1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Dàn ý chi tiết 11 tác phẩm ngữ văn 12 tiêu biểu thi THPTQG 2019

35 90 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 79,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dàn ý của 11 bài văn trọng tâm văn lớp 12 dành cho kì thi THPT Quốc Gia 2019 Dàn ý gồm 11 tác phẩm có khả năng thi cao trong kì thi đại học năm nay Các tác phẩm bao gồm: 1.Ai đã đặt tên cho dòng sông 2.Người lái đò sông Đà 3.Hồn Trương Ba da hàng thịt 4.Chiếc thuyền ngoài xa 5.Rừng xà nu 6.Vợ chồng A Phủ 7.Vợ nhặt 8.Đất nước 9.Sóng 10.Việt Bắc 11.Tuyên ngôn độc lập

Trang 1

1 AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG

(Hoàng Phủ Ngọc Tường)

I KIẾN THỨC CƠ BẢN

1 Tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường

- Sinh năm 1937 tại t.p Huế

- Là một người con của xứ Huế

- Là một trong những nhà văn chuyên về bút ký

- Văn phong: “Nét đặc sắc … tài hoa” (tr197)

- Tác phẩm tiêu biểu: (Sgk)

2 Tác phẩm:

- Xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác: Là bài bút kí đặc sắc, viết tại Huế (1981), in trong tập sách cùng tên

- Kết cấu: Tác phẩm gồm ba phần

+ Phần 1: Sông Hương ở thượng nguồn

+ Phần 2: Sông Hương ở ngoại vi thành phố Huế

+ Phần 3: Sông Hương giữa lòng thành phố Huế

- Vị trí văn bản: chỉ là một đoạn trích trong bài bút kí dài về dòng sông Hương thơ mộng của xứ Huế

II Phân tích:

1: Ý nghĩa nhan đề “ Ai đã đặt tên cho dòng sông”

- “Ai đã đặt tên cho dòng sông” Câu hỏi tu từ đặt ra “Với trời, với đất” đưa nhà văn và độc giả về với hành trình lịch sử tìm về cuội nguồn văn hoá dân tộc Từ đó dòng sông Hương hiện ra trên nhiều phương diện địa lí, lịch sử, văn hoá, thơ ca… Kết thúc tuỳ bút là một huyền thoại rất đẹp, bộc lộ cái tôitrữ tình suy tư: “ Con người ở hai bờ đã nấu nước trăm loài hoa đổ xuống sông, đẻ làn nước thơm tho mãi” Tác giả gửi gắm vào đấy tất cả ước vọng muốn đem cái đẹp và tiếng thơm để xây đắp văn hoá lịch sử

- Nhan đề và kết thúc tác phẩm thể hiện rõ chủ đề và phong cách bút kí của tác giả giàu sức gợi cảm thấm đẫm chất thơ.Qua đó tác giả ca ngợi tính chất sông Hương – con sông gắn bó với lịch sử, văn hoá Huế của dân tộc ta Tác phẩm thể hiện long yêu mến say mê cảnh vật, văn hoá đất nước Hình ảnh dòng sông đất nước được thể hiện bằng tài năng của một cây bút giàu chất chí tuệ, chất văn hoá

và ngôn ngữ trong sáng, chọn lọc, tinh tế

2 Chứng minh vẻ đẹp của sông Hương qua các góc nhìn khác nhau :

Mở bài: - Ai đã đặt tên cho dòng sông là tác phẩm bút kí kiệt xuất của Hoàng Phủ Ngọc Tường

-Đoạn trích thể hiện vẻ đẹp, chất thơ từ cảnh sác thiên nhiên của song Hương

Thân bài:

* Từ thượng nguồn:

- Khi qua dãy Trường Sơn hùng vĩ:

+ Sông Hương là bản tình ca của rừng già; Rầm rộ và mãnh liệt…Dịu dàng và say đắm…

+ Sông Hương như một cô gái Di-gan phóng khoáng man dại

+ Rừng già đã hun đúc cho nó 1 bản tính gan dạ, 1 tâm hồn tự do, phóng khoáng

=> Vẻ đẹp của một sức sống trẻ trung, mãnh liệt và hoang dại

- Khi ra khỏi rừng già:

+ Đóng kín phần tâm hồn sâu thẳm của mình ở cửa rừng…

+ Mang sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ, trở thành người mẹ phù sa của một vùng văn hoá xứ sở

=> Vẻ đẹp đầy bí ẩn, sâu thẳm của dòng sông

Tiểu kết:

Bằng óc quan sát tinh tế và trí tưởng tượng phong phú, bằng việc sử dụng nghệ thuật so sánh, nhân hoá tài hoa, táo bạo, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã phát hiện và khắc hoạ vẻ đẹp mạnh mẽ, trẻ trung đầy cá tính của dòng sông, gợi lên ở người đọc những liên tưởng kì thú, gợi cảm, đầy sức hấp dẫn

* Về châu thổ:

- Sông Hương trên đường tìm đến Huế:

+ Chuyển dòng một cách liên tục, uốn mình theo những đường cong thật mềm, như một cuộc tìm kiếm có ý thức

+ Vẻ đẹp của dòng sông trở nên biến ảo, đa dạng trong nhiều thời gian và không gian khác nhau (dẫnchứng ) Vẻ đẹp của Huế như trở thành vẻ đẹp của sông Hương

Trang 2

=> Sông Hương qua cái nhìn đầy lãng mạn của Hoàng Phủ Ngọc Tường như 1 cô gái dịu dàng mơ mộng đang khao khát đi tìm thành phố tình yêu của nó.

- Sông Hương gặp gỡ Huế:

+ Uốn 1 cánh cung rất nhẹ > Vẻ e lệ, ngượng ngùng khi gặp người trong mong đợi, sự thuận tình

mà không nói ra

+ Các nhánh sông toả đi khắp thành phố như muốn ôm trọn Huế vào lòng Sông Hương và Huế hoà lẫn vào nhau

+ Sông Hương giảm hẳn lưu tốc, xuôi đi thực chậm (điệu slow)… thực yên tĩnh như niềm say mê, như khát vọng được gắn bó, lưu lại mãi với mảnh đất nơi đây

+ Liên tưởng với những dòng sông khác > Niềm tự hào của Hoàng Phủ Ngọc Tường về dòng sông quê hương

=> Được nhìn từ góc độ tâm trạng, nên cuộc gặp gỡ của Huế và Sông Hương như cuộc hội ngộ của tình yêu với nhiều cung bậc cảm xúc

- Sông Hương tạm biệt Huế để ra đi:

+ Rời khỏi kinh thành, sông Hương ôm lấy đảo Cồn Huế, lưu luyến ra đi…

+ Đột ngột rẽ ngoặt lại để gặp thành phố yêu dấu một lần cuối

=> Quyến luyến, ngập ngừng, bịn rịn không nỡ rời xa

Tiểu kết:

- Cách tiếp cận đối tượng bằng nhiều ngành nghệ thuật như hội họa, âm nhạc; nghệ thuật nhân hóa,

so sánh đầy mới lạ, bất ngờ làm cho sông Hương, xứ Huế trở nên có linh hồn, có sự sống Đó là cuộc trở về, gặp gỡ của cô gái si tình - sông Hương - đang say đắm trong tình yêu

- Nhà văn: Tâm hồn đa cảm, lãng mạn; cách viết tài hoa

Vẻ đẹp văn hoá của dòng sông:

- Dòng sông âm nhạc:

+ Là người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya

+ Là nơi sinh thành ra toàn bộ nền âm nhạc có điểm của Huế

+ Là cảm hứng để Nguyễn Du viết lên khúc đàn của nàng Kiều

- Dòng sông thi ca:

+ Là vẻ đẹp mơ màng Dòng sông trắng lá cây xanh trong thơ Tản Đà

+ Vẻ đẹp hùng tráng như kiếm dựng trời xanh của Cao Bá Quát

+ Là nỗi quan hoài vạn cổ trong thơ bà Huyện Thanh Quan

+ Là sức mạnh phục sinh tâm hồn trong thơ Tố Hữu

=> Sông Hương luôn đem đến nguồn cảm hứng mới mẻ, bất tận cho các nghệ sĩ

- Dòng sông gắn với những phong tục, với vẻ đẹp tâm hồn của người dân xứ Huế

+ Màn sương khói trên sông Hương là màu áo điền lục, 1 sắc áo cưới của các cô dâu trẻ trong tiết sương giáng

+ Vẻ trầm mặc sâu lắng của sông Hương cũng như 1 nét riêng trong vẻ đẹp tâm hồn của người xứ Huế: rất dịu dàng và rất trầm tư…

Tiểu kết:

Với kiến thức uyên bác, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã lí giải vẻ đẹp văn hóa phong phú của sông Hương,

vẻ đẹp gắn liền với xứ Huế, với con người Huế

* Sông Hương với lịch sử hào hùng:

- Là 1 dòng sông anh hùng:

•Từ xa xưa: là một dòng sông biên thùy xa xôi của đất nước

•Thời trung đại:bảo vệ biên giới phiá nam của tổ quốc

•Thời chống Pháp: sống hết lịch sử bi tráng với các cuộc khởi nghĩa

•Đi vào thời đại cách mạng tháng 8 với những chiến công rung chuyển

Trang 3

- Bài kí lột tả được vẻ đẹp đa dạng, phong phú của sông Hương, cũng là của xứ Huế, con người Huế -Tình yêu thiết tha, say đắm của tác giả đối với cảnh và người nơi đây.

- Phong cách viết kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường: Phóng túng, tài hoa, giàu thông tin văn hoá, địa lí, lịch sử ; giàu chất trữ tình lãng mạn

3 Chất trí tuệ và chất thơ của Hoàng Phủ Ngọc Tường

* Chất trí tuệ:

Hoàng Phủ Ngọc Tường vận dụng những am hiểu trong ca dao Huế vào bút kí của mình

“ Bốn bề núi phủ mây phong

Mảnh trăng thiên cổ bóng tùng vạn niên”

cho đến câu thơ của Tản Đà “ Dòng sông trắng- lá cây xanh”, thơ của Tố Hữu, Cao Bá Quát, Bà HuyệnThanh Quan, Truyện Kiều

Những hiểu biết về phương diện địa lí để miêu tả vẻ đẹp của sông Hương từ thượng nguồn, đến đồng bằng, cho đến cố đô Huế

Những hiểu biết về lịch sử văn hoá

Sự liên tưởng so sánh với các công trình kiến trúc của Hi Lạp, La Mã, nền văn minh Châu Âu

Những tác phẩm văn học Châu Âu, những lời nhận xét của các nhà khoa học nước ngoài

* Chất thơ:

- Cách ví von, so sánh đầy chất thơ, mượt mà, ý vị

“ Chiếc cầu trắng của thành phố in ngần trên nền trời, nhỏ nhắn như những vành trăng non” Và “ giáp mặt thành phố ở Cồn Giã Viên, sông Hương uốn một cách cung rất nhẹ sang đến Cồn Hiến, đường cong ấy làm cho dòng sông mền hẳn đi như một tiếng vâng không nói ra của tình yêu Hay “ Sông Hương là vậy, là dòng sông của sử thi viết giữa màu cỏ lá xanh biếc”

Những câu văn có sự mài dũa, đẽo gọt kĩ càng, nhẹ nhàng như một câu thơ

Trang 4

2 NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ

(NGUYỄN TUÂN)1.Hoàn cảnh sáng tác

+ Người lái đò sông Đà là một áng văn trong tập tùy bút Sông Đà (1960) – thành quả nghệ thuật đẹp đẽ của NguyễnTuân trong chuyến đi gian khổ và hào hùng tới miền Tây Bắc rộng lớn của Tổ quốc Sông Đà gồm 15 thiên tùy bút

và một bài thơ ở dạng phác thảo

+ Mục đích chính của chuyến đi tới Tây Bắc của nhà văn đồng thời cũng là cảm hứng chủ đạo của cả tập bút ký là tìm kiếm chất vàng của thiên nhiên Tây Bắc và nhất là chất vàng mười – “thứ vàng đã được thử lửa” ở tâm hồn những con người lao động, chiến đấu trên miền núi sông hùng vĩ và thơ mộng

2 Vẻ đẹp hung bạo và trữ tình của hình tượng con sông Đà

* Vẻ hung bạo, dữ dằn :

- Cảnh đá bờ sông “dựng vách thành”, có quãng lòng sông bị thắt hẹp lại như cái yết hầu

- Những quãng dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm…

- Những “hút nước” chết người luôn sẵn sàng nhấn chìm và đập tan chiếc thuyền nào lọt vào

- Tiếng nước thác sông Đà với nhiều cung bậc dữ dội khác nhau

- Quãng sông Đà với bao đá nổi, đá chìm, phối hợp cùng sóng thác như dàn thạch trận, lập nhiều phòng tuyến… sẵn sàng “ăn chết” con thuyền và người lái đò

* Vẻ trữ tình, thơ mộng :

- Từ trên cao nhìn xuống, dòng chảy uốn lượn của con sông như mái tóc của người thiếu nữ diễm kiều

- Nhìn ngắm con sông từ nhiều thời gian, không gian khác nhau, Nguyễn Tuân đó phát hiện những sắc màu tươi đẹp và đa dạng của màu nước sông Đà Nó biến đổi theo mùa, mỗi mùa có một vẻ đẹp riêng

- “Nhìn sông Đà như một cố nhân”, nhà văn cảm nhận rõ nét cái chất “đằm đằm ấm ấm” thân quen của con sông vànhất là cái chất thơ như ngấm vào trong từng cảnh sắc thiên nhiên sông Đà

- Từ điểm nhìn của một khách hải hồ trên dòng sông, nhà văn đó quan sát và khắc họa những vẻ đẹp hết sức đa dạng và nên thơ của cảnh vật ven sông

3.Hình tượng người lái đò

- Là người tinh thạo trong nghề nghiệp

+ Ông lão nắm vững qui luật khắc nghiệt của dòng thác sông Đà “Nắm chắc quy luật của thần sông thần đá”

+ Ông thuộc lòng những đặc điểm địa hình của Sông Đà “ nhớ tỉ mỉ như đóng đanh vào tất cả các luồng nước của tất cả những con thác hiểm trở”, Sông Đà “như một thiên anh hùng ca mà ông đò thuộc đến cả những cái chấm than, chấm câu và những đoạn xuống dòng”

- Là người trí dũng tuyệt vời:Ông sẵn sàng đối mặt với thác dữ, chinh phục “cửa tử”, “cửa sinh”, vượt qua trận thuỷ chiến với đá chìm, đá nổi, với những trùng vi thạch trận và phòng tuyến đầy nguy hiểm Ông lái đò vượt qua bằng những hành động táo bạo và chuẩn xác Ông hiện lên như một vị chủ huy dày dạn kinh nghiệm:

+ Ở trùng vây thứ nhất:thần sông dàn ra năm cửa đá thì có đến bốn cửa tử, cửa sinh duy nhất nằm sát bờ trái và huy độg hết sức mạnh của sóng thác đánh vỗ mặt con thuyền Luồng song hung tợn “liều mạng vào sát nách mà đátrái, mà thúc gối vào bụng và hông thuyền” Thậm chí còn đánh đòn tỉa, đánh đòn âm… nhưng người lái đò bình tĩnh giữ chắc mái chèo giúp con thuyền “khỏi bị hất khỏi bờm song trận địa phóng thẳng vào mình” Ngay cả lúc bị trúng đòn hiểm, mặt méo bệch đi nhưng ông vẫn tỉnh táo chỉ huy con thuyền lướt đúng vào luồng sinh

+ Ở trùng vây thứ 2, dòng sông đã thay đổi sơ đồ phục kích và cả chiến thuật Vòng vây thứ 2 này tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền vào Cửa sinh lại bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn Nhưng ông đò đã “nắm chắc quyluật của thần sông thần đá” nên lập tức cũng thay đổi chiến thuật theo, nhận ra cạm bẫy của bọn thuỷ quân nơi cửa

ải nước này Ông không né tránh mà đưa con thuyền cưỡi lên sóng thác”“cưỡi lên thác Sông Đà, phải cưỡi đến cùngnhư là cưỡi hổ” “Nắm chắc được cái bờm sóng đúng luồng rồi, ông đò ghì cương lái, bám chắc lấy luồng nước đúng

mà phóng nhanh vào cửa sinh, mà lái miết một đường chéo vào cửa đá ấy” Người lái đò tả xung, hữu đột như một chiến tướng dày dạn kinh nghiệm trận mạc có thừa lòng quả cảm đã đưa được con thuyền vượt qua tập đoàn cửa tửkhiến cho những bộ mặt đá hung hăng dữ tợn phải xanh lè, thất vọng

Trang 5

+ Ở trùng vây thứ 3, thạch trận ít cửa tử hơn những bên phải bên trái đều là luồng chết cả, cửa sinh lại nằm giữa lòng sông và bọn đá hậu vệ canh giữ Nhưng ông đò không hề bất ngờ trước mưu mô hiểm độc của bọn chúng, tiếptục chỉ huy con thuyền vượt qua trùng vây thứ 3.

- Là người tài hoa nghệ sĩ:

+ Ông đối đầu với ghềnh thác cuồng bạo bằng sự tự tin, ung dung nghệ sĩ Tay lái linh hoạt, khéo léo, tài hoa như một nghệ sĩ trên sông nước : “ông đò vẫn nhớ mặt bọn này, đứa thì ông tránh mà rảo bơi chèo lên, đứa thì ông đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến”, “Vút, vút…thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước” Dưới bàn tay chèo lái điêu luyện của ông con thuyền đã hoá thành con tuấn mã hiểu ý chủ- khi thì khéo léo né tránh luồng sóng dữ, khi thì phóng thẳng vào cửa đá có 3 tầng cổng “cánh mở, cánh khép” Con thuyền như bay trong không gian, ông đò luôn nhìn thử thách bằng cái nhìn giản dị mà lãng mạn

+ Sau cuộc vượt thác gian nan, ông đò lại có phong thái ung dung của một nghệ sĩ “Đêm ấy nhà đò đốt lửa trong hang đá, nước ống cơm lam và toàn bàn tán về cá anh vũ, cá dầm xanh…”

è Đây là hình ảnh về một người lao động mới mang vẻ đẹp khác thường Người lái đò hiện lên như là vị chỉ huy dày dạn kinh nghiệm, tài trí và luôn có phong thái ung dung pha chút nghệ sĩ Ông chỉ huy cuộc vượt thác một cách tài tình, khôn ngoan và biết nhìn thử thách đó qua bằng cái nhìn giản dị mà không thiếu vẻ lãng mạn Hình ảnh ông lái

đò cho thấy Nguyễn Tuân đó tìm được nhân vật mới cho mình, những con người đáng trân trọng, đáng ngợi ca, không thuộc tầng lớp thượng lưu đài các một thời vang bóng mà ngay trong quần chúng lao động bình thường xung quanh ta Qua hình tượng người lái đò sông Đà, nhà văn muốn phát biểu quan niệm : người anh hùng không phải chỉ có trong chiến đấu mà còn có trong cuộc sống lao động thường ngày

- Đoạn văn tả trận thủy chiến, tập trung khắc họa hình tượng ông lái đò một lần nữa cho thấy sự uyên bác, lịch lãm của Nguyễn Tuân ở đây có tri thức, có ngôn ngữ sống động của quân sự, thể thao, võ thuật, điện ảnh…

4 Nghệ thuật

- Những ví von, so sánh, liên tưởng, tưởng tượng độc đáo, bất ngờ và rất thú vị của tác giả

- Ngôn ngữ đa dạng, sống động, giàu hình ảnh và có sức gợi cảm cao

- Câu văn có nhịp điệu, lúc thì hối hả, mau lẹ, khi thì chậm rãi, như tãi ra để diễn tả vẻ đẹp trữ tình rất nên thơ của con sông

5 Chủ đề:

Qua hình tượng sông Đà và người lái đò, Nguyễn Tuân muốn thể hiện niềm yêu mến thiết tha với thiên nhiên đất nước và ngợi ca những con người lao động - chất vàng mười của cuộc sống

Trang 6

3 HỒN TRƯƠNG BA, DA HÀNG THỊT

(Lưu Quang Vũ)

I KIẾN THỨC CHUNG

1 Cuộc đời và sự nghiệp của Lưu Quang Vũ

Lưu Quang Vũ (1948-1988), quê gốc ở Đà Nẵng Ông là một cây bút tài hoa đã để lại dấu ấn trong nhiều thể loại : thơ, văn xuôi, đặc biệt là kịch Thiên hướng và năng khiếu nghệ thuật của LQV sớm bộc lộ từ nhỏ và vùng quê Bắc

Bộ đã in dấu nhiều trong sáng tác của ông sau này Ở thể loại nào người đọc cũng bắt gặp một LQV với tâm hồn nổigió, sức sống mãnh liệt và khả năng sáng tạo miệt mài Năm 2000, Lưu Quang Vũ được truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về nghệ thuật sân khấu Các tác phẩm chính : Thơ : Hương cây, Mây trắng, Bầy ong trong đêm sâu Kịch : Sống mãi tuổi 17, Mùa hạ cuối cùng, Hồn Trương Ba da hàng thịt, Tôi và chúng ta, Nàng Si-ta,…

2 Tóm tắt tác phẩm

Trương Ba là một người là vườn và giỏi đánh cờ đã bị Nam Tào bắt chết nhầm Vì muốnsửa sai, nên Nam Tào và

Đế Thích cho Hồn Trương Ba sống lại và nhập vào xác hàng thịt mới chết Trú nhờ trong xác anh hàng thịt, Trương

Ba gặp rất nhiều phiền toái : lý tưởng sách nhiễu, chị hàng thịt đòi chồng, gia đình Trương Ba cũng cảm thấy xa lạ,

… mà bản thân Trương Ba thì đau khổ vì phải sống trái tự nhiên và giả tạo Đặc biệt thân xác hàng thịt làm Trương

Ba nhiễm một số thói xấu và những nhu cầu vốn không phải chính bản thân ông Trước nguy cơ tha hóa về nhân cách và sự phiền toái do mượn thân xác của kẻ khác, Trương Ba quyết định trả lại xác cho hàng thịt và chấp nhận cái chết

3 Nhan đề

Nhan đề Hồn Trương ba, da hàng thịt gợi cảm giác về độ vênh lệch của hai yếu tố quan trọng trong một con người Hồn là phần trừu tượng, da thịt thân xác là cái cụ thể, là cái bình có thể chứa linh hồn, hồn nào xác ấy Nhưng ở đâyhồn người người này lại ở trong xác người kia Hồn và xác lại không tương hợp ; tính cách, hành động, lối sống của Trương Ba và anh hàng thịt trái ngược nhau Tên gọi của vở kịch đã thâu tóm được những mâu thuẫn, xung đột bên trong của một con người

4 Xuất xứ của vở kịch Hồn Trương Ba da hàng thịt

– Lưu Quang Vũ viết vở kịch Hồn Trương Ba da hàng thịt năm 1981, đến năm 1984 thì ra mắt công chúng Vở kịch dựa vào câu chuyện dân gian, nhưng đã có những thay đổi cơ bản

– Điểm khác biệt :

+ Trong truyện dân gian, nhân vật Trương Ba tiếp tục sống bình thường, hạnh phúc khi được nhập hồn vào thân xácanh hàng thịt Ngắn gọn và đơn giản, truyện dân gian mang một tư tưởng triết học có phần cơ bản đúng, nhưng chỉ

đề cao linh hồn, tuyệt đối hóa linh hồn, không để ý đến mối quan hệ giữa thể xác và linh hồn

+ Vở kịch của Lưu Quang Vũ tại tập trung diễn tả tình cảnh trớ trêu, nỗi đau khổ, giày vò của Trương Ba từ khi “bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo” Từ đó đưa đến những tư tưởng mới : sự tồn tại độc lập của thân xác đối với linh hồn và khẳng định một quan niệm đúng đắn về cách sống

.5 Thông điệp

– Được sống làm người thật là quý giá ; nhưng được sống đúng là mình, sống trọn vẹn với những giá trị mình muốn

có và theo đuổi còn quý giá hơn

– Cuộc sống chỉ thực sự có ý nghĩa khi người ta được sống tự nhiên với sự hài hoà giữa tâm hồn và thể xác

II KIẾN THỨC CƠ BẢN

1 Phân tích nhân vật Trương Ba

a Mở bài – Lưu Quang Vũ là một trong những cây bút tài hoa để lại những dấu ấn trong nhiều thể loại : thơ, văn xuôi và đặc biệt là kịch Ông là một trong những nhà soạn kịch tài năng nhất của nền văn học nghệ thuật Việt Nam hiện đại

– Hồn Trương Ba, da hàng thịt là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất, đánh dấu sự vượt trội trong sáng tác củaLưu Quang Vũ

– Nhân vật Trương Ba – một nhân vật bi kịch

b Thân bài

Trang 7

* Giới thiệu chung

– Hoàn cảnh ra đời, xuất xứ

– Đây là một vở kịch mà Lưu Quang Vũ đã dựa vào cốt truyện dân gian, tuy nhiên chiều sâu của vở kịch chính là phần phát triển sau của tuyện dân gian

* Phân tích

– Hoàn cảnh éo le, bi đát của ông Trương Ba

+ Trương Ba là người làm vườn yêu cây cỏ, yêu thương mọi người, sống nhân hậu, chân thực, chưa tới số chết, nhưng vì sự tắc trách của quan nhà trời mà Trương Ba phải chết

+ Hồn Trương Ba phải trú nhơ vào xác anh hàng thịt, một người thô lỗ,… Tính cách Trương Ba ngày càng thay đổi

à Bi kịch của sự oan trái

– Cuộc đối thoại giữa hồn và xác

+ Hồn là biểu tượng cho sự thanh nhã, cao khiết, trong sạch, đạo đức nhưng tất cả hoàn toàn trái ngược qua phần đối thoại với xác Hồn Trương Ba để lại trong mắt xác hàng thịt là một kẻ phàm ăn, tục uống ; mê rượu và háo sắc ;

cư xử thô bạo với mọi người,…

+ Những biểu hiện ngay trong đối thoại khi Hồn Trương Ba không còn là chính mình : cư chỉ, điệu bộ lúng túng, khổ

sở ; giọng điệu có khi yếu ớt, lời thoại ngắn ; khi đuối lý lại dùng lời lẽ thô bạo để trấn áp “Ta… Ta… đã bảo mày im đi” à Bi kịch của sự tồn tại riêng rẽ : con người không thể chỉ sống bằng thân xác mà cũng không thể sống bằng tinhthần

– Nỗi đau khổ của Hồn Trương Ba khi tìm về những người thân trong gia đình

+ Người vợ vừa hờn ghen vừa dằn dỗi chồng, có cảm giác ông là người sống xa lạ với mọi người + Đứa con trai cả quyết định bán khu vườn để đầu tư vào sạp thịt

+ Cái Gái, đứa cháu nội mà ông yêu quý nhất, không thừa nhận ông là ông nội, thậm chí nó còn cự tuyệt đến quyết liệt “Nếu ông nội tôi hiện về được, hồn ông nội tôi sẽ bóp cổ ông” Trong mắt nó, Hồn Trương Ba chỉ là một tên đồ

tể, tay chân vụng về, luôn phá hoại

+ Con dâu tỏ ra thông cảm, hiểu và đau cho nỗi đau sống nhờ và sự thay đổi của Hồn Trương Ba à Bi kịch bị ngườithân xa rời, khước từ cuộc sống

– Khát vọng giải thoát khỏi thân xác người khác + Trương Ba tự ý thức bi kịch của mình : “Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được Tôi muốn được là tôi toàn vẹn” à Bi kịch sống nhờ vào thân xác người khác – Trương Ba trước cái chết của cu Tị

+ Trước đề nghị đổi thân xác của Đế Thích, tính cách TB từ chỗ lưỡng lự, suy nghĩ rồi quyết định dứt khoát

+ Trương Ba muốn chết thật là để cho mình được sống mãi hoài nhớ của mọi người à Giải thoát bi kịch của một sự giả tạo trong con người Hồn Trương Ba

* Đánh giá

– Hồn Trương Ba là một nhân vật quá chú trọng đời sống tinh thần mà coi nhẹ thân xác

– Bi kịch của nhân vật Hồn Trương Ba là bi kịch về nỗi đau của sự vênh lệch giữa thể xác và tâm hồn trong một conngười

– Nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật, nghệ thuật tạo tình huống và diễn tiến kịch kích độc đáo

c Kết luận

– Đánh giá chung về nhân vật

– Khẳng định tài năng viết kịch của Lưu Quang Vũ và sức sống của tác phẩm

2 THÔNG ĐIỆP “KHÔNG THỂ SỐNG BÊN TRONG MỘT ĐĂNG, BÊN NGOÀI MỘT NẺO

a Mở bài

– Giới thiệu tác giả (con người và phong cách)

– Giới thiệu tác phẩm (giá trị của tác phẩm)

– Tác phẩm có rất nhiều lời thoại mang tính triết lý, trong đó lời nói của Trương Ba “Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được Tôi muốn được là tôi trọn vẹn” đã gợi lên tình huống éo le của nhân vật

b Thân bài

Trang 8

* Giới thiệu chung

– Hồn Trương Ba, da hàng thịt là một trong những truyện hay trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam Lưu Quang

Vũ đã dựa vào cốt truyện này để viết thành vở kịch nói cùng tên vào năm 1981 và được trình diễn lần đầu tiên vào năm 1984

– Vở kịch đặt ra vấn đề, đó là bi kịch sống nhờ của Hồn Trương Ba trong xác anh hàng thịt

– Lời thoại trên là lời của Hồn Trương Ba nói với Đế Thích, có ý nghĩa triết lý về sự thống nhất, hài hòa giữa hồn và xác trong một con người b Phân tích tình huống éo le của nhân vật Hồn Trương Ba trong xác anh hàng thịt

+ Tình huống éo le, bi đát – Nguyên nhân dẫn đến tình huống éo le : việc gạch tên chết người vô trách nhiệm của quan nhà trời và “thiện ý sửa sai” của Đế Thích – Nỗi khổ của Hồn Trương Ba khi phải sống nhờ vào xác anh hàng thịt : vợ con nghi ngờ, xa lánh ; do sự xui khiến của thân xác hàng thịt, Hồn Trương Ba có những hành vi, cử chỉ thô

lỗ, vụng về

– Hồn Trương Ba cương quyết không sống trong xác anh hàng thịt Khát vọng giải thoát khỏi thân xác người khác khiến Hồn Trương Ba gọi Đế Thích lên để nói rõ bi kịch sống nhờ, sống không đúng mình

+ Ý nghĩa của lời thoại

– Lời thoại này thể hiện rõ quan niệm về hạnh phúc của nhà viết kịch Hồn Trương Ba đã có một thân xác để tồn tại,

để tiếp tục sống, ngỡ đó là hạnh phúc Nhưng hóa ra hạnh phúc ở đời không phải là được sống mà sống như thế nào

– Bức thông điệp mà Lưu Quang Vũ muốn nhắn gửi qua bi kịch của Trương Ba: con người phải được sống như chính mình, sống hòa hợp giữa hồn và xác – tâm hồn trong sạch như thân xác được khỏe mạnh “Tôi muốn là tôi toàn vẹn”, đấy mới là hạnh phúc

* Đánh giá

– Tình huống éo le của vở kịch là nét đặc sắc tạo nên sự khác biệt giữa truyện dân gian và vở kịch

– Thông qua lời thoại của nhân vật, Lưu Quang Vũ đã thể hiện quan niệm sống giàu giá trị nhân văn

– Nhà văn đã dựng lên được những kịch tính thông qua cử chỉ, hành động, đặc biệt là lời thoại của nhân vật sinh động có tầm khái quát cao

c Kết luận

– Lời thoại của Trương Ba “Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được Tôi muốn được là tôi trọn vẹn”

là một câu nói giàu tính triết lý, cũng lại là bi kịch cho số phận của một con người

– Khẳng định tài năng của Lưu Quang Vũ và sức sống của tác phẩm

3 GÍA TRỊ NHÂN VĂN CỦA TÁC PHẨM

a Mở bài

– Giới thiệu tác giả (con người và phong cách)

– Giới thiệu tác phẩm (giá trị của tác phẩm)

– Giới thiệu vấn đề nghị luận : giá trị nhân văn

b Thân bài

* Giới thiệu chung Tham khảo một số đề trên

* Giải nghĩa giá trị nhân văn: Giá trị nhân văn của một tác phẩm là sự lột tả mâu thuẫn tâm lý của các nhân vật trong đời sống, hay chính mâu thuẫn trong từng con người, trong cái trong sáng có sự sa ngạ, lầm lạc và trong ánh sáng có bóng tối Nó là cuộc đấu tranh giữa thiện và ác, giữa đẹp và xấu, giữa hy vọng và tuyệt vọng của con người

* Phân tích

– Hoàn cảnh trớ trêu của Hồn Trương Ba khi phải sống nhờ thân xác anh hàng thịt

– Nỗi đau đớn giày vò của Hồn Trương Ba khi phải sống nhờ, sồng khác mình, qua các chi tiết : + Lời dẫn kịch : ngồi ôm đầu một hồi lâu, bịt tai lại, như tuyệt vọng, bần thần nhập lại xác anh hàng thịt,…

+ Lời của nhân vật : Ta… ta đã bão là mày im đi, Trời,…

+ Lời độc thoại nội tâm : Mày đã thắng thế rồi, cái thân xác không phải là của ta ạ… à Ý nghĩa nhân văn của tác phẩm :

Trang 9

– Ý nghĩa nhân văn của vở kịch là ở chỗ Lưu Quang Vũ đã khẳng định, tôn trọng cái cá thể, khẳng định vị trí, vai trò của cá nhân trong xã hội Qua lời thoại đầy chất triết lý, nhà văn gửi bức thông điệp kêu gọi con người như sống chính mình “Tôi muốn được là tôi toàn vẹn”, câu nói đơn giản của nhân vật Hồn Trương Ba chính là chìa khóa mở

ra giá trị nhân văn của tác phẩm – Ý nghĩa nhân văn của vở kịch còn là ở chỗ nhà văn đã đấu tranh cho sự hoàn thiện vẻ đẹp nhân cách con người Để cho nhân vật Hồn Trương Ba khước từ cuộc sống vay mượn thân xác người khác, Lưu Quang Vũ đã mở hướng cho nhân vật vươn tới một lẽ sống đích thực, dẫu thân xác có trở về hư vô

* Đánh giá

– Cảnh VII, của vở kịch giàu giá trị nhân văn :

+ Cần tạo cho con người có được sự hài hòa giữa hai mặt tinh thần và vật chất ; không được kỳ thị những đòi hỏi vậtchất của con người ; cần tôn trọng quyền tự do cá nhân ; cần biết rút kinh nghiệm về những sai lầm để hướng tới tương lai – Giá trị nhân văn mà Lưu Quang Vũ đặt ra đến nay vẫn còn nguyên vẹn và vẫn còn mang tính thời sự

c Kết luận

– Khẳng định giá trị của tác phẩm (nội dung, nghệ thuật)

– Khẳng định tài năng của Lưu Quang Vũ

Trang 10

4 CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA (Nguyễn Minh Châu)

I KIẾN THỨC CHUNG

1 Tác giả Nguyễn Minh Châu (1930 -1989):

Là người mở đường xuất sắc cho công cuộc đổi mới văn học từ sau năm 1975 Ở giai đoạn trước, ông

là ngòi bút có khuynh hướng lãng mạn, sử thi Ở thời kì sau, ngòi bút của ông chuyển sang đề tài thế

sự, quan tâm tới đời sống của con người trong đời thường với những vấn đề về đạo đức, về triết lí nhân sinh

Tập truyện ngắn Những vùng trời khác nhau (1970), tiểu thuyết Dấu chân người lính (1972) , tiểu thuyết Miền cháy (1977), Lửa từ những ngôi nhà (1977) ,Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Bến quế, Khách ở quê ra, Bức tranh Năm 2000, Nguyễn Minh Châu được Nhà nước trao tặng Giải thưởng

Hồ Chi Minh về văn học và nghệ thuật

2 Văn bản đoạn trích truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa (8 - 1983), rút từ tập truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa (1-987)

Thể loại - phương thức biểu đạt:

Truyện ngắn; tự sự - (miêu tả - biểu cảm); ngồi kể thứ nhất, đặt vào nhân vật nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng - người chứng kiến và tham gia vào cậụ chuyện

Bố cục đoạn trích:

+Phùng chớp được cảnh đẹp trời cho: chiếc thuyền lưới vó đang từ ngoài biển chèo thẳng vào bờ trong buổi sớm mai sương mù

+Ngay, sau đó Phùng lại chứng kiến cảnh bạo hành dã man của gia đình thuyền chài

+Câu chuyện với người đàn bà thuyền chài ở toà án huỵện

+Đoạn kết: suy nghĩ của Phùng về bức ảnh lịch và ngưòi đàn bà vùng biển I

->>Cũng có thể chia gọn 2 đoạn như SGV: 1 Hai phát hiện của nghệ sĩl Phùng 2 Câu chuyện của người đàn bà vùng biển

Nhưng cách chia này không thật rành mạch về ý Vì câu chuyện của nguòil đàn bà đã bắt đầu từ phát hiện thứ hai (đoạn 1)

II KIẾN THỨC CƠ BẢN

1 Hai phát hiện của nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng

a Phát hiện thứ nhất: Bức danh hoạ mực Tàu thời cổ

Đoạn văn : Lúc bấy giờ mang lại

Theo yêu cầu của trưởng phòng, nghệ sỹ nhiếp ảnh Phùng tìm đến vùng ven biển miền Trung (Trung trung bộ), nơi vốn là chiến trường cũ của anh, để chụp những tấm ảnh phục vụ cho chủ đề thuyền và biển của bộ lịch năm sau Về lại mảnh đất một thời gắn bó trong cuộc sống đời thường, người nghệ sỹ

đi tìm vẻ đẹp bí ẩn của cuộc sống của người dân làng chài Sau bao ngày săn ảnh, Phùng đã chớp được một cảnh kì diệu về chiếc thuyền ngoài xa đang thu lưới trong biển sớm mờ sương: ” mũi thuyền

in một nét mơ hồ, lòe nhòe vào bầu sương mù trắng như sữa…đang hướng mặt vào bờ” Với Phùng đây là khoảnh khắc kì diệu trong đời cầm máy của mình Bởi từ khung cảnh sông nước đến con người ngư phủ, từ đường nét, màu sắc, ánh sáng tất cả đều hài hòa tuyệt đẹp Trong con mắt Phùng, cảnh tượng đó giống như một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ

Cảnh đẹp bất ngờ xuất hiện trước mắt Phùng như một phần thưởng cao quý trời cho để thưởng cho người nghệ sĩ kiên trì dày công mai phục (như Nguyễn Tuân mấy chục năm trước đã hơn hai tuần phục cảnh mặt trời lên trên biển Cô Tô)

Ngòi bút đặc tả vẻ đẹp vừa cổ kính vừa mơ màng đúng như mong ước trong tưởng tượng của nghệ sĩ

về cảnh thuyền và biển trong sương mù nhạt nhoà Vẻ đẹp giản dị và toàn bích của thiên nhiên mà người nghệ sĩ may mắn chớp được khoảnh khắc hiếm hoi

Cảm xúc của người nghệ sĩ sáng tạo: bối rối, trong tim như có cái gì bóp thắt vào, cảm thấy niềm vui của sự khám phá chân lí toàn thiện, khọảnh khắc trong ngần của tâm hồn Tất nhiên là anh vội, không tiếc phim, bấm máy liên tục để vĩnh cửu hoá cảnh tuyệt vời

Ý nghĩa chi tiết: với nhà nghệ sĩ chân chính, không niềm vui nào bằng khám phá được vẻ đẹp bất ngờ của thiên nhiên nhiên và cuộc sống Nhưng để có được khoảng khắc hiếm hoi ấy, phải kiển trì, phải vượt khó, phải ham mê, hết mình vì nghệ thuật Và cái đẹp kì diệu có khi lại đến với người nghệ sĩ vàolúc không ngờ nhất Đó là cái đẹp tự nhiên, hoà hợp kì lạ giữa cảnh vật và con người đơn giản và hoànmĩ

Trang 11

b Phát hiện thứ hai: Cảnh bạo hành gia đình người đàn bà mặt rỗ.

Nhưng đó mới là vẻ đẹp bên ngoài của bức tranh chiếc thuyền ngoài xa Tình cờ, Phùng lại phát hiện được một bức tranh sinh hoạt của con người xảy ra bên bờ biển ấy

Đoạn từ: Ngay lúc ấy thuyền lưới vó đã biến mất

Phát hiện thứ nhất của nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng thật bất ngờ, lí thú nhưng phát hiện thứ hai ngay sau

đó còn bất ngờ hơn nhưng chẳng lí thú chút nào mà khó hiểu và buồn đau, căm giận Phát hiện bất ngờ, trớ trêu như trò đùa quái ác của cuộc sống Từ trong con thuyền đẹp như mơ ấy bước ra hai người đàn ông và đàn bà quái lạ Và tiếp theo là cảnh bạo hành trong gia đình thuyền chài xảy ra vô tình trước sự chứng kiến từ đầu đến cuối của nhà nghệ sĩ - người lính chiến năm xưa

Gã đàn ông thô lỗ, hung bạo, vũ phu, cục súc, với sức khoẻ như gấu, hình dáng cổ quái, hắn trút sự căm giận điên cuồng vào việc đánh đập người vợ của mình bằng chiếc thắt lưng to bận như đánh kẻ thù, hàm răng nghiên ken két, vừa đánh vừa chửi, nguyền rủa rên rỉ, đau đớn

Chúng ta đồng cảm với sự ngạc nhiên cao độ và hành động cứu ứng kịp thời của nghệ sĩ Phùng, khi

“anh há mồm ra nhìn rồi vứt máy ảnh lao tới định cứu người đàn bà nạn nhân của sự bạo hành man rợ”

Nhưng trong cách tả của tác giả đã hé ra phần nào cái nguyên nhân sâu xa khiến gã đàn ông nọ trở nên thô bạo tàn ác đến thế với vợ mình: gã gịân dữ và đau đớn vì bế tắc, hay vì một cái gì đó mà chính gã cũng không hiểu

Còn người đàn bà, hành động và cử chỉ của mụ càng làm Phùng ngạc nhiên, khó hiểu hơn, khi mụ nhẫn nhịn chịu đánh, lại chắp tay vái lạy con trai vừa cứu mẹ bằng cách giật cái thắt lưng trong tay

bố và chịu hai cái tát của người bố hung bạo

Người mẹ sợ con, xin con đừng chống lại cha mình? Người mẹ sợ con bị cha đánh chết? Người me quá thương con, lo cho con, sợ con phạm tội với người đã sinh ra mình? Tất cả đều mới chỉ là ức đoán, chưa có căn cứ làm sáng tò nhưng đã hiện ra trước mắt người đọc một chú bé vùng biển gan góc, lầm

lì, dũng cảm, hết lòng thương mẹ

Và đó là là mặt trái của bức ảnh mơ màng, lãng mạn đẹp tuyệt vời kia Nhưng đó cũng mới là một phần bên ngoài của sự thật Tình cờ, lại tình cờ mà may mắn, Phùng có dịp chứng kiến và tham gia vào câu chuyện để tự mình khám phá thêm chiều sâu và bản chất của sự thật đau buồn mà dữ dội ấy

Là người lính cũ, Phùng không thể làm ngơ trước sự bạo hành của cái ác Phùng cay đắng nhận ra những ngang trái, xấu xa, bi kịch gia đình nhà chài kia lại chính là thứ thuốc rửa quái đản lộn trái những thước phim anh đã dày công mới chụp được

Qua phát hiện thứ hai này Nguyễn Minh Châu cho chúng ta thấy đằng sau bức tranh thuyền và biển tuyệt diệu là cuộc đời đầy khắc nghiệt với những mảnh đời tội nghiệp Nhà văn muốn thể hiện cái đẹpcủa nghệ thuật dễ nắm bắt hơn cái đẹp của cuộc sống Vì cái đẹp của cuộc sống cần có thêm hạnh phúc và tình thương Và đôi cánh khi cái đẹp của ngoại cảnh làm khuất lấp cái xấu tồn tại ở đời sống Cuộc đời không đơn giản xuôi chiều mà chứa đựng nhiều nghịch lí với những mảng sáng tối, xấu đẹp, thiện ác, thật giả… Quan trọng là chúng ta đừng nhầm lẫn giữa hình thức bên ngoài và bản chất bên trong, chúng ta phải có cái nhìn đa diện, đa chiều về cuộc sống Nghệ thuật vốn nảy sinh từ cuộc đời nhưng cuộc đời không phải bao giờ lúc nào cũng đẹp như nghệ thuật

2 Câu chuyện ở toà án huyện

+ Cuộc gặp gỡ giữa vị chánh án và người đàn bà làng chài

Tác giả cố ý không đặt tên cho nhân vật của mình để tỏ rằng mụ cũng là một trong bao nhiêu người phụ nữ vùng biển khác mà thôi Đây không phải là một số phận, một cá tính quá cá biệt Người đàn

bà trung niên, lam lũ, vất vả, thầm lặng, tự nguyện chịu đựng đòn đánh của chồng như một lẽ đương nhiên, tất yếu đến vồ lí với người ngoài nhưng lại vì lí do thật đơn giản: bà cần sức mạnh của một người đàn ông trong cuộc mưu sinh và tồn tại gia đình đánh cá trên biển Bà sẵn sàng chịu đựng tất

cả vì đàn con đông đúc, bà chỉ mong chúng được ăn no, khoẻ mạnh và lớn lên Vì thế bà cay đắng và

tự nguyện để lão chồng ba ngày, năm ngày hai trận đòn nhục nhã, chỉ để hắn không bỏ đi, không rời

bỏ gia đình Đó là sự cam chịu nhẫn nhục đầy hi sinh, đáng cảm thông, chia sẻ Thấp thoáng trong người đàn bà ấy là bóng dáng của người phụ nữ Việt Nam nhân hậu, vị tha, giàu đức hi sinh cao cả

Đó là câu chuyện về sự thật cuộc đời, giúp Đẩu và Phùng hiểu nguyên nhân thật sự những điều tưởng chừng như vô lí vừa xảy ra Và họ - một đại diện cho công lí, một đại diện cho lương tâm nghệ sĩ mới nhận rõ điều này: Không thể dễ dãi, đơn giản khi nhìn nhận, đánh giá mọị sư việc, hiện tượng cuộc

Trang 12

sống \

Với tư cách là một chánh án toà án nhân dân huyện, đại diện cho chính quyền và pháp luật, một cựu binh thời đánh Đẩu có quan điểm dứt khoát, rõ ràng, bênh vực nạn nhân, giúp chị tìm con đường giải thoát, răn đe và trừng trị kẻ ác phạm tội Quan điểm đó là đúng, nhưng trong trường hơp cụ thể này lại tỏ ra cực đoan và rõ ràng chưa được người bị hại tán thành chứ đừng nói gì đến tâm phục khẩu phục Khi nghe tâm sự thật lòng của người đàn bà, khi hiểu ra vấn đề, phức tạp hơn anh tưởng, nhiều,Đẩu thấy hiện tại chỉ có cách theo cách của nạn nhân, vẫn đề họ sống với nhau, và gọi lão chồng lên huyện răn đe nghiêm khắc Nhưng với gã đàn ông thô bạo, cục súc, đánh vợ như trò giải trí ấy, mấy lời thuyết giáo của vị chánh án oai nghiêm nhưng xa vời kia liệu có phải như nước đổ lá khoai? Đó là cái khó của vị quan toà chân chính thời nay

Là nhân vật, là người kể chuyện xưng tôi, là người chứng kiến trực tiếp và trực tiếp tham gia vào câu chuyện, nhân vật Phùng là nơi gửi gắm quan điểm và suy tư của chính tác giả Đó là một nghệ sĩ có tài, say mê nghề nghiệp vẫn còn mang trong mình dòng máu người lính chiến sôi nổi, chân thành Qua chuyến đi săn tìm ảnh lịch theo yêu cầu của

vị trưởng phòng tinh khôn và khó tính, anh đã đạt kết quả mĩ mãn về chuyên môn, nhưng sâu sắc hơnanh hiểu

biết thêm được bao nhiêu sự thật cay đắng, nghịch lí của cuộc sống đời thường Hơn nữa anh còn thứcnhận sâu sắc hơn một điều, rằng, trước khi là một nghệ sĩ biết rung động trước cái đẹp hãy là người biết yêu ghét, buồn vui, đồng cảm chia sẻ và đấu tranh bằng hành động chống lại cái ác, cái xấu để

có cuộc sống xứng đáng với con người Và cuộc sống bao giờ cũng cần được khám phá, lí giải với tất

cả nhận thức và tình cảm, cái nhìn đa diện, nhiều chiều mới mong hiểu thấu diện mạo muôn màu và bản chất thực của nó

3 Người đàn bà làng chài

+ Về tên gọi : Cũng giống như nhân vật người vợ nhặt ( truyện ngắn Vợ Nhặt- Kim Lân ), người đàn bàtrong Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh châu cũng không được đặt tên Nhân vật được gọi bằng những cái tên phiếm chỉ : Người đàn bà, chị ta, mụ , Đây là nhân vật tiêu biểu cho những ngườiđàn bà vô danh ở những vùng biển khác nhau nhưng cùng chung số phận đau thương

+Ngoại hình: xấu xí , thô kệch, mặt rỗ vì hồi nhỏ bị đậu mùa, mụ trạc ngoài 40, khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới, quần áo rách rưới bạc phếch, thân người ướt sũng

-Hoàn cảnh gia đình, số phận

+Nghèo khổ lam lũ, đông con, gia đình làm nghề chài lưới, sống chen chúc trên cái thuyền chật hẹp.+ Mụ xấu xí từ nhỏ, lại bị rỗ mặt

Trang 13

+Có mang với một anh hàng chài, đến mua bả về đan lưới, rồi thành vợ chồng Cuộc sống mưu sinh trên biển cực nhọc, vất vả

+Bị chồng thường xuyên đánh đập, hành hạ: ba ngày một trận nhẹ, năm ngàymột trận nặng Cứ khi nào lão thấy khổ quá là lại xách chị ra đánh, nhưlà để trút giận, như đánh 1 con thú, với lời lẽ cay độc" Mày chết đi cho ông nhờ, chúng mày chết hết đi cho ông nhờ" Khi bị đánh chị không hề kêu mộttiếng, không chống trả, không tìm cách chạy trốn mà coi đólà một lẽ đương nhiên Người đàn bà ấy nhẫn nhục, cam chịu, thầm lặng chịu đựng mọi đau đớn tất cả vì những đứa con

- Phẩm chất, tính cách:

+ Nhẫn nhục, chịu đựng: Bị chồng trút dây thắt lưng quật tới tấp , chị vẫn nhẫn nhịn, không hề khóc lóc kêu van, không chạy trốn, không tìm cách chống trả Chị coi việc mình bị đánh đó như 1 phần đã rất quen thuộc của cuộc đời mình Khi được Phùng và Đẩu góp ý, đề nghị giúp đỡ thì : "Quý tòa bắt tộicon cũng được, phạt tù con cũng đượcnhưng đừng bắt con bỏ nó" Chị cam chịu đến tội nghiệp

Được mời lên tòa án để giải quyết chuyện gia đình, lúc đầu chị ta lúng túng, rụt rè tìm một góc tường

để ngồi Chị thấy sợ hãi Khi đến một không gian lạ và cảm thấy mình thật nhỏ bé giữa chốn công đường Cái thế ngồi của chị như cố thu mình lại để tự vệ, cho dù đã được Đẩu, Phùng chia sẻ và cảm thông

Nguyên nhân nỗi cam chịu : Vì con cái, vì hạnh phúc gia đình Chị hiểu cơ cực của của cuộc sống mưu sinh trên biển không có người đàn ông

+Người đàn bà ấy cũng rất tự trọng Sau khi biết hành động vũ phu của chồng mình đã bị đứa con trai

và người khách lạ (nghệ sĩ Phùng) chứng kiến, chị thấy đau đớn, vừa đau đớn vừa vô cùng xấu hổ, nhục nhã Chắc chắn đây không chỉ là sự đau đớn về thể xác Giọt nước mắt đau khổ của người đàn

bà đã ứa ra Đó là giọt nước mắt của nhọc nhằn và chịu đựng Chị không muốn bất cứ ai chứng kiến

và thương xót cho tình cảnh trớ trêu của mình, kể cả thằng Phác, đứa con trai mà chị quý nhất Thân thể bị chà đạp, nhân phẩm bị xúc phạm nhưng người đàn bà ấy không hề để ý, không hề bận tâm Đúng là sự nhẫn nhục của một người có nhân cách, có lòng tự trọng và thấu hiểu lẽ đời

+ Yêu thương con tha thiết(" phải sống cho con chứ không thể sống cho mình")

Nguyên nhân sâu xa của sự cam chịu chính là tình thương con vô bờbến của chị Sự cần thiết của việc

có người đàn ông làm chỗ dựa, đểchèo chống khi phong ba bão táp, cùng nuôi dạy các con " Đàn bà trên thuyền chúng tôi phải sống cho con, không thể sống cho mình như trên đấtđược"

Vì thương con, chị gửi nó lên rừng, chị đau xót khi thấy nó vì thương mẹ mà hận bố, Chị không muốn các con nhìn thấy cảnh bạo hành gia đình Và niềm hạnh phúc lớn nhất của chị là nhìn những đứa con chúng được ăn no,

=> Tình mẫu tử vút lên, trên cái nền của 1 cuộc sống cơ cực, ngang trái, đau đớn đầy xót xa

+ Người đàn bà vị tha, lạc quan :

Trong khổ đau triền miên, người đàn bà ấy vẫn chắt chiu niềm hạnhphúc nhỏ nhoi trong cuộc đời bình

dị ( " nhìn con được ăn no, có khi vợ chồng, con cái sống vui vẻ, hoà thuận") Chị tự động viên mình,

và sống vì các con Đặc biệt, chị không hề hận chồng mặc dù thường xuyên bị chồng đánh đạp chửi rủa, trái lại, chị còn biết ơn lão Chỉ Phùng, Đẩu, và người đọc cảm thấy ngột ngạt trước cuộc sống quá ư khổ cực của chị, còn bản thân chị thì thấy đó là sự việc rất đỗi bình thường Chị lí giải nguyên nhân dẫn đến tính khí hung bạo của chồng và cảm thông, tha thứ cho lão.Nghệ sĩ Phùng và chánh án Đẩu nhìn người chồng là kẻ vũ phu, thô bạo, đáng lên án Nhưng qua cái nhìn của người vợ, lão từng là: “anh con trai cục tính nhưng hiền lành lắm, không bao giờ đánh đập tôi”.Thậm chí bà còn sẵn sàngnhận lỗi về mình, coi mình là nguyên nhân khiến cuộc sống của chồng trở nên khốn khổ Đây quả là người phụ nữ có cái nhìn sâu sắc, đa chiều, bao dung, độ lượng với chồng

+Người đàn bà thất học nhưng lại rất sắc sảo, thấu hiểu lẽ đời

Ý thức được thiên chức của người phụ nữ ("Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con và nuôi con cho đến khi khôn lớn") Chị lí giải nguyên nhân dẫn tới nỗi khổ của gia đình mình, lí giải vì sao mình khôngthể, và không muốn li hôn Câu chuyện của chị đã khiến Phùng và Đẩu đi từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác Sau khi nghe câu chuyện của chị, Phùng và Đẩu mới vỡ lẽ , và rút ra bài học sâu sắc về cách nhìn đời, nhìn người Qua câu chuyện của người đàn bà, ta càng thấy rõ: Không thể dễ dãi,đơn giản trong việc nhìn nhận mọi sự vật, hiện tượng của cuộc sống,không thể có cái nhìn một chiều, phiến diện với con người và cuộc sống

4.Nghệ thuật

Trang 14

(Cốt truyện đơn giản, tình huống bất ngờ, dẫn dắt khéo léo, càng về sau càng bất ngờ và hấp dẫn: bấtngờ khi thấy cảnh lạ, đẹp —» bất ngờ chứng kiến chuyện lạ nghịch lí —> bất ngờ hiểu cái lí buồn của nghịch lí; Xây dựng nhân vật chọn lấy vài nét ngoại hình lạ, ngôn ngữ và hành động phù hợp tính cách, nhưng vẫn gây sự khó hiểu và bất ngờ (người đàn bà, thằng Phác) )

Lối kết cấu vòng tròn: Mở đầu là đi tìm ảnh, kết là nhìn ảnh mà ngẫm nghĩ, nhấn mạnh tính triết lí củatruyện

Trang 15

5 RỪNG XÀ NU (Nguyễn Trung Thành)

1 Hoàn cảnh sáng tác

– Tác phẩm được viết năm 1965 khi giặc Mĩ đổ quân ào ạt vào bãi biển Chu Lai – Quảng Nam Đó là lúc nhà văn muốn viết một bài “Hịch tướng sĩ” thời đánh Mĩ để động viên, cổ động nhân dân bước vào cuộc kháng chiến chống Mĩ

– Truyện được đăng trên tạp chí Văn nghệ quân giải phóng miền Trung Trung Bộ, sau đó được in trong tập Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc

2 Tóm tắt

Mở đầu truyện là cảnh rừng xà nu bạt ngàn đứng trong “tầm đại bác ”của giặc đang ưỡn tấm ngực lớn ra che chở cho làng Xôman Sau 3 năm đi lực lượng, Tnú được cấp trên cho phép về thăm làng một đêm Bé Heng nay đã trở thành một giao liên chững chạc, nhanh nhẹn Dít nay đã trở thành bí thư chi bộ kiêm chính trị viên xã đội vững vàng.Đêm hôm đó, cụ Mết đã kể cho cả dân làng nghe về cuộc đời Tnú Hồi đó Mĩ Diệm khủng bố gắt gao, được anh Quyết dìu dắt Tnú cùng Mai tham gia nuôi giấu cán bộ cách mạng từ nhỏ Giặc bắt anh, sau 3 năm anh lại vượt ngục Kontum trở về Lúc này anh Quyết đã hi sinh, Tnú lấy Mai Anh tiếp tục cùng dân làng mài giáo mác chuẩn bị chiến đấu Giặc nghe tin, chúng về làng càn quét, khủng bố Kẻ thù bắt vợ con anh, tra tấn tàn bạo ngay trước mắt anh Căm hờn cháy bỏng, anh đã nhảy xổ ra giữa bọn lính nhưng cũng không cứu được mẹ con Mai Giặc bắt anh, quấn giẻ tẩm nhựa xà nu đốt mười đầu ngón tay anh Cụ Mết cùng thanh niên trong làng đã nổi dậy giết sạch bọn lính cứu Tnú Sau đó anh gia nhập lực lượng quân giải phóng Câu chuyện kết thúc bằng cảnh cụ Mết và Dít tiễn Tnú trở lại đơn vị, trước mắt họ là những cánh rừng xà nu nối tiếp đến tận chân trời

– Nhan đề còn gợi chủ đề, cảm hứng sử thi cho truyện ngắn

II KIẾN THỨC CƠ BẢN

1 Hình tượng cây xà nu

* Vị trí xuất hiện : nhan đề, đầu và cuối tác phẩm, xuất hiện trong sự đối chiếu so sánh với các nhân vật ở trong truyện

* Nghĩa thực : Đây là một loài cây có thật ở vùng đất Tây Nguyên

* Nghĩa biểu tượng :

– Cây xà nu gắn bó với cuộc sống con người Tây Nguyên:

+ Cây xà nu có mặt trong đời sống hằng ngày của người dân làng Xôman

+ Cây xà nu tham dự vào những sự kiện trọng đại của dân làng Xôman

+ Cây xà nu gắn với cuộc sống của người dân làng Xôman đến mức nó đã thấm sâu vào nếp suy nghĩ và cảm xúc của họ, cụ Mết nói về cây xà nu với tất cả tình cảm yêu thương, gần gũi xen lẫn tự hào “không có gì mạnh bằng cây

xà nu đất ta” Cây xà nu đã trở thành một phần máu thịt trong đời sống vật chất và tinh thần của mảnh đất này.– Cây xà nu tượng trưng cho số phận và phẩm chất của con người Tây Nguyên trong chiến tranh cách mạng.+ Thương tích mà rừng xà nu phải gánh chịu do đại bác của kẻ thù tượng trưng cho những mất mát, đau thương vô

bờ mà dân làng Xôman nói riêng (anh Xút, bà Nhan, mẹ con Mai…) và đồng bào Tây Nguyên nói chung đã phải trảiqua trong cuộc chiến đấu

+ Đặc tính ham ánh sáng của cây xà nu tượng trưng cho niềm khát khao tự do, lòng tin vào lý tưởng cách mạng củangười dân Tây Nguyên, của đồng bào miền Nam trong cuộc kháng chiến

Trang 16

+ Khả năng sinh sôi mãnh liệt của cây xà nu gợi nghĩ đến sự tiếp nối của nhiều thế hệ người dân Tây Nguyên (cụ Mết, Tnú, Mai, Dít, Heng) đoàn kết bên nhau trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ.

+ Sự tồn tại kỳ diệu của rừng xà nu qua những hành động hủy diệt của kẻ thù tượng trưng cho sức sống bất diệt, sựbất khuất, kiên cường và sự vươn lên mạnh mẽ của con người Tây Nguyên trong cuộc chiến mất còn với kẻ thù.– Nghệ thuật miêu tả:

+ Kết hợp miêu tả cụ thể lẫn khái quát, khi dựng lên hình ảnh cả rừng xà nu, khi đặc tả cận cảnh một số cây

+ Phối hợp cảm nhận nhiều giác quan trong việc miêu tả những cây xà nu với vóc dáng tràn đầy sức lực, tràn trề mùi nhựa thơm, ngời xanh giữa ánh nắng

+ Hình tượng cây xà nu vừa hiện thực lại vừa mang đậm ý nghĩa biểu tượng Miêu tả cây xà nu trong sự so sánh đốichiếu thường xuyên với con người Các hình thức ẩn dụ, nhân hóa, tượng trưng đều được vận dụng nhằm thể hiện sống động, hùng vĩ, khoáng đạt của thiên nhiên đồng thời gợi ra nhiều suy tưởng sâu xa về con người, về đời sống.+ Hình ảnh cây xà nu xuất hiện ở đầu tác phẩm rồi kết thúc tác phẩm lại hiện ra cánh rừng xà nu bạt ngàn Đây là một kết cấu vòng tròn Kết cấu ấy cho phép ta nghĩ : cây xà nu không chỉ là tượng trưng cho một làng Xô Man nhỏ

bé hay cho một vùng núi rừng Tây Nguyên Có thể đó còn là biểu tượng của cả miền Nam, của cả dân tộc Việt Namtrong những tháng năm chống đế quốc Mĩ

2 Hình tượng nhân vật Tnú

– Tnú là người có tính cách trung thực, gan góc, dũng cảm, mưu trí:

+ Giặc giết bà Nhan, anh Xút nhưng Tnú (lúc bấy giờ còn nhỏ) không sợ Tnú vẫn cùng Mai xung phong vào rừng nuôi giấu cán bộ

+ Học chữ thua Mai, Tnú đập vỡ bảng, lấy đá đập vào đầu đến chảy máu

+ Khi đi liên lạc không đi đường mòn mà “xé rừng mà đi”, không lội chỗ nước êm mà “lựa chỗ thác mạnh vượt băng băng như con cá kình” Bởi theo Tnú những chỗ nguy hiểm giặc “không ngờ” đến

+ Bị giặc phục kích bắt, bị tra tấn dã man nhưng Tnú quyết không khai Khi bọn giặc kéo về làng, bắt Tnú khai cộng sản ở đâu anh đặt tay lên bụng dõng dạc nói “cộng sản ở đây này”

– Tnú là người có tính kỷ luật cao, tuyệt đối trung thành với cách mạng

+ Tham gia lực lượng vũ trang, nhớ nhà, nhớ quê hương nhưng khi được phép của cấp trên mới về thăm

+ Tính kỉ luật cao trong mối quan hệ với cách mạng biểu hiện thành lòng trung thành tuyệt đối: khi bị kẻ thù đốt mười đầu ngón tay, ngọn lửa như thiêu đốt gan ruột nhưng Tnú không kêu nửa lời, anh luôn tâm niệm lời dạy của anh Quyết : “người cộng sản không thèm kêu van”

– Một trái tim yêu thương và sục sôi căm giận

+ Tnú là một người sống rất nghĩa tình : Tnú đã tay không xông ra cứu vợ con Động lực ghê gớm ấy chỉ có thể được khơi nguồn từ trái tim cháy bỏng ngọn lửa yêu thương và ngọn lửa căm thù Tnú là con người tình nghĩa với buôn làng: anh lớn lên trong sự đùm bọc yêu thương của người dân làng Xôman

+ Lòng căm thù ở Tnú mang đậm chất Tây Nguyên: Tnú mang trong tim ba mối thù : Thù của bản thân; Thù của giađình; Thù của buôn làng

– Ở Tnú, hình tượng đôi bàn tay mang tính cách, dấu ấn cuộc đời

+ Khi lành lặn : đó là đôi bàn tay trung thực, nghĩa tình (bàn tay cầm phấn viết chữ anh Quyết dạy cho ; bàn tay cầm

đá đập vào đầu mình để tự trừng phạt vì học hay quên chữ …

+ Khi bị thương : đó là chứng tích của một giai đoạn đau thương, của thời điểm lòng căm hận sôi trào “Anh không cảm thấy lửa ở mười đầu ngón tay nữa Anh nghe lửa cháy trong lồng ngực, cháy trong bụng” Đó cũng là bàn tay trừng phạt, bàn tay quả báo khi chính đôi bàn tay tàn tật ấy đã bóp chết tên chỉ huy đồn giặc trong một trận chiến đấu của quân giải phóng

– Hình tượng Tnú điển hình cho con đường đấu tranh đến với cách mạng của người dân Tây Nguyên làm sáng tỏ chân lí của thời đại đánh Mĩ : “chúng nó đã cầm súng mình phải cầm giáo”

+ Bi kịch của Tnú khi chưa cầm vũ khí là bi kịch của người dân STrá khi chưa giác ngộ chân lý (bà Nhan, anh Xút)

Trang 17

Tnú là người có thừa sức mạnh cá nhân nhưng anh vẫn thất bại đau đớn khi không có vũ khí Với bàn tay không có

vũ khí trước kẻ thù hung bạo anh đã không bảo vệ được vợ con và bản thân

+ Tnú chỉ được cứu khi dân làng Xôman đã cầm vũ khí đứng lên Cuộc đời bi tráng của Tnú là sự chứng minh cho chân lí : phải dùng bạo lực cách mạng để tiêu diệt bạo lực phản cách mạng

+ Con đường đấu tranh của Tnú từ tự phát đến tự giác cũng là con đường đấu tranh đến với cách mạng của làng Xôman nói riêng và người dân Tây Nguyên nói chung

Tóm lại, câu chuyện về cuộc đời và con đường đi lên của Tnú mang ý nghĩa tiêu biểu cho số phận và con đường của các dân tộc Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ Vẻ đẹp và sức mạnh của Tnú là sự kết tinh

vẻ đẹp và sức mạnh của con người Tây Nguyên nói riêng và người Việt Nam nói chung trong thời đại đấu tranh cách mạng

3 Cụ Mết, Dít, bé Heng

– Cụ Mết : “Pho sử sống” của làng Xô man; Người giữ lửa truyền thống của cả bộ tộc, người kết nối quá khứ và hiệntại, hôm qua và hôm nay; “thủ lĩnh” tinh thần, người định hướng con đường đi theo cách mạng cho cả bộ tộc; nhân vật tiêu biểu cho tính cách quật cường, bất khuất của dân làng Xô Man nói riêng, người Tây Nguyên nói chung, thâm chí rộng ra là cả dân tộc

Nếu ví làng Xôman như một khu rừng Xà nu đại ngàn, thì cụ Mết chính là cây đại thụ

– Dít : một cô bé gan dạ, dũng cảm, sớm tiếp bước các thế hệ đi trước khi đến với cách mạng; tiêu biểu thế hệ trẻ của làng Xô man trưởng thành trong cuộc kháng chiến; Cùng với Tnú, Dít là lực lượng chủ chốt của cuộc đấu tranh ngày hôm nay, đó là sự tiếp nối tự giác và quyết liệt.Cũng như Tnú, Mai và nhiều thanh niên khác trong làng, Dít là một trong “những cây xà nu đã trưởng thành” của “đại ngàn Xô man” hùng vĩ

– Bé Heng: Một cậu bé hồn nhiên, ngộ nghĩnh đáng yêu; Sớm tham gia vào cuộc kháng chiến chung của cả làng;

Là hình ảnh tiêu biểu về một thế hệ đánh Mĩ mới, sẽ tiếp bước một cách mạnh mẽ những Tnú, Mai, Dít; Trong

“Rừng xà nu”, bé Heng chính là một trong những “cây xà nu con” “mới mọc lên”

4 Biểu hiện của khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn

+ Đề tài: Viết về cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống đế quốcMĩ; số phận và con đường giải phóng của dân làng Xôman) không chỉ là vấn đề sinh tử của một ngôi làng ở Tây Nguyên mà còn là của cả dân tộc Việt Nam

+ Hệ thống nhân vật mà điển hình là Cụ Mết, Tnú, Dít: đều là những cá nhân anh hùng kết tinh cao độ vẻ đẹp và phẩm chất của cả cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên, thậm chí của con người Việt Nam trong chiến đấu (yêu nước, căm thủ giặc sâu sắc, gan dạ, dũng cảm, kiên cường, trung thành với cách mạng…

+ Không gian nghệ thuật: rộng lớn

+ Cách kể chuyện: Chuyện được kể bên bếp lửa qua lời kể của một già làng, đông đảo dân làng từ già đến trẻ đều đang quây quần bên bếp lửa để lắng nghe, không khí rất trang nghiêm

+ Xây dựng thành công những hình tượng nghệ thuật độc đáo – hình tượng cây xà nu, rừng xà nu không chỉ thể hiện tư tưởng chủ đề, đem lại chất sử thi mà còn tạo nên giá trị lãng mạn bay bổng cho thiên truyện

+ Giọng điệu: ngợi ca chủ nghĩa anh hùng cách mạng; ngôn ngữ trang trọng, hào hùng

+ Khắc họa thành công hình tượng cây xà nu vừa hiện thực vừa mang đậm ý nghĩa biểu tượng, đem lại chất sử thi

và lãng mạn, bay bổng cho thiên truyện

Ngày đăng: 22/06/2019, 15:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w