là quyền được bảo vệ, tiếp cận và tự do tham gia vào các hoạt động văn hoá lành mạnh có lợi cho sự phát triển của mỗi con người, mỗi cộng đồng, dân tộc và mỗi quốc gia”. Nhà nước có va[r]
Trang 1
Hội thảo Quyền văn hoá:
Pháp luật và thực tiễn trên thế giới và
ở Việt Nam
Seminar Cultural Rights:
Law and Practice in the World
and Vietnam
Hà Nội, 28/6/2019
Trang 2DỰ KIẾN CHƯƠNG TRÌNH HỘI THẢO
“Quyền lao văn hoá: Pháp luật và thực tiễn trên thế giới và ở Việt Nam” (Chủ trì: PGS.TS Chu Hồng Thanh – GS.TS Nguyễn Đăng Dung)
07:30 – 08:30 Đăng ký đại biểu
08:30 – 08:35 Tuyên bố lý do, giới thiệu đại biểu (TS Lã Khánh Tùng)
08:35 – 08:45 Tham luận 1: Khái niệm, nội hàm của quyền văn hoá
(PGS.TS Hoàng Văn Nghĩa, Học viện CTQG Hồ Chí Minh)
08:45 – 08:55 Tham luận 2: Tự do nghệ thuật như là một thành tố của quyền văn hoá
(TS Lã Khánh Tùng, Khoa Luật ĐHQG Hà Nội)
08:55 – 09:05 Tham luận 3: Sở hữu trí tuệ và quyền văn hoá
(TS Nguyễn Bích Thảo, Khoa Luật ĐHQG Hà Nội)
09:05 – 09:15 Tham luận 4: Xử lý vi phạm các quyền văn hoá
(PGS.TS Vũ Công Giao, Khoa Luật ĐHQG Hà Nội)
09:15 – 10:00 Thảo luận
10:00 – 10:15 Giới thiệu sách của Viện ISDS (TS Trần Kiên)
10:15 – 10:30 Giải lao
10:30 – 10:40 Tham luận 5: Quyền văn hoá trong truyền thông chính trị Hoa Kỳ:
Trường hợp Donal J.Trump
(TS Bùi Thị Phương Lan – Viện Nghiên cứu châu Mỹ - Viện HLKHXH Việt Nam)
10:40 – 10:50 Tham luận 6: Các quyền văn hoá trong pháp luật Việt Nam
(Vũ Ngọc Bình)
10:50 – 11:00 Tham luận 7: Quyền văn hoá của người dân tộc thiểu số ở Việt Nam
(TS Nguyễn Thị Hồng Yến -Trường Đại học Luật Hà Nội)
11:00 – 11:10 Tham luận 8: Di sản văn hoá, thiên nhiên thế giới và quyền văn
hoá ở Việt Nam
(TS Nguyễn Linh Giang, Viện NN&PL, Viện HLKHXH Việt Nam)
11:10 - 12:00 Thảo luận
Trang 3MỤC LỤC
Trang
1 KHÁI NIỆM, NỘI HÀM CỦA QUYỀN VĂN HÓA 3
PGS TS, Hoàng Văn Nghĩa
2 QUYỀN THAM GIA VÀO ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ THEO LUẬT NHÂN QUYỀN QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM 13
ThS NCS Nguyễn Thùy Dương – PGS.TS Vũ Công Giao
(Khoa Luật ĐHQG Hà Nội)
3 XỬ LÝ VI PHẠM CÁC QUYỀN KINH TẾ, XÃ HỘI, VĂN HOÁ THÔNG QUA CƠ CHẾ TOÀ ÁN: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN 24
ThS NCS Nguyễn Minh Tâm – PGS.TS Vũ Công Giao
(Khoa Luật ĐHQG Hà Nội)
4 SỞ HỮU TRÍ TUỆ VÀ QUYỀN VĂN HÓA 33
TS Nguyễn Bích Thảo
(Bộ môn Luật Dân sự, Khoa Luật ĐHQG Hà Nội)
5 DI SẢN VĂN HOÁ, THIÊN NHIÊN THẾ GIỚI VÀ QUYỀN VĂN HOÁ 44
TS Nguyễn Linh Giang ThS Nghiêm Hoa
6 TỰ DO NGHỆ THUẬT NHƯ MỘT THÀNH TỐ CỦA QUYỀN VĂN HÓA 57
TS Lã Khánh Tùng
(Khoa Luật ĐHQG Hà Nội)
7 QUYỀN TIẾP CẬN VĂN HÓA VÀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ 66
Phạm Văn Chính & Ngô Minh Quân
(Học viên cao học, Khoa Luật ĐHQG Hà Nội)
8 VAI TRÒ CỦA TOÀ ÁN TRONG VIỆC BẢO VỆ QUYỀN VĂN HOÁ: PHÂN TÍCH QUA CÁC VỤ VIỆC ĐƯỢC XÉT XỬ BỞI TOÀ ÁN NHÂN QUYỀN CHÂU ÂU 76
ThS NCS Hoàng Thị Bích Ngọc – PGS.TS Vũ Công Giao
9 QUYỀN VĂN HÓA CỦA NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI VIỆT NAM 88
TS Nguyễn Thị Hồng Yến & TS Mạc Thị Hoài Thương
(Trường Đại học Luật Hà Nội)
10 TRƯỜNG NỮ SINH THỜI PHÁP THUỘC Ở VIỆT NAM: TỪ GÓC NHÌN QUYỀN VĂN HOÁ 106
ThS Nguyễn Hoa Mai
(Tạp chí Lý luận chính trị, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh)
11 QUYỀN VĂN HOÁ TRONG TRUYỀN THÔNG CHÍNH TRỊ HOA KỲ TRƯỜNG HỢP CHÍNH KHÁCH DONALD J TRUMP 114
Bùi Phương Lan
Viện Nghiên cứu Châu Mỹ
Trang 412 TÁC ĐỘNG CỦA HOẠT ĐỘNG DU LỊCH ĐẾN VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN VĂN HOÁ CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ 131
TS Nguyễn Thị Thanh Hải
(Viện Quyền con người, Học viện CTQG Hồ Chí Minh)
13 THỰC HIỆN QUYỀN BẢO TỒN VĂN HOÁ CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP: QUA TRƯỜNG HỢP CỦA DÂN TỘC TÀY 137
Hoàng Thị Thu
(Học viên cao học nhân quyền khoá 6, Khoa Luật ĐHQG Hà Nội)
14 MỐI QUAN HỆ GIỮA VIỆC THỰC HIỆN QUYỀN VĂN HÓA VÀ CHƯƠNG TRÌNH NGHỊ SỰ 2030 VÌ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG: LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 156
Vũ Ngọc Bình
Viện Dân số, Gia đình và Trẻ em (Liên hiệp các Hội Khoa học và Kĩ thuật Việt Nam)
15 THỰC HIỆN CÁC QUYỀN VĂN HÓA TRÊN PHƯƠNG DIỆN PHÁP LUẬT SAU HƠN BA THẬP KỶ ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM 177
Vũ Ngọc Bình
Viện Dân số, Gia đình và Trẻ em (Liên hiệp các Hội Khoa học và Kĩ thuật Việt Nam)
16 PHÁT HUY YẾU TỐ VĂN HOÁ TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG VỤ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU VỀ QUYỀN VĂN HOÁ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 197
TS Vũ Thị Mỹ Hằng
Khoa Nhà nước - Pháp luật và Lý luận cơ sở
Học viện Hành chính Quốc gia
17 QUYỀN HƯỞNG THỤ CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA: NHÌN TỪ CÁC LỄ HỘI VĂN HÓA HIỆN NAY TẠI VIỆT NAM 208
NCS Lê Quỳnh Mai
Học viện An ninh nhân dân
18 NHẬN THỨC PHÁP LÝ VỀ CÁC QUYỀN VĂN HÓA 214
PGS.TS Chu Hồng Thanh
19 QUYỀN VĂN HOÁ VÀ ĐA DẠNG VĂN HOÁ: MỐI LIÊN HỆ VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ, THỰC TIỄN 222
ThS NCS Nguyễn Quang Đức - PGS.TS Vũ Công Giao
20 QUYỀN VĂN HÓA TRONG LUẬT NHÂN QUYỀN QUỐC TẾ 235
Đoàn Văn Nhật - PGS.TS Vũ Công Giao
21 PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ VỀ QUYỀN VĂN HOÁ: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN 252
ThS NCS Lê Thuý Hương – PGS.TS Vũ Công Giao
22 CHÍNH SÁCH VĂN HOÁ VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRONG BẢO ĐẢM CÁC QUYỀN VỀ VĂN HOÁ Ở VIỆT NAM 269
Nguyễn Anh Đức - Vũ Công Giao
Trang 5KHÁI NIỆM, NỘI HÀM CỦA QUYỀN VĂN HÓA
PGS TS, Hoàng Văn Nghĩa x
I KHÁI NIỆM VĂN HÓA VÀ QUYỀN VĂN HÓA
1.1 Văn hoá
Văn hóa, hiểu một cách phổ quát, là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội
và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin.1
Dưới góc độ lịch sử, văn hóa là những gì còn lại sau những chu trình lịch sử khác nhau, qua đó người ta có thể phân biệt được các dân tộc với nhau Cựu Tổng
Giám đốc UNESCO Federico Mayor đã từng khẳng định: "Văn hóa phản ánh và thể
hiện một cách tổng quát và sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và
cả cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành một hệ thông các giá trị, truyền thống thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình".2
Nếu như văn hóa được xem là phạm trù phổ quát về toàn bộ những giá trị sáng tạo của con người, trong đó có vai trò đặc biệt là các giá trị tinh thần và những giá trị vật chất ẩn chứa những giá trị tinh thần ấy, quyền con người nói chung và quyền văn hóa nói riêng là những yêu sách và chế định về sự tự do của con người đối với quá trình sáng tạo ra những giá trị văn hóa đó
Ở nước ta, khái niệm quyền văn hoá, mặc dù là một bộ phận của quyền con
Dưới góc độ luật pháp, quyền về văn hoá ở Việt Nam được ghi nhận trong hoạt động của nhà nước Việt Nam Cùng với các quyền và lợi ích khác của công dân như quyền chính trị (bầu cử, ứng cử), quyền tự do kinh doanh, quyền lao động, quyền học tập, quyền được bảo vệ sức khoẻ… quyền văn hoá được đặt trong tổng thể các quyền cơ bản của con người, và quyền văn hoá là nhân tố quan trọng hàng đầu cho
Nội hàm của quyền văn hoá bao gồm, như đã chỉ ra ở trên, là được tham gia
x Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế, Giảng viên cao cấp, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
1 UNESCO, Cultural Diversity,
http://www.unesco.org/new/en/social-and-human-sciences/themes/international-migration/glossary/cultural-diversity/ (truy cập 12.05.2018)
2 https://unesdoc.unesco.org/ark:/48223/pf0000100184_eng (truy cập 12.05.2018)
3 Bùi Hoài Sơn (2010), Bàn về khái niệm Quyền văn hóa, Hội di sản văn hóa Việt Nam,
http://hoidisan.vn/index.php/dien-dan/143-ban-ve-khai-niem-quyen-van-hoa.html (truy cập 19/7/2010)
4 Phạm Tuấn Khải, “Quyền văn hoá- chế định pháp lý quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam”, bài viết đăng trên website Cổng Thông tin điện tử của Chính phủ:
http://www.chinhphu.vn/portal/page?_pageid=497,29738947&_dad=portal&_schema=PORTAL&pers_id
=29736812&item_id=29861967&p_details=1 ((truy cập 20/7/2010)
Trang 6vào sáng tạo, được thực hành và được hưởng thụ các giá trị văn hóa Các quyền này đều có mối liên hệ chặt chẽ, không thể tách rời Cá nhân sẽ không thể tham gia vào quá trình sáng tạo giá trị văn hóa nếu không được tiếp cận, được thực hành và
hưởng thụ các giá trị do người khác hay cộng đồng sáng tạo ra Quyền được hưởng
thụ văn hoá (trong phạm vi hẹp như việc hưởng thụ các tác phẩm nghệ thuật, các
giá trị văn hoá vật chất hay tinh thần…) và quyền được thể hiện, thực hành văn hoá
- tức là quyền mà các cá nhân và cộng đồng được bày tỏ, thể hiện những sáng tạo mang tính riêng, cá nhân của mình
Cách tiếp cận về quyền một mặt khẳng định chủ thể của quyền và mặt khác chỉ ra trách nhiệm của chủ thể nghĩa vụ Trong mối quan hệ này, cá nhân là chủ thể chính yếu của quyền và Nhà nước là chủ thể nghĩa vụ chính yếu Vì vậy, việc tôn trọng và bảo đảm các quyền về văn hoá cho công dân, trước hết thuộc trách nhiệm của Nhà nước Chẳng hạn, Nhà nước cần tạo ra những sinh hoạt văn hoá, phổ biến những tinh hoa văn hoá của đất nước và thế giới cho người dân Đồng thời, cần tạo điều kiện tối đa cho các cá nhân, cộng đồng, tổ chức được thể hiện văn hoá hay tính sáng tạo của mình.5
Nền văn hóa được xây dựng ở Việt Nam phải là một nền văn hóa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, nghĩa là các chính sách văn hóa phải mang tính nhân văn, vì con người; nhằm mục đích phát huy hết tiềm năng, trí tuệ của con người, thỏa mãn nhu cầu và quyền tiếp cận văn hóa của mỗi cá nhân
Những quan điểm đó của Đảng được thể chế hóa trong Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước, qua sự tham gia của Việt Nam vào các điều ước quốc tế có liên quan đến lĩnh vực văn hóa Sự nhất quán trong chính sách văn hóa của Đảng và Nhà nước Việt Nam là nhằm mục đích đảm bảo quyền hưởng thụ văn hóa của nhân dân một cách cao nhất Chính sách văn hóa đó hoàn toàn phù hợp với xu hướng phát triển của thế giới: đó là đảm bảo sự phát triển của đa dạng văn hóa, và quyền hưởng thụ các giá trị văn hóa nhân loại
Về bản chất, như ở trên chúng ta đã thừa nhận quyền tiếp cận văn hóa là quyền con người cơ bản, mọi người đều bình đẳng trong tiếp cận văn hóa, và các quyền đó được Nhà nước tôn trọng, thừa nhận và bảo đảm thực hiện, đó là: Tự do tôn giáo, tín ngưỡng; Học tập, nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, phát minh, sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật và tham gia các hoạt động văn hoá khác; Quyền được thông tin về lĩnh vực văn hóa; Được Nhà nước bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận văn hoá
Như vậy, khái niệm văn hóa được hiểu theo hai nghĩa Theo nghĩa rộng nhất, văn hóa là toàn bộ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra nhằm
5Bùi Hoài Sơn (2010), Bàn về khái niệm Quyền văn hóa, Hội di sản văn hóa Việt Nam,
http://hoidisan.vn/index.php/dien-dan/143-ban-ve-khai-niem-quyen-van-hoa.html (truy cập 19/7/2010)
Trang 7mục đích phục vụ cho sự tồn tại và phát triển của con người Theo nghĩa này, văn hóa có mặt trong toàn bộ hoạt động sống của con người, từ hoạt động sản xuất vật chất, tổ chức xã hội đến sản xuất tinh thần Văn hóa là phẩm chất trí tuệ và năng lực sáng tạo hướng tới cái đúng, cái tốt, cái đẹp để nhân đạo hóa xã hội và hoàn thiện nhân cách con người Theo nghĩa hẹp hơn, văn hóa liên quan toàn bộ hoạt động tinh thần của xã hội Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (1998) đã giới hạn khái niệm văn hóa trong các lĩnh vực chủ yếu là xây dựng con người, xây dựng môi trường văn hóa; phát triển văn học, nghệ thuật; thông tin đại chúng; giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ; bảo vệ di sản văn hóa, bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số; chính sách văn hóa trong tôn giáo Đây là những lĩnh vực liên quan mật thiết tới việc xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội
1.2 Quyền văn hóa và quyền tiếp cận văn hóa
Quyền văn hóa (QVH) là quyền cơ bản của mỗi cá nhân hay cộng đồng được tham gia vào đời sống văn hóa, được hưởng thụ và sáng tạo ra các giá trị văn hóa nhằm khẳng định mình với tính cách là những nhân cách văn hóa và nhân tính tự
do QVH là những quyền của con người trên lĩnh vực văn hóa, bao gồm quyền: a) được tham gia vào đời sống văn hoá; b) được hưởng các lợi ích và những ứng dụng của tiến bộ khoa học phục vụ cho lợi ích con người; c) được bảo hộ các quyền lợi
về tinh thần và vật chất phái sinh từ bất cứ sáng tạo khoa học, văn học, nghệ thuật nào của mình; d) và quyền tự do không thể bị tước bỏ khỏi hoạt động sáng tạo và nghiên cứu khoa học
Quyền được tiếp cận văn hóa (QTCVH), theo nghĩa hẹp, là quyền được tham gia vào đời sống văn hóa Tuy nhiên, con người tham gia vào đời sống văn hóa không chỉ với tính cách là những chủ thể bị động, đơn lẻ và biệt lập; trái lại, với tính cách là những chủ thể tích cực, sáng tạo và trong mối liên hệ mật thiết với cộng đồng, xã hội và với toàn bộ quá trình khẳng định và hoàn thiện nhân cách văn hóa
và nhân tính tự do của chính mình Vì vậy, QTCVH, theo nghĩa rộng nhất của từ này, chính là quyền văn hóa QTCVH (access to culture) chỉ ra bản chất và nội hàm của chủ thể sở hữu quyền đó và của chủ thể nghĩa vụ phải đáp ứng Nó chỉ ra sự tiếp cận bao hàm việc tham gia đầy đủ và sâu rộng vào toàn bộ quá trình sản xuất ra đời sống văn hóa, cũng như vào việc thể hiện, thực hành và sáng tạo ra các giá trị văn hóa Trong phạm vi đề tài này, QTCVH và QVH là hai khái niệm được sử dụng thay thế lẫn nhau và mang ý nghĩa đồng nhất
1.3 Quyền văn hóa với tính cách là một quyền con người cơ bản
Văn hóa là một phạm trù rộng lớn, có hàng trăm định nghĩa khác nhau và cộng đồng quốc tế vẫn chưa có một cách hiểu chung và văn hóa Có thể nhận thấy
Trang 8rằng, khái niệm “văn hóa” (culture) không dễ dàng được định nghĩa một cách chính xác và được thống nhất trong cách hiểu đơn nhất của cộng đồng quốc tế Một số học
giả quan niệm rằng “văn hóa là tổng thể các hành vi và ý thức của một nhóm người
có chung truyền thống, thứ mà được chuyển giao và củng cố bởi các thành viên trong nhóm người đó”, hoặc là “những hoạt động nghệ thuật và xã hội, sự bày tỏ và các giá trị được thưởng thức bởi xã hội hoặc giai cấp, qua những tác phẩm nghệ thuật, phong tục hay trang phục…”.6 Do đó, việc bảo vệ văn hóa trong luật nhân quyền bao hàm hai nội dung: trước hết là quyền của con người được thực hiện và tiếp tục thực hiện các hoạt động truyền thống của dân tộc, cộng đồng mình Thứ hai, việc bảo vệ văn hóa trong hệ thống pháp luật quốc tế bao gồm cả bảo vệ các hoạt
văn hóa là một khái niệm “ẩn”, nó có thể có rất nhiều định nghĩa Lý do là bởi vì nó bao hàm rất nhiều yếu tố không chỉ bao gồm lòng tin, sự hiểu biết, tình cảm, văn học nghệ thuật mà còn là cả ngôn ngữ và hệ thống các biểu tượng khác, những thứ được coi như phương tiện để thể hiện Ngoài ra, nó cũng có thể bao hàm cả các nội dung khác nữa, như các mối quan hệ thân thuộc, phương pháp giáo dục, tập tục trong quan hệ xã hội, tập tục trong gia đình, các hoạt động sáng tạo nghệ thuật… Văn hóa có thể được xem như một dạng đặc biệt của đạo đức và sự giao tiếp trong
và tập thể Từng cá nhân đơn lẻ sẽ là người đại diện trong việc bày tỏ văn hóa, ví dụ: là một nhân tố để đưa văn hóa vào đời sống thực tế Do vậy, văn hóa không thể tồn tại một cách trừu tượng, nó tồn tại thông qua hoạt động của các cá nhân tham gia Hơn nữa, các hoạt động này sẽ tạo ra một hệ thống các giá trị và biểu tượng-
Văn hoá là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo
ra trong quá trình lịch sử bằng lao động của mình và được nhân lên trong đời sống
và lao động Văn hoá là tài sản chung của nhân loại và nó có một vị trí, vai trò cực
kỳ to lớn đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi con người, mỗi cộng đồng, mỗi quốc gia Chúng ta đều biết rằng, các dân tộc khác nhau thì có sự phát triển và sở hữu các nền văn hoá khác nhau, do đó, việc bảo vệ và phát triển văn hoá chính là tiêu chí để xác định sự bình đẳng và phát triển giữa các dân tộc, là thước đo quan trọng để đánh giá việc tôn trọng, bảo vệ và thực hiện các quyền con người Với những ý nghĩa trên, quyền văn hoá là một nội dung cơ bản, quan trọng của quyền
6Từ điển Collins English Dictionary, Culture (Văn hóa),
https://www.collinsdictionary.com/dictionary/english/culture (truy cập ngày 12.10.2010)
7 Human rights Education Associates (Hiệp hội Giáo dục quyền con người), Quyền văn hóa (Right to
culture), http://www.hrea.org/?s=cultural+rights&submit=Go&lang=en (truy cập ngày 20/10/2009)
8 UNESCO, The right to culure, http://www.unesco.org/new/en/kabul/culture/programmes-and-projects/the-right-to-culture/ (truy cập 10.12.2018)
9 Như trên
Trang 9con người và trở thành mối quan tâm của nhiều tổ chức quốc tế, trở thành vấn đề thu hút sự chú ý và gây nhiều tranh luận trên nhiều diễn đàn trong nước, khu vực
và quốc tế
Xuất phát từ chính sự đa dạng trong cách định nghĩa về văn hóa như vậy mà các học giả cũng đưa ra nhiều quan điểm của mình về “quyền văn hóa” Pháp luật của hầu hết các quốc gia đều cho rằng mỗi người sinh ra đều đã có quyền về văn hóa, bao gồm quyền hưởng thụ và phát triển đời sống văn hóa riêng của mình Về ý nghĩa của quyền văn hóa, nhiều học giả đánh giá rằng quyền văn hóa là vấn đề trung tâm trong việc cân nhắc đến các quyền con người nhằm hướng đến một xã hội trật tự hơn Trật tự này không chỉ bao gồm sự công bằng mà còn có cả quan điểm thừa nhận sự đa dạng của các nền văn hóa cũng như sự hiểu biết rằng quyền văn
cần thiết cho việc tôn vinh và bảo vệ sự sáng tạo, cũng như truyền thống của con
không bị bất kỳ sự can thiệp nào từ phía nhà nước thì chính là một quyền con người Tuy nhiên, quyền văn hóa, suy cho cùng, cũng không phải là thứ không có
Cho đến nay, vấn đề quyền văn hóa vẫn chưa được hiểu biết một cách thấu đáo và được bảo vệ chặt chẽ dưới góc độ pháp luật quốc tế Điều này là bởi vì sự phức tạp của vấn đề và thực tế quyền này cũng mới chỉ thật sự được chú ý đến thời gian gần đây Tuy vậy, có một điểm chung là, dưới hệ thống pháp luật quốc tế về quyền con người thì bất kỳ một chính phủ/quốc gia nào cũng đều phải có trách nhiệm thúc đẩy
và gìn giữ các hoạt động văn hóa, các tạo tác của nhân loại, đặc biệt là những thứ mang giá trị toàn cầu.13
Quyền tiếp cận văn hoá là một quyền con người cơ bản được quy định và bảo vệ bằng chế độ pháp lý quốc tế, khu vực và quốc gia Trong hệ thống luật nhân quyền quốc tế, quyền văn hoá thuộc nhóm quyền kinh tế xã hội và văn hoá, được quy định và cụ thể hoá trong nhiều văn kiện quốc tế quan trọng về quyền con người, đặc biệt là trong Tuyên ngôn Thế giới về quyền con người (do Đại hội đồng LHQ thông qua năm 1948) và Công ước quyền kinh tế-xã hội và văn hóa (năm 1966)
Điều 27, Tuyên ngôn thế giới về quyền con người khẳng định: “Mọi người đều có
quyền tham gia vào đời sống văn hoá của cộng đồng, quyền thưởng thức nghệ thuật
và được chia sẻ những tiến bộ khoa học cũng như những lợi ích mà chúng đem
10 Như trên;
11 Human rights Education Associates (Hiệp hội Giáo dục quyền con người), Quyền văn hóa (Right to
culture), http://www.hrea.org/?s=cultural+rights&submit=Go&lang=en (truy cập ngày 20/10/2009)
12 Diana Ayton-Shenker, The Challenge of Human Rights and Cultural Diversity, xuất bản bởi the United
Nations Department of Public Information DPI/1627/HR—tháng 3/1995
13 Human rights Education Associates (Hiệp hội Giáo dục quyền con người), Quyền văn hóa (Right to
culture), http://www.hrea.org/?s=cultural+rights&submit=Go&lang=en (truy cập ngày 20/10/2009)
Trang 10lại”1, đồng thời “Mỗi người đều có quyền bảo vệ các quyền lợi vật chất và tinh thần
phát minh từ bất kỳ sáng tạo khoa học, văn học nghệ thuật nào của chính mình”2 Điều 15 Công ước quốc tế về các quyền kinh tế- xã hội văn hóa (Công ước QKTXH-VH) quy định các quốc gia thành viên Công ước thừa nhận mọi người đều
có quyền: a) Được tham gia vào đời sống văn hoá; b) Được hưởng các lợi ích của
tiến bộ khoa học và các ứng dụng của nó; c) Được bảo hộ các quyền lợi tinh thần
và vật chất phát sinh từ bất kỳ sáng tạo khoa học, văn học nghệ thuật nào của mình; d) Quyền tự do không thể bị tước bỏ khỏi hoạt động sáng tạo và nghiên cứu khoa học…’ Đồng thời Công ước QKTXH-VH xác lập nguyên tắc theo đó, các quốc gia
hội viên ký kết Công ước này cam kết sẽ ban hành những biện pháp cần thiết trong việc bảo tồn, phát triển và phổ biến khoa học và văn hóa; cam kết tôn trọng quyền tự
do cần thiết cho việc nghiên cứu khoa học và sáng tạo văn học nghệ thuật; ghi nhận những lợi ích trong việc khuyến khích và phát triển những liên lạc và hợp tác quốc tế trên lãnh vực khoa học và văn hóa.’ (Điều 15 (2,3,4) Công ước QKTXH-VH)
Theo Ủy ban về các quyền kinh tế xã hội và văn hóa của Liên Hợp Quốc, các quốc gia thành viên cần phải cung cấp thông tin về việc tạo lập quỹ cho việc thúc đẩy, phát triển văn hóa và tham gia rộng rãi vào đời sống văn hóa bao gồm hỗ trợ cho các sáng kiến cá nhân; thiết lập các thiết chế cơ sở hạ tầng cho việc thực hiện chính sách thúc đẩy, phát triển và tham gia rộng rãi vào đời sống văn hóa bao gồm hỗ trợ cho các sáng kiến cá nhân, thiết lập các thiết chế cơ sở hạ tầng cho việc thực hiện chính sách thúc đẩy và tham gia rộng rãi vào hoạt động văn hóa như các trung tâm văn hóa, nhà bảo tàng, thư viện, nhà hát, rạp chiếu bóng và biểu diễn nghệ thuật truyền thống
Liên quan chặt chẽ đến quyền văn hóa và hưởng thụ các kết quả và tiến bộ khoa học kỹ thuật, trong đó:
Thứ nhất: nhà nước có trách nhiệm tôn trọng quyền tự do của cá nhân, tìm
kiếm và nhận thông tin về phát triển khoa học vào đời sống và áp dụng như là kết quả của tiến bộ khoa học kỹ thuật
Thứ hai, nhà nước có trách nhiệm bảo vệ quyền của cá nhân được hưởng thụ
các phúc lợi từ tiến bộ khoa học đó Điều 15 (4) Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa cũng quy định trách nhiệm của Nhà nước phải khuyến khích, phát triển các mối quan hệ và hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực khoa học và văn hoá…
Thứ ba, Nhà nước cần thực hiện tận tâm có trách nhiệm đối với các công ước
quốc tế về quyền con người nói chung và quyền văn hóa nói riêng, đặc biệt trong việc ban hành các chương trình hành động và kế hoạch hàng năm về việc thực hiện các quyền con người (trong đó có quyền văn hóa)
(1)(2) Một số văn kiện quốc tế về quyền con người, H 2002, tr 28