1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo trình tài chính tiền tệ

130 84 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ổn định tài chính không chỉ đóng vai trò quan trọng trong việc ổn định giá cả mà còn góp phần hỗ trợ phát triển kinh tế bền vững vì sự ổn định đó tạo ra môi trường thuận lợi hơn cho cả n

Trang 1

KHOA KINH TEÁ – DU LỊCH

Trang 2

Chương 1: ĐẠI CƯƠNG VỀ TIỀN TỆ VÀ TÀI CHÍNH 1

I Nguồn gốc và bản chất của tiền tệ 1

II Các chức năng của tiền 1

1 Phương tiện trao đổi 1

2 Thước đo giá trị 2

3 Phương tiện dự trữ về mặt giá trị 3

II Các hình thái tiền tệ 3

1 Hoá tệ 3

2 Tín tệ 5

3 Bút tệ 6

III Khối tiền tệ 7

1 Khối tiền tệ M1 7

2 Khối tiền tệ M 2 8

3 Khối tiền tệ M3 8

4 Khối tiền tệ L 8

IV Bản chất tài chính 8

1 Sự ra đời của phạm trù tài chính 8

2 Bản chất của tài chính 9

3 Chức năng của tài chính 9

V Hệ thống tài chính 10

1 Khái niệm 10

2 Cấu trúc của hệ thống tài chính 10

Chương 2: NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 15

I Khái niệm 15

II Vai trò của ngân sách ngân sách nhà nước 15

1 Kích thích sự tăng trưởng kinh tế 15

2 Giải quyết các vấn đề xã hội 15

3 Góp phần ổn định thị trường giá cả, chống lạm phát 16

II.Thu ngân sách nhà nước 16

1 Thu trong cân đối ngân sách 17

2 Thu bù đắp thiếu hụt ngân sách 21

II Chi ngân sách nhà nước 23

1 Chi đầu tư phát triển kinh tế 23

2 Chi tiêu dùng thường xuyên 25

3 Cân đối ngân sách 30

III Tổ chức ngân sách nhà nước và phân cấp quản lý ngân sách nhà nước 31

1 Tổ chức hệ thống ngân sách 31

2 Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước 32

3 Năm ngân sách và chu trình ngân sách 32

Chương 3: TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 34

I Khái niệm 34

II Nguồn vốn kinh doanh và các giải pháp huy động 34

1 Nguồn từ ngân sách nhà nước 35

2 Nguồn vốn tự có 35

3 Nguồn vốn liên doanh 36

Trang 3

II Chi phí kinh doanh và giá thành sản phẩm của doanh nghiệp 36

1 Chi phí sản xuất kinh doanh 37

2 Giá thành sản phẩm của doanh nghiệp 39

III Thu nhập và lợi nhuận của doanh nghiệp 40

1 Doanh thu tiêu thụ sản phẩm 40

2 Thu nhập và lợi nhuận của doanh nghiệp 41

Chương 4: THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH 43

I Khái niệm 43

II Cấu trúc thị trường tài chính 43

1 Căn cứ vào kỳ hạn của chứng khoán mua bán trên thị trường 43

2 Căn cứ vào mục đích hoạt động của thị trường 44

3 Căn cứ vào phương thức tổ chức và giao dịch của thị trường 46

III Các công cụ của thị trường tài chính 48

1 Các công cụ lưu thông trên thị trường tiền tệ 48

2 Các công cụ lưu thông trên thị trường vốn 51

IV Những rào cản trong kênh tài chính trực tiếp 56

1 Chi phí giao dịch 56

2 Chi phí thông tin 57

Chương 5: CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH TRUNG GIAN 59

I Khái niệm 59

II Vai trò của trung gian tài chính trong việc khắc phục hạn chế của kênh tài chính trực tiếp 59

1 Vai trò của trung gian tài chính trong việc giảm bớt chi phí giao dịch 59

2 Vai trò của trung gian tài chính trong việc giảm bớt chi phí thông tin 59

III Các loại hình trung gian tài chính 60

1 Các tổ chức nhận tiền gửi 60

2 Các công ty tài chính 62

IV Các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng 62

1 Các công ty bảo hiểm 63

2 Các quỹ trợ cấp hưu trí 63

V Các trung gian đầu tư 64

1 Ngân hàng đầu tư 64

2 Các công ty đầu tư mạo hiểm 64

3 Các quỹ đầu tư tương hỗ 65

4 Các quỹ đầu tư tương hỗ thị trường tiền tệ 65

5 Các công ty quản lý tài sản 66

VI Ngân hàng thương mại 66

1 Chức năng của ngân hàng thương mại 66

2 Các nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng thương mại 71

Chương 6: NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ QUỐC GIA 83

I Khái niệm 83

II Chức năng của ngân hàng trung ương 84

1 Chức năng ngân hàng của quốc gia 84

2 Chức năng quản lý vĩ mô về tiền tệ, tín dụng và hoạt động ngân hàng 87

Trang 4

Chương 7: LÃI SUẤT 96

I Khái niệm lãi suất 96

II Một số phân biệt về lãi suất 96

1 Căn cứ vào tính chất của khoản vay 96

2 Căn cứ vào giá trị thực của tiền lãi thu được 98

3 Căn cứ vào tính linh hoạt của lãi suất quy định 98

4 Căn cứ vào loại tiền cho vay 99

III Phương pháp tính lãi suất 99

1 Giá trị thời gian của tiền tệ 99

2 Phương pháp tính lãi 100

IV Các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất 102

1 Ảnh hưởng của cung cầu của quỹ cho vay 102

2 Ảnh hưởng của lạm phát kỳ vọng 102

3 Ảnh hưởng của bội chi ngân sách 103

4 Những thay đổi về thuế 103

5 Những thay đổi trong đời sống xã hội 103

Chương 8: LẠM PHÁT 105

I Khái niệm về lạm phát 105

1 Khái niệm lạm phát 105

2 Một số luận thuyết về lạm phát 105

II Phân loại lạm phát 106

1 Xét về mặt định lượng 106

2 Về mặt định tính 106

III Đo lường lạm phát 107

1 Phương pháp xác định dựa trên chỉ số giá 107

2 Phương pháp xác định dựa trên chỉ số giảm phát tổng sản phẩm quốc nội 110

IV Hậu quả của lạm phát 110

1 Lạm phát có thể dự tính được 111

2 Lạm phát không thể dự tính được 111

V Biện pháp khắc phục lạm phát 114

1 Chính sách siết chặt cung tiền tệ 114

2 Kiềm chế giá cả 114

3 Ấn định mức lãi suất cao 114

4 Biện pháp lạm phát chống lạm phát 114

5 Chính sách thu nhập dựa trên thuế 115

Chương 9: THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT 116

I Bản chất và vai trò của thanh toán không dùng tiền mặt 116

1 Bản chất của thanh toán không dùng tiền mặt 116

2 Vai trò của thanh toán không dùng tiền mặt 116

3 Ý nghĩa của thanh toán không dùng tiền mặt 117

II Các yếu tố trong thanh toán không dùng tiền mặt 117

1 Đối tượng 117

2 Chủ thể của thanh toán không dùng tiền mặt 117

3 Chứng từ thanh toán 118

4 Tài khoản thanh toán 118

Trang 5

III Các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt trong lĩnh vực trao đổi hàng hóa và

dịch vụ 119

1 Thanh toán bằng Séc 119

3 Ủy nhiệm chi 120

4 Thanh toán theo thư tín dụng 121

5 Thanh toán bù trừ 122

6 Thẻ thanh toán 123

Trang 6

Trong xu thế toàn cầu hoá, hội nhập tài chính sâu rộng, các nước cần phải xây dựng hệ thống ngân hàng và tài chính ổn định, nâng cao khả năng cạnh tranh, tạo điều kiện phát triển tự do hóa tài chính Ổn định tài chính không chỉ đóng vai trò quan trọng trong việc ổn định giá cả mà còn góp phần hỗ trợ phát triển kinh tế bền vững vì sự ổn định đó tạo ra môi trường thuận lợi hơn cho cả nhà đầu tư và người gửi tiền, tăng hiệu quả của hoạt động trung gian tài chính, tăng các chức năng của các thị trường tài chính và cải thiện phân phối nguồn lực để phát triển hệ thống tài chính lành mạnh và minh bạch, giảm đi các cú sốc và rủi ro hệ thống Một hệ thống tài chính ổn định là hệ thống hoạt động lành mạnh, tin cậy và hiệu quả, ít biến động và có khả năng hấp thụ các cú sốc

Để cung cấp những kiến thức cơ bản và tổng quan về tài chính tiền tệ, tác giả đã biên soạn giáo trình Tài chính – tiền tệ cho sinh viên chuyên ngành kế toán

Cuốn sách được xây dựng dựa trên quan điểm nhìn nhận hiện đại và phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế về hệ thống tài chính, với sự tập trung vào thị trường tài chính và hệ thống ngân hàng Nội dung cuốn sách gồm 9 chương:

Chương 1.Đại cương về tiền tệ và tài chính

Chương 2 Ngân sách nhà nước

Chương 3 Tài chính doanh nghiệp

Chương 4 Tín dụng và lãi suất tín dụng

Chương 5 Thị trường tài chính

Chương 6 Ngân hàng trung ương và chính sách tiền tệ quốc gia

Chương 7 Lãi suất

Chương 8 Lạm phát

Chương 9: Thanh toán không dùng tiền mặt

Đối tượng đọc mà cuốn sách hướng tới đầu tiên là sinh viên chuyên ngành

kế toán của Trường Đại học Quảng Bình nhằm cung cấp cho sinh viên những lý thuyết cơ bản về hệ thống tài chính, tiền tệ của một quốc gia

Tác giả rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quý vị để cuốn sách được hoàn thiện hơn trong lần xuất bản sau

Xin trân trọng cảm ơn!

Trang 7

Trang 1

Chương 1: ĐẠI CƯƠNG VỀ TIỀN TỆ VÀ TÀI CHÍNH

I Nguồn gốc và bản chất của tiền tệ

Từ rất sớm trong lịch sử loài người đã xuất hiện nhu cầu phải có một hình thức tiền tệ làm trung gian trao đổi Tuy nhiên quá trình phát triển các hình thái của tiền tệ cho thấy khó có thể đưa ra một định nghĩa về tiền tệ được các nhà kinh tế học thống nhất và chấp nhận Trong tác phẩm góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị, K Marx viết “ Một khi người ta hiểu rằng nguồn gốc của tiền

tệ ở ngay trong hàng hoá, thì người ta đã khắc phục được các khó khăn chính trong sự phân tích tiền tệ” Nhưng Marx cũng chỉ ra rằng người chỉ nghiên cứu tiền tệ và các hình thái tiền tệ trực tiếp sinh ra từ trao đổi hàng hoá chứ không nghiên cứu các hình thái tiền tệ thuộc về một giai đoạn cao hơn của quá trình sản xuất như tiền tín dụng chẳng hạn

Khi nói đến tiền tệ, hầu hết các nhà kinh tế học trước đây cũng cho rằng đó

là phương tiện trung gian trao đổi Điều này chỉ phù hợp và đúng với giai đoạn ban đầu khi con người bắt đầu sử dụng công cụ tiền tệ Quá trình phát triển của tiền tệ cho thấy tiền tệ không chỉ có vai trò trung gian trao đổi mà nó còn giúp cho chúng ta thực hiện các hoạt động đầu tư tín dụng… Ngoài ra, còn có những vật thể khác giữ vai trò trung gian trao đổi như chi phiếu, thương phiếu, kỳ phiếu,… mà các nhà kinh tế học vẫn không thống nhất với nhau có phải là tiền

tệ hay không Irving Fisher cho rằng chỉ có giấy bạc ngân hàng là tiền tệ, trong khi Conant Paul Warburg cho rằng chi phiếu cũng là tiền tệ Samuelson lại cho rằng tiền là bất cứ cái gì mà nhờ nó người ta có thể mua được hầu hết mọi thứ Theo Charles Rist thì cái thật quan trọng đối với nhà kinh tế không phải là sự thống nhất về một định nghĩa thế nào là tiền tệ mà phải biết và hiểu hiện tượng tiền tệ

II Các chức năng của tiền

1 Phương tiện trao đổi

Trong nền kinh tế hàng hóa các nhà kinh tế đều thống nhất tiền có ba chức năng, đó là phương tiện trao đổi, thước đo giá trị và cất giữ giá trị

 Chúng ta thấy rằng tiền tệ được xã hội sử dụng với tư cách là vật trung gian trong quá trình trao đổi hàng hoá, các hàng hoá trước tiên sẽ được đổi ra tiền tệ rồi sau đó người ta dùng tiền đó để đổi lấy hàng hoá khác Do vậy, tiền tệ được xem là phương tiện để trao đổi hàng hoá trong nền kinh tế

Trang 8

Trang 2

 Khi thực hiện chức năng này, tiền tệ chỉ đóng vai trò môi giới giúp cho việc trao đổi thực hiện được dễ dàng.Trong trao đổi, người ta đổi lấy tiền không phải vì bản thân nó mà vì những gì mà nó sẽ đổi được Tiền tệ được xem là phương tiện chứ không phải là mục đích của trao đổi

 Việc dùng tiền tệ làm phương tiện trao đổi đã giúp đẩy mạnh hiệu quả của nền kinh tế qua việc khắc phục những hạn chế của trao đổi hàng hoá trực tiếp, hạn chế về thời gian (việc mua và bán phải diễn ra đồng thời), hạn chế về không gian (việc mua và bán phải diễn ra tại cùng một địa điểm) Bằng việc đưa tiền vào lưu thông, con người đã tránh được những chi phí về thời gian và công sức dành cho việc trao đổi hàng hoá Nhờ đó, việc lưu thông hàng hoá có thể diễn ra nhanh hơn, sản xuất cũng được thuận lợi, tạo động lực cho kinh tế phát triển

2 Thước đo giá trị

 Tiền tệ là đơn vị đo lường giá trị, nghĩa là nó được dùng để đo lường các giá trị hàng hóa, dịch vụ trước khi trao đổi Lúc này tiền tệ đã trở thành phương tiện để biểu hiện, đo lường giá trị của các hàng hoá đem ra trao đổi Biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá gọi là giá cả hàng hoá

 Để thực hiện chức năng thước đo giá trị, bản thân nó phải có giá trị, ta đã biết giá trị của tiền tệ được biểu hiện bằng “sức mua của tiền tệ” là khả năng đổi được bao nhiêu hàng hóa khi trao đổi

 Để thực hiện tốt chức năng này, cần phải có một đơn vị tiền tệ chuẩn, cũng như để đo trọng lượng của một vật bằng kilogam Đơn vị tiền tệ lúc đầu do dân chúng lựa chọn một cách tự phát, sau đó do chính quyền lựa chọn và qui định trong luật pháp từng nước Ví dụ đơn vị tiền tệ chuẩn ở Việt nam là 1 VND, ở Mỹ là 1 USD, ở các nước thuộc EMU (Liên minh tiền tệ châu Âu) là 1EUR v.v

 Việc đưa tiền tệ vào để đo giá trị của hàng hoá làm cho việc tính toán giá hàng hoá trong trao đổi trở nên đơn giản hơn nhiều so với khi chưa có tiền Để thấy rõ được điều này, hãy thử hình dung một nền kinh tế không dùng tiền tệ: Nếu nền kinh tế này chỉ có 3 mặt hàng cần trao đổi là A, B, C chúng ta cần biết

ba giá để có thể trao đổi các hàng hoá này với nhau:

- Giá của hàng hoá A được tính bằng bao nhiêu hàng hóa B

Trang 9

Trang 3

- Giá của hàng hóa A được tính bằng bao nhiêu hàng hóa C

- Giá của hàng hóa C được tính bằng bao nhiêu hàng hóa B

Song nếu có 10 mặt hàng cần trao đổi thay vì chỉ có 3 như trên thì chúng ta

sẽ cần biết 45 giá để trao đổi một thứ hàng này với một thứ hàng khác; với 100 mặt hàng, chúng ta cần tới 4950 giá; và với 1000 mặt hàng cần 499.500 giá

(công thức N(N −1)/2 ) Như vậy, việc dùng tiền làm đơn vị đánh giá sẽ thuận

lợi rất nhiều cho quá trình trao đổi hàng hoá, giảm được chi phí trong trao đổi

do giảm được số giá cần xem xét

 Chức năng này nhấn mạnh vai trò thước đo giá trị của tiền tệ trong các hợp đồng kinh tế Chẳng hạn, trong các hợp đồng ngoại thương, khi sử dụng một đồng tiền làm đơn vị tính giá, điều cần quan tâm là phải phòng ngừa nguy

cơ do sự mất giá của đồng tiền đó, khiến cho vai trò thước đo giá trị của nó bị giảm sút

3 Phương tiện dự trữ về mặt giá trị

+ Thực hiện chức năng dự trữ có nghĩa là khi chưa có nhu cầu tiêu dùng thì tiền là nơi chứa sức mua hàng hóa trong một thời gian nhất định Nhờ vậy, thời gian thu nhập và thời gian tiêu dùng tách rời nhau Chức năng này rất hữu ích vì mọi người thường không muốn chi tiêu hết các khoản thu nhập của mình mà dự trữ để tiêu dùng trong tương lai

+ Tiền không phải là nơi duy nhất để chứa đựng giá trị, mà các tài sản khác cũng có tính năng này như: cổ phiếu, thương phiếu, đất đai… Trong số này tiền thể hiện tính ưu việt của nó để cất giữ giá trị, bởi vì tiền có tính lỏng cao Tính lỏng phản ánh khả năng chuyển một cách dễ dàng và nhanh chóng của một loại tài sản thành tiền mặt (một phương tiện trao đổi) Khi xét dưới góc độ như vậy

thì tiền sẽ là một tài sản lỏng nhất

II Các hình thái tiền tệ

1 Hoá tệ

Một hàng hóa nào đó có vai trò là trung gian của trao đổi được gọi là hóa

tệ, theo nghĩa rộng hóa tệ bao gồm hóa tệ không kim loại và hóa tệ bằng kim loại

Hoá tệ phi kim loại

Trang 10

Trang 4

Sản xuất và trao đổi hàng hóa ngày càng phát triển Trao đổi không còn là hình thức tự phát ngẫu nhiên mà trao đổi đòi hỏi phải có sự ngang giá giữa các loại hàng hóa Muốn vậy cần tìm trên thị trường một loại hàng hóa có tính đồng nhất, tiện dụng đảm nhận vai trò là vật ngang giá chung Hình thái đầu tiên của tiền tệ là các vật dùng làm trang sức hay những thứ để ăn Thổ dân các vùng châu Á, châu Phi trước đây dùng vỏ sò, vỏ ốc làm tiền Gạo ở Philippines Đường ở đảo Barbados Bò, cừu ở Hy Lạp và La Mã Muối ở nhiều nơi

Tuy nhiên, hoá tệ phi kim loại có nhiều điểm bất tiện như: tính chất không đồng nhất, dễ hư hỏng, khó phân chia hay gộp lại, khó bảo quản cũng như vận chuyển, và chỉ được công nhận trong từng khu vực, từng địa phương

Vì vậy mà hoá tệ phi kim loại dần dần biến mất và được thay thế bằng dạng hoá

tệ thứ hai: hoá tệ kim loại

Hóa tệ bằng kim loại

Hoá tệ kim loại là tiền tệ dưới dạng các kim loại, thường là các kim loại quý như vàng, bạc, đồng

Nói chung các kim loại có nhiều ưu điểm hơn so với các hàng hoá khác khi được sử dụng làm tiền tệ như: chất lượng, trọng lượng có thể xác định chính xác, dễ dàng hơn, thêm vào đó, nó lại bền hơn, dễ chia nhỏ, giá trị tương đối ít biến đổi

Trong thực tiễn lưu thông hoá tệ kim loại, chỉ có vàng trở thành loại tiền tệ được sử dụng phổ biến và lâu dài nhất Bạc rồi đồng chỉ được sử dụng thay thế khi thiếu vàng dùng làm tiền tệ

+ Ưu điểm của tiền vàng:

- Những đặc tính lý hoá của vàng rất thuận lợi trong việc thực hiện chức năng tiền tệ

Vàng không bị thay đổi về màu sắc và chất lượng dưới tác động của môi trường và cơ học nên rất tiện cho việc cất trữ Nó dễ chia nhỏ mà không ảnh hưởng tới chất lượng

- Giá trị của vàng ổn định trong thời gian tương đối dài, ít chịu ảnh hưởng

của năng suất lao động tăng lên như các hàng hoá khác

Sự ổn định của giá trị vàng là do năng suất lao động sản xuất ra vàng tương đối ổn định Ngay cả việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào khai thác cũng không làm tăng năng suất lao động lên nhiều Điều này làm cho tiền vàng luôn có được

Trang 11

Trang 5

giá trị ổn định, một điều kiện rất cần thiết để nó có thể chấp hành tốt các chức năng tiền tệ Trong giai đoạn đầu, tiền vàng thường tồn tại dưới dạng nén, thỏi Nhưng về sau để tiện cho việc trao đổi, tiền vàng thường được đúc thành những đồng xu với khối lượng và độ tinh khiết nhất định Tuy có những đặc điểm rất thích hợp cho việc dùng làm tiền tệ như vậy, tiền vàng vẫn không thể đáp ứng được nhu cầu trao đổi của xã hội khi nền sản xuất và trao đổi hàng hoá phát triển đến mức cao

+ Nhược điểm của tiền vàng:

- Quy mô và trình độ sản xuất hàng hoá ngày càng phát triển, khối lượng và chủng loại hàng hoá đưa ra trao đổi ngày càng tăng và đa dạng; trong khi đó lượng vàng sản xuất ra không đủ đáp ứng nhu cầu về tiền tệ (nhu cầu về phương tiện trao đổi) của nền kinh tế

- Giá trị tương đối của vàng so với các hàng hoá khác tăng lên do năng suất lao động trong ngành khai thác vàng không tăng theo kịp năng suất lao động chung của các ngành sản xuất hàng hoá khác Điều đó dẫn đến việc giá trị của vàng trở nên quá lớn, không thể đáp ứng nhu cầu làm vật ngang giá chung trong một số lĩnh vực có lượng giá trị trao đổi mỗi lần nhỏ như mua bán dịch vụ hoặc hàng hoá tiêu dùng

- Ngược lại, trong những giao dịch với giá trị lớn thì tiền vàng lại trở nên cồng kềnh

- Việc sử dụng tiền tệ hàng hoá bị các nhà kinh tế xem như là một sự lãng phí những nguồn tài nguyên vốn đã có hạn Để dùng một loại tiền tệ hàng hoá,

xã hội sẽ phải cắt bớt các công dụng khác của hàng hoá đó hoặc dùng các nguồn lực khan hiếm để sản xuất bổ sung Rõ ràng là với việc dùng vàng làm tiền tệ con người đã phải giảm bớt các nhu cầu dùng vàng làm đồ trang sức hoặc trong các ngành có sử dụng vàng làm nguyên liệu vì xã hội phải dành một phần lớn số lượng vàng hiện có để làm tiền tệ

2 Tín tệ

Tín tệ hay còn gọi là tiền dấu hiệu được hiểu là tiền tệ mà bản thân nó không có giá trị, nhưng được lưu dụng là do tín nhiệm của mọi người và do luật pháp quy định

Tín tệ bao gồm tiền bằng kim loại và tiền giấy

Trang 12

Trang 6

 Tiền bằng kim loại ở hình thái tín tệ khác với ở hình thái hóa tệ ở chỗ giá trị thực của kim loại thường không phù hợp với giá trị danh nghĩa, tiền bằng kim loại hiện nay phần lớn được đúc để sử dụng làm tiền lẻ

 Tiền giấy xuất hiện đầu tiên dưới dạng các giấy chứng nhận có khả năng đổi ra bạc hoặc vàng do các ngân hàng thương mại phát hành Đây là các cam kết cho phép người nắm giữ giấy này có thể đến ngân hàng rút ra số lượng vàng hay bạc ghi trên giấy Do có thể đổi ngược ra vàng và bạc nên các giấy chứng nhận này cũng được sử dụng trong thanh toán như vàng và bạc Sự ra đời những giấy chứng nhận như vậy đã giúp cho việc giao dịch với những khoản tiền lớn cũng như việc vận chuyển chúng trở nên thuận lợi hơn rất nhiều Thời đại ngày nay, việc sử dụng tiền giấy đã trở thành phổ biến, do tính thuận tiện của nó trong việc làm phương tiện trao đổi hàng hóa Đó là:

+ Dễ mang theo để làm phương tiện trao đổi hàng hóa, thanh toán nợ

+ Thuận tiện khi thực hiện chức năng dự trữ của cải dưới hình thức giá trị + Bằng cách thay đổi con số trên mặt đồng tiền, một lượng giá trị lớn hay nhỏ được biểu hiện

+ Bằng chế độ độc quyền phát hành giấy bạc với những quy định nghiêm ngặt của Chính phủ, tiền giấy có thể giữ được giá trị của nó

Mầm mống tiền giấy đã xuất hiện khá sớm trong lịch sử Tiền giấy xuất hiện ở Trung Quốc đời nhà Tống, ở Việt Nam đời Trần và Hồ Quý Ly, ở châu

Âu thế kỷ 17 Từ những năm 30 của thế kỷ XX, bản vị bạc không được tự do chuyển đổi ra vàng được áp dụng ở tất cả các nước trên thế giới

Tiền ghi sổ là những khoản tiền gửi không kỳ hạn ở ngân hàng (tiền gửi séc) Đó là do các ngân hàng thương mại tạo ra trong quá trình thực hiện nghiệp

vụ tín dụng ngân hàng Việc sử dụng đồng tiền ghi sổ được thực hiện thông qua các bút toán ghi Nợ và Có trên tài khoản tiền gửi không kỳ hạn ở ngân hàng Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, đồng tiền ghi sổ đã chiếm vị trí

Trang 13

Trang 7

chủ yếu trong tổng mức cung ứng tiền tệ cho nền kinh tế Hiện nay ở những nước có nền kinh tế phát triển, trình độ công nghệ ngân hàng hiện đại, đồng tiền ghi sổ chiếm từ 90% đến 95% trong tổng lượng tiền cung ứng Tiền ghi sổ có những tính ưu việt sau:

+ Giảm bớt các chi phí lưu thông tiền mặt: in tiền, vận chuyển, bảo quản, đóng gói…

+ Nhanh chóng thuận tiện trong khâu giao dịch đối với khách hàng

+ Bảo đảm an toàn trong việc sử dụng đồng tiền, hạn chế các hiện tượng tiêu cực

+ Tạo điều kiện trong việc quản lý và điều tiết lượng tiền cung ứng của Ngân hàng trung ương

III Khối tiền tệ

Việc định nghĩa tiền tệ là một phương tiện trao đổi mới chỉ đưa ra một cách hiểu khái quát về tiền, nó không cho chúng ta biết rõ trong nền kinh tế hiện tại những phương tiện cụ thể nào được coi là tiền, số lượng của nó là nhiều hay ít

Vì vậy người ta phải định nghĩa tiền một cách cụ thể hơn bằng việc đưa ra các phép đo về các khối tiền tệ trong lưu thông

Các khối tiền tệ trong lưu thông tập hợp các phương tiện được sử dụng chung làm phương tiện trao đổi, được phân chia tuỳ theo “độ lỏng” hay tính thanh khoản của các phương tiện đó trong những khoảng thời gian nhất định của một quốc gia Độ “lỏng” hay tính thanh khoản của một phương tiện trao đổi được hiểu là khả năng chuyển đổi từ phương tiện đó ra hàng hoá, dịch vụ - tức

là phạm vi và mức độ có thể sử dụng những phương tiện đó trong việc thanh toán chi trả

Các phép đo khối tiền tệ được đưa ra tuỳ thuộc vào các phương tiện được

hệ thống tài chính cung cấp và thường xuyên có sự thay đổi cho phù hợp, nhưng nhìn chung các khối tiền tệ trong lưu thông bao gồm:

1 Khối tiền tệ M 1

Đây là khối tiền tệ theo nghĩa hẹp nhất về lượng tiền cung ứng, nó bao gồm:

+ Tiền đang lưu hành

+ Tiền gửi không kỳ hạn

Trang 14

Trang 8

2 Khối tiền tệ M 2

Tổng lượng tiền cung ứng bao gồm:

+ Lượng tiền theo M1

+ Tiền gửi tiết kiệm tại các ngân hàng thương mại

3 Khối tiền tệ M 3

Theo khối tiền tệ này tổng lượng tiền cung ứng bao gồm:

+ Lượng tiền theo M2

+ Tiền gửi có kỳ hạn tại các ngân hàng thương mại

4 Khối tiền tệ L

Theo khối tiền tệ này tổng lượng tiền cung ứng bao gồm:

+ Lượng tiền theo M3

+ Chứng từ có giá có tính lỏng cao như: Chứng chỉ tiền gửi, thương

phiếu tín phiếu, trái phiếu…

IV Bản chất tài chính

1 Sự ra đời của phạm trù tài chính

+ Lịch sử xã hội loài người cho thấy, vào thời kỳ công xã nguyên thủy tan

rã, xã hội bắt đầu có sự phân công lao động, có sự chiếm hữu khác nhau về tư liệu sản xuất và về sản phẩm lao động Theo đó nền sản xuất ra đời và tiền tệ xuất hiện như một tất yếu khách quan Trong nền kinh tế thị trường quan hệ trao đổi trở nên dễ dàng hơn thông qua tiền tệ làm môi giới trung gian Từ đó, tiền tệ được sử dụng với những chức năng phương tiện trao đổi và phương tiện tích lũy

để phân phối sản phẩm xã hội Thông qua tích lũy các quỹ tiền tệ được thành lập nhằm đầu tư và phát triển kinh tế xã hội Các quỹ này được thành lập sử dụng và duy trì bởi những tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội hay những cá nhân Tổng hợp

các mối quan hệ đó làm nảy sinh phạm trù tài chính

+ Tồn tại sự chiếm hữu khác nhau về tư liệu sản xuất thì có sự phân chia giai cấp trong xã hội và xuất hiện phạm trù Nhà nước Nhà nước ra đời điều tiết hoạt động của nền kinh tế tạo điều kiện thuận lợi phát triển kinh tế, mở rộng phạm vi hoạt động của tài chính Mặt khác, để tồn tại và duy trì các hoạt động nhà nước thành lập các quỹ ngân sách nhà nước đây là cơ sở hình thành lĩnh vực tài chính nhà nước Như vậy với sự ra đời của nhà nước đã làm cho hoạt động tài chính ngày càng thêm phát triển

Trang 15

+ Quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với các cơ quan, đơn vị kinh tế, dân cư + Quan hệ kinh tế giữa các tổ chức tài chính trung gian với các cơ quan,

tổ chức kinh tế phi tài chính, dân cư

+ Quan hệ kinh tế giữa các cơ quan, đơn vị kinh tế, dân cư với nhau và quan hệ kinh tế trong nội bộ các chủ thể đó

+ Quan hệ kinh tế giữa các quốc gia với nhau trên thế giới…

3 Chức năng của tài chính

Chức năng phân phối

+ Phân phối qua tài chính là sự phân phối tổng sản phẩm xã hội dưới hình thức giá trị Thông qua chức năng này, các quỹ tiền tệ tập trung hay không tập trung được hình thành và sử dụng vào những mục đích nhất định Phân phối qua tài chính bao gồm cả quá trình phân phối lần đầu và phân phối lại

+ Quá trình phân phối lần đầu là quá trình phân phối tổng sản phẩm xã hội cho các chủ thể tham gia vào quá trình sản xuất vật chất và dịch vụ Trong quá trình phân phối này, giá trị tổng sản phẩm xã hội sẽ hình thành các quỹ tiền tệ sau đây:

- Quỹ bù đắp những chi phí vật chất đã bỏ ra trong quá trình sản xuất, tiến hành dịch vụ

- Quỹ tích lũy nhằm tái sản xuất mở rộng, đầu tư phát triển kinh tế

- Quỹ tiêu dùng, bao gồm tiêu dùng cho cá nhân và cho nhà nước

+ Quá trình phân phối lại là quá trình tiếp tục phân phối những phần thu nhập cơ bản, những quỹ tiền tệ đã được hình thành trong quá trình phân phối lần đầu ra phạm vi rộng hơn, bao gồm cả lĩnh vực không sản xuất vật chất và dịch

vụ

Trang 16

Trang 10

Chức năng giám đốc

+ Chức năng giám đốc tài chính là khả năng khách quan của phạm trù tài chính Thông qua khả năng này mà người ta có thể kiểm tra quá trình vận động của các nguồn tài chính để tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ Khả năng đó được biểu hiện ngay trong quá trình phân phối của tài chính Tại đó người ta có thể kiểm tra những thông tin về quy mô và hiệu quả của quá trình tạo lập và sử dụng tiền tệ

+ Đối tượng của giám đốc tài chính là các quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ trong nền kinh tế Thông qua chức năng này để điều chỉnh các quá trình phân phối tổng sản phẩm dưới hình thức giá trị, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của từng thời kỳ

2 Cấu trúc của hệ thống tài chính

Căn cứ vào các tụ điểm vốn và bộ phận dẫn vốn, cấu trúc của hệ thống tài chính được tổ chức theo sơ đồ sau:

Trang 17

Trang 11

Trong nền kinh tế, các tụ điểm vốn này có mối quan hệ ràng buộc, đan xen, liên hệ với nhau theo những mối quan hệ nhất định

Tài chính doanh nghiệp

Tài chính doanh nghiệp có quan hệ mật thiết với tất cả các bộ phận của hệ thống tài chính trong quá trình hình thành và sử dụng vốn

Mục đích kinh tế cuối cùng của các doanh nghiệp là tạo ra lợi nhuận Chính

vì vậy, mọi hoạt động của tài chính doanh nghiệp, từ việc huy động các nguồn vốn để tài trợ cho hoạt động kinh doanh, phân phối các nguồn lực tài chính cho các dự án kinh doanh của doanh nghiệp, cho đến việc quản lý quá trình sử dụng vốn, tất cả đều phải hướng vào việc tối đa hoá khả năng sinh lời của đồng vốn đầu tư Do tính chất hoạt động như vậy nên tài chính doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra các nguồn lực tài chính mới cho nền kinh tế

Ngân sách nhà nước

Ngân sách nhà nước gắn liền với chức năng, nhiệm vụ của nhà nước Ngân sách nhà nước vì vậy sẽ không chỉ tập trung vào việc huy động nguồn lực để tài trợ cho các hoạt động của nhà nước hay phân bổ tối ưu các nguồn lực đó cho các mục đích chi tiêu của nhà nước mà còn phải đảm bảo giúp nhà nước thực hiện hiệu quả vai trò điều tiết kinh tế vĩ mô của mình

Hoạt động của ngân sách nhà nước có ảnh hưởng to lớn tới các bộ phận tài chính còn lại Một mặt, các chính sách huy động vốn và chi tiêu ngân sách nhà nước có ảnh hưởng rộng khắp tới mọi chủ thể trong nền kinh tế và do vậy tác động lên các tụ điểm vốn Ngân sách nhà nước thực hiện các khoản chi cho tiêu

Thị trường tài chính và tổ chức tài chính trung gian

Tài chính

dân cư, tổ chức

xã hội

Ngân sách Nhà nước

Tài chính đối ngoại Tài chính

doanh nghiệp

Trang 18

Trang 12

dùng thường xuyên và đầu tư trong nền kinh tế, việc cấp phát vốn ngân sách nhà nước cho các mục đích khác nhau sẽ làm tăng vốn tại các tụ điểm nhận vốn Mặt khác, tác động điều tiết vĩ mô của NSNN là hướng tới việc điều chỉnh hành

vi của các chủ thể trong nền kinh tế

Như vậy thông qua hoạt động thu chi ngân sách nhà nước đã làm nảy sinh mối quan hệ kinh tế giữa nhà nước với các tổ chức kinh tế xã hội, các tầng lớp dân cư

Tài chính dân cư

Đây là một tụ điểm vốn quan trọng trong hệ thống tài chính

Mục đích cuối cùng của các hộ gia đình là thoả mãn tối đa các nhu cầu tiêu dùng trên cơ sở các nguồn thu nhập hiện tại và tương lai Tài chính hộ gia đình

vì vậy sẽ tập trung vào việc phân bổ các nguồn lực tài chính đang có và sẽ có trong tương lai cho các nhu cầu tiêu dùng hiện tại và tương lai sao cho hiệu quả nhất Nó bao gồm các hoạt động phân bổ các nguồn thu nhập cho các nhu cầu tiêu dùng và tích luỹ

Tích lũy là việc hy sinh nhu cầu tiêu dùng hiện tại cho nhu cầu tiêu dùng trong tương lai với hy vọng việc lùi lại kế hoạch tiêu dùng sẽ đem lại nhiều ích lợi hơn

Tuy nhiên, tài chính hộ gia đình có tính phân tán và rất đa dạng Nguồn lực tài chính không tập trung mà phân bố rãi rác và không đồng đều

Tài chính đối ngoại

Trong xu thế quốc tế hóa các mối quan hệ kinh tế hệ thống tài chính là một

hệ thống mở với những mối quan hệ tài chính đa dạng và phong phú Các mối quan hệ này không tập trung tại một tụ điểm kinh tế mà chúng phân tán, đan xen vào các quan hệ tài chính khác Tuy nhiên do tính chất đặc thù và tầm quan trọng của các quan hệ tài chính đối ngoại cho nên ta thừa nhận nó hình thành một bộ phận tài chính có tính độc lập tương đối

Những kênh vận động của tài chính đối ngoại gồm có:

+ Quan hệ viện trợ hoặc vay vốn nước ngoài

+ Quan hệ về tiếp nhận vốn đầu tư nước ngoài với các tổ chức kinh tế trong nước

+ Quá trình thanh toán xuất nhập khẩu

Trang 19

Trang 13

+ Quá trình chuyển tiền và tài sản giữa cá nhân ngoài nước cho thân nhân trong nước và ngược lại

Thị trường tài chính và các tổ chức tài chính trung gian

Hoạt động của thị trường tài chính nhằm thực hiện chức năng lưu chuyển vốn từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn theo hai kênh:

+ Kênh dẫn vốn trực tiếp hay còn gọi là kênh tài chính trực tiếp: là kênh dẫn vốn trong đó vốn được dẫn thẳng từ người sở hữu vốn sang người sử dụng vốn Nói cách khác, những người thiếu vốn trực tiếp huy động vốn từ những

người thừa vốn trên thị trường tài chính

+ Kênh dẫn vốn gián tiếp hay còn gọi là kênh tài chính gián tiếp: là kênh dẫn vốn trong đó vốn từ người sở hữu vốn sang người sử dụng vốn thông qua các trung gian tài chính Các trung gian tài chính thực hiện việc tập hợp các khoản vốn nhàn rỗi lại rồi cho vay, vì thế những người sử dụng vốn và những người cung cấp vốn không liên hệ trực tiếp với nhau trong kênh này

Trong nền kinh tế hiện đại, các thị trường tài chính và trung gian tài chính không giới hạn hoạt động chỉ trong chức năng truyền thống là lưu chuyển vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu mà còn cung cấp nhiều phương tiện khác nhằm giúp phân

bổ hiệu quả các nguồn lực tài chính của nền kinh tế Cụ thể các thị trường tài chính và trung gian tài chính có vai trò:

- Cung cấp phương tiện để lưu chuyển các nguồn lực qua thời gian, giữa các quốc gia và giữa các ngành

- Cung cấp phương tiện để quản lý rủi ro

- Cung cấp phương tiện để thực hiện việc thanh toán trong thương mại được thuận lợi hơn

- Tạo ra cơ chế để tập trung các nguồn lực hoặc chia nhỏ quyền sở hữu các doanh nghiệp

- Cung cấp thông tin về giá cả nhằm hỗ trợ cho việc phi tập trung quá trình

Trang 20

Trang 14

CÂU HỎI ÔN TẬP

1 Để một vật được chọn làm tiền tệ thì nó phải thỏa mãn những điều kiện gì? Hãy sử dụng tiền vàng và tiền giấy để minh họa

2 Điều kiện tiền đề cho sự ra đời và động lực thúc đẩy sự phát triển của các hình thái tiền tệ là gì?

3 Tiền tín dụng do các ngân hàng phát hành có như nhau không? Tại sao người ta lại chọn sử dụng tiền tín dụng do ngân hàng này phát hành mà không

sử dụng tiền tín dụng do ngân hàng khác phát hành?

4 Phân biệt séc thông thường với séc du lịch và séc ngân hàng (bank draft) Tại sao khi ra nước ngoài người ta lại phải dùng séc du lịch mà không sử dụng séc thông thường?

5 Tìm hiểu về các hình thức thẻ thanh toán tại Việt nam: thủ tục đăng ký

sử dụng, chi phí sử dụng, quy trình thanh toán, ưu – nhược điểm và tình hình sử dụng hình thức thanh toán thẻ tại Việt nam

6 Phân tích các chức năng của tiền tệ và mối quan hệ giữa chúng

7 Trong các chức năng cơ bản của tiền tệ, chức năng nào phản ánh rõ nhất bản chất tiền tệ? Tại sao?

8 Phân tích các điều kiện để tiền tệ thực hiện tốt các chức năng của mình

9 Tiền tệ không phải là nơi cất trữ giá trị tốt nhất nhưng tại sao người ta vẫn muốn nắm giữ tiền?

10 Sắp xếp những tài sản sau đây theo thứ tự giảm dần về tính lỏng: tiền gửi tài khoản séc, nhà, tiền mặt, tiền gửi tiết kiệm, cổ phiếu, xe máy

Trang 21

Thuật ngữ “thu-chi” gồm 2 nội dung lớn: “thu” được hiểu là tất cả các nguồn tiền được huy động cho Nhà nước, còn “chi” bao gồm các khoản chi tiêu

và các khoản phải trả khác của Nhà nước

II Vai trò của ngân sách ngân sách nhà nước

1 Kích thích sự tăng trưởng kinh tế

Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, cùng với việc nhà nước can thiệp quá sâu và trực tiếp vào các hoạt động của các chủ thể kinh tế nên việc điều chỉnh các quan hệ kinh tế trở nên kém linh động Trong cơ chế đó hiệu quả của việc thu chi ngân sách không được xem trọng và như vậy vai trò điều tiết các hoạt động kinh tế của ngân sách nhằm thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng phát triển cũng trở nên hạn chế

Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước điều tiết các hoạt động kinh tế ở tầm vĩ mô, nhà nước định hướng về việc hình thành các thành phần kinh tế mới, bảo vệ tự do cạnh tranh và chống độc quyền

2 Giải quyết các vấn đề xã hội

Trong nền kinh tế hàng hóa khu vực kinh tế nhà nước có vai trò quan trọng

và giữ vai trò chủ đạo dẫn dắt các thành phần kinh tế khác phát triển theo định hướng thông qua các kế hoạch hóa gián tiếp dựa trên những cân đối lớn

Trong nền kinh tế thị trường tự điều tiết, tồn tại những yếu kém mà bản thân thị trường không giải quyết được Để thực hiện công bằng và các mục tiêu

xã hội NSNN đóng vai trò quan trọng hàng đầu Thông qua hoạt động chi ngân sách, nhà nước cung ứng các dịch vụ về y tế, giáo dục, an ninh, văn hóa…thông qua hoạt động cấp phát từ ngân sách Bên cạnh đó, ngân sách nhà nước còn có vai trò điều tiết thu nhập, quan tâm, hỗ trợ các tầng lớp thu nhập thấp bằng cách chi trợ giá, cho các mặt hàng thiết yếu (gạo, xăng dầu…) các khoản chi phí để

Trang 22

cư, thực hiện công bằng xã hội

3 Góp phần ổn định thị trường giá cả, chống lạm phát

Trong nền kinh tế thị trường giá cả phụ thuộc vào quan hệ cung cầu hàng hóa trên thị trường Nhằm đảm bảo cho giá cả ổn định, Chính phủ có thể tác động lên cung và cầu hàng hóa trên thị trường Để thực hiện chức năng này ngoài chính sách thuế, nhà nước sử dụng chính sách chi tiêu ngân sách Bằng nguồn vốn cấp phát của chi tiêu ngân sách hàng năm, các quỹ dự trữ nhà nước

về hàng hóa và tài chính được hình thành

Khi giá cả về loại hàng hóa nào đó trên thị trường quá cao, nhà nước bán lượng hàng hóa dự trữ với giá hợp lý nhằm ổn định giá của hàng hóa đó Và khi giá cả hàng hóa trên thị trường xuống quá thấp, nhà nước dùng tiền để mua hàng hóa để dự trữ, giảm sự biến động của giá cả hàng hóa Thông qua quỹ dự trữ này nhà nước điều hòa quan hệ cung cầu hàng hóa, bình ổn giá cả trên thị trường bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng và ổn định sản xuất

II.Thu ngân sách nhà nước

Thu ngân sách nhà nước là một mặt hoạt động cơ bản của ngân sách nhà nước Xét về mặt nội dung, thu ngân sách nhà nước chứa đựng các quan hệ phân phối dưới hình thức giá trị nảy sinh trong quá trình nhà nước dùng quyền lực chính tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước

Đặc trưng thứ nhất, thu NSNN luôn gắn liền với với chức năng, nhiệm vụ

và quyền lực chính trị của Nhà nước

Đặc trưng thứ hai, thu NSNN nước gắn chặt với thực trạng kinh tế và sự vận động các phạm trù giá trị khác như giá cả, thu nhập lãi suất…Ngày này các chỉ tiêu quan trọng phản ánh thực trạng của nền kinh tế là các chỉ tiểu tổng sản

Trang 23

ý nghĩa thiết thực trong việc phân tích, đánh giá và quản lý các nguồn thu ngân sách Dựa vào nội dung kinh tế và tính chất của các khoản thu chi ngân sách, thu ngân sách được phân thành hai nhóm: nhón thu thường xuyên có tính chất bắt buộc bao gồm thuế, phí và lệ phí; Nhóm thu không thường xuyên bao gồm: lợi tức của nhà nước tại các công ty cổ phần, tiền bán hoặc cho thuê tài sản thuộc sở hữu nhà nước…

1 Thu trong cân đối ngân sách

1.1 Thu thuế

1.1.1 Khái niệm

Thuế là khoản đóng góp bắt buộc – nhưng không phải là khoản nộp phạt - của các cá nhân và tổ chức cho Nhà nước theo những tiêu thức đã được xác định trước, không phụ thuộc vào lợi ích cụ thể của người nộp, nhằm tài trợ cho các chi tiêu của Nhà nước trong việc thực hiện các chức năng của mình

1.1.2 Những đặc trưng cơ bản của thuế

Thuế có những đặc trưng cơ bản sau:

 Tính bắt buộc phi hình sự, thuế được thiết lập trên nguyên tắc luật định Theo nguyên tắc này bắt buộc mọi sự thiết lập các sắc thuế hay thay đổi thuế xuất, thuế biểu đều phải do luật pháp quy định

 Không được hoàn trả trực tiếp

 Tính pháp lý rất cao

 Thuế là một công cụ mạnh của việc phân phối lại thu nhập

1.1.3 Phân loại thuế

Phân loại thuế theo tính chất: Với cách phân loại này thuế được chia thành hai nhóm lớn:

Trang 24

Trang 18

+ Nhóm thuế trực thu: là những loại thuế mà nhà nước thu trực tiếp vào các pháp nhân hay thể nhân khi có tài sản hoặc thu nhập được qui định nộp thuế Đây là loại thuế mà người nộp thuế chính là người chịu thuế và họ không có khả thu hồi lại tiền thuế bằng cách chuyển gánh nặng thuế sang một người khác Ví

dụ như: thuế thu nhập cá nhân, thuế nhà đất …

+ Nhóm thuế gián thu: là những loại thuế đánh vào giá trị hàng hoá khi nó lưu chuyển trên thị trường, là loại thuế mà người trực tiếp nộp thuế không phải

là người chịu thuế, nó được cấu thành trong giá cả hàng hoá dịch vụ và người tiêu dùng là người chịu thuế Người nộp thuế gián thu chẳng qua là nộp hộ người tiêu dùng Ví dụ như: VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt…

Cách phân loại thuế theo tính chất cho thấy được vai trò của từng loại thuế trong phân phối và điều tiết thu nhập của các chủ thể trong xã hội, phản ảnh mối tương quan giữa thuế trực thu và thuế gián thu trong tổng thu nhập về thuế của ngân sách nhà nước và có ý nghĩa trong việc hệ thống hóa một cách khoa học các sắc thuế phục vụ cho việc nghiên cứu và thiết kế các chính sách thuế

Phân loại thuế theo đối tượng đánh thuế: theo cách phân lọai này hệ

thống thuế được chia thành:

+ Thuế đánh vào các hoạt động sản xuất kinh doanh Ví dụ: thuế giá trị gia tăng (VAT)

+Thuế đánh vào sản phẩm Ví dụ: thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu

+ Thuế đánh vào thu nhập Ví dụ: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân

+ Thuế đánh vào tài sản Ví dụ: thuế nhà đất, thuế trước bạ

+ Thuế đánh vào các tài sản thuộc sở hữu nhà nước Ví dụ: thuế tài nguyên Việc phân loại thuế theo đối tượng như trên vừa phát huy tác dụng riêng của từng loại thuế, vừa hỗ trợ cho nhau để bảo đảm thực hiện chức năng toàn diện của cả hệ thống thuế

1.1.3 Vai trò của thuế

Thuế có hai chức năng cơ bản là: chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính cho Nhà nước và chức năng điều tiết kinh tế - xã hội Có thể nêu 3 vai trò cơ bản của thuế như sau:

Trang 25

Trang 19

a Vai trò tạo nguồn thu chủ yếu cho NSNN

Theo số liệu của ngân hàng thế giới có đến 70% số nước trên thế giới có

số thu từ thuế chiếm trên 80% ngân sách Nhà nước Các nước như Mỹ, Pháp, Đức, Nhật Bản đạt tỷ trọng trên 90%

Ở Việt Nam, ngoài các khoản thu từ lệ phí, phí, lợi tức cổ phần của Nhà nước tại các công ty cổ phần, tiền cho thuê hoặc bán tài sản thuộc sở hữu Nhà nước, thu hợp tác lao động với nước ngoài, thu vay nợ, viện trợ nước ngoài…khoản thu từ thuế đã tăng từ 75% (năm 1990) lên 95% (năm 1992) và gần đây là khoảng 90%

b Vai trò kích thích tăng trưởng kinh tế

Đây là vai trò không kém phần quan trọng bởi vì chính sách thuế ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập, giá cả, quan hệ cung cầu, cơ cấu đầu tư và đến sự phát triển hoặc suy thoái của một nền kinh tế

Trong nền kinh tế thị trường Nhà nước sử dụng công cụ thuế để điều tiết sản xuất và thị trường nhằm xác lập một cơ cấu kinh tế hợp lý; có những ngành kinh tế tác động đến sự tăng trưởng kinh tế (kinh tế công cộng) nhưng lại không được các nhà đầu tư thuộc các thành phần kinh tế quan tâm vì lợi nhuận không cao, cần có sự đầu tư của nhà nước Điều này đòi hỏi phải huy động thuế một tỷ

lệ tương đối cao đối với một số ngành có điều kiện thuận lợi trong những thời

kỳ nhất định và một tỷ lệ thuế tương đối thấp đối với những ngành kém thuận lợi nhằm tạo cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế Đồng thời, việc phân biệt thuế suất đối với từng loại sản phẩm, ngành hàng tự nó đã góp phần điều chỉnh giá cả, quan hệ cung cầu và hướng dẫn các nhà đầu tư bỏ vốn vào đầu tư những sản phẩm, ngành hàng theo đúng định hướng của nhà nước và việc ưu đãi thuế đối với một số mặt hàng, ngành nghề cũng góp phần kích thích tăng trưởng kinh tế

c.Vai trò điều tiết thu nhập, thực hiện công bằng xã hội:

Trong nền kinh tế thị trường, nếu không có sự can thiệp của nhà nước, để thị trường tự điều chỉnh thì sự phân phối của cải và thu nhập sẽ mang tính tập trung rất cao tạo ra hai cực đối lập nhau: một thiểu số người sẽ giàu có lên nhanh chóng, còn cuộc sống của đại bộ phận dân chúng ở mức thu nhập thấp Thực tế, sự phát triển của một đất nước là kết quả nỗ lực của cả một công đồng, sẽ không công bằng nếu không chia xẻ thành qủa phát triển kinh tế cho

Trang 26

Trang 20

mọi người Bởi vậy cần có sự can thiệp của nhà nước vào qúa trình phân phối thu nhập, sự can thiệp này đặc biệt hiệu qủa bằng cách sử dụng công cụ thuế Với các sắc thuế như: Thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế thu nhập… theo hướng thuế đánh cao vào những hàng hóa dịch vụ cao cấp, người

có thu nhập cao nhằm điều tiết bớt thu nhập của các doanh nghiệp, cá nhân có thu nhập cao Đồng thời thuế đánh thấp vào những hàng hóa dịch vụ cần thiết cho đại bộ phận dân chúng (Ví dụ: thuế tiêu thụ đặc biệt thuế suất 75% đối với rượu từ 40 độ trở lên, thuế suất 15% đối với rượu thuốc Bia chai, bia hộp, bia tươi thuế suất 75% trong khi bia hơi thuế suất là 30% …) Như vậy, việc qui định về đối tượng chịu thuế, thuế suất từng ngành hàng như trên bên ngoài như

là một sự cưỡng chế nhưng bên trong nhằm điều chỉnh những quan hệ xã hội nhất định

1.2 Thu lệ phí và phí

Lệ phí và phí là các khoản thu tuy chiếm tỷ trọng không lớn trong tổng nguồn thu của ngân sách nhà nước nhưng có ý nghĩa quan trọng vì nó liên quan đến tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội

1.2.1 Lệ phí

Lệ phí là khoản thu mang tính chất thuế vì nó vừa mang tính cưỡng bách được qui định trong những văn bản pháp luật của nhà nước nhưng đồng thời nó lại mang tính chất phục vụ cho người nộp lệ phí về việc nhà nước thực hiện một

số thủ tục hành chính nào đó Ví dụ: lệ phí trước bạ, lệ phí tòa án, lệ phí cấp giấy phép xây dựng, lệ phí cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, lệ phí công chứng…

1.2.2 Phí

Phí là khoản thu mang tính chất thuế, là khoản thu mang tính bù đắp một phần chi phí thường xuyên và không thường xuyên về các dịch vụ công cộng hoặc bù đắp chi phí cho các hoạt động duy trì, tu bổ các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội phục vụ cho người nộp phí Phí có hai loại: thứ nhất, các loại phí mang tính phổ biến do chính phủ qui định thứ hai, các loại phí mang tính địa phương Ví dụ: học phí, viện phí, phí giao thông, phí cầu đường…

1.3 Các khoản thu khác

Trong nền kinh tế thị trường nhà nước tham gia các hoạt động kinh tế bằng việc đầu tư vốn vào sản xuất kinh doanh dưới hình thức góp vốn vào các doanh

Trang 27

Trang 21

nghiệp, công ty liên doanh, mua cổ phiếu của các công ty cổ phần Số vốn đầu

tư của nhà nước vào các hoạt động sản xuất kinh doanh nói trên sẽ sinh lời và lợi tức thu được sẽ phụ thuộc vào tỷ lệ góp vốn của nhà nước, hiệu quả sản xuất kinh doanh và cơ chế phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp Các khoản thu này phản ảnh hoạt động kinh tế đa dạng của nhà nước, bao gồm:

+ Thu từ việc bán tài sản thuộc sở hữu nhà nước trong quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp quốc doanh

+ Thu từ việc bán tài sản của nhà nước đã cho các chủ thể trong xã hội thuê trước đây

+ Thu từ sử dụng vốn thuộc nguồn của ngân sách nhà nước

+ Thu từ việc bán lại các cơ sở kinh tế của nhà nước cho các thành phần kinh tế khác

+ Thu từ cho thuê hoặc bán tài nguyên thiên nhiên

2 Thu bù đắp thiếu hụt ngân sách

Trong quá trình điều hành ngân sách, các chính phủ thường có nhu cầu chi nhiều hơn số tiền thu được và việc cắt giảm các khoản chi rất là khó khăn vì liên quan đến các hoạt động y tế, giáo dục, văn hóa, xã hội … Do đó, bắt buộc chính phủ phải tính tới các giải pháp để bù đắp sự thâm hụt của ngân sách nhà nước Giải pháp thường được chính phủ sử dụng là vay thêm tiền để đáp ứng nhu cầu chi tiêu, bao gồm vay trong nước và vay nước ngoài:

2.1 Vay trong nước

Vay nợ trong nước được chính phủ thực hiện dưới hình thức phát hành trái phiếu Trái phiếu chính phủ là chứng chỉ nhận nợ của nhà nước, là một loại chứng khoán hay trái khoán do nhà nước phát hành để vay dân cư, các tổ chức kinh tế - xã hội và ngân hàng Ở Việt Nam chính phủ thường ủy nhiệm cho Kho Bạc nhà nước phát hành trái phiếu chính phủ dưới các hình thức:

+ Tín phiếu kho bạc: là trái phiếu chính phủ ngắn hạn, có thời hạn dưới một năm, đươc phát hành để huy động vốn nhằm giải quyết mất cân đối tạm thời của ngân sách nhà nước trong năm tài chính

+ Trái phiếu kho bạc: là trái phiếu chính phủ trung và dài hạn, có thời hạn trên một năm được phát hành để huy động vốn nhằm giải quyết bội chi ngân sách nhà nước xuất phát từ yêu cầu đầu tư phát triển kinh tế

Trang 28

Trang 22

+ Trái phiếu công trình: là trái phiếu chính phủ trung và dài hạn, có thời hạn trên một năm và được phát hành để huy động vốn cho các công trình xác định đã được ghi trong kế hoạch đầu tư của nhà nước

Đối với Việt Nam, trái phiếu chính phủ là hình thức huy động vốn có hiệu quả, qua các đợt phát hành với chính sách lãi suất và thời hạn hoàn trả hợp lý đã huy động được nguồn vốn to lớn vào ngân sách nhà nước đáp ứng kịp thời nhu cầu chi tiêu của nhà nước góp phần chống lạm phát và ổn định nền kinh tế xã hội

2.2 Viện trợ và vay nợ nước ngoài

a Nguồn viện trợ từ nước ngoài bao gồm các khoản viện trợ không hoàn lại và viện trợ có hoàn lại với lãi suất thấp

Viện trợ nước ngoài là nguồn vốn phát triển của các chính phủ, các tổ chức liên chính phủ, các tổ chức quốc tế cấp cho chính phủ một nước nhằm thực hiện các chương trình hợp tác phát triển kinh tế xã hội và hiện nay chủ yếu là nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức (ODA) Nguồn viện trợ này được các tổ chức quốc tế chủ động phân bổ theo những tiêu chuẩn do Liên Hợp Quốc qui định đối với các loại quỹ chung hoặc do các tổ chức quốc tế chuyên ngành cấp đối với các loại quỹ ủy thác trên cơ sở các dự án xây dựng trước của nước nhận viện trợ

Viện trợ quốc tế là nguồn vốn quan trọng bổ sung cho nguồn vốn đang thiếu hụt trong nước, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển, vấn đề quan trọng ở đây là các nước nhận viện trợ cần có phương án sử dụng vốn viện trợ có hiệu quả

b Vay nợ từ nước ngoài

Vay nước ngoài có thể thực hiện dưới các hình thức: phát hành trái phiếu bằng ngoại tệ mạnh ra nước ngoài, vay bằng hình thức tín dụng xuất khẩu (khi nhà nước mua hàng của nước ngoài nhưng được hoãn trả nợ trong một thời gian nhưng phải chịu lãi suất trên khoản nợ đó) và vay từ các ngân hàng thương mại nước ngoài

Cũng giống như nguồn vốn viện trợ, vay nợ nước ngoài là nguồn vốn quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Điểm khác nhau là do vay theo điều kiện thương mại phải chịu lãi suất tương đối cao, vì vậy việc tính toán sử dụng nguồn

Trang 29

Trang 23

vốn này cho có hiệu quả là hết sức cần thiết, khoản vay nợ này sẽ trở thành gánh nặng cho ngân sách

II Chi ngân sách nhà nước

Chi ngân sách nhà nước là quá trình phân phối, sử dụng quỹ ngân sách nhà nước theo những nguyên tắc nhất định cho việc thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước

Chi ngân sách nhà nước nhằm cung cấp các phương tiện tài chính cho việc thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước Tuy nhiên chi ngân sách nhà nước còn có những đặc thù riêng:

 Chi ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội mà Chính phủ phải đảm nhận trước mỗi quốc gia Mức độ, phạm vi chi tiêu ngân sách nhà nước phụ thuộc vào tính chất, nhiệm vụ của chính phủ trong từng thời kỳ

 Tính hiệu quả của các khoản chi ngân sách nhà nước được thể hiện ở tầm

vĩ mô và mang tính toàn diện cả về hiệu quả kinh tế trực tiếp, hiệu quả về mặt

xã hội và chính trị, ngoại giao

 Xét về mặt tính chất, hầu hết các khoản chi ngân sách nhà nước đều là các khoản cấp phát không hoàn trả trực tiếp và mang tính bao cấp

1 Chi đầu tƣ phát triển kinh tế

Chi đầu tư phát triển là những khoản chi mang tính chất tích lũy phục vụ cho quá trình tái sản xuất mở rộng gắn với việc xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm tạo ra môi trường và điều kiện thuận lợi cho việc bỏ vốn đầu tư của các doanh nghiệp vào các lĩnh vực cần thiết, phù hợp với mục tiêu của nền kinh tế Nói khác đi, việc chi cho đầu tư phát triển của ngân sách nhà nước nhằm mục đích tạo ra một sự khởi động ban đầu, kích thích qúa trình vận đông các nguồn vốn trong xã hội để hướng tới sự tăng trưởng

Chi đầu tư phát triển được cấp phát chủ yếu từ ngân sách trung ương và một bộ phận đáng kể của ngân sách địa phương và bao gồm các khoản chi cơ bản sau đây:

Trang 30

Trang 24

1.1 Chi đầu tư xây dựng cơ bản

Chi đầu tư xây dựng cơ bản: là khoản chi tài chính nhà nước được đầu tư cho các công trình thuộc kết cấu hạ tầng (cầu cống, bến cảng, sân bay, hệ thống thuỷ lợi, năng lượng, viễn thông…) các công trình kinh tế có tính chất chiến lược, các công trình và dự án phát triển văn hóa xã hội trọng điểm, phúc lợi công cộng nhằm hình thành thế cân đối cho nền kinh tế, tạo ra tiền đề kích thích qúa trình vận động vốn của doanh nghiệp và tư nhân nhằm mục đích tăng trưởng kinh tế và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân

1.2 Chi cho đầu tư và hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp nhà nước

Chi đầu tư và hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp nhà nước: là khoản chi gắn liền với sự can thiệp của nhà nước vào lĩnh vực kinh tế Với khoản chi này một mặt Nhà nước bảo đảm đầu tư vào một số lĩnh vực sản xuất kinh doanh cần thiết tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế xã hội, mặt khác nhằm hình thành một cơ cấu kinh tế hợp lý

1.3 Chi góp vốn cổ phần, vốn liên doanh vào các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của Nhà nước

Trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam các công ty cổ phần được hình thành thông qua quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp quốc doanh hoặc thành lập mới Các doanh nghiệp liên doanh được thành lập trên cơ sở liên doanh liên kết giữa các tổ chức kinh tế với nhau Các doanh nghiệp này tham gia vào nhiều lĩnh vực hoạt động kinh tế kể cả ở những lĩnh vực có vị trí trọng yếu ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế

1.4 Chi cho các quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia và hệ thống các Ngân hàng phát triển

Quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia và các Ngân hàng phát triển quốc gia là những

tổ chức tài chính có tư cách pháp nhân, thực hiện chức năng huy động vốn và tiếp nhận các nguồn vốn từ ngân sách nhà nước để cho vay đối với các chương trình, dự án phát triển các ngành nghề thuộc diện ưu đãi và các vùng khó khăn theo quy định của chính phủ ( chương trình đánh bắt xa bờ, chương trình phát triển kinh tế biển, phát triển rừng … ) Trong qúa trình hình thành và hoạt động của các quỹ hỗ trợ đầu tư và Ngân hàng Phát triển được ngân sách nhà nước cấp vốn điều lệ ban đầu và bổ sung vốn hàng năm để thực hiện các nhiệm vụ được giao

Trang 31

Trang 25

1.5 Chi dự trữ nhà nước

Chi dự trữ nhà nước: Dự trữ quốc gia cho phép duy trì sự cân đối và ổn định trong phát triển kinh tế, giải quyết các vấn đề kinh tế phát sinh trong quá trình hoạt động của nền kinh tế và trong những trường hợp nhất định cho phép ngăn chặn, bù đắp các tổn thất bất ngờ xảy ra đối với nền kinh tế, xã hội Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động của các quy luật kinh tế có thể dẫn đến những biến động phức tạp không có lợi cho nền kinh tế hoặc xảy ra thiên tai đòi hỏi phải có một khoản dự trữ giúp nhà nước điều tiết thị trường, khắc phục hậu quả Khoản dự trữ này được hình thành bằng nguồn tài chính được cấp phát từ ngân sách nhà nước hàng năm

2 Chi tiêu dùng thường xuyên

Bao gồm các khoản chi cho tiêu dùng xã hội gắn liền với chức năng quản

lý xã hội của nhà nước, khoản chi này được phân thành hai bộ phận: một bộ phận vốn được sử dụng để đáp ứng nhu cầu của dân cư về phát triển văn hóa xã hội, nó có mối quan hệ trực tiếp đến thu nhập và nâng cao mức sống của dân cư

và một bộ phận phục vụ cho nhu cầu quản lý kinh tế xã hội chung của nhà nước Bằng vào các khoản chi tiêu dùng thường xuyên nhà nước thể hiện sự quan tâm của mình đến nhân tố con người trong quá trình phát triển kinh tế, đồng thời với các khoản chi này nhà nước thực hiện chức năng văn hóa, giáo dục, quản lý,

an ninh quốc phòng

Chi tiêu dùng thường xuyên bao gồm các khoản chi sau đây:

2.1 Chi quản lý nhà nước (quản lý hành chính)

Chi quản lý nhà nước bắt nguồn từ sự tồn tại và việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nưóc Đây là khoản chi nhằm đảm bảo sự hoạt động của hệ thống các cơ quan quản lý nhà nưóc từ trung ương đến địa phương, hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam và hoạt động của các tổ chức chính trị xã hội Về nội dung khoản chi này bao gồm:

+ Chi lương và phụ cấp lương

+ Chi về nghiệp vụ

+ Chi về văn phòng phí

+ Các khoản chi khác về quản trị nội bộ

Trang 32

Để tinh giản bộ máy nhà nước, giảm chi phí, thực hiện yêu cầu hiệu quả và tiết kiệm trong chi quản lý nhà nước cần tiến hành đồng bộ các biện pháp:

+ Hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước cho phù hợp với chức năng, nhiệm

vụ của nhà nước trong cơ chế thị trường

+ Nâng cao chất lượng cán bộ quản lý: tiêu chuẩn hóa cán bộ, công chức, viên chức để bố trí nhân sự cho phù hợp với khả năng công tác và yêu cầu quản

lý của bộ máy hành chính

+ Ứng dụng khoa học kỹ thuật vào công tác quản lý hành chính

2.2 Chi An ninh quốc phòng

An ninh và quốc phòng thuộc lĩnh vực tiêu dùng xã hội, là những hoạt động bảo đảm sự tồn tại của nhà nước và cần thiết phải cấp phát tài chính cho các hoạt động này từ ngân sách nhà nước

Xét về nội dung, chi an ninh quốc phòng bao gồm:

+ Chi về tiền lương và phụ cấp lương cho toàn quân và lực lượng công an nhân dân

+ Chi về đào tạo huấn luyện cho bộ máy quốc phòng, an ninh và chi nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh

+ Chi mua sắm trang thiết bị, vũ khí và các phương tiện quân sự cho toàn quân và lực lượng công an

+ Chi đầu tư xây dựng các công trình kỹ thuật phục vụ cho mục đích quốc phòng và an ninh

Trang 33

Trang 27

này quá lớn thì sẽ hạn chế tăng trưởng kinh tế, ngược lại nếu quá ít sẽ không đảm bảo được sự tồn tại của nhà nước và trật tự an toàn xã hội Do đó, bố trí ngân sách an ninh quốc phòng một mặt phải đảm bảo những chi phí cần thiết cho phòng thủ và giữ gìn an ninh của đất nước trên cơ sở đó ổn định về kinh tế

xã hội, mặt khác phải thực hiện tiết kiệm và có hiệu qủa trong chi tiêu

2.3 Chi sự nghiệp

Bao gồm những khoản chi cho các dịch vụ và hoạt động xã hội phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế xã hội và nâng cao dân trí của dân cư Chi sự nghiệp bao gồm các khoản: chi sự nghiệp kinh tế, chi sự nghiệp nghiên cứu khoa học

và bảo vệ môi trường, sự nghiệp giáo dục đào tạo, sự nghiệp y tế, sự nghiệp văn hóa nghệ thuật , thể thao và sự nghiệp xã hội

2.3.1 Chi sự nghiệp kinh tế

Hoạt động của các đơn vị sự nghiệp kinh tế nhằm phục vụ cho yêu cầu sản xuất kinh doanh, quản lý kinh tế xã hội, tạo điều kiện cho các ngành kinh tế phát triển Mục đích hoạt động của các đơn vị sự nghiệp kinh tế không phải nhằm vào lợi nhuận, do đó áp dụng chế độ cấp phát như các đơn vị dự toán ngân sách

Về nội dung chi sự nghiệp kinh tế bao gồm các khoản chi cơ bản sau đây: + Chi về lương và phụ cấp lương cho viên chức đơn vị sự nghiệp

+ Chi mua nguyên vật liệu dùng cho nghiên cứu sản xuất thử nghiệm + Chi mua sắm, sửa chữa phương tiện, dụng cụ dùng trong hoạt động sự nghiệp và một số các khoản chi khác

2.3.2 Chi sự nghiệp nghiên cứu khoa học và công nghệ

Xuất phát từ yêu cầu và sự cần thiết phải nhanh chóng tiếp cận với nền khoa học và công nghệ tiên tiến của thế giới để khoa học và công nghệ trở thành một trong những động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội Về nội dung khoản chi này bao gồm:

+ Chi cho mạng lưới các cơ quan nghiên cứu và phát triển công nghệ bao gồm các viện, phân viện, các trung tâm nghiên cứu khoa học và công nghệ + Chi về lương và phụ cấp lương cho cán bộ khoa học

+ Chi cho các chương trình khoa học và công nghệ cấp nhà nước (4 chương trình khoa học và công nghệ cấp nhà nước hiện nay: chương trình công

Trang 34

+ Các khoản chi khác về khoa học, công nghệ

2.3.3 Chi sự nghiệp giáo dục, đào tạo

Đây là khoản chi có tầm quan trọng chiến lược vì mục đích của nó nhằm đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu về số lượng và chất lượng lao động cho nền kinh tế của đất nước Về nội dung khoản chi này bao gồm:

+ Chi về giáo dục phổ thông: hệ mẫu giáo, hệ tiểu học, hệ trung học, và hệ

+ Các khoản chi sự nghiệp giáo dục và đào tạo khác

Trong cơ chế thị trường hiện nay ở Việt Nam, sự nghiệp giáo dục và đào tạo đang phát triển theo hướng xã hội hóa và đa dạng hóa mục tiêu, chương trình, loại hình trường lớp và các loại hình giáo dục, đào tạo nhằm mục đích nâng cao trình độ dân trí của các tầng lớp dân cư trong xã hội Bên cạnh các trường công lập đã phát triển các dạng trường dân lập, tư thục ở tất cả các cấp trong hệ thống giáo dục quốc dân đã giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước cũng như tạo điều kiện nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo

2.3.4 Chi sự nghiệp y tế

Chi sự nghiệp y tế là khoản chi phục vụ công tác phòng bệnh và chữa bệnh nhằm nâng cao mức sống cho mọi người dân trong xã hội Về nội dung khoản chi này bao gồm:

+ Chi cho công tác phòng bệnh: bao gồm các khoản chi nhằm bảo đảm điều kiện hoạt động của các viện nghiên cứu, phòng khám, trạm chuyên khoa

Trang 35

Trang 29

+ Chi cho công tác chữa bệnh: là khoản chi quan trọng nhất nhằm duy trì

sự hoạt động của hệ thống các bệnh viện, bệnh xá, nhà điều dưỡng

+ Chi cho các chương trình quốc gia về y tế: chương trình phòng chống bướu cổ, phòng chóng sốt rét, dân số và kế hoạch hóa gia đình

+ Các khoản chi sự nghiệp y tế khác

Trong điều kiện nhằm xóa bỏ dần sự bao cấp của ngân sách nhà nước đối với hoạt động sự nghiệp y tế và tăng cường sử dụng có hiệu qủa kinh phí cấp cho ngành y tế, xu hướng chung hiện nay là nhà nước chỉ cấp kinh phí cho các hoạt động phòng chống các dịch bệnh, thực hiện các chương trình quốc gia về y

tế và chi chữa bệnh cho các đối tượng đặc biệt Các trường hợp còn lại sẽ huy động sự đóng góp từ người bệnh thông qua việc thực hiện chế độ bảo hiểm y tế cho mọi đối tượng để hình thành quỹ bảo hiểm y tế nhằm thanh toán chi phí cho người bệnh khi đến khám, chữa bệnh tại các cơ sở y tế

2.3.5 Chi sự nghiệp văn hoá, nghệ thuật, thể thao

Mục tiêu của các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể thao là nhằm nâng cao tri thức và thẩm mỹ cho mọi tầng lớp dân cư nhằm xây dựng một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, có nội dung nhân đạo, dân chủ và tiến bộ, phát triển đạo đức xã hội và truyền thống dân tộc Về nội dung khoản chi này bao gồm:

+ Chi cho hệ thống thư viện, bao tàng, nhà văn hóa

+ Chi cho hệ thống phát thanh, truyền hình và các hoạt động thông tin khác

+ Chi cho các hoạt động biểu diễn nghệ thuật và các hoạt động văn hóa khác

+ Chi cho sự nghiệp thể dục thể thao

+ Chi cho các chương trình quốc gia về văn hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao

2.3.6 Chi sự nghiệp xã hội

Mục tiêu của khoản chi này là nhằm bảo đảm đời sống của người lao động khi gặp khó khăn, tai nạn, già yếu, những người không có khả năng lao động đồng thời giải quyết những vấn đề xã hội nhất định Chi từ ngân sách nhà nước cho sự nghiệp xã hội bao gồm :

Trang 36

2.3 Chi trả nợ gốc tiền chính phủ vay

Chi trả nợ nhà nước bao gồm:

+ Trả nợ trong nước: là những khoản nợ mà trước đây nhà nước đã vay các tầng lớp dân cư, các tổ chức kinh tế và các tổ chức khác bằng cách phát hành các loại chứng khóan nhà nước như tín phiếu kho bạc, trái phiếu quốc gia + Trả nợ nước ngoài: là các khoản nợ nhà nước vay của các chính phủ nước ngoài, các doanh nghiệp và các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế

Hàng năm số chi trả nợ của nhà nước được bố trí theo một tỷ lệ nhất định trong tổng số chi của ngân sách nhà nước nhằm đảm bảo khả năng trả nợ đúng hạn

3 Cân đối ngân sách

Ngân sách nhà nước là công cụ tài chính quan trọng được nhà nước sử dụng

để phân phối thu nhập quốc dân Chức năng phân phối của ngân sách được thể hiện trong quá trình huy động và sử dụng các nguồn tài chính để hình thành nên các khoản thu và các khoản chi của ngân sách Về nội dung, các khoản thu và chi này có quan hệ hữu cơ với nhau và dựa trên nguyên tắc hai bộ phận này phải được cân đối

Trong cơ chế thị trường, yêu cầu đổi mới hoạt động của ngân sách nhà nước đòi hỏi phải xây dưng mô hình quản lý ngân sách thích hợp và phù hợp với thông lệ quốc tế, mô hình này cho phép xác định cơ cấu ngân sách với nội dung các khoản thu và chi để đảm bảo sự cân đối của ngân sách nhà nước Cụ

Trang 37

và được hình thành theo nguyên tắc không hoàn trả Các khoản thu này còn được gọi là các khoản thu trong cân đối ngân sách được sử dụng ưu tiên cho các khoản chi tiêu dùng thường xuyên của chính phủ, phần còn lại sẽ dành cho chi đầu tư phát triển

+ Thu từ các khoản viện trợ và vay nợ của chính phủ Nguồn thu này dùng

để bù đắp số thiếu hụt của ngân sách nhà nước do chênh lệch giữa tổng số chi và tổng số thu trong cân đối ngân sách để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế Do

đó, các khoản thu viện trợ và vay nợ của chính phủ được gọi là các khoản thu bù đắp thiếu hụt của ngân sách

Cơ chế cân đối ngân sách nhà nước này tạo ra thế chủ động rất lớn cho chính phủ cho phép giải quyết trước hết các nhu cầu cấp bách để ổn định đời sống và trật tự xã hội, hơn nữa nó cũng vạch ra một ranh giới rõ ràng về phạm

vi tiêu dùng nằm trong giới hạn các khoản thu nhập do nền kinh tế tạo ra Các khoản thu bù đắp thiếu hụt (vay) chỉ phục vụ cho chi đầu tư phát triển nhằm đảm bảo khả năng trả nợ cho chính phủ

III Tổ chức ngân sách nhà nước và phân cấp quản lý ngân sách nhà nước

1 Tổ chức hệ thống ngân sách

Tổ chức hệ thống ngân sách ở nước ta hiện nay theo điều 4 Luật Ngân sách Nhà nước quy định: “Ngân sách nhà nước bao gồm ngân sách Trung ương và ngân sách các cấp chính quyền địa phương (ngân sách địa phương)”

Ngân sách nhà nước ở nước ta là một thể thống nhất bao gồm toàn bộ các khoản thu và chi của ngân sách nhà nước trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước Sự thống nhất này có khác với các nước khác ở chỗ: dự toán ngân sách và quyết toán ngân sách hàng năm trình Quốc hội là bao gồm tất cả các khoản thu chi của ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương Tuy nhiên, hiện nay, ngân sách nhà nước ở nước ta chưa

Trang 38

Trang 32

hoàn chỉnh, vì toàn bộ các khoản thu chi của ngân sách xã chưa được tổng hợp đầy đủ vào ngân sách nhà nước

2 Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước

Nội dung của phân cấp ngân sách nhà nước bao gồm việc giải quyết các quan hệ sau:

Thứ nhất: Quan hệ về chế độ, chính sách Cụ thể cần làm rõ: mỗi cấp chính

quyền nhà nước có quyền ban hành những loại chế dộ, chính sách, định mức nào liên quan đến hoạt động ngân sách Nhà nước Giải quyết được mối quan hệ này sẽ khắc phục được tình trạng rối loạn trong quản lý và điều hành ngân sách nhà nước

Thứ hai: Quan hệ về vật chất, tức là quan hệ trong việc phân chia nhiệm vụ

chi và nguồn thu cũng như trong cân đối ngân sách của các cấp chính quyền Nhà nước Đây là nội dung quan trọng nhất của phân cấp ngân sách nhà nước Theo chế độ phân cấp ngân sách nhà nước hiện nay, mỗi cấp ngân sách đều

có các khoản thu được hưởng trọn vẹn 100% và các khoản thu phân chia theo tỷ

lệ phần trăm nhất định Riêng ngân sách các địa phương (tỉnh, huyện, xã) còn được khoản thu trợ cấp trực tiếp từ ngân sách cấp trên

Về chi tiêu, mỗi cấp ngân sách đều có các khoản chi thường xuyên và chi đầu tư tùy thuộc phạm vi thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mối cấp chính quyền nhà nước theo luật định

Thứ ba: Quan hệ chu trình ngân sách, tức là quan hệ về quản lý trong chu

trình vận động của ngân sách nhà nước, từ khâu lập ngân sách đến chấp hành và quyết toán ngân sách

3 Năm ngân sách và chu trình ngân sách

Năm ngân sách (hay còn gọi là năm tài chính, tài khóa) là giai đoạn mà trong đó dự toán thu – chi tài chính của nhà nước đã được phê chuẩn có hiệu lực thi hành

Thời gian cho một năm ngân sách đúng bằng một năm dương lịch (12 tháng), ở nước ta năm ngân sách bắt đầu từ 1/1 và kết thúc vào 31/12 hàng năm Chu trình ngân sách phản ánh toàn bộ các hoạt động từ khâu lập dự toán ngân sách đến khâu chấp hành và cuối cùng là quyết toán ngân sách nhà nước

Do đó thời gian của một chu trình ngân sách (tính từ lúc lập dự toán cho tới khi

Trang 39

Trang 33

quyết toán ngân sách) không trùng với năm ngân sách và dài hơn thời gian của một năm ngân sách

CÂU HỎI ÔN TẬP

1 Vai trò của ngân sách nhà nước trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia

2 Hãy cho biết các nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước

3 Trong các khoản thu của ngân sách nhà nước, khoản thu nào là chủ yếu? Tại sao?

4.Nội dung chủ yếu của các khoản chi chủ yếu của ngân sách

5 Anh (chị) hiểu như thế nào về thuật ngữ “thâm hụt ngân sách” Hãy nêu các biện pháp khắc phục khi có thâm hụt ngân sách

Trang 40

Như vậy, nhờ sự vận động của vốn tiền tệ mà quá trình sản xuấ kinh doanh của các doanh nghiệp được tiến hành liên tục

Mặt khác, sự vận động vốn tiền tệ không chỉ bó hẹp trong quá trính sản xuất nào đó của doanh nghiệp mà còn mở rộng cả trong lĩnh vực phân phối, trao đổi và tiêu dùng Sự vận động của vốn tiền tệ nảy sinh hàng loạt các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị: quan hệ mua bán nguyên nhiên vật liệu, vật tư kĩ thuật, thanh toán trả lương công nhân viên chức, mua bán sản phẩm sản xuất ra, nộp thuế với NSNN, phân phối lợi nhuận doanh nghiệp

Vậy tài chính doanh nghiệp là hệ thống những quan hệ kinh tế biểu hiện dưới hình thức giá trị phát sinh trong quá trình hình thành và xây dựng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp để phục vụ cho yêu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

II Nguồn vốn kinh doanh và các giải pháp huy động

Vốn kinh doanh của doanh nghiệp có thể hình thành từ nhiều nguồn khác

nhau Tuy nhiên, mỗi loại hình doanh nghiệp cũng chỉ có thể khai thác, huy động vốn từ một số nguồn nhất định Vì thế người ta có thể căn cứ vào nguồn hình thành vốn kinh doanh của doanh nghiệp để nhận biết doanh nghiệp đó thuộc loại hình nào Chẳng hạn, doanh nghiệp có vốn kinh doanh chủ yếu dựa vào nguồn ngân sách nhà nước thì đó là Doanh nghiệp Nhà nước hoặc một

ĐTLĐ TLLĐ

T H - SX - H’ - T’

Ngày đăng: 24/08/2017, 09:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. PGS.TS Nguyễn Hữu Tài (2007), Giáo trình lý thuyết tài chính – tiền tệ, NXB ĐHKTQD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý thuyết tài chính – tiền tệ
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Hữu Tài
Nhà XB: NXB ĐHKTQD
Năm: 2007
2. PTS. Nguyễn Đặng Dờn, Tiền tệ và ngân hàng (1998), NXB Tp. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiền tệ và ngân hàng
Tác giả: PTS. Nguyễn Đặng Dờn, Tiền tệ và ngân hàng
Nhà XB: NXB Tp. HCM
Năm: 1998
4. ThS. Đinh Thế Hiển (2007), Quản trị tài chính công ty lý thuyết và ứng dụng, NXB Thống Kê, Tp. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị tài chính công ty lý thuyết và ứng dụng
Tác giả: ThS. Đinh Thế Hiển
Nhà XB: NXB Thống Kê
Năm: 2007
5. PGS.Mai Siêu (2005), Giáo trình Tài chính và tiền tệ, NXB Thống Kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tài chính và tiền tệ
Tác giả: PGS.Mai Siêu
Nhà XB: NXB Thống Kê
Năm: 2005
6. TS.Nguyễn Thị Mùi (2001), Lý thuyết Tiền tệ ngân hàng, NXB Xây dựng Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết Tiền tệ ngân hàng
Tác giả: TS.Nguyễn Thị Mùi
Nhà XB: NXB Xây dựng Hà Nội
Năm: 2001
7. PGS.TS Nguyễn Thanh Tuyền (1994), Lý thuyết Tài chính, Trường Đại học Tài chính kế toán Tp HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết Tài chính
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Thanh Tuyền
Năm: 1994
8. TS.Phan ThịThu Hà (2005), Giáo trình Ngân hàng Phát triển, NXB Lao động – Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Ngân hàng Phát triển
Tác giả: TS.Phan ThịThu Hà
Nhà XB: NXB Lao động – Xã hội
Năm: 2005
9. TS. Phan Văn Thường (Chủ biên), Lý thuyết tài chính và tiền tệ, Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết tài chính và tiền tệ
10. David Begg "Kinh tế học" I và II, NXB Giáo Dục HN 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học
Nhà XB: NXB Giáo Dục HN 1992
11. Frederic S.Mishkin "Tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính" NXB Khoa Học và Kỹ Thuật HN 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính
Nhà XB: NXB Khoa Học và Kỹ Thuật HN 1995
12. "Lý thuyết tiền tệ" Trường Đại Học Tài chính kế toán HN, NXB Tài Chính HN 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết tiền tệ
Nhà XB: NXB Tài Chính HN 1998
13. "Quản lý và kinh doanh tiền tệ" Trường Đại Học Tài chính kế toán HN, NXB Tài Chính HN 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý và kinh doanh tiền tệ
Nhà XB: NXB Tài Chính HN 1997
14." Chiến lược tài chính - tiền tệ quốc gia giai đoạn 2001-2010” Bộ tài chính, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược tài chính - tiền tệ quốc gia giai đoạn 2001-2010
15. "Đổi mới NSNN" GS.TS Tào Hữu Phùng, Nguyễn Nghiệp, NXB Thống Kê 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới NSNN
Nhà XB: NXB Thống Kê 1992
3. Viện khoa học ngân hàng (1992), Tiền tệ ngân hàng và tín dụng Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w