Vì vậy, nhờ sự hiểu biết về mối liên hệ sâu sắc giữa đất ngập nước và văn hóa liên quan đến đất ngập nước, nhận thức rõ về tầm quan trọng giữa bảo tồn văn hóa và bảo tồn đất ngập nước,[r]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
-
VŨ THỊ MÙI
PHÂN TÍCH MỐI LIÊN HỆ GIỮA BẢO TỒN VĂN HÓA VÀ BẢO TỒN ĐẤT NGẬP NƯỚC: TRƯỜNG HỢP THỰC TẾ ĐỐI VỚI VÙNG ĐẤT NGẬP NƯỚC THUỘC VÙNG CỬA
SÔNG HỒNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
*********
VŨ THỊ MÙI
PHÂN TÍCH MỐI LIÊN HỆ GIỮA BẢO TỒN VĂN HÓA VÀ BẢO TỒN ĐẤT NGẬP NƯỚC: TRƯỜNG HỢP THỰC TẾ ĐỐI VỚI VÙNG ĐẤT NGẬP NƯỚC THUỘC VÙNG CỬA
SÔNG HỒNG
Chuyên ngành: Môi trường trong phát triển bền vững
(Chương trình đào tạo thí điểm)
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS LÊ DIÊN DỰC
Trang 3LỜI CẢM ƠN Luận văn tốt nghiệp cao học được hoàn thành tại Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường, có được bản luận văn tốt nghiệp này, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường đặc biệt là PGS.TS Lê Diên Dực đã trực tiếp hướng dẫn, dìu dắt và giúp đỡ tác giả với những chỉ dẫn quý giá trong suốt quá trình triển khai, nghiên cứu và
hoàn thiện đề tài “Phân tích mối liên hệ giữa bảo tồn văn hóa và bảo tồn đất ngập nước: Trường hợp thực tế đối với vùng đất ngập nước thuộc vùng cửa Sông Hồng”
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo – các nhà khoa học đã trực tiếp truyền đạt những kiến thức khoa học chuyên ngành cho bản thân tác giả trong những năm tháng qua
Xin gửi tới các hộ gia đình, các bô lão, các nghệ nhân và các nhà truyền giáo, truyền đạo sống ven vùng đất ngập nước khu vực cửa sông Hồng lời cảm ơn sâu sắc vì đã tạo mọi điều kiện giúp tác giả thu thập số liệu ngoại nghiệp liên quan đến đề tài
Xin ghi nhận công sức và những đóng góp quý báu và nhiệt tình của các bạn thành viên trong lớp cao học môi trường khóa 8 đã đóng góp ý kiến, giúp đỡ cùng tác giả triển khai, thu thập các số liệu ngoại nghiệp
Một lần nữa tác giả xin chân thành cảm ơn các đơn vị và cá nhân đã hết sức quan tâm tới sự nghiệp đào tạo ngũ cán bộ ngành Môi trường Tác giả rất mong được sự đóng góp, phê bình của quý Thầy cô, các nhà khoa học và các độc giả
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là: Vũ Thị Mùi
Học viên cao học ngành: Môi trường trong phát triển bền vững
Khóa 8 – Trung tâm nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường, Đại học Quốc gia Hà Nội
Tôi xin cam đoan số liệu và những kết quả nghiên cứu, tính toán trong luận văn này là hoàn toàn trung thực Nếu có gì sai phạm, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường và pháp luật
Ngày tháng năm 2015
HỌC VIÊN
VŨ THỊ MÙI
Trang 5MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC HÌNH vi
DANH MỤC BẢNG vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4
1.1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu 4
1.2 Các khái niệm cơ bản xoay quanh vấn đề nghiên cứu 5
1.2.1 Khái niệm về đất ngập nước 6
1.2.2 Khái niệm về văn hóa 7
1.2.3 Mối liên hệ giữa văn hóa và đất ngập nước 8
1.3 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 10
1.3.1 Trên thế giới 10
1.3.2 Tại Việt Nam 15
1.3.3 Tại vùng nghiên cứu 22
CHƯƠNG 2 ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 Địa điểm, thời gian và đối tượng nghiên cứu 26
2.2 Các câu hỏi nghiên cứu của đề tài luận văn 26
2.3 Mục tiêu nghiên cứu 26
2.4 Phương pháp luận (cách tiếp cận) 27
2.4.1 Tiếp cận sử dụng khôn khéo đất ngập nước 27
2.4.2.Tiếp cận hệ thống 27
2.4.3.Tiếp cận lịch sử logic 28
2.5 Phương pháp nghiên cứu 28
2.5.1 Phương pháp phân tích sinh thái nhân văn 28
Trang 62.5.2.Phỏng vấn bán cấu trúc 28
2.5.3.Phỏng vấn sâu 29
2 5.4.Phân tích hồi cố 30
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31
3.1 Thống kê sơ lược vùng đất ngập nước cửa Sông Hồng 31
3.1.1 Tổng quan chung về vùng đất ngập nước cửa sông Hồng 31
3.1.2 Biến động vùng đất ngập nước qua các năm 36
3.2 Các hoạt động văn hóa liên quan đến đất ngập nước tại vùng cửa Sông Hồng 39 3.2.1 Các hoạt động đang tồn tại và phát triển 39
3.2.2 Các hoạt động văn hóa đã mai một 58
3.2.3 Nhận thức của người dân về mối liên hệ giữa văn hóa và đất ngập nước 63
3.3 Mối liên hệ giữa văn hóa và đất ngập nước 70
3.4 Tầm quan trọng bảo tồn văn hóa và bảo tồn đất ngập nước 77
3.5 Đề xuất các giải pháp bảo tồn văn hóa và bảo tồn đất ngập nước 77
KẾT LUẬN 80
KHUYẾN NGHỊ 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
PHỤ LỤC 84
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ĐNN: Đất ngập nước
COP 8: Hội nghị các thành viên của Công ước Ramsar lần thứ 8
COP 9: Hội nghị các thành viên của Công ước Ramsar lần thứ 9
COP 10: Hội nghị các thành viên của Công ước Ramsar lần thứ 10
NTTS: Nuôi trồng thủy sản
L.V: Luận văn
PGS: Phó giáo sư
Ts: Tiến sĩ
UNESCO: Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên Hợp Quốc
VQG: Vườn quốc gia
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Sơ đồ khái niệm văn hóa 8
Hình 1.2 Bản đồ Vùng cửa sông Hồng 23
Hình 3.1.Vị trí vùng nghiên cứu trong bản đồ hành chính 31
Hình 3.2 Quy hoạch VQG Xuân Thủy 33
Hình 3.3 Quy hoạch Khu bảo tồn thiên nhiên Tiền Hải 35
Hình 3.4 Thi bơi trải tại lễ hội Đền Chùa Kiên Hành 45
Hình 3.5 Mô hình lúa nước đặc trưng vùng nghiên cứu 50
Hình 3.6 Một số dụng cụ đánh bắt thô sơ 52
Hình 3.7 Thuyền về bến cá Giao Hải, huyện Giao Thủy 53
Hình 3.8 Kiến trúc nhà bổi 58
Hình 3.9 Du lịch trên sông 59
Hình 3.10 Hình ảnh chim nước 60
Hình 3.11 Kiến trúc nhà thờ, chùa chiền, nhà bổi 61
Hình 3.12 Nguồn lợi xuất phát từ hoạt động 66
Hình 3.13 Ảnh hưởng các hoạt động văn hóa liên quan đến đất ngập nước 67
Hình 3.14 Nhận định về các hoạt động văn hóa liên quan đến nước và giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ 68
Hình 3.15 Mục đích duy trì các vùng đất ngập nước đang có 69
Hình 3.16 Nhận biết về các hoạt động văn hóa liên quan đến nước đã bị mất hoặc giảm đi 70
Hình 3.17 Hình ảnh sưu tập tại Bảo tàng đồng quê 75
DANH MỤC BẢNG Bảng 3.1 Diện tích và biến động diện tích của các đối tượng không gian trong vùng nghiên cứu giữa thời điểm 2001 và 2012……… 37
Bảng 3.2 Hệ thống tín ngưỡng tôn giáo tại các xã nghiên cứu huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình………41
Bảng 3.3 Hệ thống tín ngưỡng tôn giáo tại các xã nghiên cứu huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định……….41
Trang 9MỞ ĐẦU Đất ngập nước rất đa dạng, có mặt khắp mọi nơi và là cấu thành quan trọng của các cảnh quan trên mọi miền của thế giới Hàng thế kỷ nay, con người và các nền văn hoá nhân loại được hình thành và phát triển dọc theo các triền sông hoặc ngay trên các vùng đất ngập nước
Báo cáo tổng quan hiện trạng đất ngập nước Việt Nam sau 15 năm thực hiện công ước Ramsar đã nêu rõ: “Đất ngập nước và sự đa dạng sinh học của đất ngập nước đã gắn liền với dân tộc Việt Nam trong suốt hàng ngàn năm lịch sử Nền văn minh của người Việt được mệnh danh là nền văn minh lúa nước” Có thể thấy rõ là đất ngập nước Việt Nam rất phong phú, đa dạng và đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường và bảo tồn đa dạng sinh
họ[Cục Bảo vệ môi trường, 2005]
Đất có nhiều nước là môi trường phong phú, là cái nôi của đa dạng sinh học, nơi vô số loài động, thực vật tồn tại, nơi cư trú của các loài chim, thú, bò sát,
cá, nhuyễn thể Sự tác động qua lại của các thành phần vật lý, sinh vật và hóa học trong đất ngập nước tạo ra những chức năng quan trọng như: trữ nước, chống bão, giảm lũ lụt, lở đất; cung cấp nước ngầm, lọc nước; giữ dinh dưỡng, trầm tích, chất
ô nhiễm; ổn định khí hậu
Ngoài ra, Đất ngập nước cung cấp nhiều lợi ích như: cung cấp nước, thủy sản, nông nghiệp, gỗ và các nguyên liệu xây dựng khác; tài nguyên động, thực vật; giao thông; dược liệu Đất ngập nước có vai trò rất quan trọng đối với tự nhiên và
xã hội Đất ngập nước cung cấp cho con người lương thực, thực phẩm, điều hòa dòng chảy, kiểm soát lũ lụt, chống xói lở, dự trữ năng lượng và duy trì tài nguyên
đa dạng sinh học, cơ hội giải trí và du lịch
Một vấn đề thiếu xót nếu không kể đến, đất ngập nước còn được xem như là một phần của di sản văn hóa nhân loại, tạo cảm hứng thi ca, mỹ thuật, khảo cổ, nơi bảo tồn động vật hoang dã và hình thành nền tảng truyền thống văn hóa, kinh tế và
xã hội của địa phương Như vậy, để duy trì và bảo tồn đất ngập nước một giải pháp được đặt ra là duy trì hoạt động văn hóa, các phong tục tập quán tồn tại trên vùng
Trang 10đất ngập nước đó Nền văn hóa đất ngập nước càng phát triển thì vùng đất ngập nước liên quan sẽ được duy trì và bảo tồn Trong Công ước Ramsar, điều này được thể hiện rất rõ thông qua Nghị quyết VI.1 bao gồm các giá trị, các lợi ích và các chức năng văn hóa vật thể và phi vật thể, nêu trong tài liệu số 15 của COP 8 đó là các khía cạnh văn hóa đất ngập nước Cụ thể, có thể trích dẫn một số ý liên quan đến mối liên hệ khăng khít giữa văn hóa và đất ngập nước như sau:
1 Thừa nhận mối liên hệ mật thiết từ xa xưa của cộng đồng con người và các vùng đất ngập nước làm tăng giá trị văn hóa quan trọng trong việc bảo tồn các vùng đất ngập nước và việc sử dụng khôn khéo hơn các giá trị này Điều này cũng được nhận thấy trong vũ trụ học đa dạng của các nền văn minh và nền văn hóa khác nhau qua các thời kỳ lịch sử;
2 Cũng nhận thấy rằng đặc điểm cụ thể của vùng đất ngập nước đã góp phần tạo ra các đặc điểm đặc biệt vào những cách thức cụ thể của những hoạt động quản lý truyền thống thông qua kiến trúc, tập tục, đặc biệt việc thiết kế vật tạo tác
có ý nghĩa rất lớn về văn hóa;
3 Công nhận mối quan hệ giữa con người và vùng đất ngập nước đã làm gia tăng các khía cảnh về văn hóa phi vật thế, thông qua truyền thống dân gian, âm nhạc, thần thoại, truyền miệng, phong tục, sự hiểu biết truyền thống và trí tuệ dân
cư … từ đó hình thành các tổ chức xã hội hoạt động trong lĩnh vực quản lý tài nguyên đất ngập nước, đặc biệt là nước;
4 Công nhận thêm truyền thống sử dụng nguồn đất ngập nước có thể thường xuyên tạo ra các cảnh quan về văn hóa có giá trị quan trọng để bảo tồn đất ngập nước và sử dụng khôn khéo;
5 Nhận thấy các giá trị của vùng đất ngập nước đã và đang là yếu tố quan trọng trong đối với cộng đồng sống ở trên và xung quanh vùng đất ngập nước và tạo thành thể đồng nhất Vì vậy mà mất đất ngập nước không những mất đi sự đồng nhất, mà còn gây ra các tác động xã hội tiêu cực và ảnh hưởng đến hệ sinh thái khu vực;
Trang 116 Công nhận rằng văn hóa liên quan đến đất ngập nước cấu thành các di sản chung cho xã hội ngày nay;
7 Nhận thấy các kiến thức trong thực tiễn, và tập quán trong quản lý đất ngập nước trong các nền văn hóa khác nhau đóng góp vào bảo tồn đất ngập nước
và sử dụng khôn khéo từ hơn nghìn năm và tiếp tục được duy trì;
8 Đã công nhận các di tích văn hóa, cả vật thể và phi vật thể, là những thành phần không thể thiếu trong quá trình sử dụng bền vững tài nguyên đất ngập nước
Vì vậy, nhờ sự hiểu biết về mối liên hệ sâu sắc giữa đất ngập nước và văn hóa liên quan đến đất ngập nước, nhận thức rõ về tầm quan trọng giữa bảo tồn văn hóa và bảo tồn đất ngập nước, với mục đích tìm ra các phương pháp hiệu quả trong vấn đề bảo tồn đất ngập nước cụ thể là vùng đất ngập nước thuộc vùng cửa Sông
Hồng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Phân tích mối liên hệ giữa bảo tồn văn hóa
và bảo tồn đất ngập nước: Trường hợp thực tế đối với vùng đất ngập nước thuộc vùng cửa Sông Hồng”
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu
Cùng với các điều kiện địa hình khác tại các vùng khác nhau, thiên nhiên đã tạo nên các vùng đất ngập nước (ĐNN) rộng lớn, phân bố trên suốt chiều dài đất nước, từ các vùng đất ven biển dọc theo suốt hơn 3.200 km bờ biển đến các vùng châu thổ được bồi đắp bởi phù sa các con sông, mà lớn nhất là đồng bằng sông Hồng ở phía Bắc và đồng bằng sông Cửu Long ở phía Nam, và các vùng ĐNN ven các sông suối và các hồ tại các vùng đất nội địa của Việt Nam [Cục Môi trường, 2005]
Các vùng ĐNN đã được sử dụng bằng nhiều hình thức khác nhau, chủ yếu
là tìm các phương thức thích nghi, chung sống và lợi dụng, khai thác những tiềm năng giàu có của các vùng đất đó Với quan niệm đó, bên cạnh các biện pháp tích cực, đã có các biện pháp làm suy thoái, phá hủy các vùng ĐNN như cải tạo, san lấp, tát cạn,… Hiện nay, cùng với sự tiến bộ của khoa học và những bài học thực tiễn của việc làm thay đổi hay mất đi các vùng ĐNN, nhân loại đang ngày càng hiểu rõ hơn về vai trò, giá trị của ĐNN ĐNN đã và đang cung cấp nhiều loại sản phẩm để con người sử dụng trực tiếp như nguồn nước ngọt, thủy hải sản, lương thực thực phẩm, dược phẩm, các vật liệu xây dựng, nguyên liệu hàng thủ công và rất nhiều sản phẩm phụ khác ĐNN còn là nơi sinh sống cho con người và rất nhiều sinh vật khác ngay từ thuở ban sơ của con người trên trái đất Những nền văn minh vĩ đại đã được thiết lập bên bờ của những vùng ĐNN (sông, hồ, biển) và phụ thuộc vào tài nguyên của chúng, đặc biệt là nguồn nước ĐNN cũng cung cấp nhiều giá trị sử dụng gián tiếp như khống chế lũ lụt, nạp và tiết nước ngầm, điều hòa vi khí hậu v.v Những thuộc tính của ĐNN như tính đa dạng sinh học và tính độc đáo về giá trị văn hóa chúng được xem là rất có giá trị khi ĐNN được duy trì ở hiện trạng “nguyên vẹn” hay “được bảo vệ”, khi mà giá trị văn hóa và những giá trị xã hội khác của ĐNN được nhấn mạnh trong những năm gần đây cũng làm cho tính đa dạng của ĐNN tăng lên
Trang 13Việt Nam là quốc gia có các hệ sinh thái ĐNN phong phú và đa dạng Tuy nhiên, ĐNN ở Việt Nam đã và đang bị suy thoái cả về diện tích, cấu trúc cũng như chức năng vì: dân số gia tăng, nghèo đói kèm theo sự thiếu hiểu biết và thiếu thông tin từ đó dẫn đến những khiếm khuyết về mặt chính sách và qui hoạch Ngoài các sản phẩm của ĐNN có có mục đích thương mại như cá, cây trồng, gỗ củi thì nhiều giá trị quan trọng của ĐNN lại không được nhận diện đúng mức như chức năng lọc nước hay chống sóng bão Phần lớn những thông tin về các giá trị này hiện còn rất hạn chế Đặc biệt, vì các thuộc tính của ĐNN là những “giá trị phi thị trường” nên chúng có xu hướng bị bỏ qua trong các tính toán kinh tế khi quyết định xem các vùng ĐNN có cần được bảo vệ hay không Phần lớn các chính sách
và các qui hoạch vẫn có xu hướng khuyến khích các hoạt động phát triển như chuyển đổi mục đích sử dụng và chức năng của các vùng ĐNN, đem lại những giá trị kinh tế trước mắt mà không tính đến hậu quả lâu dài
Việt Nam tham gia Công ước Ramsar từ năm 1989 và đã ngày càng nhận ra rằng việc quản lý, bảo vệ và sử dụng khôn khéo tài nguyên ĐNN đang trở thành một vấn đề bức thiết cho tiến trình phát triển bền vững của quốc gia Trong vài năm trở lại đây, nhiều nghiên cứu về điều kiện tự nhiên, các giá trị về đa dạng sinh học và môi trường của các vùng ĐNN đã được tích cực triển khai Các nghiên cứu
về lượng giá kinh tế cũng đã bắt đầu được quan tâm nghiên cứu tại một số vùng ĐNN điển hình Tuy nhiên, cho đến nay, các giá trị về văn hóa, lịch sử của các vùng ĐNN ở Việt Nam hầu như chưa được nghiên cứu, chưa được khai thác các mối quan hệ giữa ĐNN và văn hóa; nghiên cứu, đánh giá các giá trị văn hóa để bảo
vệ và sử dụng bền vững ĐNN và ngược lại
Với đề tài: “Phân tích mối liên hệ giữa bảo tồn văn hóa và bảo tồn đất ngập nước: Trường hợp thực tế đối với vùng đất ngập nước thuộc vùng cửa Sông Hồng” tôi mong muốn góp phần bảo vệ và sử dụng khôn khéo ĐNN; duy trì,
tôn tạo nền văn hóa ĐNN đặc biệt là vùng cửa Sông Hồng
1.2 Các khái niệm cơ bản xoay quanh vấn đề nghiên cứu
Trang 141.2.1 Khái niệm về đất ngập nước
Thuật ngữ đất ngập nước được hiểu theo nhiều cách khác nhau, tùy theo quan điểm, người ta có thể chấp nhận các định nghĩa khác nhau Hiện nay có khoảng 50 định nghĩa về đất ngập nước đang được sử dụng [Dugan, 1990]
Các định nghĩa về đất ngập nước theo định nghĩa rộng như định nghĩa của công ước Ramsar, định nghĩa theo các chương trình điều tra đất ngập nước của
Mỹ, Canada, New Zealand và Oxtraylia
- Theo công ước Ramsar tại Điều 1.1 [Ramsar, 1971], đất ngập nước được định nghĩa: “Các vùng đầm lầy, đầm lầy đất trũng, vùng đất than bùn hoặc nước,
tự nhiên hay nhân tạo, thường xuyên hay tạm thời, có nước đứng hay chảy, nước ngọt, lợ hay mặn, kể cả những vùng nước biển với độ sâu ở mức triều thấp, không quá 6m”
Ngoài ra, Công ước tại Điều 2.1 còn quy định các vùng đất ngập nước: “ Có thể bao gồm các vùng ven sông và ven biển nằm kề các vùng đất ngập nước, cũng như các đảo hoặc các thuỷ vực biển sâu hơn 6m khi triều thấp, nằm trong các vùng đất ngập nước”
- Theo chương trình quốc gia về điều tra đất ngập nước của Mỹ: “Về vị trí phân bố, đất ngập nước là những vùng đất chuyển tiếp giữa những hệ sinh thái trên cạn và hệ sinh thái thủy vực Những nơi này mực nước ngầm thường nằm sát mặt đất hoặc thường xuyên được bao phủ bởi lớp nước nông” Đất ngập nước phải có
ba thuộc tính sau [Cowardin và cộng sự, 1979]:
Có thời kỳ nào đó, đất thích hợp cho phần lớn các loài thực vật thủy sinh;
Nền đất hầu như không bị khô;
Nền đất không có cấu trúc không rõ rệt hoặc bão hòa nước, bị ngập nước
ở mức cạn tại một số thời điểm nào đó trong mùa sinh trưởng hàng năm
- Theo các nhà khoa học Canađa: “Đất ngập nước là đất bão hòa nước trong thời gian dài đủ để hỗ trợ cho các quá trình thủy sinh Đó là những nơi khó tiêu
Trang 15hóa nước, có thực vật thủy sinh và các hoạt động sinh học thích hợp với môi trường ẩm ước”;
- Theo các nhà khoa học New Zealand: “Đất ngập nước là một khái niệm chung để chỉ những vùng đất ẩm ước từng thời kỳ hoặc thường xuyên Những vùng ngập nước ở mức cạn và những vùng chuyển tiếp giữa đất nước Nước có thể
là nước ngọt, nước mặn hoặt nước lợ Đất ngập nước ở trạng thái tự nhiên hoặc đặc trưng bởi các loài thực vật và động vật thích hợp với điều kiện sống ẩm ướt”;
- Theo các nhà khoa học Oxtraylia: “Đất ngập nước là vùng đầm lầy, bãi lầy than bùn, tự nhiên hoặc nhân tạo, thường xuyên, theo mùa hoặc theo chu kỳ, nước tỉnh hoặc nước chảy, nước ngọt, nước lợ hoặc nước mặn, bao gồm cả bãi lầy và những khu rừng ngập mặn lộ ra khi thủy triều xuống thấp”
Những định nghĩa trên theo nghĩa hẹp, nhìn chung đều xem đất ngập nước như đới chuyển tiếp sinh thái (Ecotone), những diện tích chuyển tiếp giữa môi trường trên cạn và ngập nước, những nơi mà sự ngập nước của đất gây ra sự phát triển của một hệ thực vật đặc trưng [Enny, 1985]
Hiện nay, định nghĩa theo công ước Ramsar là định nghĩa được sử dụng rộng rãi hơn cả
1.2.2 Khái niệm về văn hóa
Có rất nhiều cách hiểu cũng như các định nghĩa khác nhau về khái niệm văn hóa.Nói văn hoá là nói tới toàn bộ những giá trị sáng tạo về tinh thần và vật chất, thể hiện trình độ sống, dân trí, những quan niệm về đạo lý nhân sinh, thẩm mỹ của một dân tộc và dấu ấn ở mỗi con người Văn hoá góp phần trực tiếp tạo nên bản sắc của dân tộc, tạo nên sự khác biệt giữa dân tộc này với dân tộc khác Nhìn chung, các nền kinh tế, các công trình về khoa học, kỹ thuật ít mang dấu ấn riêng bằng công trình văn hoá
Theo A Kroeber và Kluckhohn (Mỹ), có trên 200 định nghĩa về văn hoá Federico Mayor - Tổng giám đốc UNESCO xem văn hoá phản ánh và thể hiện một cách tổng quát, sống động mọi mặt của cuộc sống con người đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành
Trang 16một hệ thống các giá trị truyền thống thẩm mỹ và lối sống, mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình
Lãnh tụ Hồ Chí Minh, nhà văn hoá vĩ đại của dân tộc đã cho rằng văn hoá là
sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn
GS Trần Ngọc Thêm đưa ra khái niệm văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ trong quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình Với quan điểm đó, tác giả đưa ra sơ đồ xác định khái niệm văn hoá như sau:
Hình 1.1 Sơ đồ khái niệm văn hóa
“Nguồn: [Trần Ngọc Thêm, 2004]”
1.2.3 Mối liên hệ giữa văn hóa và đất ngập nước
Theo công ước Ramsar thì: ĐNN cung cấp những tài nguyên quý giá và nơi sinh sống cho con người và rất nhiều sinh vật khác ngay từ thuở ban sơ của con người trên trái đất Những nền văn minh vĩ đại đã được thiết lập bên bờ của những
Hệ thống
Hệ thống giá trị
HTGTNT không có tính lịch sử
Trang 17vùng ĐNN (sông, hồ, biển) và phụ thuộc vào tài nguyên của chúng đặc biệt là nguồn nước
Theo các sưu tầm về các nền văn hóa liên quan đât ngập nước của Lê Diên Dực cho thấy có nhiều nền văn hóa đất ngập nước đặc trưng theo từng vùng đất ngập nước như: nền văn hóa sông Nile của Ai Cập cổ đại, Hồ Tông lê Sáp ở Cambodia, hay như nền văn hóa hồ Carla ở Hy Lạp thuộc Địa Trung Hải… Tất cả đều tạo nên một dấu ấn văn hóa riêng biệt đối với từng vùng Theo Lê Diên Dực các vùng đất ngập nước đã hình thành nên rất nhiều giá trị văn hóa liên quan đến đất ngập nước như:
- Vật chứng của cổ sinh vật và khảo cổ học trong vùng ĐNN;
- Cảnh quan nông nghiệp và văn hoá và các hệ sinh thái sản xuất khác: Đồng lúa (bằng phẳng hay bậc thang), đồng muối, đầm phá, vùng cửa sông gắn với khai thác thuỷ sản;
- Những kiến trúc lịch sử: Lâu đài, điểm định cư, công trình thuỷ lợi, cối xay nước, cọn (xe nước), hệ giao thông thuỷ (Tàu, thuyền, cầu, đường) trong vùng ĐNN;
- Nghệ thuật: tranh vẽ, trạm khắc trên đá, gỗ, thủ công mỹ nghệ, âm nhạc,
vũ điệu, thơ ca, hò vè và lễ hội v.v…
[Lê Diên Dực và Hoàng Văn Thắng, 2012]
Trang 18Ở Việt Nam, đất ngập nước ở Việt Nam có diện tích khoảng 10 triệu ha, phân bố trên tất cả 8 vùng sinh thái Ngoài các vai trò quan trọng như phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường, phục vụ các nghiên cứu khoa học hay các dịch
vụ vui chơi giải trí … Các vùng đất ngập nước tại Việt Nam còn tạo ra các nôi văn hóa lớn như các lễ hội truyền thống, các nghi lễ, tập tục cho từng địa phương 1.3 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.3.1 Trên thế giới
Văn hóa được xem là một phần quan trọng trong đời sống xã hội Từ xa xưa, các vùng ĐNN đã đóng vai trò quan trọng và được con người sử dụng vào rất nhiều mục đích khác nhau, chứa đựng rất nhiều giá trị về văn hóa và tinh thần Kinh nghiệm cho thấy, việc bảo tồn đơn thuần các giá trị tự nhiên của các vùng ĐNN khó có thể đạt được thành công nếu không có sự kết nối và sự đồng thuận của cộng đồng Do vậy, một trong những hướng nghiên cứu mới trong bảo tồn nói chung và bảo tồn ĐNN nói riêng là lồng ghép các giá trị văn hóa vào giá trị chung hướng tới một cách tiếp cận tổng hợp đối với khu vực được bảo tồn
Từ khoảng cuối những năm 1990, một số tổ chức thuộc Công ước Ramsar (như Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật, Sáng kiến MedWet, ) đã bắt đầu xem xét tới các khía cạnh văn hóa của ĐNN Năm 2002, Hội nghị các nước thành viên lần thứ
8 (COP 8) của công ước Ramsar họp tại Valencia, Tây Ban Nha đã chọn chủ đề
“ĐNN - Nước, Cuộc sống và Văn hóa” làm nội dung chính của chương trình nghị
sự và khuyến khích các quốc gia thành viên tích cực nghiên cứu, đánh giá các khía cạnh văn hóa của ĐNN vì chúng đã và sẽ góp phần hữu hiệu cho bảo tồn và sử dụng bền vững ĐNN Đây là lần đầu tiên công ước Ramsar hướng sự tập trung đến các giá trị văn hoá của ĐNN như là một tiêu chí quan trọng cần phải được tính đến trong quá trình quản lý các hệ sinh thái này Tại COP 8 này và COP 9 tiếp theo (được tổ chức tại Kampala, Uganda vào tháng 11/2005) hai Nghị quyết số VIII.19
và IX.21 đã được thông qua, đều nhằm khuyến khích cách quốc gia thành viên xem xét tới các khía cạnh văn hóa khi thực hiện quản lý, bảo tồn các vùng ĐNN
Trang 19Từ sau COP 9 đến nay, các hoạt động của Công ước Ramsar có liên quan đến các khía cạnh văn hóa của ĐNN được thực hiện thông qua Nhóm Công tác về Văn hóa của Ramsar (Ramsar Culture Working Group-CWG) Trong khuôn khổ Hội nghị các bên của Công ước Ramsar lần thứ 10 (COP 10) diễn ra tại Changwon, Hàn Quốc vào tháng 10-11/2008, CWG đã giới thiệu cuốn sách Văn hóa và ĐNN: Hướng dẫn của Công ước Ramsar Hướng dẫn này cho đến nay được coi là tài liệu toàn diện nhất, là kim chỉ nam cho các quốc gia thành viên cũng như các tổ chức có thể tiến hành nghiên cứu, xem xét các khía cạnh văn hóa nào của đất ngập nước là phù hợp cho qui hoạch quản lý, bảo tồn và sử dụng khôn khéo các vùng ĐNN Theo Hướng dẫn của Công ước Ramsar, ĐNN có những giá trị văn hóa quan trọng nhất như sau [Ramsar Convention, 2002, 2008]:
- Giá trị khảo cổ;
- Giá trị cảnh quan văn hóa (cảnh quan của các hệ canh tác truyền thống);
- Các cấu trúc hay công trình có tính lịch sử liên quan đến ĐNN (cầu đường, công trình thủy lợi, các tòa nhà);
- Đồ dùng, vật dụng truyền thống liên quan đến ĐNN (đặc biệt là tàu, thuyền và các công cụ);
- Kỹ thuật và kinh nghiệm truyền thống/tri thức bản địa trong quản lý và khai thác tài nguyên nước;
- Các khía cạnh về tín ngưỡng, tâm linh, lễ hội liên quan đến bảo tồn các vùng ĐNN và tài nguyên trong khu vực;
- Nguồn cảm hứng cho sáng tác văn học, nghệ thuật
Như vậy, có thể thấy các khía cạnh văn hóa hay giá trị văn hóa bao trùm hầu hết mọi mặt đời sống của con người Tuy nhiên, do các khía cạnh văn hóa mới được quan tâm trong thời gian gần đây nên cho đến nay các giá trị văn hoá còn được đề cập rất ít trong các nghiên cứu về vai trò và giá trị của ĐNN Hiện nay, đi đầu trong lĩnh vực này là một số nước vùng Địa Trung Hải ở châu Âu Thông qua sáng kiến MedWet, 21 vùng ĐNN thuộc khu vực đã được nghiên cứu và kết quả được đúc kết trong cuốn sách “Action for Culture in Mediterranean Wetlands” [Papayannis, 2008]
Trang 20Một số các quốc gia khác cũng bắt đầu đi sâu nghiên cứu một số khía cạnh văn hóa khác nhau khi thực thi các chương trình quản lý, bảo tồn ĐNN Có thể lấy ví dụ tại vùng ĐNN Maipo - Hồng Kông, đây là vùng ĐNN duy nhất còn lại nơi mà các cư dân Hồng Kông còn lưu giữ cách thức hoạt động của một Gei Wai (đầm tôm) theo phương thức truyền thống được khởi nguồn từ địa phương, xuất hiện từ cách đây hàng trăm năm
Một số vùng ĐNN khác lại có các giá trị rất quan trọng trong tín ngưỡng đối với người dân địa phương Ở Tây Tạng, các tín đồ đạo Phật đã xem một số hồ nước là
có các giá trị thần thánh, và họ xem đây là nơi cần được tôn thờ, bảo vệ khỏi sự ô nhiễm và các mối đe dọa khác Trải qua nhiều thế hệ, tín ngưỡng này vẫn được tiếp tục lưu giữ Ngày nay, một số hồ tại Tây Tạng vẫn còn nguyên giá trị về tín ngưỡng
và được người dân địa phương bảo vệ bằng những quy định và luật lệ riêng
Tại Oxtraylia, rất nhiều các vùng ĐNN có các giá trị xã hội và văn hoá đối với những người thổ dân Tại vùng Coburg Peninsula (vùng Ramsar quan trọng nhất thế giới), những người thổ dân vẫn sống theo nghi thức truyền thống và thực hiện việc săn bắt và thu nhặt trong khu bảo tồn theo phương thức nửa truyền thống Khu vực này cũng có giá trị lịch sử quan trọng đối với các cư dân đến từ châu Âu Ngoài ra, còn rất nhiều các khu vực khác trên thế giới có giá trị về mặt khảo cổ, ví dụ như khu Ramsar Stavns Fjord ở Đan Mạch nổi tiếng về các giá trị khảo cổ từ khi có những cư dân đầu tiên từ thời đại đồ Đồng và những công trình kiến trúc từ đại Viking
Một nghiên cứu sơ bộ được thực hiện bởi Dave Pritchard vào năm 2000 về các giá trị văn hoá của các khu Ramsar đã chỉ ra rằng giá trị văn hoá của các vùng ĐNN là rất lớn và giá trị hơn nhiều so với sự chú ý của các nhà nghiên cứu Trong số 603 khu Ramsar được đánh giá trong nghiên cứu này, hơn 30% các khu vực được xác định là
có các giá trị về văn hoá, khảo cổ, tín ngưỡng, thần thoại, nghệ thuật/sáng tạo, dù chúng ở tầm địa phương hay quốc gia, bổ sung thêm vào rất nhiều giá trị đã được nghiên cứu và biết đến rộng rãi
Ví dụ điển hình: Sông Nile và Ai Cập cổ đại
Trang 21Không có gì mô tả quan hệ giữa nước, đất ngập nước và sự tồn tại của con người bằng trường hợp của con sông Nile và Ai Cập cổ đại Những chi nhánh của sông Nile và dòng chảy của nó đã quyết định vận mệnh và số phận của nền văn minh đồ sộ đã từng phát triển trong khu vực và để lại dấu ấn đậm nét.Trong thời kỳ
lũ sông Nile đã làm ngập vùng đất đen dọc theo hai bờ sông Nile tạo điều kiện tốt cho việc trồng cấy lúa mì và lúa mạch trong tháng 9 và thu hoạch và tháng 3 hoặc tháng 4 năm sau và rồi lại đến mùa hè khô hạn và chu kỳ duy trì sự sống lại được lặp lại.Tuy nhiên thời tiết thay đổi làm dòng chảy sông giảm đáng kể và chỉ làm lụt được một phần nhỏ của đất canh tác và nạn đói nghiêm trọng đã xảy ra là không tránh khỏi Điều này làm giảm quyền lực của nhà vua và lộn xộn về chính chị đã xảy ra Đế chế Ai Cập cổ đại đã sụp đổ vào năm 2160 trước công nguyên Hiện tượng này cũng đã được lập lại trong những thời ký lịch sử gần đây
Bệnh sốt rét lan tràn trên nhiều vùng ĐNN trở thành yếu tố tiêu cực làm cho nhiều người phải từ bỏ vùng này Đó cũng là nguyên nhân chính dẫn đến thoát nước những vùng này cho đến khi tìm được ký ninh trừ vi trùng sốt rét từ muỗi
Anopheles
Từ đó con người đã khai thác hầu hết các vùng ĐNN một cách mạnh mẽ Trong thế kỷ 20 những hoạt động truyền thông trong vùng ĐNN trước đây bị lãng quên Tầm quan trọng của chúng về cơ sở tài nguyên cần thiết cho sự tồn tại của con người cũng đã bị giảm sút Còn nhiều giá trị khác của ĐNN đối với con người
đã bắt đầu nhận thức và đánh giá cao trong những năm gần đây Đó là điều hoà chế
độ thủy văn, chống lũ lụt và hạn hán, nạp nước ngầm, giữ chất dinh dưỡng và loại chất thải, bảo vệ bờ, cơ hội cho giáo dục và giải trí
Ngay từ thuở ban sơ của con người; nước, không khí và thực phẩm được coi
là tối quan trọng đối với sự tồn tại của con người Sau khi chuyển tử săn bắn, hái lượm sang nông nghiệp, nước là một tiền đề quan trọng cho sản xuất lương thực Mức độ phong phú của nước là cơ sở cho những nền văn minh vĩ đại như sông Nile đối với người Ai Cập, sông Euphrate và Tigris đối với người Msopotami Những thời kỳ hạn hán cũng làm giảm sút sức mạn của những xã hội nói trên
Trang 22Nước cũng được những tôn giáo coi là linh thiêng và do đó ĐNN là nguồn nước quan trọng nên cũng được coi trọng
Ví dụ thứ 2: Hồ Tông lê Sáp ở Cambodia
Trong mùa lụt hồ Tông lê Sáp được nuôi dưỡng bằng nước chảy tràn của sông Mê Kông làm cho độ lớn của hồ tăng lên 6 lần chiếm một diện tích hơn 16.000 km2 do đó nó tích nước lũ và xả nước ra từ từ Là thủy vực nước ngọt lớn nhất châu Á, Tông lê Sáp là nơi quần tụ của những cộng đồng ngư dân sống trong những nhà sàn gỗ (ví dụ là Chhnok Trou) Đồng thời họ sử dụng rộng rãi lau sợi vào sinh hoạt và những thuyền đánh cá cổ truyền
Tuy nhiên tình trạng này đã thay đổi rất nhanh và sâu sắc Di cự nội bộ và dân số tăng nhanh đã tạo sức ép lớn lên hồ và tàn phá hầu hết những kiến trúc địa phương Ô nhiễm hồ tăng lên do sinh hoạt cũng như canh tác Rừng bị phá hủy làm tăng phù sa san lấp nơi đẻ của cá Hơn nữa những đập được dựng lên ở thượng nguồn làm giảm nước chảy vào hồ Đánh cá quá mức và bằng những phương thức hủy diệt lan tràn mọi nơi Kết quả là lượng cá đánh bắt được giảm đáng kể, lượng
cá này từng cung cấp khoảng 60% lượng protein cho người dân Campuchia Đồng thời nền văn hóa địa phương giàu có của ngư dân cũng mai một rất nhanh
Chính phủ Campuchia đã có những sáng kiến mới để đối mặt với tình trạng tại hồ Tông lê sap nhưng phải cần những biện pháp mạnh hơn và kiên trì hơn mới mong đảo ngược được trình trạng khó khăn hiện nay
ĐNN là những hệ sinh thái rất đa dạng từ những con sông và hồ lớn đến ốc đảo của các sa mạc, từ những hồ nước trên núi Alpe đến những đầm đá ven biển,
từ những dòng nước ngầm dưới núi đá vôi đến những vùng bờ biển với 6m nước khi triều thấp Tuy nhiên chúng có những điểm tương đồng về những chức năng cũng như phong phú của hệ động, thực vật của vùng này Khi mà giá trị văn hóa và những giá trị xã hội khác của ĐNN được nhấn mạnh trong những năm gần đây cũng làm cho tính đa dạng của ĐNN tăng lên
Mặc dù đã có nhiều nỗ lực về bảo tồn và sử dụng khôn khéo, ĐNN vẫn tiếp tục bị hủy hoại ở khắp nơi trên thế giới Tuy nhiên ở một số nơi do đánh giá được
Trang 23giá trị của ĐNN nên đã có những dự án lớn nhằm hồi phục những ĐNN đã bị mất hoặc giảm sút nghiêm trọng đối với giá trị rất đắt Trong thực tế cho thấy là không thể hồi phục ĐNN một khi giá trị văn hóa và lịch sử của chúng đã bị mất Những giá trị này sẽ bị mất trong một vài thế hệ sau khi ĐNN đã bị hủy hoại Do đó khi mất ĐNN không phải chỉ mất nguồn tài nguyên quan trọng mà còn gây nhiều tổn thất quan trọng khác cho cộng đồng địa phương
Mối quan tâm đến giá trị văn hóa của ĐNN và nước đến gần đây vẫn còn rất hạn chế trong một số các nhà khảo cổ học và Nhân chủng học Mãi đến tháng 4 năm 2000 Ủy ban ĐNN của Địa Trung Hải họp tại Djerba, Tunisia mới quyết định đưa giá trị văn hóa của ĐNN vào sử dụng bền vững ĐNN của Địa Trung Hải Rồi đến “Đồng muối Địa Trung Hải: Di sản văn hóa và Tình bền vững” Ngày ĐNN
quốc tế năm 2002 (2/2) tập trung và chủ đề: Giá trị văn hóa của ĐNN và đến hội
nghị các nước thành viên lần thữ 8 (COP) của công ước Ramsar tại Velencia Tây Ban Nha mới lấy tiêu đề chung là “ĐNN - Nước, Cuộc sống và Văn hóa” và trong chương trình nghị sự của phiên họp thứ 5 (Session 5) của hộ nghị này có chủ đề
“Các khía cạnh văn hóa của ĐNN là công cụ cho bảo tồn và sự dụng bền vững chúng”
1.3.2 Tại Việt Nam
ĐNN Việt Nam phân bố ở hầu hết các vùng sinh thái của đất nước, gắn bó lâu đời với cộng đồng dân cư, có vai trò lớn đối với đời sống nhân dân và phát triển kinh tế - xã hội Các nghiên cứu cho thấy có khoảng 1/5 dân số Việt Nam sinh sống ở vùng ĐNN và phụ thuộc trực tiếp vào hoạt động khai thác và sử dụng tài nguyên ĐNN Trên thực tế, việc sử dụng hợp lý tài nguyên ĐNN là nền tảng cơ bản đảm bảo cho an ninh lương thực, sức khỏe, phát triển nông nghiệp và công nghiệp của toàn bộ đất nước Hệ sinh thái ĐNN cũng góp phần duy trì các điều kiện môi trường cơ bản đối với đời sống con người và tự nhiên Tất cả các yếu tố trên nhằm chỉ rõ rằng việc quản lý bền vững các hệ sinh thái ĐNN chính là một trong những điều kiện tiên quyết để đáp ứng các mục tiêu ưu tiên về xóa đói giảm nghèo của Chính phủ
Trang 24Đất ngập nước (ĐNN) ở Việt Nam có diện tích khoảng 10 triệu ha, phân bố trên tất cả 8 vùng sinh thái Trong đó hai vùng là đồng bằng sông Cửu Long và châu thổ sông Hồng có diện tích ĐNN lớn nhất
Thăng Long – Hà Nội mang đậm dấu ấn của nền văn minh sông nước Thăng Long với đặc trưng văn minh lúa nước và tập quán đắp đê làm thủy lợi Tổ chức đô thị của Thăng Long – Hà Nội mang đậm dấu ấn cộng đồng phố làng trong
đô thị bên cạnh sông và hồ Mạng lưới sông hồ dày đặc đã tạo nên hệ thống giao thông thuận lợi cho việc đi lại giao lưu giữa thủ đô và các vùng lân cận và quốc tế Sông hồ Hà Nội mang đậm dấu ấn trong kiến trúc Hà Nội xưa và nay… Đất ngập nước Hà Nội là trung tâm vui chơi giải trí tinh thần, gắn liền với các lễ hội văn hóa đặc trưng… [Trương Thanh Huyền, Vũ Minh Hoa và Đặng Anh Tuấn, 2011] Tuy nhiên, bàn về những giá trị văn hóa của đất ngập nước mà không có sự liên hệ với chức năng và các dịch vụ hệ sinh thái khác của đất ngập nước (bao gồm: cung cấp, điều chỉnh, văn hóa và hỗ trợ) thì sẽ không thể có cái nhìn về hệ sinh thái đất ngập nước như một thực thể hoàn chỉnh, trong đó, mọi thành phần có mối quan hệ tác động qua lại khăng khít với nhau Chẳng hạn, sông Tô Lịch trước đây nối với sông Hồng nên mới có đủ nước để tạo nên một con sông có nước trong xanh và du thuyền nhà vua mới căng buồm du ngoạn trên sông Tô được Từ khi sông Tô Lịch không được nước sông Hồng nuôi dưỡng, nó đã trở thành kênh dẫn nước thải và mất luôn cả văn hóa vua du ngoạn và đua thuyền trên sông Tô
Về chức năng cung cấp, phải có cá, sen và chim sâm cầm thì mới có văn hóa làng chài, chim sâm cầm tiến vua và văn hóa ướp chè sen và trà đạo bằng chè ướp nhụy hoa sen, v.v… Và cuối cùng là chức năng hỗ trợ, đất ngập nước làm quay vòng chất dinh dưỡng gắn liền với chức năng tự làm sạch nước, đồng thời tạo năng suất sơ cấp cho chuỗi thức ăn phức tạp của hồ Tây
Một khía cạnh khác của chức năng điều chỉnh lại tác động đến văn hóa, như
hệ thống đê điều Tác giả nghiên cứu cho rằng: “Cùng với nền văn minh lúa nước, người dân Việt đã xây dựng hàng loạt công trình thủy lợi đồ sộ và hợp lý nhất” Nhưng lại có ý kiến khác:
Trang 25Học giả Pháp Pierre Gourou vào đầu thế kỷ 20 từng viết: “Châu thổ sông Hồng đã bị chết trong tuổi vị thành niên của nó” Có thể nói từ thời Lê, đồng bằng châu thổ sông Hồng đã chấm dứt giai đoạn phát triển tự nhiên của mình Nó gần như bị cắt đứt liên hệ với chính con sông từng tạo ra và nuôi dưỡng Dòng nước chứa nhiều phù sa của sông Hồng không còn tràn vào đồng bằng mà bị nhốt giữa hai thân đê
Do vậy, đáy sông không ngừng bị nâng cao, nhiều bãi cát giữa dòng và bãi bồi được hình thành, đặc biệt đoạn từ Sơn Tây đến Nam Định Đó là nguyên nhân khiến từ đời này qua đời khác các con đê cứ phải được tôn tạo, đắp cao lên mãi Tiến sĩ địa chất thủy văn Tạ Hòa Phương, là người từ lâu quan tâm đến việc nghiên cứu địa hình của đới đứt gãy sông Hồng, cũng như tình trạng đê sông Hồng
và những tác động của nó đến thủy văn của đồng bằng Bắc Bộ và vùng châu thổ sông Hồng tại Hà Nội nói riêng, cũng có cùng quan điểm Cách đây hơn 10 năm, ông đã có ý kiến về việc nên bỏ bớt một số đoạn đê sông Hồng Ông cho rằng:
“Việc đắp đê sông Hồng là quyết định đúng đắn thời kỳ đầu Năm 1108, vào thời
Lý, con đê đầu tiên được đắp ở phường Cơ Xá chỉ có nhiệm vụ bảo vệ kinh thành Thăng Long Những con đê thấp được đắp vào đời Trần (1225-1400) chỉ cốt giữ cho nước không tràn vào đồng ruộng để kịp làm vụ chiêm, sau khi mùa màng thu hoạch xong thì nước được tự do tràn vào đồng ruộng – một giải pháp có thể chấp nhận được”
Nhưng những con đê bề thế được đắp mới và tôn tạo trên hai bờ Nhị Hà (sông Hồng) vào triều Lê Sơ (1428-1527) đã là sự can thiệp vào tự nhiên quá giới hạn cho phép [Trương Thanh Huyền, Vũ Minh Hoa và Đặng Anh Tuấn, 2011] Như vậy, ĐNN đã ăn sâu vào văn hóa của dân cư sống xung quanh, tạo nên một thói quen không thể thiếu trong cuộc sống con người
Một số nét khái quát về văn hóa đất ngập nước tại Việt Nam
Về văn hóa lúa nước ở khu vực Bắc Bộ
Các cuộc khảo cổ gần đây đã chứng minh sự tồn tại của con người trên lãnh thổ Việt Nam từ thời đồ đã cũ (300.000 - 500.000 năm) Dân tộc Việt Nam được
Trang 26hình thành và bước đầu phát triển trên vùng châu thổ sông Hồng và sông Mã phía Bắc của Việt Nam ngày nay Con người từ các vùng đồi núi xuống vùng đồng bằng, từ đời này sang đời khác đã khai hóa đất để trồng trọt Họ đã tạo ra hệ thống
đê điều để chế ngự dòng sông Hồng gây nhiều lũ lụt hàng năm Quá trình lao động không ngừng để chế ngự nước - chống lũ, lụt, bão, hạn hán, xây dựng đê điều, đào kênh phục vụ cho việc trồng lúa - đã tạo nên nền văn minh lúa nước và văn hóa làng xã
Cư dân Việt cổ thời đại Đông Sơn (2000 năm trước) cư trú chủ yếu trên ba dòng sông lớn đó là: sông Hồng, sông Mã và sông Cả (sông Lam) Họ thường lập làng trên những gò đất cao bên dòng sông, một ít cư trú ở đồng bằng và một bộ phận sống rải rác ở vùng trước núi gần nguồn nước
Những cư dân Đông Sơn dã dựa vào nguồn thực vật và thủy sản phong phú ngay trên địa bàn mình cư trú để làm thức ăn, đồ nếp là nguồn thức ăn chính mà họ
ưa thích Phương tiện giao thông đi lại chủ yếu à dùng thuyền mà khởi nguồn là những cây tre được ghép lại, là cây gỗ được khoét rỗng thành thuyền độc mộc và sau này là những chiếc thuyền được chế tác khá hoàn hảo tiện lợi như hình vẽ in trên mặt trống đồng
Lại một lần nữa cho thấy rằng con người tử thuở sơ khai đã định cư tại những vùng đất ngập nước quan trọng đặc biệt là các lưu vực sông lớn
Đất ngập nước là nền tảng, là cảm hứng cho văn học nghệ thuật
Đất ngập nước tại khu vực Bắc Bố nói riêng và trên toàn thể Việt Nam nói chung là nền tảng cho nền văn học nghệ thuật từ dân gian đến hiện đại
Hình ảnh con thuyền và sông nước đã ăn sâu vào tâm khảm đến mức mọi mặt sinh hoạt của đời sống con người đều lấy con thuyền và sông nước làm chuẩn mực và đối tượng so sánh trong hàng loạt cách nói dân gian [Trần Ngọc Thêm, 2004] Có thể lấy ví dụ từ kho tàng ca dao, tục ngữ, thành ngữ xưa như: Chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo, chết trong còn hơn sống đục, ăn cỗ đi trước, lội nước theo sau, bồi ở, lở đi, thuyền theo lái, gái theo chồng…
Trang 27Theo tác giả Phạm Bình Quyền [2002], ĐNN và các tài nguyên sinh thái ĐNN là nguồn cảm hứng sang tạo cho nhiều nhà văn, nhà thơ, nhạc sỹ Lấy ví dụ điển hình là hoa sen (thấy nhiều trong các chạm khắc ở đền, chùa, trong các điệu múa, bài ca dao và gần đây nhất, hoa sen được lấy làm biểu tượng của hàng không Việt Nam) Hoặc chim hạc (sếu), rồng là một trong bốn loài sinh vật quý có ý nghĩa, có đời sống liên quan đến ĐNN, là biểu tượng, là vật thờ thiêng liêng Cũng chính từ các vùng đất ngập nước như ao, ruộng lúa, khu vực Bắc Bộ
đã xuất hiện rối nước, một loại hình sân khấu đặc sắc phổ biến từ thời Lý Đây là nền nghệ thuật của những người nông dân quen với ngâm bùn lội nước trồng nên cây lúa (Trần Ngọc Thêm,2004) Trên mặt ao dựng lên một ngôi nhà nhỏ gọi là thủy đình; thủy đình thường có 2 tầng, phía trước có màn che Hiện nay, tại tỉnh
Hà Tây vẫn còn nguyên một nhà hát rối nước được xây dựng từ thời Lê ở hồ Long Trì, trước của chùa Thầy
Lễ hội đả ngư (đánh cá), lễ hội truyền thống của vùng non Tản, được tổ
chức vào ngày 15 tháng 9 hàng năm, bắt nguồn từ một truyền thuyết về lần Đức Thánh Tản kéo vó trên sông Tích
Hội đánh cá làng Me (Hà Tây)
Làng Me, xã Tích Giang (Phúc Thọ) thường mở hội làng từ ngày 2 đến mồng 10 tháng 2 âm lịch hàng năm Bên cạnh phần lễ phần hội của hội làng Me
có nhiều trò chơi dân gian, đặc sắc hơn cả là cuộc thi đánh cá vào ngày mồng 4
Lễ hội bơi Đăm
Từ bao đời nay câu ca “Bơi Đăm, rước giá, hội Thày…” đã in đậm trong tâm trí mỗi người dân trong vùng và cả nước, bởi nó mang một đặc điểm riêng biệt độc đáo Rất nhiều hội làng có bơi chải, nhưng phần lớn thuần túy là trò đua tài, giải trí, còn ở hội Đăm bơi chải là mô phỏng các đánh giặc bằng thủy quân của danh tướng Bạch Hạc Tam Giang Đào Trường từ thời vua Hùng Huệ Vương (Hùng Vương thứ 16) Khi giặc phương Bắc xâm lược nước Văn Lang, Hùng Duệ Vương với thổ lệnh Đào Trường vàn kế hoạch đánh giặc, ông tâu rằng “nên đón
Trang 28đường thủy mà đánh” Nhà vua giao cho ông thống lĩnh thủy quân, chỉ một trận đã dẹp tan giặc
Lễ hội nước trên sông Hồng
Hằng năm, từ ngày 10 đến ngày 12 tháng 2 âm lịch, nhiều xã ven sông Hồng thuộc huyện Châu Giang (Hưng Yên) đều tổ chức lễ rước nước, trong đó lớn nhất phải kể đến lễ rước nước của xã Dạ Trạch và Bình Minh với hàng nghìn người tham dự Từng đoàn thuyền bơi từ xã sang bãi Tự Nhiên, nơi xưa kia chàng trai nghèo Chử Đồng Tử và công chúa Tiên Dung lần đầu gặp gỡ, rồi quây thành vòng tròn ở giữa sông để lấy nước đổ vào chóe, dùng làm nước thờ hàng năm
Bơi chải
Hằng năm, từ ngày 9 đến ngày 15 tháng 7 âm lịch, làng Tào Xá, huyện Tam Thanh, Phú Thọ có tục bơi chải, từ trước cửa đền ở bờ ra giữa đầm lớn (nối với sông Hồng với sông Đà) Tục này gắn liền với một chiến tích chống quân xâm lược Tống thế kỷ 11, được ghi trong bản thần phả chép năm 1573 hiện còn lưu ở làng
Bơi thuyền
Hằng năm, làng Văn Trưng (Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc) có tục thi bơi thuyền trân đầm Dưng trước cửa đình làng Những chiếc thuyền dự thi là những chiếc thuyền ván, dài chừng 5 - 6 thước, trên mỗi thuyền có 6 tay đua Đặc biệt họ không dùng mái chèo để bơi, mà phải bơi bằng những đĩa phố, mỗi tay cầm một chiếc
Đua ghe ngo ở Trung Bộ
Ngày xưa có lẽ các đây hàng trăm năm về trước, vào ngày lễ Óc-om-bóc hàng năm, người Khmer thường tổ chức đua ghe ở Peam-kên-thô, tức là Vàm Tho, thuộc huyện Mỹ Xuyên ngày nay Ở đó, ghe Ngo của các nơi từ vùng Bạc Liêu lên, các vùng Kiên Giang xuống đều thuận tiện, vì ở đó có một đoạn sông thẳng, dòng nước chảy đều, trên bờ có chợ búa, dân chúng cất nhà ở đông vui Những người đến xem đua ghe lúc đó thường là đi bằng ghe “Ca hâu” (tức ghe bầu) và ghe “Ca chai” (tức ghe tam bản) đậu dọc hai bên bờ, họ đem theo nồi niêu, bếp củi
Trang 29tự nấy ăn Sau này, khi Tây vào, chúng bắt phải dời điểm đua từ Vam Tho về sông Ompuyea, tức sông Nhu Gia, xã Thạnh Phú, huyện Mỹ Xuyên bây giờ
Lễ hộ nghinh Ông là lễ hội cúng cá Ông của ngư dân các tỉnh miền ven biển
Việt Nam từ Quảng Bình trở vào Nam (gồm cả Phú Quốc) Cũng nhiều lễ hội khác, lễ hội Nghinh Ông là lễ hộ cầu ngư: cầu cho biển lặng gió hòa, ngư dân may mắn làm ăn phát đạt, an khang
Lễ hội nghinh Ông là lễ hội nước lớn nhất của ngư dân Có nhiều tên gọi khác nhau như lễ rước cốt ông, lễ cầu ngư, lễ tế cá “Ông”, lễ cúng “Ông”, lễ nghinh “Ông”, lễ nghinh ông Thủy tướng, nhưng tất cả đều có chung một quan niệm rằng cá “Ông” là sinh vật thiêng liêng ở biển, là cứu tinh đối với những người đánh cá và làm nghề trên biển nói chung Điều này đã trở thành một tính ngưỡng dân gian phổ biến trong các thế hệ ngư dân ở các địa phương nói trên
Ở mỗi địa phương, lễ hội nghinh Ông diễn ra vào một thời điểm khác nhau
Phần lễ:Thông thường lễ hội nghinh Ông có lễ rước và lễ tế truyền thống
Lễ rước kiệu của Nam hải Tướng quân xuống thuyền rồng ra biển Dọc theo đường rước, ngư dân sống trên biển và bà con bày lễ vật nghênh đón, khói nhang nghi ngút Cùng với thuyền rồng rước thủy tướng, có hàng trăm ghe lớn nhỏ, trang hoàng lỗng lẫy, cờ hoa rực rỡ tháp tùng ra biển nghênh ông Trước mũi ghe là hương án và mâm lễ vât Trên các ghe lớn nhỏ này có chở hàng ngàn khách và bà con tham dự đoàn rước Đoàn rước quay về bến nơi xuất phát, rước ông về lăng ông Thủy tướng (nếu có địa phương đó) Tại bến một đoàn múa lân, sư tử, rồng đã đợi sẵn để đón ông về lăng
Lễ tếdiễn ra trang trọng sau lễ rước với nghi thức cổ truyền Các lễ cầu an, xây chầu đại hội, hát bội diễn ra tại lăng ông Thủy tướng
Phần hội: Trước thời điểm diễn ra lễ hội, đã có hàng trăm chiếc tàu đánh cá của ngư dân được trang trí cơ hoa neo đậu dưới bến sông Phần hội gồm các nghi thức rước Ông ra biển với hàng trăm ghe tàu lớn nhỏ cùng các lễ cúng trang trọng
Ở tại nhà suốt ngày lễ hội, các ngư dân mời thỉnh lẫn nhau, kể các khách từ nơi xa đến cùng nhau ăn uống, vui chơi, trò chuyện thân tình
Trang 30Những hình thức văn hóa Lễ hội nghinh Ông cũng giúp bảo tồn cá voi và những thủy vực có liên quan trong đời sống tâm linh của ngư dân biển
1.3.3 Tại vùng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu tập chung chính vào vùng cửa Sông Hồng gồm 2 vùng nghiên cứu trọng điểm là: đất ngập nước tại khu bảo tồn thiên nhiên Tiền Hải thuộc tỉnh Thái Bình và đất ngập nước tại vườn quốc gia Xuân Thủy thuộc tỉnh Nam Định
Khu bảo tồn thiên nhiên Tiền Hải - tỉnh Thái Bình là vùng đất ngập nước quan trọng tại Cửa Sông Hồng vùng châu thổ sông Hồng Với diện tích 12.500 ha, năm 2004 UNESCO công nhận là một trong những vùng lõi quan trọng của khu dự trữ sinh quyển thế giới
Vườn Quốc gia Xuân Thủy là một trong những hệ sinh thái đại trưng có một nền văn hóa liên quan đến đất ngập nước Tháng 01/1989 Vùng bãi bồi ở cửa sông ven biển thuộc huyện Giao Thuỷ được UNESCO chính thức công nhận gia nhập công ước Ramsar - Công ước bảo vệ những vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế, đặc biệt như là nơi di trú của những loài chim nước Đây là điểm Ramsar thứ 50 của thế giới, đầu tiên của Đông Nam Á, độc nhất của Việt Nam suốt 16 năm (tới năm 2005, Việt Nam mới có khu Ramsar thứ 2 là khu Bàu Sấu của VQG Cát Tiên ở tỉnh Đồng Nai) Vùng đất ngập nước tại Vườn quốc gia Xuân Thủy có một nền văn hóa đặc trưng cho vùng miền và có mối liên hệ chặt chẽ với việc duy trì, bảo tồn đất ngập nước nơi đây
Trang 31Hình 1.2.Bản đồ Vùng cửa sông Hồng
“Nguồn: [Internet]”
Cửa sông Hồng là nơi tiếp giáp về mặt địa giới hành chính giữa hai huyện
Giao Thuỷ (tỉnh Nam Định) và Tiền Hải (tỉnh Thái Bình) Đây là khu vực đất ngập
nước cửa sông mang ý nghĩa rất quan trọng về mặt kinh tế xã hội, sinh học cũng
như nghiên cứu khoa học Vườn Quốc gia Xuân Thủy và khu bảo tồn thiên nhiên
Tiền Hải đều nằm trong khu vực này Trong những năm gần đây, cùng với đà phát
triển của nền kinh tế quốc dân, rất nhiều dự án phát triển kinh tế xã hội cũng như
các đề tài khoa học về khai thác, bảo tồn và phát triển tài nguyên, đặc biệt là tài
nguyên đất ngập nước đã được nghiên cứu và triển khai trên khu vực hết sức nhạy
cảm này Điều này cùng với tác động của các quá trình tự nhiên (sóng, dòng chảy,
bồi tụ, thuỷ triều ) đã gây ra những biến động đáng kể về trữ lượng cũng như chất
lượng tài nguyên trong khu vực, đặc biệt là các biến động về diện tích sử dụng tài
nguyên đất Hệ sinh thái cửa sông Hồng thuộc vào đới duyên hải, là loại cửa sông
Kh bảo tồ thiên
n iên Tiền Hải
Trang 32châu thổ Đây là một vùng biến động nhanh các yếu tố tài nguyên và môi trường cả
về mặt không gian và thời gian, mà ở đó các mâu thuẫn giữa kinh tế và môi trường rất phức tạp và đan xen nhau, không thể giải quyết riêng rẽ được
VQG Xuân Thủy nằm về bờ phía Nam của cửa Sông Hồng bao gồm các cồn cát bồi tụ, các bãi triều và các bãi bùn Các cồn Lu và Ngạn được hình thành cách đây khoảng 40-50 năm về trước do quá trình bồi tụ của phù sa sông Hồng mang từ đất liền ra vì lượng phù sa của sông Hồng rất lớn (khoảng 115 triệu tấn năm) Sau khi được hình thành các cồn này lại thúc đẩy quá trình bồi tụ ở vùng cửa sông Những vật liệu bồi tụ được sắp xếp lại nhờ hoạt động của sóng và thuỷ triều Chiều khuất sóng được hình thành bởi các vật liệu mịn, độ dốc nhỏ thuận lợi cho cây ngập mặn phát triển Còn chiều hướng sóng được hình thành bởi nguyên liệu thô,
độ dốc lớn và cây ngập mặn không phát triển được hoặc phát triển rất kém Nhìn chung độ dốc giảm dần vào đất liền Cồn Ngạn nằm phía Đông nam sông Vọp và phía Tây nam sông Trà chạy dài từ cửa Sông Hồng đến xã Giao lạc dài 8 km Chỗ hẹp nhất là 1.000m, chỗ rộng nhất là 2.500 m, Cồn Lu nằm song song với cồn Ngạn, phía Tây nam giáp sông Trà, Đông nam giáp biển Đông, chạy từ cửa Thới đến xã Giao Xuân dài khoảng 10 km Chỗ rộng nhất là 2.500 m, chỗ hẹp nhất khoảng 1.500m Ngoài ra còn một số cồn khác được bồi tụ ở thời gian sau này như cồn Mờ
Khu bảo tồn thiên nhiên Tiền Hải nằm phía bờ Bắc cửa Sông Hồng, chạy dọc theo bờ biển tới giáp sông Lân dài khoảng 10 km, bao gồm dải đất ngập nước sát đê và các cồn cát cao như cồn Đen, cồn Vành, cồn Thủ chạy dài từ cửa Sông Hồng đến sông Lân, tiếp giáp với biển Đông Quá trình hình thành lên các cồn cát (Cồn Vành, cồn Thủ ) ở khu vực này cũng giống như bên phía Giao thuỷ, với cùng thành phần vật liệu bồi tụ và chịu tác động giống nhau của các yếu tố sóng, dòng chảy và thuỷ triều
Văn hoá truyền thống của vùng cửa Sông Hồng là sự hỗn dung sắc thái văn hoá của nhiều vùng miền của đất nước Việt Nam và đã được nhân cách hoá trong điều kiện môi trường của một vùng đồng bằng sông nước với cư dân sinh sống chủ
Trang 33yếu bằng cấy lúa nước, đánh bắt thuỷ hải sản, nghề phụ là các nghề thủ công chế biến lương thực thực phẩm, trồng bông dệt vải, trồng dâu nuối tằm ươm tơ dệt lụa, trồng cói chiếu trồng đay gai dệt võng, đan lưới vó, làm muối cùng các nghề rèn đúc kim loại Do vậy thành phần dân cư chủ yếu là nông dân, ngư dân và diêm dân
mà đặc điểm chủ yếu là chín người mười làng cùng hợp sức đồng tâm trị thuỷ khẩn hoang nuôi trồng và đánh bắt thuỷ hải sản, quai đê lấn biển thau chua rửa mặn thâm canh và quảng canh lúa nước, dâu tằm Trong truyền thống nét điển hình của văn hoá vùng cửa sông Hồng là một vùng văn hoá dân gian phong phú, đa dạng lễ hội truyền thống nhiều về số lượng, đa dạng về loại hình
Cùng chung với đặc điểm lễ hội vùng đồng bằng, trung du Bắc Bộ, lễ hội truyền thống ở đây được phân bố với mật độ cao vào những tháng nông nhàn theo chu kỳ sản xuất của hai vụ lúa chiêm, mùa với tâm thức “tháng tám giỗ cha, tháng
ba giỗ mẹ” Riêng những hội làng lớn duy trì nhiều lễ thức cổ xưa lại tập trung nhiều vào tháng tư và tháng chín Các lễ hội vào tháng tư, tháng chín thường kéo dài ngày có ảnh hưởng nhiều đến vùng phụ cận
Trang 34CHƯƠNG 2 ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, PHƯƠNG PHÁP
LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm, thời gian và đối tượng nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu: Vùng cửa sông Hồng bao gồm: VQG Xuân Thủy và 5
xã vùng đệm (Giao Thiện, Giao An, Giao Hải, Giao Xuân, Giao Lạc); Khu bảo tồn thiên nhiên Tiền Hải và 3 xã (Nam Hưng, Nam Thịnh, Nam Phú)
Thời gian nghiên cứu: Tháng 4 đến tháng 10 năm 2013
Đối tượng nghiên cứu: Bảo tồn văn hóa và bảo tồn đất ngập nước tại địa bàn nghiên cứu
2.2 Các câu hỏi nghiên cứu của đề tài luận văn
- Tại sao bảo tồn văn hóa lại liên quan đến bảo tồn đất ngập nước? Mối liên
hệ chặt chẽ giữa bảo tồn văn hóa và bảo tồn đất ngập nước?
- Tầm quan trọng của bảo tồn đất ngập nước và bảo tồn văn hóa?
- Các hoạt động văn hóa đang tồn tại và đã mai một tại vùng đất ngập nước nghiên cứu?
- Tác động của Công ước Ramsar đến việc bảo tồn đất ngập nước và bảo tồn văn hóa đối với vùng nghiên cứu
2.3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung: Làm sáng tỏ mối liên hệ qua lại giữa bảo tồn văn hóa và bảo tồn đất ngập nước để bảo tồn đất ngập nước thông qua văn hóa và ngược lại Mục tiêu cụ thể:
- Tìm hiểu cụ thể ĐNN tác động như thế nào đến văn hóa (mặt tích cực và mặt tiêu cực) và văn hóa tác động ngược trở lại như thế nào đối với ĐNN (mặt tích cực và mặt tiêu cực) Dựa trên những ví dụ cụ thể trên thế giới, tại Việt Nam và cụ thể tại vùng cửa Sông Hồng thông qua các cộng đồng dân cư có liên quan đến vùng nghiên cứu
- Đề xuất các giải pháp bảo tồn ĐNN thông qua bảo tồn văn hóa
Trang 352.4 Phương pháp luận (cách tiếp cận)
2.4.1 Tiếp cận sử dụng khôn khéo đất ngập nước
Sử dụng khôn khéo đất ngập nước: được định nghĩa là “duy trì đã điểm sinh thái của ĐNN qua việc thực hiện tiếp cận HST trong khuôn khổ phát triển bền vững” Do đó, tâm điểm của “Sử dụng khôn khéo” là bảo tồn và sử dụng bền vững ĐNN vì chúng có lợi ích cho con người (Wise use concept of Ramsar Convention, 1971)
Tâm điểm của tiếp cận sử dụng khôn khéo ĐNN nhấn mạnh đến việc quản
lý, bảo tồn ĐNN kết hợp chặt chẽ giữa bảo tồn các giá trị văn hóa của các vùng đất ngập nước cho cuộc sống con người Áp dụng tiếp cận sử dụng khôn khéo đất ngập nước theo Công ước Ramsar tại vùng nghiên cứu nhằm bảo tồn và duy trì các hoạt động văn hóa cũng như duy trì đất ngập nước cho con người nơi đây qua các thế hệ Tiếp cận chỉ ra cách có thể có những quyết định quản lý, bảo tồn phù hợp đối với các hoạt động ảnh hưởng đến đất ngập nước, ảnh hưởng đối với các hoạt động văn hóa Giữa các hoạt động văn hóa và dịch vụ dịch vụ đất ngập nước mang lại có quan hệ tương hộ, chặt chẽ Vì thế sự phát triển không phù hợp, thiếu quy hoạch tại đây sẽ gây lên những tác động tiêu cực các hoạt động văn hóa cũng như đất ngập nước tại nơi đây
2.4.2.Tiếp cận hệ thống
Tiếp cận hệ thống là một phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa phương pháp phân tích và tổng hợp bằng cách sử dụng kiến thức đa ngành, và thực hiện những phân tích hệ thống nhằm xác định mối liên kết và tương tác giữa các yếu tố cấu tạo nên hệ thống và phương hướng ứng dụng lý thuyết này trong thực tiễn Tiếp cận hệ thống cho người nghiên cứu một cách nhìn vấn đề toàn diện để nghiên cứu một cách bao quát hơn Trong đó, hệ thống được định nghĩa là: “ Một tổng thể duy trì sự tồn tại bằng sự tương tác giữa các tổ phần tạo nên nó Sự thay đổi của một thành tố sẽ dẫn tới sụ thay đổi một thành tố khác và từ đó dẫn tới thay đổi thành tố thứ ba”[L.v.Bertalanffy, 1956] Phương pháp tiếp cận hệ thống được sử dụng ở đây nhằm mục đích nghiên cứu toàn bộ những mối quan hệ qua lại tương
Trang 36tác lẫn nhau giữa một bên là văn hóa và một bên là đất ngập, tìm hiểu mối tương tác giữa bảo tồn văn hóa và bảo tồn đất ngập nước để làm sáng tỏ nội dung nghiên cứu
2.4.3.Tiếp cận lịch sử logic
Phương pháp này dựa vào mối quan hệ nhân quả có tính liên tục giữa quá khứ, hiện tại và tương lai [Vũ Cao Đàm, 2007] Cụ thể trong đề tài nguyên cứu là giữa các giá trị văn hóa và giá trị đất ngập nước trong điều kiện hiện nay Giá trị văn hóa một mặt là thước đo việc duy trì bảo tồn đất ngập nước trong quá trình phát triển của lịch sử, mặt khác, nó xác định mối quan hệ nội tại rõ ràng và ổn định của các nền văn hóa khi chúng được chọn lọc và định hình ở cấp độ những giá trị văn hóa Thông qua tìm hiểu lịch sử, truyền thống và thông qua những nghiên cứu
khoa học đã thực hiện cần đưa ra một lý luận về sự logic của vấn đề nghiên cứu
2.5 Phương pháp nghiên cứu
2.5.1.Phương pháp phân tích sinh thái nhân văn
Phân tích sinh thái nhân văn xem xét mối tương tác qua lại giữa con người
và tự nhiên trong môi trường sinh thái trong đó nhấn mạnh vai trò và những tác động tới cuộc sống của con người[Nguyễn Đình Hòe và Vũ Văn Hiếu, 2007]
Đối tượng nghiên cứu lớn nhất trong khóa luận này đó là các nền văn hóa hình thành đều là sản phẩm do con người tạo lập trong quá trình phát triển dựa vào các yếu tố tự nhiên hình thành lên, cụ thể đó là vùng đất ngập nước dưới tác động của con người hình thành lên các nền văn hóa riêng biệt Cũng theo đó nền văn hóa
đó có được duy trì và phát triển theo thời gian hay dần bị mai một do sự phát triển,
đó là các vấn đề cần giải quyết trong báo cáo nghiên cứu
2.5.2.Phỏng vấn bán cấu trúc
Phỏng vấn bán cấu trúc là cuộc đối thoại có chủ định Người phỏng vấn kết hợp với những câu hoải có trước và những câu hỏi phát sinh thêm trong quá trình phỏng vấn Vì vậy, thông tin có được không chỉ hạn chế trong tập câu hỏi đã xác định trước mà còn tiến triển theo các thông tin mới có được từ những người phỏng vấn [Trungtâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường - Đại học Quốc gia Hà Nội,
Trang 372009] Phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc được sử dụng để thu thập thông tin của những hộ gia đình, người dân, cán bộ quản lý thông qua việc sử dụng bảng hỏi
và một số câu hỏi phát sinh thêm trong quá trình phỏng vấn để tìm hiểu rõ những vấn đề quan tâm Mục đích của phương pháp là điều tra theo phiếu điều tra đã lập
và các câu hỏi thêm phát sinh theo phiếu câu hỏi để đạt được mục đích cần nghiên cứu
Số lượng và thành phần tham gia phỏng vấn bản cấu trúc:
- Đối tượng 1: Nhà truyền giáo, truyền đạo sống ven vùng đất ngập nước nghiên cứu (5 phiếu)
- Đối tượng 2: Các bô lão sống ven vùng đất ngập nước nghiên cứu (5 phiếu)
- Đối tượng 3: Các nghệ nhận sống ven cùng đất ngập nước nghiên cứu (5 phiếu)
- Đối tượng 4: Người dân sống ven vùng đất ngập nước nghiên cứu (25 phiếu)
2.5.3.Phỏng vấn sâu
Phỏng vấn sâu là cuộc trao đổi theo một chủ đề nhất định nhằm tìm hiểu các diễn biến xã hội theo một trình tự thời gian nhất định và với những mối quan hệ nhất định Đây là phương pháp công tác điền dã ưu thế, nhằm hồi cố lịch sử các diễn biến của các sự kiện được tìm hiểu Trước khi thực hiện phỏng vấn sâu, tác giả tìm hiểu trước thông tin từ tư liệu thành văn nhằm nằm được những dữ kiện ban đầu và hướng buổi phỏng vấn theo mục đích tìm hiểu mình mong muốn Sau
đó, phụ thuộc tình hình cụ thể và tính đa dạng của vấn đề mà bổ sung thêm thông tin mới để bổ xung cho khung nền kiến thức ban đầu Đây là hình thức đối thoại trực tiếp giữa nhà nghiên cứu với với các thành viên am hiểu lịch sử, văn hóa tại địa bàn nghiên cứu [Vũ Cao Đàm, 2007]
Mục đích của phương pháp chủ yếu là để khai thác thông tin từ các cá nhân được phỏng vấn làm sáng tỏ vấn đề cần nghiêm cứu cụ thể về văn hóa và đất ngập nước
Trang 382 5.4.Phân tích hồi cố
Phương pháp hồi cố được sử dụng để nghiên cứu các quá trình, sự kiện trong lịch sử [Vũ Cao Đàm, 2007], cụ thể các nền văn hóa đất ngập nước nổi trội thông qua người cao tuổi và các các tài liệu lưu truyền
Mục đích của phương pháp là thống kê cơ bản về sự biến động đất ngập nước, các hoạt động văn hóa liên quan đất ngập nước đã bị mai một và đang tồn tại
Trang 39CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Thống kê sơ lược vùng đất ngập nước cửa Sông Hồng
3.1.1 Tổng quan chung về vùng đất ngập nước cửa sông Hồng
Vùng đất ngập mước cửa sông Hồng chủ yếu tập trung vào hai khu vực chính Vườn quốc gia Xuân Thủy và Khu bảo tồn thiên nhiên Tiền Hải
Hình 3.1.Vị trí vùng nghiên cứu trong bản đồ hành chính
“Nguồn: [Internet]”
Trang 40a) Điều kiện tự nhiên
Vườn quốc gia (VQG) Xuân Thuỷ nằm ở phía Nam cửa sông Hồng thuộc địa phận huyện Giao Thuỷ là VQG đầu tiên của Việt Nam được UNESCO công nhận chính thức gia nhập công ước Ramsar năm 1989 Có tọa độ: 20010’ -20015’
vĩ độ Bắc, 106020’ – 106032’ kinh độ Đông VQG có 5 xã nằm trong khu vực vùng đệm bao gồm xã Giao Thiện, Giao An, Giao Lạc, Giao Xuân, Giao Hải) - Đây là khu vực có vị trí thuận lợi để phát triển, đặc biệt là phát triển về các hoạt động đánh bắt, nuôi trồng thủy sản Bên cạnh đó đây là vùng có rất nhiều các điều kiện để phát triển du lịch nhưng cùng với thế mạnh đang có trong thời gian gần đây khu vực vùng đệm đang bị suy thoái bới các hoạt động khai thác, nuôi trồng thủy sản không đúng kỹ thuật
Khu bảo tồn thiên nhiên Tiền Hải nằm ở vị trí tả ngạn Sông Hồng thuộc tỉnh Thái Bình Nằm trên 3 xã (Nam Thịnh, Nam Hưng, Nam Phú), đời sống của người dân chủ yếu dựa vào sản xuất và khai thác thủy hải sản
- Khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia thành 2 mùa rõ rệt, mùa nóng từ tháng 5 –
11, mùa lạnh từ tháng 11 – 5, kho anh vào đầu mùa, ẩm ướt vào cuối mùa [Phan Nguyên Hồng và cộng sự, 2004]
- Thủy văn: Chế độ thủy triều ảnh hưởng rất sâu sắc đến hoạt động của người dân miền biển Giao Thủy từ nuôi trồng đến khai thác thủy hải sản Vùng thuộc chế độ Nhật Triều, chu kỳ rên dưới 23 giờ, biên độ triều trung bình khoảng
150 – 180 cm, lớn nhất 3,3 m, nhỏ nhất 0,25 m Mực nước triều cao nhất vào mùa bão và phụ thuộc vào gió Biên thiên của thủy triều khoảng nữa tháng có 1 lần triều cường và 1 lần triều kém Đôi khi cũng xảy ra 1 tháng 3 lần triều kém, 2 lần triều cường và ngược lại [Phan Nguyên Hồng và cộng sự, 2004]
- Tài nguyên sinh vật: mức độ đa dạng sinh học cao với nhiều loài quý hiếm
và nguồn giống thủy hải sản tương đối phong phú phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt
và sinh kế của người dân địa phương Do đó cần có những biện pháp quy hoạch, bảo vệ hợp lý để bảo tồn những loài quý hiếm, phát triển nguồn giống để có thể