vai trò điều hành và quản lý vĩ mô, nhà nước cần có những chính sách về sở hữu trí tuệ phù hợp, thích ứng kịp thời theo nhu cầu phát triển của xã hội, tạo điều kiện để người dân có thể biết các quyền của mình nhằm tiếp cận thụ hưởng các giá trị văn hóa Thể chế về hưởng thụ văn hóa phải xuất phát từ nhu cầu văn hóa thực tiễn và tiến bộ, công bằng xã hội, đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững, ổn định xã hội và hướng tới giữ vững quyền tiếp cận văn hóa

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Chính phủ (2006), Nghị định 100/2006/NĐ-CP hướng dẫn bộ luật dân sự, luật

sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan

2 Đỗ Thị Minh Thủy (2018), Vấn đề cân bằng lợi ích trong bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ - từ lý luận đến thực tiễn giải quyết tranh chấp tại tổ chức thương mại thế giới, Bộ Khoa học và Công nghệ, truy cập tại: https://most.gov.vn/thanhtra/tin- tuc/4/466/van-de-can-bang-loi-ich-trong-bao-ho-quyen-so-huu-tri-tue -tu-ly-luan-den-thuc-tien-giai-quyet-tranh-chap-tai-to-chuc-thuong-mai-the-gioi.aspx

Trang 10

3 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tập 3, trang 431

4 Huỳnh Ngọc Thu (2015), Văn hóa là gì?, Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn - Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, truy cập tại:

http://nhanhoc.hcmussh.edu.vn/?ArticleId=e1f687b2-14d1-417b-b0cf-8956e0aa5632

5 Lê Nết (2012), Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ, Trường Đại học Luật Thành phố

Hồ Chí Minh

6 Quốc Hội (2009), Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi bổ sung năm 2009

7 Quốc Hội (2013), Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013

8 The Geneva Academy (2018), Economic, Social And Cultural Rights And Sustainable Development Goals, at:

https://www.geneva-academy.ch/joomlatools-files/docman-files/Research%20Brief%20Economic,%20Social%20and%20Cultural%20Rig hts%20and%20SDGs.pdf

9 United Nations (1948), Universal Declaration of Human Rights (UDHR), at: https://www.un.org/en/udhrbook/pdf/udhr_booklet_en_web.pdf

10 United Nations (1966), International Covenant on Economic, Social and

Cultural Rights, at:

https://www.ohchr.org/documents/professionalinterest/cescr.pdf

11 United Nations (1989), Recommendation on the Safeguarding of Traditional Culture and Folklore, at:

http://portal.unesco.org/en/ev.php-URL_ID=13141&URL_DO=DO_TOPIC&URL_SECTION=201.html

12 United Nations (1999), Challenge is to find solutions to economic, social, cultural and political problems, foreign minister of senegal tells human rights commission, at: https://www.un.org/press/en/1999/19990412.hrcn907.html

dân gian theo pháp luật Việt Nam – Một số bất cập về lý luận và giải pháp, Tạp chí luật học số 11/2006

Ngày đăng: 04/02/2021, 07:38

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w