1. Trang chủ
  2. » Lịch sử lớp 11

Ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam

291 85 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 291
Dung lượng 29,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những khả năng hay giả thiết khác nhau trong lịch sử về bức tranh ngôn ngữ văn hoá các dân tộc trên cơ sở bức tranh hiện nay.... Về bức tranh ngôn ngữ dân tộc thiểu sốhiện nay ở[r]

Trang 1

V N li© TRẦN TRÍ DÕI

NGỔN NGŨ GACDẲĨĨTdC

Trang 2

Đ Ạ I H Ọ C Q U Ố C G I A H À N Ộ I TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trấn Trí Dõi

NGÔN NGỮ CÁ C DÂN TỘC THIÊU SÔ

Ở VIỆT NAM

(Languages of Ethnic Minorities in Vietnam)

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 3

MỤC LỤC

1 Những quy ước trong giáo trinh 9

2 Những quy ước viết tắt trong giáo trình 11

3 Lời nói đầu 13

Chương 1 BỨC TRANH CHUNG VẼ NGỒN NGỮ CÁC DÂN TỘC THIỂU sô VIỆT NAM 1.1 Việt Nam là địa bàn thu nhò của bức tranh ngôn ngữ văn hoá vùng Đông Nam Á 17

1.1.1 Việt Nam là quôc gia có 53 dân tộc thiểu số 17

1.1.2 Sô' lượng dân tộc và ngôn ngữ dân tộc thiểu s ố ờ Việt Nam 20

1.2 Những khả năng hay giả thiết khác nhau trong lịch sử về bức tranh ngôn ngữ văn hoá các dân tộc trên cơ sở bức tranh hiện nay 30

1.2.1 Về bức tranh ngôn ngữ dân tộc thiểu sốhiện nay ở Việt Nam 30

1.2.2 Giả thiết biến đổi lịch sử của bức tranh ngôn ngữ dân tộc thiểu s ố hiện nay ở Việt N a m 33

1.3 Những biến đổi đã được nhận biết trong lịch sử liên quan đến những ngôn ngữ, nhóm ngôn ngữ ờ địa bàn Việt N am 39

1.3.1 Sự vay mượn từ vựng 39

1.3.2 Bản chât của sự tương ứng từ v ự n g 48

1.4 Ý nghĩa của việc nắm bắt bức tranh ngôn ngữ văn hoá ở địa bàn dân tộc thiểu số Việt N a m 50

1.4.1 Những biến đổi lịch sử trong khu v ự c 51

1.4.2 Những hiện tượng phản ánh sự tiếp xúc trong khu vực 64

Ôn tập Chương 1 68

Trang 4

6 N G Ô N N G Ữ C Á C D Â N T Ộ C T H IỂ U s ố Ở V IỆ T N AM

Chương 2

ĐỊA LÝ XÃ HỘI NGỔN NGỮ CÁC DÂN TỘC THIỂU sổ VIỆT NAM• • • •

2.1 Phân biệt vấn để dân tộc thiểu sô'

và ngôn ngữ dân tộc thiểu số ờ Việt Nam 71

2.1.1 Dan n h ập 71

2.1.2 Những lưu ý khi liệt kê danh sách ngôn ngữ dân tộc thiếu số ở Việt Nam 74

2.2 Danh sách dân tộc thiểu sô' và ngôn ngữ dân tộc thiếu sô' ờ Việt Nam xếp theo tiêu chí sô' dân 76

2.2.1 Danh sách ngôn ngữ các dân tộc thiểu sô' ở Việt N a m 76

2.2.2 Một vài nhận x é t 159

2.3 Phân biệt vai trò xã hội của một vài ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam trong bức tranh ngôn ngữ văn hoá ờ môi vùng địa lý 161

2.3.1 Những đặc điểm về dân sô' 162

2.3.2 Một vài đặc điếm về địa lý cư trú 163

Ôn tập Chương 2 165

Chương 3 NGÔN NGỮ CÁC DÂN TỘC THIỂU sổ ở VIỆT NAM XÉT THEO QUAN HỆ HỌ HÀNG VÀ LOẠI HÌNH 3.1 Về các họ ngôn ngữ ở vùng Đông Nam Á và Việt Nam 167

3.1.1 Dan n h ập 167

3.1.2 Về các họ ngôn ngữ ở Đông Nam Á 170

3.2 Bức tranh ngôn ngữ các dân tộc thiểu sô' ở Việt Nam xét theo quan hệ họ hàng 172

3.1.1 Ngôn ngữ các dân tộc thiểu sô' ờ Việt Nam theo quan hệ họ h àn g 172

3.1.2 Nhận x é t 182

3.3 Một vài đặc điểm cần chú ý của bức tranh ngôn ngữ các dân tộc thiểu sô ờ Việt Nam xét theo quan hệ họ hàng 184

3.3.1 Đặc điếm thứ nhất 184

Trang 5

Mục lục

3.3.2 Đặc điểm thứ h a i 185

3.4 Họ hàng và tiếp xúc ngôn ngữ ờ vùng Đông Nam A và Việt Nam: nhìn từ bức tranh ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ớ Việt Nam 186

3.4.1 Họ hàng và tiếp xúc ngôn n g ữ 186

3.4.2 Hệ quả cua tiếp xúc ngôn ngữ 187

3.5 Một vài ví dụ về những ngôn ngữ cụ thể trong bức tranh ngôn ngữ các dân tộc thiêu số ờ Việt N am 189

3.5.1 Ví dụ về ngôn ngữ thứ n h ấ t 189

3.5.2 Ví dụ về ngôn ngữ thứ h ai 205

3.6 Ngôn ngữ các dân tộc thiểu sô' ở Việt Nam xét theo góc nhìn loại hình 216

3.6.1 Loại hình ngôn ngử các dân tộc thiểu số ở Việt N am 216

3.6.2 Nhận x é t 218

Ôn tập Chương 3 219

Chương 4 NHỮNG VẤN ĐỂ NGÔN NGỮ HỌC XÃ HỘI CỦA VÙNG NGÔN NGỮ CÁC DÂN TỘC THIỂU số ở VIỆT NAM 4.1 Vấn đề chữ viết cổ truyền thống của một số dân tộc thiểu số ờ Việt Nam: tình hình và những ứng xử hiện n a y 223

4.1.1 Tình hình chừ viết cô truyổn thống của một số dân tộc thiểu số 224

4.1.2 ứ n g xử hiện nay đôi với chữ viết cổ truyền thông 238

4.2 Vân đề chữ viết Latinh của một sô' dân tộc thiểu số ờ Việt Nam: tình hình và những ứng xử hiện n a y 241

4.2.1 Tình hình chữ viết Latinh của một số dân tộc thiểu sô' ở Việt N a m 241

4.2.2 ứ n g xử về chữ viết Latinh của một số dân tộc thiểu số ở Việt N a m 242

4.3 Những nét chính về chính sách ngôn ngữ của Nhà nước ta về ngôn ngữ và văn hoá vùng dân tộc thiểu s ố 251

4.3.1 Sự cần thiết của chính sách ngôn ngữ của Nhà nước ta đối với vùng dân tộc thiểu s ố 251

Trang 6

8 N G Ô N N G Ữ C Á C D Â N T Ộ C T H IỂ U s ố Ở V IỆ T N AM

4.3.2 Nội dung cơ bàn cùa chính sách ngôn ngữ

của Nhà nước ta đôì với vùng dân tộc thiểu s ố 2534.4 Vân đề sử dụng ngôn ngữ ở vùng ngôn ngữ

các dân tộc thiếu sô'ờ Việt N am 2554.4.1 Nội dung sử dụng ngôn ngữ 2554.4.2 Sử dụng ngôn ngữ và môi trường giao tiếp 2574.5 Vấn đề giáo dục ngôn ngữ ở vùng ngôn ngữ

các dân tộc thiểu số ở Việt Nam 2604.5.1 Giáo dục ngôn ngữ ở vùng ngôn ngữ các dân tộc thiểu số

ờ Việt N a m 2614.5.2 Những yếu tô' chi phối giáo dục ngôn ngữ

ở vùng ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt N a m 265

Ôn tập Chương 4 269

TÀI LIỆU THAM K H Ả O 273

Trang 7

NHỮNG QUY ƯỚC TRONG GIÁO TRINH

1 Trong giáo trình này, để ghi các từ ngữ làm ví dụ, chúng tôi

sẽ sử dụng đổng thời cả hai lối ghi âm khác nhau Tuỳ theo từng

trường hợp sẽ sử dụng lôi ghi âm theo chữ Quốc ngữ; khi cần thiết

sẽ dùng lối ghi âm theo bang ký hiệu phiên âm quốc tê' (IPA,

International Phonetic Alphabet,) Lôi ghi âm thứ hai này căn cứ vào cách thức mô tà ngữ âm của cuốn "Phonetic Symbol Guide" cùa Geffrey K Pullum và YVilliam A Ladusavv do Trường Đại học Tổng hợp CHICAGO xuất bản năm 1986

Ghi âm theo chữ Quốc ngữ thì vừa dễ ấn loát vừa dễ hiểu cho đông đảo bạn đọc, vì thế chúng tôi cô gắng sử dụng ở mức có thể Tuy nhiên, do đây là giáo trình dùng cho sinh viên chuyên ngành

ngôn ngữ học, nên chúng tôi cũng sẽ cố gắng sử dụng tối đa cách

phiên âm quốc tế Như vậy, về cơ bản, giáo trình này chọn cách phiên âm IPA là chủ đạo; còn cách phiên âm Quốc ngữ sẽ được giải thích bằng cách phiên âm IPA trong nhũng trường hợp cần

thiết Ví dụ cách phiên âm Quốc ngữ ph có giá trị ngữ âm là [f],

phiên âm Quốc ngư ô có giá trị ngư âm là [o], phiên âm Quốc ngữ

ng có giá trị ngữ âm là [r)]; đổng thời, khi phiên âm bằng chữ Quốc

ngữ, chúng tôi xin phép không đặt nó trong các dấu thế hiện tính

châ't ngữ âm (dấu [ ], dấu ngoặc vuông) hay âm vị (dâu / /, dâu

ngoặc chéo) như quy định thông thường của một văn bản ngôn ngữ học

2 Trong giáo trình chúng tôi sẽ sử dụng tư liệu từ hai nguồn khác nhau: a, nguồn tư liệu lấy từ tài liệu tham kháo; b, nguồn tư liệu do chính chúng tôi thực hiện trong nghiên cứu điền dã trên địa bàn Việt Nam Đối với nguổn tư liệu thứ n h ấ t có thê có tình trạng cách ghi khác nhau giữa những tác giả khác nhau; khi ấy

Trang 8

1 0 N G Ô N N G Ữ C Á C D Â N T Ộ C T H IỂ U s ố Ở V IỆ T N AM

chắc chắn sẽ không có sự phiên âm thống nhất Do nguyên tắc tôn trọng nguyên bản của tài liệu tham khao, ờ những trường hợp này chúng tôi xin phép châp nhận sự thiêu nhât quán trong thực tê mà không tìm cách chuyên lại theo một lối phiên âm duy nhât Bơi vì đổi lại cho sự thống nhât ấy, theo chúng tôi, chúng ta sẽ mât đi tính "nguyên bản" của tài liệu tham khảo, gây khó khăn khi tra cứu tài liệu tham khảo đê kiểm chứng tư liệu được dùng trong chứng minh Hơn nữa, đôi khi sụ không thống nhât như th ế giữa các nhà nghiên cứu nhiều khi gợi mở ra một sô' vấn đề cần được thảo luận Còn đối với nguổn tư liệu thứ hai, chúng tôi trên đại thê

sẽ dùng cách phiên âm IPA là chủ đạo

3 Sau đây là một số ký hiệu cần phải giải thích

- Dạng tái lập hay dạng tiền ngôn ngữ (proto typ) được ghi có

dâu hoa thị * ở bên trái con chữ Ví dụ cách ghi *s có nghĩa âm s là dạng thức tiền ngôn ngữ được tái lập

- Cách ghi t <*s: có nghĩa âm s dạng được tái lập đã chuyên thành âm t hiện nay.

- Dấu ~ có nghĩa là hoặc / hay Ví dụ: khi ghi A ~ B tức là A

hoặc/hay B

- Ký hiệu đặt trong dâu ngoặc chéo / / có giá trị âm vị, còn ký hiệu đặt trong dâu ngoặc [ ] có giá trị âm tô'.

Trang 9

NHỮNG QUY ƯỚC VIẾT TẮT TRONG GIÁO TRÌNH

- IPA: International Phonetic Alphabet (ký hiệu phiên âm quốc tê)

- BDTTUST: Ban Dân tộc Tinh uy Sóc Trăng

- UBND: ủ y ban Nhân dân

- SIL: The Summer Institute of Linguistics (Viện Ngôn ngữ

học mùa hè)

- SGDQNĐN: Sờ Giáo dục Đào tạo Quảng Nam - Đà Nang

- SVHHG: Sở Văn hóa Thông tin Hà Giang

- MTDTGP: Mặt trận Dân tộc giải phóng

- DTTS: Dân tộc thiếu sô”

- TNĐ: Tiền Nam Đáo

Trang 10

LỜI NÓI ĐẨU

Trong hệ thông những trường đại học có ngành Khoa học Nhân văn ở Việt Nam, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (thuộc Đại học Q uốc gia Hà Nội) là trường duy nhât ờ khu vực phía Bắc có m ột bộ môn riêng đảm nhiệm nhiệm vụ nghiên cứu giảng dạy về ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam Từ ngày thành lập (1956), nhất là khi có một ngành Ngôn ngữ học riêng (1964) trong Khoa N gữ văn của Trường Đại học Tổng hợp

Hà Nội trước đây (nay là Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn), ngôn ngữ các dân tộc thiểu số đã luôn là đối tượng nghiên cứu quan trọng của các nhà ngôn ngữ học Và cũng đã có rất nhiều sinh viên thuộc các thê' hệ khác nhau được cung cấp những hiểu biết về ngôn ngữ-văn hóa các dân tộc ở đây đê sau khi

ra trường họ đã trở thành n hũng nhà nghiên cứu có tên tuổi trong

và ngoài nước ơ nhiều viện nghiên cứu hay trường đại học, trở thành những nhà quàn lý xã hội có uy tín, góp phần đáng kế vào việc thực thi chính sách phát triển vùng dân tộc thiểu số và micn núi của Nhà nước Việt Nam

Tuy nhiên do nhiều lý do khác nhau, cho đến mãi năm 1999,

Bộ môn Ngôn ngữ-văn hóa các dân tộc thiểu sô'mới xuất bản được

một cuốn giáo trình cơ bản ("N ghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiếu số Việt N am ", Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội) làm công cụ phục vụ cho việc học tập của sinh viên chuyên ngành Mặc dù năm 2000 (tức là chi sau một năm xuất bàn) giáo trình đã được tái bản, nhưng hiện nay nó vẫn không đủ đáp ứng nhu cầu sử dụng của sinh viên cũng như đông đảo bạn đọc Tình trạng đó gây không ít khó khăn cho việc tiếp tục giới thiệu và học tập phần kiến

Trang 11

1 4 N G Ô N N G Ữ C Á C D Â N T Ộ C T H IỂ U s ố Ở V IỆ T N A M

thức vừa quan trọng vừa cần thiết này ở một quốc gia đa dân tộc như Việt Nam Hiện nay, cuốn giáo trình mà chúng tôi biên soạn xuâ't ban năm 1999 trước đây cần được cập nhật những thông tin

và kiến thức mới về ngôn ngữ văn hóa các dân tộc thiêu số trong quãng thời gian mười lăm năm qua Đó chính là lý do để chúng tôi biên soạn lại, cập nhật và bô túc những thông tin, những kiến thức

m ới nhằm phục vụ cho nhu cầu học tập của sinh viên củng như nhu cầu tìm hiểu và nghiên cứu về ngôn ngữ văn hóa các dân tộc thiểu sô Việt Nam của đông đảo bạn đọc

Như chúng tôi đã trình bày trong lần xuât ban trước, ngôn ngữ-văn hóa các dân tộc thiểu sô' là một khái niệm khá rộng Nó

vừa có đôi tượng là một ngôn ngữ cụ th ể của môi một dân tộc (ethnic), vừa có đối tượng là những vấn đ ề ngôn ngữ học cua ca một

vùng lãnh thổ; và đương nhiên, liên quan tới ngôn ngữ dân tộc là

vân đ ể văn hóa của mỗi một dân tộc đó Chính những đặc điếm này

làm nên những khó khăn râ't khó vượt qua là phải xáy dựng câu trúc giáo trình làm sao, lựa chọn lượng kiến thức ờ mức như th ế nào đê có được những thông tin hữu ích giúp cho sinh viên có được những nắm bắt cần thiết về ngôn ngữ-văn hóa các dân tộc thiêu SỐ ỏ Việt Nam và gợi mở hướng nghiên cứu tiếp theo cho

họ Đáp ứng được yêu cẩu ây rõ ràng không phải là một việc làm đơn giàn Cho nên, lẩn biẻn soạn này trên cơ sở những kinh nghiệm hon mười lăm năm trình bày và giảng dạv cho sinh viên của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Q uốc gia Hà Nội), chúng tôi sẽ chọn lọc một số nội dung mà chúng tôi thây là cần thiết đ ể đáp úng mục tiêu đã được đặt ra ở trên Như vậy, việc biên soạn giáo trình lần này vừa có sự kê'thừa nhũng nội dung của giáo trình đã xuâ't bản trước đây, vừa có những bổ sung

m ới để phù hợp với yêu cầu nghiên cứu ngôn ngữ-văn hóa các dân tộc thiểu số ờ Việt Nam hiện nay Nói khác đi, khi thực hiện việc biên soạn lại cuốn giáo trình, chúng tôi đã có một vài thuận lợi hơn so với lẩn biên soạn trước Cụ thể là, ở lần biên soạn mới

Trang 12

Lời nói đấu 15

nàv trên cơ sở những vân đề đã được nêu ra từ lần biên soạn

trước, chúng tôi sẽ lựa chọn những nội dung được cho là hữu ích nhât chơ sinh viên để cập nhật những thông tin hay những kết quả nghiên cứu trong nhiều năm lại đây Vói lại ờ lần biên soạn mới này, "đ ề cương chi tiết" của môn học cũng đã được thảo luận ở bộ môn và được nhà trường góp ý trong quá trình phê duyệt

Cũng xin nói thêm là, khi biên soạn lại cuôn giáo trình này, chúng tôi luôn hướng tới một mục tiêu là phai làm sao đê khi sinh viên sau khi sử dụng cuốn sách họ có thê tự mình trả lời cho câu

hỏi về nhiệm vụ nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ơ Việt

Nam là những gì Nếu sinh viên sau khi sử dụng cuôri sách mà tự trả lời được những nội dung vừa nêu ra ờ trên, tức là họ đã tự định hướng được cho mình những công việc cần phải làm trong nghiên cứu ngôn ngử-văn hóa các dân tộc thiểu số ờ Việt Nam Điều đó củng có nghĩa, giáo trình đã hướng cho sinh viên đến những vấn đề đang đặt ra cho việc nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc khác nhau ờ khu vực Dông Nam Á Bởi vì bức tranh ngôn ngữ- văn hóa các dân tộc thiểu SC) ở Việt Nam v ề thực chât là một "h ìn h anh thu nhỏ" của bức tranh ngôn ngữ-văn hóa các dân tộc ở khu vực Đông Nam Á

Như vậy, đối với chúng tôi, đối tượng chính của cuôVi giáo

trình này là sinh viên chuyên ngành ngôn ngữ học Tuy nhiên,

chúng tôi vẫn hy vọng rằng nó sẽ có ích cho cả sinh viên các chuyên ngành khác như Ngữ văn, Nhân học/ Dân tộc học, Việt Nam học, Du lịch học, Đông phương học; ngoài ra, những ai quan tâm đến những vân đề văn hóa và ngôn ngũ' nói chung và ngôn ngữ-văn hóa các dân tộc thiểu số ờ Việt Nam nói riêng cũng có thể

sử dụng cuốn giáo trình này làm tài liệu tham khảo cho mình

Chúng tôi có thể nói được như vậy là nhờ sự chiêm nghiệm tự bản thân Lúc đầu, khi thực hiện việc nghiên cứu ngôn ngữ các

dân tộc thiểu số, chúng tôi chi nghĩ rằng công việc thuần túy là

tiếp cận ngôn ngữ ở bình diện cấu trúc; nhưng thực ra nêu nghiên

Trang 13

1 6 N G Ô N N G Ữ C Á C D Â N Tộc T H IỂ U s ố Ở V IỆ T N A M

cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số mà chỉ đơn thuần tiếp cận ngôn ngữ ở bình diện cấu trúc thì hoàn toàn chưa đủ Ngoài vấn để câu trúc, chúng ta nhất định phải nghiên cứu những vấn đề xã hội ngôn ngữ, văn hóa ngôn ngữ Và khi đó củng có nghĩa, việc nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số là cách tiếp cận đa ngành, đa lĩnh vực giống như việc nghiên cứu cùa người nghiên cứu khu vực học Như vậy, sự hâp dẫn của vấn đề, ban đầu là từ ngôn ngữ rồi sau đó từ ngôn ngữ là những vân để của văn hóa, của nhân học và úng dụng xã hội của những hiểu biết đó Cho nên, khi châp nhận công việc nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiếu số, người nghiên cứu phải tạo ra sự say mê trong công việc Còn nếu không, sẽ khó có được những động lực cần thiết để vượt qua những khó khăn gặp phải trong công việc hay quá trình nghiên cứu

Cuốn giáo trình ra mắt bạn đọc lần này là nhờ vào sự khuyến

khích, góp ý, trao đổi và tham gia của các giáo sư, các bạn đổng nghiệp và đặc biệt là những góp ý, thắc mắc cua sinh viên và bạn đọc đã sử dụng giáo trình xuất bản trước đây Nhân đây, chúng tôi xin chân thành cảm ơn về những đóng góp cực kỳ quý báu ấy, những đóng góp đã giúp cho chúng tôi tự tin trong công việc của mình Chúng tôi củng mong muốn và xin cảm tạ trước các nhà khoa học, các bạn sinh viên, những ai sử dụng cuốn sách này tiếp tục chỉ giáo cho chúng tôi những điều cần bô sung, cần thay đổi

Hà Nội, ngày 16 tháng 02 năm 2015

Trang 14

o chương ĩ của giáo trình, chúng tôi sẽ sơ bộ phân tích để người

đọc nhận thây trong thực tế hiện nay, Việt Nam là một bức tranh ngôn ngữ thu nhò của vùng Đông Nam Á Đổng thời, chúng tôi cũng

sẽ bước đầu giói thiệu bức tranh ngôn ngữ hiện có đó là kết quả của một quá trình biến đổi đa dạng và phức tạp trong lịch sử trên một vùng lãnh thô Chính vì thế, khi thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ớ Việt Nam, người nghiên cứu không thê không tiếp cận vân đề cả mặt đồng đại lân mặt lịch đại Cho nên, điều đó cũng có nghĩa việc mô tả đổng đại ngôn ngữ các dân tộc thiêu sô' nêu không có một định hướng giải thích lịch đại thì sẽ khó nhận thấy hết những vấn đê có giá trị bản chất của ngỏn ngữ cũng

như văn hóa các dân tộc thiểu s ố ở Việt Nam.

1.1 Việt Nam là địa bàn thu nhỏ của bức tranh ngôn ngữ văn hoá vùng Đông Nam Á 7.7.7 Việt Nam là quốc gia có 53 dân tộc thiêu sô

Theo Quyết định số 121-TCTK của Tông cục Thống kê ngày 2 - 3 - 1979, nước Việt Nam có 54 dân tộc (Ethnics) gồm dân tộc Kinh (còn gọi là dân tộc Việt) và 53 dân tộc thiếu số (Minority)

khác Như vậy, có thế nói về mặt chính thức, nước Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc với 54 thành viên, v ề địa lý, các dân tộc thiểu số

Trang 15

1 8 N G Ô N N G Ữ C Á C D Â N T Ộ C T H IỂ U s ố Ở V IỆ T N AM

cùa Việt Nam cư trú từ bắc vào nam, ờ miền núi, miền trung du và

cả vùng đồng bằng, tạo nên một bức tranh đa dạng về thành phần

và phức tạp về địa hình cũng như địa vực cư trú Trong nhiều năm qua, danh sách các dân tộc nói trên đã được Việt Nam sư dụng để quản lý và phát triển xã hội một cách có hiệu quả

Trong sô' 53 dân tộc thiểu sô' ờ Việt Nam, chúng ta thấy có

m ặt đủ những nhóm dân tộc thuộc các họ ngôn ngữ khác nhau đang hiện diện ở khu vực Đông Nam Á và phía nam khu vực

Đ ông Á, cả trên phần đất liền cũng như phần hải đảo ơ phía bắc Việt Nam là các dân tộc thuộc các nhóm ngôn ngữ cua họ Nam A (Austroasiatic), họ Thái - Kađai (Tai - Kadai), họ M ông(1) - Dao (M iao - Yao), họ Hán - Tạng (Sino - Tibetan) Các dân tộc thuộc những họ ngôn ngữ này hiện nay có bà con đang sinh sống ơ

m iền Nam Trung Quốíc, ở Lào, Thái Lan và Miến Điện Ờ miền trung và miền Nam Việt Nam, các dân tộc thuộc nhánh ngôn ngử

M ôn - Khmer (Mon - Khmer) của họ Nam Á củng có bà con sinh sống ờ Lào, Campuchia, Thái Lan Còn dọc ven biên miền Trung

và Tây Nguyên, các dân tộc có ngôn ngữ thuộc tiếu nhóm Chăm là những cư dân thuộc họ ngôn ngử Nam Đảo (Austronésian) mà

Ờ V iệt N am , tron g m ộ t s ố tài liệu (k ế cả tài liệu s ố 121 - T C T K củ a T ổn g cụ c Thống

kê n gày 2 - 3-1979), dân tộc M ông đ ư ợ c viết là H m ô n g h ay H 'M ôn g Chính cách

v iế t này khiến cho nhiều n gư ời phát âm thành H ơ - M ông, là cách p h át âm mà

nh iều n gư ời M ông ở V iệt N am không đ ổn g ý Vì thế, tro n g n h ử n g tài liệu chính

th ứ c gần đ ây (ch ẳn g hạn T h ôn g báo s ố 02 n gày 3 /9 /1 9 9 2 củ a V ăn ph òn g H Đ BT v ề

ý kiến kết luận củ a C h ủ tịch H ội đồng Bộ trư ờ n g n ay là Thủ tư ớ n g tại H ội nghị

v ù n g cao và dân tộc M ông), nhà nư ớc ta d ù n g cách viết M ông thay ch o H m ôn g

h a y H 'M ô n g N ăm 2001, H ội đ ổn g Dân tộc của Q u ốc hội khóa X đã có c c n g văn sô 09-C V /H Đ D T n g ày 0 4 tháng 12 n ăm 2001 nêu vấn đ ề đ ọ c v à ghi đ ú n g tên gọi các

d ân tộc T ron g côn g văn n ày đ ã ghi "T ên gọi d ân tộc M ông, nếu viết bằng ch ừ phổ

th ô n g là ngôn n g ừ chính th ứ c của N ư ớ c C ộn g h òa Xã hội C hủ nghĩa Việt N am thì

v iết là dân tộc M ô n g ".

N h ư v ậy, căn cứ v ào ý kiến của H ội đ ổn g D ân tộc Q u ô c hội khóa X tại công văn

SỐ 09-C V /H Đ D T n g ày 04 th án g 12 năm viết bằng 2001, khi d ù n g ch ữ phô th ôn g (là

n g ô n n g ữ chính th ứ c củ a N ư ớ c C ộn g hoa Xã hội C hủ n ghĩa Việt N am ) thì cách

v iế t sẽ là d ân tộc M ông H iện nay cách viết chính th ứ c n ày đ ư ợ c cộn g đ ổn g người

M ô n g ở Việt N am tán thành.

Trang 16

Chương 1 BỨC TRANH CHUNG VÉ NGÔN NGỮ CÁC DÂN Tộc THIỂU số VIỆT NAM 1 9

người ta xác định là có họ hàng xa với những cư dân hiện đang sinh sông ở Malaixia và Inđônéxia v.v

N hư vậy có thê nói, o địa hạt ngôn ngữ các dân tộc thiểu số,

Việt Nam như là một bức tranh thu nho, là hình ảnh của khu vực Đông Nam A (và cà phía nam Đông A), một vùng được nhà dân tộc học người Pháp G Condominas gọi là "vô cùng phong phú và khá phức tạp về phương diện dân tộc học và ngôn ngữ học" [G Condominas (1997), tr 146] Một nhà ngôn ngũ học khác là người Nga cũng đã viết rằng "Việt Nam có thê gọi là một 'thiên đường ngôn ngữ học': Trên lãnh thô của đất nước này tổn tại m ột sô' lượng lớn các ngôn ngữ mà giới ngôn ngữ học thế giới hết sức quan tâm" [Kasevich V B (1998), tr 8] Trong tình trạng như thê’

có thể nói Việt Nam là bức tranh ngôn ngữ thu nhỏ của vùng Đông

Nam Á, một đất nước có nguồn tài nguyên ngôn ngữ râ't giầu có Trong thực tế từ trước tới nay rât nhiều nhà nghiên cứu dân tộc học hay nhân học, ngôn ngữ học v.v trên thê" giới luôn luôn quan tâm đến địa bàn này Bơi lẽ, nếu có thể có được nhũng hiểu biết đầy đủ về vấn đề ngôn ngữ-văn hóa ờ đây cũng chính là đã có được những hiểu biết phong phú về khu vực Đông Nam Á, một khu vực được coi là một trong những cái nôi văn hóa cổ xưa của loài người, một khu vực từ thời tiền sử đã có nền văn minh nông nghiệp lúa nước phát triển tương đối rực rỡ Điều đó nói lên rằng bức tranh ngôn ngữ các dân tộc thiếu số ở Việt Nam có vị trí đặc biệt quan trọng đối với ngôn ngữ học

Đối với giới nghiên cứu xã hội nhân văn Việt Nam, những hiểu biết càng đầy đủ về những vân đề ngôn ngữ-văn hóa các dân tộc thiểu sô' cũng chính là sự hiểu biết đến cội nguồn những sắc thái văn hóa khác nhau làm nên bản sắc đa văn hóa của dân tộc Việt Nam thống nhât; đổng thời đó cũng là sự hiểu biết cần thiết văn hóa những dân tộc láng giềng quan trọng của mình và trong cộng đồng các nước ASEAN Điểu đó sẽ giúp chúng ta có những hiểu biết xã hội quan trọng để hòa nhập vào cộng đổng Đông

Trang 17

2 0 N G Ô N N G Ữ C Á C D Â N T Ộ C T H IỂ U S Ố ở V IỆ T NAM

Nam A mà không làm mất đi ban sắc của riêng mình trong xu thê’ hội nhập toàn cầu hóa đang diễn ra hiện nay Trong một tình trạng

như vậy, rõ ràng, việc nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiêu s ố ờ

Việt Nam là cần thiết Nó mang lại lợi ích không chi cho ban thân các ngành khoa học xã hội nhân văn mà còn mang lại lợi ích cho

sự phát triển bền vững của đất nước Việt Nam trong xu thê hội nhập khu vực và toàn cầu hiện nav

7.7.2 Sô lượng dân tộc và ngôn ngữ dân tộc thiểu sô ở Việt Nam

Như chúng ta đã biết, số lượng 53 dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay là con số được Tông cục Thống kê của Nhà nước Việt Nam công bô; do đó trong một mức độ nhâ't định nó là con số chính thức (official) Đây là kết quả của một quá trình nghiên cứu công phu của các nhà dân tộc học Việt Nam từ khi nước Việt Nam được độc lập (đặc biệt là từ năm 1954, khi miền Bắc được giải phóng) đến khi Tống cục Thống kê, một cơ quan chính thức của Nhà nước, công bố danh sách dân tộc thiêu số như vừa nói ỏ trên Trong quá trình xác định danh mục thành phần các dân tộc ở Việt

Nam đê Tổng cục Thông kê công b ố , đương nhiên có sự tham gia

tích cực của các nhà ngôn ngữ học nghiên cứu ngôn ngũ các dân tộc thiêu số Chúng tôi nghĩ rằng những kết luận đã có đó là phủ hợp với điều kiện và trình độ nghiên cứu lúc bây giờ Nó phản ánh khả năng tiếp cận vấn đề phân loại tộc người được đặt ra vào thời kỳ lịch sử ấy Trong thực tê' từ khi công b ố số lượng 53 dân tộc thiểu số ở Việt Nam đến nay, Nhà nước Việt Nam đã dựa vào

đó đ ể quản lý xã hội có hiệu quả vùng dân tộc thiểu số

Xuât phát từ số lượng chính thức các dân tộc thiểu số và ngôn ngữ mà những dân tộc đó sử cỉụng, người ta củng có thể nói rằng

ở Việt Nam hiện nay có 52 ngốn ngữ dân tộc thiểu sô Chúng tòi xin nhân mạnh rằng cách nói "ở Việt Nam hiện nay có 52 ngôn ngữ dân tộc thiểu số" là cách nói ước đinh, một con số mang tính chất quản lý hành chính nên về nguyên tắc cũng có thế chấp nhận

Trang 18

Chương 1 Bức TRANH CHUNG VẾ NGÔN NGỮ CÁC DÂN TỘC THIỂU số VIÊT NAM

được Tuy nhiên, dựa trên kết quả nghiên cứu ngôn ngữ các dân

tộc thiểu s ố ở Việt Nam trong nhiều năm gần đây, chúng ta có cơ

sư khoa học đê nhận biết rằng trong thực tê'bức tranh tỉ^ôn tiỹt dân tộc thiêu sô'ờ Việt Nam CÒII phức tạp hơn Theo đỏ, rât có thê sô'

lượng ngôn ngữ dân tộc thiêu số ở Việt Nam sẽ nhiều hon so với con sô 52 ngôn ngữ như đang được nói đến hiện nay

Có thê lây trường hợp dân tộc Chứt (và cùng với dân tộc Chứt

là tiêìiy Chúi) làm một ví dụ minh họa cho thực tế nói trên Nếu dựa vào danh mục thành phẩn các dân tộc chính thức công bô' năm

1979, chúng ta có thê nói tiếny Chút của dân tộc Chứt bao gổm

những nhóm địa phương khác nhau có tên gọi cụ thể là tiếng Mày, tiếng Rục, tiếng Sách, tiếng Mã Liềng và tiếng Arem Cả năm nhóm (thô ngũ’) này, như vậy, được coi là thành viên địa phương của tiếng Chút Người ta có thê thây sự hiện diện quan niệm tương tự trong nhũng tài liệu nghiên cứu như "Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tinh phía bắc" [VDTH, (1978)], "Các dân tộc ít người ở Bình Trị Thiên" [N.Q Lộc, (1984)] hay “Ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam và chính sách ngôn ngữ" [H Tuệ, (1984)] v.v Và quan niệm này được châp nhận trong nhiều thập

ký qua, khi một sô nhà nghiên cứu bắt tay vào nghiên cứu dân tộc hay ngôn ngữ dân tộc này

T h ế nhưng với những kết quả nghiên cứu ngôn ngữ gần đây, người ta đã có thê chứng minh rằng trong thực tế năm nhóm địa phương mà trước đây được coi là những bộ phận của tiếng Chút

ây cũng có thể sẽ là những ngôn ngữ riêng lẻ (tức là những cá th ể ngôn ngữ) chứ không phải là các phương ngữ (hay thô ngữ) của

một ngôn ngữ thông nhất duy nhất Cụ thể là, người ta cho rằng cái được gọi là tiếng Chứt chi có thể bao gồm ngôn ngữ của ba nhóm người là Mày, Rục, Sách Ngôn ngữ cua hai nhóm còn lại, tiếng Arem và tiếng Mã Liềng, có thê là những ngôn ngữ riêng lé

có bà con họ hàng với tiếng Chứt ây chứ không phải là bộ phận của tiếng Chứt như đã từng được quan niệm Chăng hạn, đây là cách đặt vân đề được trình bày trong những nghiên cứu cua

Trang 19

2 2 N G Ô N N G Ữ C Á C D Â N T Ộ C T H IỂ U s ố Ở V IỆ T N AM

M Ferlus [M Ferlus, (1991), (1996)], của chính chúng tôi [T.T Dõi, (1996)] và phần nào trong cả nghiên cứu của Nguyễn Văn Lợi

[N.v Lợi, (1993)] trong thời gian trước đó

Đi vào chi tiết chúng ta thây tình hình phân định cái gọi là ngôn ngữ Chứt này là như sau Ngay từ năm 1991 [M Ferlus,(1991)] sau nhiều lẩn khảo sát tại địa bàn, tuy không trình bày chi tiết lý do, M Ferlus đã dường như dứt khoát coi tiếng Arem và tiêng Mã Liềng là những ngôn ngữ độc lập với tiêng Chứt (mà theo ông chỉ gổm có tiếng Rục, tiếng Mày và tiếng Sách) Năm

1993, sau khoang thời gian có ý kiến cua M Ferlus hai năm, Nguyễn Văn Lợi trong khi trình bày những vân đề tiếng Rục trong nhóm Việt - Mường, dựa vào sự so sánh từ vựng giữa các ngôn ngữ của nhóm này với tiếng Việt và tiếng Mường (Rục có 68 - 69%

từ chung vói Việt, Mường; Arem có 57% chung với Việt và Mường) cũng đã đề nghị tách tiêng Chứt của dân tộc Chứt ra thành ba nhóm là: a) Nhóm tiếng Mày, tiếng Rục, tiếng Sách; b) Nhóm tiếng Mã Liềng và c) Nhóm tiếng Arem [N.v Lợi, (1993),

tr 19] Có điều là khi đưa ra những con số tỷ lệ có tính tông hạp như vậy, tác giả này đã không nói rõ vốn từ ông đem ra so sánh là danh sách các từ mà Svvadesh đề nghị hay là dựa trên một danh sách có SỐ lượng tù khác với danh sách các từ của Swadesh do ông lựa chọn và danh sách ây là bao nhiêu Cho nên kết quả vừa nêu cùa ông tuy có giá trị tham khảo nhưng tự bản thần nó không mang tính tường minh để đủ cơ sở cho việc tách biệt các nhóm địa phương của "tiếng Chứt" ra thành những ngôn ngữ độc lập như ông để nghị

Dựa vào những dấu hiệu biến đổi ngôn ngữ, một tiêu chí

thuộc cách tiếp cận so sánh - lịch sử, chúng tôi đã từng đề nghị tách cái khối mà xưa nay chúng ta vẫn gọi chung là tiếng Chút thành

các ngôn ngữ khác nhau [T.T Dõi, (1996)] là tiếng Arem, tiếng Mã Liêng, và tiếng Chứt (gồm những nhóm người có tên địa phương

là Mày, Rục, Sách) Có hai cơ sở về biến đổi ngôn ngữ cho phép

Trang 20

Chương 1 BỨC TRANH CHUNG VẼ NGÔN NGỮ CÁC DÂN TỘC THIẾU số VIỆT NAM

chúng ta đặt ra vấn đề như vậy Thứ nhất là căn cứ vào tình trạng

xử lý thanh điệu khác nhau trong ngôn ngữ trước kia gọi là tiếng

Chứt Dựa vào dấu hiệu biến đổi này chúng ta sẽ thấy ngôn ngữ của nhóm Arem phải được tách riêng ra; lý do là, người ta hiện đang còn tranh cãi ngôn ngữ của nhóm này đã có (hay chưa có) thanh điệu Tiếp đến, chúng ta có một ngôn ngữ chung cho một nhóm gồm thô ngữ Sách, thô ngữ Mày và thô ngữ Rục; đây là những nhóm ngôn ngữ địa phương đều có 4 thanh điệu điển hình Sau đó, chúng ta còn lại tiếng Mã Liềng; ngôn ngữ cua nhóm người này được xác định là một ngôn ngữ hiện đã có hệ thống đầy

đu 6 thanh điệu

Thứ hai, ngoài dâu hiệu thanh điệu là lý do chính đê chia tiếng Chứt trước đây thành ba bộ phận như vừa nói ớ trên, người

ta còn thây có thêm lý do khác nửa Đó là, giữa ba bộ phận nói

trên có sự khác biệt rât rõ trong một số tù thuộc lớp từ cơ bản

Những ví dụ được cho dưới đây đã thể hiện chứng cớ bô sung cho một sự tách biệt như vậy

Bảng 7.7: So sánh một sô từ giữa tiêng Chứt, tiếng Arem và tiêng Mã Liềng

(nguồn: tư liệu điển dã của tác giả)

Trang 21

taky.T) ka3U0:q 10113110:13 ko3uo:i] karo:r) họng

Quan sát những từ được đem ra so sánh trong bảng, chúng ta

nhận thây có sự khác biệt giữa những thổ ngữ nói trên và sự khác biệt đó rất đáng chú ý Nói một cách khác đi, những khác biệt đó rất quan trọng đế phân biệt ngôn ngữ với ngôn ngữ và ngôn ngữ và

thổ ngữ Bơi vì, như A.G Haudricourt đã chỉ rõ khi ông xác định

vị trí của tiếng Việt trong các ngôn ngữ Nam Á rằng, các từ thuộc vào lớp từ cơ bản (chỉ hiện tượng thiên nhiên, chi những màu sắc,

tính chât cơ bản) có giá trị cội nguồn nên chúng "có tính quyết định" [Haudricourt A.G, (1953), tr 20] trong việc phân biệt giữa ngôn ngũ’ với ngôn ngữ Ở đây chúng ta thây các từ thuộc nhóm thố ngữ Mày, Rục, Sách tạo thành một khôi riêng tương đôi thống nhâ't; điều đó chứng tò nhóm thổ ngữ này gần gũi với nhau nhất Cái khôi riêng biệt này, rõ ràng, tách biệt với thô ngữ Arem làm cho thô ngữ Arem cũng có một vị trí riêng biệt Trong khi đó, thô ngữ Mã Liềng với tình trạng khi thì một số từ giông với thổ ngữ Arem, khi thì có một vài từ lại gần như tương ứng với với nhóm thô ngữ Mày, Rục, Sách; điều đó khiên nó khó có thê thuộc về nhóm này hay nhóm khác mà có thể tách ra thành một bộ phận riêng biệt Sụ khác biệt từ vựng cơ bản nói trên, như vậv, củng gần như trùng khớp với sự khác biệt về hiện trạng thanh điệu mà chúng ta đã phân tích trước đó Như vậy, những khác biệt về

Trang 22

Chương 1 BỨC TRANH CHUNG VẾ NGÔN NGỮ CÁC DẪN TỘC THIỂU số VIỆT NAM 2 5

ngữ âm và từ vựng cua năm "thành phần ngôn ngữ" được coi là những bộ phận của tiếng Chứt có thê được chia thành ba "bộ phận" khác nhau

Vê' địa bàn cu trú hiện nay, trong các nhóm tộc người mà trước đây người ta xếp vào dân tộc Chứt ấy, chỉ có nhóm tộc người Mày, Rục, Sách là có mối quan hệ (liên hệ) qua lại trực tiếp với nhau; đặc biệt là giữa nhóm Rục và nhóm Sách có mối quan hệ láng giềng rất gần gũi Nhóm cư dân nói tiếng Mã Liềng, do điều kiện địa lý đi lại khỏ khăn, họ o gần như tách biệt với các nhóm tộc người Màv, Rục, Sách Khi đi nghiên cứu thực địa hai bộ phận tộc người này, chúng tôi dường như không nhận thây giữa họ có một sự liên hệ "địa lý" nào Trong khi đó, nhóm tộc người Arem tuy cũng sống tách biệt với ba nhóm tộc người Rày, Mục, Sách nhưng họ cũng ít nhiều có quan hệ tiếp xúc với tộc người nói tiếng Sách [T.T Dõi, (1995)]

Mặt khác khi nghiên cứu cộng đồng cư dân này, chúng tôi thấy có một hiện tượng xã hội, không thuộc về cấu trúc ngôn ngữ nhưng lại rất quan trọng, khiến chúng ta cần lưu ý: nhóm cư dân nói tiếng Arem và nhóm cư dân nói tiếng Sách ý thức rằng ngôn

ngữ của họ khó có th ể cùng là một ngôn ngữ thôhg nhất Hiện tượng

này chính là sự cộng cư của người Sách với người Arem trong thời

kỳ 1981 - 1984 tại vùng Cha Ang Cụ thẻ là vì một lý do nào đo mà thời kỳ 1981 - 1984 có 6 gia đình người Sách (vốn ở ban Yên Hợp

xã Thượng Hóa) đến cộng cư với người Arem tại bản Cha Ang (thuộc xã Tân Trạch) Trong thời gian cộng cư, có một vài phụ nữ người Sách lấy chổng người Arem đang định cư ở Cha Ang Mặc

dù cùng sinh hoạt với nhau trong một gia đình, nhung số người Sách nói trên không nói được tiếng Arem trong sinh hoạt gia đình

và những người Arem cùng gia đình với người Sách khi giao tiếp thì đều phải nói bằng tiếng Sách chứ không sử dụng tiếng Arem được [T.T Dõi, (1995)] Tình trạng sử dụng ngôn ngữ như th ế cho chúng ta thấy rằng giữa hai nhóm thô ngữ Arem và Sách khó có thể là phương ngữ của cùng một ngôn ngữ Nói một cách khác, về

Trang 23

2 6 N G Ô N N G Ữ C Á C D Â N T Ộ C T H IỂ U S Ố Ở V IỆ T N A M

m ặt sử dụng (tức bình diện xã hội ngôn ngữ học), sự khác biệt giữa tiếng Arem và tiếng Sách là có thực và sụ khác biệt đó có tính ngôn ngữ chứ không phái chỉ là sự khác biệt đơn thuần giữa các phương ngữ với phương ngữ hay giữa các thô ngữ trong một ngôn ngữ vói nhau

Cùng với tình trạng như tiêhg Chứt, trường hợp những nhỏm người được xếp vào tiếng Chăm cũng là một ví dụ cho thây các ngôn ngữ xếp theo danh mục thành phần các dân tộc công b ố năm

1979 chưa hẳn đã thực sụ thoả mãn những nhà nghiên cứu khác nhau Ví dụ như theo cách đánh giá cua Bùi Khánh T h ế “sự phân

loại nội bộ trong nhánh (tức nhánh Chăm, chúng tồi thêm vào và nhấn m ạnh T.T.D) cũng chưa trọn vẹn" [B.K Thế, (1995), tr 6 - 7]

Chẳng hạn, nhóm tộc người có tên là Hroi (còn ghi là Ha-roi, Hroy, H 'w ay, Bahnar Chăm) sinh tụ tại miền Tây Bình Định, Phú Yên với dân số trên 3.000 người có được coi là một phương ngữ của tiếng Chăm hay không củng đang là một vân đề còn chưa thực sự dứt khoát Ngay bản thân tiếng Chăm, sự khác biệt giữa vùng Chăm An Giang với vùng Chăm Ninh Thuận, Binh Thuận rõ tới m ức có nhà nghiên cứu cho rằng "trên bình diện đổng đại đây

là những ngôn ngữ khác nhau, mặc dù trong quá khứ chúng có thê từ m ột gốc chung tách ra" [B.K Thê' (1995), tr 10] cũng đang

là một vấn đề còn bỏ ngỏ, đòi hỏi phải có sự kháo sát kỹ lưỡng.Hay như trường hợp tiếng Tàv - Nùng, vân đề không phải là mọi người đều nhât trí cho rằng "hai dân tộc này có cùng một ngôn n g ữ " là tiếng Tày - Nùng nhu một số tài liệu [H Tuệ, (1984),

tr 18] đã thừa nhận Xin lưu V là trong luận văn khoa học nghiên cứu về tiếng Nùng, tiếng inẹ đẻ của mình, Mông Ký Slay đã có một nhận xét kín đáo rằng các tác giả chủ trương coi Tày - Nùng như một ngôn ngữ thống nhất dùng chung cho cá dân tộc Tàv và dân tộc Nùng là "do quá chú trọng đến những đặc điểm chung vốn có giữa hai ngôn ngữ nên râ't đáng tiếc là bỏ sót đi quá nhiều những dị biệt vốn là các đặc trưng đê khư biệt hai tiêng nói này Trong thực tế, quả thật giữa Tày và Nùng, do những hoàn cảnh

Trang 24

Chương 1 Bức TRANH CHUNG VẾ NGỒN NGỮ CÁC DẪN Tõc THIỂU số VIÊT NAM

đặc biệt, đã tồn tại như một cộng đổng rát thân thiết ờ Việt Nam Nhưng khi đã tập kết đưọe khá nhiều dử liệu ngôn ngũ học thì

mới thấy là 'quá sớm khi chúng ta muôn khái quát hóa ngôn ngữ

Tày - Nùng như một phương tiện giao tiếp chung có hiệu lực cho

ca hai tộc người'" [M.K Slav, (1996), tr 5 - 6] Cách nhận xét như thế, trên thực tế, là cách nói tế nhị để bày to quan điếm tiếng Tày

là ngôn ngữ độc lập với tiếng Nùng

Hay như trong một nghiên cứu "Đ ể tài cấp Bộ" (do Tạ Văn Thông ở viện "T ừ điên và Bách khoa thư" làm chu nhiệm) trong

thời gian mới đây, nhóm thực hiện đề tài nêu ý kiến cho rằng tiếng

Tả Ôi của dân tộc Tà Ôi ơ Thừa Thiên - H u ế và Quang Trị (với ba

nhóm địa phương có tên gọi là Tà Ôi, Pa cô, Pa hi theo danh mục xác định thành phần dân tộc năm 1979) phải được coi gồm hai ngôn ngữ khác nhau chứ không phải chi là tiếng Tà Ôi thông nhât Theo đó, ngôn ngữ này phải được tách đôi thành một ngôn ngũ là

tiêng Tà Ôi cua riêng nhóm địa phương Tà Ôi và một ngôn ngữ riêng khác là tiêng Pa cô gổm hai nhóm địa phương Pa cô và Pa hi

còn lại [T.v Thông, (2010), tr 93]

Nhu vậy, tù một vài trường hợp mô tả ở trên làm ví dụ, chúng ta có thể nói rằng việc nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc

thiểu sô' ở Việt Nam mới chỉ đi những bước đầu tiên trong vấn đ ề

phân định ranh giới giữa các phương ngữ và các ngôn ngữ Điểu

đó có nghĩa là, số lượng ngôn ngữ các dân tộc thiểu s ố ở Việt Nam suy ra từ số lượng các dân tộc thiếu số đã được công b ố chính thức chỉ mang tính tương đối Rất có thê hiện nay tuy s ố dân tộc thiểu số được hạn định như vậy, nhưng trong thực tê 's ố lượng ngôn ngữ dân tộc thiểu số sẽ có số lượng đa dạng hơn Theo đó, có thể có một dân tộc thiểu số dùng một ngôn ngữ chung gồm nhiều phương ngữ tộc người; nhưng cũng có th ể có một dân tộc thiêu số dùng các ngôn ngữ riêng le, độc lập của nhiều tộc người khác nhau

Như vậy, trong tình hình nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiêu SỐ hiện nay, nếu chúng ta có tạm thời xác định một danh

Trang 25

2 8 N G Ô N N G Ữ C Á C D Â N T Ộ C T H IỂ U s ố Ở V IỆ T N A M

sách cụ thể về ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam thì đó cũng chỉ là số lượng ước định đế tiếp tục "tác nghiệp" Đây chính là một vân đề ngôn ngữ học quan trọng cần được tiếp tục nghiên cứu thấu đáo trong giai đoạn tiếp theo và là một công việc quan trọng trong nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiếu sô Việt Nam hiện nay Công việc này đòi hòi đổng thời vừa phải từng bước tiên hành thu thập đầy đu thêm tư liệu thực tế hiện có cả o bình diện cấu trúc lân ở bình diện xã hội, vừa phải có được sự hoàn chỉnh về phương pháp làm việc đáp ứng với tình hình thực tê'cua địa bàn rất đặc thù nhưng cũng rất thú vị này Đây cũng phải là bước nghiên cứu trên cơ sở kê thừa những thành tựu đã có rất đáng được trân trọng mà các nhà nghiên cứu trước đây đã làm được; đồng thời nó cũng đòi hỏi những công việc phân tích và lý giải mới phức tạp hơn, chi tiết, khó khăn hơn, và do vậy sẽ mâ't nhiều công sức hơn

Chúng tôi cũng xin nói thêm là, đối với chúng tôi tuy ngôn ngữ là một dấu hiệu (tức là tiêu chí) quan trọng trong việc xác định

thành phần dân tộc, nhưng điều đó hoàn toàn không có nghĩa cứ

môi cá thê ngôn ngữ thiểu sô" phái là một dân tộc thiểu s ố độc lập

hay ngược lại một dân tộc thiêu số không sứ dụng những ngôn ngữ tộc người khác nhau Bòi vì, việc xác định thành phần dân tộc trong một quốc gia phải là sự kết hợp đồng thời giữa luận cứ khoa

học (trong đó có luận cứ ngôn ngữ) với lợi ích ổn định xã hội của

quốc gia đó Cho nên, khi xác định thành phần các dân tộc thiếu

số, luận cứ khoa học ngôn ngừ phải được đặt trong môi tương liên vơi lợi ích quốc gia Và điều quan trọng là trong thực tế phân định thành phần dân tộc, cả ỏ Việt Nam và nhiều quốc gia khác trong khu vực, cũng đã xử lý vấn đề như vậy Cho nên, việc một nhà nghiên cứu nào đó chứng minh được rằng một thô ngữ vốn vãn được coi là "nhóm địa phương" của một dân tộc nào đó là "m ột cá thể" ngôn ngữ độc lập thì cần phải được phúc kiếm (hay kiểm chứng) lại một cách cẩn thận Đương nhiên, khi phúc kiểm,

Trang 26

Chương 1 BỨC TRANH CHUNG VẾ NGÔN NGỮ CÁC DÂN TỘC THIỂU số VIỆT NAM 2 9

người ta phải đặt ngôn ngữ cua "nhóm địa phương" ấy trong một bôi cảnh khu vực, cả ở bình diện câu trúc ngôn ngữ lân bình diện

hành chức (tức bình diện chức năìiy xã hội) Và khi còn chưa có kết

luận thông nhất giữa những nhà nghiên cứu khác nhau thì ý kiến vừa mới được nêu ra vân chi nên được coi là một đề xuất mang tính chất "giả thiết đê tham khao" hay một "giả định đê làm việc"

mà thôi

Theo nguyên tắc xử lý như thế, có lẽ hiện nay chúng ta tạm

thời xác lập danh sách với 52 ngôn ngữ dân tộc thiểu ở Việt Nam Trong số đó, có một Iiỵôn lí^ữ không hành chức bình thường trong

đời sống cộng đổng là tiếng o Đu của dân tộc ơ Đu hiện sinh

sông ở miền tây Nghệ An; đổng thời có một ngôn ngữ được hai dân

tộc thiểu s ố cùng sử dụng là tiếng Tày - Nùng của dân tộc Tày và dân tộc Nùng Tuy nhiên, xin lưu ý là, trong nhiều tài liệu nghiên cứu khác nhau liên quan đến số lượng ngôn ngữ hay số lượng dân tộc được công b ố ờ Việt Nam, người ta cũng có thể gặp những con

số khác với số lượng ngôn ngữ hay số lượng dân tộc vừa được trình bày ơ trên Tình trạng đó là có lý do lịch sử của nó

Xin nhớ lại rằng sau khi nhà nước Việt Nam giành độc lập (năm 1945) và nhất là sau năm 1954 giải phóng miền Bắc, các nhà nghiên cứu ở miền Bắc Việt Nam cũng đã đưa ra một danh sách (hay thành phản) các dân tộc thiêu sô khác vứi danh sách công bô năm 1979 Theo đó, người ta đã từng cho rằng ở Việt Nam có khoảng 60 dân tộc [L.s Giáo, (1995), tr 129] Khi xác lập một danh sách "khoáng 60 dân tộc" như vậy, theo như danh mục liệt kê ở

công trình của Viện Dân tộc học [VDTH (1975), tr 15 - 19], những nhóm địa phương (group local) có tên gọi như Thủy, Tống được coi

là những dân tộc thiểu sô' (ethnic minority) T h ế nhung trong danh

sách công b ố năm 1979, chúng chi được coi là nhũng nhóm địa phương khác nhau của một dân tộc thiêu số

Như vậy, sự khác biệt vể số lượng ngôn ngữ các dân tộc ở Việt Nam trong trường hợp như vừa mô tả ờ trên là do tính lịch sử

Trang 27

3 0 N G Ô N N G Ữ C Á C D Â N T Ộ C T H IỂ U s ố Ở V IỆ T N AM

quy định Theo đó, ở vào một thời điểm cụ thê trước năm 1979, căn cứ vào quá trình nhận thức lúc bấy giờ người ta củng đã noi tới một danh sách khác so vói danh sách công bố năm 1979 Vì the' khi tim hiếu danh sách các ngôn ngữ ở Việt Nam, chúng ta cẩn lưu

ý đến thời điếm mà tài liệu công b ố danh sách các dân tộc Nếu như dựa vào danh sách công bô năm 1979, con sô các dân tộc thiểu

số ở Việt Nam sẽ là 53 dân tộc; còn nếu dựa vào sô liệu đã xuât bản trước đó, con số các dân tộc ơ Việt Nam sẽ là một con số khác

đi chút ít Nó có thê nhiều hơn hoặc cũng có thê ít hơn con số 53 dân tộc thiểu số và do đó cũng tương ứng khoang ngần ây ngôn ngữ Nói rằng, danh sách phụ thuộc vào "tính lịch sư" trong nghiên cứu là do như thế

1.2 Những khả năng hay giả thiết khác nhau trong lịch sử về bức tranh ngôn ngữ văn hoá các dân tộc trên cơ sỏ bức tranh hiện nay

1.2.1 Về bức tranh ngôn ngữ dân tộc thiểu số hiện nay ở Việt Nam

Thành tựu nghiên cứu ngôn ngữ học, dân tộc học về các dân tộc thiểu số ở Việt Nam trong hơn 60 năm qua cho phép chúng ta

nhận biết một bức tranh ngôn ngữ dân tộc thiểu sô' ở Việt Nam hiện

nay Theo đó, bức tranh ngôn ngử-văn hóa của các dân tộc thiểu

s ố ở Việt Nam rất đa dạng về thành phần và khá phức tạp về địa vực cư trú,

Đ ể cho đơn giản vân đề, chúng ta tạm thời nói đến các dân tộc thiểu SỐ theo vùng lãnh thổ là "m iền Bắc", "miền Trung" và "miền

N am " nước ta Nhìn ở mặt hiện tại, vể đại thể sự phân b ố lãnh thổ

của các dân tộc thiểu số (và cùng với nó là ngôn ngũ các dân tộc thiểu sô) ờ "m iền Bắc" dường như là tương đôi tách biệt nhau Chúng ta có thể mô tả sự tách biệt đó như sau ơ miển Bắc, vùng đổng bằng ven biển sông Hổng, sông Mã và sông Cả là không gian tồn tại hầu như tuyệt đôi của cư dân nói tiếng Việt, một thành viên của nhóm ngôn ngữ Việt - Mường Không gian ngôn ngữ Việt - Mường nàv hiện nay còn bao trùm toàn bộ các tinh

Trang 28

Chương 1 BỨC TRANH CHUNG VẾ NGÔN NGỮ CÁC DẤN TỘC THIỀU số VIỆT NAM

thành thuộc đồng bằng, trung du miền núi như Phú Thọ, Sơn La,

Hà Nội (bao gồm ca Hà Táy cù), Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hòa Bình, Hưng Yên, Hài Dương, Hà Nam, Ninh Bình, Thanh Hoa, Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Bình) Trong không gian ngôn ngừ Việt - Mường này, địa bàn Hòa Binh với các mường nổi tiêng nhu "N hât Bi, nhì Vang, tam Thang, tú Động" và vùng lân cận nhu Thanh Hóa, Sơn La, Phú Thọ v.v coi như là không gian đặc thù của cộng đổng người Mường nói tiếng Mường hiện nay

Bên cạnh vùng không gian chủ đạo ây, ơ phần còn lại của miền Bắc Việt Nam là những địa bàn cư trú thể hiện sự khác biệt khá rõ ràng của một vài dân tộc có dân số tương đối đông đúc Trước hết

là các tinh thuộc vùng Đông Bắc từ Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Cạn, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Bắc Giang và Quàng Ninh với không gian

xã hội chủ yếu của người Tày, Nùng, Mông, Dao v.v; ở không gian này, tiếng Tày - Nùng là ngôn ngữ chiếm vị th ế "phô biến" Trong khi đó, các tinh còn lại của miền Bắc thuộc vùng Tây Bắc như Sơn

La, Diện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang và phần phía Tây các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An với không gian xã hội chủ yê'u của các cộng đồng cư dân Thái, Mông, Khư Mú v.v; ở đây, tiếng Thái và tiếng Mông là nhũng ngôn ngữ giữ vị thế "phô biến" Như vậy, ờ phần trung du và miền núi Bắc Bộ, có sự phân biệt nhau khá

rõ giữa phần phía đông và phần phía tây sông Hồng

Tuy nhiên, ở mỗi vùng lãnh thô của miền Bắc như thế, bên trong cái không gian ngôn ngữ chiếm vị thê' "phô biên" ấy, luôn luôn hiện diện nhũng "tiểu không gian" của những ngôn ngữ khác Chẳng hạn, trong không gian đặc thù của cộng đổng người Mường nói tiếng Mường người ta vân nhận thấy có sự xen lân cộng đổng người nói tiếng Thái, tiêng Dao, tiếng Klìơ Mú; hay như trong không gian mà tiêng Tày - Nùng là ngôn ngữ chiếm vị

th ế "p h ổ biến" vẫn có những ngôn ngừ khác đan xen như tiếng Sán Dìu, tiếng Cao Lan, tiếng Phà Thèn v.v; cũng vậy, ờ vùng mà tiếng Thái và tiếng Mông là nhũng ngôn ngữ giữ vị thế "p h ổ biên", vẫn hiện diện những cộng đổng cư dân nói tiếng Khơ Mú,

Trang 29

3 2 N G Ô N N G Ữ C Á C D Â N T Ộ C T H IỂ U S Ố Ở V IỆ T N A M

tiếng Kháng, tiếng Hà Nhì v.v Điều đó có nghĩa là, bức tranh ngôn ngữ dân tộc thiêu sô” ở miền Bắc Việt Nam là bức tranh đa dân tộc vừa có ngôn ngữ giữ vị th ế phô biến trong vùng, vùa bao gồm nhiều ngôn ngữ đan xen (hay lẫn lộn) lồng vào không gian ngôn ngữ giữ vị th ế phô biến ây

Tình trạng như th ế chúng ta cũng thấy có ở miền Trung và miền Nam Việt Nam nhưng không "quá phức tạp" như vùng địa

lý của miền Bắc Theo đó, ở địa bàn miền Trung từ Quang Binh đến Ninh Thuận, bên trong không gian cư trú của cộng đồng cư dân nói tiếng Việt, có một không gian khác hoặc là của cộng đổng

cư dân nói những ngôn ngữ Môn - Khmer thuộc các nhóm khác nhau cua họ Nam Á, hoặc là của cộng đổng cư dân nói những ngôn ngữ thuộc nhóm Chăm của họ Nam Đao Còn ơ địa bàn miền Nam từ Ninh Thuận xuống phía Nam, cùng với không gian

cư trú của cộng đổng cư dân nói tiếng Việt là không gian cư trú của cộng đổng cư dân nói tiếng Khmer, nói tiêng Hoa và cộng đổng cư dân nói tiếng Chăm của họ Nam Đảo N hư vậy, bức tranh ngôn ngữ dân tộc thiểu số ờ miền Trung và m iền Nam Việt Nam cũng vừa có ngôn ngữ giữ vị thế phô biến trong vùng, vừa bao

gổm một s õ ngôn ngữ đan xen (hay lẫn lộn) vào nhau giông như

tình th ế đan xen ở miên Bắc

Sự hiện diện bức tranh "đa ngôn ngữ đan xen" hay "cài răng lược" như vừa mô tả sơ bộ ờ trên phản ánh bình diện địa lý ngôn ngữ đang tổn tại hiện nay Tình trạng nói trên cũng có nghĩa đó chính là không gian ngôn ngữ "đa ngôn ngữ đan xen" cùa các dân

tộc thiểu s ố ở Việt Nam mà chúng ta đang thấy, o đây có một vấn

đề phải được đặt ra Vậy thì bức tranh "đa ngôn ngữ đan xen" như thế hiện diện từ xưa đêh nay hay nó đã có những thay đổi theo thòi gian để dẫn đến một tình trạng "đa ngôn ngữ đan xen" nhu vừa

mô tả? Tức là vùng lãnh thô có các cộng đồng sử dụng những ngôn ngữ khác nhau đang sinh sống không có một sự khác biệt gì do dâu

ấn thời gian quy định? Hay ban thân "sự đa dạng ngôn ngữ" như

Trang 30

Chương 1 Bức TRANH CHUNG VÊ NGÔN NGỮ CÁC DÂN TỘC THIỂU sổ VIỆT NAM 3 3

thê đa chứa đựng một sự khác biệt do thời gian lịch sử quy định ở

những mức độ khác nhau, ở những vấn đề khác nhau?

Theo chúng tôi, những nghiên cứu đã cỏ về ngôn ngũ các dân tộc thiểu sỏ' ớ Việt Nam cho biết tình trạng "đa dạng ngôn ngữ" như đang có chỉ là sự phản ánh bức tranh ngôn ngữ dân tộc thiểu

sô ở mặt đồng đại (synchronic) Còn như nếu xét theo bình diện lịch đại (diachronic), tức nhìn bức tranh ây thay đổi theo tiến trình lịch

sư (historical/historic), tình hình lại không đơn gian như bức tranh

hiện có Và đó chính là một trong những trở ngại chính khiến cho việc phân định ranh giới giữa ngôn ngữ và phương ngừ, giữa

ngôn ngữ và ngôn ngữ mà chúng tôi đã trình bày ơ mục 1.1 trên

đây trên lãnh thổ Việt Nam nói riêng và có thể cả ở vùng Đông Nam A nói chung là một công việc không hề đơn gian

1.2.2 Giả thiết biến đổi lịch sử của bức tranh ngôn ngữ dân tộc thiểu sô hiện nay

ở Việt Nam

Tuy nhiên, như đã nói ở trên, có cơ sở để nói rằng cái không

%ian ngôn ngữ các dân tộc thiêu số ở Việt Nam hiện có chỉ là bức tranh không gian hiện tại và chúng tôi tạm gọi nó là tầng không gian thứ nhâì Trong cái tầng không gian thứ nhất ấy còn bao chứa

(hay "xen lẫn", "cài răng lược") một vài tầng không gian khác nữa phản ánh những biến đổi lịch sử đã từng xảy ra Chứng cứ rõ ràng nhất của tình trạng đó chính là sự "tổn tại đan xen" của nhũng

nhóm dân tộc nhỏ hơn (đúng han là những nhóm tộc người) bị tầng

không gian thứ nhâ't bao bọc

Chẳng hạn, ở địa bàn vùng Tây Bắc Việt Nam, nơi mà người Thái, người Mông, Khơ Mú hiện là cư dân giữ vai trò "chủ thê", luôn luôn có sự sinh sống đan xen của các nhóm cư dân nhỏ hơn thuộc các dân tộc như Xinh Mun, Kháng, Mảng, Phù Lá v.v Hay như trong không gian của cư dân Tày, Nùng, Mông ờ Đông Bắc là các tộc người nho khác như La Chí, Phà Thèn, Pu Péo, Bô' Y v.v Ngay như ờ miền Trung Việt Nam, đan xen trong không gian chủ

Trang 31

3 4 N G Ô N N G Ữ C Á C D Â N T Ộ C T H IỂ U S Ố Ở V IỆ T N A M

thê gổm những cộng đổng Môn - Khmer (như Ba Na, Mrtông, Xtiêng, Cơ Ho v.v) là những cư dân như Gia Rai, Ê Đê v.v thuộc nhóm ngôn ngữ Chăm của họ Nam Đảo Rõ ràng, ở địa bàn ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam, vùng lãnh thô thuần nhâ't cho một dân tộc là không nhiều và thường giới hạn trong một phạm vi địa lý tương đối nhỏ hẹp và đó là một đặc điểm địa lý ngôn ngữ cần được chú ý

Các tộc người thuộc những nhóm cộng đồng nhỏ cũng có một đặc điếm địa lý cư trú rât dễ nhận thây Thoạt nhìn chúng ta nhận biết ngay nó thường là những mảnh đứt đoạn trong cái không gian rộng lớn hơn của các cộng đổng cư dân có dân số đông hưn

và có địa lý cư trú phân bô" rộng hơn Thậm chí, sự đứt đoạn như

th ế còn tạo ra đặc điểm là những cư dân thuộc những nhóm cộng đổng nho cư trú thành những điểm tương đối "biệt lập" Sự biệt lập ây "khép kín" tới mức, chẳng hạn, người ta có thê tách rời hẳn giữa ngưòi Xá Phó với người Phù Lá, giữa những nhóm người Mảng hay người Kháng ở những tỉnh khác nhau của vùng Tây Bắc Chính vì vậy mà đôi khi trong những tài liệu nghiên cứu trước đây, người ta đã từng (hoặc đang) có thể nói tới một tộc người Phủ Lá khác với tộc người Xá Phó Và cũng tương tự như vậy, người ta đã từng nhắc đến một cái khòng gian với những tên gọi như Xá Khao, Xá Cẩu, Xá Puộc v.v để chỉ những cộng đồng cư dân nói những ngôn ngữ Môn - Khmer hay Tạng - Miến ở vùng Tây Bắc Việt Nam Ví dụ, tên gọi Xá Khao là dùng đ ế chỉ người Kháng, một cộng đổng cư dân nói ngôn ngữ Môn - Khmer; nhưng cũng có tên Xá Khao là để chi người Cống, một cộng đổng cư dân nói ngôn ngữ Tạng - Miến đang sinh sống ờ Việt Nam

Tuy nhiên, hiện nay thì chúng ta biết đó là những sự nhẩm lẫn (hay là sự đập nhập) nhiều tộc người có nhũng nét "bên ngoài" giống nhau nhưng thực châ't lại khác nhau Tình trạng đó

có thê khiến chúng ta hình dung rằng cái không gian đặc trưng cho những tộc người "biệt lập" bị không gian rộng hơn bao trùm lên Vậy là, trong cái không gian thứ nhâ't (không gian của cư dân

Trang 32

Chương 1 BỨC TRANH CHUNG VỀ NGÔN NGỮ CÁC DẦN TỘC THIẾU số VIỆT NAM

"chu thê" ờ một vùng lãnh thô) cung song song tổn tại một không gian khác nữa, ta tạm gọi là tầng không ỳ an thứ hai Trong hai tầng

không gian tổn tại đổng thời áy, hiện tại tầng không gian thứ nhât nôi hơn và rõ ràng hơn; trong khi đó tầng không gian thứ hai "nát vụn" hơn Nhưng cho dù bị cho là nát vụn trong một môi trường lớn hon, các tộc người thuộc vào nhóm không gian thú' hai vẫn

còn tồn tại (nghĩa là hiện diện) một cách thực tế Và do vậy, ngôn

ngũ của những tộc người này vẫn còn đưọc nhận diện, cho dù là một sự nhận diện không dễ dàng chút nào

Cùng với hai "không gian" nói trên, trong vùng địa lý cư trú của các dân tộc o Việt Nam, người ta còn có thê nhận thây (hay

nhận ra) những dâu hiệu thê hiện có một tầng "không gian" thứ ba

khác nữa Nếu so sánh với sự tổn tại của tầng "không gian" thứ hai, trường hợp thứ ba này đã bị nát vụn tới mức chỉ còn lại những mành vỡ rời rạc, bị vùi lâp trờ thành những "vật lạ" Quan sát thực t ế ngôn ngữ các dân tộc thiêu sô ơ lãnh thổ các tinh miền

Bắc Việt Nam, người ta thây rất rõ tầng không gian thứ ba này vẫn

còn được "lưu lại" dâu vết Nói một cách khác đi, những dấu hiệu ngôn ngữ mà người ta nói tới ở tầng không gian thứ ba này dường như không còn nguyên vẹn Vì thế, vào thời điểm hiện nay chúng khó có thể được liên kết lại như là ngôn ngữ tộc người hiện thực Trong thực tế, "không gian" ngôn ngữ thứ ba này đã trở thành

"vết tích dân gian", trờ thành những "cặn địa danh" rất rời rạc được liên kết với nhau khá long lẻo; do đó nếu không quan sát kỹ

sẽ rất khó nhận thây

Đê chứng minh cho khả năng hiện diện những "vết tích" như thê, trước hết chúng ta có thê dẫn ra những dấu vết địa danh hòa lẫn trong địa bàn Việt - Mường thuần nhất trong vùng Mường Hòa Binh làm ví dụ Chăng hạn, người ta sẽ rất khó có thê nghĩ

rằng ở vào một thời gian nào đó đã từng có một bộ tộc không phải người Mường định cư ờ những mường như M ường Bi, M ường Vang, M ường Thànị’, M ường Động Bởi vì người ta luôn luôn cho

rằng những mường vừa được kê tên ở trên là "mường gốc" của

Trang 33

3 6 N G Ô N N G Ữ C Á C D Â N T Ộ C T H IỂ U s ố Ở V IỆ T N A M

tộc người Mường T h ế nhưng, bản thân tên gọi (tức địa danh) của

những "mường gốc" ây đã tự nó chứng tỏ những tên gọi mà người Mường hiện đang dùng không phải là của tiếng Mường Tên gọi "m ường" dù với nghĩa "đ ể chỉ địa điểm", đê chi "vùng cư trú" hay để chỉ "nơi người sinh sống" ở đó thi danh từ ấy đều có nguổn gốc từ tiêng Thái chứ tuyệt nhiên không phải thuần gốc tiếng Mường Điều này đã được giáo sư Từ Chi nói rõ trong công trình nổi tiếng của ông [T.Chi, (1996), tr 71] Và râ't có thê ngay các

yêu tố tên riêng Bi, Vang, Thàng, Động trong những địa danh M ường

Bi, M ường Vang, M ường Thàng, M ường Động củng không phải là

một từ Mường thuần nhât như cách nghĩ của không ít người Những tên riêng vừa nói đó có thể chúng là những từ gốc Thái(lThêm vào nữa, ơ vùng Mường Hòa Bình, một từ có liên quan

đến hoạt động kinh tế cơ ban của mình, từ nà với nghĩa là

"ruộng", củng là một từ có nguổn gốc Thái Nhưng chẳng lẽ chỉ đến khi người Thái hiện nay có mặt ở vùng Tây Bắc Việt Nam này thì người Mường vốn ở đây tù râ't lâu mới quan tâm đến "ruộng",

đ ế rồi mượn từ gốc Thái thế hiện khái niệm "ruộng" và rồi sau đó

chuyến từ rọng (ngữ âm là [ror)],cũng nghĩa như nà) vốn có của dân tộc mình sang nghĩa của từ hãy tức "rẫy" như trong tiêng

Thái Chứng cớ của "khá năng" để qua đó nêu ra giả thuyết như

th ế là vì ở các mường khác nhau thuộc Thanh Hóa, Nghệ An,

người Mường vẫn dùng rạng [T.T Dõi, (2004b), ((2012a)] để chỉ nơi canh tác của mình Và điều quan trọng nữa là từ rọng này đã

có trong các ngôn ngữ thuộc tiểu nhóm Việt - Mường song tiết, tức

khi trao đ ổi riêng với ch ủ n g tôi K iểm tra lại qua từ điên tiếng Tày, cỏ thê bi g ố c từ tiếng Tày - Thái là [pỉỊ với nghĩa "anh (trong anh em)", v a n g gốc tử tiếng Tày - Thái là [vẻng] có nghĩa “(vùng, nơi) bỏ (đi), th à n g g ố c tù' tiếng T ày - Thái là [tàng] có nghĩa

"(v ù n g m ường có) đư ờ n g (đi)" và đ ộ n g gốc từ tiêng T ày - Thái là [đông] có nghĩa

"(vùng, m ường) r ừ n % {nguyên thủy)"\H v M a (2005)] N h ư v ậy rất có th ể tên gọi

các m ư ờ n g nổi tiếng của ngư ời M ư ờ n g ở H òa Binh hiện n ay là n h ữ n g tên gọi g ố c

từ T ày - Thái (!?).

Trang 34

Chương 1 BỨC TRANH CHUNG VẾ NGÔN NGỮ CÁC DÃN TỘC THIỂU số VIỆT NAM 3 7

nó có từ giai đoạn proto - Việt - M ư ờng1 Như vậy, sự khác biệt về cách dùng giữa hai vùng Mường rát có thể phan ánh tình trạng chỉ

có ơ người Mường Hòa Bình là vay mượn khi họ "tiếp xúc" với Thái Và nêu những điều giả định nói trên là sự thật thì có thê dự

đoán rằng nỵườỉ M ường có mặt ở các thung lủng vùng Hòa Bình hoặc cùnỵ lúc với người Thái, hoặc trước đó họ đã có tên gọi khác Nhưng về

sau, người Mường đã sử dụng tên gọi mà cộng đổng người Thái

đã từng dùng đ ể chi nơi cư trú của mình ở đây cho đến hiện nay.Rời địa bàn Mường vùng Hòa Bình, chúng ta trở lại không gian đồng bằng Bắc Bộ của người Việt, một bộ phận "m ường" khác vổn được xem là thuần nhất của không gian "Việt - M ường" Chúng ta biết rằng ờ trong lòng không gian "Việt - Mường" của

người Việt có một địa danh sông Cà L ồ mà có nhiều người cho rằng nó là địa danh gốc M ã Lai Điều này là có lý khi chúng ta biết

một cửa sông khác ở Nghệ An cũng có tên gốc Mã Lai tương tự: cảng Cửa Lò (Kưalo) Trong luận văn PTS khoa học (nay là TS) v ề địa danh Hai Phòng, Nguyễn Kiên Trường cho chúng ta biết rằng

Đổ Sơn có một tên cô xưa bị Hán Việt hóa là Nê Lê, một địa danh

có thê là có nguồn gôc Malayô - Pôlinêsien [N.K Trường, (1996)] Những "cặn địa danh" nói trên thường là những tên núi, tên sông

bị bao bọc trong một môi trường Việt (và sau đó lại được/bị Hán Việt hóa) nhưng vẫn còn được chúng ta nhận ra Vậy là, điều đó cho thấy tính chât thuần nhất của không gian thuần Việt đã bao chứa trong đó một không gian Nam Đảo Điều này cũng có nghĩa cái không gian Việt tương như hoàn toàn thuần nhât ấy vẫn có một nét khác biệt chấm phá, tuy thoạt nhìn rất mờ mờ, nhạt nhạt nhung lại rất đáng được chú ý [T.T Dõi, (20080), (2012a)]

x em [N p P h on g, (1988), tr 79]; A rem [rÙDi}] (Xin xem [T.T Dõi, (2013), tr 42].

Trang 35

NGÔN NGỮ CÁC DÂN TỘC THIỂU số Ở VIỆT NAM

Cùng với những mánh vụn địa danh, chúng ta cũng gặp những mảnh vụn khác lẩn trong các "trầm tích dân gian" thê hiện một tầng không gian mờ nhạt rât cô xưa nằm trong lòng tâng

không gian thứ nhâ't Cứ theo nội dung mà Quắm tô' M ường cua

người Thái kể lại, đế có được địa bàn cư trú như ngày nay, dân tộc này đã phải trai qua một quá trình "chinh phục" vùng Tây Bắc vô cùng gian khổ Sự chinh phục này có khi bằng sức mạnh nhưng cũng có khi sức mạnh không thắng nổi mà phai dùng "m ư u lược"

Chuyện kể lại rằng quân Xá (tức là những cư dân không phải Thái,

thuộc nhóm cư dân nói ngôn ngữ Nam Ả) có nỏ làm vũ khí với tên đổng sắc nhọn, còn quân Thái chỉ có cung nỏ vói tên tre nên không thể nào thắng nổi Người Thái mới lập mưu thòa thuận với

người Xá ban địa rằng hai bên cùng lâ'y nó bắn tên vào đá, nêu tên

của ai cắm vào đá được thì vùng đât đang tranh chấp sẽ là của

người đó Những người Xá bản địa thật thà nghĩ rằng tên bằng

đổng cùa mình tốt, chắc sẽ thắng nên dùng tên bắn vào đá thì tên

bị bật ra Còn người Thái chỉ có tên tre nhưng biết lây sáp ong vo

nạp vào đầu tên nên khi bắn tên dính ngay vào đá Quân Xá vì thê

"chịu thua", giữ lời cam kết phải để quân Thái chiêm vùng đât thung lũng rộng rãi, còn mình thì phải chạy vào những vùng đất sâu trong rừng, hoặc dời đi nơi khác thuộc sườn núi mà sinh sông Người Thái từ đó định cư ở nhữne; vùng đât thung lủng rộng rãi thuộc địa bàn Tây Bắc [T.N Thanh, (1996), tr 320], còn người Xá thì chuyên lên "vùng giữa, hay sườn núi", tức vị trí trung gian giữa "thung lủng lòng chảo thấp hay vùng bồn địa giữa núi" và

"vùng cao hay rẻo núi cao" [L.B Nam, (2014), tr 258]

Hình dung ra vùng lãnh thô miền Bắc vói những tầng khôiĩg gian ghép lại với nhau như vậy, chúng ta mới thấy hết sự phức tạp

của bức tranh ngôn ngữ các dân tộc ở Việt Nam hiện nay Chính vì

thê' khi khai thác chúng ờ bình diện ngôn ngữ, chúng ta cẩn vừa có

một cái nhìn toàn diện do không gian thứ nhất phàn ánh, nhưng lại cũng không vì cái nhìn quá toàn diện đó mà quên đi cái riêng của từng ngôn ngữ do những không gian thứ hai hay thứ ba thể

Trang 36

Chương 1 Bức TRANH CHUNG VẾ NGÔN NGỮ CÁC DÂN TỘC THIẾU số VIỆT NAM

hiện Chúng tôi nhận thấy điều này đã từng xay ra đối với nhiều

nhà ngôn ngừ học khiên cho bức tranh phân loại n ývi nỵữ theo cội Ii^uồn ơ khu vực Đông Nam A (trong đó có Việt Nam) mà họ đề

xuất luôn luôn thay đổi và do đó vô cùng phức tạp [Benedict P.K., (1942), (1976); Diffloth G., (1992), (2005)]

Như vậy, ờ đây có một vân đề được đặt ra là chúng ta phải

nhìn nhận sự biến đòi lịch sử cua bức tranh ngôn ngữ dân tộc thiểu

s ố hiện nay ở Việt Nam như thế nào Tức là theo đó, có một câu

hòi phải tiếp tục được trả lời: Trong bức tranh đa dạng ây những

ngôn ngữ nào là nhóm ngôn ngừ bản địa (indigenous), còn những ngón ngữ nào là nhóm ngôn ngữ được di cư (migrate) đến trong

lịch sử ở vùng lãnh thô này? Cho nên, việc phân loại các họ ngôn ngừ trong khu vực đê nhận diện địa bàn cư trú ban địa của từng

họ ngôn ngữ, qua đó nhận diện sụ vay mượn ngôn ngữ là công

việc còn Tất nhiều điều phải được tiếp tục xử lý Có một điều chắc

chắn là, tình trạng đan xen hay cài răng lược mà chúng ta vừa sơ

bộ nhận diện ớ trên là tình trạng đổng đại hiên nay; và tình trạng đan xen ấy đã phản ánh sự thay đổi lịch sử Theo suy nghĩ của chúng tôi, việc giải mã sự thay đôi lịch sử của các nhóm ngôn ngữ

sẽ là cứ liệu về mặt "xã hội" đê cùng với những cứ liệu về "văn hóa khảo cổ", cứ liệu về “văn hóa dân gian" v.v góp phần giải thích văn hóa thời tiền sử ờ Việt Nam nói riêng và vùng Dông Nam Á nói chung

1.3 Những biên đôi đã được nhận biết trong lịch ỉử iiên quan đến những ngôn ngữ, nhóm ngôn ngữ ở địa bàn Việt Nam

1.3.1 Sự vay mượn từ vựng

Đi sâu vào diện mạo ngôn ngữ, chúng ta sẽ thây các lớp

không gian khác nhau ấy được phan ánh qua tình trạng đa dạng cua vốn từ hiện có trong mỗi một ngôn ngữ Theo đó, trong vốn từ

của một ngôn ngữ nào đó có thê có những nhóm từ với những

nguồn g ố c khác nhau Rồi đến lượt mình, nguổn gốc khác nhau

Trang 37

bỏ mặc một mình nó, không gian không thể có tác dụng gì đôi với ngôn ngữ hết Người ta quên nhân tố thời gian, vì nó không cụ thể bằng nhân tô không gian; nhưng thật ra chính nhờ nó mà có sự phân hóa ngôn ngữ Tính đa dạng địa lý phải được phiên dịch ra thành tính đa dạng trong thời gian" [Saussure F de, (1973), tr 334] Theo cách giai thích như thế cua F de Saussure, chúng ta có thể suy ra là sự khác biệt về từ vựng giữa những "vùng địa lý khác nhau" trong ngôn ngữ chính là sự phản ánh những “thay đôi lịch sử" trong quá khứ ỏ chính ngôn ngữ đó Hay nói mộl cách khác, ơ đây nhũng khác biệt về nguổn gốc từ vựng trong một ngôn ngữ là dâu hiệu hình thức phản ánh tình trạng tiếp xúc trong lịch sử cua chính ngôn ngữ đó.

Đê minh họa cho tình trạng nói trên, chúng ta có thể lây

trường hợp từ vựng tiếng La Ha(1) mà Hoàng Văn Ma đã miêu ta

đê làm ví dụ [H.v Ma, (1988)] Với số lượng 1000 từ được đem ra

so sánh với nhiều ngôn ngữ trong vùng, ông cho chúng ta biết rằng trong số từ vựng đó chỉ có 7% là những từ chung, tức là những từ này cùng đổng thời có mặt trong vô’n từ vựng của những ngôn ngữ chính khác nhau thuộc vùng Tây Bắc Việt Nam (như tiêng Thai, tiêng Kháng, tiếng Xinh Mun, tiếng Khơ Mú) S ố còn lại là những từ chung cho riêng từng ngôn ngữ

Như vậy, có thê nói số lượng từ vựng tiếng La Ha giống vói những từ của các ngôn ngữ được kể tên ò trên là rât ít oi Cũng có

trong SỐ nhữ ng n gôn n g ừ ờ T ây Bắc tiếng La H a, tiếng Thái là m ộ t ngôn n g ữ

thuộc họ Thái - Kadai; còn các tiếng K hơ M ú, Xinh M un, K háng đ ư ợ c coi là th u ộ c nhóm K h ơ M ú củ a họ Nam Á (Xin xem ch ư ơ n g III của Giáo trình).

Trang 38

Chương 1 BỨC TRANH CHUNG VÉ NGÔN NGỮ CÁC DÂN TỘC THIỂU sỗ VIÊT NAM 41

nghĩa là tỷ lệ ấy cho phép chúng ta dự đoán rằng sự vay mượn lẫn nhau giữa những tiếng Thái, tiếng La Ha, tiếng Kháng, tiếng Xinh Mun và tiếng Khư Mú trong vùng là không nhiều Tình trạng như thê' phản ánh cái không gian xã hội ngôn ngữ hiện đang có ở vùng Tây Bắc thuộc vào giai đoạn lịch sư rât mới Bơi lẽ, dân tộc Thái ở thòi điểm hiện nay là dân tộc thiểu số có số lượng người đông nhất ơ vùng Tây Bắc; họ cũng có một nền văn hóa phát triển phong phú, có một tô chức xã hội hoàn chỉnh hơn Lẽ ra, với điều kiện xã hội ngôn ngữ như thế, người Thái phải để lại trong vốn từ các ngôn ngữ ờ vùng Tây Bắc (như La Ha, Kháng, Xinh Mun và

Khơ Mú) một s ố lượng từ vựng chung nhiều hơn Nhưng, điều đó

trên thực tê lại không xay ra Điều đó chỉ có thể được giải thích là

do sự tiếp xúc của tiếng Thái với những ngôn ngữ khác trong vùng có thời gian lịch sử chưa nhiều

Mặt khác, cũng theo con số và phân tích của Hoàng Văn Ma, trong khi đó sô lượng từ vựng chung giữa tiếng La Ha với từng ngôn ngữ riêng lẻ còn lại lớn hon râ't nhiều (cụ thể, tỷ lệ chung giữa tiếng La Ha với tiếng Kháng là 15%, giữa tiếng La Ha với tiếng Xinh Mun là 17%) Vậy là tiếng La Ha, tuy là một ngôn ngũ’ thuộc nhóm Kađai của họ Thái - Kađai nhưng lại có một số lượng

từ vựng tương ứng với các ngôn ngũ Môn - Khmer trong khu vực nhiều hơn ngôn ngữ cùng họ, tức là sô" lượng từ vụng của nó tương ứng với tiếng Thái ít hơn so với tiếng Kháng hay tiếng Xinh Mun Hơn nữa, trong sô" những từ chung giữa tiếng La Ha với tiêng Kháng và Xinh Mun này, nó không chỉ bó hẹp ở nhũng ngôn ngữ thuộc vùng Tây Bắc mà còn thấy có ờ hầu hết các ngôn ngữ

họ Nam Á ờ vùng Đông Nam Á (ví dụ, đó là các từ như diều hâu, chuột, hon) Tình trạng tương ứng giữa tiêhg La Ha với các ngôn

ngữ Nam Á như th ế cho phép chúng ta dự đoán có thể có một dãy

từ vựng thuộc lớp từ cơ sở có ngu ôn gốc Môn - Khmer hiện diện

trong nhóm Kađai cua họ Thái - Kađai Đứng trước tình hình thực

tế như thế, Hoàng Văn Ma đã nêu ra một câu hỏi: "Sự xuất hiện các yếu tố Môn - Khmer này trong các ngôn ngữ nhóm Ka Đai

do nguyên nhân nào? Do các ngôn ngữ này cùng gốc hav vay

Trang 39

4 2 N G Ô N N G Ữ C Á C D Á N T Ộ C T H IỂ U s ố Ở V IỆ T N A M

mượn lẫn nhau và nếu vay mượn nhau thì vay mượn ỏ thời kỳ

nào, vì giữa các ngôn ngữ Ka Dai và M ôn - Khơm er hiện nay khôn'í thê

có sự tiep xúc" [H.V Ma, (1988), tr 20].

Đúng là khó có thể coi đây là sự tiếp xúc nếu xét ờ giai đoạn lịch sư hiện nay, tức theo góc nhìn đồng đại; nhưng nếu coi đây là dâu hiệu thê hiện một sự tiếp xúc từ xa xưa thì cái gì sẽ là trờ ngại cho nhận định ây? Điều này có nghĩa là cái không gian xã hội ngôn ngữ hiện nay (tức không gian xã hội ngôn ngữ thứ nhât) và

có thể cả cái không gian xã hội ngôn ngữ của họ Thái - Kađai (tức không gian xã hội ngôn ngữ thứ hai) đã có thể trùm lên một không gian xã hội ngôn ngữ khác (tức không gian xã hội ngôn ngữ thứ ba), xa xưa hơn mang dâu ấn là co tầng (substrate) Môn - Khmer bản địa ờ địa bàn Tây - Bắc này Chính cái cơ tầng m ang tính bàn địa Môn - Khmer về sau đã bị thay th ế bằng một không gian xã hội ngôn ngữ mới Nhưng sự thay thê'thì bao giờ cũng đ ể lại dấu ấn Cho nên, trong vốn tù của tiếng La Ha, có đến 15% hay 17% từ chung với các ngôn ngữ Kháng và Xinh Mun như Hoàng Văn Ma đã so sánh

Có lẽ cũng vì thế mà chúng ta biết rằng việc phân loại cội nguổn các ngôn ngữ ờ nước ta, nếu chi đơn thuần căn cứ vào tương ứng từ vựng, sẽ vô cùng phúc tạp Chẳng hạn, theo nhà ngôn ngữ học Mỹ p K Benedict, người ta có thê đưa ra một sự phân loại cội nguồn ở Đông Nam Á theo đó có thể gộp các ngôn ngữ Thái với các ngôn ngữ Indonésien thành một họ; và nhà

nghiên cứu này đã gọi họ ngôn ngữ theo ông quan niệm là họ Nam

- Thái (Austro - Thai) [Benedict P.K, (1976), tr 1-50] Còn theo

s Jakhontov, tuy A.G Haudricourt phản đối việc gắn các ngôn ngữ Thái với tiếng Hán nhưng tác giả này lại chưa từng bày tỏ thái

độ đổng ý với sự đập nhập đ ể có khái niệm Nam - Thái này của Benedict P.K Cho nên vì thế, cho đến nay, người bào vệ cho cách phân loại Nam - Thái ây lại chi chính là tác giả đề xuất ra nó; và củng có thể nói là có thêm cả s Jakhontov nữa [Jakhontov s, (1991);

H v Ma, (1988), (1991)]

Trang 40

Chương 1 BỨC TRANH CHUNG VÊ NGÔN NGỮ CÁC DÃN Tộc THIỂU số VIỆT NAM

Tạm thời về vấn đề phân loại nguồn gốc các ngôn ngữ, chúng

ta sẽ nói chi tiết hơn ờ chươỉiy III sau này Dưới đẫy, chúng tôi xin

chi sơ bộ nhận xét về các tù’ tương ứng giữa những ngôn ngữ Thái

và Indonésien mà s lakhontov dẫn ra đê cho rằng chúng phản ánh moi "quan hệ họ hàng thân thuộc" giữa hai nhóm ngôn ngũ; còn đôi với chúng tôi thì những tương ứng được s Jakhontov liệt kê ra, hình như, chì là những từ tương tụ trong vốn từ của hai ngôn ngữ khác họ chứ không phản ánh mối "quan hệ họ hàng thân thuộc" Tức là đối với chúng tôi, các ngôn ngữ thuộc nhóm Thái và những ngôn ngữ Indonésien chi là những ngôn ngữ có quan hệ tiếp xúc chú không thê là nhũng ngôn ngữ có cùng nguồn gốc

Như vậy, theo sự khắng định của cả p K Benedict và s Ịakhontov, chúng ta sẽ không còn gì nữa đê có thê nghi ngờ về sự hiện diện một lớp từ chung giữa những ngôn ngữ Thái và những ngôn ngữ Indonésien Nhưng nếu như không thừa nhận những tương úng

đó là những tương ứng có chung cội nguồn thì phải giải thích như thê' nào đây khi hiện tại chủng cũng không có sự tiếp xúc địa lý như trường hợp giữa tiếng La Ha và các ngôn ngữ Môn - Khmer vừa nói ở trên? Người ta có cơ sở đê nói rằng về địa vực cư trú, trước đây các ngôn ngữ Thái ờ về phía Đông Bắc vùng Đông Nam

Á chú không phải như bức tranh hiện nay; điểu đó có nghĩa là địa vực cư trú cùa cư dân nói các ngôn ngữ Thái ờ thời tiền sử vượt không xa quá về phía Tây Nam sông Hổng Ranh giới địa lý này được cả A.G Haudricourt ỊA.G Haudricourt, (1972)] và Lý Phương Quê' [Li F.K, (1977)], những người nghiên cứu về lịch sử các ngôn ngữ Thái, tán thành Vậy thì chỉ có thể giả định rằng các ngôn ngữ Indonésien hiện nay (cho dù có một nhóm Chăm vẫn còn nằm ờ phần lục địa Việt Nam nhưng vẫn có địa lý cách biệt với các ngôn ngữ Thái ở phía bắc) chi có khả năng quan hệ tiếp xúc với nhau qua một trung gian? Nhưng sự tương ứng từ vựng giữa hai nhóm ngôn ngữ mà p K Benedict và s Jakhontov nêu ra cũng không loại trừ một khả năng khác là do vào thời tiền sử xưa kia, cư dân các cộng đổng Thái và cộng đổng Indonésien có quan

Ngày đăng: 20/01/2021, 14:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w