Công ty Đa quốc gia
Trang 1CÁCH THỨC THÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG CỦA CÔNG TY ĐA QUỐC GIA
I Tổng quan về công ty đa quốc gia
1 Khái niệm công ty đa quốc gia
Công ty đa quốc gia, thường viết tắt là MNC hay MNE, là khái niệm để chỉ các công tysản xuất hay cung cấp dịch vụ ở ít nhất hai quốc gia Công ty đa quốc gia có thể có ảnhhưởng lớn đến các mối quan hệ quốc tế và đóng một vai trò quan trọng trong quá trìnhtoàn cầu hóa
2 Bản chất MNC
Bản chất của MNCs là sự tập trung tư bản rất cao trong tay một số công ty có tư cáchpháp nhân hoạt động ở nhiều quốc gia nhằm chi phối nền kinh tế toàn cầu bằng cách luônsản xuất ra khối lượng hàng hoá và dịch vụ ngày càng lớn với công nghệ công nghệ và kỹthuật mới để thu lợi nhuận độc quyền
3 Vai trò của MNCs
Với mạng lưới phân phối rộng, tiềm lực tài chính, khoa học công nghệ mạnh…MNCs đã
có vai trò to lớn đến sự phát triển kinh tế thế giới nói chung và các nền kinh tế nói riêng.Vai trò đó được thể hiện qua các hoạt động thúc đẩy thương mại, đầu tư, phát triển nguồnnhân lực và chuyển giao công nghệ trên phạm vi thế giới
a Công ty đa quốc gia thúc đẩy thương mại thế giới phát triển
Tăng cường lưu thông hàng hoá và dịch vụ quốc tế
Góp phần làm tăng kim ngạch xuất khẩu của các nước
Trang 2b Thúc đẩy hoạt động đầu tư quốc tế
Trên thực tế, hầu hết các hoạt động đầu tư nước ngoài được thực hiện qua kênh MNCs.Theo ước tính của UNCTAD, ngày nay đầu tư của MNCs chiếm đến 90% lượng FDI củathế giới (tương đương 720 tỷ USD năm 2004 , 859 tỷ USD năm 2005, 1098 tỷ USD năm2006)
c Tác động tích cực đến quá trình tích luỹ vốn của nước chủ nhà
Thông qua nhiều cách thức huy động vốn từ các nguồn: vốn tự có, vốn đi vay, vốn huyđộng từ nền kinh tế nước chủ nhà, thị trường tài chính thế giới và thông qua các tổ chứctiền tệ quốc tế (WB, IMF), MNCs thể hiện vai trò lực lượng nòng cốt trong quá trình tíchluỹ vốn phục vụ phát triển kinh tế của các nước chủ nhà
d Góp phần phát triển và chuyển giao công nghệ
MNCs là chủ thể chính trong phát triển công nghệ trên thế giới Nắm giữ hơn 80% sốbằng phát minh sáng chế, với năng lực tài chính và khoa học mạnh, MNCs luôn dùngvốn, công nghệ mới…để giảm thiểu chi phí, chuyển giao những công nghệ cũ, với chi phícao sang các nước đang phát triển Nhưng với các nước đang phát triển, những công nghệnày vẫn là cần thiết trong quá trình thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế, thực hiệnCNH,HĐH
e Góp phần tạo việc làm, thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực
Tạo khối lượng việc làm khổng lồ: Với hệ thống sản xuất, kinh doanh khổng lồ, MNCs
có nhu cầu nhân lực rất lớn Với chiến lược kinh doanh tại mỗi thị trường, MNCs có ảnhhưởng khác nhau đến khối lượng công việc tạo ra ở mỗi nước
Thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực thông qua đào tạo: Với nhu cầu sử dụng lao độngchất lượng cao, MNCs đã thúc đẩy người lao động không ngừng phấn đấu học tập, tựnâng cao trình độ tay nghề, qua đó đã góp phần thúc đẩy và nâng cao chất lượng nguồnnhân lực làm việc cho MNCs nói riêng và lực lượng lao động xã hội nói chung
Trang 3II Quyết định thâm nhập thị trường
1 Động cơ gia nhập thị trường của MNCs
Hoạt động thâm nhập thị trường được coi là một nội dung trong hoạt động marketingquốc tế Thông thường, MNC mong muốn tham gia một thị trường quốc tế nào đó bởimột số lý do sau đây:
Lý do đầu tiên chính là việc bảo vệ cho chính doanh nghiệp đó trước những rủi ro và sự
không ổn định của của chu kỳ kinh doanh trong nước Bằng cách thiết lập các cơ sở kinhdoanh ở hải ngoại, họ có thể tránh được những rủi ro khi chỉ kinh doanh ở một thị trường,đây chính là hình thức đa dạng hóa hoạt động kinh doanh
Lý do thứ hai chính là việc nắm bắt và chinh phục các thị trường đang tăng trưởng trên
thế giới Đây chính là một bộ phận của quá trình toàn cầu hóa Rất nhiều MNC hiện nayđang chọn Hoa Kỳ là một thị trường mục tiêu bởi dân số của quốc gia này thì đông vàquan trọng hơn nữa là thu nhập bình quân đầu người của họ là rất cao Cũng với một lý
do tương tự như vậy, các MNC của Hoa Kỳ thì nhắm vào thị trường của EC và Châu Ánhư là một thị trường mục tiêu kể từ những năm 1990, đặc biệt là thị trường Nhật Bản,một thị trường lớn và có nhu cầu đa dạng
Lý do thứ ba chính là việc phản ứng trước những áp lực cạnh tranh ngày càng gia tăng từ
những đối thủ cạnh tranh bên ngoài và bảo vệ thị phần của mình trên thị trường thế giới
Sử dụng chiến lược “theo đuổi các đối thủ cạnh tranh”, MNCs sẽ thiết lập các chi nhánhcủa mình tại quê hương của đối thủ cạnh tranh Cách tiếp cận này nhằm hai mục đích: (i)Giành lấy thị phần từ đối thủ cạnh tranh; (ii) Cảnh báo cho đối thủ cạnh tranh rằng nếu họtấn công MNC tại thị trường nội địa của MNC thì đối thủ cạnh tranh sẽ bị một hành độngtrả đũa tương tự tại quê nhà của chính họ
Lý do thứ tư xuất phát từ động cơ muốn giảm chi phí Bằng cách đặt những cơ sở kinh
doanh gần với khách hàng, MNC có thể giảm chi phí vận chuyển, tránh được những chiphí phát sinh cho những kênh phân phối trung gian, đáp ứng được những thay đổi về thịhiếu của khách hàng, và cuối cùng là việc sử dụng được những nguồn lực rẻ tiền tại địaphương
Lý do thứ năm xuất phát từ mục tiêu vượt qua rào cản thuế quan Thị trường của EC là
một ví dụ rất tốt cho lý do nay Thật vậy, các công ty không hoạt động sản xuất tại EC
Trang 4luôn là một đối tượng chịu thuế cao và một hạn ngạch nhập khẩu nghiêm ngặt nhưng nếucông ty này hoạt động sản xuất kinh doanh trực tiếp tại EC thì nó có thể vận chuyển hànghóa dễ dàng sang các nước khác thuộc EC mà không vấp phải một rào cản nào Tình hìnhtương tự như vậy tại thị trường Bắc Mỹ với khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (gồm Hoa
Kỳ, Canada, và Mexico)
Lý do thứ sáu khiến một công ty mong muốn trở thành MNC xuất phát từ việc muốn nắm
lấy lợi thế về phương diện kỹ thuật và công nghệ bằng cách sản xuất hàng hóa một cáchtrực tiếp ở nước ngoài thay vì cho phép người khác làm việc đó thông qua việc cho thuêbản quyền về công nghệ Một thỏa thuận cho thuê bản quyền là một dạng hợp đồng mà ở
đó người cho thuê sẽ cho phép người đi thuê được sử dụng bản quyền về nhãn hiệu, phátminh, hoặc công nghệ để sản xuất và họ sẽ thu một lệ phí đối với người đi thuê Khoảnlệphí nay là một khoản thu cố định, hoặc một khoản thu tính theo một tỷ lệ phần trăm sovới doanh thu phát sinh và có thể kéo dài trong một thời gian thông thường từ 5 - 7 năm,sau thời gian đó hợp đồng cho thuê có thể được xem xét để kéo dài thêm Mặt dù ích lợicủa hình thức cho thuê bản quyền thì rất rõ ràng, nhưng trong thời gian gần đây, cácMNC nhận thấy rằng việc cho thuê này có thể gây một nguy cơ lớn đó là việc tạo ra cácđối thủ cạnh tranh tiềm năng
Trước khi tham gia thị trường nước ngoài, MNC cần cân nhắc những một số rủi ro sau:
MNC có thể không hiểu thị hiếu khách hàng nên không đưa ra được những sảnphẩm, dịch vụ có lợi thế cạnh tranh
MNC có thể không hiểu được nền văn hóa kinh doanh bản địa hoặc bí quyết nào
đó để có thể giao dịch một cách hiệu quả với người bản địa
MNC có thể không lượng trước đầy đủ các quy định luật pháp và các chi phí cóthể phát sinh ngoài sự mong đợi
MNC có thể không có người quản lý có kinh nghiệm quốc tế hoặc miễn cưỡng khiđược cử đi làm việc tại nước ngoài
Quốc gia đó có sự thay đổi luật pháp kinh doanh, giảm giá đồng tiền hoặc đang có nhữngthay đổi chính trị hoặc có sự công hữu tài sản
Trang 54 Lựa chọn thị trường
a Đánh giá thị trường nước ngoài
Các MNC có thể thực hiện các bước sau để tiến hành đánh giá và lựa chọn thị trườngmục tiêu: (1) Phân loại thị trường, (2) Xác định các chỉ tiêu và tầm quan trọng của từngchỉ tiêu đối với các quốc gia, (3) Tiến hành thu thập thông tin, (4) Đánh giá, cho điểm vàsắp xếp theo thứ tự ưu tiên các quốc gia đó
Một số chỉ tiêu để đánh giá mức độ hấp dẫn của thị trường nước ngoài:
Môi trường vĩ mô và chính sách của nhà nước Rủi ro kinh tế, chính trị
Quy mô và kết cấu thị trường
GND & GDP trên đầu người
Hành vi và phương thức trả nợNhững yếu tố về xã hội
Những đe dọa về chính trị thế giới
Định chế về thương mại và môi trường đầu tư Điều kiện về thị trường của nhân tố SX
Thuế nhập khẩu
Hàng rào phi thuế quan
Tiêu chuẩn chất lượng
Ưu đãi về tài chính
Chính sách bảo hộ hang nội địa
Các quy định về ngành nghề và lĩnh vực
Sự sẵn có của nguồn nhân lựcChi phí nhân công
Năng suất lao động
Sự sẵn có của nguyên vật liệuCông nghệ
Cơ sở hạ tầng kinh tế Yếu tố về vật chất và VH-XH
Sự sẵn có của đối tác tốt
Sự sẵn có của nhà cung ứng hang hóa
Sự sẵn có của đối tượng tiêu thụ
Sự khuyến khích cạnh tranh của nhà nước
Phân bố về địa lý khu vựcKhí hậu
Vận chuyển nội địa/quốc tếCác yếu tố văn hóa
f Đánh giá nội lực của MNC
Tiềm lực của các MNC là nhận tố chủ quan nói lên khả năng và điều kiện của doanhnghiệp trong tiến trình thâm nhập thị trường Tiềm lực của các MNC được thể hiện quacác yếu tố cơ bản sau đây:
Khả năng tài chính của DN
Cơ cấu tổ chức
Nguồn nhân lực
Trang 6 Trình độ marketing: kinh nghiệm & mức độ thông thạo của DN trong nghiệp vụbán hàng & hoạt động kinh doanh quốc tế
III Cách thức thâm nhập thị trường
1 Xuất khẩu
Xuất khẩu được biết đến như là phương thức đơn giản nhất để thâm nhập thị trườngnước ngoài, thường được sử dụng ở các quốc gia đang phát triển Ngoài ra, các công ty đaquốc gia lớn cũng thường dùng phương thức xuất khẩu để gia tăng mức tiêu thụ sảnphẩm trên thị trường quốc tế Chẳng hạn một số doanh nghiệp xuất khẩu hàng đầu của
Mỹ như các nhà sản xuất máy bay như Boeing hay Lockheed đều là những tập đoàn đaquốc gia lớn
a Ý nghĩa của hình thức xuất khẩu
Sẽ tạo nguồn vốn quan trọng thỏa mãn nhu cầu nhập khẩu và tích lũy phát triển sản xuấttrong nước như: tư liệu sản xuất phục vụ ngành công nghiệp hóa đất nước Đó thể hiện rõmối quan hệ giữa nhập khẩu và xuất khẩu, vừa là kết quả và tiền đề của nhau, đẩy mạnhxuất khẩu để mở rộng và tăng khả năng sản xuất
Đẩy mạnh xuất khẩu là yếu tố kích thích tăng trưởng nền kinh tế quốc gia Vì việc đẩymạnh này cho phép mở rộng quy mô sản xuất, nhiều ngành nghề mới ra đời phục vụ choxuất khẩu Chẳng hạn phát triển xuất khẩu gạo không những tạo điều kiện cho ngành
Trang 7trồng lúa mở rộng diện tích, tăng vụ để tăng sản lượng xuất khẩu, mà còn thúc đẩy pháttriển các ngành khác như: dệt bao pp đựng gạo, phát triển các ngành xay xát, ngành chănnuôi.
Kích thích các doanh nghiệp trong nước đổi mới trang thiết bị và công nghệ sản xuất Đểđáp ứng những yêu cầu cao của thị trường thế giới về quy cách chủng loại sản phẩm đòihỏi một mặt sản xuất phải thay đổi trang thiết bị công nghệ, mặt khác người lao độngphải nâng cao tay nghề, học hỏi kinh nghiệm sản xuất tiên tiến, có vậy, sản phẩm mới ổnđịnh
Góp phần tích cực để nâng cao mức sống của nhân dân Tăng cường sức hợp tác quốc tếgiữa các nước nâng cao vai trò vị trí của nước xuất khẩu trên thị trường khu vực và quốctế
g Các hình thức xuất khẩu
Có hai hình thức xuất khẩu chủ yếu: xuất khẩu trực tiếp và xuất khẩu gián tiếp
i Xuất khẩu trực tiếp
Trong phương thức này, đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp ký kết hợp đồngngoại thương, với tư cách là một bên phải tổ chức thực hiện hợp đồng đó Hợp đồng kýkết giữa hai bên phải phù hợp với luật lệ quốc gia và quốc tế, đồng thời bảo đảm được lợiích quốc gia và đảm bảo uy tín kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 8Để thực hiện hợp đồng xuất khẩu, đơn vị kinh doanh phải tiến hành các khâu công việc:Giục mở L/C và kiểm tra luận chứng (nếu hợp đồng quy định sử dụng phương pháp tíndụng chứng từ), xin giấy phép xuất khẩu, chuẩn bị hàng hoá làm thủ tục hải quan, giaohàng lên tàu, mua bảo hiểm, làm thủ tục thanh toán và giải quyết khiếu nại (nếu có).Doanh nghiệp tiến hành xuất khẩu trực tiếp khi có quy mô sản xuất lớn, được cấp phépxuất khẩu trực tiếp, thương hiệu sản phẩm được biết đến trên thị trường quốc tế.
Điểm mạnh cơ bản nhất của xuất khẩu trực tiếp là khả năng tăng lợi nhuận, chủ độngtham gia vào quá trình phân phối, thiết lập được những mối liên hệ trực tiếp với kháchhàng và thị trường, do đó nắm bắt được những biến động và thích ứng Tuy nhiên, các rủi
ro cũng nhiều hơn và có thể đòi hỏi đầu tư lớn hơn Mặt khác, còn có hạn chế rào cản màcác quốc gia áp dụng đối với nhập khẩu Phải có năng lực sản xuất kinh doanh đủ mạnh,phải có uy tín và đòi hỏi phải có lượng vốn lớn Xuất khẩu trực tiếp thường được coi làthích hợp đối với các doanh nghiệp có quy mô nhỏ theo đuổi mục tiêu chiếm lĩnh thịtrường nước ngoài
ii Xuất khẩu gián tiếp
Xuất khẩu gián tiếp thông qua dịch vụ của các tổ chức độc lập để tiến hành giới thiệu,bán sản phẩm ra quốc tế Xuất khẩu gián tiếp có một ưu điểm cơ bản là đầu tư ít và hạnchế được các rủi ro trên thị trường nước ngoài còn mới mẻ nhờ chuyển rủi ro cho các nhàxuất khẩu trung gian Tuy nhiên, lợi nhuận sẽ bị hạn chế và rất ít liên hệ trực tiếp với thịtrường nước ngoài, hạn chế khả năng thích ứng với các biến động Sự thành công hay thấtbại của sản phẩm phụ thuộc nhiều vào khả năng của bên trung gian Xuất khẩu gián tiếpthường sử dụng để thăm dò khách hàng quốc tế hoặc quy mô thị trường nước ngoài đốivới sản phẩm tương đối nhỏ
Xuất khẩu gián tiếp có các hình thức chủ yếu: ủy thác xuất khẩu, qua các công ty quản lýxuất khẩu, khách hàng nước ngoài, qua môi giới xuất khẩu, hãng buôn xuất khẩu
Qua ủy thác xuất khẩu (exporting commission house)
Những người hoặc tổ chức ủy thác thường là đại diện cho những người mua nước ngoài
cư trú trong nước của nhà xuất khẩu Nhà ủy thác xuất khẩu hành động vì lợi ích củangười mua mà người mua trả tiền ủy thác Khi hàng hóa chuẩn bị được đặt mua, nhà ủythác lập phiếu đặt hàng với nhà sản xuất được chọn và họ sẽ quan tâm đến mọi chi tiết cóliên quan đến quá trình xuất khẩu
Trang 9Bán hàng cho các nhà ủy thác là một phương thức thuận lợi cho xuất khẩu việc thanhtoán thường được bảo đảm nhanh chóng cho người sản xuất và những vấn đề về vậnchuyển hàng hóa hoàn toàn do các nhà được ủy thác xuất khẩu chịu trách nhiệm.
Qua các công ty quản lý xuất khẩu (EMC)
Công ty quản lý xuất khẩu là công ty quản trị xuất khẩu cho công ty khác Các nhà xuấtkhẩu nhỏ thường thiếu kinh nghiệm bán hàng ra nước ngoài hoặc không đủ khả năng vềvốn để tổ chức bộ máy xuất khẩu riêng Do đó, họ thường phải thông qua EMC để xuấtkhẩu sản phẩm của mình
Các EMC không buôn bán trên danh nghĩa của mình Tất cả các đơn chào hàng, hợp đồngchuyên chở hàng hóa, lập hóa đơn và thu tiền hàng đều thực hiện với danh nghĩa chủhàng
Thông thường, chính sách giá cả, các điều kiện hàng, quảng cáo, là do chủ hàng quyếtđịnh Các EMC chỉ giữ vai trò cố vấn, thực hiện các dịch vụ liên quan đến xuất khẩu vàkhi thực hiện các dịch vụ trên EMC sẽ được thanh toán bằng hoa hồng
Một khuynh hướng mới của EMC hiện nay, đặc biệt là những công ty có quy mô lớn làthường mua hàng trực tiếp từ nhà sản xuất và mang bán trên thị trường nước ngoài đểkiếm lời
Nói chung, khi sử dụng EMC, vì các nhà sản xuất hàng xuất khẩu ít có quan hệ trực tiếpvới thị trường nên sự thành công hay thất bại của công tác xuất khẩu phụ thuộc rất nhiềuvào chất lượng dịch vụ EMC mà nhà xuất khẩu lựa chọn
Khách hàng ngoại kiều (Foreign buyer)
Đây là phương thức xuất khẩu thông qua nhân viên của các công ty nhập khẩu nướcngoài Họ là những người có hiểu biết vè điều kiện cạnh tranh trên thị trường thế giới.Khi thực hiện phương thức này, các doanh nghiệp xuất khẩu cũng cần phải tìm hiểu kĩkhách hàng để thiết lập mối quan hệ làm ăn bền vững với thị trường nước ngoài
Qua môi giới xuất khẩu (exporting broker)
Mô giới xuất khẩu thực hiện chức năng liên kết giữa nhà xuất khẩu và nhập khẩu người
mô giới được nhà xuất khẩu ủy nhiệm và trả hoa hồng cho hoạt động của họ Người môgiới thường xuyên sâu vào một mặt hàng hay nhóm mặt hàng nhất định
Qua các hãng buôn xuất khẩu (exporting merchant)
Trang 10Hãng buôn xuất khẩu thường đóng tại nước xuất khẩu và mua hàng của người chế biếnhoặc nhà sản xuất và sau đó họ tiếp tục thực hiện các nghiệp vụ để xuất khẩu và chịu rủi
ro liên quan đến xuất khẩu như vậy, các nhà sản xuất thông qua các hãng buôn xuât khẩu
Chi phí thâm nhập thị trường thị trường thấp vì doanh nghiệp không cần thực hiện các dự
án đầu tư hay phải duy trì một đại lý ở thị trường mục tiêu Nhờ đó, doanh nghiệp có thể
sử dụng hình thức xuất khẩu để kiểm nghiệm thị trường mới trước khi tập trung nhiềunguồn lực hơn vào thị trường đó thông qua FDI
Phát triển khả năng và kĩ năng của các nhà phân phối nước ngoài, mở rộng quan hệ vớicác đối tác nước ngoài
Với đặc trưng là tốn ít chi phí đầu tư và rủi ro thấp, xuất khẩu thực sự rất phù hợp với cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ Ví dụ các công ty sản xuất rượu vang có quy mô nhỏ ởCalifornia (Mỹ) đã tiến hành xuất khẩu khoảng 20% sản lượng của mình Theo thống kê,tổng giá trị xuất khẩu rượu của Hoa Kỳ đạt khoảng 1 tỷ USD mỗi năm và có xu hướngtăng nhanh Cách tiếp cận thị trường mà các công ty này đã thành công là Hợp tácthương hiệu Theo đó, các loại rươu có chất lượng tương tự sẽ được đóng gói cùng mộtkiện và bán cho khách hàng nước ngoài
ii Nhược điểm
Xuất khẩu với chi phí vận chuyển cao làm cho sản phẩm không kinh tế, đặc biệt là sảnphẩm khối lượng lớn chiến lược này cho công ty thấy được tính kinh tế từ quy mô và chiphí vận chuyển
Khác với các phương thức khác, do không có bất kì đại diện nào ở nước ngoài nên doanhnghiệp không có cơ hội tiếp xúc, tham khảo khách hàng học hỏi từ đối thủ cạnh tranh vànhận biết các đặc điểm riêng biệt của thị trường
So với các phương thức khác, mức độ nhạy cảm của doanh nghiệp xuất khẩu với thuếquan và các rào cản thương mại khác cũng như đối với những biến động trong tỷ giá hối
Trang 11đoái thì lớn hơn Ví dụ, năm 2005, đồng USD định giá cao hơn 12% so với đồng Euro và15% so với đồng Yên Nhật Điều này làm sụt giảm các hoạt động xuất khẩu, ảnh hưởnglớn đến hoạt động các công ty đa quốc gia.
Xuất hiện khi công ty giao hoạt động marketing cho các đại lý ở địa phương Trường hợpđại lý không thực hiện tốt như công ty chính làm, và đơn giản để giải quyết vấn đề này làxây một cơ sở ngay tại nước mà công ty nhắm đến
5 Dự án trao tay
Dự án trao tay được định nghĩa là một loại hợp đồng, theo đó các công ty xây dựng cónghĩa vụ phải hoàn thành dự án theo các tiêu chí được xác định trước với một mức giá cốđịnh tại thời điểm hợp đồng được ký kết Trong hợp đồng dự án trao tay, các nhà thầuđược giao phó để thiết kế, xây dựng, hoa hồng và bàn giao dự án cho chủ nhân Sử dụnglao động sẽ thực hiện thanh toán một lần cho nhà thầu ở các giai đoạn khác nhau củacông việc theo thỏa thuận Loại hợp đồng này khi làm việc phải được hoàn thành tại mộtthời gian rất ngắn Ở đây toàn bộ rủi ro là do các nhà thầu Phương thức này thích hợpcho một số ngành công nghiệp như : hóa chất, dược phẩm, lọc dầu và luyện kim, nhưngngành cần công nghệ phức tạp và mắc tiền Một số cách thâm nhập hay hợp đồng gắn liền
với dự án trao tay như: sản xuất theo hợp đồng, hoạt động lắp ráp, hợp đồng quản trị
a Sản xuất theo hợp đồng (contract Manufacturing)
Sản xuất theo hợp đồng là sự hợp tác hoặc chế tạo hoặc lắp ráp sản phẩm do nhà sản xuấtthực hiện ở thị trường nước ngoài (gia công) Hình thức này cho phép doanh nghiệp thâmnhập ít rủi ro, khai thác mạnh sản phẩm mới ở thị trường mới, tránh một số vấn đề nhưvốn, lao động, hàng rào thuế quan, chi phí thuế và tạo sự ảnh hưởng của nhãn hiệu, chiphí thấp
Các công ty với quy mô lớn đặc biệt là các công ty đa quốc gia nổi tiếng trên thế giớicũng rất ưa chuộng phương thức sản xuất theo hợp đồng này
VD: Công ty Apple: Các sản phẩm Iphone hay Ipad do họ bán ra không phải do họ trực
tiếp sản xuất mà là do Foxconn, một công ty của Đài Loan Công việc chính của Apple làtập trung vào nghiên cứu thiết kế, cải tiến sản phẩm và lên chương trình cho việcmarketing Còn Foxconn là nhà sản xuất đối tác của Apple với nhiệm vụ duy nhất là làm
Trang 12ra các sản phẩm điện thoại, máy tính bảng dựa trên những thiết kế được nghiên cứu bởiApple Một loạt các công ty lớn khác trên thế giới như Microsoft, Hewlett-Packard,Nokia cũng liên kết với các nhà sản xuất khác nhau ở nhiều quốc gia khác nhau Việc lựachọn hình thức sản xuất này của họ cũng là nhắm vào các lợi ích như tiết kiệm chi phíđầu tư cơ sở vật chất, có thời gian tập trung vào chuyên môn chính như công đoạn nghiêncứu và thiết kế sản phẩm…
i Hợp đồng lắp ráp (Assembly operations)
Hoạt đồng lắp ráp thể hiện sự kết hợp giữa xuất khẩu và sản xuất ở nước ngoài Muốn cónhững thuận lợi trong sản xuất ở nước ngoài, một số doanh nghiệp có thể lập cơ sở hoạtđộng lắp ráp ở nước ngoài Trong trường hợp này, các doanh nghiệp chỉ xuất khẩu cáclinh kiện rời ra nước ngoài, những linh kiện đó sẽ được lắp ráp để thành một sản phẩmhoàn chỉnh Bằng cách xuất khẩu các linh kiện rời có thể tiết kiệm các khoản chi phí vềchuyển chở và bảo hiểm Hoạt động lắp ráp cũng có thể tận dụng với tiền lương thấp, từ
đó cho phép giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm
VD: Hiện tại, xe Chery (Hãng xe của trung Quốc) được lắp ráp và phân phối tại Việt
Nam thông qua Liên doanh ô tô Hòa Bình (VMC), với hai mẫu: QQ3 và Riich M1, chủyếu nhắm vào đối tượng khách hàng là các công ty kinh doanh vận tải hành khách (taxi).Toàn bộ linh kiện được sản xuất ở tại trung quốc, được xuất khẩu vào Việt Nam để lắpráp ra sản phẩm cuối cùng
j Hợp đồng quản trị (Management Contracting)
Trong phương thức này công ty nội địa cung cấp bí quyết quản trị cho một công ty nướcngoài dưới dạng xuất khẩu dịch vụ quản trị, chứ không phải xuất khẩu sản phẩm
Trong một hợp đồng quản lý, bên thực hiện hợp đồng sẽ cung cấp các bí quyết quản lý đểđiều hành một khách sạn, khu nghỉ dưỡng, bệnh viện, sân bay hay các cơ sở khác nhằmđổi lấy một khoản tiền bù lại Trái với cấp phép hay nhượng quyền, các hợp đồng quản lýđòi hỏi doanh nghiệp chủ phải có các bí quyết kinh doanh đặc biệt cũng như vận hànhmột cơ sở thực sự Người thực hiện hợp đồng phải cung cấp các kinh nghiệm chuyênmôn độc nhất vô nhị của mình để quản lý cơ sở mà không hề sở hữu trên thực tế Thôngqua hợp đồng quản lý, tổ chức là khách hàng nhận được những hỗ trợ trong việ điều hànhcác hoạt động trong nước, trong khi công ty quản lý lại thu được lợi nhuận mà không phải
bỏ ra kinh phí vốn
Trang 13VD: Phần lớn thu nhập của Disney từ cá công viên giải trí tại Pháp và Nhật có nguồn từ
việc hãng này cung cấp các dịch vụ quản lý của mình cho những công viên thuộc sở hữucủa các tổ chức khác
Việc sử dụng hình thức hợp đồng quản lý như một phương thức gia nhập thị trường xuấthiện từ những năm 50 Cả hai tập đoàn Mariott và Four Seasons đề quản lý rất nhiềukhách sạn đắt tiền trên thế giới thông qua hợp đồng quản lý và không hề sở hữu chúng.Hợp đồng quản trị là một hình thức tham gia vào thị trường thế giới vói mức rủi ro thấp
và nó giúp cho công ty tạo ra lợi tức ngay từ buổi đầu đặc biệt hình thức này càng hấpdẫn nếu công ty xuất khẩu dịch vụ quản trị kí hợp đồng được dành lại sự ưu đãi để muamột số cổ phần của công ty được quản trị trong một thời hạn ấn định nào đó
Tóm lại, với những dự án này, bên nhận đồng ý thực hiện mỗi chi tiết của dự án cho
khách hàng nước ngoài, bao gồm cả huấn luyện nhân viên vận hành Một hợp đồng trọngói Khách hàng giữ “chìa khóa vận hành” nhà máy đã sẵn sàng hoạt động Đây Cácphương thức xâm nhập thị trường của các công ty đa quốc gia chính là phương thức xuấtkhấu qui trình công nghệ sang các nước khác đã mang lại nhiều lợi ích cũng như bất lợicho công ty
k Ưu nhược điểm của hợp đồng trao tay
i Ưu điểm
Yêu cầu bí kíp lắp ráp và vận hành quy trình công nghệ phức tạp, như lọc dầu, luyện kim,
là tài sản có giá trị Dự án trao tay là cách tạo thu nhập từ kinh tế lớn từ tài sản chiếnlược này dùng để dùng khi FDI bị giới hạn bởi chính phủ
Chiến lược trao tay ít rủi ro hơn FDI Ở quốc gia có kinh tế chính trị không ổn định đầu
tư dài hạn công ty có thể bị tác động bởi rủi ro này
ii Nhược điểm
Phải đối mặt với sự quan tâm không lâu dài của các công ty nước ngoài Điều này có thểbất lợi nếu quốc gia là một thị trường lớn cho sản phẩm của quy trình mà có thể xuấtkhẩu một cách để tránh là để giữ một tỷ lệ cổ phần nhỏ trong dự án được thực hiện bằng
dự án trao tay này
Công ty mà tham gia vào dự án này có thể tạo ra một đối thủ cạnh tranh
Trang 14Nếu quy trình công nghệ là một lợi thế cạnh tranh, rồi bán những công nghệ này thôngqua dự án trao tay thì cũng bán lợi thế cạnh tranh cho đối thủ cạnh tranh tiềm năng hoặcthực tế.
6 Cấp phép (licence)
Thỏa thuận cấp phép là thỏa thuận theo đó bên cấp phép đồng ý cho bên nhận quyền sửdụng tài sản vô hình (intangible property) trong một thời gian xác định, và bên nhậnchuyển giao phí bản quyền cho bên cấp phép Sở hữu vô hình gồm văn bằng bảo hộ(patent), sáng chế (invention), công thức (Formulas), thiết kế (design), quyền tác giả(copyright) và nhãn hiệu hàng hóa (trademark)
a Đặc trưng
i Bên cấp phép
Bên cấp phép thường phải cung cấp các thông tin kỹ thuật và giúp đỡ cho bên nhận phépnhưng một khi mối quan hệ đã được thiết lập và bên nhận phép đã hoàn toàn thông hiểuvai trò của mình thì vai trò còn lại của bên cấp phép là rất ít hay gần như không có
Bên cấp phép chỉ đóng vai trò tư vấn nhưng không tham gia trực tiếp vào thị trường vàkhông cung cấp bất cứ hướng dẫn mang tính quản lý nào
Nếu bên cấp phép là một công ty đa quốc gia Nó có thể ký kết một thoả thuận cấp phépvới một chi nhánh nước ngoài mà nó sở hữu một phần hay toàn bộ Trong trường hợpnày, cấp phép là một biện pháp hiệu quả để trả phí cho chi nhánh ở nước ngoài và chuyểngiao sở hữu trí tuệ cho bên này trong một khung pháp lý chính thức
Thông thường doanh nghiệp sử dụng hình thức cấp phép này khi chi nhánh ở nước ngoài
là một pháp nhân độc lập, đây là một kịch bản khá phổ biến ở nhiều quốc gia
Các công ty đa quốc gia thường sử dụng cấp phép làm phương pháp đi đầu nhằm bù đắphay chuyển giao sở hữu trí tuệ cho các chi nhánh của mình ở nước ngoài
Một số doanh nghiệp coi cấp phép là một biện pháp hỗ trợ cho các phương thức gia nhậpthị trường khác như xuất khẩu hay đầu tư trực tiếp nước ngoài
Ví dụ: Trong ngành thời trang, các hãng có thương hiệu nổi tiếng như Bill Blass, HugoBoss và Pierre Cardin thường thu được một lượng doanh thu khổng lồ nhờ những thương
vụ cấp phép quần jeans, nước hoa và đồng hồ đeo tay
Trang 15Saks Inc, cửa hàng bách hóa cao cấp nước ngoài đầu tiên tại Trung Quốc đã đặt chân vàonước này bằng cách cho phép một cửa hàng bách hóa chủ chốt ở Thượng Hải được đặttên theo cái tên Saks Fifth Avenue của nó Saks thu được doanh thu từ thỏa thuận cấpphép và kiểm soát những mặt hàng nào được bày bán tại đó, nhưng ngoài ra thì khôngtham gia vào bất cứ một hoạt động nào khác Phương thức cấp phép đã giúp cho SaksFifth Avenue được nhiều người dân Châu Á biết đến hơn mà không cần Saks phải tự mởmột cửa hàng, từ đó giảm thiểu rủi ro.
Nguồn gốc của một số nhãn hiệu nổi tiếng có thể sẽ làm chúng ta phải ngạc nhiên Trongngành công nghiệp thực phẩm, hai cái tên Peter Paul Mounds và Almond Joy vốn thuộc
sở hữu của hãng thực phẩm Anh Cadbury Schweppes và được sản xuất tại Hoa Kỳ thôngqua một thỏa thuận cấp phép với công ty Hershey Food Các nhãn hiệu Planters, Sunkist
và Budweiser đều thuộc quyền sở hữu của các công ty Hoa Kỳ và được bày bán tại Anh,Nhật, Singapore thông qua thỏa thuận cấp phép với các công ty địa phương Hãng Coca-cola ký một thoả thuận cấp phép phân phối nước đóng chai Evian tại Hoa Kỳ nhằm đạidiện cho chủ sở hữu của nhãn hiệu này là Danone của Pháp Trên thực tế, một bản tóm tắtcác báo cáo hàng năm của 120 công ty trong số những công ty thực phẩm đa quốc gia lớnnhất đã cho thấy ít nhất một nửa trong số các công ty này tham gia vào nhiều loại hìnhcấp phép quốc tế
Hầu hết các doanh nghiệp đều ký kết các thỏa thuận độc quyền, theo đó người nhận phépkhông được phép chia sẻ tài sản cấp phép với bất kỳ công ty nào khác trong một phạm viquy định
l Phân loại
Trang 16Có hai dạng thỏa thuận cấp phép: (1) cấp phép thương hiệu và (2) cấp phép bí quyết kinhdoanh.
i Cấp phép thương hiệu
Cấp phép thương hiệu là việc một doanh nghiệp cho phép một doanh nghiệp khác sửdụng tên gọi, chữ viết hay lôgô vốn đã được độc quyền đăng ký trong một khoảng thờigian nhất định nhằm đổi lấy tiền bản quyền
Thương hiệu thường xuất hiện trên những sản phẩm như quần áo, trò chơi, thực phẩm, đồuống, quà tặng, đồ trang trí, đồ chơi và nội thất gia đình
cụ làm vườn Chỉ tinh riêng tại Châu Âu đã có khoảng 1000 công ty nhận phép gấu Pooh
ii Cấp phép bí quyết kinh doanh
Tiếp cận công nghệ là một nguyên tắc quan trọng trong cấp phép Một thoả thuận cấpphép bí quyết kinh doanh là một hợp đồng, trong đó doanh nghiệp chủ cung cấp các kiếnthức kỹ thuật hay kiến thức quản lý về việc thiết kế, chế tạo hay vận chuyển một sảnphẩm hoặc dịch vụ
Người cấp phép sẵn sàng cung cấp các loại bằng sáng chế, bí mật thương mại và các bíquyết kinh doanh khác cho người nhận phép để đổi lấy tiền bản quyền
Tiền bản quyền có thể là một khoản tiền mặt trả gọn, một khoản tiền bản quyền hàng kỳdựa trên số lượng sản phẩm sản xuất nhờ bí quyết kinh doanh, hay cả hai
Trong một số ngành công nghiệp như dược phẩm, hoá phẩm và chất bán dẫn, công nghệ
là một nhân tố cần thiết trong các thoả thuận cấp phép mang tính đôi bên cùng có lợi giữacác doanh nghiệp trong cùng một ngành hoặc các ngành tương tự nhau Hình thức nàyđược gọi là cấp phép chéo
Trang 17Ở các ngành công nghiệp có tốc độ phát triển khoa học kỹ thuật nhanh như vũ bão và lànơi các tiến bộ khoa học chịu sự phụ thuộc lẫn nhau thì cấp phép công nghệ từ các đốithủ lại trở thành lợi thế then chốt Nó giúp giảm bớt chi phí cải tiến vì tránh được việctrùng lặp các nghiên cứu, đồng thời giảm độ rủi ro cho việc một doanh nghiệp nào đó cóthể không tiếp cận được với những công nghệ mới.
Ví dụ:
Hãng AT&T đã từng một thời nắm giữ các loại bằng sáng chế chủ chốt trong ngành côngnghiệp bán dẫn Khi ngày càng nhiều công ty tham gia ngành này và tốc độ nghiên cứu vàphát triển sản phẩm ngày càng tăng, AT&T đứng trước nguy cơ bị vượt mặt bởi rất nhiềuđối thủ Tại Châu Âu, Nhật Bản và Hoa Kỳ, hàng ngàn bằng sáng chế về chất bán dẫn đãđược trao tặng Tồn tại trong một mạng lưới vô số các loại bằng sáng chế như vậy, bất kỳcông ty nào cũng không thể hoạt động trong ngành mà không cấp và nhận phép từ các đốithủ Do đó, AT&T, Intel, Siemens và rất nhiều các đối thủ khác bắt đầu cấp phép bằngsáng chế của mình cho các công ty còn lại Các hoạt động cấp phép chung của nhữngcông ty này đã góp phần rất lớn trong việc thúc đẩy sự phát triển của cả ngành bán dẫn.Một kịch bản tương tự cũng diễn ra trong ngành dược phẩm Chi phí để nghiên cứu vàphát triển một loại thuốc mới có thể lên tới hàng trăm triệu đôla và việc phát triển nhữngloại thuốc mới đòi hỏi vô số các quy trình và thủ tục chấp nhận tốn rất nhiều thời gian từphía chính phủ, trong khi các hãng dược phẩm lại muốn tung ra các phát minh của mìnhcàng sớm càng tốt Để giảm thiểu chi phí và đẩy nhanh tốc độ phát triển các loại thuốcmới, các hãng dược phải cấp phép các phát minh của mình cho những hãng khác
m Ưu điểm và nhược điểm
Bên cấp phép
Ưu điểm Không yêu cầu đầu tư vốn hay sự hiện diện của doanh nghiệp cấp phép
tại thị trường nước ngoài
Có cơ hội tạo ra thu nhập tiền bản quyền từ sở hữu trí tuệ có sẵnPhù hợp cho việc thâm nhập các thị trường tồn tại nhiều rủi ro quốc giaPhát huy tác dụng khi các hàng rào thương mại làm giảm khả năng xuấtkhẩu hay khi chính phủ hạn chế quyền sở hữu các hoạt động trong nướccủa các doanh nghiệp nước ngoài
Phát huy tác dụng khi muốn thâm nhập một thị trường trước các đối thủcạnh tranh
Nhược điểm Doanh thu thu được thường ít hơn so với các phương thức thâm nhập
khácKhó kiểm soát mức độ sử dụng tài sản cấp phép
Trang 18Rủi ro trong việc đánh mất kiểm soát đối với những sở hữu trí tuệ quantrọng hay tài sản bị tiêu tán trong tay các đối thủ.
Bên nhận phép có thể xâm phạm sở hữu trí tuệ được cấp phép và trởthành đối thủ cạnh tranh
Bên nhận cấp phép
Ưu điểm
Hưởng lợi nhờ được tiếp cận với những công nghệ quan trọng vớimột mức chi phí thấp hơn nhiều so với việc tự mình nghiên cứu pháttriển công nghệ
Tạo điều kiện cho bên nhận phép sản xuất và tiêu thụ những sản phẩmtương tự những sản phẩm đã được sản xuất tại nước của bên cấpphép
Bằng việc gắn tên mình với những thương hiệu nổi tiếng của bên cấpphép, bên nhận phép có thể thu về một lượng doanh thu khổng lồ
Nhược điểm Một khi mối quan hệ đã được thiết lập và bên nhận phép đã hoàn toàn
thông hiểu vai trò của mình thì vai trò còn lại của bên cấp phép là rất
ít hay gần như không có Bên cấp phép chỉ đóng vai trò tư vấn nhưng không tham gia trực tiếpvào thị trường và không cung cấp bất cứ hướng dẫn mang tính quản lýnào
7 Liên Doanh (Joint Venture)
a Khái niệm
Liên doanh là một hình thức mà hai hay nhiều hơn hai công ty độc lập cùng góp vốn để
hình thành nên một đơn vị kinh doanh mới
Liên doanh là hình thức thịnh hành nhất của liên minh chiến lược của các MNC Một khi
đã hình thành liên minh chiến lược, các MNC không chỉ thành lập các liên doanh, mà còn
kí kết các hiệp định nghiên cứu thị trường, phát triển sản phẩm chung, trao đổi côngnghệ,… để hỗ trợ nhau phát triển
Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đưa ra định nghĩa như sau: “Doanh nghiệp liêndoanh là doanh nghiệp do hai bên hoặc nhiều bên hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ
sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định ký giữa Chính phủ nước ngoài hoặc do doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam
Trang 19Liên doanh phổ biến nhất là đầu tư 50/50, theo đó có hai bên mỗi bên đóng góp 50% vốn
và hình thành đội ngũ quản lý để chia quyền quản lý Tuy nhiên, với một vài công ty cóvốn góp ít hơn vì vậy quyền quản lý cũng nhẹ hơn
n Đặc trưng
Cùng góp vốn: Các bên tham gia doanh nghiệp liên doanh (các đối tác) có thể góp vốn
bằng tiền mặt, dây chuyền công nghệ, nhà xưởng, đất đai, quyền sử dụng mặt đất, mặtbiển, phát minh, sáng chế Các bên cũng có thể đóng góp bằng khả năng, kinh nghiệmquản lý, uy tín công ty, nhãn hiệu hàng hoá.Giá trị của vốn góp được xác định dựa vàothoả thuận giữa các bên
Cùng quản lý: Các bên cùng xây dựng bộ máy quản lý hoạt động doanh nghiệp, đào tạo
đội ngũ cán bộ quản lý, đội ngũ công nhân viên phục vụ, xây dựng môi trường hoạt độngnội bộ doanh nghiệp liên doanh thích hợp với điều kiện của nước sở tại Thông thường sốlượng thành viên tham gia Hội đồng quản trị cũng như mức độ quyết định của các bênđối với các vấn đề của doanh nghiệp phụ thuộc vào tỷ lệ vốn góp của mỗi bên
Cùng phân phối lợi nhuận: Các bên tham gia cùng tiến hành phân phối lợi nhuận thu
được của doanh nghiệp liên doanh sau khi đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ về tài chính vớinước sở tại Tỷ lệ phân chia lợi nhuận giữa các bên dựa theo tỷ lệ góp vốn Trong trườnghợp doanh nghiệp phát hành cổ phiếu để tăng vốn thì cổ đông sẽ được hưởng lợi tức cổphần
Cùng chia sẻ rủi ro, mạo hiểm: Những rủi ro phát sinh trong quá trình hoạt động của
doanh nghiệp (do quá trình thiết kế, nghiên cứu khả thi dự án không chu đáo, do biến
động về chính trị, kinh tế, do những thay đổi của hệ thống pháp lý, do cạnh tranh hay do
những nhân tố bất ngờ khác) sẽ do các bên tham gia gánh chịu theotỷ lệ phân chia như
đối với lợi nhuận
o Ưu điểm và nhược điểm
Trang 20Ví dụ minh họa:
Về ưu điểm:
Công ty TNHH liên doanh Phú Mỹ Hưng được thành lập ngày 19/05/1993, là liên doanhgiữa công ty phát triển công nghiệp Tân Thuận (IPC - Việt Nam) và tập đoàn CentralTrading & Development (CT&D - Đài Loan) IPC: Đại diện cho UBND TP.HCM, góp30% vốn qua quyền sử dụng đất và nguồn nhân lực cho sự phát triển đô Thị Phú MỹHưng CT&D: Là một trong những nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất và thành công nhất tạiViệt Nam với số vốn đầu tư trên 650 triệu USD Bên cạnh 70% cổ phần trong dự án pháttriển đô thị Phú Mỹ Hưng, tập đoàn CT&D còn là nhà đầu tư khu chế xuất Tân Thuận,nhà máy điện Hiệp Phước và công ty tư vấn xây dựng Sino Pacific (SPCC).Với hình thứcnày cả CT&D và IPC tận dụng được ưu điểm của đối phương Công ty IPC có quyền sửdụng đất và nguồn nhân lực nội địa, và hiểu biết về thổ nhưỡng, văn hóa, cũng như sựhiểu biết sâu sắc về nền kinh tế Việt Nam Và CT&D với lợi thế là tập đoàn nước ngoài
Nước sở tại Giải quyết trình trạng thiếu vốn
Đa dạng hoá sản phẩm, đổi mớicông nghệ
Tạo ra thị trường mới và tạo cơ hộicho người lao động học tập ở nướcngoài
Tốn thời gian thương thảo vấn đềliên quan tới dự án đầu tư
Xuất hiện mâu thuẫn trong quản lý
và điều hành doanh nghiệp (Đối tácthường quan tâm tới lợi ích toàncầu, muốn đưa lãi vào tái đầu tư mởrộng)
Chia sẻ chi phí quản lý, rủi ro đầu
tư
Tốn thời gian thương thảo mọi vấn
đề liên quan đến dự án đầu tư, địnhgiá tài sản góp vốn, giải quyết côngnhân cũ của đối tác trong nướcKhông chủ động được trong quản lýđiều hành doanh nghiệp
Khó giải quyết khác biệt về văn hoá
Tổng kết Chia sẻ kinh nghiệm từ đối tác địa
phươngChia sẻ bớt chi phí và rủi ro
Dễ được ủng hộ về mặt chính trị
Không kiểm soát được công nghệKhông đạt được lợi thế chi phí nhờquy mô
Khó phối hợp phục vụ cho chiếnlược tổng thể
Trang 21có tiềm lực kinh tế, tài chính mạnh, cũng như phương thức hoạt động hiệu quả Chính vìlợi ích hợp tác này và sự hòa hợp trong liên doanh nên công ty liên doanh Phú Mý Hưnghoạt động rất hiệu quả đã và đang là chủ đầu tư của dự án lớn Với hình thức liên doanhnày thì CT&D chia sẽ rủi ro khi xâm nhập vào thị trường Việt Nam với công ty IPC Bấtlợi của CT&D khi tham gia liên doanh này là công ty công thể hoàn toàn kiểm soát hoạtđộng của công ty liên doanh Phú Mỹ Hưng theo ý của mình Bên cạnh đó do việc gópvốn theo tỷ lệ đôi khi cũng dẫn đến tranh chấp trong quyền lợi, quyền kiểm soát, mụctiêu.
Liên doanh giữa GMC (Hoa Kỳ) và Toyota trong việc thành lập nhà máy New United
Motor đã cho phép Toyota có thể thâm nhập vào thị trường của Hoa Kỳ, ngược lại GMC
có thể tận dụng được kỹ thuật và các cách tiếp cận trong quản trị từ phía đối tác NhậtBản
Liên doanh Suntory-Pepsico ở Việt Nam được áp dụng để vừa tận dụng kinh nghiệm,
công nghệ sản xuất vừa tận dụng được kinh nghiệm bán hàng và quan hệ rộng ở thịtrường
Công ty Tri Star International ở Thượng Hải đã mua lại đa số cổ phần đầu tư của Adams Pressed Metals, một nhà sản xuất các phụ kiện cho máy kéo và các thiết bị xới
đất khác ở IIIinois Khoản tiền đó đã cứu 40 công nhân của Adams khỏi thất nghiệp vàgiúp Tri Star thâm nhập được vào thị trường Hoa Kỳ và có được các bí quyết sản xuất
Về nhược điểm:
Một khi có mâu thuẫn trong quản lí hay không tận dụng được các lợi thế của từng bên, thì
các liên doanh sẽ trở thành thảm họa như sự thất bại của liên doanh Walmart-Cifera ở
Mexico những năm 90:
Hình thức liên doanh đem lại nhiều lợi thế cho cả nhà đầu tư 2 bên Đối với công tyCifera, khi tham gia liên doanh, ngoài việc phân chia lợi nhuận theo tỷ lệ vốn góp, Ciferacòn có điều kiện tiếp cận với công nghệ hiện đại, phong cách và trình độ quản lý kinh tếtiên tiến của Wal-Mart và ngược lại Đối với Wal-Mart, lợi thế được hưởng là được đảmbảo khả năng thành công cao hơn do môi trường kinh doanh, pháp lý hoàn toàn xa lạ nếukhông có bên Cifera thì sẽ gặp rất nhiều khó khăn, được nhà nước Mexico dễ dàng chấpnhận hơn hình thức 100% vốn đầu tư nước ngoài và Cifera là công ty bán lẻ lớn nhất