c/ Dòng sông trữ tình và thơ mộng:- Hình dáng mang vẻ đẹp nữ tính: sông Đà nhìn từ trên cao như môtk sợ dây ngoằn ngoèo; sông Đà tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn h
Trang 1NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ- Nguyễn Tuân
I TIỂU DẪN:
1 TÁC GIẢ:
Ông là người tài hoa-uyên bác.
Bậc thầy về ngôn ngữ Suốt đời đi tìm cái đẹp- đặc biệt là vẻ đẹp ở quá khứ
Trang 22 TÁC PHẨM:
a Đại ý: - Ca ngợi vẻ đẹp vừa kì vĩ, hào hùng vừa trữ tình thơ mộng của thiên nhiênvà nhất là của con người lao động bình dị ở miền Tây Bắc
- Cho thấy được sự lao động nghệ thuật nghiêm túc của NT khi đã kì công tái tạo nên những vẻ đẹp tuyệt vời của tạo hóa và con người.
Trang 3b Bố cục:
- Hình tượng con sông Đà.
- Hình tượng người lái đò.
Trang 5II ĐỌC- HIỂU:
1 HÌNH TƯỢNG CON SÔNG ĐÀ:
a/ Giới thiệu về con sông Đà:
– Lời đề từ 1: Mọi người có ấn tượng đặc biệt về nó (Đẹp vậy thay tiếng hát trên dòng sôngnhà thơ Bronlewski)
– Lời đề từ 2: Dòng chảy độc đáo, khác lạ so với mọi dòng sông khác (Chúng thủy gia Đông tẩu/Đà giang độc bắc lưu) Dự báo được tính cách khác thường cua con sông.
Trang 6b/ Dòng sông dữ dằn và hung bạo:
b1/ Diện mạo dữ tợn:- Cảnh đá: đá dựng bờ sông, dựng vách thành, chẹt lòng sông như cái yết hầu, đúng ngọ
mới thấy mặt trời, đang hè mà cũng cảm thấy lạnh,…. > so sánh ví von, mới mẻ, giàu hình ảnh
- Vê địa lý: Dòng sông bắt nguồn từ TQ, chạy qua nhiều địa hình hiểm trở, lưu tốc chảy xiết.
Hé mở phần nào nội dung tác phẩm.
Trang 7– Hút nnước: giống như một cái giếng bê tông khổng lồ, nước thở và kêu như những cửa cống cái bị sặc, không khéo thì thuyền ngang qua đây bị trồng ngay cây chuối ngược,… Bút pháp tả kết hợp với tả, kích thích trí tưởng tượng của người đọc.
– Ghềnh sông: dài hàng cây số, nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió,…lúc nào cũng muốn đòi nợ người lái đò,… Cấu trúc tăng tiến, nhịp câu văn dồn dập,…
Trang 8b2/ Tâm địa độc ác:
- Thạch trận: Đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông, hình như mỗi lần
có chiếc thuyền nào xuất hiện ở quãng ầm ầm mà quạnh hiu này, mỗi lần có chiếc nào nhô vào đường ngoặt sông là một số hòn bèn nhổm cả dậy để vỗ lấy thuyền"
- Thủy trận: Đám tảng đám hòn chia làm ba hàng ngang chặn ngang trên sông đòi ăn chết cái thuyền, một cái thuyền đơn độc không biết lùi đi đâu để tránh một cuộc giáp lá cà có
đá dàn sẵn trận địa.
- Âm thanh: oán trách, nỉ non, khiêu khích, chế nhạo ghê rợn,
Trang 9- Trùng vi giăng bẫy: Vòng đầu vừa rồi, nó mở ra năm cửa trận, có bốn cửa tử một cửa sinh nằm lập lờ phía tả ngạn sông" , "vòng thứ hai này tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền vào", "còn một trùng vây thứ ba nữa Ít cửa hơn, bên trái bên phải đều là luồng chết cả.
Vận dụng ngôn ngữ , kiến thức của các ngành, các bộ môn trong và ngoài nghệ thuật
để làm nên hàng loạt so sánh liên tưởng, tưởng tượng kì lạ, bất ngờ Bậc thầy về ngôn
ngữ.
Trang 10c/ Dòng sông trữ tình và thơ mộng:
- Hình dáng mang vẻ đẹp nữ tính: sông Đà nhìn từ trên cao như môtk sợ dây ngoằn ngoèo; sông Đà tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo,… Câu văn đầy hình ảnh và nhịp điệu.- Màu sắc đặc trưng và phong phú:+ Mùa xuân: Xanh ngọc bích chứ khônng xanh như màu xanh canh hến của sông Gâmsông Lô
+ Mùa thu: Lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa,…
SĐ chưa bao giờ có màu đen như TD Pháp kêu theo một kiểu lếu láo
Với cách nhìn tinh tế cho thấy SĐ mang một vẻ đẹp rất rêng và độc đáo.
Trang 11- Cảnh vật gợi cảm, nhuốm màu cổ tích:
+ Cảm nhận của vị khách: Sông Đà được xem như là một cố nhân.
+ Bờ bãi sông Đà: vui như mở hội (trông con sông, vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng).
+ Ven sông: lặng tờ, hoang dại như một bờ tiền sử.
+ Cảnh vật: tình tứ, nên thơ (nươn ngô mới nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa; con hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương; dòng sông lững lờ như nhớ thương những hòn đá;…)
Trang 122/ HÌNH TƯỢNG NGƯỜI LÁI ĐÒ:
a/ Lai lịch và ngoại hình:
- Tuổi đời: 70 tuổi.
- Ngoại hình: Tay ông lêu nghêu như cái sào; Chân ông lúc nào cũng khuỳnh khuỳnh, gò lại như kẹp lấy một cuống lái tưởng tượng; giọng ông ào ào như tiếng nước trước mặt ghềnh sông;…
- Tuổi nghề: đôi chục năm làm nghề lái đò.
Trang 13 Sựu thán phục của nhà văn.
Trang 14+ Ngay cả khi bị thương, người lái đò vẫn cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái,…
+ Ông lái đò đã nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá Đến vòng thứ bà, ít cửa hơn, bên phải bên trái đều là luồng chết cả, nhưng người lái đã chủ động “tấn công”: Cứ phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa đó
Trang 16- Bình dị, khiêm tốn: Hiểm nguy trên sông là một phần của cuộc sống: Như những nghệ sĩ chân chính, sau khi vắt kiệt sức mình để thai nghén nên tác phẩm không mấy ai tự tán dương
về công sức của mình (sóng nước tan xèo xèo trong trí nhớ, sông nước lại thanh bình; đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam)
Trang 173/ Nghệ thuật:
- Những ví von, so sánh, liên tưởng, tưởng tượng độc đáo, bất ngờ và rất thú vị.
- Từ ngữ phong phú, sống động, giàu hình ảnh và có sức gợi cảm cao.
Trang 18- Câu văn đa dạng, nhiều tầng, giàu nhịp điệu, lúc thì hối hả, gân guốc, khi thì chậm rãi, trữ tình…
Trang 19III ĐỊNH HƯỚNG LIÊN HỆ VÀ TRÍCH DẪN:234-142-43đ
Trang 20b/Khi Cảm nhận về vẻ đẹp trí dũng tài hoa của ông lái đò trong đoạn trích Người lái
đò sông Đà của Nguyễn Tuân, ta có thể liên hệ với nhân vật Huấn Cao trong Chữ người tử tù để thấy sự chuyển biến trong cách xây dựng nhân vật của nhà văn.
Khi xây dựng nhân vật Huấn Cao, nhà văn hướng đến vẻ đẹp vang bóng một thời Huấn Cao được xây dựng từ nguyên mẫu lí tưởng nổi bật trong hoàn cảnh Tâm hồn của
HC là người nghệ sĩ thư pháp tài hoa có tâm lương thiện trong hoàn cảnh suy tàn Nhà văn trân trọng nét chữ của con người, của văn hóa trong thời tàn
Đến ông lái đò, nhà văn xây dựng về người vô danh hòa lẫn trong đám đông, rất bình dị thầm lặng Cái đẹp bắt nguồn từ trong lao động và phục vụ cho cuộc đời Ông lái đò là sự kết hợp giữa công dân và chiến sĩ
Trang 21c/ Khi Phân tích hình tượng người lái đò trong đoạn trích “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân, Ta có thể liên hệ với nhân vật Huấn Cao trong tác phẩm “Chữ người tử tù” để thấy rõ về quan điểm thẩm mĩ về người anh hùng của NT.
– Trong truyện ngắn “Chữ người tử tù”, hình tượng người anh hùng được tái hiện qua nhân vật Huấn Cao Đây là một người anh hùng lý tưởng: văn võ song toàn, chiến đấu vì đại nghĩa, khí phách oai phong, dũng liệt…
– Trong tùy bút “Người lái đò sông Đà”, hình tượng người anh hùng được tái hiện qua nhân vật ông lái đò Đây là một người lao động bình thường đóng góp cho công cuộc xây dựng đất nước, là “chất vàng mười đã qua thử lửa”…
Trang 22– Quan niệm về người anh hùng của Nguyễn Tuân có sự thay đổi rõ rệt trước và sau cách mạng táng Tám năm 1945, thể hiện quá trình “lột xác” của nhà văn về tư tưởng thẩm mỹ.– Thể hiện thái độ: khẳng định, trân trọng, tự hào, ca ngợi vẻ đẹp của người lao động trong xã hội mới.
d/ Khi phân tích nét trữ tình của dòng sông Đà, ta có thể đối sánh với nét trữ tình của dòng sông Hương:
– Người lái đò sông Đà và Ai đã đặt tên cho dòng sông là những trang hoa , tờ hoa thểhiện tình yêu quê hương đất nước, tinh thần dân tộc của Nguyễn Tuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường
Trang 23– Điểm gặp gỡ trong phong cách viết của hai tác giả;
+ Một cái tôi uyên bác với những hiểu biết sâu sắc về sông Đà, sông Hương xứ Huế.+ Vốn hiểu biết về lịch sử, địa lý, thi ca, âm nhạc… soi chiếu đối tượng ở nhiều góc độ khác nhau tạo nên những liên tưởng độc đáo
+ Một cái tôi tài hoa tinh tế với trí tưởng tượng phong phú kỳ diệu
+ Ngôn từ phong phú, gợi cảm đem đến cho người đọc cảm giác câu văn như những câu thơ trữ tình
2/ ĐỊNH HƯỚNG TRÍCH DẪN
Trang 24a/ Nhận xét về hình tượng người lái đò trong thiên tùy bút “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân, có ý kiến cho rằng: “Trong cuộc chiến đấu không cân sức với thiên nhiên
dữ dội, hiểm độc, ông đò là vị chỉ huy trí dũng tuyệt vời”
b/ Ý Có người cho rằng: “Trong nghệ thuật vượt thác leo ghềnh, ông đò là người nghệ sĩ
có “tay lái ra hoa” Bằng cảm nhận về hình tượng người lái đò, hãy trình bày suy nghĩ củaAnh/Chị về các ý kiến trên
c/ Có ý kiến cho rằng: Người lái đò sông Đà là công trình khảo cứu công phu- áng văn giàu tính thẩm mĩ
Trang 25d/ Khi nói về tp của mình, NT nói rằng: “trong con mắt của tôi, thiên nhiên Tây Bắc
quý như vàng, nhưng con người Tây Bắc mới thật xứng đáng là vàng mười của đất nước ta.”
e/ Một số đánh giá khác về tác giả và tác phẩm này:
- “… Đọc Người lái đò sông Đà, ta có ấn tượng rõ rệt về sự tự do của một tài năng, của một đấng hóa công thực sự trong nghệ thuật ngôn từ… Khi gân guốc, khi mềm mại, khi nghiêm nghị như một nhà bác học, khi hồn nhiên như một đứa trẻ thơ, những trang viết, những câu văn của Nguyễn Tuân mang hơi thở ấm nóng của cuộc đời phức tạp, phong phú, đa dạng Sự tự ý thức sâu sắc về tài năng của mình không phải là một biểu hiện tiêu cực, trái lại, nó tạo nên sự giải phóng năng lượng rất cần thiết để nhà văn có thể sáng tạo
Trang 26nên những tác phẩm kì vĩ…” (Phan Huy Đông, in trong Vẻ đẹp văn học cách mạng).
- “… Nguyễn Tuân đã sáng tạo ra một con Sông Đà không phải là thiên nhiên vô tri, vô giác, mà là một sinh thể có hoạt động, có tính cách, cá tính, có tâm trạng hẳn hoi và khá phức tạp Nó có hai nét tính cách cơ bản đối lập nhau như tác giả nói- “hung bạo và trữ tình…” ( Nguyễn Đăng Mạnh)
- “… Nguyễn Tuân- một cây bút vốn luôn khao khát những cảm giác, cảm xúc mới lạ, nồng nàn, say đắm…” (Nguyễn Đăng Mạnh)
IV MỘT SỐ DẠNG ĐỀ PHỔ BIẾN:
Trang 271/ Trong tùy bút Người lái đò Sông Đà, Nguyễn Tuân luôn thay đổi góc nhìn khi tái hiện hình ảnh con sông Đà:
(1) Lại như quãng mặt ghềnh Hát Loóng, dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt bất
cứ người lái đò Sông Đà nào tóm được qua đấy Quãng này mà khinh suất tay lái thì cũng dễ lật ngửa bụng thuyền ra.
(…)
(2) Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân.
Trang 28(Trích – Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2016, tr.186-191)
Từ hai góc nhìn trên, anh/chị liên tưởng đến vẻ đẹp nào của sông Đà qua phần trích tùy bút Người lái đò sông Đà? Phân tích những vẻ đẹp đó để thấy rõ phong cách nghệ thuật độc đáo của Nguyễn Tuân.
Trang 29của nước, đá, sóng, gió ở quãng mặt ghềnh Hát Loóng Từ góc nhìn này, liên tưởng đến
vẻ đẹp dữ dội, hùng vĩ của sông Đà trong phần trích của tùy bút:
– Dòng chảy đặc biệt, ngang ngược Đà giang độc bắc lưu.
– Cảnh hai bờ sông đá đựng vách thành, cảnh ghềnh thác dày đặc, đầy cạm bẫy; những hút nước sâu hoắm (đoạn ghềnh Hát Loóng, quãng Tà Mường Vát…)…sẵn sàng nuốt chửng hoặc lật ngửa bụng thuyền ra
– Âm thanh gào thét khủng khiếp của sóng thác; sự hung hãn của trận địa đá mai phục hàng ngàn năm làm thành trận đồ bát quái trong lòng sông ẩn chứa bao nhiêu hiểm họa đối với những người lái đò mưu sinh trên sông Đà…
Trang 30=> Sông Đà hiện lên như một loài thủy quái khổng lồ, trở thành kẻ thù số 1 của con
người
– Nghệ thuật: sử dụng câu văn dài ngắn linh hoạt; lối nói ví von, hình ảnh so sánh, nhân hóa mới mẻ, độc đáo gây ấn tượng mạnh; sử dụng hệ thống động từ phong phú, có sức biểu cảm cao; ngôn ngữ: sắc cạnh, gân guốc, khỏe khoắn…; tiết tấu mạnh; khả năng liên tưởng, tưởng tượng thú vị; khả năng quan sát tinh tế; vận dụng kiến thức của nhiều lĩnh vực…
* Đoạn văn (2): Với câu văn dài giàu hình ảnh và cảm xúc như một câu thơ đẹp, Nguyễn Tuân mang lại cho người đọc cảm giác lâng lâng trước con sông Đà qua hình ảnh so sánh
Trang 31tuyệt đẹp: sông Đà tuôn dài, tuôn dài như áng tóc trữ tình Từ góc nhìn này, liên tưởng
đến vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng của sông Đà:
– Dáng vẻ mềm mại, duyên dáng và quyến rũ giữa cảnh sắc thiên nhiên
– Lung linh, huyền ảo qua làn mây mùa xuân và ánh nắng mùa thu…
– Vẻ gợi cảm, nên thơ, tĩnh lặng của bờ bãi sông Đà…
– Hiền hòa, dịu dàng, đằm thắm ở phía hạ lưu…
=> Sông Đà như một cố nhân, như một người tình nhân chưa quen biết, gợi nhớ áng thơ
Đường…
– Nghệ thuật: câu văn giàu chất thơ, mềm mại; tiết tấu chậm rãi; so sánh chuẩn xác, trí tưởng tượng bay bổng, liên hệ cổ kim thơ phú tự nhiên và phù hợp…
Trang 32=> Sông Đà mang hai vẻ đẹp: hung bạo và trữ tình.
* Phong cách nghệ thuật độc đáo của Nguyễn Tuân thể hiện qua khả năng khám phá đối tượng thẩm mĩ:
– Tài hoa và độc đáo: khám phá thiên nhiên ở phương diện thẩm mĩ với những liên tưởng,tưởng tượng bất ngờ, thú vị…
– Uyên bác và lịch lãm: vốn tri thức phong phú và vốn ngôn ngữ giàu có; vận dụng nhữngtri thức ở nhiều lĩnh vực như địa lí, lịch sử, quân sự, võ thuật, điện ảnh, văn học, hội họa…
– Văn phong phóng túng, ngôn ngữ điêu luyện, giàu tính tạo hình, hình ảnh giàu sức gợi…
Trang 33– Cảm hứng mãnh liệt trước thiên nhiên kì thú…
* Đánh giá chung:
– Khái quát vẻ đẹp của Sông Đà
– Khẳng định thành công nghệ thuật của Nguyễn Tuân trong việc tái hiện hình ảnh sông Đà
Lưu ý: Hướng dẫn chấm và thang điểm chỉ có giá trị tham khảo, thầy cô giáo cần linh hoạt khi chấm bài cho HS
2/ Viết về dòng sông Đà trong tùy bút “Người lái đò sông Đà”, nhà văn Nguyễn Tuân miêu tả:“có nhiều lúc trông nó thành ra diện mạo và tâm địa một thứ kẻ thù số
Trang 34một” Nhưng cũng có khi:“Con sông Đà gợi cảm… Đã có lần tôi nhìn sông Đà như một cố nhân”
(Nguyễn Tuân – Ngữ văn 12, tập 1, tr.187 và 191, NXB Giáo dục Việt Nam, 2007) Bằng hiểu biết của mình, anh/chị hãy phân tích những vẻ đẹp trên của dòng sông
Đà Từ đó làm nổi bật nét độc đáo trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân.
ĐỊNH HƯỚNG
*Cảm nhận chung về hình tượng con sông Đà
Trang 35– Hình tượng con sông Đà là một hình tượng nghệ thuật độc đáo của tùy bút Người lái đò
sông Đà, góp phần làm nổi bật vẻ đẹp của nhân vật trung tâm: Người lái đò đồng thời thể
hiện chủ đề của tác phẩm và tư tưởng của tác giả
– Qua hai lần miêu tả trên tác giả đã khái quát những vẻ đẹp của dòng sông Đà:
+ Sông Đàhung bạo ->“kẻ thù số một” của con người
+Sông Đà trữ tình, gợi cảm ->“cố nhân”
Cảm nhận vẻ đẹp hình tượng sông Đà
*Con sông Đà hung bạo: HS phân tích các biểu hiện:
– Lời đề từ: “Chúng thủy giai đông tẩu, Đà giang độc bắc lưu”
– Hình ảnh:
Trang 36+ Bờ sông đá dựng vách thành
+Ghềnh sông
+Những hút nước trên sông
+Thác nước: đặc tả âm thanh thác nước
Trang 37+ Giọng điệu: dồn dập, mạnh mẽ, gây cấn, đầy cảm xúc…
=>Tác giả nhấn mạnh vẻ đẹp hùng vĩ, dữ dội, nguy hiểm vô cùng của dòng SĐ – “kẻ thù
số một”của con người
*Con sông Đà trữ tình : HS phân tích được các biểu hiện:
– Hình dáng: mềm mại, duyên dáng (so sánh: áng tóc người thiếu nữ)
– Màu sắc: theo mùa, mỗi màu mang một vẻ đẹp riêng : mùa xuân: xanh ngọc bích, mùa thu: lừ lừ chin đỏ…-> những gam màu ấn tượng
– Cảnh hai bên bờ sông: thơ mộng
– Nghệ thuật:
+ Giọng điệu: nhẹ nhàng, mượt mà, trữ tình
Trang 38– Sông Đà vừa hung bạo vừa trữ tình Hai nét tính cách này không đối lập mà bổ sung cho
nhau làm nổi bật vẻ đẹp độc đáo của SĐ – chất vàng của thiên nhiên vùng Tây Băc.
– Qua việc ca ngợi vẻ đẹp của dòng sông, tác giả đã thể hiện tình yêu thiên nhiên, tình yêu đất nước say đắm thiết tha
Trang 39C Nét độc đáo trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân
Phong cách nghệ thuật: độc đáo, tài hoa, uyên bác của một nghệ sĩ suốt đời đi kiếm tìm cái đẹp:
-Nguyễn Tuân luôn nhìn sự vật ở phương diện thẩm mỹ
-Nguyễn Tuân luôn đi tìm cảm hứng mạnh trong sáng tạo nghệ thuật: Tô đậm những cái phi thường để tạo cảm giác mãnh liệt, những ấn tượng đậm nét
– Nét tài hoa, uyên bác:
+ Ngôn ngữ phong phú, giàu chất hội họa: diễn tả được mọi sắc thái, mọi cung bậc, hình
thù, màu sắc của SĐ -> văn “khoe tài”, “bậc thầy của ngôn từ”” người làm xiếc trên
ngôn từ”…