1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Các biện pháp tăng cường hợp tác quốc tế chống tội phạm ma túy nêu và phân tích khái quát nội dung của các văn bản trong khung pháp lí của interpol

7 196 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ví dụ: Liên hợp quốc 1977; Interpol 1991; Aseanapol 1995… Thông qua các tổ chức này cảnh sát Việt Nam cùng với cảnh sát các nước trong khu vực tham gia phòng chống tội phạm có hiệu quả,

Trang 1

1. Các biện pháp tăng cường hợp tác quốc tế chống tội phạm ma túy

a Một vài số liệu và tình hình hợp tác quốc tế chống tội phạm ma túy của Việt Nam

- Theo số liệu của Tổ chức phòng chống tội phạm và ma tuý của Liên hợp quốc (UNODC) công bố tại Hội nghị HONLEA tháng 11/2005 thì số lượng thuốc phiện bất hợp pháp được sản xuất trên thế giới năm 2004 là gần 5.000 tấn (tăng 76 lần so với năm 2003), riêng Afganistan chiếm khoảng 87% Việc sản xuất lá coca khô ở 3 nước khu vực Andean năm 2004 ước tính là 244.200 tấn (tăng 3% so với năm 2003) Sản xuất cocain từ lá cây côca ước tính là 687 tấn (tăng 2% so với năm trước) Tổng số vụ bắt giữ trên toàn cầu về thuốc phiện năm 2004 tăng 8% lên 120 tấn gồm heroin, moocphin và thuốc phiện Châu á đứng đầu về số vụ bắt giữ thuốc phiện là 89% Các quốc gia châu á bắt giữ tăng

là ấn Độ 2,2 tấn; Thái Lan 1,2 tấn; Trung Quốc 809 kg Riêng heroin năm 2004 toàn cầu sản xuất ước tính 485 tấn, đã bắt giữ 59,5 tấn, trong đó Châu á 52%, châu Âu 39%, châu Mỹ 8% và châu Phi, châu Đại dương 1% Riêng Trung Quốc bắt giữ 10,4 tấn, Thổ Nhĩ Kỳ 8,9 tấn Năm 2004 toàn cầu thu giữ: 6.206 tấn cần sa; số vụ thu giữ cocain tăng 17% (gần 600 tấn); tiền chất quan trọng như pecmaganat thu hơn 640 tấn; Afganistan thu 375 lít acetic anhydric, 675 kg amonium ATS là loại ma tuý bị bắt giữ tăng nhanh nhất (trên 25 tấn), trong đó Methamphetamine chiếm 68%, Amphetamine 17%, thuốc lắc 13%, 2% chưa được phân loại Toàn cầu hiện có khoảng 200 triệu người nghiện ma tuý, trong

đó có 160,9 triệu người nghiện sử dụng cần sa; 26,2 triệu người sử dụng Amphetamine; 7,9 triệu người sử dụng Ecstacy; 13,7 triệu người sử dụng cocain; 15,9 triệu người sử dụng thuốc phiện và 10,6 triệu người sử dụng heroin Trong những năm gần đây, tổng số người nghiện ở Việt Nam có trên 143.000 người, trong đó số người sử dụng heroin chiếm 83,1%, diện tích trồng thuốc phiện đã giảm, chỉ còn 28ha vào niên vụ 2010-2011 Năm 2010 đã triệt phá được hơn 1.100 tụ điểm phức tạp về ma túy…

- Ma túy và tội phạm về ma túy đang là hiểm họa không chỉ của riêng Việt Nam mà còn là hiểm họa của toàn cầu, ma túy làm suy thoái giống nòi, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Chính vì vậy công tác đấu tranh phòng chống tội phạm về ma túy đã và đang được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm và lo lắng Nhất là trong bối cảnh tình hình tội phạm ma túy đang ngày càng diễn biến phức tạp với những thủ đoạn tinh vi và có xu hướng xuyên quốc gia thì việc hợp

tác quốc tế trong phòng chống loại tội phạm này là xu thế tất yếu Hợp tác quốc

tế trong phòng, chống tội phạm ma túy được hiểu là các biện pháp tạo ra sự phối hợp giữa các quốc gia hay các tổ chức quốc tế trong hoạt động phòng chống tội phạm ma túy Sự hợp tác này bao gồm việc trao đổi các thông tin về

Trang 2

tình hình tội phạm, trao đổi kinh nghiệm, đào tạo cán bộ, hỗ trợ tài chính, phương tiện kỹ thuật, xây dựng pháp luật, phát hiện, điều tra, bắt giữ, dẫn độ tội phạm…

- Tình hình hợp tác quốc tế trong phòng, chống tội phạm ma túy ở Việt Nam:

+ Ngày 01 tháng 09 năm 1997, thông qua Quyết định số : 798/QĐ-CTN, Việt Nam đã ra nhập 3 công ước của Liên Hợp quốc về kiểm soát ma túy gồm: 1 Công ước thống nhất về các chất ma túy năm 1961 (đã được sửa đổi theo Nghị định thư năm 1972 sửa đổi công ước thống nhất về các chất ma túy năm 1961);

2 Công ước về các chất hướng thần năm 1971; 3 Công ước của Liên Hợp quốc

về chống buôn bán bất hợp pháp các chất ma túy và các chất hướng thần năm

1988 Năm 2000, Việt Nam tham gia Công ước Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia; năm 2003 là thành viên của Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng v.v

+ Việt Nam tham gia các điều ước quốc tế về phòng chống tội phạm đa phương, khu vực song phương Ví dụ: Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với Lào, Liên bang Nga, Trung Quốc, Cộng hòa Pháp, Ucraina… Ngoài ra, cấp chính phủ, Việt Nam còn ký một số hiệp định: Hiệp định về chống ma túy Việt Nam – Thái Lan (1998); Việt Nam – Lào (1998); Việt Nam – Campuchia (1998)

+ Việt Nam cũng tham gia các tổ chức quốc tế toàn cầu và khu vực có chức năng phòng chống tội phạm Ví dụ: Liên hợp quốc (1977); Interpol (1991); Aseanapol (1995)… Thông qua các tổ chức này cảnh sát Việt Nam cùng với cảnh sát các nước trong khu vực tham gia phòng chống tội phạm có hiệu quả, đặc biệt là các tội phạm ma túy

b Các biện pháp tăng cường hợp tác quốc tế về chống tội phạm ma túy Thứ nhất, tăng cường hợp tác với các cơ quan cảnh sát, Bộ Nội vụ, Bộ Công

an, Bộ Tư pháp các nước mà ở đó tình hình tội phạm liên quan đến Việt Nam có những diễn biến phức tạp Chủ động và tích cực tham gia các khuôn khổ hợp tác song phương và đa phương Tận dụng tối đa sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế, phối hợp với cảnh sát các nước trong việc trao đổi thông tin, kinh nghiệm phòng ngừa, phát hiện và đấu tranh chống tội phạm xuyên quốc gia; Thiết lập các văn phòng thông tin liên lạc qua biên giới tại các nước có chung đường biên giới với Việt Nam

Thứ hai, đấu tranh chống tội phạm ma túy có tổ chức, đặc biệt là tội phạm có

tổ chức xuyên quốc gia đòi hỏi phải có lực lượng có tính chuyên môn cao, những cán bộ giỏi về nghiệp vụ, hiểu biết sâu cả về luật pháp của Việt nam và quốc tế, có trình độ ngoại ngữ, tâm huyết, nghiêm túc trong công việc và đặc biệt là kinh nghiệm trong hợp tác quốc tế đấu trang chống tội phạm ma túy

Trang 3

Thành lập lực lượng chuyên trách chống tội phạm xuyên quốc gia là điều rất cần thiết, tăng cường xây dựng lực lượng chuyên trách trong công tác đấu tranh chống tội phạm có yếu tố nước ngoài, tội phạm xuyên quốc gia theo từng hệ nghiệp vụ từ trung ương đến địa phương nhằm chủ động phòng ngừa, phát hiện

và xử lý các vụ án có yếu tố nước ngoài, có tính chất xuyên quốc gia liên quan đến Việt Nam Chú trọng công tác xây dựng lực lượng trong sạch, vững mạnh; nâng cao kiến thức về ngoại ngữ, tin học, kiến thức về nghiệp vụ, pháp luật, tập quán quốc tế, đồng thời tăng cường đầu tư kinh phí, trang thiết bị, phương tiện hiện đại đáp ứng kịp thời yêu cầu hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm ma túy của lực lượng công an nhân dân nói chung và lực lượng Cảnh sát Nhân dân trong tình hình mới

Thứ ba, tổ chức các hoạt động tập huấn, sự hội nghị, hội thảo mời các nước

tham gia; cùng với đó tích cực chia sẻ kinh nghiệm hợp tác phòng chống tội phạm ma túy của nước mình cũng như tham gia vào các hoạt động tham quan học hỏi kinh nghiệm lập pháp của các quốc gia khác Đa dạng hóa hình thức nội dung trao đổi kinh nghiệm đấu tranh phòng ngừa tội phạm về ma túy, xây dựng

cơ chế tin cậy trong việc cung cấp và tiếp nhận thông tin về tội phạm ma túy có

tổ chức xuyên quốc gia

Thứ tư, Interpol Việt Nam là cơ quan đại diện thường trực cho lực lượng

cảnh sát nhân dân Việt Nam về hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng chống tội phạm cần mở rộng và phối hợp chặt chẽ với các tổ chức quốc tế có liên quan, đặc biệt là Interpol, Aseanpol, Hiệp hội Tội phạm học quốc tế về mọi mặt trong hợp tác đấu tranh tội phạm ma túy Qua đó làm cầu nối cung cấp thông tin với các cơ quan chức năng đấu tranh phòng chống tội phạm ma túy, các viện trung tâm nghiên cứu liên quan đến công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm trong nước Nhằm trao đổi, nghiên cứu, dự báo tình hình tội phạm, chủ động đánh giá thực trạng và dự báo xu thế phát triển của các loại tội phạm nói chung

và tội phạm xuyên quốc gia liên quan đến Việt Nam nói riêng đưa ra các kiến nghị đề xuất phương án đấu tranh phối hợp giữa các nước sao cho sát với tình hình thực tiễn để đạt được hiệu quả cao nhất

Hợp tác quốc tế đã góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm ma tuý Số vụ án ma tuý khám phá tăng, số đối tượng bắt giữ tăng, mở rộng được nhiều vụ án xuyên quốc gia liên quan đến quốc tế; phối hợp quản lý buôn bán tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma tuý; nâng cao hiệu quả trao đổi thông tin… Thực tế những năm qua, thông qua các hoạt động hợp tác quốc tế trong phòng, chống ma tuý chúng ta đã học hỏi và trao dổi được nhiều kinh nghiệm phòng, chống ma

Trang 4

tuý từ các nước, tranh thủ được sự ủng hộ, giúp đỡ về đào tạo cán bộ, cai nghiện về kinh phí, trang thiết bị của các quốc gia Tuy nhiên với tình hình tội phạm ma tuý ở Việt Nam cũng như nhiều quốc gia trên thế giới vẫn gia tăng và ngày càng cónhiều diễn biến phức tạp thì công cuộc đấu tranh phòng, chống ma tuý của Việt Nam cũng như trên toàn cầu sẽ còn kéo dài và đối mặt với nhiều thách thức hơn nữa.

2 Nêu và phân tích khái quát nội dung của các văn bản trong khung pháp lí của Interpol

 Hệ thống các văn bản trong khung pháp lí của Interpol:

- Điều lệ của Interpol (The constitution)

- Những quy định chung (The general regulations)

- Những quy tắc về thủ tục của Đại hội đồng ( Rules of the Proceduce of the General Assembly)

- Những quy định điều chỉnh việc xử lí thông tin ( Rules governing the processing of information)

- Những quy định về kiểm soát thông tin và truy cập hồ sơ của Interpol (Rules on the Control of Information and access to INTERPOL's Files)

- Những quy định về tài chính (Financial regulations)

a Điều lệ của Interpol

Được ban hành bởi Đại hội đồng tại kỳ họp lần thứ 25 tại Vienna (Áo) năm

1956 và có hiệu lực ngày13/6/1956 Đây được xem là nền tảng pháp lí quan trọng thiết lập tạo cơ sở pháp lý cơ bản cho tổ chức và hoạt động của Interpol

- Tên tổ chức và trụ sở (Điều 1): Interpol là tên gọi thường dùng của Tổ chức Cảnh sát Hình sự Quốc tế (tiếng Anh: International Criminal Police Organization - ICPO) Trụ sở đặt tại Lyon, Pháp và có văn phòng đại diện ở 7 quốc gia

- Mục đích của tổ chức (Điều 2): bảo đảm và khuyến khích sự tương trợ ở phạm vi rộng thiết lập giữa các cơ quan cảnh sát hình sự trong giới hạn của các văn bản pháp lí hiện hành ở các quốc gia để ngăn chặn các tội phạm được quy định trong luật hình sự Điều lệ quy định việc hợp tác cản sát quốc tế được thực hiện trong khuôn khổ tinh thần của Tuyên ngôn Toàn cầu về Nhân quyền Ví dụ: cam kết về đảm bảo quyền con người được thể hiện qua sự hợp tác quốc tế của

tổ chức với các Tòa án và Tòa án quốc tế và quy trình làm việc cẩn trọng với vấn đề dữ liệu cá nhân

- Tính trung lập của tổ chức (Điều 3): Interpol bị nghiêm cấm thực hiện những hoạt động điều tra hoặc can thiệp mang tính chính trị, quân sự, tôn giáo hoặc chủng tộc Quy định này nhằm đảm bảo sự hợp tác rộng nhất có thể giữa

cơ quan cảnh sát của các quốc gia thành viên

Trang 5

- Tư cách thành viên (Điều 4): quy định tiến trình và thủ tục để trở thành quốc gia thành viên của Tổ chức

- Điều lệ quy định khái quát cơ cấu tổ chức, vai trò của từng bộ phận của Interpol:

+ Đại hội đồng (Điều 5 đến Điều 14): đây là cơ quan quyền lực cao nhất của tổ chức

+ Ban lãnh đạo (Ban điều hành – Điều 15-24)

+ Ban Tổng thư kí (Điều 25-30)

+ Các văn phòng Interpol quốc gia (Văn phòng trung tâm quốc gia – Điều 31 đến Điều 33)

+ Ban cố vấn (Điều 34-35)

+ Ủy ban kiểm soát hồ sơ của Interpol (Điều 36-37)

- Ngân sách và các nguồn tài chính (Điều 38-40)

- Mối quan hệ với các tổ chức khác (Điều 41)

- Các điều luật về áp dụng, sửa đổi và giải thích Điều lệ (Điều 42-44)

b Những quy định chung

Điều chỉnh vấn đề tổ chức và các cuộc họp của Đại hội đồng, bên cạnh đó điều chỉnh cả những vấn đề khác như lựa chọn thành viên của Ban lãnh đạo và Ban tổng thư ký, thông qua ngân sách của Tổ chức và những chức năng thực tiễn khác, tuy nhiên không quy định những chức năng cơ bản của tổ chức

c Những quy tắc về thủ tục của Đại hội đồng

- Những chức năng của Đại hội đồng: quyết định duyệt đơn xin trở thành thành viên của Tổ chức theo điều 4 của Điều lệ, sửa đổi Điều lệ và các quy định chung, kiểm tra và thông qua chương trình chung cho các hoạt động do Tổng thư kí chuẩn bị cho năm tiếp theo…(Điều 1)

- Các kì họp thường kì, địa điểm, thời gian họp (Điều 2-4)

- Mời họp, mời các quan sát viên (Điều 5-6)

- Các đoàn đại biểu (Điều 7)

- Kiểm tra tư ủy nhiệm (Điều 8)

- Các kì họp bất thường (Điều 9)

- Chuẩn bị chương trình, những nội dung, sửa đổi, quyết định chương trình nghị sự chính thức (Điều 10-13)

- Trao đổi những văn bản làm việc tại kì họp (Điều 14)

- Chương trình nghị sự của kì họp bất thường (Điều 15)

Trang 6

- Những trách nhiệm của quốc gia chủ nhà trong các kì họp của Đại hội đồng (Điều 17)

- Chỗ ngồi của các đại biểu, trật tự Alphabet, sự tham gia của công luận (Điều 18-20)

- Chủ tọa và chỉ đạo các kì họp (Điều 21)

- Quyền phát biểu và danh sách người phát biểu, Quyền phát biểu của quan sát viên (Điều 22-23)

- Phát ngôn bởi Tổng thư kí hoặc người đại diện (Điều 24)

d Các quy tắc điều chỉnh việc xử lí thông tin và các quy tắc kiểm soát thông tin và truy cập hồ sơ của Interpol

Để đảm bảo cho các hoạt động trao đổi thông tin được thực hiện hiệu quả và bảo mật, các văn bản trên đã được ban hành Các mức độ kiểm soát khác nhau được đặt ra để đảm bảo tương thích với các nguyên tắc này Các nguyên tắc này liên quan đến việc kiểm soát thông tin bởi Văn phòng Interpol quốc gia, Ban Tổng thư kí và bởi bộ phận kiểm soát độc lập được biết đến dưới tên gọi Ủy ban kiểm soát hồ sơ của Interpol Bên cạnh đó, việc trao đổi thông tin giữa 190 quốc gia thàn viên của Interpol được thực hiện theo các hướng dẫn khắt khe và chặt chẽ để đảm bảo tín hợp pháp và chất lượng của thông tin cũng như bảo vệ các

dữ liệu về cá nhân

- Những quy tắc về xử lí thông tin về mục đích hợp tác cảnh sát quốc tế Điều 1 đưa ra các định nghĩa như thông tin, thông tin cá nhân, thông tin đặc biệt nhạy cảm, nguồn cung thông tin, hệ thống thông tin cảnh sát, xử lí thông tin….; Điều 2 quy định mục đích: hợp tác cảnh sát quốc tế và những mục đích khác và phạm vi áp dụng của văn bản: áp dụng với Ban tổng thư kí, các văn phòng Interpol quốc gia, các cơ quan quốc gia có thẩm quyền và các thực thể quốc tế có thẩm quyền sử dụng hệ thống thông tin quá cảnh; Điều 3 cụ thể hóa những mục đích mà thông tin được xử lí Mục đích hợp tác cảnh sát quốc tế: để thực hiện việc tìm kiếm mục đích bắt giữ, thu thập thông tin về người đã thực hiện tội phạm hoặc có nguy cơ thực hiện tội phạm hoặc tham gia vào vụ đồng phạm, cảnh báo cơ quan cảnh sát về các hàn vi phạm tội của một người, để tìm kiếm nạn nhân nhân chứng người mất tích, nhận dạng người chết; Mục đích hợp tác khác: mục đích mang tính chất hành chính, nghiên cứu khoa học, bảo vệ lợi ích của tổ chức; Điều 4 quy định vai trò của Ban Tổng thư kí trong xử lí thông tin, yêu cầu cung cấp thông tin, kí các thỏa thuận hợp tác liên quan đến trao đổi thông tin; Điều 5 quy định vai trò của các thực thể (quốc gia, quốc tế) trong việc

xử lí thông tin; Điều 6 quy định về cơ sở dữ liệu của Tổ chức; Điều 7 quy định

về quyền xử lí thông tin của Ủy ban kiểm soát hồ sơ của Interpol; Điều 8 quy định về tính tin cậy của thông tin; Điều 9 quy định về an toàn của việc xử lí

Trang 7

thông tin; Điều 10 quy định những điều kiện chung đối với việc xử lí thông tin (thông tin đặc biệt nhạy cảm, thông tin được tách ra…); Điều 12 quy định về các trường hợp Ban Tổng thư kí phải tư vấn nguồn cung cấp thông tin; Điều 15 quy định về sửa chữa khóa hoặc xóa bỏ thông tin; Điều 18 quy định các phương pháp cung cấp thông tin; Điều 20 chỉ đạo việc truy cập, tải dữ liệu xuống và kết nối quốc tế

- Những quy tắc về kiểm soát thông tin và truy cập hồ sơ của Interpol

Văn bản này điều chỉnh các vấn đề về kiểm soát thông tin và truy cập hồ sơ theo yêu cầu của các cá nhân có liên quan: vai trò của Ủy ban kiểm soát hỗ trợ của Interpol (Điều 1); thành phần của Ủy ban này (Điều 2); nhiệm kì của thành viên Ủy ban (Điều 3); những vấn đề có thể yêu cầu và gửi tới Ủy ban (Điều 4); việc thực hiện chức năng của Ủy ban (Điều 5); việc xử lí kết quả xác minh thông tin bởi Ủy ban; nhiệm vụ của Ban thư kí của Ủy ban; Các điều kiện và thủ tục truy cập thông tin cá nhân và hồ sơ của Interpol (Điều 10)

e Những quy định về tài chính

Là văn bản pháp lý quy định về nguồn tài chính và việc quản lý các nguồn này của Interpol Văn bản này quy định những vấn đề như bộ phận nào có thẩm quyền cam kết với những nguồn cung cấp tài chính, xây dựng dự thảo ngân sách

và thực hiện ngân sách, các tài sản và các quỹ của Tổ chức cũng như việc kiểm toán

* Nhằm thực hiện sứ mệnh hợp tác với các tổ chức khác để chống tội phạm quốc

tế, Interpol đã kí một số thỏa thuận hợp tác với các tổ chức quốc tế bao gồm cả Liên hợp quốc và Liên minh Châu Âu, nhiều công ước quốc tế và Hiệp định song phương đã đề cập đến Interpol như một phương tiện chuyển giao những tin tức tình báo đáng tin cậy nhất

=> Interpol đã tạo được khung pháp lí toàn diện về cả cơ cấu lẫn tổ chức Tất

cả đều được quy định chi tiết theo một trình tự rõ ràng cụ thể Đây chính là cơ

sở để Interpol trở thành một tổ chức lớn mạnh và có uy tín nhất hiện nay trong công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm quốc tế.

Ngày đăng: 25/03/2019, 09:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w