Qua các số liệu ghi chép và các số liệu tính toán từ điểm kiểm tra của HS, chúng tôi kết luận rằng việc áp dụng mô hình DHDA vào chương “Các định luật bảo toàn” Vật lý 10 THPT mang lại n[r]
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỈNH ĐỒNG NAI
TRƯỜNG THPT SÔNG RAY
-oOo -Mã số:………
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
VẬN DỤNG MÔ HÌNH DẠY HỌC DỰ ÁN VÀO DẠY HỌC VẬT LÝ THPT NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ LỰC VÀ KỸ NĂNG LÀM
VIỆC THEO NHÓM CỦA HỌC SINH
Người thực hiện: Lê Cảnh Thu
Có đính kèm: Các sản phẩm không thề hiện trong bản in SKKN
Mô hình Phần mềm Phim ảnh Hiện vật khác
Năm học: 2011-2012
Trang 2MỞ ĐẦU
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Quyết định số 16/2006/QĐ – BGDĐT ngày 5/5/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo đã nêu rõ: “Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh”.
Như vậy có thể thấy cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới hoạt động họctập chủ động, học sinh là trung tâm, chống lại thói quen học tập thụ động
Từ đầu thế kỷ XX, các sư phạm Mỹ đã xây dựng cơ sở lý luận cho mô hình dạyhọc theo dự án (PBL – Project Based Learning) và coi đây là phương pháp dạy họcquan trọng để thực hiện dạy học hướng vào người học nhằm khắc phục nhược điểmcủa dạy học truyền thống Dạy học theo dự án được hiểu là một phương pháp hay hìnhthức dạy học, trong đó người học thực hiện một nhiệm vụ phức hợp, có sự kết hợpgiữa lý thuyết và thực tiễn, thực hành Nhiệm vụ này được người học thực hiện với
tính tự lực cao trong quá trình học tập, từ việc xác định mục đích, lập kế hoạch, đến
việc thực hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả thực hiệnđược
Xuất phát từ những lý do nói trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Vậndụng mô hình dạy học dự án vào dạy học Vật lý THPT nhằm phát huy tính tích cực, tựlực và kỹ năng làm việc theo nhóm của học sinh”
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu vận dụng DHDA vào dạy học chương “Các định luật bảo toàn” – Vật
lý 10 THPT nhằm phát huy tính tích cực, tự lực và khả năng làm việc theo nhóm của
HS và đề xuất một số biện pháp có thể triển khai rộng rãi mô hình này trong DHVL ởtrường THPT
III NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Trang 3- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của mô hình DHDA trong dạy học ởtrường THPT nói chung và DHVL nói riêng.
- Nghiên cứu cấu trúc, nội dung chương “Các định luật bảo toàn” – Vật lý 10THPT
- Vận dụng mô hình DHDA vào thiết kế các tiến trình dạy học cho một số kiếnthức thuộc chương “Các định luật bảo toàn” – Vật lý 10 THPT
IV CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI
PHẦN MỞ ĐẦU
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: Cơ sở lý luận của ứng dụng mô hình DHDA nhằm phát huy tính tích
cực, tự lực và khả năng làm việc theo nhóm của học sinh
Chương 2: Thiết kế tiến trình dạy học một số kiến thức chương “các định luật bảo toàn” theo mô hình DHDA
Chương 3: Kết quả và bàn luận
- Xây dựng ý tưởng, thiết kế hồ sơ bài dạy và tiến hành tổ chức dạy học 1 dựán: “Tên lửa nước – Chinh phục không gian”
- Đề xuất một số biện pháp nhằm triển khai rộng rãi mô hình DHDA trong dạyhọc vật lý ở trường THPT
CHƯƠNG I
Trang 4CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ỨNG DỤNG MÔ HÌNH DHDA NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ LỰC VÀ KHẢ NĂNG LÀM
VIỆC THEO NHÓM CỦA HỌC SINH
1.1. Khái niệm về DHDA [18], [7], [8], [15], [16], [21], [9]
Đầu thế kỷ XX, các nhà sư phạm Mỹ đã xây dựng cơ sở lý luận cho phương phápdạy học dựa trên dự án và coi đó là PPDH quan trọng để thực hiện quan điểm lấy họcsinh là trung tâm, khắc phục nhược điểm của PPDH truyền thống lấy giáo viên là trungtâm Ban đầu, dạy học dựa trên dự án được sử dụng trong dạy học thực hành các môn
kỹ thuật, chủ yếu ở bậc học cao đẳng, đại học, về sau được sử dụng rộng rãi trong hầuhết các môn khoa học khác, kể cả các môn khoa học xã hội, ở bậc học cao đẳng, đạihọc và cả ở bậc học THPT
DHDA là một hình thức (mô hình) dạy học, trong đó người học thực hiện mộtnhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, có thể tạo racác sản phẩm thực tế Nhiệm vụ này được người học thực hiện với tính tự lực caotrong toàn bộ quá trình học tập, từ việc xác định mục đích, lập kế hoạch, đến việc thựchiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện Làm việcnhóm là hình thức cơ bản của DHDA
1.2. Đặc điểm và tiến trình DHDA [18], [7], [8], [15]
Đặc điểm của DHDA:
Các nhà giáo dục trên thế giới và cả ở Việt nam đã có nhiều khác biệt trong xemxét và kể ra các đặc điểm của DHDA, nhưng nhìn chung lại có thể thấy được các đặcđiểm nổi bật sau:
Trang 51.3. Phân loại DHDA [15], [9]
Có nhiều tiêu chí phân loại dự án học tập, nhưng nếu dựa vào đặc điểm củanhiệm vụ cần giải quyết và sản phẩm tạo ra, chúng tôi phân chia các dự án học tập ralàm 4 loại:
Dự án tìm hiểu (tìm hiểu một kiến thức, một ứng dụng nào đó, sản phẩm tạo ra
có thể là một bài luận, một bài thuyết trình hay websites giới thiệu)
Dự án nghiên cứu (nghiên cứu, giải thích một hiện tượng vật lý, sản phẩm tạo ra
có thể là một bài thuyết trình, một bài luận hay websites)
Dự án khảo sát (khảo sát có định lượng một quá trình vật lý nào đó, sản phẩm tạo
ra là một bài luận, một báo cáo về một quy luật mới hay khẳng định một quy luật vật
lý đã học)
Dự án kiến tạo (ứng dụng kiến thức nhằm kiến tạo các sản phẩm mới, sản phẩmmới có thể là sản phẩm vật chất như một thiết bị, một mô hình, hay phi vật chất như tổchức một buổi hội thảo, buổi tư vấn, thuyết trình, buổi văn nghệ)
1.4. Những ưu điểm và giới hạn của DHDA [15], [9], [14]
Ưu điểm điểm của DHDA:
DHDA mang lại nhiều lợi ích cho cả GV lẫn HS Ngày càng có nhiều nghiên cứucủa nhiều nhà sư phạm ủng hộ cho việc vận dụng DHDA vào các hoạt động học tậpnhằm khuyến khích học sinh học tập, thúc đẩy các kỹ năng hợp tác và nâng cao hiệuquả học tập
Đối với học sinh, những ích lợi từ dạy học theo dự án gồm:
Tăng tính chuyên cần, nâng cao tính tự lực và thái độ học tập (Thomas, 2000)
Kiến thức thu được tương đương hoặc nhiều hơn so với những mô hình dạy họckhác do khi được tham gia vào dự án học sinh sẽ trách nhiệm hơn trong học tập
so với các hoạt động truyền thống khác trong lớp học (Boaler, 1997; SRI, 2000)
Trang 6 Có cơ hội phát triển những kỹ năng phức hợp, như tư duy bậc cao, giải quyết vấn
đề, hợp tác và giao tiếp (SRI, 2000)
Có được cơ hội rộng mở hơn trong lớp học, tạo ra chiến lược thu hút những họcsinh thuộc các nền văn hóa khác nhau (Railsback, 2002)
Đối với giáo viên, những ích lợi mang lại là việc nâng cao tính chuyên nghiệp và
sự hợp tác với đồng nghiệp, cơ hội xây dựng các mối quan hệ với học sinh (Thomas,2000)
Giới hạn của DHDA:
DHDA không phù hợp trong việc chiếm lĩnh các kiến thức lý thuyết có tính trừutượng cao DHDA đòi hỏi nhiều thời gian, khó có thể áp dụng tràn lan vì vậy chỉ cóthể là phương pháp bổ sung chứ không thể thay thế các phương pháp khác
DHDA đòi hỏi sự sẵn sàng của cả người học lẫn người tổ chức thực hiện, trongkhi đó, một phần lớn giáo viên chưa được đào tạo để sẵn sàng với hình thức dạy họcmới, dẫn đến nhiều khó khăn trong ứng dụng DHDA
1.5. Hồ sơ bài dạy trong DHDA [18], [7], [8], [15], [16], [21], [19], [9]
1.5.1 Bộ câu hỏi định hướng
Cấu trúc bộ câu hỏi định hướng bao gồm: câu hỏi nội dung, câu hỏi bài học,câu hỏi khái quát
Câu hỏi khái quát
Câu hỏi khái quát giới thiệu khái quát, đầy đủ những ý tưởng xuyên suốt mônhọc Câu hỏi khái quát cung cấp cầu nối giữa các bài, phạm vi môn học, thậm chí cảkhóa học trong một năm Câu hỏi khái quát là một câu hỏi mở có nhiều câu trả lời vàthường không thể có câu trả lời sẵn mà muốn trả lời được HS phải phân tích, tư duy,
sử dụng các kiến thức và kinh nghiệm sẵn có đồng thời tìm hiểu các kiến thức mới
Câu hỏi bài học
Câu hỏi bài học cũng là câu hỏi mở nhưng bó hẹp trong một chủ đề hoặc một bàihọc cụ thể, có đáp án mở, lôi cuốn HS vào việc khám phá những ý tưởng cụ thể đốivới từng chủ đề, bài học, môn học Câu hỏi bài học hỗ trợ và phát triển câu hỏi kháiquát, định hình các suy nghĩ của HS, hướng đến sự hình thành dự án cụ thể
Trang 7 Câu hỏi nội dung
Câu hỏi nội dung là những câu hỏi đóng, có câu trả lời rõ ràng, hướng đến nhữngmục tiêu dạy học cụ thể, hỗ trợ cho câu hỏi khái quát và câu hỏi bài học Câu hỏi nộidung bám sát các mục tiêu dạy học cụ thể, đòi hỏi học sinh phải trả lời hoàn chỉnh saukhi thực hiện dự án
1.5.2 Kế hoạch thực hiện
Kế hoạch thực hiện cần có đầy đủ các yếu tố như các mục tiêu cần đạt được, bộcâu hỏi định hướng, ý tưởng và kịch bản thực hiện dự án, dự kiến chia nhóm, tiến trìnhthời gian thực hiện, dự trù kinh phí, kế hoạch kiểm tra, đánh giá dự án, các nguồn tàinguyên hỗ trợ việc thực hiện dự án… Như vậy, kế hoạch thực hiện là văn bản chi tiếtcủa hồ sơ bài dạy, được GV lập ra trước như một hoạch định, đảm bảo dự án diễn rathành công
1.5.3 Tình huống xuất hiện dự án – các ý tưởng dự án
Ý tưởng dự án có thể do GV đề xuất nhưng đôi khi cũng xuất phát từ sự sáng tạocủa HS Nhưng dù thế nào, đi kèm với tình huống thảo luận, GV cũng phải chuẩn bịsẵn một số ý tưởng, kịch bản để HS thảo luận và lựa chọn Nguyên tắc ở đây là, GVchỉ đóng vai trò định hướng và giúp HS lựa chọn được dự án phù hợp với khả năngnhận thức, kỹ năng và điều kiện thực tế của HS
Để lựa chọn được một tình huống thảo luận có chất lượng, thu hút được sự quantâm của đa số HS, người GV phải xuất phát từ chính những nội dung cần học, phải tìmđược các khía cạnh thời sự của kiến thức, phù hợp với lứa tuổi và khả năng của các
em Việc diễn đạt tình huống lúc đầu không cần quan trọng, nhưng sau đó cần chămchút cho phù hợp lứa tuổi và tạo sự kích thích muốn tìm hiểu của HS
Từ tình huống thảo luận, GV và HS sẽ tìm thấy những vấn đề mới mẻ, có liênquan đến kiến thức bộ môn, từ đó nảy sinh các ý tưởng thực hiện một dự án Các ýtưởng có thể được GV chuẩn bị từ trước, nhưng không phải là duy nhất, mà có thểxuất phát từ chính sự sáng tạo của HS Nhiệm vụ của người GV là hướng dẫn HS lựachọn một ý tưởng thu hút nhiều sự quan tâm nhất và phù hợp với khả năng, điều kiệnthực tế
1.5.4 Kế hoạch tổ chức nhóm
Trang 8Hoạt động nhóm là hoạt động cơ bản của DHDA Việc phân chia nhóm là mộtkhâu quan trọng trong hồ sơ bài dạy của GV Nhóm được phân chia như thế nào phụthuộc vào đặc điểm cụ thể của từng dự án, phù hợp với nhiệm vụ đặt ra, phù hợp vớitâm sinh lý lứa tuổi và phải đảm bảo nguyên tắc công bằng, tạo không khí thoải máitrong các nhóm Người GV phải là người có kế hoạch dự trù phân chia nhóm từ trước,
số lượng thành viên trong nhóm, số lượng nhóm, nhóm trưởng phải được cân nhắc dựatrên các yếu tố đã nói ở trên
1.5.5 Các công cụ đánh giá
Có thể nói, kiểm tra đánh giá trong DHDA là khâu quan trọng và hiện hay cònkhá lúng túng trong nhiều bộ phận GV, hầu hết chỉ đánh giá kết quả và mang nặngcảm tính, dẫn đến DHDA ở các trường THPT hiện nay đôi khi còn mang tính hìnhthức, chưa thể hiện hết tính ưu việt, chưa tạo được lòng tin nơi các nhà quản lý giáodục và phụ huynh học sinh
Kết quả đánh giá có thể có được từ nhiều nguồn, từ phía GV, từ phía nhómtrưởng, từ sự tự đánh giá của HS, từ sự phản hồi của xã hội … Chính nhờ sự đa dạng
đó, DHDA mang lại cơ hội đánh giá đúng hơn về thực chất năng lực học tập, khả nănggiải quyết vấn đề của HS, đặc biệt là khả năng làm việc phối hợp và sự thích nghi vớinhững tình huống mang tình thử thách của HS
Trong đánh giá dự án, HS cần được tham gia nhiều hơn vào quá trình đánh giá.Nội dung đánh giá bao gồm đánh giá tiến trình thực hiện và kết quả đạt được Người
GV cần thiết lập trước các yêu cầu và tiêu chí đánh giá cũng như nội dung đánh giá.Hãy bắt đầu bằng các câu hỏi như:
+ Học sinh cần chú trọng vào những kiến thức nào?
+ Những hoạt động chính nào cần được thực hiện?
+ HS cần phải tham gia hoạt động nhóm như thế nào là tích cực?
+ Sản phẩm của HS cần đạt được các yêu cầu gì?
+ Có thể triển khai tự đánh giá xuyên suốt quá trình học như thế nào?
+ Có thể tạo những biểu mẫu đánh giá như thế nào?
1.5.6 Các công cụ trợ giúp – nguồn tư liệu tham khảo
Trang 9Với sự trợ giúp của công nghệ, nhất là Internet, nguồn tư liệu tham khảo trở lênphong phú về nội dung và đa dạng về thể loại Tuy nhiên, GV cũng phải có sự chuẩn
bị trước một số tài liệu tham khảo và các công cụ trợ giúp cho học sinh
Tài liệu tham khảo cần được phân loại thành tài liệu in, ebook, phim, hình ảnh,websites…
Các công cụ trợ giúp là các phần mềm, các biểu mẫu về lập kế hoạch, các bàimẫu, nhật ký dự án, biểu mẫu theo dõi và báo cáo tiến độ thực hiện dự án
1.5.7 Sản phẩm của học sinh
Sản phẩm của HS là những kết quả mà một dự án hướng tới Đây chính là mộtmục đích cụ thể của dự án học tập, cần được xác định trước khi tiến hành và cần đượcthảo luận thống nhất với HS Việc thảo luận và thống nhất với HS giúp cho sản phẩmmang tính khả thi và tạo sự hấp dẫn với HS
Các sản phẩm thể hiện sự hiểu biết và công sức làm việc nghiêm túc của HS.Thông thường, các dự án học tập kết thúc với sản phẩm của HS có thể là một bàithuyết trình, một văn bản tài liệu (bài báo, bài viết, tờ rơi …), một mô hình dàn dựnghoặc một vở kịch, một hội thảo giả … Các sản phẩm mẫu ở phần trợ giúp tạo cho HSmột cái nhìn sơ bộ về những gì mình đang thực hiện, từ đó có những hành động phùhợp, những sáng tạo nhất định trong quá trình thực hiện dự án
Mỗi một sản phẩm cần hướng tới một tiêu chuẩn nhất định, thể hiện sự đòi hỏitối thiểu đối với người thực hiện Các tiêu chuẩn này cần được xác định và thảo luậnvới HS trước khi tiến hành dự án, và phải được nhắc nhở, quán triệt trong suốt thờigian thực hiện
1.6. Các bước GV tổ chức và điều khiển học sinh học theo dự án: [19]
Bước 1: Lựa chọn một tình huống thảo luận để xuất hiện một dự án
Bước 2: Xác định mục tiêu kiến thức, kỹ năng cần đạt được thông qua dự án.Bước 3: Giới thiệu tình huống thảo luận và cùng học sinh định hình dự án
Bước 4: Vạch kế hoạch về thời gian và thời lượng công việc
Bước 5: Vạch ra cho HS các mục tiêu cần đạt, các công cụ trợ giúp và công cụđánh giá
Bước 6: Báo cáo kết quả và đánh giá kết quả thu được
Trang 10Bước 7: Phản hồi dựa trên cơ sở các dữ kiện thu được và chuẩn bị cho kế hoạchtiếp theo.
1.7. Những kỹ thuật tổ chức cho HS làm việc theo nhóm hiệu quả [6], [9], [22], [24]
Có thể nói, tổ chức hoạt động nhóm thành công chính là đã thực hiện thành công
dự án học tập Vì vậy, lựa chọn và phân chia nhóm, hướng dẫn các nhóm làm việc nhưthế nào cho hiệu quả là khâu quan trọng cần được dự trù trước trong hồ sơ bài dạy
Thông thường thì trong việc tổ chức học tập theo nhóm ở môn vật lý, số lượngthành viên trong nhóm từ 3 đến 5 HS là vừa Đối với những nhóm đặc thù thì có thểchỉ là 2 nhưng cũng có thể 7 đến 8 nhưng không thể quá nhiều sẽ ảnh hưởng đến chấtlượng hoạt động nhóm Cũng cần chú ý rằng trong hoạt động nhóm, tư duy tích cựccủa HS phải được phát huy và ý nghĩa quan trọng của phương pháp này là rèn luyệnnăng lực hợp tác giữa các thành viên trong tổ chức lao động Bên cạnh đó, GV phảiquan sát, kiểm tra đôn đốc để không một HS nào không làm việc hoặc ỷ lại vào cácthành viên khác của nhóm Mặt khác, cần tránh lạm dụng chia nhóm một cách khiêncưỡng, không cần thiết, mất thời gian vô ích Nếu HS chỉ biết phần việc của nhómmình, của cá nhân được giao, thì cuối tiết học có thể kiến thức của bài học trở thànhmột vài chi tiết chắp vá
Điều khiển nhóm hoạt động hiệu quả:
Các hoạt động của nhóm nên bắt đầu cho các thành viên làm quen, và hiểu rõcách thức làm việc của cả nhóm Người hướng dẫn cũng có thể bắt đầu bằng việc đưa
ra các gợi ý cho thảo luận mà không cần phải áp đặt câu trả lời cho cả đội, đặc biệt vớinhững đội gặp khó khăn khi làm việc cùng nhau Nhóm gồm 3 đến 5 người, nếu nhóm
có đông người hơn thì sẽ khó quản lý và giao công việc hơn
Trang 11Các thành viên có sự đa dạng trong kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm Mỗi thànhviên sẽ có khả năng đóng góp riêng cho toàn đội; Các thành viên không chỉ chịu tráchnhiệm đóng góp trong sở trường của mình mà còn có thể giúp các thành viên khác tìmhiểu thêm về lĩnh vực đó; Thành viên nào gặp khó khăn hoặc còn chưa thoải mái khilàm việc trong nhóm nên được các thành viên khác động viên, giúp đỡ
Chia sẻ trách nhiệm, và cả nhóm nên thống nhất trách nhiệm, nguyên tắc làmviệc Điều đó bao gồm: Nghĩa vụ phải tham gia, chuẩn bị trước các buổi họp, và phảiđến đúng giờ; Tham gia thảo luận, phát biểu ý kiến, tập trung vào giải quyết vấn đề vàtránh việc chỉ trích cá nhân; Có trách nhiệm chia sẻ công việc và hoàn thành công việcđúng thời hạn
Vai trò của GV khi tổ chức HS học tập theo nhóm
- Thu thập thông tin về người học: Tìm hiểu khả năng và nhu cầu của người học,người học đã có những kiến thức và kỹ năng gì liên quan đến bài học Họ có mongmuốn gì khi học nội dung này?
- Lựa chọn mục tiêu kiến thức, kỹ năng cần đạt được khi hoạt động nhóm
- Quyết định số lượng HS trong mỗi nhóm, thành lập nhóm ngẫu nhiên hay chủđịnh
- Chuẩn bị tài liệu, phương tiện cho HS thảo luận ở nhóm có hiệu quả
- Sắp xếp phòng học, bố trí địa điểm cho mỗi nhóm
- Giao việc đầy đủ, hạn định thời gian, kết quả cụ thể cho các nhóm
- Giám sát, hỗ trợ các nhóm hoàn thành công việc
- Đánh giá kết quả hoạt động của các nhóm
- Sau khi các nhóm trình bày, GV phải kết luận đầy đủ, đảm bảo học sinh nắmđược kiến thức theo hệ thống, không chắp vá
- Đánh giá hoạt động nhóm: Điểm số có thể đánh giá cho cả nhóm nhưng thànhtích cá nhân trong hoạt động nhóm có thể được đánh giá để HS cảm thấy đóng góp của
họ vào hoạt động nhóm được đánh giá tương xứng Chính từng nhóm có thể tự đánhgiá hiệu lực công trình của họ dựa trên sản phẩm cuối cùng và đóng góp của từngthành viên trong nhóm GV đưa ra mẫu phiếu đánh giá, yêu cầu các thành viên củatừng nhóm đánh giá bạn cùng nhóm về các mặt như phẩm chất chuyên môn (có mặt tạicác buổi họp và tham gia đúng lúc), sáng kiến (đề xuất ý kiến, làm việc khoa học
Trang 12hướng theo mục đích chung), tính độc lập (hoàn thành nhiệm vụ theo thời gian đãthống nhất, nghiên cứu các chủ đề và chia sẻ các nguồn tài liệu),
1.8. DHDA phát huy tính tích cực, tự lực và khả năng làm việc theo nhóm của HS.
DHDA có đầy đủ khả năng thực hiện các nhiệm vụ dạy học của môn Vật lý ởtrường THPT, đồng thời còn phát huy tính tích cực, tự lực và khả năng làm việc theonhóm của HS DHDA giúp HS phát triển kiến thức, kỹ năng thông qua những nhiệm
vụ mang tính mở, khuyến khích HS tìm tòi, hiện thực hóa các kiến thức đã học vớitính tự lực và tinh thần trách nhiệm cao
Các nhiệm vụ của dạy học dự án đều được HS thảo luận và thực hiện với sự tựlực là chủ yếu Không có trường hợp GV giảng giải cho HS ghi chép hay HS thụ độngthu nhận kiến thức trong các hoạt động của DHDA Ngay từ giai đoạn đầu của DHDA,người học đã tích cực, tự lực cùng với GV xây dựng đề tài và hướng giải quyết đề tàicũng như xác định những kiến thức mà mình sẽ thu được sau quá trình học tập theo dự
án Việc xây dựng kế hoạch hành động, bao gồm xác định mục tiêu, phân công nhiệm
vụ, xây dựng các hoạt động chi tiết cũng do HS trực tiếp đảm nhận, GV chỉ đóng vaitrò định hướng và giúp đỡ HS có một kế hoạch phù hợp Ở giai đoạn lập kế hoạch này,hình thức hoạt động nhóm thể hiện một cách nổi bật, kế hoạch dự án chính là thànhquả của quá trình làm việc độc lập, phối hợp giữa các thành viên với nhau, thể hiện rõnhất trong việc phân công nhiệm vụ cho từng thành viên Trong giai đoạn tiếp theo củatiến trình DHDA, tính tích cực và tự lực của HS thể hiện cao nhất với sự tự lực tìmhiểu kiến thức, sưu tầm kiến thức để phục vụ cho dự án, đồng thời phối hợp với cácthành viên khác xử lý kiến thức để cho ra sản phẩm hoàn chỉnh Yêu cầu của nhiệm vụcũng như tính phối hợp trong nhóm học tập đã đặt HS vào tư thế tự lực cao, không chophép một HS ỷ lại, dựa dẫm hay lười biếng Ở giai đoạn này, hoạt động nhóm diễn rathường xuyên dưới nhiều mức độ, từ thảo luận, hợp tác trên lớp đến phối hợp trongnhững hoạt động ngoài giờ lên lớp và thể hiện cao nhất ở sự đóng góp, tranh luận để điđến chân lý, đến sản phẩm hoàn chỉnh Trong giai đoạn tổ chức báo cáo và trình diễnsản phẩm, HS cũng thể hiện tính tự lực và kỹ năng hoạt động nhóm khi được giáo viêndành cho sự chủ động trong việc sắp xếp ý tưởng, lựa chọn thứ tự và biện pháp trìnhbày sản phẩm
Trang 13Đặc tính hoạt động nhóm thể hiện rõ nét trong giai đoạn đánh giá của DHDA.Với đặc điểm là đánh giá quá trình chứ không đánh giá kết quả, đánh giá nhiều chiềuchứ không đánh giá phiến diện, DHDA đã mang lại cơ hội công bằng cho mỗi HS.Việc đánh giá từ đó cũng được thực hiện thường xuyên và đa chiều, từ phía GV, từphía nhóm trưởng và cả từ phía từng thành viên trong nhóm Kết quả đánh giá của một
HS phụ thuộc vào sự đóng góp và mức độ đóng góp của HS đó vào dự án chung củanhóm, và được đánh giá bởi tất cả các thành viên trong nhóm Đây chính là khâu thểhiện đặc tính nhóm nổi bật nhất
Các kỹ năng hoạt động nhóm của HS còn được rèn luyện thông qua các dự ántiếp theo, khi mà HS được yêu cầu thay đổi nhóm học tập, thay đổi nhiệm vụ Điềunày giúp HS có được nhiều cơ hội học tập và rèn luyện các đức tính cần thiết cho hoạtđộng nhóm như tính kiên trì, tôn trọng ý kiến đồng đội, tính thích nghi và kỹ năng tổchức
Trang 14CHƯƠNG II THIẾT KẾ TIẾN TRÌNH DẠY HỌC MỘT SỐ KIẾN THỨC CHƯƠNG “CÁC ĐỊNH LUẬT BẢO TOÀN” THEO MÔ HÌNH
- HS nắm được mối quan hệ giữa công, động năng và thế năng
- HS nắm được các định luật bảo toàn động lượng, định luật bảo toàn cơ năng Từ
đó am hiểu quy luật biến đổi và chuyển hóa năng lượng trong một số trường hợp đơngiản
Kỹ năng:
- Học sinh có thể vận dụng các kiến thức về động lượng, động năng, thế năng, cơnăng và nhất là tư tưởng bảo toàn để giải thích một số hiện tượng vật lý đơn giản tronthực tế
- Học sinh biết vận dụng các định luật bảo toàn trong việc giải thích một số hiệntượng và giải một số bài toán liên quan
Trang 15súng … Vì vậy dạy và học phần kiến thức này xuất phát từ những ứng dụng thực tếnhư mô hình DHDA sẽ khắc phục được các nhược điểm trên, HS sẽ có cơ hội đượcthấy được vị trí của các kiến thức trong đời sống hằng ngày và qua đó khắc sâu kiếnthức và hơn thế nữa là thúc đẩy sự tìm tòi sáng tạo của HS
Để thực hiện dự định đó, tôi tiến hành xây dựng dự án học tập cho chương nàynhư sau:
Tên dự án: “Tàu lượn siêu tốc – sức mạnh của tự nhiên”
Trang 16- HS vận dụng được kiến thức về định luật bảo toàn cơ năng, định lý động nănggiải thích được một số hiện tượng trong thực tế có liên quan.
- HS vận dụng giải được một số bài tập điển hình của phần động năng, cơ năng
- HS có được các kỹ năng chế tạo sản phẩm, phân tích, tổng hợp và các kỹ năng tưduy bậc cao khác nhằm sáng tạo sản phẩm
- HS có được các kỹ năng tổ chức, sắp xếp một bài thuyết trình nhằm trình bày ýtưởng và bảo vệ ý tưởng của mình
- Một bài thuyết trình về kiến thức động năng, thế năng, bảo toàn cơ năng và ứngdụng nghiên cứu cơ chế hoạt động của tàu lượn siêu tốc, chứng minh được sự hiểu biếttrong lĩnh vực và khả năng thiết kế, chế tạo một tàu lượn siêu tốc hoàn chỉnh
- Một websites giới thiệu về công ty, các lĩnh vực quan tâm và các kiến thức về tàulượn siêu tốc, các kiến thức về cơ học, về năng lượng liên quan đến các trò chơi này
- Một mô hình tàu lượn siêu tốc thực tế nhằm tăng thêm tính thuyết phục cho buổithuyết trình (nếu có thể)
Các sản phẩm trên phải đạt các yêu cầu tối thiểu được nêu trong phần công cụ đánhgiá
Xây dựng bộ câu hỏi định hướng.