1. Trang chủ
  2. » Văn bán pháp quy

Bài giảng tài chính tiền tệ

215 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 215
Dung lượng 1,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý thuyết tài chính tiền tệ là môn học cơ sở ngành của khối ngành kinh tế. Nội dung cơ bản của môn học là cung cấp cho sinh viên và những người quan tâm những kiến thức cơ bản về tài ch[r]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP - 2017

THS ĐÀO LAN PHƯƠNG, THS ĐỖ THỊ THÚY HẰNG,

THS HOÀNG THỊ HẢO, THS LƯU THỊ THẢO

TµI CHÝNH TIÒN TÖ

Trang 2

THS ĐÀO LAN PHƯƠNG, THS ĐỖ THỊ THÚY HẰNG, THS HOÀNG THỊ HẢO, THS LƯU THỊ THẢO

BÀI GIẢNG

TÀI CHÍNH TIỀN TỆ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP - 2017

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

Lý thuyết tài chính tiền tệ là môn học cơ sở ngành của khối ngành kinh tế Nội dung cơ bản của môn học là cung cấp cho sinh viên và những người quan tâm những kiến thức cơ bản về tài chính và tiền tệ như bản chất, chức năng của tài chính; bản chất, chức năng của tiền tệ và hoạt động tài chính của các chủ thể trong nền kinh tế như hoạt động của Ngân sách nhà nước, hoạt động của Ngân hàng trung ương, hoạt động tài chính của doanh nghiệp, các hộ gia đình, các tổ chức tài chính trung gian, các quan hệ tài chính quốc tế và vai trò của chúng trong việc phân bổ các nguồn lực tài chính, sự vận dụng các chức năng của tài chính và tiền tệ để quản lý nền kinh tế vĩ mô Đây là những vấn đề lý luận giúp sinh viên và bạn đọc có cái nhìn tổng quát hơn về tài chính và tiền tệ trong nền kinh tế để gắn kết được giữa lý luận và thực tiễn, đồng thời là cơ sở để sinh viên tiếp cận dễ dàng các môn học chuyên ngành trong tương lai

Bài giảng Tài chính tiền tệ bao gồm 8 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về tài chính và tiền tệ;

Chương 2: Ngân sách Nhà nước;

Chương 3: Ngân hàng trung ương;

Chương 4: Tài chính trung gian;

Chương 5: Tài chính doanh nghiệp;

Chương 6: Tài chính hộ gia đình;

Chương 7: Tài chính quốc tế;

Chương 8: Thị trường tài chính

Trong đó, Thạc sỹ Đào Lan Phương biên soạn các chương 4, 6; Thạc sỹ Hoàng Thị Hảo biên soạn các chương 5, 7; Thạc sỹ Lưu Thị Thảo biên soạn các chương 2, 8; Thạc sỹ Đỗ Thị Thúy Hằng biên soạn các chương 1, 3

Vì nhiều lý do nên cuốn bài giảng này còn cần bổ sung để hoàn chỉnh hơn trong tương lai Do đó, tập thể tác giả rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp chân thành của các nhà khoa học, các nhà quản lý, các đồng nghiệp và bạn đọc để bài giảng ngày càng có chất lượng cao hơn

Nhóm tác giả

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

1 BCNSNN Bội chi ngân sách nhà nước

5 CBCNVC Cán bộ công nhân viên chức

6 CHXHCN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

7 DNNN Doanh nghiệp nhà nước

9 HCSN Hành chính sự nghiệp

10 KTQT Kinh tế quốc tế

13 NHNNVN Ngân hàng nhà nước Việt Nam

14 NHTM Ngân hàng thương mại

15 NHTƯ Ngân hàng trung ương

16 NSNN Ngân sách nhà nước

17 SXKD Sản xuất kinh doanh

18 TCQT Tài chính quốc tế

19 TTTC Thị trường tài chính

Trang 6

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÀI CHÍNH VÀ TIỀN TỆ 1.1 Lý luận cơ bản về tiền tệ

1.1.1 Sự ra đời và phát triển các hình thái tiền tệ

1.1.1.1 Sự ra đời của tiền tệ

Trong kinh tế chính trị học, Các Mác đã khẳng định nguồn gốc của tiền bắt nguồn từ sự hình thành và phát triển của các quan hệ trao đổi Quá trình ra đời của tiền tệ gắn liền với 4 hình thái giá trị:

* Hình thái giản đơn hay ngẫu nhiên:

Trao đổi xuất hiện từ khi công xã nguyên thủy bắt đầu tan rã Hình thức trao đổi lúc này là trao đổi trực tiếp vật lấy vật và hoàn toàn mang tính chất ngẫu nhiên

Phương thức trao đổi được thể hiện bằng phương trình:

1 rìu = 20 kg thóc Trong hình thái giá trị này,trao đổi còn chưa trở thành nhu cầu thường xuyên của con người Số lượng hàng hóa tham gia trao đổi ít, hình thức trao đổi còn mang tính chất trực tiếp, tỷ lệ trao đổi chưa cố định

* Hình thái mở rộng:

Khi cuộc phân công lao động xã hội lớn lần thứ nhất xuất hiện, việc trao đổi trở nên thường xuyên hơn, lúc này có nhiều hàng hóa tham gia trao đổi hơn Tương ứng với giai đoạn này là hình thái mở rộng

Phương trình trao đổi trong giai đoạn này:

1 cái rìu = 20kg thóc = 10 m vải = 1 con cừu…

Ở hình thái này, tỷ lệ trao đổi được cố định hơn trước Tuy vậy, việc trao đổi vẫn mang tính chất trao đổi trực tiếp Mỗi hàng hóa là vật ngang giá riêng biệt của một hàng hóa khác nên những người trao đổi khó đạt được mục đích ngay

* Hình thái chung:

Cuộc phân công lao động xã hội lần thứ hai xuất hiện (thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp), năng suất lao động tăng lên, trao đổi trở thành hiện tượng kinh tế phổ biến

Trong quá trình trao đổi xuất hiện nhu cầu tìm một loại hàng hóa được

Trang 7

nhiều người ưa thích nhất được tách ra để trao đổi nhiều lần với các hàng hóa khác hình thành vật ngang giá chung

Phương trình trao đổi:

là vật ngang giá chung cho cả thế giới hàng hóa

Phương trình trao đổi:

1.1.1.2 Các loại tiền tệ

* Tiền bằng hàng hóa thông thường:

Những hàng hóa được sử dụng làm tiền thường phải đáp ứng các điều kiện:

- Những hàng hóa đóng vai trò vật ngang giá chung để trao đổi nhiều lần với hàng hóa khác

- Hàng hóa đó là quý hiếm, gọn, nhẹ, dễ bảo quản, dễ chuyên chở và phù hợp với tập quán trao đổi từng địa phương

Trang 8

- Hàng hóa tiền tệ: da thú, vòng đá, muối, vải…

* Tiền vàng:

Vàng là loại hàng hóa được nhiều người ưu thích.Vì vậy, việc dùng vàng làm tiền tệ dễ được chấp nhận trên phạm vi rộng Những đặc tính của vàng rất thuận lợi trong việc thực hiện chức năng tiền tệ Mặt khác, giá trị của vàng ổn định trong thời gian tương đối dài, ít chịu ảnh hưởng bởi sự tăng năng suất lao động xã hội làm cho tiền vàng có giá trị ổn định Tuy nhiên, tiền vàng cũng tồn tại những nhược điểm làm cho việc sử dụng trở nên bất tiện dẫn đến tiền vàng bị loại bỏ khỏi lưu thông

* Tiền đúc bằng kim loại kém giá:

- Tiền được đúc bằng các thứ kim loại thường: đồng, chì, kẽm, nhôm…

- Lưu thông chủ yếu trong các triều đại phong kiến, do nhà vua giữ độc quyền phát hành

- Tiền kim loại kém giá có nhiều ưu điểm: Có thể phát hành khối lượng lớn, đáp ứng nhu cầu thanh toán trong nền kinh tế, các đồng tiền có thể được đúc với các mệnh giá khác nhau, phù hợp với các giao dịch thanh toán hàng hóa, dịch vụ… Tuy nhiên, tiền đúc bằng kim loại kém giá cũng tồn tại một số nhược điểm như giá trị nội tại rất nhỏ, dễ hỏng, dễ làm giả…

* Tiền giấy:

Xuất hiện đầu tiên dưới dạng các giấy chứng nhận có khả năng đổi ra bạc hoặc vàng do các ngân hàng phát hành, được sử dụng trong thanh toán như vàng hay bạc Tiền giấy xuất hiện giúp cho việc giao dịch với những khoản tiền lớn cũng như vận chuyển chúng trở nên dễ dàng và dần dần thay thế cho các loại hóa tệ, các giấy chứng nhận dần được chuẩn hóa thành các tờ tiền giấy có in mệnh giá và có khả năng đổi ra vàng một cách tự do theo hàm lượng vàng quy định cho nó

Mặc dù tiền giấy có nhiều ưu điểm, tuy nhiên cũng tồn tại một số nhược điểm: không bền, có thể bị làm giả, dễ rơi vào tình trạng bất ổn…

* Tiền chuyển khoản:

Hình thức tiền tệ này được sử dụng bằng cách ghi chép trong sổ sách kế toán của ngân hàng và khách hàng Đây là đồng tiền phi vật chất và là loại tiền mang dấu hiệu giá trị như tiền giấy Sử dụng tiền chuyển khoản, chủ sở hữu phải

sử dụng các lệnh thanh toán để ra lệnh cho ngân hàng nơi mình mở tài khoản thanh toán hộ thông qua các công cụ thanh toán: giấy tờ thanh toán (séc, uỷ

Trang 9

nhiệm chi…); thẻ thanh toán; thanh toán qua mạng máy tính…

Ngày nay, tiền chuyển khoản chiếm tỷ trọng lớn (khoảng 80%) trong tổng phương tiện thanh toán

1.1.2 Các quan niệm và chức năng của tiền tệ

1.1.2.1 Quan niệm về tiền tệ

Tiền tệ xuất hiện là kết quả lâu dài và tất nhiên của trao đổi hàng hóa Tiền

tệ có khả năng trao đổi trực tiếp với các hàng hóa khác Nó trở thành phương tiện biểu hiện giá trị của các hàng hóa khác Vậy, bản chất của tiền tệ là một thứ hàng hóa đặc biệt được tách ra làm vật ngang giá chung cho các hàng hóa khác

Nó thể hiện lao động xã hội và biểu hiện quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất hàng hóa

Tuỳ theo cách tiếp cận ở những góc độ khác nhau, các nhà kinh tế học đã đưa ra những định nghĩa về tiền theo quan niệm riêng của mình

Theo quan điểm của C Mác: Tiền tệ là một hàng hóa đặc biệt, đóng vai trò vật ngang giá chung để đo giá trị của các hàng hóa khác và là phương tiện thực hiện quan hệ trao đổi

Theo quan điểm của các nhà Kinh tế học hiện đại: Tiền là bất cứ một phương tiện nào được xã hội chấp nhận làm phương tiện trao đổi với mọi hàng hóa, dịch vụ và các khoản thanh toán khác trong nền kinh tế

1.1.2.2 Chức năng của tiền tệ

* Theo quan điểm của C Mác, tiền tệ có 5 chức năng:

(1) Chức năng thước đo giá trị:

Thước đo giá trị là chức năng đầu tiên và là chức năng quan trọng nhất của tiền Thực hiện chức năng này, giá trị của tiền được sử dụng làm phương tiện – thước đo, để so sánh với giá trị của tất cả các hàng hóa

Để thực hiện được chức năng thước đo giá trị tiền phải hội tụ đủ những điều kiện sau đây:

- Thứ nhất, tiền phải có đầy đủ giá trị:Tất cả các hàng hóa đều phải có giá

trị nội tại, vì vậy để đo được những lượng giá trị này thì “thước đo” – tiền, phải

có giá trị Nếu thước đo không có giá trị bản thân, thì không thể so sánh được với giá trị của các hàng hóa

- Thứ hai, tiền phải có tiêu chuẩn giá cả: Tiêu chuẩn giá cả là một trọng lượng vàng (hoặc kim loại tiền khác) được luật pháp quy định cho tiền đơn vị và tên gọi của nó Ví dụ: Tiền đơn vị của hợp chủng quốc Hoa kỳ (USD) gọi là Đôla,

Trang 10

ký hiệu là USD Năm 1973 tiêu chuẩn giá cả của đồng tiền này là: 1 USD =

0,736662 gr vàng ròng

(2) Chức năng phương tiện lưu thông:

Thực hiện chức năng phương tiện lưu thông, tiền đóng vai trò môi giới trung gian trong trao đổi Quá trình thực hiện chức năng phương tiện lưu thông, hay quá trình trao đổi hàng hóa diễn ra dưới sự thay đổi hình thái sau đây:

H – T – H Khi thực hiện chức năng phương tiện lưu thông tiền có những đặc thù khác với thực hiện chức năng thước đo giá trị, đó là:

- Thứ nhất, phải sử dụng “tiền mặt”

- Thứ hai, có thể sử dụng tiền dấu hiệu

- Thứ ba, lưu thông chỉ chấp nhận một số lượng tiền nhất định

(3) Chức năng phương tiện dự trữ giá trị:

Thực hiện chức năng “dự trữ giá trị”, tiền và các phương tiện chuyển tải

giá trị nói chung, phải đảm bảo đầy đủ những yêu cầu sau đây:

- Thứ nhất, giá trị dự trữ phải được thể hiện bằng những phương tiện chuyển tải giá trị hiện thực chứ không phải là một lượng tiền “tưởng tượng”

- Thứ hai, những phương tiện dự trữ giá trị được xã hội thừa nhận

- Thứ ba, các phương tiện dự trữ giá trị đều mang tính thời gian

(4) Chức năng phương tiện thanh toán:

Các hàng hóa được thực hiện giá trị bằng hình thức mua – bán chịu, người bán sẽ được thanh toán khi thời hạn nợ đã hết Tiền xuất hiện lúc này với tư cách thực hiện chức năng phương tiện thanh toán, đồng thời cũng là phương tiện kết thúc quan hệ trao đổi

Thực hiện chức năngphương tiện thanh toán tiền còn được sử dụng để nộp thuế, trả lương, trả tiền công, các khoản đóng góp chi dịch vụ…

(5) Chức năng phương tiện trao đổi quốc tế và tiền tệ thế giới:

Thực hiện các quan hệ trao đổi giữa các nước, tiền thực hiện chức năng

phương tiện trao đổi quốc tế Tuy nhiên, theo mức độ “mạnh”, “yếu” của mỗi đồng tiền, mà chúng tham gia vào quá trình trao đổi quốc tế ở mức độ khác nhau

Ngày nay, quan hệ trao đổi quốc tế gần như được mở rộng đến khắp các nước và các khu vực trên hành tinh Để thực hiện được các quan hệ trao đổi này,

các nước chỉ có thể sử dụng đồng tiền chung, đó là “tiền thế giới”

Tiền thế giới là phương tiện chi trả, thanh toán và dự trữ giá trị, được các

Trang 11

đối tượng tham gia trao đổi ở mọi quốc gia thừa nhận

Để thực hiện chức năng “tiền thế giới”, buộc phải sử dụng tiền vàng.Các

đồng tiền quốc gia đều không thực hiện được chức năng này

* Theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại, tiền tệ có 3 chức năng:

(1) Chức năng đơn vị định giá:

Thực hiện chức năng này, tiền tệ được sử dụng làm đơn vị để đo giá trị của các hàng hóa, dịch vụ trong nền kinh tế Qua việc thực hiện chức năng này, giá trị của các hàng hóa, dịch vụ được biểu hiện ra bằng tiền, nhờ đó mà việc trao đổi hàng hóa được diễn ra thuận lợi hơn

Nếu giá trị hàng hóa không có đơn vị đo chung là tiền, mỗi hàng hóa sẽ được định giá bằng tất cả các hàng hóa còn lại, tuy nhiên số lượng giá các mặt hàng trong nền kinh tế ngày nay rất nhiều đến mức người ta không còn thời gian cho việc tiêu dùng hàng hóa Khi giá của các hàng hóa, dịch vụ được biểu hiện bằng tiền, không những thuận tiện cho người bán hàng hóa mà việc đọc bảng giá cung đơn giản hơn nhiều với chi phí thời gian ít hơn sử dụng cho các giao dịch Trong thời đại ngày nay, mặc dù các phương tiện được sử dụng là tiền không còn giá trị như các hàng hóa khác nhưng nó được mọi người chấp nhận trong lưu thông, do đó vẫn được sử dụng để đánh giá giá trị các hàng hóa Trong bất kể nền kinh tế tiền tệ nào, việc sử dụng tiền làm đơn vị đo lường giá trị đều mang tính chất trừu tượng, vừa có tính pháp lý, vừa có tính quy ước

(2) Chức năng phương tiện trao đổi:

Là một phương tiện trao đổi, tiền tệ được sử dụng như một vật môi giới trung gian trong việc trao đổi các hàng hóa, dịch vụ Trong nền kinh tế trao đổi trực tiếp, người ta phải tiến hành đồng thời hai dịch vụ bán và mua với một người khác Điều đó là đơn giản trong trường hợp chỉ có ít người tham gia trao đổi, nhưng trong điều kiện nền kinh tế phát triển, các chi phí để tìm kiếm như vậy quá cao Vì vậy, việc sử dụng tiền làm môi giới trong quá trình này, tức là người ta trước hết sẽ đổi hàng hóa của mình lấy tiền sau đó dùng tiền mua thứ hàng hóa mình cần Rõ ràng việc thực hiện lần lượt các giao dịch bán và mua với hai người sẽ dễ dàng hơn nhiều so với việc thực hiện đồng thời hai giao dịch đối với cùng một người Để thực hiện chức năng phương tiện trao đổi tiền phải

có những tiêu chuẩn nhất định: được chấp nhận rộng rãi, dễ nhận biết, có thể chia nhỏ được, dễ vận chuyển, không bị hư hỏng nhanh chóng, được tạo ra hàng loạt một cách dễ dàng, có tính đồng nhất

Trang 12

(3) Phương tiện dự trữ về mặt giá trị:

Là một phương tiện dự trữ giá trị, tiền tệ là nơi cất giữ sức mua qua thời gian Khi người ta nhận được thu nhập mà chưa muốn tiêu nó hoặc chưa có điều kiện để chi tiêu ngay, tiền là một phương tiện để cho việc cất giữ sức mua trong những trường hợp này hoặc có thể người ta giữ tiền chỉ đơn thuần là việc

để lại của cải

Việc cất giữ như vậy có thể thực hiện bằng nhiều phương tiện ngoài tiền khác như: cổ phiếu, trái phiếu, đất đai, nhà cửa một số loại tài sản như vậy đem lại một mức lãi cao hơn cho người giữ hoặc có thể chống đỡ lại sự tăng cao

về giá so với việc giữ tiền mặt Tuy nhiên, người ta vẫn giữ tiền với mục đích dự trữ giá trị bởi vì tiền có thể chuyển đổi một cách nhanh chóng ra các tài sản khác, còn các tài sản khác nhiều khi đòi hỏi một chi phí giao dịch cao khi người

ta muốn chuyển đổi nó sang tiền Những điều đó cho thấy, tiền là một phương tiện dự trữ giá trị bên cạnh các loại tài sản khác

1.1.3 Lưu thông tiền tệ và lạm phát

1.1.3.1 Các khối tiền tệ

* Khối lượng tiền trong lưu thông:

- Khối lượng tiền trong lưu thông là tổng các phương tiện, được chấp nhận làm trung gian trao đổi với mọi hàng hóa, tại một thị trường nhất định và trong một thời gian nhất định

- Khối lượng tiền trong lưu thông được ký hiệu là Ms, bao gồm các bộ phận sau đây:

M1: Được gọi là khối tiền tệ giao dịch, gồm những phương tiện có “tính

lỏng” cao nhất trong lưu thông M1 lại được phân loại theo thứ tự sau:

+ Tiền mặt (tiền vàng, giấy bạc ngân hàng, tiền đúc lẻ)

+ Tiền gửi không kỳ hạn

M2: Được gọi là khối tiền tệ giao dịch mở rộng.Gồm cả những phương

Trang 13

+ Trái khoán và cổ phiếu…

Như vậy:

Ms = M3 + Các phương tiện có khả năng thanh toán khác

Khối lượng tiền trong lưu thông lớn hơn hay nhỏ phụ thuộc vào nhiều yếu

tố, trong đó quan trọng nhất là:

- Số lượng các phương tiện được phát hành từ ngân hàng

- Các phương tiện được phát hành từ doanh nghiệp

- Các phương tiện được phát hành từ chính phủ

Nếu tài sản tích lũy của dân cư và doanh nghiệp đưa vào đầu tư lớn, thì số lượng các phương tiện lưu thông sẽ tăng lên Nếu tài sản này bị lưu giữ, thì không những các phương tiện lưu thông bị giảm thấp, mà còn làm cho nền kinh

tế bị trì trệ

* Khối lượng tiền cần thiết cho lưu thông:

Khối lượng tiền cần thiết cho lưu thông là khối lượng tiền do tổng nhu cầu của nền kinh tế quốc dân trong một thời kỳ quyết định

Khối lượng tiền này được ký hiệu Mn (Necessary Money) Mn phụ thuộc vào hai yếu tố:

- Tổng giá cả hàng hóa đưa ra lưu thông trong kỳ Yếu tố này chính là tổng mức chu chuyển hàng hóa và dịch vụ của nền kinh tế quốc dân

- Tốc độ lưu thông bình quân của tiền trong kỳ:

V

Q P

Trong đó:

P: Mức giá cả hàng hóa

Q: Tổng khối lượng hàng hóa đưa vào lưu thông

V: Tốc độ lưu thông bình quân của tiền tệ

Trên thực tế cung và cầu tiền thường xuyên không cân bằng Nghĩa là giữa

Ms và Mn luôn luôn có khoảng cách Khoảng cách này được thể hiện bằng những tỷ số sau:

Tỷ số (1):

1

Mn Ms

Đây là tỷ số giả định Theo tỷ số này, nghĩa là tiền trong lưu thông tương đương với số lượng tiền cần thiết Nếu có tỷ số này trong lưu thông tiền – hàng

Trang 14

là cân đối Đây là tỷ số lý thuyết trong quản lý kinh tế vĩ mô và vi mô

Tỷ số (2):

1

Mn Ms

Nếu xuất hiện tỷ số này, nghĩa là tiền trong lưu thông nhỏ hơn khối lượng tiền cần thiết Đây là hiện tượng thiểu phát.Hàng hóa chậm tiêu thụ vì thiếu phương tiện lưu thông Hoặc hàng hóa sẽ bị giảm giá trên diện rộng, ảnh hưởng xấu đến sản xuất kinh doanh

Tỷ số (3):

1

Mn Ms

Tỷ số này cho thấy tiền trong lưu thông lớn hơn khối lượng tiền cần thiết Nếu có tỷ số này, thì dấu hiệu của lạm phát đã xuất hiện Tuy nhiên tùy theo mức độ, lạm phát sẽ có ảnh hưởng khác nhau đến sự phát triển của nền kinh tế quốc dân

Thực tế chưa thể xác định được các tỷ số trên một cách chính xác

Nhưng tỷ lệ này, có thể được kiểm chứng thông qua “tín hiệu thị trường”, như

các chỉ số giá hàng tiêu dùng, tỷ giá hối đoái, giá vàng…Điều chỉnh để Ms xích lại gần Mn là công việc của các cơ quan hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ quốc gia

1.1.3.2 Cung cầu tiền tệ

* Cung tiền cho lưu thông:

Khối lượng tiền cho lưu thông được cung ứng từ các tác nhân sau:

(1) Ngân hàng trung ương cung tiền:

Ngân hàng trung ương giữ độc quyền phát hành và lưu thông giấy bạc ngân hàng, ngân phiếu thanh toán và các phương tiện lưu thông – thanh toán khác, thông qua các nghiệp vụ sau:

- Tái chiết khấu các thương phiếu, các chứng chỉ tiền gửi, các chứng từ có giá…của các ngân hàng thương mại và của các tổ chức tín dụng;

- Tái cầm cố các phương tiện nêu trên;

- NHTƯ ứng tiền cho Ngân sách nhà nước

Trang 15

(2) Các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng cung tiền:

Những tác nhân này về nguyên tắc không có quyền cung ứng tiền vào lưu thông.Nhưng trong thực tiễn, chúng lại góp phần tích cực làm gia tăng khối lượng tiền hiện có Những nghiệp vụ làm tăng khối lượng tiền lưu thông của các NHTM các tổ chức tín dụng là:

- Một là, tổng nghiệp vụ “Có” lớn hơn tổng nghiệp vụ “Nợ”

Nguồn vốn của các NHTM là một lượng có hạn Nhưng trong thực tiễn, khi thực hiện nghiệp vụ chúng lại sử dụng số vốn lớn hơn nguồn vốn thực có, như:

+ Cho khách hàng vay quá nguồn vốn huy động được

+ Cho khách hàng chi vượt quá số dư tiền gửi

+ Xử lý chứng từ thanh toán đòi tiền khách hàng,bằng cách ghi “Có” trước, ghi “Nợ” sau

+ Cho khách hàng phát hành séc quá số dư tiền gửi trên tài khoản của họ Những nghiệp vụ trên được coi là nghiệp vụ tạo tiền của các NHTM Tùy theo quy chế quản lý tài chính của mỗi quốc gia và chính sách tiền tệ của NHTƯ, nghiệp vụ trên có thể bị ngăn cấm hoặc giới hạn phạm vi Nhưng trên thực tế nghiệp vụ này vẫn được thực hiện và một số lượng tiền mới lại được tăng thêm trong lưu thông.Các nghiệp vụ trên tuy được thực hiện bằng hình thức

ghi sổ và tiền tồn tại dưới dạng“bút tệ”, nhưng chúng vẫn phát huy chức năng

thực sự của tiền Đồng thời sau đó chúng có thể chuyển hóa thành những phương tiện chuyển tải giá trị khác nhau

- Hai là, các loại kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi và các phương tiện có giá trị thanh toán khác, được các NHTM phát hành theo quy chế quản lý tài chính

Những phương tiện này có thể thay tiền thực hiện chức năng phương tiện lưu thông và phương tiện thanh toán Chúng đã góp phần làm tăng khối lượng tiền trong lưu thông

(3) Các tác nhân và các tổ chức phi ngân hàng cung tiền:

Mỗi tác nhân có thể phát hành vào lưu thông những phương tiện lưu thông

và thanh toán đặc thù, được quy chế tài chính cho phép

- Chính phủ:Phát hành công trái, trái phiếu chính phủ, trái phiếu đô thị (cấp tỉnh hoặc cấp bang) trái phiếu công trình, trái phiếu kho bạc…

- Các tác nhân mở tài khoản trong hệ thống NHTM như: các doanh nghiệp, các tổ chức không kinh doanh, các thể nhân…Các tác nhân này, tùy theo

Trang 16

mục tiêu hoạt động, quy chế tài chính có thể cho phép chúng phát hành: cổ phiếu, trái khoán, séc các loại…

Các phương tiện nêu trên làm cho thành phần của tiền trong lưu thông thêm phong phú Tuy nhiên “tính lỏng” của chúng kém hơn các thành phần khác của tiền Vì vậy, những tác nhân và thể nhân sở hữu chúng luôn luôn tìm cách chuyển hóa chúng về M1, để từ đó lại chuyển hóa thành những phương tiện khác phù hợp Sự chuyển hóa này là thường xuyên Nhưng tại thời điểm chuyển hóa, nó chỉ làm thay đổi các thành phần của tiền, chứ không làm thay đổi tổng khối lượng tiền

Nghiệp vụ cung ứng tiền cho lưu thông rất đa dạng Có nhiều tác nhân tham gia vào quá trình này, trong đó NHTƯ giữ vai trò quan trọng nhất vì:

+ NHTƯ quyết định khối lượng tiền đưa vào lưu thông và khối lượng giấy bạc ngân hàng trong lưu thông qua lãi suất tái chiết khấu

+ NHTƯ quyết định quy mô đầu tư tín dụng của các NHTM bằng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, nghĩa là ảnh hưởng trực tiếp đến số lượng tiền đang lưu thông

+ NHTƯ quyết định việc điều chuyển vốn trong hệ thống ngân hàng và do

đó tác động đến điều hòa tiền trong nền kinh tế

* Nhu cầu tiền trong lưu thông:

Tổng nhu cầu tiền của nền kinh tế trong một thời kỳ, được xác định bằng khối lượng tiền cần thiết cho lưu thông (Mn)

- Nhu cầu tiền của các tác nhân và thể nhân được chia thành các loại sau đây:

(1) Nhu cầu tiền cho giao dịch:

Hoạt động giao dịch của các tác nhân và thể nhân (gọi chung là tác nhân) diễn ra thường xuyên.Mọi giao dịch đều cần phải sử dụng tiền, như: trả công lao động (trả lương), mua nguyên vật liệu, thanh toán nợ, mua vật phẩm tiêu dùng…các khoản chi này hợp thành tổng cầu tiền cho giao dịch

(2) Nhu cầu tiền cho tích lũy:

Ngoài các khoản chi thường xuyên cho giao dịch, các tác nhân còn phải tích lũy một khoản tiền nhất định cho các nhu cầu đã dự định trước, như: mua sắm tài sản, đầu tư, cho kỳ du lịch sắp đến… Giá trị của các khoản này chưa đến

“độ sử dụng”, chúng ở trong quỹ của các tác nhân dưới dạng tiền nhàn rỗi

Khi lãi suất tiền gửi thấp, thì số tiền dành cho nhu cầu tích lũy với các mục đích trên sẽ cao Nhu cầu tích lũy phụ thuộc vào mức thu nhập và mục đích

Trang 17

của các tác nhân Thời gian sử dụng tiền càng cấp bách thì đòi hỏi các tác nhân tích lũy càng nhanh Giá trị khoản chi càng lớn thì phải tích lũy càng nhiều

(3) Nhu cầu tiền cho dự phòng:

Dự phòng là nhu cầu bắt buộc của các tác nhân, được chia làm ba loại

+ Dự phòng một số tiền để chờ cơ hội mua mà không dự báo trước được Khoản tiền này thường phát sinh khi các tác nhân chuẩn bị có những hoạt động

ở xa trụ sở Khoản dự phòng này với một tác nhân tuy không lớn, nhưng tổng hợp cả nền kinh tế, thì lại là một số lượng không nhỏ

+ Dự phòng chi thường xuyên Đây là những khoản chi thường xuyên cho nhu cầu cá nhân, buộc mọi người phải dự phòng một khoản tiền tối thiểu Số lượng tiền dự phòng này phụ thuộc vào mức thu nhập của các tác nhân

+ Dự phòng chi cho rủi ro Rủi ro thường gặp với các tác nhân, như: hỏng phương tiện giao thông, các công cụ lao động gặp sự cố bất chợt cần sửa chữa, bệnh tật, tai nạn…Không có tác nhân nào để riêng tiền cho khoản chi này Nhưng thực tế khoản chi này lại thường xuyên phát sinh ở một số ít trong số đông các tác nhân

(4) Nhu cầu tiền để cất trữ:

Sự phân hóa thu nhập giữa các thể nhân trong nền kinh tế thị trường là một quy luật Một số ít các thể nhân, do các nguyên nhân khác nhau đã giàu lên

nhanh Họ có một số lượng “tiền thừa” Đây là số lượng tiền nhàn rỗi lâu dài, chưa có mục tiêu đầu tư Trường hợp này các thể nhân thường đưa số “tiền

thừa” vào cất trữ Tiền cất trữ thể hiện bằng vàng Nhu cầu cất trữ của các thể

nhân trong nền kinh tế thị trường tuy không lớn nhưng là hiện thực Cất trữ đã làm giảm khối lượng các phương tiện lưu thông

- Các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu tiền trong lưu thông:

+ Giá trị giao dịch:

Số lượng, số lần và giá trị giao dịch quyết định đến mức cầu tiền, tức là lượng tiền cần giữ lại của các tác nhân Nếu giá cả hàng hóa trong kỳ tăng lên hay giảm xuống, thì nhu cầu tiền cho giao dịch cũng thay đổi tương ứng

+ Sự không đồng bộ về thời gian giữa thu và chi:

Nếu thu nhập và chi tiêu của các tác nhân phát sinh đều đặn, thì nhu cầu tiền giữ lại cho giao dịch là ít nhất Nếu có cách quãng về thời gian giữa thu và chi, thì số tiền phải giữ lại nhiều hơn để đảm bảo các khoản chi thường xuyên

Sự “lệnh pha” về thời gian thu chi càng lớn thì nhu cầu tiền dược giữ lại càng

Trang 18

nhiều và ngược lại

+ Lãi suất tiền gửi:

Lãi suất tiền gửi tác động trực tiếp đến tổng cầu tiền Giữ lại tiền chờ cơ hội mua hoặc thanh toán là mất đi một khoản thu nhập tính theo lãi suất tiền gửi hoặc đầu tư và thời gian Lãi suất thay đổi sẽ tác động đến tư duy kinh tế của các tác nhân gửi tiền Những tác nhân này sẽ so sánh giữa lợi ích của việc giữ tiền

và lợi tức mất đi Họ sẽ hành động theo hướng lợi ích vượt trội Nhìn chung lợi tức giảm thì nhu cầu giữ tiền sẽ tăng và ngược lại

+ Tập quán dân tộc và địa phương:

Tập quán dân tộc và địa phương được phản ánh khá đậm nét trong nhu cầu tiền Những nơi kinh tế thuận lợi, kiếm tiền không khó thì tiền được giữ lại ít Ngược lại, những vùng có cuộc sống khó khăn, thì tiền được giữ lại nhiều hơn Những điều kiện ấy đã hình thành tập quán thanh toán của vùng, miền và dân tộc.Tập quán này sẽ thay đổi theo đời sống kinh tế, nhưng rất chậm chạp

+ Thu nhập thực tế:

Do nhu cầu nắm giữ tiền để giao dịch phụ thuộc vào tổng giá trị các giao dịch mà các chủ thể kinh tế dự định tiến hành, mà tổng giá trị các giao dịch này lại phụ thuộc vào thu nhập thực tế nên có thể nói, thu nhập thực tế là nhân tố đầu tiên tác động đến bộ phận cầu tiền này.Thu nhập thực tế tăng sẽ làm cho cầu tiền tăng lên và ngược lại

* Cân đối cung cầu tiền:

Cung và cầu tiền thường không khớp nhau.Trong điều kiện lưu thông giấy bạc ngân hàng mất cân đối cung cầu tiền là hiện tượng phổ biến Trong đó cung thường lớn hơn cầu tiền

Mất cân đôi cung cầu có thể xảy ra ở một dạng khác là: cung nhỏ hơn cầu tiền.Hiện tượng này cũng ảnh hưởng đến sự phát triển kình tế - xã hội.Tuy nhiên, đây là hiện tượng ít xuất hiện trong lịch sử lưu thông giấy bạc ngân hàng

Mất cân đối cung cầu tiền dù ở dạng nào cũng cần phải có những giải pháp để lập lại thế cân đối Đặc biệt là hiện tượng cung lớn hơn cầu ở mức độ cao (lạm phát) có ảnh hưởng xấu đến sự phát triển kinh tế - xã hội Những giải pháp thường được áp dụng là:

- Hạn chế số lượng tiền gia tăng trong lưu thông bằng cách:

+ Nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc các NHTM

Trang 19

+ Nâng lãi suất tái chiết khấu

- Nâng lãi suất tiền gửi, để thu hút tiền vào ngân hàng

- Các NHTM bán các công cụ lưu thông – tín dụng, để thu hút giấy bạc ngân hàng như: kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu kho bạc, cổ phiếu trái khoán công ty…

- Gia tăng cung cấp hàng hóa – dịch vụ

Những giải pháp trên nếu được áp dụng đúng thời điểm, phù hợp và đồng

bộ, sẽ có hiệu quả thiết thực đến việc lập lại thế cân đối cung cầu tiền trên thị trường

1.1.3.3 Lạm phát

* Khái niệm

Lạm phát là hiện tượng kinh tế, trong đó giấy bạc lưu thông vượt quá nhu cầu cần thiết, làm cho chúng bị mất giá dẫn đến giá cả của hầu hết các hàng hóa trong lưu thông không ngừng tăng lên

Lạm phát là một hiện tượng kinh tế động, gắn liền với sự biến đổi số lượng tiền và chỉ số giá cả Các chỉ số này thường xuyên tăng lên và được đo bằng chính chỉ số giá cả Nếu giá cả tăng lên so với thời gian trước, sau đó giữ nguyên, có thể ở mức cao trong một thời gian dài, có thể coi đó là hiện tượng

“lạm phát ỳ” Còn nếu giá cả lại giảm xuống liên tục, đó là hiện tượng giảm

phát Nền kinh tế của một số quốc gia đã chứng kiến “lạm phát ỳ” và giảm phát

Nhưng tần xuất của hai hiện tượng này rất thấp, chủ yếu vẫn là lạm phát và đây

là hiện tượng phổ biến trong điều kiện lưu thông tiền giấy

* Nguyên nhân của lạm phát

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến lạm phát.Dưới góc độ tiền tệ, những nguyên nhân cơ bản đó là:

(1) Lạm phát do nhu cầu tiền tăng – cầu kéo

Các hiện tượng kinh tế làm tăng tổng cầu tiền, dẫn đến tăng tổng cung tiền, trong điều kiện tăng trưởng kinh tế không tương ứng đã dẫn đến lạm phát

Đó là lạm phát do nhu cầu, hay còn gọi là lạm phát cầu – kéo

Lạm phát nhu cầu bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, chủ yếu là:

- Tăng cầu tiền do thâm hụt ngân sách

Thâm hụt ngân sách lại do những nguyên nhân buộc chính phủ phát hành

để chi, trong trường hợp dự trữ của Nhà nước có hạn, nguồn thu không tăng tương ứng như:

Trang 20

+ Chi cho y tế, giáo dục, quốc phòng…

+ Khắc phục các hậu quả thiên tai, bệnh dịch, chiến tranh…Cần phải có một khoản tiền lớn

+ Chính phủ giảm thuế do một nguyên nhân nào đó, làm nguồn thu bị giảm

+ Chi mua ngoại tệ trong trường hợp cán cân vãng lai bị chênh lệch thiếu, hoặc nhập hàng hóa khẩn cấp cho nhu cầu quốc gia

+ Tăng trợ cấp và phúc lợi xã hội…

Những nhu cầu phát sinh nêu trên, buộc chính phủ phải chi là bất khả kháng.Dù là nguyên nhân nội sinh hay ngoại sinh, chúng đều tác động đến sự ổn định kinh tế - xã hội Những khoản chi này dẫn đến thâm hụt ngân sách kéo dài,

mà chưa có những giải pháp khắc phục, buộc chính phủ phải phát hành bù đắp

do đó dẫn đến lạm phát

- Tăng cầu tiền bắt nguồn từ nhu cầu về hàng hóa

Do tổng cung của một số hàng hóa chủ yếu, hoặc đại bộ phận các hàng hóa trên thị trường không thay đổi (hoặc giảm thấp), trong khi đó nhu cầu về những hàng hóa này lại tăng lên (hoặc không đổi) làm cho giá cả sẽ tăng lên Hiện tượng này cũng dẫn đến lạm phát Mặc dù giá cả tăng lên, nhưng dân cư không thể ngừng tiêu dùng, họ bắt buộc phải tăng cung tiền, để đảm bảo nhu cầu hàng hóa – dịch vụ như trước, hoặc những hàng hóa mới theo sở thích Đối với dân cư để đảm bảo cho nhu cầu tăng lên, chỉ có cách duy nhất là huy động dự trữ hiện có để đưa ra tiêu dùng Còn đối với chính phủ thì ngoài sử dụng ngân sách dự phòng là phát hành thêm tiền

Như vậy, nhu cầu về hàng hóa, đã dẫn đến tăng cầu tiền, do đó buộc phải tăng cung tiền Vì vậy, đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến lạm phát

(2) Lạm phát do chi phí tăng

Chi phí tăng lên dẫn đến mức cung tiền vượt quá nhu cầu, đã dẫn đến lạm phát gọi là lạm phát chi phí đẩy Những nguyên nhân dẫn đến lạm phát chi phí đẩy:

- Tăng lương vượt quá mức tăng năng suất lao động xã hội

- Đầu tư cơ bản kém hiệu quả Đầu tư này bao gồm hai nguồn quan trọng nhất là từ NSNN và tín dụng Những khoản đầu tư này rất lớn, nhưng nếu bị thất thoát, lãng phí hoặc công trình không phát huy tác dụng, cũng có thể chưa phát huy tác dụng, đã dẫn đến một bộ phận tiền tạm thời “thừa” Đây là một nguyên

Trang 21

- Chiết khấu và tái chiết khấu các thương phiếu nhận vốn Thực chất đây

là một khoản chi khống góp phần tăng cung tiền ra thị trường

- Nguyên liệu đầu vào của một số sản phẩm tăng lên Chủ yếu là những nguyên liệu nhập từ nước ngoài, Chính phủ không thể điều tiết được mức giá này Do giá nguyên liệu đầu vào tăng, làm cho giá bán của hàng hóa tăng Đó cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến lạm phát

- Sự lãng phí quá mức trong tiêu dùng xã hội

Một xã hội không chú ý đến tiết kiệm hoặc không biết tiết kiệm, sẽ dẫn đến hiện tượng tiêu dùng vượt quá khả năng kinh tế.Tình trạng này sẽ dẫn đến cầu vượt quá cung của nhiều hàng hóa và dịch vụ Lạm phát tiềm ẩn ở chính hiện tượng này

(3) Hệ thống chính trị không ổn định, là một nguyên nhân dẫn đến lạm phát

Hệ thống chính trị không ổn định dẫn đến việc điều hành kinh tế của Chính phủ không hiệu quả Nhưng vấn đề quan trọng hơn là dân chúng không tin tưởng vào giấy bạc ngân hàng hiện hành Người ta tìm đến hàng hóa quý hiếm, ngoại tệ, vàng…để dự trữ giá trị Vì thế, giấy bạc ngân hàng “bị đẩy” ra lưu thông nhiều hơn và nó mất giá càng nhanh

Như vậy, có nhiều nguyên nhân dẫn đến lạm phát Những nguyên nhân này không giống nhau ở các quốc gia Chúng cũng không tác động đồng thời trong một thời điểm Mặt khác nó còn tùy thuộc vào giải pháp chống lạm phát của mỗi chính phủ, thế mà mức độ của lạm phát và ảnh hưởng của nó đối với nền kinh tế cũng khác nhau

* Các loại lạm phát

“Lạm phát” là thuật ngữ chung để chỉ sự mất giá của giấy bạc.Tùy theo mức độ biểu hiện và ảnh hưởng của nó đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, lạm phát được chia thành các loại sau đây:

(1) Lạm phát vừa phải

Lạm phát vừa phải là loại lạm phát mà tại thời điểm xảy ra giá cả hàng hóa so với trước không cao và tốc độ tăng chậm Tỷ lệ lạm phát đo được dưới

Trang 22

+ Chính phủ duy trì mức độ lạm phát này với mục đích riêng

Lạm phát vừa phải không ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển kinh tế - xã hội Thậm chí nó còn tác động ngược lại làm cho nền kinh tế năng động hơn.Vì vậy mà nhiều chính phủ còn có kế hoạch duy trì lạm phát vừa phải trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của mình

Ví dụ: Các nước tư bản phát triển như Nhật Bản, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Anh, Pháp, Hoa kỳ…thường duy trì lạm phát ở mức thấp nhằm đạt những mục tiêu kinh tế - xã hội đã dự định

(2) Lạm phát phi mã

Lạm phát phi mã là loại lạm phát mà tại thời điểm xảy ra giá cả hàng hóa tăng cao với tốc độ nhanh so với trước Tỷ lệ lạm phát này ở mức hai hoặc ba con số: từ 10%, 20%, 100% hoặc 200%

Thông thường lạm phát phi mã có ảnh hưởng xấu đến sự phát triển kinh tế

- xã hội Nếu không có biện pháp khắc phục kịp thời thì lạm phát này sẽ là cơ sở dẫn đến lạm phát cao hơn

(3) Siêu lạm phát

Siêu lạm phát là loại lạm phát mà giá cả của tất cả các hàng hóa tăng cao gấp nhiều lần lạm phát phi mã Loại lạm phát này có tốc độ tăng rất nhanh, liên tục và không thể kiềm chế được

Loại lạm phát này ảnh hưởng xấu đến sự phát triển kinh tế xã hội Nó phá

vỡ hầu hết các quan hệ cân đối kinh tế quốc dân Nếu không có những giải pháp đột phá thì không thể khắc phục được tình trạng siêu lạm phát này

Trong thời kỳ xảy ra siêu lạm phát, chỉ số phát hành giấy bạc, giá cả hàng hóa tiêu dùng đều tăng với tốc độ rất cao Chúng đạt tới con số khó đọc Vì vậy, chúng được gọi là những “con số thiên văn”

* Cách tính lạm phát

Sự gia tăng giá cả bình quân trên thị trường là biểu hiện bên ngoài của lạm

Trang 23

phát, do đó để xác định mức lạm phát thì phải tính được sự gia tăng của giá cả

Giá cả hàng tiêu dùng (consumer Price Index) – CPI, được sử dụng một cách phổ biến để xác định mức lạm phát trong kỳ

Ở mỗi nước, một lô hàng tiêu dùng phổ biến gọi là “rổ hàng hóa”, được chọn làm cơ sở để nghiên cứu, so sánh Tỷ trọng của mỗi loại hàng hóa trong rổ hàng hóa, thường đã được xác định Do đó, để xác định chỉ số giá tại thời điểm cần nghiên cứu, có thể sử dụng công thức sau:

i n

i i

1Trong đó:

Pt: Chỉ số giá cả của rổ hàng hóa tại thời điểm t;

i : Loại hàng hóa trong rổ hàng hóa được lựa chọn;

pi: Giá cả của hàng hóa i;

ki : Tỷ trọng của hàng hóa i trong rổ hàng hóa

Nếu lấy một thời điểm nào đó trước t làm gốc gọi là t0, như vậy Pt0 đã được xác định, vì là số liệu lịch sử, tỷ lệ lạm phát tại thời điểm t được xác định theo công thức sau:

1001

P

P G

Trong đó:

Gpt: Tỷ lệ lạm phát tại thời điểm t;

Pt: Chỉ số giá của rổ hàng hóa tại thời điểm t;

Pt0: Chỉ số giá của rổ hàng hóa tại thời điểm lấy làm gốc

Chỉ số CPI mặc dù được tính một cách khoa học, nhưng chưa hoàn toàn chính xác, vì nó mới chỉ phản ánh giá cả của những hàng hóa trong rổ chứ chưa phải là toàn bộ lượng hàng hóa trên thị trường Mặt khác CPI chỉ phản ánh được

sự thay đổi giá bên ngoài còn yếu tố nội tại làm tăng giá như: đầu tư khoa học công nghệ làm cho mẫu mã hàng hóa đẹp hơn, bền hơn, nhiều công dụng hơn… yếu tố làm tăng giá này trên một sản phẩm nhưng mang tên cũ không phải là yếu

tố làm tăng lạm phát thì CPI không phản ánh được

Ngoài việc tính CPI để xác định lạm phát, còn các chỉ số khác cũng được

sử dụng để nghiên cứu đó là:

-Chỉ số giá sản xuất – PPI (Production Price Index):

Trang 24

Đây là chỉ số giá bán buôn lần đầu của một số sản phẩm quan trọng trong nền kinh tế.Tùy điều kiện của mỗi nước, lượng sản phẩm được chọncó thể nhiều, ít khác nhau Chỉ số này giúp cho việc nghiên cứu những nguyên nhân tạo nên lạm phát từ khâu sản xuất

- Chỉ số giảm phát GNP (GNP Deflator)

Chỉ số này được xác định bằng cách so sánh giữa giá danh nghĩa và giá thực tế của GNP Chỉ số này cho thấy được một cách toàn diện sự tăng hoặc giảm giá của toàn bộ của cải vật chất của nền kinh tế Từ đó thấy được giá trị thực của toàn bộ của cải vật chất lúc ban đầu

- Chỉ số giảm phát GDP (GDP Deflator)

Chỉ số này được xác định bằng cách so sánh giữa GDP theo giá hiện hành

và GDP theo giá một năm nào đó được chọn làm gốc Chỉ số này cho thấy sự thay đổi giá của tất cả các mặt hàng tạo nên tổng sản phẩm quốc nội Nó được

sử dụng để phân tích sự ảnh hưởng của giá cả lên các cân đối vĩ mô của nền kinh

tế quốc dân

* Ảnh hưởng của lạm phát đến sự phát triển kinh tế - xã hội

Lạm phát có ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển kinh tế - xã hội tùy theo mức độ của nó

Lạm phát vừa phải, tạo nên một sự chênh lệch giá hàng hóa, dịch vụ giữa các vùng làm cho thương mại năng động hơn Các doanh nghiệp vì thế sẽ gia tăng sản xuất, đẩy mạnh cạnh tranh, đưa ra thị trường nhiều sản phẩm với chất lượng cao hơn Lạm phát vừa phải làm cho nội tệ mất giá nhẹ so với ngoại tệ, đây là lợi thế để các doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu tăng thu ngoại hối, khuyến khích sản xuất trong nước phát triển Lạm phát vừa phải thường tương đồng với một tỷ lệ thất nghiệp nhất định Đó là yếu tố buộc người lao động muốn có việc làm phải nâng cao trình độ chuyên môn, cạnh tranh chỗ làm việc Như vậy người sử dụng lao động sẽ có cơ hội tuyển chọn được lao động có chất lượng cao hơn Nhìn chung lạm phát vừa phải có ảnh hưởng tích cực đến

sự phát triển kinh tế - xã hội.Tuy nhiên, để duy trì tỷ lệ lạm phát này, đòi hỏi chính phủ phải tổ chức và quản lý kinh tế vĩ mô năng động và hiệu quả

* Biện pháp khắc phục lạm phát

Những biện pháp này được áp dụng với mục tiêu giảm tức thời “cơn sốt lạm phát”, trên cơ sở đó áp dụng các biện pháp ổn định tiền tệ lâu dài Các biện

Trang 25

pháp này thường được áp dụng khi nền kinh tế lâm vào tình trạng siêu lạm phát

- Biện pháp cấp bách

+ Ngừng phát hành tiền vào lưu thông, thắt chặt tiền tệ: Biện pháp này còn gọi là chính sách đóng băng tiền tệ Tỷ lệ lạm phát tăng cao, ngay lập tức ngân hàng trung ương phải dùng các biện pháp có thể đưa đến tăng cung ứng tiền tệ như ngừng thực hiện các nghiệp vụ chiết khấu và tái chiết đối với các

tổ chức tín dụng, quy định mức dự trữ bắt buộc, dừng việc mua vào các chứng khoán ngắn hạn trên thị trường tiền tệ, không phát hành tiền bù đắp bội chi ngân sách Nhà nước

Áp dụng các biện pháp giảm lượng tiền cung ứng trong nền kinh tế như: NHTƯ bán ra các chứng khoán ngắn hạn trên thị trường tiền tệ, bán ngoại tệ và vay, phát hành các công cụ nợ của Chính phủ để vay tiền trong nền kinh tế bù đắp cho bội chi ngân sách Nhà nước, tăng lãi suất tiền gửi đặc biệt là lãi suất tiền gửi tiết kiệm dân cư Các biện pháp này rất có hiệu lực vì trong một thời gian ngắn nó có thể giảm bớt được một khối lượng khá lớn tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế quốc dân, do đó giảm được sức ép lên giá cả hàng hóa và dịch vụ trên thị trường

+ Cắt giảm hoặc hoãn chi những khoản chưa cấp bách từ NSNN: Cắt giảm bớt những khoản đầu tư công kém hiệu quả, những khoản đầu tư công chưa thực sự cần thiết, giảm áp lực về cầu, góp phần nâng cao hiệu quả của

nền kinh tế

+ Bán ngoại tệ và vàng, để thu bớt tiền mặt từ lưu thông vào ngân hàng

+ Giảm thuế nhập khẩu, khuyến khích tự do mậu dịch, nhằm tăng quỹ hàng hóa tiêu dùng, góp phần cân đối tiền hàng để không gây ra đột biến về giá,

ngăn chặn đầu cơ

+ Vay và xin viện trợ từ bên ngoài

+ Cải cách tiền tệ, áp dụng chính sách tỷ giá linh hoạt

- Biện pháp ổn định lâu dài

Đây là những biện pháp có tác động lâu dài đến sự phát triển của nền kinh

tế quốc dân.Tổng hợp các biện pháp này sẽ tạo ra sức mạnh kinh tế lâu dài của đất nước, làm cơ sở cho sự ổn định tiền tệ một cách bền vững Các biện pháp

chiến lược thường được áp dụng:

+ Xây dựng kế hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của đất nước + Xây dựng ngành sản xuất hàng hóa, hoặc dịch vụ “mũi nhọn” của nền

Trang 26

kinh tế quốc dân

+ Giảm nhẹ biên chế kiện toàn bộ máy hành chính.Thực hiện tốt biện pháp này sẽ góp phần to lớn vào việc giảm chi tiêu thường xuyên của ngân sách Nhà nước, trên cơ sở đó giảm bội chi ngân sách Nhà nước

+ Kiểm soát thường xuyên chặt chẽ các chính sách thu, chi của Chính phủ Tăng cường công tác quản lý điều hành ngân sách Nhà nước một cách hợp lý, chống thất thu, đặc biệt là thất thu về thuế, nâng cao hiệu quả của các khoản chi ngân sách Nhà nước

+ Lạm phát để chống lạm phát:Việc in tiền để phát hành và chi cho mục tiêu đầu tư mở rộng sản xuất, xây dựng những công trình có tính cấp thiết đảm bảo sinh lời hoặc dự án mang tính cơ hội với mong muốn việc đầu tư này sẽ nhanh chóng tạo ra hiệu quả, nguồn thu lớn và qua đó làm cơ sở cho việc hạ nhiệt lạm phát trong tương lai gần.Tuy nhiên, việc dùng lạm phát để chống lạm phát đòi hỏi phải có trình độ quản lý giỏi, có tiềm lực mạnh về các yếu tố sản xuất, có tương lai thị trường hiện hữu, có trình độ và hàm lượng ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến…Nếu các điều kiện trên không đảm bảo thì lạm phát sẽ bùng nổ phi mã và với biện pháp này thì hiện nay nước ta không áp dụng được

1.2.Lý luận cơ bản về tài chính

1.2.1.Khái niệm về tài chính

Trong điều kiện kinh tế hàng hóa – tiền tệ, hình thức tiền tệ đã được các chủ thể trong xã hội sử dụng vào việc tham gia phân phối sản phẩm xã hội và

thu nhập quốc dân để tạo lập nên các quỹ tiền tệ riêng phục vụ cho các mục đích riêng của mỗi chủ thể

Thông qua các thứ thuế bằng tiền và công trái bằng tiền, Nhà nước đã tập trung vào mình một bộ phận sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân dưới hình thức tiền tệ để lập ra quỹ tiền tệ riêng cóquỹ Ngân sách nhà nước, các quỹ tài chính nhà nước khác phục vụ cho hoạt động của Nhà nước và thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội

Ở các chủ thể khác như các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, các hộ gia đình, các quỹ tiền tệ có thể được hình thành và sử dụng cho những mục đích trực tiếp (sản xuất hoặc tiêu dùng) thông qua hành vi trao đổi thành những quỹ vật tư, hàng hóa, dịch vụ phục vụ cho sản xuất hay tiêu dùng, sinh hoạt; cũng có thể được hình thành như những tụ điểm trung gian để tự cung ứng phương tiện

Trang 27

tiền tệ cho những mục đích trực tiếp

Trải qua các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau trong tiến trình phát triển của xã hội loài người, với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của kinh tế hàng hóa – tiền tệ, hình thức tiền tệ đã trở thành hình thức chủ yếu của thu nhập và chi tiêu của Nhà nước cũng như mọi chủ thể khác trong việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ Như vậy, sự phát triển kinh tế hàng hóa tiền tệ đã tạo điều kiện khách quan cho sự mở rộng các quan hệ tài chính Nói khác đi, phạm vi của các quan hệ tài chính phụ thuộc vào sự phát triển của các quan hệ hàng hóa – tiền tệ trong các mối quan hệ kinh tế của xã hội

Tài chính, như mọi đối tượng nghiên cứu khác, có hình thức biểu hiện bên ngoài (hiện tượng) và nội dung bên trong (bản chất) của nó

+ Hình thức biểu hiện bên ngoài: Các hiện tượng thu vào bằng tiền và các hiện tượng chi ra bằng tiền

Quan sát thực tiễn các quá trình vận động kinh tế - xã hội có thể nhận thấy

các biểu hiện bên ngoài của tài chính thể hiện ra dưới dạng các hiện tượng thu

vào bằng tiền và các hiện tượng chi ra bằng tiền ở các chủ thể kinh tế - xã hội

Có thể ví dụ như:dân cư, doanh nghiệp, nộp thuế bằng tiền cho Nhà nước; các doanh nghiệp sử dụng vốn điều lệ để mua sắm vật tư, thiết bị kinh doanh; dân cư mua cổ phiếu, trái phiếu, tín phiếu của các doanh nghiệp, Ngân hàng, Kho bạc Nhà nước; các Ngân hàng cho các doanh nghiệp vay tiền; dân

cư nộp tiền vào quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm kinh doanh (nộp phí bảo hiểm); các cơ quan bảo hiểm trả tiền (bồi thường thiệt hại) cho dân cư khi họ

bị mất sức lao động tạm thời hay vĩnh viễn (từ quỹ bảo hiểm xã hội) hay khi

họ bị tai nạn rủi ro (từ quỹ bảo hiểm kinh doanh); Nhà nước cấp phát tiền từ ngân sách, Nhà nước tài trợ cho việc xây dựng đường giao thông, trường học, bệnh viện công…

Từ vô số các hiện tượng tài chính kể trên cho nhận xét, hình thức biểu

hiện bên ngoài của tài chính hiện ra như là sự vận động của vốn tiền tệ Ở

những hiện tượng trên, có thể thấy tiền tệ xuất hiện trước hết với chức năng phương tiện thanh toán (ở người chi ra) và chức năng phương tiện cất trữ (ở người thu vào) Ở đây, tiền tệ đại diện cho một lượng giá trị, một thế năng về

sức mua nhất định và được gọi là nguồn tài chính (hay nguồn tài lực, nguồn

lực tài chính)

+ Nội dung bên trong của tài chính (bản chất của tài chính)

Trang 28

Trong thực tế, nguồn tài chính được nói đến dưới nhiều tên gọi khác nhau như: tiền vốn, vốn tiền tệ, vốn bằng tiền, vốn kinh doanh, vốn tín dụng, vốn Ngân sách, vốn trong dân…Ở mỗi chủ thể kinh tế - xã hội, khi nguồn tài chính được tập trung lại (thu vào) là khi quỹ tiền tệ được hình thành (tạo lập)

và khi nguồn tài chính được phân tán ra (chia ra) là lúc các quỹ tiền tệ được sử dụng Quá trình vận động của các nguồn tài chính cũng chính là quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ Mỗi quỹ tiền tệ luôn gắn với một chủ thể nhất định, chúng được lượng hóa về quy mô, thể hiện rõ mối quan hệ giữa các tác nhân trong quá trình phân bổ những nguồn lực cùng với sự vận động của các dòng tiền khi các quỹ tiền tệ được tạo lập và sử dụng cho những mục đích nhất định Đó là quá trình các chủ thể kinh tế - xã hội tham gia phân phối các nguồn tài chính thông qua các hoạt động thu, chi bằng tiền

Các nguồn tài chính trong xã hội luôn vận động một cách liên tục và trong mối quan hệ chằng chịt, đa dạng giữa các chủ thể trong xã hội dẫn tới việc làm

thay đổi lợi ích kinh tế của các chủ thể đó Chẳng hạn, khi tập trung thêm được

các nguồn lực tài chính từ các chủ thể khác trong xã hội vào ngân sách Nhà nước, Nhà nước có thêm điều kiện vật chất để thực hiện các chức năng của mình; các tổ chức, doanh nghiệp khi nhận được sự tài trợ nguồn tài chính từ ngân sách Nhà nước sẽ có điều kiện để duy trì và đẩy mạnh hoạt động của mình

Như vậy, các hiện tượng của tài chính là sự thể hiện và phản ánh các quan hệ kinh tế giữa các chủ thể trong quá trình phân phối các nguồn tài chính, quá trình phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị để tìm kiếm những lợi ích và đáp ứng những nhu cầu của các chủ thể nhất định Các quan

hệ kinh tế như thế được gọi là các quan hệ tài chính Các quan hệ tài chính biểu hiện mặt bản chất bên trong của tài chính ẩn dấu sau các biểu hiện bên ngoài của tài chính

Như vậy, tài chính được hiểu: Là phương thức huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu của các chủ thể trong

phát triển kinh tế - xã hội

1.1.4 Chức năng của tài chính

Chức năng của tài chính là các thuộc tính khách quan vốn có, là khả năng thế năng bên trong biểu lộ tác dụng xã hội của tài chính

Trong đời sống xã hội, tài chính vốn có hai chức năng là: chức năng phân

bổ nguồn lực tài chính và chức năng kiểm tra

Trang 29

1.2.2.1 Chức năng phân bổ nguồn lực tài chính

Tài chính là phương thức phân bổ nguồn lực tài chính theo thời gian và không gian Do đó, chức năng phân bổ nguồn lực là chức năng cơ bản nhất của tài chính Đây là thuộc tính khách quan vốn có của tài chính Vận dụng chức năng này để tổ chức việc phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị

Đối tượng của phân bổ nguồn lực tài chính là tổng thể các nguồn lực tài chính có trong xã hội Nguồn tài chính là khả năng tài chính mà chủ thể trong

xã hội có thể khai thác, sử dụng nhằm thực hiện các mục đích của mình Nguồn tài chính có thể tồn tại dưới dạng tiền hoặc tài sản vật chất và phi vật chất Sự vận động của các nguồn tài chính phản ánh sự vận động của những bộ phận của cải xã hội dưới hình thức giá trị (tiền tệ) Nguồn tài chính luôn thể hiện một khả năng về sức mua nhất định Trong nền kinh tế thị trường mỗi chủ thể trong xã hội khi đã nắm trong tay những nguồn tài chính nhất định là đã nắm trong tay một sức mua để có thể nắm được những nguồn vật lực hay sử dụng được những nguồn nhân lực nhất định phục vụ cho mục đích tích lũy hay tiêu dùng của mình

Đối với một quốc gia, nguồn tài chính quan trọng nhất được kể đến là thu nhập quốc dân (GDP) được tạo ra trong năm Đây là nguồn tài chính chủ yếu để đáp ứng các nhu cầu của các chủ thể trong phát triển kinh tế - xã hội

Ngoài nguồn lực GDP được tạo ra trong năm, bộ phận vốn tích luỹ, dự trữ các thời kỳ trước của quốc gia, của doanh nghiệp, của hộ gia đình, các tổ chức

xã hội, nguồn vốn từ nước ngoài cũng là những nguồn tài chính quan trọng cần được khai thác, sử dụng hợp lý cho các nhu cầu khác nhau

Các chủ thể tham gia vào phân bổ nguồn lực tài chính là những người có khả năng cung ứng vốn hoặc những người có nhu cầu về vốn, hoặc những chủ thể đóng vai trò quản lý nhà nước, các cơ quan, tổ chức chuyên môn, các tổ chức

xã hội Mỗi chủ thể lại tham gia vào phân bổ nguồn tài chính với tư cách khác nhau: người có quyền sở hữu nguồn lực tài chính, người có quyền sử dụng nguồn tài chính hay người có quyền lực chính trị…

Các nguồn lực tài chính, qua các hoạt động tài chính với sự tham gia của các chủ thể khác nhau sẽ được phân phối và phân phối lại dưới các hình thức, phương thức khác nhau để đáp ứng các nhu cầu khác nhau của các chủ thể trong phát triển kinh tế - xã hội

Trang 30

1.1.4.1 Chức năng kiểm tra

Chức năng kiểm tra của tài chính là khả năng khách quan của tài chính, con người nhận thức và vận dụng khả năng khách quan này để tổ chức kiểm tra tài chính trong hoạt động thực tiễn, nhằm sử dụng nó với tư cách là một công cụ kiểm tra, kiểm soát quá trình phân bổ những nguồn lực tài chính của xã hội

Kiểm tra tài chính là quá trình phân bổ các nguồn lực tài chính, nhằm đảm bảo cho quá trình phân bổ các nguồn lực tài chính diễn ra đúng với các yêu cầu của các quy luật kinh tế khách quan

Đối tượng của kiểm tra tài chính là quá trình vận động của các nguồn lực tài chính, quá trình khai thác, huy động, phân bổ và sử dụng các nguồn tài lực nhằm đảm bảo tính mục đích, tính hợp lý, hiệu quả của quá trình phân phối, sử dụng các nguồn lực tài chính khan hiếm

Các chủ thể của kiểm tra tài chính cũng chính là các chủ thể phân phối hoặc chủ thể quản lý Đó là các tác nhân tham gia vào hoạt động cung cầu vốn trong nền kinh tế, hoặc chủ thể có chức năng quản lý kinh tế xã hội, đó có thể là: Chính phủ, các doanh nghiệp, các hộ gia đình, các định chế tài chính trung gian, các cơ quan, tổ chức quản lý kinh tế - xã hội Trong quá trình phân bổ các nguồn lực tài chính, chức năng kiểm tra tài chính sẽ được nhận thức và vận dụng để tổ chức công tác kiểm tra tài chính trong các lĩnh vực và phạm vi khác nhau thông qua hoạt động kiểm tra của các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan chức năng, các chủ thể sử dụng nguồn lực tài chính bằng những phương pháp, quy trình và công nghệ kiểm tra phù hợp

1.1.5 Hệ thống tài chính

1.1.5.1 Khái niệm hệ thống tài chính

Việc phân bổ các nguồn lực tài chính được thực hiện với sự tham gia của nhiều chủ thể, có thể đó là những chủ thể cần nguồn tài chính, cung nguồn tài chính, hoặc các chủ thể tổ chức và quản lý, giám sát các hoạt động phân bổ nguồn lực Hoạt động phân bổ có thể được thực hiện và diễn ra trong nội bộ một chủ thể, hay giữa các chủ thể với nhau Các dòng tiền có thể vận động trực tiếp từ chủ thể này sang chủ thể khác, hoặc có thể thông qua một chủ thể trung gian (các ngân hàng, các tổ chức bảo hiểm), hoặc qua thị trường tài chính Trong quá trình đó, các tổ chức trung gian có thể trực tiếp tham gia phân bổ nguồn lực tài chính của mình với các chủ thể khác, hoặc chúng tham gia với tư

Trang 31

cách là môi giới trung gian cung cấp các dịch vụ, phương tiện để phân bổ các nguồn lực một cách hiệu quả hơn Bên cạnh đó, thị trường tài chính là nơi cung cấp các công cụ, phương tiện để các chủ thể tham gia trao đổi, mua bán các nguồn tài chính với nhau rất thuận lợi.Để tiến hành phân bổ nguồn tài chính một cách nhanh chóng, tiết kiệm, hiệu quả và đúng pháp luật cũng cần có một

hệ thống các cơ sở hạ tầng pháp lý và kỹ thuật đồng bộ, hiện đại và hoàn chỉnh

Hệ thống những bộ phận khác nhau kể trên có mối quan hệ mật thiết với nhau, hoạt động theo một cơ chế chặt chẽ và đồng bộ hình thành nên hệ thống tài chính thống nhất của các quốc gia

Có nhiều quan niệm khác nhau về hệ thống tài chính Có quan niệm cho rằng: Hệ thống tài chính là tổng thể các khâu tài chính có mối quan hệ chặt chẽ với nhau để phân phối và phân phối lại các nguồn lực tài chính.Có nghĩa là, trong tổng thể các quan hệ tài chính của nền kinh tế quốc dân tồn tại nhiều mảng (hoặc nhiều lĩnh vực) tài chính khác nhau, có tính chất, đặc điểm, vai trò, và các hình thức biểu hiện khác nhau trong phân phối các nguồn lực tài chính của xã hội Những mảng tài chính khác nhau đó là những khâu tài chính độc lập, giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau hình thành nên hệ thống tài chính thống nhất của một quốc gia

Quan niệm khác về hệ thống tài chính cho rằng, một hệ thống tài chính đầy đủ và đồng bộ không thể thiếu được các nhân tố: Các chủ thể tham gia vào phân bổ các nguồn lực, các định chế tài chính trung gian, các thị trường tài chính, các tổ chức quản lý và giám sát thị trường, các cơ sở hạ tầng pháp lý và

kỹ thuật… Do đó, hệ thống tài chính được hiểu là một tổng thể bao gồm các thị trường tài chính, các định chế tài chính trung gian, cơ sở hạ tầng pháp lý – kỹ thuật và các tổ chức quản lý giám sát và điều hành hệ thống để tổ chức phân bổ nguồn lực tài chính theo thời gian và không gian một cách tiết kiệm và hiệu quả nhất

1.2.3.2 Cơ cấu tổ chức hệ thống tài chính

* Thị trường tài chính

Thị trường tài chính là nơi để mua bán các tài sản tài chính nhằm chuyển dịch vốn từ người có khả năng cung ứng vốn sang người cần vốn Do sự đa dạng của các tài sản tài chính và các phương thức hoạt động mua bán trên thị trường trên thế giới cùng xuất hiện nhiều loại thị trường khác nhau Có thị trường, việc mua bán các tài sản tài chính được thực hiện tại một địa điểm cụ

Trang 32

thể, có thị trường không có một không gian chuyên biệt Các tài sản mua bán trên thị trường cũng rất đa dạng: tín phiếu, trái phiếu, hợp đồng quyền chọn…

* Các trung gian tài chính

Các tổ chức tài chính trung gian có hoạt động chủ yếu là cung cấp các dịch vụ và các sản phẩm tài chính cho khách hàng để đảm bảo các hoạt động giao dịch của họ thuận lợi và hiệu quả hơn so với việc tự thực hiện trên thị trường tài chính Các tổ chức tài chính trung gian chủ yếu là các ngân hàng, các công ty tài chính, các công ty bảo hiểm, các quỹ đầu tư… Sản phẩm rất khác nhau: tài khoản thanh toán, tài khoản tiền gửi, các hợp đồng tín dụng, các chứng chỉ đầu tư, các hợp đồng bảo hiểm…

Các tổ chức tài chính trung gian, thông qua cung cấp các sản phẩm của mình cho các nhà đầu tư, các hộ gia đình, những nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội, như tiền tiết kiệm của các hộ gia đình, vốn của các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế… sẽ được tập trung qua kênh các trung gian tài chính này để cung ứng vốn cho những người cần vốn Như vậy, với phương thức chu chuyển vốn gián tiếp, những nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế sẽ được sử dụng tiết kiệm và hiệu quả hơn nhờ tính chuyên nghiệp và khả năng phân tán rủi ro cao

* Cơ sở hạ tầng pháp lý và kỹ thuật của hệ thống tài chính

Tất cả các hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế đều phải tuân theo những quy tắc nhất định để đảm bảo mọi hành vi của các chủ thể đều được điều chỉnh theo những quy định của pháp luật

Cơ sở hạ tầng pháp lý tài chính là toàn bộ các quy định về pháp lý, kế toán, các hoạt động giao dịch và thanh toán, các quy phạm pháp luật điều chỉnh hành vi của những chủ thể tham gia vào hệ thống tài chính

Các quy định về giao dịch: Các quy định này do Nhà nước ban hành và thường được ban hành thành luật Các quy định này xác định các quy trình thủ tục giao dịch có tính chất chuẩn mực để từ đó tạo thuận lợi cho giao dịch, trao đổi đúng luật với chi phí thấp

Hệ thống kế toán: Để các thông tin tài chính được sử dụng có hiệu quả thì chúng phải được trình bày theo một tiêu chí đảm bảo yêu cầu có tính chuẩn mực Hệ thống kế toán phải phát triển để đáp ứng yêu cầu này Hệ thống kế toán được coi là một trong những bộ phận quan trọng nhất trong cơ sở hạ tầng của hệ thống tài chính

Hệ thống các văn bản pháp luật điều chỉnh hành vi của các chủ thể tham

Trang 33

gia vào quá trình phân bổ nguồn lực tài chính, như: luật ngân sách Nhà nước, luật chứng khoán, luật thuế…

* Các tổ chức quản lý và điều hành hệ thống tài chính

Nhà nước là người ban hành luật, giám sát việc thực thi pháp luật và chịu trách nhiệm điều hành và quản lý hoạt động của toàn bộ hệ thống tài chính Tuy nhiên, trong những điều kiện nhất định, trách nhiệm điều hành này có thể một phần được uỷ quyền cho các tổ chức, kể cả các tổ chức tư nhân Các tổ chức có vai trò quan trọng trong điều hành hệ thống tài chính là: Bộ tài chính, Ngân hàng trung ương, Uỷ ban chứng khoán nhà nước, các tổ chức khác…

Ngày nay, các hoạt động kinh tế và tài chính mang tính chất toàn cầu hóa, ngoài hệ thống tài chính của mỗi quốc gia độc lập, hệ thống tài chính còn có tính chất toàn cầu, hệ thống tài chính của mỗi nước không thể tách riêng và đứng biệt lập với hệ thống tài chính quốc tế Để đảm bảo các dòng lưu chuyển vốn giữa các nước được tiến hành một cách thuận lợi và hiệu quả, nhiều tổ chức tài chính quốc

tế đã được thành lập và đưa vào hoạt động với mục tiêu phối hợp chính sách tài chính của nhiều nước khác nhau Những tổ chức đó bao gồm: Ngân hàng thanh toán quốc tế (IBS), quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), ngân hàng thế giới (WB)

1.2.3.3 Chức năng của hệ thống tài chính

* Cung cấp các phương tiện để luân chuyển các dòng tài chính theo thời gian giữa các chủ thể và trong phạm vi toàn cầu:

Hệ thống tài chính cung cấp các phương tiện để luân chuyển vốn theo thời gian trong các trường hợp như: tiền tiết kiệm của các gia đình được đầu tư vào các khoản gửi tiết kiệm, các hợp đồng bảo hiểm, mua các chứng khoán trên thị trường tài chính để trong tương lai sẽ nhận được những khoản thu nhập lớn hơn

Nhờ hoạt động của hệ thống tài chính, các doanh nghiệp có thể dễ dàng nhận được nguồn tài trợ để thực hiện các dự án đầu tư của mình nhằm đạt được lợi nhuận lớn hơn trong tương lai

Hệ thống tài chính còn giúp cho việc luân chuyển vốn trong không gian khi các gia đình, các doanh nghiệp hoặc Chính phủ một nước mua trái phiếu của Chính phủ nước khác; các khoản tiết kiệm của các gia đình nước này có thể là khoản cung ứng vốn cho một doanh nghiệp ở nước khác…hệ thống tài chính cung cấp nhiều công cụ khác nhau cho phép nguồn vốn giữa các quốc gia được

di chuyển một cách dễ dàng

Nền kinh tế ngày càng phát triển đa dạng, phức tạp thì vai trò của hệ thống

Trang 34

tài chính càng trở nên quan trọng để thực hiện chức năng luân chuyển vốn theo những thời gian và không gian nhất định Do vậy, trong xu thế của một hệ thống tài chính mang tính toàn cầu, những nguồn lực tài chính nhàn rỗi dù nhỏ ở một quốc gia có thể được huy động và sử dụng để tài trợ cho các nhu cầu của những chủ thể cần vốn ở các quốc gia khác, làm cho tính hiệu quả của toàn bộ hệ thống tài chính ngày càng được nâng cao

* Cung cấp các phương tiện để quản lý rủi ro

Hệ thống tài chính thực hiện chức năng phân bổ chuyển giao vốn nhưng đồng thời cũng cung cấp các phương tiện để chuyển giao, phân tán rủi ro Với những mô hình và phương pháp tính toán khoa học mà lý thuyết tài chính đưa ra

có thể cho phép các gia đình, các doanh nghiệp, các nhà đầu tư lựa chọn giữa chấp nhận rủi ro hay cần phải chuyển giao, phân tán rủi ro

Sự xuất hiện của các công ty bảo hiểm, nhà quản lý rủi ro chuyên nghiệp cũng cho phép các gia đình, các nhà đầu tư lựa chọn các phương án khác nhau

để quản lý và chuyển giao rủi ro trong cuộc sống và hoạt động đầu tư

Sự phát triển của hệ thống tài chính và các công cụ tài chính càng đa dạng phong phú, đặc biệt là các công cụ phái sinh càng tạo ra nhiều sự lựa chọn cho các nhà đầu tư trong hoạt động đầu tư, quản lý vốn, tài sản và quản lý rủi ro

* Cung cấp các phương tiện để thực hiện việc bù trừ và thanh toán tạo thuận lợi cho các hoạt động trao đổi thương mại

Đây là chức năng quan trọng của hệ thống tài chính Nhờ chức năng này, các chủ thể có thể thực hiện thanh toán tiền mua bán hàng hóa và dịch vụ một cách dễ dàng và hiệu quả Với sự xuất hiện của tiền giấy, séc, thẻ tín dụng, tiền điện tử… làm cho hiệu quả của hệ thống thanh toán ngày càng tăng

Sự phát triển của các định chế tài chính, đặc biệt là hệ thống ngân hàng trên phạm vi toàn cầu và các công cụ, phương thức giao dịch, thanh toán và bù trừ lẫn nhau ngày càng đa dạng và phong phú giúp cho hoạt động thanh toán, bù trừ thanh toán ngày càng thuận lợi và chi phí thấp

* Xây dựng một cơ chế tập trung các nguồn tài chính và phân chia quyền

sở hữu trong các doanh nghiệp:

Trong nền kinh tế thị trường, nhu cầu về nguồn tài chính của các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và chính phủ là rất lớn, vượt xa khả năng tài chính của một cá nhân hay một gia đình Hệ thống tài chính tạo ra các cơ chế hoạt động khác nhau để tập trung vốn và làm gia tăng giá trị tài sản, các khoản tiết

Trang 35

kiệm của các gia đình, từ đó chuyển hóa các khoản tiền tích luỹ, tiết kiệm trong dân chúng thành nguồn vốn cung ứng cho các nhu cầu sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, các định chế tài chính và Chính phủ

Hệ thống tài chính còn tạo cơ hội cho các hộ gia đình tham gia vào các hoạt động đầu tư với quy mô lớn, bằng việc cùng chung góp vốn theo các định suất đầu tư nhỏ phù hợp với khả năng của mình, các quỹ đầu tư sẽ dễ dàng tập trung vốn của các gia đình làm tăng thêm tính hiệu quả của chức năng tập trung vốn của hệ thống tài chính bằng việc chia nhỏ các tài sản tài chính thành một số lượng lớn các phần vốn góp

* Cung cấp các thông tin về giá cả để giúp cho việc ra các quyết định giữa các cấp quản lý trong những khu vực kinh tế khác nhau được thuận lợi:

Hàng ngày, trên các phương tiện thông tin đại chúng thường xuất hiện các thông tin liên quan đến sự vận hành của hệ thống tài chính như: tình hình biến động của thị trường chứng khoán, các thông tin về lãi suất thị trường, lợi tức của các công ty cổ phần… Những thông tin đó sẽ chi phối đến sự lựa chọn và hành

vi của các gia đình, các doanh nghiệp và Chính phủ

* Cung cấp các phương tiện giải quyết các vấn đề xung đột về lợi ích thường nảy sinh trước các vấn đề rủi ro đạo đức và rủi ro xung đột

Hệ thống tài chính thực hiện nhiều chức năng khác nhau tạo thuận lợi cho việc phân bổ hiệu quả nguồn vốn và rủi ro trong xã hội Tuy nhiên, trong thực tế vẫn luôn tồn tại những vấn đề xung đột về lợi ích làm giảm đi tính hiệu quả của một số chức năng.Vấn đề mâu thuẫn lợi ích nảy sinh khi các chủ thể trong quá trình liên kết và hợp tác với nhau thường rất khó và đôi khi không thể kiểm tra

và giám sát được các đối tác của mình Những vấn đề liên quan đến xung đột lợi ích thể hiện dưới nhiều hình thức, trong đó có rủi ro đạo đức hay lựa chọn đối nghịch và các xung đột trong quan hệ người sở hữu – người quản lý

Một vấn đề khác cũng nảy sinh xung đột lợi ích kinh tế là do việc giao quản lý tài sản của mình cho người khác Người phải gánh chịu rủi ro trong các quyết định đầu tư đã phó thác quyền của họ sang cho người khác Những người gánh chịu rủi ro của các quyết định đầu tư được gọi là người chủ và những người nắm quyền quản lý được gọi là người thừa hành

Hệ thống tài chính chỉ có thể được coi là hiệu quả nếu những vấn đề mâu thuẫn lợi ích – rủi ro đạo đức, lựa chọn đối nghịch và xung đột người sở hữu – người quản lý được giải quyết một cách dễ dàng và thoả đáng, tăng khả năng tập

Trang 36

trung nguồn vốn, phân tán, chia sẻ rủi ro và tính chuyên môn hóa cao trong các hoạt động Cơ chế vận hành, nguyên tắc hoạt động của các bộ phận trong hệ thống tài chính có thể xử lý tốt các vấn đề này: nguyên tắc thế chấp tài sản, sàng lọc khách hàng, hạn mức tín dụng… trong hoạt động của ngân hàng; nguyên tắc sàng lọc rủi ro, mức giới hạn số tiền bảo hiểm, từ chối trả tiền bảo hiểm trong hoạt động bảo hiểm…

1.2.4 Chính sách tài chính

1.2.4.1 Khái niệm chính sách tài chính quốc gia

Chính sách tài chính là định hướng của Nhà nước về sử dụng phạm trù tài chính tồn tại khách quan Ở mỗi quốc gia chính sách tài chính của Nhà nước phải mang tính chất quốc gia là một đòi hỏi nghiêm ngặt được đặt ra cho suốt quá trình xây dựng và thực hiện chính sách Tính chất quốc gia của chính sách tài chính được thể hiện trên các khía cạnh sau đây:

Thứ nhất, chính sách đó phải bao quát việc sử dụng tổng hợp, đồng bộ tất

cả các công cụ tài chính, tất cả các khâu của hệ thống tài chính quốc gia để tác động tới sự vận động của các nguồn tài chính

Thứ hai, chính sách đó phải độc lập, phù hợp với đặc điểm của đất nước trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể Trong khi học tập kinh nghiệm của nước khác để xây dựng chính sách phải có sự phân tích, chọn lọc, không được dập khuôn, máy móc, giáo điều

Thứ ba, chính sách đó phải thể hiện quan điểm vì lợi ích toàn cục, toàn quốc, không mang màu sắc vì lợi ích cục bộ, địa phương

Như vậy có thể hiểu: Chính sách tài chính quốc gia là chínhsách của nhà nước về sử dụng các công cụ tài chính bao gồm hệ thống các quan điểm, mục tiêu, chủ trương và giải pháp về tài chính – tiền tệ của Nhà nước phù hợp với đặc điểm của đất nước trong từng thời kỳ nhằm bồi dưỡng, khai thác, huy động

và sử dụng các nguồn tài chính đa dạng phục vụ có hiệu quả cho việc thực hiện các kế hoạch và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia trong thời kỳ tương ứng

1.2.4.2 Cơ sở cho việc hoạch định chính sách tài chính quốc gia

Để chính sách đạt tới mức độ tối đa sự phù hợp với tình hình thực tiễn yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và xu hướng phát triển trong và ngoài nước, việc hoạch định chính sách tài chính quốc gia phải dựa trên các cơ

sở sau đây:

Trang 37

Một là, đặc điểm vận động của phạm trù tài chính trong mô hình kinh tế

tương ứng

Trong mô hình kinh tế, nền kinh tế vận động theo các quy luật riêng Các quy luật khách quan đó có tác dụng chi phối mạnh mẽ tới đặc điểm vận động của phạm trù tài chính Do đó, trong các mô hình kinh tế khác nhau, trong các thời kỳ phát triển khác nhau, việc hoạch định chính sách tài chính phải tính đến các đặc điểm vận động khác nhau của phạm trù tài chính mới đảm bảo cho chính sách phù hợp với các quy luật khách quan, mới đảm bảo sử dụng phạm trù tài chính đúng với đặc điểm và khả năng khách quan của nó, từ đó mới có thể phát huy tác dụng tích cực của chính sách tài chính đối với sự phát triển kinh tế, xã hội

Hai là,lý thuyết về tái sản xuất mở rộng

Lý thuyết về tái sản xuất mở rộng cho biết quá trình tái sản xuất mở rộng được thực hiện với 4 khâu gắn bó hữu cơ với nhau là sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng.Để quá trình đó tiến hành thuận lợi và có kết quả, đòi hỏi nguồn lực tài chính phải được phân bổ cho 4 khâu một cách cân đối và hợp lý Phân bổ nguồn lực tài chính chính là nội dung của chính sách tài chính Do đó, việc hoạch định chính sách tài chính phải dựa vào lý thuyết về tái sản xuất mở rộng

và thực tế của quá trình tái sản xuất mở rộng trong từng thời kỳ phát triển mới đảm bảo cho chính sách phát huy được tác dụng tích cực đối với sự phát triển kinh tế - xã hội

Ba là, thực trạng của chính sách tài chính và hoạt động tài chính trong

thời kỳ trước

Tổng kết và đánh giá về chính sách tài chính và hoạt động tài chính của thời kỳ trước cho nhận xét về những mặt hợp lý và chưa hợp lý của chính sách, những mặt đã đạt được và những mặt chưa đạt được của hoạt động tài chính so với mục tiêu, yêu cầu đã đặt ra Dựa trên cơ sở đó có thể vạch ra những biện pháp để hoàn thiện chính sách tài chính và tổ chức hoạt động tài chính đúng hướng hơn, đạt kết quả cao hơn Do đó, để có được chính sách tài chính phù hợp

và phát huy được tác dụng tích cực đòi hỏi việc hoạch định chính sách tài chính phải dựa trên cơ sở đánh giá đúng đắn thực trạng chính sách tài chính và hoạt động tài chính trong thời kỳ trước

Bốn là, chính sách phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ tương ứng

Chính sách phát triển kinh tế - xã hội là đối tượng phục vụ và điều chỉnh của chính sách tài chính Các mục tiêu, yêu cầu, phương hướng phát triển kinh

Trang 38

tế - xã hội trong từng thời kỳ là cơ sở cho việc định ra các chủ trương, giải pháp

về tài chính nhằm thực hiện các mục tiêu, yêu cầu, phương hướng đã được xác định đó của chính sách phát triển kinh tế - xã hội Do đó, việc hoạch định chính sách tài chính phải dựa trên cơ sở chính sách phát triển kinh tế - xã hội mới đảm bảo cho chính sách phát triển đúng hướng và phục vụ có kết quả cho sự phát triển kinh tế - xã hội

Năm là, phân tích và dự đoán về xu hướng phát triển mới trong điều kiện

mở cửa nền kinh tế, hội nhập quốc tế và khu vực

Những phân tích, dự báo về xu hướng phát triển đòi hỏi phải chỉ ra được thời cơ và lường trước được thách thức trong điều kiện phát triển mới Những phân tích, dự đoán đó đúng đắn sẽ là một cơ sở quan trọng đảm bảo cho chính sách tài chính quốc gia được hoạch định phù hợp với tình hình thực tiễn của đất nước và xu hướng của thế giới, đón trước được những diễn biến của quá trình phát triển Điều đó giúp cho chính sách tài chính quốc gia tăng thêm được sức sống và hiệu quả

1.2.4.3 Nội dung của chính sách tài chính quốc gia

Chính sách tài chính quốc gia bao gồm nhiều nội dung phong phú và phức tạp bao quát mọi khâu của hệ thống tài chính và mọi lĩnh vực hoạt động khác nhau của tài chính Có thể cảm nhận nội dung của chính sách tài chính quốc gia dưới các dạng khác nhau Ví dụ:

- Chính sách đối với hoạt động của một khâu tài chính;

- Chính sách đối với một lĩnh vực hoạt động nào đó của tài chính, như chính sách tài chính đối ngoại…

- Chính sách về sử dụng các công cụ tài chính, như chính sách thuế, chính sách lãi suất, chính sách tỷ giá…

- Chính sách đối xử của Nhà nước (về mặt tài chính) đối với một chủ thể hay một lĩnh vực hoạt động nào đó, nhưchính sách khuyến khích đầu tư, chính sách khuyến khích đầu tư, chính sách tài trợ, chính sách bảo hộ…

Tuy phong phú, phức tạp và đa dạng như vậy, nhưng trên cách nhìn tổng hợp, có thể khái quát các nội dung của chính sách tài chính quốc gia thành các

bộ phận chính sách sau đây:

* Chính sách phát triển nguồn lực tài chính

Xét về thực chất, chính sách phát triển nguồn lực tài chính bao gồm các giải pháp sử dụng các công cụ tài chính – tiền tệ nhằm thúc đẩy hoạt động sản

Trang 39

xuất kinh doanh phát triển, đảm bảo cho nền kinh tế tăng trưởng ổn định, phát triển bền vững, từ đó gia tăng nguồn lực tài chính cho xã hội

* Chính sách khai thác, động viên nguồn lực tài chính

Bộ phận chính sách này bao gồm các giải pháp sử dụng các công cụ tài chính để khơi dậy, giải phóng các nguồn lực tài chính trong các thành phần kinh

tế, các lĩnh vực hoạt động khác nhau, đưa chúng vào quá trình vận động của chu trình tuần hoàn kinh tế đáp ứng yêu cầu của các hoạt động kinh tế - xã hội, đồng thời để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia vào tay Nhà nước phục vụ các nhu cầu chung có tính chất toàn xã hội Bộ phận chính sách này được hoạch định dựa trên cơ sở các quy hoạch và mục tiêu chiến lược về kinh tế - xã hội

* Chính sách phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính

Bộ phận chính sách này bao gồm các giải pháp sử dụng công cụ tài chính

để phân bổ nguồn lực tài chính một cách hợp lý, đảm bảo các quan hệ cân đối lớn trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời chi dùng nguồn lực tài chính một cách tiết kiệm và có hiệu quả

Trong quá trình hoạch định chính sách tài chính quốc gia thích ứng với đặc điểm và yêu cầu của từng thời kỳ phát triển, yêu cầu đặt ra trong các bộ phận chính sách tài chính kể trên đòi hỏi phải được cụ thể hóa bằng các giải pháp thích hợp trong các bộ phận chính sách tài chính cụ thể đối với từng lĩnh vực hoạt động tài chính như:

- Chính sách quản lý, khai thác, nuôi dưỡng tài nguyên, tài sản quốc gia;

- Chính sách ngân sách nhà nước;

- Chính sách tiền tệ quốc gia;

- Chính sách tài chính đối với doanh nghiệp;

- Chính sách tài chính đối với các tổ chức xã hội;

- Chính sách tài chính đối với dân cư;

- Chính sách tài chính đối ngoại;

- Chính sách bảo hiểm xã hội;

- Chính sách xây dựng và phát triển thị trường tài chính

Trang 40

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 1

1 Trình bày quá trình ra đời và phát triển của tiền tệ?

2 Trình bày các chức năng của tiền tệ theo quan điểm của C Mác?

3 Phân biệt khối lượng tiền cần thiết cho lưu thông và khối lượng tiền cho lưu thông?

4 Lạm phát là gì? Phân tích nguyên nhân, tác động và biện pháp khắc phục lạm phát?

5 Tài chính là gì? Phân tích các chức năng của tài chính và mối quan hệ giữa các chức năng đó?

6 Hệ thống tài chính là gì? Trình bày các chức năng của hệ thống tài chính?

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Phạm Ngọc Dũng, Đinh Xuân Hạng (2014).Giáo trình tài chính tiền

tệ,NxbTài Chính, Hà Nội

2 Quốc Hội (2015).Luật Ngân sách Nhà nước số 83/2015/QH13 ngày 25

tháng 6 năm 2015

3 Nguyễn Hữu Tài (2011) Giáo trình lý thuyết tài chính tiền tệ,Nxb Đại

học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội

Ngày đăng: 28/01/2021, 23:54