Bài giảng pptx các môn chuyên ngành Y dược hay nhất có tại “tài liệu ngành dược hay nhất”; https:123doc.netusershomeuser_home.php?use_id=7046916. Slide vi sinh ppt dành cho sinh viên chuyên ngành Y dược. Trong bộ sưu tập có trắc nghiệm kèm đáp án chi tiết các môn, giúp sinh viên tự ôn tập và học tập tốt môn vi sinh bậc cao đẳng đại học chuyên ngành Y dược
Trang 21 Trình bày được đối tượng nghiên cứu và các mốc lịch sử phát triển
cơ bản của vi sinh vật y học.
2 Mô tả được 3 loại hình thể, kích thước của vi khuẩn.
3 Nêu được các thành phần cấu trúc và vai trò cơ bản của tế bào vi
6 Nêu được 3 loại đường truyền bệnh của vi sinh vật gây bệnh, mỗi
loại đường truyền bệnh đưa ra một số ví dụ minh họa.
Trang 3Vi sinh vật học là khoa học nghiên cứu về:
Vi sinh vật y học bao gồm các tiểu phân môn:
- Vi khuẩn học (Bacteriology): là khoa học nghiên cứu về những vi
sinh vật đơn bào không có màng nhân
- Virus học (Virology): là khoa học nghiên cứu về những vi sinh vật
không có cấu trúc tế bào, kích thước bé hơn vi khuẩn
Trang 4người Hà Lan, năm 1676 đã làm ra được
kính hiển vi có độ phóng đại quan sát
được các hình thể của vi khuẩn
Trang 5Louis Pasteur (1822-1895):
- Nhà bác học lỗi lạc người Pháp Được
coi là người sáng lập ngành Vi sinh vật
học và Miễn dịch học
- Là người đã đấu tranh chống lại thuyết
“tự sinh” và giáng đòn quyết định đánh
đổ thuyết này
- Năm 1881: tìm ra phương pháp tiêm
phòng bệnh than
- Năm 1885: thành công trong việc sản
xuất vacxin phòng bệnh dại
nhà khoa học vĩ đại của loài người
Trang 6Robert Koch (1843-1910):
- Là bác sĩ thú y người Đức, có nhiều đóng góp quan trọng cho ngành vi sinh vật học:
- Năm 1876 phát hiện ra vi khuẩn than
- Năm 1882 phân lập được vi khuẩn lao
- Năm 1884 phân lập được vi khuẩn tả
- Năm 1890 tìm ra phản ứng tuberculin
và hiện tượng dị ứng lao
Trang 7những đóng góp đáng kể trong lĩnh vực vi sinh y học như:
- A.J.E Yersin (1863-1943) là người Thụy Sỹ đã phát hiện ra vi khuẩn
và dây chuyền dịch tễ học của vi khuẩn dịch hạch
- Dimitri Ivanopxki (1864-1920) là một nhà thực vật học người Nga, có công đầu trong việc phát hiện ra virus
- Năm 1873, Hansen đã tìm ra trực khuẩn phong
- Năm 1905, Schaudin và Hoffman đã tìm ra vi khuẩn giang mai
- Năm 1929, Fleming tìm ra penicillin, loại kháng sinh đầu tiên được dùng để chống lại vi khuẩn
- Năm 1957, Isaacs và Linderman tìm ra interferon
- Năm 1964, Epstein và Barr tìm ra virus gây ung thư vòm họng (EBV)
- Năm 1983, Montagnies tìm ra virus HIV
Và rất nhiều các nhà khoa học khác trong những năm kế tiếp
Trang 8Dựa vào hình thể người ta chia vi khuẩn làm 3 loại chính: cầu khuẩn, trực khuẩn và xoắn khuẩn.
Trang 9
Dựa vào hình thể người ta chia vi khuẩn làm 3 loại chính: trực khuẩn (A), cầu khuẩn (B, C, D) và vi khuẩn hình xoắn (E, F)
Trang 102.1.1 Cầu khuẩn (Cocci)
Cầu khuẩn là những vi khuẩn có hình cầu, hoặc gần giống hình cầu, mặt cắt của chúng có thể là những hình tròn, nhưng cũng có thể là hình bầu dục, hoặc ngọn nến Đường kính trung bình khoảng 1 µm.
Theo cách sắp xếp của vi khuẩn, cầu khuẩn được chia làm nhiều loại như:
- Đơn cầu là những cầu khuẩn đứng riêng rẽ
- Song cầu là những cầu khuẩn đứng với nhau từng đôi một
- Tụ cầu là những cầu khuẩn tụ lại với nhau thành từng đám
- Liên cầu là những cầu khuẩn nối với nhau thành từng chuỗi.
Trang 11Song
cầu
Tụ cầu
Trang 12
Liên cầu
Trang 13Trực khuẩn là những vi khuẩn hình que, đầu tròn hay vuông, kích thước của các vi khuẩn gây bệnh thường gặp là chiều rộng
Trang 15Là những vi khuẩn có hình sợi lượn sóng như lò xo, kích thước
khoảng 0,2x(10-15) µm, có loại chiều dài có thể tới 30µm Trong xoắn
khuẩn đáng chú ý nhất là xoắn khuẩn giang mai (Treponema pallidum)
và Leptospira.
Ngoài những vi khuẩn có dạng điển hình còn có những vi khuẩn có
dạng trung gian
Trung gian giữa cầu khuẩn và trực khuẩn là cầu - trực khuẩn, như
vi khuẩn dịch hạch, phẩy khuẩn tả (Vibrio cholerae)
Hình thể là một tiêu chuẩn rất quan trọng trong việc xác định vi
khuẩn, mặc dù phải kết hợp với các yếu tố khác như tính chất sinh học, kháng nguyên, khả năng gây bệnh,… Trong một số trường hợp nhất định, dựa vào hình thể vi khuẩn kết hợp với dấu hiệu lâm sàng, người ta có thể chẩn đoán xác định bệnh
ví dụ: bệnh lậu cấp tính
Trang 17- Vi khuẩn là những sinh vật đơn bào, không có màng nhân điển hình, nên có cấu trúc đơn giản hơn nhiều so với các tế bào có màng nhân.
Sơ đồ cấu trúc tế bào vi khuẩn
Trang 18- Không có nhân điển hình
- Không có màng nhân ngăn cách với nguyên sinh chất, nên gọi là procaryote
- Nhân của tế bào vi khuẩn là một phân tử DNA xoắn kép dài
khoảng 1mm, khép kín thành vòng tròn dạng xếp gấp
- Nhân là nơi chứa thông tin di truyền của vi khuẩn
2.2.2 Bào tương (Cytoplasma)
Được bao bọc bởi màng bào tương, bao gồm:
- Nước (chiếm khoảng 80%) dưới dạng gel Gồm các thành phần hòa tan như: protein, peptid, acid amin, RNA, ribxom,… và cả một số nguyên tố hiếm
- Protein chiếm khoảng 50% khối lượng khô của vi khuẩn và
khoảng 90% năng lượng của vi khuẩn để tổng hợp protein
- Các enzym nội bào được tổng hợp đặc hiệu với từng loại vi
khuẩn
Trang 19- RNA có ít nhất 3 loại: RNA thông tin, ARN vận
chuyển, ARN riboxom.
- Các hạt vùi: đây là những không bào chứa lipid,
glycogen và một số không bào chứa các chất có tính đặc trưng cao với một số loại vi khuẩn.
- Trong bào tương của vi khuẩn còn có thông tin di
truyền, đó là các loại plasmid và transposon.
- Nếu so sánh với tế bào của sinh vật có nhân điển
hình (eucaryote) ta thấy bào tương của vi khuẩn không có:
ty thể, lạp thể, lưới nội bào và cơ quan phân bào.
Trang 20- Bao quanh bào tương và nằm bên trong vách tế bào vi khuẩn.
Cấu trúc: là một lớp màng mỏng, tinh vi và chung giãn Bao gồm: 60% protein,40% lipid mà đa phần là phospholipid
Chức năng: thực hiện một số chức năng quyết định sự tồn tại của
tế bào vi khuẩn:
+ Hấp thụ và đào thải chọn lọc các chất
+ Nơi tổng hợp các enzym ngoại bào
+ Nơi tổng hợp các thành phần của vách tế bào
+ Nơi tồn tại của hệ thống enzym hô hấp tế bào, hiện các quá trình năng lượng chủ yếu của tế bào thay cho chức năng của ty thể, lạp thể + Tham gia vào quá trình phân bào nhờ các Mạc thể - là thành
phần cuộn vào bào tương của màng bào tương, thường gặp ở vi
khuẩn Gram dương, còn ở vi khuẩn gram âm chỉ thấy những nếp nhăn
Trang 21Có ở mọi vi khuẩn trừ Mycoplasma
- Cấu trúc: là bộ khung vững chắc bao bên ngoài màng bào tương Vách được cấu tạo bởi đại phân tử glycopeptid (peptidoglycan,
mucopeptid, murein), nối với nhau tạo thành mạng lưới phức tạp bao bên ngoài màng bào tương
+ Vách tế bào vi khuẩn gram dương: bao gồm nhiều lớp
peptidoglycan, ngoài ra vách tế bào của một số vi khuẩn gram dương còn chứa acid teichoic
+ Vách tế bào vi khuẩn gram âm: lớp peptidoglycan mỏng hơn,
nằm sát với màng nguyên tương và hai lớp lipoprotein và
lipopolysaccharide ở bên ngoài, lớp lipoprotein chứa tất cả những acid amin thông thường nhưng không chứa acid teichoic Nên vách này mỏng hơn vách vi khuẩn gram dương, do đó chúng dễ bị phá vỡ bởi các lực cơ học hơn
Trang 22- Chức năng của vách:
+ Duy trì hình thể của vi khuẩn
+ Quyết định tính chất bắt màu của vi khuẩn
+ Tạo nên nội độc tố của vi khuẩn đường ruột
+ Quyết định tính chất kháng nguyên thân O của vi khuẩn
+ Vách tế bào vi khuẩn cũng là nơi mang các điểm tiếp nhận (receptor) đặc hiệu cho thực khuẩn thể (bacteriophage) Vấn đề này có ý nghĩa trong việc phân loại vi khuẩn, cũng như phage và các nghiên cứu cơ bản khác.
Trang 23Là một lớp nhầy lỏng lẻo, sền sệt, không rõ rệt bao quanh vi khuẩn Chỉ một số vi khuẩn và trong những điều kiện nhất định vỏ mới hình thành.
Bản chất hóa học của vỏ: không giống nhau, vỏ của nhiều vi khuẩn
là polysaccharid, như vỏ của E coli, Klebsiella, phế cầu… Nhưng vỏ của một số vi khuẩn khác là polypeptid như vi khuẩn dịch hạch, trực khuẩn than,…
Chức năng: bảo vệ, chống hiện tượng thực bào
Trang 24Là cơ quan phụ của vi khuẩn như lông Nó có thể mất đi mà không ảnh hưởng tới sự tồn tại của vi khuẩn Pili có ở nhiều vi khuẩn Gram
âm và một số loại vi khuẩn Gram dương
Pili có cấu trúc như lông nhưng ngắn và mỏng hơn
Dựa vào chức năng, người ta chia pili làm 2 loại:
+ Pili giới tính hay pili F (fertility) chỉ có ở các vi khuẩn đực, mỗi vi khuẩn đực chỉ có một pili này
+ Pili chung: là những pili dùng để bám Mỗi tế bào vi khuẩn có thể
có tới hàng trăm pili này
Trang 25
2.2.8 Nha bào
Nhiều loại vi khuẩn có khả năng tạo nha bào khi điều
kiện sống không thuận lợi Mỗi vi khuẩn chỉ tạo được một nha bào.
Khi điều kiện sống thuận lợi, nha bào vi khuẩn lại nảy mầm để đưa vi khuẩn trở lại dạng sinh sản.
Nha bào có sức đề kháng rất cao, tồn tại được lâu trong đất và môi trường xung quanh.
Trang 26
2.3 Sinh lý của vi khuẩn
2.3.1 Dinh dưỡng:
- Nhu cầu về dinh dưỡng của vi khuẩn gồm acid amin,
đường, muối khoáng, nước
- Cơ chế dinh dưỡng của vi khuẩn nhờ sự hấp thụ và đào thải các chất qua màng.
2.3.2 Hô hấp:
Hô hấp là quá trình trao đổi chất, tạo ra năng lượng cần thiết
để tổng hợp nên các chất mới của tế bào Gồm 3 loại:
- Hô hấp hiếu khí
- Hô hấp kỵ khí
- Hô hấp hiếu kỵ khí tùy tiện
Trang 27- Để phân giải các chất dinh dưỡng, vi khuẩn tiết ra các loại enzym tương ứng với từng chất.
- Quá trình chuyển hóa của vi khuẩn, ngoài việc phục vụ cho sinh trưởng và phát triển, còn tạo ra một số chất như: độc tố, kháng sinh, chất gây sốt, sắc tố, vitamin,…
2.3.4 Phát triển:
- Trong môi trường lỏng: có thể làm đục đều môi trường, lắng cặn hoặc tạo thành váng Sự phát triển của vi khuẩn trong môi trường lỏng được chia thành 4 giai đoạn: thích ứng, tăng theo hàm số mũ, dừng tối đa, suy tàn
- Trong môi trường đặc: mỗi vi khuẩn sẽ phát triển thành một khuẩn lạc riêng rẽ Có 3 dạng khuẩn lạc chính: dạng S, dạng M
và dạng R.
Trang 29Sơ đồ về giai đoạn phát triển của vi khuẩn trong môi trường lỏng
Trang 302.3.5 Sinh sản:
- Vi khuẩn sinh sản theo kiểu song phân, từ
một tế bào mẹ tách thành hai tế bào con.
- Trong những điều kiện thích hợp, sự phân
chia này diễn ra rất nhanh (20-30 phút đối với các
vi khuẩn thường như E.coli,…), có những vi khuẩn chậm hơn (30 giờ đối với vi khuẩn lao).
Trang 31- VSV trong đất
- VSV trong nước
- VSV trong không khí
3.2 Vi sinh vật ký sinh ở cơ thể người
- Ở da và niêm mạc: chủ yếu là cầu khuẩn gram dương, ngoài ra còn
có các trực khuẩn gram dương như Corynebacterium hoffmanii,
Trang 32- Do ăn uống phải thức ăn, nước uống bị nhiễm vi sinh vật từ người bệnh, hoặc người lành mang mầm bệnh bài tiết ra, hoặc sử dụng những đồ dùng, dụng cụ y tế,… đã nhiễm vi sinh vật.
4.2 Qua tiếp xúc trực tiếp với nguồn bệnh
- Do người lành tiếp xúc với người bệnh qua các hình thức cọ xát, giao hợp, hôn,… như bệnh lậu, giang mai, AIDS,… hoặc người lành bị động vật ốm cắn cào,… như bệnh dại
- Đây là con đường truyền bệnh ngắn nhất.
Trang 34- Vi sinh vật từ vật chủ hay
môi trường bên ngoài qua
côn trùng tiết túc (như bọ
chét, chấy, rận, muỗi,…) rồi
từ côn trùng tiết túc, vi sinh
vật mới xâm nhiễm vào người lành và gây bệnh
- Ví dụ: bệnh dịch hạch, sốt xuất huyết,…
Đường xâm nhập của vi sinh vật vào cơ thể rất quan trọng đối với sự phát triển của bệnh truyền nhiễm.
Trang 35bé, từ 200-300nm, biểu hiện đầy đủ tính chất cơ
bản của sự sống
không quan sát được virus dưới kính hiển vi quang học
❖ Virus là những sinh vật ký sinh nội bào
- Ký sinh ở VSV được gọi là Phagơ
- Ký sinh ở thực vật: gây bệnh khảm thuốc lá, bệnh xoăn lá cà chua,…
- Ký sinh ở người và động vật: gây bệnh HIV,
SARS, bệnh dại, bệnh cúm,…
Trang 38❖ Sự nhân lên của virus trong tế bào vật chủ
- Virus bám vào tế bào (hấp thụ) => xâm nhập vào trong tế bào => tổng hợp các thành phần cấu trúc của VR (nhân lên) => lắp ráp => giải phóng hạt VR khỏi tb.
Trang 40❖ Hậu quả
- Hủy hoại tế bào vật chủ
- Sai lạc nhiễm sắc thể của tế bào: dị tật bẩm
sinh, thai chết lưu.
- Sinh khối u và ung
thư….
Trang 41Có cấu tạo tế bào - +