1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

DÀN ý cực HAY 4 tác PHẨM lớp 10 HKI

15 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 117,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân loại sử thi - Sử thi thần thoại: Đẻ đất đẻ nước, Ấm ệt luông, Cây nêu thần… kể về sự hình thành của thế giới, sự hình thành của muôn loài, sự hình thành các dân tộc… - Sử thi anh hù

Trang 1

Chiến thắng Mtao Mxây

I Sử thi

Tìm hiểu chung về thể loại sử thi

1 Khái niệm

Sử thi là tác phẩm tự sự dân gian có quy mô lớn, sử dụng ngôn ngữ có vần, nhịp, xây dựng những hình tượng nghệ thuật hoành tráng, hào hùng để kể về một hoặc nhiều biến cố lớn diễn ra trong đời sống cộng đồng của cư dân thời cổ đại

2 Đặc trưng

- Nội dung của sử thi có tính rộng lớn, kể về sự kiện trọng đại của quá khứ, biểu hiện toàn bộ đời sống văn hóa, lịch sử của cộng đồng, thể hiện quá trình vận động của tộc người đó qua các giai đoạn khác nhau

- Nghệ thuật: sử thi là những câu chuyện kể văn xuôi xen lẫn văn vần, có sử dụng các yếu thành ngữ, tục ngữ, những từ ngữ cổ, hình thức nghệ thuật ngôn từ dân gian

3 Phân loại sử thi

- Sử thi thần thoại: Đẻ đất đẻ nước, Ấm ệt luông, Cây nêu thần… kể về sự hình thành của thế giới,

sự hình thành của muôn loài, sự hình thành các dân tộc…

- Sử thi anh hùng: Đăm Săn, Đăm Di, Xinh Nhã, Khinh Dú, Đăm Noi… kể về cuộc đời và sự nghiệp

của các anh hùng

II Tác phẩm

Tìm hiểu tác phẩm sử thi Đăm Săn

1 Sử thi Đăm Săn

- Tóm tắt sử thi

Sau khi về làm chồng hai chị em Hợ Nhị và Hơ Bhị, Đăm Săn trở nên một tù trưởng giàu có

và uy danh lừng lẫy Các tù trưởng Kên Kên ( Mtao Grư), tù trưởng Sắt (Mtao Mxây) lừa lúc Đăm Săn cùng các nô lệ lên rẫy, ra sông làm lụng đã kéo người tới cướp phá buôn của chàng, bắt Hơ Nhị về làm vợ Cả hai lần Đăm Săn đều tổ chức đánh trả và đều chiến thắng, cứu được vợ và tịch thu của cải, đất đai của kẻ địch khiến oai danh của chàng càng lừng lẫy, bộ tộc càng giàu có, đông đúc Một lần tình cờ gặp cây sơ – múc (cây thần vật tổ bên nhà vợ), Đăm Săn ra sức chặt đổ

kì được Liền đó cả hai vợ đều chết và Đăm Săn lại tìm cách lên trời hỏi nữ thần Mặt Trời (con gái của Trời) về làm vợ Tức giận vì bị từ chối, chàng bỏ về và cả người lẫn ngựa bị chết ngập ở rừng Sáp Đen nhão như bùn nước Hồn Đăm Săn biến thành con ruồi bay vào miệng chị gái là Hơ Âng khiến nàng có mang và sinh ra đứa con trai Đó là Đăm Săn cháu, lớn lên lại đi tiếp con đường của người cậu anh hùng

2 Đoạn trích Chiến thắng Mtao Mxây

2.1) Tìm hiểu chung

a Tóm tắt đoạn trích

Nhân lúc Đăm Săn cùng các nô lệ lên rẫy, Mtao Mxây đã đến phá buôn làng và bắt Hơ Nhị về làm

vợ Đăm Săn đến nhà Mtao Mxây khiêu chiến để cứu người vợ của mình Lần đầu, chàng thách Mtao Mxây đọ dao nhưng hắn sợ không dám đồng ý Khi Đăm Săn dọa đốt nhà, hắn mới chịu xuống và múa khiên Mtao Mxây rung khiên múa, tiếng kêu lạch xạch; đến lượt Đăm Săn, mỗi lần xốc tới, chàng vượt một đồi tranh, chạy vun vút trong khi Mtao Mxây chỉ bước thấp bước cao chạy

Trang 2

hết bãi đông sang bãi tây Mtao Mxây bảo Hơ Nhị quăng cho một miếng trầu nhưng Đăm Săn đỡ được, ăn vào thì sức lực tăng lên gấp bội Đăm Săn lại múa khiên, đâm Mtao Mxây nhưng không thủng được áo giáp của hắn Nhờ Trời giúp đỡ, Đăm Săn ném một cái chày tròn vào tai của kẻ địch, nên giành được chiến thắng, cắt đầu của Mtao Mxây đem bêu ra đường Chàng cứu được vợ,

và tất cả tôi tớ của Mtao Mxây nguyện đi theo Đăm Săn Dân làng mở tiệc mừng chiến thắng của Đăm Săn và đón chào những dân làng mới

b Vị trí đoạn trích

- Nằm ở phần giữa của sử thi

c Bố cục ( 3 phần )

- Phần 1 ( Từ đầu đến “cắt đầu Mtao Mxây đem bêu ngoài đường”): Cảnh trận đánh giữa hai tù trưởng

- Phần 2 ( Tiếp đến “Họ đến bãi ngoài làng, rồi vào làng”) : Cảnh Đăm Săn cùng nô lệ ra về sau chiến thắng

- Phần 3 ( Còn lại ): Cảnh Đăm Săn ăn mừng chiến thắng

2.2) Tìm hiểu chi tiết

a Hình tượng Đăm Săn trong trận chiến với Mtao Mxây

* Khi vào cuộc chiến

- Hiệp một:

+ Trong khi Mtao Mxây múa khiên trước, Đăm Săn vẫn giữ thái độ bình tĩnh, thản nhiên -> Điều này thể hiện bản lĩnh của chàng

+ Mtao Mxây đã lộ rõ sự kém cỏi nhưng vẫn nói những lời huênh hoang

- Hiệp 2:

+ Đăm Săn múa khiên làm cho Mtao Mxây hốt hoảng trốn chạy với bước cao bước thấp -> thể hiện sức mạnh cả Đăm Săn và sự yếu sức của Mtao Mxây

+ Mtao Mxây cầu cứu Hơ Nhị quăng cho miếng trầu -> càng yếu sức

+ Đăm Săn cướp được miến trầu -> sức mạnh của chàng tăng lên

- Hiệp ba:

+ Đăm Săn múa dũng mãnh và đuổi theo Mtao Mxây

+ Đăm Săn đâm trúng áo Mtao Mxây nhưng không thủng được áo hắn Chàng phải cầu cứu thần linh

- Hiệp bốn:

+ Đăm Săn được thần linh giúp sức

+ Chàng đuổi theo và giết chết kẻ thù

Trang 3

=>Với lối mô tả song hành, lối so sánh phóng đại, Đăm Săn hơn hẳn Mtao Mxây về cả tài năng, sức lực, phẩm chất và phong độ Đòi vợ chỉ là cái cớ, cao hơn chính là mở mang bờ cõi, làm nổi uy danh cộng đồng -> Đăm Săn là một nhân vật anh hùng sử thi đích thực

b Thái độ của mọi người đối với chiến thắng của Đăm Săn

* Dân làng Mtao Mxây

- Ba lần Đăm Săn kêu gọi thì cả ba lần mọi người đều hưởng ứng ( số 3 tượng trưng cho số nhiều ): “Không đi sao được, tù trưởng chúng tôi đã chết, lúa chúng tôi đã mục, chúng tôi còn ở với ai.”

-> Họ nhất trí xem Đăm Săn là tù trưởng, là anh hùng của họ

- Mỗi lần đối đáp có sự khác nhau, biến đổi, phát triển

-> Qua ba lần hỏi – đáp, lòng trung thành tuyệt đối của mọi nô lệ đối với Đăm Săn ngày càng được tô đậm

- Mọi người cùng ra về theo Đăm Săn đông vui như đi hội: “Đoàn người đông như bầy cà tông, đặc như bầy thiêu thân, ùn ùn như kiến như mối.”

- Ý nghĩa:

+ Thể hiện sự thống nhất cao độ giữa quyền lợi, khát vọng cá nhân anh hùng đối với cộng đồng,

bộ tộc

+ Thể hiện lòng yêu mến, sự tuân phục của tập thể cộng đồng đối với cá nhân anh hùng -> Đây cũng là biểu hiện của ý thức dân tộc

* Thái độ của dân làng Đăm Săn

- Hân hoan chào đón người anh hùng chiến thắng trở về

- Đồng lòng hưởng ứng lời kêu gọi của tù trưởng: mở tiệc ăn mừng chiến thắng -> phấn khởi, vui mừng, tự hào

* Thái độ của các tù trưởng xung quanh

- “Nhà Đăm Săn các vị tù trưởng đều từ phương xa đến” -> kéo đến ăn mừng chiến thắng của

Đăm Săn như ăn mừng chiến thắng của chính mình

=> Người anh hùng được toàn thể cộng đồng suy tôn tuyệt đối

c Cảnh ăn mừng chiến thắng

- Hình ảnh Đăm Săn được miêu tả hòa vào cùng với dân làng trong niềm vui chiến thắng:

+ Đông vui nhộn nhịp

+ Ăn mừng hoành tráng

- Đăm Săn hiện lên ngoài vẻ đẹp hình thể còn là sức mạnh uy vũ, vô biên trong con mắt ngưỡng

mộ của dân làng -> cách miêu tả phóng đại tạo ấn tượng với độc giả

d Giá trị nội dung

Trang 4

Trọng danh dự, gắn bó với hạnh phúc gia đình và thiết tha với cuộc sống bình yên, phồn vinh của thị tộc – đó là những tình cảm cao nhất thôi thúc Đăm Săn chiến đấu và chiến thắng kẻ thù

e Giá trị nghệ thuật

* Nghệ thuật so sánh, phóng đại:

- So sánh tương đồng: như lốc gài, như những vệt sao băng

- So sánh tăng cấp:

+ Đoạn tả cảnh Đăm Săn múa khiên

+ Đoạn tả cảnh đoàn người đông đảo: “Tôi tớ cõng nước.”

+ Đoạn mô tả thân hình lực lưỡng của Đăm Săn: “bắp chân xà dọc.”

- So sánh tương phản: tả cảnh múa khiên của Đăm Săn và Mtao Mxây

- Các hình ảnh, sự vật được đem ra làm chuẩn so sánh được lấy từ thế giới thiên nhiên , từ vũ trụ bao la

-> Để cao tầm vóc lớn lao của người anh hung, khát vọng không có giới hạn cộng đồng Ê-đê về một tương lai hùng mạnh, thịnh vượng

Trang 5

Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy

Tìm hiểu chung về thể loại truyền thuyết

1 Khái niệm

Truyền thuyết là loại truyện dân gian kể về các nhân vật và sự kiện có liên quan đến lịch sử thời quá khứ, thường có các yếu tố tưởng tượng, kì ảo Truyền thuyết thể hiện thái độ và cách đánh giá của nhân dân đối với các sự kiện và nhân vật lịch sử được kể

2 Đặc trưng

- Đề tài thường lấy từ lịch sử, những vấn đề có ý nghĩa trọng đại

- Sử dụng các yếu tố tưởng tượng, hư cấu

- Nhân vật thường được xây dựng đơn giản, có sự kết hợp kì lạ giữa những nét đời thường, thế tục với những nét phi thường, kì ảo

- Cốt truyện đơn giản, ít tình tiết

Tác phẩm

Tìm hiểu về tác phẩm "Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy"

1 Tóm tắc tác phẩm

Vua An Dương Vương xây thành nhưng nhiều lần bị đổ, nhờ có thần Kim Quy mà dựng được Loa thành Thần ở lại giúp vua ba năm, trước khi ra về còn tặng cho vua chiếc vuốt làm lẫy nỏ Nhờ có

nỏ thần, An Dương Vương đánh bại quân Triệu Đà xâm lược Nhưng sau đó, Đà cầu hôn Vua vô tình gả Mị Châu cho con trai Đà là Trọng Thủy, lại để Thủy ở rể Trọng Thủy dỗ Mị Châu cho xem

nỏ thần, rồi lén đổi trộm lẫy nỏ đem về cho cha Có được lẫy thần, Triệu Đà đem quân đánh Âu Lạc Vua chủ quan ngồi đánh cờ, khi quân địch tiến sát thành, lấy nỏ ra bắn, thì mới biết lẫy nỏ đã mất, đành đưa mị Châu bỏ chạy Mị Châu giữ lời hẹn, bứt lông ngỗng làm dấu cho Trọng Thủy đuổi theo Vua đến đường cùng, gọi thần Kim Quy lên giúp Thần kết tội Mị Châu, vua rút gươm giết con rồi theo thần đi xuống biển Trọng Thủy đuổi tới bờ biển, ân hận mang xác vợ về chôn ở Loa Thành, ngày đêm thương tiếc, nhớ mong đến nỗi lao đầu xuống giếng mà chết Máu của Mị Châu chảy xuống biển thành ngọc trai, người đời sau mò được ngọc trai, đem rửa với nước giếng ở Loa Thành thì ngọc lại càng thêm sáng trong

2 Tìm hiểu chung

a Xuất xứ

- Văn bản dưới đây trích từ Truyện Rùa Vàng trong Lĩnh Nam chích quái – một sưu tập truyện dân gian ra đời vào cuối thế kỉ XV

b Bố cục ( 3 đoạn )

- Đoạn 1 (Từ đầu đến “bèn xin hoà”) : An Dương Vương được thần giúp xây thành, chế nỏ để bảo

vệ đất nước

- Đoạn 2 ( Tiếp đó đến “Dẫn vua xuống biển”): Cảnh mất nước nhà tan

- Đoạn 3 ( Còn lại ): Thái độ, tình cảm của nhân dân đối với An Dương Vương, Mị Châu và Trọng Thủy

3 Tìm hiểu chi tiết

Trang 6

3.1) Nhân vật An Dương Vương

a An Dương Vương trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước

- Nhân vật lịch sử An Dương Vương:

+ Tên thật Thục Phán, là vị vua lập nên và cai trị duy nhất của nhà nước Âu Lạc

+ Thời gian trị vì 50 năm (257 TCN- 208TCN)

+ Quyết định dời đô từ vùng núi Nghĩa Lĩnh về đồng bằng (thành Cổ Loa) để phát triển và mở rộng lưu thông

-> Ban đầu, có thể nhân định An Dương Vương là vị vua sáng suốt, bản lĩnh vững vàng, tầm nhìn

xa rộng

- Quá trình xây thành:

+ Thành đắp tới đâu lở tới đó

+ Lập bàn thờ, giữ mình trong sạch, cầu bách thần

+ Nhờ cụ già mách bảo, sứ Thanh Giang, tức Rùa Vàng giúp nhà vua xây thành công Loa Thành + Thành rộng ngàn trượng, xoắn như hình trôn ốc

-> thành Cổ Loa là căn cứ phòng thủ vững chắc, là sự sáng tạo độc đáo của người Việt cổ

=> An Dương Vương có lòng kiên trì quyết tâm, có ý thức đề cao cảnh giác

- Việc chế nỏ:

+ Nỗi băn khoăn: “Nhờ ơn của thần, thành đã được xây xong Nay nếu có giặc ngoài biết lấy gì

mà chống?

+ Được Rùa Vàng tặng móng vuốt làm lẫy nỏ thần

=> ADV được giúp đỡ vì có ý thức trách nhiệm trong việc bảo vệ đất nước, hình ảnh nỏ thần cũng khẳng định niềm tự hào của cha ông về trình độ sản xuất vũ khí

- Sự xuất hiện của chi tiết kì ảo: cụ già bí ẩn, rùa vàng, nỏ thần đã khẳng định việc làm của An Dương Vương là chính nghĩa, hợp lòng trời, được lòng dân

- Chiến thắng Triệu Đà:

+ Nhờ thành ốc kiên cố

+ Nhờ nỏ thần lợi hại

+ Nhờ có ý thức đề cao cảnh giác

-> Nêu cao bài học cảnh giác, tinh thần trách nhiệm và sự sáng suốt của An Dương Vương

→ ADV mang phẩm chất của vị vua anh hùng, tầm nhìn xa trông rộng, có ý thức đề cao cảnh giác, bản lĩnh vững vàng, biết trọng người tài, có lòng yêu nước sâu sắc, có công lao với dân tộc, được thần và dân đồng lòng

→ Nhân dân ca ngợi nhà vua, tự hào về những thành quả và chiến công của dân tộc

b Bi kịch nước mất - nhà tan

Trang 7

- Nguyên nhân thất bại:

+ Nhận lời cầu hòa, gả con gái cho con trai kẻ thù, cho Trọng Thủy ở rể ngay trong Loa Thành -> không nhận thấy bản chất ngoan cố và âm mưu thâm độc của kẻ thù

+ Khi giặc đến chân thành: vẫn mãi lo chơi cờ, cười nhạo kẻ thù

-> chủ quan, ỷ lại vào vũ khí hiện đại mà không lo phòng bị, xem thường địch

=> An Dương Vương tự chuốc lấy thất bại do tự phạm nhiều điều sai

- Kết cục: thất bại, bỏ chạy, giết con, sự nghiệp tiêu vong

-> Vua có trách nhiệm với đất nước nhưng mát cảnh giác nên rơi vào bi kịch

* Ý nghĩa các chi tiết hư cấu:

- Nhờ tiếng thét của Rùa Vàng, An Dương Vương tỉnh ngộ, tự tay chém đầu con gái:

+ hành động quyết liệt, dứt khoát đứng về phía công lí và quyền lợi của dân tộc

+ sự thức tỉnh muộn màng của nhà vua

+ sự thảm khóc của chiến tranh

-> chi tiết mang tính bi kịch

- An Dương Vương cầm sừng tê bảy tấc rồi theo gót Rùa vàng xuống biển:

+ thể hiện sự ngưỡng mộ đối với vị anh hùng dân tộc

+ niềm thương tiếc khi huyền thoại hoá, bất tử hoá người anh hùng

=> Những chi tiết hư cấu thể hiện quan điểm và thái độ kính trọng, mến phục của nhân dân; đồng thời giúp xoa dịu nỗi đau mất nước Tuy mất cảnh giác để mất nước nhưng trong tâm thức người dân, An Dương Vương mãi là nhà vua yêu nước, có công với nước

3.2 ) Nhân vật Mị Châu

- Sai lầm:

+ vô tình tiết lộ bí mật về nỏ thần, tạo điều kiện cho Trọng Thủy đánh tráo nỏ thần

-> ngây thơ, cả tin, mất cảnh giác làm lộ bí mật quốc gia

+ Nghe lời chồng: rắc lông ngỗng đánh dấu, giúp kẻ thù truy đuổi theo hai cha con -> bị tình cảm làm cho lu mờ lí trí, đặt tình cảm vợ chồng lên trên lợi ích quốc gia

=> Mị Châu đã thuận theo tình cảm vợ chồng mà quên đi nghĩa vụ đối với đất nước

- Kết cục: Bị Rùa Vàng kết tội là giặc và bị vua cha chém đầu -> Mị Châu phải trả giá cho sự cả tin

đến mù quáng của mình

-> Nhân dân muốn phê phán Mị Châu - bằng bản án tử hình - vì những lỗi lầm gây tổn hại cho đất nước -> Xuất phát từ truyền thống yêu nước, thiết tha đối với độc lập, tự do của dân ta

Trang 8

- Mị Châu được minh oan:

+ Lời nguyền trước khi chết: “nếu có lòng phản nghịch mưu hại cha…nhục thù”-> minh chứng

cho tấm lòng trung hiếu, giãi bày cho nỗi oan bị lừa dối

+ Hóa thân kiểu phân thân: máu biến thành ngọc trai -> lời nguyền linh ứng

=> Sự bao dung, cảm thông của nhân dân đối với sự trong trắng, thơ ngây của Mị Châu khi phạm tội một cách vô tình

* Bài học lịch sử: phải đặt đúng đắn mối quan hệ giữa cái chung với cái riêng, giữa tình nhà với nợ nước

3.3) Nhân vật Trọng Thủy

a Giai đoạn đầu

- Nghe lời vua cha lợi dụng Mị Châu lấy cắp nỏ thần

- Tấn công nước Âu Lạc và đuổi theo cha con An Dương Vương

-> Trọng Thủy phản bội tình cảm của Mị Châu, là tên gián điệp nguy hiểm, kẻ thù của dân tộc, trực tiếp gây ra bi kịch mất nước và cái chết của hai cha con An Dương Vương

b Khi Mị Châu chết

- Khóc lóc, ôm xác vợ về táng ở Loa Thành

- Lao đầu xuống giếng tự tử

-> Tình cảm thực sự với vợ xuất hiện đã quá muộn màng

- Cái chết của Trọng Thủy thể hiện:

+ sự bế tắc giữa hai tham vọng: có được nước Âu Lạc và có tình yêu của Mị Châu

+ sự trả giá tất yếu của giả dối và phản bội

=> đứng giữa hiếu và tình, Trọng Thủy cũng là nạn nhân của chiến tranh xâm lược

* Hình ảnh ngọc trai – giếng nước:

- Là hình ảnh có giá trị nghệ thuật, thẩm mĩ cao

- Hình ảnh ngọc trai: phù hợp với lời ước nguyện của Mị Châu -> chứng minh cho tấm lòng trong sáng của nàng

- Chi tiết nước giếng có hồn Trọng Thuỷ -> là chứng nhận cho sự hối hận và ước muốn hoá giải tội lỗi của Trọng Thuỷ

- Chi tiết ngọc trai đem rửa nước giếng lại càng sáng đẹp hơn -> Trọng Thuỷ đã tìm được sự hoá giải của Mị Châu ở thế giới bên kia

=> Sự phán xét thấu lí đạt tình, vừa nghiêm khắc vừa nhân ái của nhân dân (rộng lòng tha thứ cho những người vô tình phạm tội như Mị Châu hay những kẻ biết ăn năn hối hận như Trọng Thuỷ)

3.4) Giá trị nội dung

Trang 9

- Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy là một cách giải thích nguyên nhân việc mất nước Âu Lạc Qua đó, nhân dân ta muốn nêu lên bài học lịch sử về tinh thần cảnh giác với kẻ thù

và cách xử lí đúng đắn mối quan hệ giữa riêng và chung, giữa nhà với nước, giữa cá nhân và cộng đồng

3.5) Giá trị nghệ thuật

- Cốt truyện:

+ Cốt lõi lịch sử: xây thành, chế tạo vũ khí hiện đại, chiến thắng giặc, mất nước, bi kịch bi thảm… + Yếu tố hư cấu: sứ Thanh Giang, móng Rùa Vàng lầm lẫy nỏ thần, sư hóa thân của các nhân vật…

+ Có sự đan xen tạo yếu tố li kì, hấp dẫn cho câu chuyện kể

- Hình ảnh:

+ Giàu chất tư tưởng thẩm mĩ

+ Có sức sống lâu bền

Uy-lít-xơ trở về - Hô-me-rơ

I Tác giả

- Cho đến nay, vẫn chưa biết đích xác Hô-me-rơ là ai

- Có nhiều truyền thuyết kể về nhà thơ mù này Phổ biến hơn cả là câu chuyện kể về ông là con một gia đình nghèo và được sinh ra bên dòng sông Mê-lét vào khoảng thế kỉ IX-VIII trước Công nguyên

- Ông mang tên Mê-lê-xi-gien (nghĩa là con của dòng sông Mê-lét)

II Tác phẩm

1 Sử thi I-li-át và Ô-đi-xê

- I-li-át gồm 15 693 câu thơ Tác phẩm kể về cơn giận của anh hùng Asin I-li-át là bài ca chiến trận Tác phẩm ca ngợi sức mạnh thể xác của con người

- Ô-đi-xê gồm 12110 câu thơ, chia thành 24 khúc ca Ô-đi-xê kể về cuộc hành trình trở về quê hương của Uy-lít-xơ sau chiến thắng thành Tơ-roa Ô-đi-xê là bài ca về cuộc sống hòa bình Tác phẩm ca ngợi sức mạnh trí tuệ của con người

2 Đoạn trích Uy-lít-xơ trở về

2.1) Tóm tắt

Sau khi hạ được thành Tơ-roa, Uy-lít-xơ "hồi quân" trở về quê hương Chàng phải lênh đênh góc biển chân trời mười năm đằng đẵng mà vẫn chưa về tới quê nhà Chàng bị nữ thần Ca-líp-xô, vì yêu chàng nên cầm giữ Cảm thương số phận Uy-lít-xơ, thần Dớt sai Héc-mét đến lệnh cho

Ca-líp-xô phải để chàng đi Bị bão đánh chìm bè, chàng dạt vào xứ Phê-a-ki, được công chúa Nô-xi-ca yêu và nhà vua tiếp đãi tử tế Theo ý nhà vua, Uy-lít-xơ kể lại những chuyện li kì, mạo hiểm trên bước đường gian truân phiêu bạt của mình cùng đồng đội: chuyện thoát khỏi xứ sở những tên khổng lồ một mắt, chuyện thoát khỏi tiếng hát đầy quyến rũ của các nàng tiên cá Xi-ren nguy hiểm,… Cảm phục, nhà vua cho thuyền đưa chàng về quê hương I-tác Về đến nhà, chàng giả

Trang 10

dạng người hành khất nên Pê-nê-lốp, vợ chàng, không nhận ra Để trả lời sự thúc ép của bọn cầu hôn, Pê-nê-lốp thách ai giương được chiếc cung của Uy-lít-xơ và bắn một phát xuyên qua mười hai chiếc vòng rìu thì sẽ lấy người đó Tất cả bọn cầu hôn đều thất bại, Uy-lít-xơ xin được bắn và chàng đã thắng Nhân cơ hội đó, cha con chàng trừng trị bọn cầu hôn cùng những gia nhân phản bội

2.2) Tìm hiểu chung

a Vị trí đoạn trích

- Đoạn trích thuộc khúc ca thứ XXIII của sử thi Ô-đi-xê

b Bố cục (2 phần)

- Phần 1 (từ đầu người kém gan dạ): Cuộc đối thoại giữa bốn nhân vật, Pê - nê - lốp chưa chịu nhận chồng

- Phần 2 (còn lại): Pê-nê-lốp chưa chịu nhận chồng

2.3) Tìm hiểu chi tiết

a Nhân vật Pê-lê-lốp

- Diễn biến tâm lí của Pê-nê-lốp khi nhận được tin Ô-đi-xê đã trở về:

+ Nàng không tin Ô-đi-xê đã trở về, cương quyết bác bỏ ý kiến của nhũ mẫu Nàng cho rằng đó là một vị thần đã ra tay giúp đỡ còn chồng nàng đã chết nơi đất khách lâu rồi

+ Nhũ mẫu đưa ra những dẫn chứng để chứng minh: Vết sẹo ở cổ chân, lời thề và tất cả tính mạng của mình để thề nhưng Pê-lê-lốp vẫn không tin và nàng quyết định xuống đến tận nơi để quan sát

- Khi gặp Ô-đi-xê:

+ Nàng phân vân, không biết nên đứng xa hay đứng gần, nàng ngồi lặng thinh trên ghế hồi lâu + Lòng sửng sốt, khi đăm đăm âu yếm nhìn chồng, khi lại không nhận ra chồng

=> Chứng tỏ nàng rất thận trọng, trong lòng cực kì xúc động

+ Tê-lê-mác trách móc: “Mẹ ơi mẹ thật tàn nhẫn và lòng mẹ độc ác quá chừng”.

+ Nàng phân vân cao độ, tâm trạng cực kì xúc động

+ Nàng tìm cách để thử thách Ô-đi-xê

+ Nàng nói với con trai: “Cha mẹ có những dấu hiệu riêng chỉ có hai người biết với nhau mà người ngoài không biết” Nàng ra lệnh chuyển dịch cái giường cưới (nơi ẩn chứa bí mật của hai

người), hai người đã nhận ra nhau nhờ tín hiệu này => Mâu thuẫn đã được giải quyết

+ Pê-lê-lốp nhận ra chồng: nàng bủn rủn chân tay, nàng chạy lại, nước mắt chan hòa, ôm, hôn chồng, nói trong nước mắt và giải thích cho Uy-lít-xơ hiểu

=> Sự cẩn trọng ấy cho ta thấy được sự phức tạp của thời đại, những hiểm nguy luôn luôn đe dọa họ

=> Pê-lê-lốp tiêu biểu cho hình ảnh người phụ nữ Hi Lạp, thông minh, giàu nghị lực, thận trọng, khôn ngoan, chung thủy

Ngày đăng: 31/01/2021, 13:09

w