Đó là quan hệ giữa ngân sách Nhà nước với các doanh nghiệp, các đơn vị hành chính sự nghiệp, các cá nhân,… Như vậy, NSNN bao gồm hệ thống các mối quan hệ kinh tế, phát sinh trong quá [r]
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ KỸ THUẬT
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
GIÁO TRÌNH MÔN HỌC: TÀI CHÍNH TIỀN TỆ NGÀNH: KẾ TOÁN, TCNH,TCDN TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG (Ban hành kèm theo Quyết định số: /QĐ-CĐKTKT
ngày tháng năm 20 của Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh)
Trang 2ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ KỸ THUẬT
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
GIÁO TRÌNH MÔN HỌC: TÀI CHÍNH TIỀN TỆ NGÀNH: KẾ TOÁN, TCNH,TCDN
TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG
THÔNG TIN CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI
Họ tên: Bùi Thị Phương Linh
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2020
Trang 3TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN
Tài liệu này thuộc loại sách giáo trình nên các nguồn thông tin có thể được phép dùng nguyên bản hoặc trích dùng cho các mục đích về đào tạo và tham khảo
Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh doanh thiếu lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm
Trang 4LỜI GIỚI THIỆU
Để đáp ứng yêu cầu giảng dạy của nhà trường, tác giả đã thực hiện biên
soạn cuốn giáo trình Tài chính tiền tệ
Mục đích của giáo trình Tài chính tiền tệ giới thiệu cho học sinh một cách
có hệ thống cơ sở lý luận về tài chính tiền tệ và có thể nghiên cứu để giải thích
các hiện tượng tài chính tiền tệ xảy ra hàng ngày trong đời sống
Giáo trình gồm 8 chương đã thể hiện được những kiến thức cơ bản và cập
nhật về tài chính tiền tệ trong nền kinh tế thị trường Cụ thể:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản của tài chính
Chương 2: Tài chính công và chính sách tài khóa
Chương 3 : Tài chính doanh nghiệp
Chương 4 : Tiền tệ và lưu thông tiền tệ
Chương 5 : Các định chế tài chính trung gian
Chương 6 : Tín dụng và lãi suất
Chương 7: Thị trường tài chính
Chương 8: Ngân hàng thương mai và ngân hàng trung ương
Giáo trình đã được hội đồng khoa học của trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ
thuật Thành phố Hồ Chí Minh đánh giá và cho phép lưu hành nội bộ để làm tài
liệu phục vụ công tác giảng dạy và học tập ở trường
Trong quá trình nghiên cứu, biên soạn, nhóm tác giả đã có nhiều cố gắng để
giáo trình được đảm bảo tính khoa học, gắn liền với tình hình thực tiễn Việt
Nam Tuy nhiên giáo trình cũng không tránh khỏi những thiếu sót về nội dung và
hình thức Tác giả mong nhận được những ý kiến đóng góp của giảng viên và
sinh viên trong quá trình sử dụng giáo trình để giáo trình ngày một hoàn thiện
hơn
TP.HCM, ngày tháng năm Chủ biên
Bùi Thị Phương Linh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI GIỚI THIỆU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TÀI CHÍNH 10
1.1.Sự ra đời và phát triển tài chính 10
1.1.1 Khái niệm tài chính 10
1.1.2 Đặc điểm của tài chính 11
1.1.3 Lịch sử ra đời tài chính 11
1.2 Chức năng của tài chính 11
1.2.1 Huy động nguồn tài chính 11
1.2.2 Phân bổ nguồn tài chính 12
1.2.3 Kiểm tra tài chính 13
1.3 Hệ thống tài chính 14
1.3.1 Khái niệm và cơ cấu hệ thống tài chính 14
1.3.2 Đặc điểm các bộ phận của hệ thống tài chính 17
1.3.2.1 Thị trường tài chính 17
1.3.2.2 Các chủ thể tài chính 17
1.3.2.3 Cơ sở hạ tầng tài chính 17
1.3.3 Mối quan hệ giữa các chủ thể tài chính 18
CHƯƠNG 2: TÀI CHÍNH CÔNG VÀ CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA 22
2.1 Khu vực công và tài chính công 22
2.1.1 Khu vực công 22
2.1.2 Tài chính công 23
2.2 Ngân sách Nhà nước 28
2.2.1 Khái niệm ngân sách nhà nước 28
2.2.2 Thu ngân sách nhà nước 29
2.2.3 Chi ngân sách nhà nước 33
2.2.4 Cân đối thu chi ngân sách nhà nước 40
Trang 62.3 Chính sách tài khóa 41
2.3.1 Khái niệm 41
2.3.2 Chính sách tài khóa và tổng cầu xã hội 42
2.3.3 Chính sách tài khóa – công cụ kinh tế vĩ mô 43
2.4 Bài tập chương 2 44
CHƯƠNG 3: TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 46
3.1 Một số khái niệm cơ bản 46
3.1.1 Khái niệm tài chính doanh nghiệp 46
3.1.2 Vai trò của tài chính doanh nghiệp 50
3.2 Cấu trúc tài chính doanh nghiệp 51
3.2.1 Cấu trúc vốn tài sản 51
3.2.2 Cấu trúc nguồn tài trợ 58
3.3 Nội dung của tài chính doanh nghiệp 62
3.3.1 Lập kế hoạch tài chính cho doanh nghiệp 62
3.3.2 Quản lý và sử dụng vốn tài sản 63
3.4 Bài tập chương 3 68
CHƯƠNG 4: TIỀN TỆ VÀ LƯU THÔNG TIỀN TỆ 69
4.1 Sự ra đời và phát triển của tiền tệ 69
4.1.1 Khái quát quá trình phát triển của tiền tệ 69
4.1.2 Các thời kỳ phát triển của tiền tệ 70
4.1.3 Các hình thức khác của tiền tệ 74
4.2 Bản chất và chức năng của tiền tệ 75
4.2.1 Khái niệm tiền tệ 75
4.2.2 Chức năng của tiền tệ 76
4.3 Các chế độ tiền tệ 79
4.3.1 Khái niệm và các yếu tố cấu thành chế độ tiền tệ 79
4.3.2 Các chế độ tiền tệ 82
4.4 Lạm phát 92
4.4.1 Khái niệm và phân loại lạm phát 92
Trang 74.4.2 Nguyên nhân dẫn đến lạm phát 94
4.4.3 Tác động của lạm phát 101
4.4.4 Những biện pháp kiềm chế lạm phát 103
4.4.5 Hiện tượng giảm phát 105
CHƯƠNG 5: CÁC ĐỊNH CHẾ TÀI CHÍNH TRUNG GIAN 106
5.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại trung gian tài chính 106
5.1.1 Khái niệm về trung gian tài chính 106
5.1.2 Đặc điểm của trung gian tài chính 106
5.1.3 Phân loại các trung gian tài chính 107
5.1.3.1 Căn cứ vào đặc điểm hoạt động 107
5.1.3.2 Căn cứ vào mức độ thực hiện chức năng trung gian: 108
5.2 Vai trò của các định chế tài chính trung gian trong nền kinh tế thị trường 108 5.2.1 Chu chuyển các nguồn vốn 108
5.2.2 Giảm chi phí giao dịch của xã hội 109
5.2.3 Khắc phục tình trạng thông tin bất cân xứng trên thị trường tài chính 109
5.2.4 Góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế và tiêu chuẩn cuộc sông xã hội 111
5.3 Đặc điểm cơ bản của một số trung gian tài chính 111
5.3.1 Các ngân hàng trung gian 111
5.3.2 Các định chế phi ngân hàng 112
5.3.3 Quỹ tín dụng 112
5.3.4 Quỹ đầu tư 112
5.3.5 Công ty tài chính 115
5.3.6 Các công ty bảo hiểm 115
CHƯƠNG 6: TÍN DỤNG VÀ LÃI SUẤT 117
6.1 Khái niệm về tín dụng 117
6.2 Vai trò của tín dụng 117
6.3 Các hình thức tín dụng trong nền kinh tế thị trường 118
6.3.1 Tín dụng thương mại 118
6.3.2 Tín dụng ngân hàng 122
Trang 86.4 Khái niệm và phân loại lãi suất 128
6.4.1 Khái niệm lãi suất 128
6.4.2 Phân loại lãi suất 129
6.5 Phương pháp xác định lãi suất 131
6.5.1 Phương pháp tính lãi 131
6.5.2 Hiện giá 133
6.5.3 Lãi suất hoàn vốn 134
6.5.4 Mối quan hệ giữa lãi suất và giá trái phiếu 137
6.5.5 Tỷ suất lợi tức của trái phiếu 138
6.6 Bài tập chương 6 138
CHƯƠNG 7: THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH 139
7.1 Khái niệm và phân loại thị trường tài chính 139
7.1.1 Khái niệm 139
7.1.2 Phân loại thị trường tài chính 140
7.2 Thị trường tiền tệ 141
7.2.1 Khái niệm và phân loại 141
7.2.2 Chủ thể tham gia trên thị trường tiền tệ 143
7.2.3 Các công cụ của thị trường tiền tệ 143
7.2.4 Các nghiệp vụ trên thị trường tiền tệ 147
7.3 Thị trường vốn (thị trường chứng khoán) 150
7.3.1 Khái niệm và phân loại 150
7.3.2 Các công cụ trên thị trường vốn 153
7.3.3 Các chủ thể hoạt động trên thị trường vốn 157
CHƯƠNG 8: NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG 160
8.1 Quá trình ra đời và phát triển của ngân hàng thương mại 160
8.2 Chức năng của ngân hàng thương mại 161
8.2.1 Chức năng trung gian tín dụng 161
8.2.2 Chức năng trung gian thanh toán 161
Trang 98.2.3 Chức năng cung cấp các dịch vụ tài chính 162
8.3 Phân loại ngân hàng thương mại 162
8.3.1 Căn cứ vào phạm vi hoạt động và tính chất kinh tế 162
8.3.2 Căn cứ vào tính chất sở hữu 163
8.4 Các nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng thương mại 164
8.4.1 Nghiệp vụ tạo lập nguồn vốn và quản lý nguồn vốn 164
8.4.2 Nghiệp sử dụng vốn và quản lý tài sản có 164
8.4.3 Các nghiệp vụ trung gian thanh toán và ngân quỹ 164
8.5 Quá trình ra đời và bản chất ngân hàng trung ương 165
8.5.1 Khái quát quá trình ra đời của ngân hàng trung ương 165
8.5.2 Bản chất của ngân hàng trung ương 167
8.6 Chức năng của ngân hàng trung ương 168
8.6.1 Độc quyền phát hành giấy bạc ngân hàng và điều tiết khối lượng tiền tệ 168 8.6.2 Ngân hàng trung ương là của ngân hàng 168
8.6.3 Ngân hàng trung ương là của nhà nước 169
8.7 Chính sách tiền tệ và công cụ thực thi chính sách tiền tệ 170
8.7.1 Khái niệm chính sách tiền tệ 170
8.7.2 Mục tiêu của chính sách tiền tệ 170
8.7.3 Những công cụ để thực thi chính sách tiền tệ 170
TÀI LIỆU THAM KHẢO 175
Trang 10GIÁO TRÌNH MÔN HỌC
Tên môn học: Tài chính tiền tệ
Mã môn học: MH3104120
Vị trí, tính chất, ý nghĩa và vai trò của môn học:
- Vị trí: Môn học Tài chính tiền tệ là môn học bắt buộc thuộc nhóm các môn học cơ sở được bố trí giảng dạy sau khi đã học xong các môn học chung
- Tính chất: Môn học Tài chính tiền tệ cung cấp cho sinh viên các kiến thức
về nền tảng và cách thức ứng dụng thực tế liên quan đến tài chính và tiền tệ chủ yếu: Những vấn đề cơ bản về tài, tài chính công, lý thuyết về tiền tệ, các định chế trung gian, tín dụng và lãi suất, thị trường tài chính, ngân hàng thương mại và ngân hàng trung ương
- Ý nghĩa và vai trò của môn học:
Mục tiêu của môn học:
- Về kiến thức:
+ Trình bày được sự ra đời và phát triển, bản chất, chức năng của tài chính
và của tiền tệ, các chế độ tiền tệ
+ Trình bày được khái niệm, cơ cấu, đặc điểm của hệ thống tài chính
+ Trình bày khái niệm, các bộ phận của khu vực công và khái niệm vai trò, cấu trúc và nội dung của tài chính doanh nghiệp
+ Trình bày khái niệm, thu chi, xử lý bội chi ngân sách, các chính sách tài khóa
+- Trình bày khái niệm, phân loại lạm phát, lãi suất và thị trường tài chính; tác động, biện pháp kiềm chế lạm phát; phương pháp xác định lãi suất
+ Trình bày được khái niệm, đặc điểm, phân loại và vai trò của các định chế tài chính trung gian và các hình thức tín dụng trong nền kinh tế thị trường
+ Trình bày đặc điểm cơ bản, ưu và nhược điểm các kênh huy đông vốn các trung gian tài chính
Trang 11+ Trình bày được khái niệm, các chủ thể, các công cụ và các nghiệp vụ trên thị trường tiền tệ và thị trường vốn
+ Trình bày quá trình ra đời và phát triển, chức năng, các nghiệp vụ cơ bản, chính sách tiền tệ và công cụ thực thi chính sách tiền tệ của ngân hàng thương mại và ngân hàng trung ương
+ Phân biệt thuế và phí, lệ phí; thuế trực thu và gián thu; tài chính công và các tài chính khác
+ Phân biệt vốn cố định và vốn lưu động; tài sản cố định hữu hình và tài sản
cố định vô hình; vốn pháp định, vốn điều lệ và vốn chủ sở hữu
+ Phân biệt các đặc điểm cơ bản của các trung gian tài chính
+ Phân biệt sự khác nhau cơ bản giữa các hình thức tín dụng, lãi suất thực
và lãi suất danh nghĩa, lãi suất và tỷ suất lợi tức
+ Phân biệt sự khác nhau giữa thị trường vốn và thị trường tiền tệ, trái phiếu và cổ phiếu
+ Phân biệt các loại hình ngân hàng thương mại, các mô hình tổ chức của ngân hàng trung ương
- Về kỹ năng:
+ Giải thích được mối quan hệ giữa các chủ thể tài chính; các nhân tố ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách nhà nước, giải thích các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách tài khóa
+ Giải thích được nguyên nhân gây ra lạm phát và tác động của lạm phát + Giải thích cơ cấu vốn của ngân hàng thương mại
+ Giải thích các công cụ thực thi chính sách tiền tệ tác động nền kinh tế + Tính toán các chỉ tiêu liên quan chính sách tài khóa
+ Tính toán được số tiền khấu hao tài sản cố định theo các phương pháp phổ biến
+ Tính toán được các phương pháp lãi suất
- Về năng lực tự chủ và trách nhiệm:
Trang 12+ Người học tiếp nhận và nghiên cứu đầy đủ nội dung bài giảng, rèn luyện
kỹ năng trình bày tóm tắt nội dung chính trong từng chương
+ Rèn luyện tư duy Logic hình thành phương pháp học chủ động, nghiêm túc, nhớ lâu về phương pháp tính toán, cách xử lý tình huống từ các ví dụ, bài tập
Trang 13Tài chính tiền tệ Chương 1: Những vấn đề cơ bản của tài chính
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TÀI CHÍNH
Giới thiệu
Chương 1 giới thiệu sự ra đời và phát triển tài chính, chức năng của tài chính và hệ thống tài chính
Mục tiêu
+ Trình bày được sự ra đời và phát triển, chức năng của tài chính
+ Trình bày được khái niệm, cơ cấu, đặc điểm hệ thống tài chính
+ Giải thích được mối quan hệ giữa các chủ thể tài chính
Nội dung chính
1.1 Sự ra đời và phát triển tài chính
1.1.1 Khái niệm tài chính
Hiện nay, nghiên cứu về tài chính có rất nhiều nhà nghiên cứu thực hiện và cũng đưa ra nhiều khái niệm về tài chính Theo quan điểm của P.J.Drake tiếp cận tài chính theo hai quan điểm, theo nghĩa hẹp, tài chính đơn thuần phản ánh hoạt động thu, chi tiền tệ của chính phủ; còn theo nghĩa rộng hơn, tài chính phản ánh các khoản vay và cho vay ảnh hưởng đến mức cung tiền trên thị trường
Theo quan điểm kinh tế học hiện đại, tài chính biểu thị vốn dưới dạng tiền
tệ, nghĩa là ở dạng các khoản có thể vay mượn hay đóng góp vốn thông qua thị trường tài chính hay định chế tài chính Tóm lại, có hai quan điểm chính về tài chính, quan điểm thứ nhất, đưa ra khái niệm về tài chính dựa vào hoạt động tài chính của chính phủ và quan điểm thứ hai đưa ra khái niệm về tài chính trên cơ
sở vốn dưới dạng tiền tệ, cụ thể như sau:
- Quan điểm 1: Tài chính phản ánh hoạt động thu – chi của chính phủ; hoặc phản ánh các khoản vay và cho vay
- Quan điểm 2: Tài chính là vốn dưới dạng tiền tệ; tức là sự tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ để đáp ứng nhu cầu khác nhau
Trang 141.1.2 Đặc điểm của tài chính
Theo cách tiếp cận: Tài chính là vốn dưới dạng tiền tệ, tài chính có các đặc điểm sau:
Thứ nhất, tài chính là nguồn lực thể hiện dưới dạng tiền tệ, được chấp nhận trên thị trường là công cụ trao đổi hay chuyển giao giá trị: tiền mặt, tiền gửi và các loại tài sản tài chính
Thứ hai, tài chính thể hiện quan hệ chuyển giao giữa các chủ thể trong nền kinh tế: từ người có vốn đến người cần vốn
Thứ ba, tài chính là những quan hệ trong đó diễn ra sự chuyển giao nguồn lực giữa các chủ thể tài chính với nhau
1.1.3 Lịch sử ra đời tài chính
Khi nền sản xuất hàng hóa ra đời thì quan hệ trao đổi hàng hóa – tiền tệ đóng vai trò quyết định trong quá trình trao đổi Quá trình trao đổi chính là quá trình phân phối tạo ra nguồn tài chính cho chủ thể trong nền kinh tế Quá trình sản xuất liên tục làm cho nguồn tài chính luôn được tạo lập – phân phối – sử dụng và từ đó khái niệm tài chính hình thành
Ngày nay, tài chính trở thành một khoa học nghiên cứu cách thức mà chủ thể kinh tế xác lập, phân phối và sử dụng nguồn tài chính của mình Trong nền kinh tế có nhiều chủ thể kinh tế và tương ứng với mỗi chủ thể ta có một lĩnh vực nghiên cứu, cụ thể là:
- Chủ thể là cá nhân, ta có lĩnh vực tài chính cá nhân
- Chủ thể là doanh nghiệp, ta có lĩnh vực tài chính doanh nghiệp
- Chủ thể là nhà nước, ta có lĩnh vực tài chính công
Mỗi chủ trong nền kinh tế khi hoạt động đều có mục tiêu riêng và các chủ thể này sẽ sử dụng các công cụ khác nhau để đạt mục tiêu ấy
1.2 Chức năng của tài chính
1.2.1 Huy động nguồn tài chính
Chức năng này thể hiện sự tương tác giữa chủ thể cần vốn và nhà đầu tư trong nền kinh tế Chức năng này được thực hiện thông qua trung gian tài chính
Trang 15Tài chính tiền tệ Chương 1: Những vấn đề cơ bản của tài chính
và thị trường tài chính Các chủ thể trong nền kinh tế muốn huy động vốn có thể đến các ngân hàng thương mại hay các công ty tài chính
Chức năng huy động vốn phụ thuộc vào môi trường kinh tế Chủ thể huy động được vốn nhiều hay ít phụ thuộc rất nhiều vào tình hình kinh tế Khi nền kinh tế phát triển, các chủ thể dễ dàng hoạt động huy động vốn nhưng khi nền kinh tế bị khủng hoảng, các chủ thể sẽ gặp khó khăn khi huy động vốn
Trong nền kinh tế thị trường để tồn tại và phát triển, các chủ thể cần phải có nguồn lực tài chính nhất định Chức năng huy động nguồn tài chính hay còn gọi
là chức năng huy động vốn, thể hiện khả năng tổ chức khai thác các nguồn tài chính nhằm tạo lập nguồn lực đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế
Chức năng huy động được thực hiện trên cơ sở tương tác giữa các yếu tố:
- Chủ thể cần vốn
- Các nhà đầu tư
- Hệ thống tài chính gồm thị trường tài chính và các định chế tài chính
- Môi trường tài chính và kinh tế
Khi thực hiện chức năng huy động, các chủ thể cần lưu ý về thời gian, chi phí và khía cạnh pháp lý để sử dụng nguồn vốn huy động có hiệu quả và đúng quy định của pháp luật
-Về thời gian: Khi thực hiện huy động vốn phải đáp ứng kịp thời nhu cầu về thời gian của các chủ thể cần vốn
- Về chi phí: Chi phí huy động vốn phải chấp nhận được và phải có tính cạnh tranh
- Về mặt pháp lý: Mỗi chủ thể huy động vốn phải nắm vững các quy định pháp luật về hoạt động huy động và thực hiện huy động vốn trong khuôn khổ pháp luật cho phép
1.2.2 Phân bổ nguồn tài chính
Chức năng phân bổ nguồn lực được thực hiện thông qua kế hoạch và sử dụng nguồn lực để đạt được các mục tiêu ngắn và dài hạn Khi thực hiện phân bổ
Trang 16nguồn lực, các chủ thể cần phải giải quyết vấn đề là nguồn lực giới hạn trong khi nhu cầu cho sự phát triển thì vô hạn
Chức năng này dựa trên nền tảng chiến lược hướng mục tiêu của doanh nghiệp Và quy trình chiến lược phân bổ nguồn lực tài chính có thể thực hiện theo các bước sau:
Bưới 1: Xác định vị trí hiện tại tức là phải tiến hành xem xét và đánh giá môi trường kinh tế - xã hội, như đánh giá thực trạng nguồn lực sẵn có, môi trường, cơ hội, thách thức, điểm mạnh và điểm yếu của đơn vị
Bước 2: Với thực trạng nguồn lực hiện tại, việc thiết lập các mục tiêu chiến lược cần xét trên các khía cạnh: quản lý tốt; thể chế lành mạnh; tăng trưởng bền vững; nguồn nhân lực Trong đó, cần xác định các mục tiêu chiến lược ưu tiên; lựa chọn và đánh đổi các mục tiêu trong sự so sánh với nguồn lực sẵn có
Bước 3: Các thức đạt mục tiêu chiến lược, tức là từ chiến lược chuyển thành hành động kế hoạch và lập ngân sách, tổ chức thực hiện chiến lược để đạt mục tiêu Điều này liên quan đến việc thiết lập các yếu tố đầu ra, quy trình tổ chức thực hiện
Bước 4: Tổ chức thực hiện việc phân bổ tài chính dựa vào nền tảng chiến lược quản lý theo mục tiêu
1.2.3 Kiểm tra tài chính
Chức năng kiểm tra được thực hiện thông qua thu thập và đánh giá những bằng chứng liên quan đến quá trình huy động và phân bổ nguồn lực Khi thực hiện chức năng kiểm tra cần đối chiếu với các chuẩn mực để đảm bảo về tính đúng đắn, hiệu quả và hiệu lực Chức năng kiểm tra bao gồm kiểm tra bên trong
và bên ngoài doanh nghiệp Kiểm tra tài chính thể hiện dưới các loại hình sau:
- Thanh tra tài chính;
- Kiểm toán nội bộ;
- Kiểm toán độc lập;
- Kiểm toán nhà nước
Trang 17Tài chính tiền tệ Chương 1: Những vấn đề cơ bản của tài chính
Khi thực hiện chức năng kiểm tra cần đảm bảo các nguyên tắc sau: Kiểm tra phải đúng đối tượng, chủ thể, phương pháp và cơ sở kiểm tra để đảm bảo đạt được mục tiêu đề ra; Sau khi thực hiện chức năng kiểm tra xong cần phải có kết luận kiểm tra; Chức năng kiểm tra cần phải thể hiện bằng định lượng để dễ dàng lượng hóa đối tượng được kiểm tra Để đảm bảo hiệu quả chức năng kiểm tra cần phải được thực hiện thường xuyên Kiểm tra tài chính được thực hiện trên sự kết hợp các yếu tố sau:
- Chủ thể kiểm tra: Là những chủ thể có quyền sở hữu hay quyền sử dụng các nguồn tài chính
- Đối tượng kiểm tra: Là quá trình huy động, phân bổ và sử dụng các nguồn lực tài chính
- Cơ sở kiểm tra: Các chuẩn mực làm cơ sở để thực hiện kiểm tra tài chính như là chế độ kế toán, hệ thống pháp luật tài chính,…
- Phương pháp kiểm tra: Là những cách thức mà các chủ thể kiểm tra sử dụng để tiến hành kiểm tra
- Báo cáo và đánh giá kết quả kiểm tra
1.3 Hệ thống tài chính
1.3.1 Khái niệm và cơ cấu hệ thống tài chính
Hệ thống tài chính là một hệ thống gồm có thị trường và các chủ thể tài chính thực hiện chức năng gắn kết cung – cầu về vốn lại với nhau (Sử Đình Thành, 2008)
Hệ thống tài chính là một tổng thể gồm nhiều bộ phận tài chính; mỗi bộ phận có vị trí khác nhau trong hệ thống nhưng có cùng bản chất chức năng và mối liên hệ hữu cơ mật thiết với nhau trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ trong nền kinh tế Cơ cấu hệ thống tài chính gồm:
- Thị trường tài chính
- Các chủ thể tài chính – tham gia và kiến tạo thị trường
- Cơ sở hạ tầng tài chính của hệ thống tài chính
* Thị trường tài chính
Trang 18Thị trường tài chính là tổng hòa các mối quan hệ cung cầu về vốn, diễn ra dưới hình thức vay mượn, mua bán về vốn, tiền tệ và các chứng từ có giá nhằm chuyển dịch từ nơi cung cấp đến nơi có nhu cầu về vốn cho các hoạt động kinh
tế Thị trường tài chính bao gồm thị trường tiền tệ và thị trường vốn
* Các chủ thể tài chính
Các chủ thể bao gồm các thể nhân và pháp nhân tài chính ở khu vực công
và khu vực tư hoạt động theo những nguyên tắc hay cơ chế nhất định Trong nền kinh tế thị trường, cấu thành các chủ thể tài chính tương ứng với từng khu vực hình thành nên các khâu tài chính như:
xã hội
Cơ sở hạ tầng tài chính: là những nền tảng qua đó các doanh nghiệp, nhà đầu tư, cá nhân thực hiện các giao dịch tài chính với các định chế trung gian tài chính và thị trường tài chính Các thành phần của cơ sở hạ tầng tài chính: hệ thống luật pháp, hệ thống giám sát, hệ thống thông tin, hệ thống thanh toán, hệ thống dịch vụ chứng khoán, nguồn nhân lực …
Trang 19Tài chính tiền tệ Chương 1: Những vấn đề cơ bản của tài chính
Hình 1.1: Cấu trúc hệ thống tài chính
Để đảm bảo sự ổn định tài chính cũng như giải quyết các vấn đề ngoại tác, thông tin bất cân xứng, tâm lý ỷ lại (cố ý làm liều), các quy định của nhà nước cần tập trung là:
- Quy định cấu trúc: Gồm quy định các loại hình hoạt động, sản phẩm tài chính, phạm vi hoạt động của các định chế tài chính
- Quy định an toàn: Gồm các quy định thuộc về quản trị bên trong của các định chế tài chính (tỷ lệ nợ, vốn, sinh lời…)
- Quy định bảo vệ các nhà đầu tư: Gồm các quy định bảo vệ quyền lợi các nhà đầu tư, ngăn chặn các hành vi lợi dụng chức quyền, mua bán thông tin nội gián, gian lận
Chi tiết là quy định về:
- Quy định về cấp giấy phép hành nghề
- Những yêu cầu minh bạch thông tin
- Bảo hiểm tiền gửi
- Giới hạn các nghiệp vụ hoạt động
- Quy định tính lỏng, dự trữ ngân quỹ
- Quy định vốn pháp định
Vốn
n
CÁC ĐỊNH CHẾ TRUNG GIAN TÀI CHÍNH
3 TC TỔ CHỨC XH
VÀ CÁ NHÂN
THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH
Vốn
n Vốn
n
Vốn
n
Trang 20- Quy định các giao dịch tài chính (ngoại hối…)
1.3.2 Đặc điểm các bộ phận của hệ thống tài chính
1.3.2.1 Thị trường tài chính
Thị trường tài chính là tổng hòa các mối quan hệ cung cầu về vốn, diễn ra dưới hình thức vay mượn, mua bán về vốn, tiền tệ và các chứng từ có giá nhằm chuyển dịch từ nơi cung cấp đến nơi có nhu cầu về vốn cho các hoạt động kinh
tế Một hệ thống tài chính hoàn chỉnh phải bao gồm hệ thống thị trường tiền tệ hoạt động chủ yếu thông qua hệ thống ngân hàng, kho bạc nhà nước, các công ty tài chính và thị trường vốn, trong đó thị trường chứng khoán giữ vai trò quan trọng
1.3.2.2 Các chủ thể tài chính
Các chủ thể tài chính bao gồm các thể nhân và pháp nhân ở khu vực công
và khu vực tư hoạt động theo những nguyên tắc hay cơ chế nhất định Trong nền kinh tế thị trường, cấu thành các chủ thể tài chính tương ứng với từng khu vực hình thành nên các khâu tài chính như: Tài chính công; Tài chính doanh nghiệp; định chế tài chính và tài chính cá nhân hoặc hộ gia đình
1.3.2.3 Cơ sở hạ tầng tài chính
Cơ sở hạ tầng tài chính là những nền tảng để qua đó các doanh nghiệp, nhà đầu tư, cá nhân lập kế hoạch và thực hiện các giao dịch tài chính với các định chế tài chính và thị trường tài chính Cơ sở hạ tầng tài chính hỗ trợ và thúc đẩy sự hoạt động hiệu quả của hệ thống tài chính Các thành phần của cơ sở hạ tầng:
- Hệ thống pháp luật và quản lý nhà nước
Trang 21Tài chính tiền tệ Chương 1: Những vấn đề cơ bản của tài chính
1.3.3 Mối quan hệ giữa các chủ thể tài chính
Hệ thống tài chính bao gồm các quan hệ sau:
Thứ nhất quan hệ giữa tài chính công và tài chính doanh nghiệp Mối quan
hệ này thể hiện thông qua việc các doanh nghiệp thực hiện nộp thuế cho nhà nước
Thứ hai quan hệ giữa tài chính doanh nghiệp và các trung gian tài chính Mối quan hệ này thể hiện qua việc các doanh nghiệp vay nợ ở các trung gian tài chính
Thứ ba quan hệ giữa thị trường tài chính và các định chế tài chính Mối quan hệ này thể hiện qua việc các định chế tài chính thực hiện huy động vốn trên thị trường tài chính
a) Chức năng của hệ thống tài chính
Hệ thống tài chính bao gồm các chức năng sau:
Thứ nhất, hệ thống tài chính tạo ra kênh chuyển tải vốn, làm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và cải thiện phúc lợi xã hội
Thứ hai, thông qua hệ thống tài chính người cần vốn có được cơ hội tiếp cận với nhiều hình thức vốn khác nhau
Thứ ba, thông qua hệ thống tài chính người có vốn có rất nhiều cơ hội đầu
Lưu ý: Khi thực hiện đầu tư, nhà đầu tư cần lưu ý mức sinh lời và rủi ro
luôn đồng hành với nhau
Trang 22b) Thị trường tài chính
Thị trường tài chính bao gồm thị trường vốn và thị trường tiền tệ Thị trường tiền tệ - hoạt động thông qua hệ thống ngân hàng, kho bạc nhà nước và các công ty tài chính Và thị trường vốn - chủ yếu là thị trường chứng khoán
* Thị trường tiền tệ: thực hiện các chức năng sau:
Thứ nhất, trên thị trường tiền tệ thực hiện mua bán các công cụ nợ ngắn hạn
Thứ hai, các công cụ sử dụng ở thị trường này là những công cụ này có thời hạn dưới một năm do đó các công cụ này có rủi ro thấp và tính thanh khoản cao
Thứ ba, một số công cụ phổ biến trong thị trường này là: thương phiếu, kỳ phiếu thương mại, tín phiếu kho bạc, cam kết mua lại, chứng chỉ tiền gửi …
*Thị trường vốn: thực hiện các chức năng sau:
Thứ nhất, thị trường vốn thực hiện mua bán các công cụ vốn và công cụ
c) Các chủ thể tài chính: bao gồm khu vực công, khu vực doanh nghiệp, khu vực trung gian tài chính, khu vực cá nhân và hộ gia đình
* Khu vực công: thể hiện bằng các quỹ tiền tệ của các cơ quan thuộc khu vực công
Mục tiêu của khu vực công là hướng đến sự phát triển chung của cả xã hội, khắc phục sự thất bại của thị trường và đảm bảo công bằng xã hội
Trang 23Tài chính tiền tệ Chương 1: Những vấn đề cơ bản của tài chính
Công cụ được sử dụng để huy động ở khu vực công là: thuế và các khoản thu mang tính bắt buộc
Khi khu vực công thiếu hụt vốn thì khu vực này tham gia thị trường với tư cách là người cần vốn (sẽ phát hành nợ)
Toàn bộ các khoản thu từ thuế hay từ nợ vay sẽ dành để cấp kinh phí, tài trợ vốn nhằm mục tiêu phát triển chung cho cả nền kinh tế và xã hội
* Khu vực doanh nghiệp: đặc trưng là vốn và quỹ tiền tệ phục vụ cho hoạt động đầu tư của doanh nghiệp nhằm cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho nền kinh tế
Từ chiến lược đầu tư, doanh nghiệp lập ngân sách và tìm kiếm nguồn huy động vốn trên cơ sở cân bằng rủi ro và lợi nhuận
Trên giác độ sử dụng, doanh nghiệp phải tính đến chuyện quản lý quỹ hay danh mục đầu tư
* Khu vực trung gian tài chính: bao gồm ngân hàng, công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư và các công ty tài chính Khu vực này có các đặc điểm sau:
Thứ nhất, khu vực trung gian tài chính ngày càng hoàn thiện và đa dạng hóa các công cụ hoạt động
Thứ hai, quy mô vốn của các trung gian tài chính ngày càng tăng: vốn điều lệ, vốn tiền gửi, vốn từ hợp đồng bảo hiểm, vốn từ phát hành cổ phiếu
Thứ ba, các trung gian tài chính ngày càng cung cấp nhiều tiện ích để bảo
vệ quyền lợi cho nhà đầu tư
Thứ năm, trong khu vực trung gian tài chính việc chia sẻ rủi ro ngày càng
Trang 24Nguồn vốn của khu vực này được sử dụng để tiêu dùng và tiết kiệm; đầu
tư trên tiền tiết kiệm
Khu vực cá nhân và hộ gia đình là tổ chức tài chính quan trọng trong nền kinh tế
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 1
1 Hãy trình bày và phân tích bản chất, chức năng của tài chính?
2 Phân tích mối quan hệ giữa các chức năng của tài chính?
3 Phân tích mối quan hệ giữa tài chính doanh nghiệp và thị trường tài chính?
4 Phân tích mối quan hệ giữa tài chính hộ gia đình và thị trường tài chính?
5 Trình bày được vai trò của tài chính trong nền kinh tế thị trường?
Trang 25Tài chính tiền tệ Chương 2: Tài chính công và chính sách tài khóa CHƯƠNG 2: TÀI CHÍNH CÔNG VÀ CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA
Giới thiệu
Chương 2 trình bày khu vực công và tài chính công, ngân sách Nhà nước và chính sách tài khóa
Mục tiêu
+ Trình bày khái niệm, các bộ phận của khu vực công
+ Trình bày khái niệm, thu chi, xử lý bội chi ngân sách, các chính sách tài khóa
+ Phân biệt thuế và phí, lệ phí; thuế trực thu và gián thu; tài chính công và các tài chính khác
+ Giải thích được các nhân tố ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách nhà nước, giải thích các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách tài khóa
+ Tính toán các chỉ tiêu liên quan chính sách tài khóa
Nội dung chính
2.1 Khu vực công và tài chính công
2.1.1 Khu vực công
Trên cơ sở vận dụng mô hình khu vực công theo quan điểm của Qũy tiền
tệ Thế giới, kết hợp với đặc điểm tổ chức hành chính của Việt Nam, có thể chỉ ra khu vực công bao gồm khu vực chính phủ và các công ty công
Khu vực chính phủ bao gồm tất cả các đơn vi chính phủ và tất cả các định chế phi lợi nhuận, phi thị trường được kiểm soát và tài trợ bởi chính phủ Các đơn vị chính phủ gồm tất cả các đơn vị có tính pháp nhân từ trung ương đến địa phương thực hiện các chức năng của chính phủ như hoạt động cơ bản Những đơn vị này chủ yếu nhận vốn tiền tệ từ chuyển giao hay kiếm được hoặc những nguồn lực của chính phủ để thực hiện chức năng của chính phủ, cũng như bất kỳ các khoản chi tiêu công cho mục đích tài khóa Các định chế phi lợi nhuận, phi thị trường (Nonprofit nonmarket institutions: NNPIs) hiện nay tồn tại phổ biến ở
Trang 26Việt Nam và có thể tìm thấy ở các cấp chính quyền, như là: Qũy bảo hiểm xã hội, các Qũy hỗ trợ địa phương,
Các công ty công có hai loại hình: công ty công phi tài chính (các doanh nghiệp Nhà nước) và công ty công tài chính (Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng thương mại Nhà nước,…)
Hình 2.1: Sơ đồ Khu vực công
2.1.2 Tài chính công
2.1.2.1 Khái niệm về tài chính công
Trên cơ sở xác định khu vực công, chúng ta có thể tiếp cận tài chính công theo 2 nghĩa
Tài chính công được hiểu theo nghĩa rộng là tài chính của khu vực công Cách tiếp cận này thường được các nhà quản trị công sử dụng để xây dựng chính sách công và phân tích quy mô nợ công, qua đó đánh giá nguy cơ tiềm ẩn nợ công đối với quốc gia
Tài chính công được hiểu theo nghĩa hẹp là các khoản thu, chi của khu vực chính phủ hay thu, chi của ngân sách Nhà nước Khi bàn về tài chính công, GS.TS Hồ Xuân Phương, ĐHTCKT Hà Nội – 2000, cho rằng: Tài chính công là tổng thể các hoạt động thu chi bằng tiền của Nhà nước tiến hành trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của Nhà nước nhằm thực hiện các chức năng
Các doanh nghiệp/tổ chức công tài chính
Các doanh nghiệp/tổ chức công tài chính Các doanh nghiệp/tổ chức công tài chính
Trang 27Tài chính tiền tệ Chương 2: Tài chính công và chính sách tài khóa
kinh tế - xã hội của Nhà nước Hay như PGS.TS Trần Đình Ty – Quản lý Tài chính công – NXB Lao động – 2003, cho rằng: Tài chính công là các hoạt động thu chi bằng tiền của Nhà nước trong quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ của Nhà nước, nhằm phục vụ việc thực hiện các chức năng của Nhà nước đối với xã hội và không nhằm mục đích lợi nhuận
Trong phạm vi chương này, tài chính công được hiểu theo nghĩa hẹp – lĩnh vực kinh tế học liên quan đến những hoạt động thu chi của chính phủ Như vậy
có thể hiểu tài chính công như sau: Tài chính công là tổng thể các hoạt động thu chi bằng tiền do nhà nước tiến hành, nó phản ánh hệ thống các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ công, nhằm phục
vụ việc thực hiện các chức năng của Nhà nước và đáp ứng các nhu cầu, lợi ích chung của toàn xã hội Theo đinh nghĩa này, tài chính công hàm chứa các nội dung: Một là, trong khuôn khổ của một quốc gia, tài chính công thuộc sở hữu Nhà nước và Quốc hội là cơ quan quyền lực tối cao của một quốc gia có quyền
áp đặt mọi khoản thu chi của quốc gia, Chính phủ, bộ phận hành pháp, được Quốc hội trao quyền điều hành chính sách tài khóa: Thu, chi ngân sách; Hai là, khâu tài chính này không vì mục đích lợi nhuận mà nhằm đáp ứng các nhu cầu, lợi ích chung của toàn xã hội; Ba là, tài chính công thực hiện các chức năng của Nhà nước thông qua cung cấp hàng hóa công gắn liền với nhu cầu thiết yếu của toàn xã hội
Tóm lại, xác định phạm vi khu vực công và tài chính công là công việc rất phức tạp, hiện còn nhiều tranh luận Nguyên nhân là do nền kinh tế thị trường hiện đại đã làm thay đổi đáng kể vai trò của chính phủ và giữa khu vực công và khu vực tư có sự đan xen trong việc cung cấp hàng hóa công
2.1.2.2 Đặc điểm của Tài chính công
Tài chính công có những đặc điểm sau:
* Tài chính công thuộc sở hữu nhà nước và gắn với quyền lực chính trị của nhà nước
Trang 28Trong lịch sử tồn tại và phát triển của Nhà nước, bất kỳ nhà nước của một chế độ xã hội nào cũng phải dùng quyền lực chính trị để ban hành các sắc luật nhằm duy trì các quyền lợi chính trị của nhà nước và cai trị đất nước Nhà nước ban hành pháp luật về các khoản thu (luật thuế VAT, thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt,…) bằng quyền lực của mình Nhà nước là chủ thể duy nhất trong nền kinh tế được phép ban hành pháp luật buộc các thành phần kinh tế khác đóng góp một phần thu nhập mang tính bắt buộc nhằm tập trung các nguồn tài chính Nhà nước quyết định cơ cấu, nội dung, mức độ các khoản chi cho nền kinh tế (chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển)
* Hiệu quả của hoạt động thu chi tài chính công không lượng hóa được Thu - chi tài chính công chủ yếu mang tính chất không hoàn trả trực tiếp nên không thể đánh giá hiệu quả một cách cụ thể, chính xác Tuy nhiên, hiệu quả của tài chính công có thể xác định một cách tương đối thông qua các chỉ tiêu kinh
tế - xã hội như tốc độ tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ hộ nghèo, tỷ lệ thất học Ví dụ: Thuế thu nhập cá nhân do nhà nước thu mang tính chất không hoàn trả trực tiếp, thay vào đó nhà nước sử dụng số tiền đó để chi cho các hoạt động phát triển đất nước Không những thế, khi nhà nước tiến hành thu thuế thu nhập cá nhân và tiến hành phân phối lại thông qua việc cung cấp các hàng hóa công sẽ thực hiện công bằng xã hội, giảm sự chênh lệch giàu nghèo của các tầng lớp dân cư
Trang 29Tài chính tiền tệ Chương 2: Tài chính công và chính sách tài khóa
* Tài chính công phục vụ lợi ích của cộng đồng
Tài chính công là công cụ tài chính được Nhà nước sử dụng để phân phối các nguồn lực tài chính phục vụ việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ kinh tế - chính trị - xã hội trong từng thời kỳ không nhằm mục đích lợi nhuận, vì lợi ích của quốc gia và của cộng đồng xã hội Các khoản chi của tài chính công nhằm cung cấp các hàng hóa và dịch vụ công cho mọi thành phần kinh tế, mọi tầng lớp dân cư nhằm đảm bảo thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thực hiện mục tiêu công bằng xã hội
2.1.2.3 Chức năng của tài chính công
* Chức năng huy động và phân bổ nguồn lực
Tài chính công với hai hoạt động chính là thu và chi ngân sách nên gắn liền với hoạt động phân phối và phân bổ nguồn lực tài chính của quốc gia Trong điều kiện nền kinh tế thị trường có sự điều chỉnh của Nhà nước, Nhà nước chính là chủ thể tiến hành phân phối và phân bổ nguồn lực Thực hiện chức năng này phải đảm bảo yêu cầu công bằng: Công bằng theo chiều ngang và chiều dọc Công bằng theo chiều ngang thể hiện ở chỗ các chủ thể trong xã hội thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh như nhau, mua các hàng hóa dịch vụ công giống nhau,
có thu nhập như nhau thì thu nhập của các chủ thể đó đóng góp cho nhà nước là như nhau Công bằng theo chiều dọc thể hiện ở chỗ các chủ thể trong xã hội thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh đa dạng, khác nhau, sử dụng các hàng hóa dịch vụ công khác nhau, có thu nhập khác nhau thì thu nhập của các chủ thể
đó đóng góp cho nhà nước là khác nhau Chức năng này được thực hiện qua 2 kênh: Thu và chi tiêu công:
- Kênh thu chủ yếu là hình thức thu thuế Ngoài ra còn áp dụng các loại phí,
lệ phí, thu khác và vay nợ của nhà nước Thông qua kênh này, một bộ phận thu nhập trong và ngoài nước được điều tiết, huy động vào các quỹ tiền tệ của nhà nước
- Kênh chi tiêu công sử dụng các quỹ tài chính của nhà nước mà chủ yếu là quỹ ngân sách nhà nước cho các mục đích xác định trong các lĩnh vực: Văn hóa,
Trang 30xã hội, hành chính, quốc phòng,… Thông qua kênh này, nhà nước phân phối lại thu nhập công nhằm duy trì sự tồn tại của bộ máy nhà nước đảm bảo thực hiện các chức năng nhiệm vụ của nhà nước, điều hòa thu nhập của các chủ thể
Thực hiện chức năng này cần đảm bảo các yêu cầu:
- Phân bổ nguồn lực tài chính công phải dựa trên nguồn lực tài chính hiện
có, thuộc quyền chi phối của Nhà nước Do nguồn thu nhập công của các quỹ tiền tệ của nhà nước luôn bị giới hạn trong một năm tài khóa và việc sử dụng phải đòi hỏi mang lại hiệu quả cao Nhà nước cần cân nhắc, tính toán các mức, các tỷ lệ phân phối hợp lý giữa các vùng, ngành, giữa các hoạt động kinh tế xã hội đảm bảo chi dùng các nguồn lực tài chính công đúng mục đích xác định nhằm thúc đẩy tăng trường kinh tế bền vững và tăng cường phúc lợi cho nhân dân
- Phân bổ nguồn lực tài chính công phải đảm bảo các mối quan hệ cân đối trong nền kinh tế Nghĩa là việc phân bổ phải khơi dậy các tiềm năng về vốn, nhân lực và sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực đó
- Phân bổ nguồn lực tài chính công phải phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của quốc gia trong từng thời kỳ
* Chức năng điều chỉnh kinh tế vĩ mô
Kinh tế thị trường tự do cạnh tranh không thể tự điều chỉnh trong điều kiện kinh tế vĩ mô bất ổn và cuộc khủng hoảng tài chính 1929 – 1933 đã cho thấy rõ điều đó Sau cuộc khủng hoảng, sự can thiệp của Nhà nước vào đời sống kinh tế
xã hội (những năm 30 của thế kỷ 20) nhằm:
- Tăng nhanh tốc độ tăng tưởng nền kinh tế
- Tăng việc làm, giảm thất nghiệp
- Ổn định giá cả
- Cân bằng xuất khẩu và nhập khẩu, ổn định tỷ giá hối đoái
Thực tế cho thấy ở mỗi quốc gia đều có thể chứa đựng những yếu tố dẫn tới bất ổn định các mục tiêu kinh tế vĩ mô nêu trên Do vậy cần thiết phải có sự can thiệp của nhà nước Sự can thiệp của Nhà nước thông qua các công cụ kinh tế
Trang 31Tài chính tiền tệ Chương 2: Tài chính công và chính sách tài khóa
của chính sách kinh tế vĩ mô trong đó có công cụ tài chính công Vì vậy, tài chính công có chức năng điều chỉnh kinh tế vĩ mô
* Chức năng kiểm tra
Chức năng kiểm tra xuất hiện nhằm duy trì các quan hệ tập trung và phân phối các nguồn lực tài chính có hiệu lực và hiệu quả
- Phạm vi kiểm tra: Các quỹ tiền tệ của Nhà nước và của các chủ thể khác
- Chủ thể thực hiện: Cơ quan lập pháp, hành pháp, cơ quan tài chính, kiểm toán nhà nước, thanh tra chính phủ
- Nội dung kiểm tra:
+ Việc tổ chức thực hiện các hoạt động của tài chính công: ngân sách nhà nước, tín dụng nhà nước, bảo hiểm xã hội, hỗ trợ đầu tư từ các quỹ tiền tệ của Nhà nước
+ Việc chấp hành luật pháp trong lĩnh vực tài chính công
+ Thông tin tài chính, phân tích, đánh giá các dữ liệu về tài chính công
2.2 Ngân sách Nhà nước
2.2.1 Khái niệm ngân sách nhà nước
Nhà nước có chức năng: Quản lý và phát triển kinh tế - xã hội, giáo dục, quốc phòng, an sinh xã hội,… Để có thể thực hiện được các chức năng trên Nhà nước cần phải có trong tay những nguồn tài chính nhất định Bằng quyền lực chính trị của mình, Nhà nước động viên nguồn lực tạo thành các quỹ tiền tệ tập trung mà quan trọng nhất là quỹ Ngân sách Nhà nước và sử dụng các quỹ tiền tệ tập trung này để thực hiện các chức năng của mình
Theo điều 1, Luật ngân sách Nhà nước thì: Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước
Trong khái niệm trên có đề cập đến dự toán ngân sách Nhà nước Dự toán ngân sách Nhà nước là một văn kiện dự ước tất cả các khoản thu và chi của một tập thể công trong một thời gian nhất định
Trang 32Có thể thấy khái niệm trên chỉ chú trọng đến hoạt động bề ngoài của ngân sách Nhà nước là hoạt động thu và chi, nhưng trong quá trình thực hiện hoạt động thu và chi của ngân sách Nhà nước phát sinh hàng loạt các mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với các chủ thể trong xã hội Đó là quan hệ giữa ngân sách Nhà nước với các doanh nghiệp, các đơn vị hành chính sự nghiệp, các cá nhân,… Như vậy, NSNN bao gồm hệ thống các mối quan hệ kinh tế, phát sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính để hình thành quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước nhằm thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của bộ máy nhà nước Hoạt động của NSNN thể hiện mối quan hệ giữa một bên là Nhà nước với một bên là các chủ thể trong xã hội các doanh nghiệp, các đơn vị hành chính sự nghiệp, các cá nhân,…
2.2.2 Thu ngân sách nhà nước
2.2.2.1 Khái niệm
Thu Ngân sách Nhà nước là quá trình nhà nước sử dụng quyền lực chính trị
để phân phối các nguồn tài chính của xã hội dưới hình thức giá trị nhằm hình thành quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước
Như vậy, thu ngân sách Nhà nước bao gồm toàn bộ các khoản tiền được tập trung vào tay Nhà nước để hình thành quỹ ngân sách Nhà nước đáp ứng cho các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước Thu ngân sách Nhà nước bao gồm: thu trong cân đối ngân sách và thu bù đắp thiếu hụt của ngân sách
2.2.2.2 Đặc điểm
Thu ngân sách Nhà nước là tiền đề cần thiết để duy trì quyền lực chính trị
và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước Mọi khoản thu của Nhà nước đều được thể chế hóa bởi các chính sách, chế độ và quy định của Nhà nước; Thu ngân sách Nhà nước được thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả không trực tiếp là chủ yếu
Thu ngân sách Nhà nước phải căn cứ vào tình hình hiện thực của nền kinh tế; biểu hiển ở các chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc nội GDP, giá cả, thu nhập, lãi suất, Vì vậy, phân loại các khoản thu của ngân sách Nhà nước theo nội dung
Trang 33Tài chính tiền tệ Chương 2: Tài chính công và chính sách tài khóa
kinh tế là cần thiết Theo nội dung kinh tế các khoản thu ngân sách Nhà nước được chia thành các nhóm sau: thuế, lệ phí và phí, thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước, vay nợ trong và ngoài nước, thu từ viện trợ
2.2.2.3 Các khoản Thu NSNN
a Thu Thuế
Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc cho Nhà nước do luật pháp qui định đối với các pháp nhân và thể nhân thuộc đối tượng chịu thuế nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước
Thuế là hình thức phân phối lại bộ phận nguồn tài chính của xã hội, không mang tính hoàn trả trực tiếp cho người nộp Do đó, tại thời điểm nộp thuế, người nộp thuế không được hưởng bất kỳ một lợi ích nào mà xem như đó là trách nhiệm và nghĩa vụ đối với Nhà nước Như vậy, thuế mang tính cưỡng chế và được thiết lập theo nguyên tắc luật định
Bằng quyền lực chính trị của mình, nhà nước ban hành các loại thuế để tạo lập nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, các khoản thu này được bố trí sử dụng theo dự toán ngân sách Nhà nước đã được phê duyệt cho tiêu dùng công cộng và đầu tư phát triển nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước Như vậy, thuế phản ảnh các quá trình phân phối lại thu nhập trong xã hội, thể hiện các mối quan hệ tài chính giữa Nhà nước và các chủ thể khác trong xã hội
b Thu lệ phí và phí
Lệ phí và phí là các khoản thu tuy chiếm tỷ trọng không lớn trong tổng nguồn thu của ngân sách Nhà nước nhưng có ý nghĩa quan trọng vì nó liên quan đến tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội
Lệ phí: Là khoản thu mang tính chất thuế vì nó vừa mang tính cưỡng chế được qui định trong những văn bản pháp luật của Nhà nước nhưng vừa mang tính chất phục vụ cho người nộp lệ phí thông qua việc Nhà nước thực hiện một số thủ tục hành chính nào đó Ví dụ: Lệ phí trước bạ, lệ phí tòa án, lệ phí cấp giấy phép xây dựng, lệ phí cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, lệ phí công chứng…
Trang 34Phí: Là khoản thu mang tính chất thuế, là khoản thu mang tính bù đắp một phần chi phí thường xuyên và không thường xuyên về các dịch vụ công cộng hoặc bù đắp chi phí cho các hoạt động duy trì, tu bổ các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội phục vụ cho người nộp phí Phí có hai loại: Thứ nhất, các loại phí mang tính phổ biến do chính phủ qui định; Thứ hai, các loại phí mang tính địa phương Ví dụ: Học phí, viện phí, phí giao thông, phí cầu đường,
c Thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước
Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước tham gia các hoạt động kinh tế bằng việc đầu tư vốn vào sản xuất kinh doanh dưới hình thức góp vốn vào các doanh nghiệp, công ty liên doanh, mua cổ phiếu của các công ty cổ phần Số vốn đầu tư của Nhà nước vào các hoạt động sản xuất kinh doanh nói trên sẽ sinh lời và lợi tức thu được sẽ phụ thuộc vào tỷ lệ góp vốn của Nhà nước, hiệu quả sản xuất kinh doanh và cơ chế phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp Các khoản thu này phản ảnh hoạt động kinh tế đa dạng của Nhà nước, bao gồm:
- Thu từ việc bán tài sản thuộc sở hữu Nhà nước trong quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp quốc doanh
- Thu từ việc bán tài sản của Nhà nước đã cho các chủ thể trong xã hội thuê trước đây
- Thu từ sử dụng vốn thuộc nguồn của ngân sách Nhà nước
- Thu từ việc bán lại các cơ sở kinh tế của Nhà nước cho các thành phần kinh tế khác
- Thu từ cho thuê hoặc bán tài nguyên thiên nhiên
d Vay nợ trong nước
Vay nợ trong nước được Chính phủ thực hiện dưới hình thức phát hành công trái Công trái là chứng chỉ nhận nợ của Nhà nước, là một loại chứng khoán hay trái khoán do Nhà nước phát hành để vay dân cư, các tổ chức kinh tế - xã hội
và ngân hàng Ở Việt Nam Chính phủ thường phát hành trái phiếu qua hệ thống Kho Bạc nhà nước dưới các hình thức:
Trang 35Tài chính tiền tệ Chương 2: Tài chính công và chính sách tài khóa
- Tín phiếu kho bạc: Là trái phiếu chính phủ ngắn hạn, có thời hạn dưới một năm, đươc phát hành để huy động vốn nhằm giải quyết mất cân đối tạm thời của ngân sách Nhà nước trong năm tài chính
- Trái phiếu kho bạc: Là trái phiếu Chính phủ trung và dài hạn, có thời hạn trên một năm được phát hành để huy động vốn nhằm giải quyết bội chi ngân sách Nhà nước xuất phát từ yêu cầu đầu tư phát triển kinh tế
- Trái phiếu công trình: Là trái phiếu Chính phủ trung và dài hạn, có thời hạn trên một năm và được phát hành để huy động vốn cho các công trình xác định theo kế hoạch đầu tư của nhà nước
e Viện trợ và vay nợ nước ngoài
* Viện trợ: Viện trợ nước ngoài là nguồn vốn phát triển của các chính phủ, các tổ chức liên chính phủ, các tổ chức quốc tế cấp cho chính phủ một nước nhằm thực hiện các chương trình hợp tác phát triển kinh tế xã hội và hiện nay chủ yếu là nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức (ODA – Official Development Assistance) Nguồn viện trợ này được các tổ chức quốc tế chủ động phân bổ theo những tiêu chuẩn do Liên Hợp Quốc qui định đối với các loại quỹ chung hoặc do các tổ chức quốc tế chuyên ngành cấp đối với các loại quỹ ủy thác trên cơ sở các dự án xây dựng trước của nước nhận viện trợ
Nhìn chung, viện trợ quốc tế là nguồn vốn quan trọng bổ sung cho nguồn vốn đang thiếu hụt trong nước, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển, vấn đề quan trọng ở đây là các nước nhận viện trợ cần có phương án sử dụng vốn viện trợ có hiệu quả
* Vay nợ nước ngoài:
Vay nước ngoài có thể thực hiện dưới các hình thức: Phát hành trái phiếu ra nước ngoài, vay bằng hình thức tín dụng xuất khẩu (khi Nhà nước mua hàng của nước ngoài nhưng được hoãn trả nợ trong một thời gian nhưng phải chịu lãi suất trên khoản nợ đó) và vay từ các ngân hàng thương mại nước ngoài
Cũng giống như nguồn vốn viện trợ, vay nợ nước ngoài là nguồn vốn quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Điểm khác nhau là do vay theo điều kiện
Trang 36thương mại phải chịu lãi suất tương đối cao nên việc tính toán sử dụng nguồn vốn này cho có hiệu quả là hết sức cần thiết, tránh để khoản vay nợ này trở thành gánh nặng cho ngân sách
2.2.3 Chi ngân sách nhà nước
và từng công việc thuộc chức năng của Nhà nước
2.2.3.2 Đặc điểm
Chi NSNN gắn với bộ máy Nhà nước và những nhiệm vụ kinh tế chính trị,
xã hội mà Nhà nước đảm đương trong từng thời kỳ
- Chi NSNN gắn với quyền lực của Nhà nước Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất quyết định qui mô, nội dung, cơ cấu chi NSNN và phân bổ vốn NSNN cho các mục tiêu quan trọng nhất, bởi vì Quốc hội là cơ quan quyết định các nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội của quốc gia Chính phủ là cơ quan hành pháp, có nhiệm vụ quản lý, điều hành các khoản chi NSNN
- Hiệu quả chi NSNN khác với hiệu quả sử dụng vốn của các doanh nghiệp,
nó được xem xét trên tầm vĩ mô và là hiệu quả kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng,… dựa vào việc hoàn thành các mục tiêu kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng,… mà các khoản chi NSNN đảm nhận
- Chi NSNN là những khoản chi không hoàn trả trực tiếp Các khoản chi cấp phát từ NSNN cho các ngành, các cấp, cho các hoạt động văn hóa, xã hội, giúp đỡ người nghèo Các đối tượng thụ hưởng không phải trả giá hoặc hoàn lại cho Nhà nước Đặc điểm này giúp phân biệt các khoản chi NSNN với các khoản tín dụng Tuy nhiên, NSNN cũng có những khoản chi cho việc thực hiện chương trình mục tiêu mà thực chất là cho vay ưu đãi có hoàn trả gốc với lãi suất rất thấp
Trang 37Tài chính tiền tệ Chương 2: Tài chính công và chính sách tài khóa
hoặc không có lãi (chi giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo,…)
- Chi NSNN là một bộ phận cấu thành luồng vận động tiền tệ và nó gắn liền với sự vận động của các phạm trù giá trị khác như giá cả, tiền lương, tín dụng, thuế, tỉ giá hối đoái…
2.2.3.3 Các khoản chi NSNN
*Chi đầu tư phát triển
Nhu cầu đầu tư phát triển của toàn bộ nền kinh tế là rất lớn Có nhiều lĩnh vực đầu tư có thể huy động vốn từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để đầu tư phát triển nhưng có một số lĩnh vực đầu tư không thể trông chờ vào các nhà đầu tư tư nhân do nhu cầu vốn lớn, khả năng thu hồi chậm, lợi nhuận thấp Thực trạng trên đòi hỏi chính phủ phải đứng ra trực tiếp đầu tư Chinh phủ sẽ sử dụng nguồn tài chính công để đầu tư Ngoài ra chính phủ cần thiết phải chi đầu tư còn nhằm mục tiêu tạo đòn bẩy để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững và xử
lý những bất ổn khi nền kinh tế gặp phải các cú sốc
Chi đầu tư phát triển là quá trình nhà nước sử dụng một phần thu nhập từ quỹ NSNN và các quỹ ngoài ngân sách mà chủ yếu là quỹ NSNN để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế- xã hội, đầu tư phát triển sản xuất và dự trữ hàng hóa
có tính chiến lược nhằm đảm bảo thực hiện các mục tiêu ổn định và tăng trưởng kinh tế
Chi đầu tư phát triển của tài chính công gồm có chi từ ngân sách Nhà nước,
từ tín dụng Nhà nước, từ một số quỹ ngoài ngân sách Chi đầu tư phát triển là khoản chi lớn, tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế Quy mô, kết cấu khoản chi này phụ thuộc vào mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia trong từng thời kỳ Nhìn chung, chi đầu tư phát triển tập trung vào một số lĩnh vực chủ yếu sau:
* Chi đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng về kinh tế - xã hội công cộng
Đây là khoản chi lớn trong chi đầu tư phát triển, bao gồm chi đầu tư xây dựng mới, cải tạo nâng cấp các công trình không có khả năng thu hồi vốn hoặc thu hồi vốn chậm như công trình giao thông, đê điều, bệnh viện, trường học, nhà
Trang 38văn hóa… Việc đầu tư xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng kinh tế công cộng phải tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế đầu tư
mở rộng sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, có tính chất “mồi” để thu hút các nguồn vốn khác đầu tư cho mục tiêu công cộng
Đầu tư cho cơ sở hạ tầng xã hội thường hướng vào đầu tư phát triển nguồn nhân lực, phát triển cơ sơ vật chất phục vụ các hoạt động giáo dục, đào tạo, y tế, văn hóa, bảo vệ môi trường Nhìn chung khoản chi đầu tư này có vai trò quyết định trong việc tạo thế cân đối cho nền kinh tế - xã hội, hút vốn của các chủ thể đầu tư khác để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
* Chi hỗ trợ các doanh nghiệp nhà nước, đầu tư góp vốn cổ phần vào các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực cần thiết cho nền kinh tế
Khoản chi hỗ trợ, góp vốn của Nhà nước thường được cân nhắc rất thận trọng Nhà nước chỉ đầu tư với những ngành quan trọng có quy mô lớn để dẫn dắt nền kinh tế theo mục tiêu phát triển của Nhà nước Chẳng hạn, các cơ sở sản xuất ra tư liệu sản xuất chủ yếu đặc biệt là những mặt hàng còn phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu, các sản phẩm liên quan đến quốc phòng, an ninh, các doanh nghiệp công ích
Khoản chi này có xu hướng điều chỉnh giảm khi nền kinh tế hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới Bên cạnh mục tiêu dẫn dắt nền kinh tế khoản chi hỗ trợ các doanh nghiệp còn được sử dụng khi nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái sâu nhằm hạn chế đà suy giảm kinh tế Tuy nhiên, khoản chi này chỉ xuất hiện mang tính nhất thời ở một khoảng thời gian nhất định
Trang 39Tài chính tiền tệ Chương 2: Tài chính công và chính sách tài khóa
định kinh tế vĩ mô đặc biệt khi nền kinh tế gặp phải các cú sốc từ bên ngoài Chi tiêu công cho đầu tư phát triển thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi tiêu công Số chi đầu tư phát triển trong từng năm tài chính phụ thuộc vào mức tăng thu nhập quốc dân và mục tiêu kinh tế xã hội của nhà nước trong giai đoạn
đó Nhìn chung số chi cho đầu tư phát triển của Nhà nước chiếm tỷ trọng khá lớn trông tổng số chi cho đầu tư phát triển của toàn xã hội, đóng vai trò “dẫn dắt” hoạt động đầu tư của các chủ thể khác trong nền kinh tế
Chi đầu tư phát triển là khoản chi có tính tích lũy, không để tiêu dùng hiện tại mà có tác dụng tăng trưởng kinh tế, là khoản chi không mang tính phí tổn, có khả năng hoàn lại vốn
Vậy tại sao chi đầu tư phát triển lại có tác dụng tăng trưởng kinh tế? Có thể xét đơn giản như khi Nhà nước đầu tư xây dựng các công trình giao thông, bệnh viện, trường học, một mặt làm tăng cầu về các hàng hóa vật liệu xây dựng, làm sản lượng của các mặt hàng này tăng lên, tạo công ăn việc làm cho người lao động tham gia vào các công trình xây dựng và những người trong ngành sản xuất vật liêu xây dựng, và từ đó kéo theo tăng trưởng của các ngành khác Đơn giản như vậy có thể thấy chi đầu tư phát triển đã có tác dụng tăng trưởng kinh tế Khoản chi này có thể ở dưới các hình thức như cấp phát không hoàn lại, có thể chi theo dự toán kinh phí hoặc cấp phát theo lệnh chi tiền Chi đầu tư phát triển có mức độ ưu tiên thấp hơn chi thường xuyên
* Chi thường xuyên
Chi thường xuyên là quá trình phân bổ và sử dụng thu nhập từ các quỹ tài chính công nhằm đáp ứng các nhu cầu chi gắn liền với việc thực hiện các nhiệm
vụ thường xuyên của nhà nước về quản lý kinh tế – xã hội
Chi thường xuyên có phạm vi rộng, gắn liền với việc thực hiện các nhiệm
vụ thường xuyên của Nhà nước Khoản chi này mang tính chất tiêu dùng có quy
mô và cơ cấu chi thường xuyên phụ thuộc chủ yếu vào tổ chức bộ máy Nhà nước Với xu thế phát triển của xã hội, nhiệm vụ chi thường xuyên của Nhà nước
Trang 40ngày càng gia tăng chính vì vậy chi thường xuyên cũng có xu hướng mở rộng Xét theo lĩnh vực chi, chi thường xuyên bao gồm:
Chi cho các đơn vị sự nghiệp: Đây là các khoản chi cho các đơn vị sự nghiệp công lập nhằm cung cấp các dịch vụ đáp ứng nhu cầu nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, chăm sóc sức khỏe cộng đồng, tạo động lực để nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy phát triển kinh tế theo chiều sâu Cụ thể:
- Chi cho hoạt động của các đơn vị sự nghiệp kinh tế của Nhà nước Các khoản chi này nhằm đảm bảo hoạt động cho các đơn vị cung ứng hàng hóa, dịch
vụ phục vụ trực tiếp cho các hoạt động kinh tế như đơn vị sự nghiệp thuộc lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp; Thủy lợi; Khí tượng; Thủy văn… mặc dù các đơn vị
sự nghiệp kinh tế có tạo ra sản phẩm và chuyển giao được nhưng không phải là đơn vị kinh doanh nên các khoản chi tiêu được coi như chi NSNN Xu hướng ở Việt Nam, Nhà nước chỉ giữ lại một số đơn vị sự nghiệp kinh tế cần thiết cho sự phát triển kinh tế quốc gia, các đơn vị còn lại sẽ chuyển sang mô hình hoạt động như một doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị này
- Chi cho hoạt động các đơn vị sự nghiệp văn hóa – xã hội Hoạt động sự nghiệp văn hóa – xã hội là tổng thể các hoạt động nghiên cứu khoa học, giáo dục, đào tạo, văn hóa, thể dục thể thao, y tế, xã hội gồm:
(1) Chi cho hoạt động khoa học công nghệ là các khoản chi cho nghiên cứu, ứng dụng, phổ biến tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới nhằm hiện đại hóa khoa học, công nghệ từ đó giúp nâng cao năng suất lao động, cải thiện môi trường làm việc, tăng năng lực cạnh tranh cho mỗi quốc gia về kinh tế - xã hội Chi khoa học công nghệ được thực hiện thông qua các hội, ngành địa phương Với xu hướng phát triển kinh tế theo chiều sâu, chi cho khoa học công nghệ ngày càng được mở rộng
(2) Chi cho hoạt động giáo dục, đào tạo là các khoản chi cho hệ thống giáo dục, đào tạo từ giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông đến đào tạo đại học
và sau đại học Nhu cầu giáo dục, đào tạo của xã hội ngày càng đòi hỏi gia tăng về số lượng và chất lượng, với nguồn tài chính có hạn của NSNN