1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Full NGÔN NGỮ CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM HỌ HÁN TẠNG

75 94 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ngôn Ngữ Các Dân Tộc Thiểu Số Ở Việt Nam Họ Hán Tạng
Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Gồm: Bảng từ vựng, hình ảnh sách cổ dùng để dẫn chứng. Trình bày khoa học dạng bảo, biểu đồ,.. đa dạng. Phân tích cụ thể từng nhánh nhỏ của các dân tộc thiểu số trong ngữ hệ Hán Tạng. Phân tích chuyển sâu về kết cấu âm tiết của từng ngôn ngữ thuộc hệ Hán Tạng

Trang 1

I Dẫn Nhập

Nếu văn hóa được xem như là một tổng thể các hệ thống tín hiệu do con người sáng tạonên, thì ngôn ngữ lại là một hệ thống tín hiệu tiêu biểu nhất, hoàn chỉnh nhất và cần thiếtnhất để hình thành xã hội loài người, các cộng đồng tộc người Ngôn ngữ là công cụ của

tư duy, công cụ của giao tiếp xã hội Mỗi dân tộc bằng công cụ tư duy của mình đã nhậnthức thế giới khách quan và phân cắt thực tại theo tâm thức của mình Qua ngôn ngữngười ta nhận diện được những nét đặc trưng của vũ trụ quan, nhân sinh quan của mỗidân tộc

Khi nghiên cứu về một ngôn ngữ ta phải tìm hiểu nguồn gốc, đặt nó trong một vùng địa líxác định Điều đó đồng nghĩa với việc các nhà nghiên cứu phải đặt các ngôn ngữ thuộcngữ hệ mà mình muốn nghiên cứu vào một bối cảnh địa lí-văn hoá của một khu vực cụthể Đối với các ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Hán-Tạng, ta đặt nó trong bối cảnh khu vựcĐông Nam Á

Về mặt khí hậu, Đông Nam Á chủ yếu có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa

Về mặt nhân chủng, Đông Nam Á được coi là một trong những cái nôi của nhân loại gópphần vào sự hình thành tổ tiên của loài người Cách đây 4 vạn năm, Đông Nam Á là nơichứng kiến bước nhảy vọt từ người vượn (Home Erestus) đến ngườikhôn ngoan(Homosapiens) Đồng thời, nơi đây đã diễn ra sự giao hoà giữa hai đại chủng Australoide

và Mongoloide dẫn tới sự hình thành nhiều loại hình nhân chủng khác nhau, đó chính là

cơ sở để hình thành các bộ tộc với nhiều dáng vẻ phong phú đa dạng nhưng cũng đồngnhất về nhân chủng và ngôn ngữ

Đông Nam Á là khu vực có bức tranh về thành phần dân tộc và ngôn ngữ hết sức đa dạng

và phức tạp Cư dân Đông Nam Á trong lịch sử và hiện nay vừa có mối quan hệ cộinguồn vừa có mối quan hệ tiêp xúc lâu dài trong lịch sử Vì vậy, chúng ta sẽ phải quantâm đến không chỉ lịch sử ngôn ngữ mà cả lịch sử văn hoá Theo đó, vùng địa lí ĐôngNam Á hoàn toàn không bó hẹp trong khuôn khổ hành chính hiện tại mà phải mở rộngtrong một không gian văn hoá có từ cổ xưa cho đến hiện nay Trong không gian văn hoá

ấy chắc chắn sẽ có sự giao lưu, tiếp xúc, vay mượn trong quá trình phát triển của cácngôn ngữ

Vùng Đông Nam Á hành chính hiện nay gồm có 11 quốc gia: Mianma, Thái Lan, Lào,Campuchia, Việt Nam, Malayxia ở trong phần đất liền (còn gọi là Đông Nam Á lục địa) ;Philippin, Brunây, Singapor, Inđônêxia, Đông Timo thuộc phần hải đảo Nhưng nếuchúng ta chỉ quan tâm đến sự phát triển của ngôn ngữ trạng thái địa lí hiện nay thì sẽ

Trang 2

không biết đến sự tiếp xúc ngôn ngữ trước đây của nó Vì vậy, chúng ta phải đặt ngônngữ trong trạng thái địa lí lịch sử gọi là vùng địa lí Đông Nam Á văn hoá.

Vùng Đông Nam Á văn hoá không chỉ bó hẹp trong 11 quốc gia thuộc Đông Nam Á địa

lí mà còn bao gồm cả phần lãnh thổ phía Nam Trung Quốc và phía Đông Ấn Độ

Trong khu vực Đông Nam Á văn hoá, có rất nhiều ngôn ngữ quan trọng thuộc nhiều họ

ngôn ngữ khác nhau Theo giáo sư Trần Trí Dõi thì “Họ ngôn ngữ là một tập hợp nhiều ngôn ngữ mà giữa chúng có thể xác lập được những nét chung cho phép giải thích chúng cùng dẫn xuất từ một dạng thức cội nguồn theo những quy luật nhất định” Ở vùng Đông

Nam Á văn hoá có thể xác định có 5 họ ngôn ngữ : Nam Á, Nam Đảo, Thái-Kađai, Dao và Hán- Tạng Trong đó, Hán-Tạng là họ ngôn ngữ có số lượng người nói lớn nhấtkhu vực Họ này có 2 nhánh lớn là nhánh Hán và nhánh Tạng –Karen

Mèo-II Khái quát chung về ngữ hệ Hán-Tạng

1 Đặc điểm

Các ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Hán-Tạng được xếp vào loại hình ngôn ngữ đơnlập Khi nói về các ngôn ngữ đơn lập, người ta thường nói tới những đặc điểmchủ yếu, cơ bản là:

 Đây là những ngôn ngữ có tính đơn tiết, phi hình thái, tức là không có

sự biến đổi hình thái của từ và hợp dạng trong hoạt động ngôn ngữ

 Các quan hệ ngữ pháp và ý nghĩa ngữ pháp được biểu thị chủ yếu bằngtrật tự từ và các hư từ

 Ở nhiều ngôn ngữ đơn lập điển hình thì có đơn vị được gọi là hình tiết,tức các đơn vị hình thái thường có vỏ ngữ âm trùng với âm tiết

2 Tộc người sử dụng

Hiện nay có nhiều người cho rằng phía đông Châu Á thuộc Trung Quốchiện nay là trung tâm phân bố ngữ hệ Hán-Tạng

Cư dân Hán thuộc dân tộc Hán ở Trung Quốc

Cư dân Tạng-Miến có nguồn gốc từ cư dân du mục gọi là Chiang cư trú ởtây bắc nước Trung Hoa cổ, giữa sa mạc GôBi và miền đông bắc Tây Tạnghiện nay Sinh tụ kế cận với người Bách Việt Nhưng do sự lấn chiếm củangười Hán họ đã dời quê hương xuống phía nam Tiếp xúc với người Thái,Mèo, Dao và tiến hành di cư theo hướng Bắc Nam tới tận vùng ThượngMiến và Bắc Đông Dương hình thành các tộc người nói ngôn ngữ Tạng-Miến hiện nay

Trang 3

3.Vai trò , vị trí của ngữ hệ Hán-Tạng

Phân bố chủ yếu ở khu vực Đông Á

Hiện nay người ta tính ra có khoảng 6500 ngôn ngữ trên thế giới Mỗi ngôn ngữ phát triển theo nhu cầu của người nói, lai giống với những dân tộc láng giềng để sinh ra nhữngchi nhánh mới

Tuy nhiên số sinh ngữ (langue vivante) luôn luôn thấp dần Những nhà ngôn ngữ học đoán phỏng chừng cách đây 500 năm có thể có 10 000 ngôn ngữ Hiện nay mỗi năm mất khoảng 25 ngôn ngữ và có những chuyên gia nghĩ rằng từ đây cho tới năm 2100, 90% những ngôn ngữ hiện nay đang dùng sẽ biến mất

Tiếng Trung Hoa được trên 1,2 tỉ người dùng và hiện tại là một ngôn ngữ phổ biến nhất (Tuy nhiên, chỉ có chữ viết mới dùng chung cho tất cả những người nói tiếng Hán).Tiếp theo là tiếng Anh với 650 triệu người nói

và tiếng Ấn độ hindi-ourdou 550 trìệu người dùng

Tiếng Pháp đứng hạng thứ 10 (150 triệu)

Từ số liệu thống kê trên ta có thể thấy ngữ hệ Hán –Tạng được sử dụng rộng rãi và nhiều nhất trên thế giới, đóng 1 vai trò quan trọng không thể thiếu trong hệ thống các ngôn ngữ

4.Sự phân bố

Trang 4

Ngữ hệ Hán Tạng là một ngữ hệ lớn trên thế giới, không chỉ phân bố ở Đông Nam Á màcòn được phân bố ở cả vùng Đông Á, bao gồm hơn 300 ngôn ngữ Họ ngôn ngữ này có 2nhánh lớn là nhánh Hán (sinitic) và nhánhTạng – Karen(tibeto- karen) Chỉ tính riêngnhánh Hán, theo con số thống kê năm 1990, đã có khoảng 1 tỷ 50 triệu người sửdụng.Đứng thứ hai sau ngữ hệ Ấn-Âu về số lượng người sử dụng Địa bàn cư trú của cưdân nói họ ngôn ngữ này phân bố ở vùng Đông Nam Á, chủ yếu là Trung Quốc, vùngTây Tạng, Miến Điện và phần nào ở Thái Lan và Việt Nam

3.1 Nhánh Hán

Nhánh Hán là nhánh có số lượng người nói đông nhất Tiếng Hán, tuy là một ngôn ngữ thống nhất nhưng bao gồm rất nhiều những phương ngữ khác nhau, tập trung thành hai vùng rõ rệt: vùng phía Bắc và vùng phía Nam Tiếng Hán phổ thông, dựa trên phương ngữ vùng Bắc có trên 500 người sử dụng Các phương ngữ phía Nam, thuộc phía Nam sông Dương Tử chia ra những vùng nhỏ như Vũ, Quảng Đông, Hắc Ká , Min, v.v… Tiếng Hán là ngôn ngữ có truyền thống văn tự từ 1500 trước công nguyên Chữ Trung Quốc có nguồn gốc bản địa, sau đó du nhập vào các nước lân cận trong vùng bao gồm Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam Tại các quốc gia này, chữ Hán được vay mượn để tạonên chữ viết cho ngôn ngữ của dân bản địa ở từng nước

Những quốc gia chịu ảnh hưởng của chữ Hán:

Chữ Hán phồn thể được dùng chính thức (Trung Hoa Dân Quốc, Macao, Hồng Kông)Chữ Hán giản thể được dùng chính thức nhưng chữ Hán phồn thể vẫn thông dụng

(Singapore, Mã Lai)

Chữ Hán giản thể được dùng chính thức (CHND Trung Hoa)

Được sử dụng song song với hệ chữ viết khác trong cùng ngôn ngữ (Hàn Quốc và Nhật Bản)

Đã từng được dùng chính thức nhưng nay không dùng nữa (Mông Cổ, Triều Tiên và ViệtNam)

3.2 Nhánh Tạng-Karen

Khu vực sử dụng phân hệ này rất rộng lớn, trải dài từ Tây Tạng và đông bắc Ấn Độ ở phía tây, phần lớn lãnh thổ Miến Điện (ngày nay gọi là Mianma) ở phía nam cho đến vùng tây nam Trung Quốc ở phía đông Nhánh Tạng – Karen (tibeto – Karen) được chia thành 2 tiểu nhánh là tiểu nhánh Karen và tiểu nhánh Tạng – Miến (Tibeto – Burman) Người Karen hiện nay sinh sống ở phần biên giới Miến Điện – Thái Lan Dân số tiểu nhánh này ước khoảng vài triệu người Trong sự phân loại nguồn gốc cũng có một vài nhà ngôn ngữ học không coi tiểu nhánh Karen là một tiểu nhánh riêng trong nhánh Tạng -Karen mà chỉ coi như là một nhánh của Tạng – Miến Và như vậy lúc này những nhà

Trang 5

nghiên cứu đó chỉ nói tới một họ ngôn ngữ Hán – Tạng với hai nhánh chính là nhánh Hán

và nhánh Tạng _ Miến

Nhánh ngôn ngữ Tạng – Miến mà chúng ta đang nói tới được chia thành năm nhóm: Nhóm Tạng (Tibetan) sinh sống ở lãnh thổ Tây Tạng; nhóm Bôđô-Naga-Kachin ở bang Assam (Ấn Độ); nhóm Gyarung-Mishmi ở Nêpan, Đông Bắc Ấn Độ và Nam Tây Tạng; Nhóm Naga-Kuki-Chin gồm các ngôn ngữ Bắc Mianma, Đông Bắc Ấn Độ và cuối cùng

là nhóm ngôn ngữ Miến-Lô lô Nhóm Miến-Lôlô gồm có 2 tiểu nhóm: tiểu nhóm Miến

và tiểu nhóm Lôlô Tiểu nhóm Miến gồm các ngôn ngữ của nhóm cư dân cư trú trên lãnh thổ Mianma Tiểu nhóm Lôlô là các ngôn ngữ Tạng-Miến của những cư dân như Hà Nhì,Phù Lá, La Hủ, Lô Lô, Cống và Si la ở miền Bắc Việt Nam và những cư dân sống dọc vùng biên giới giữa Việt Nam, Lào và Trung Quốc,…

Hầu hết các nhà ngôn ngữ học và khảo cổ học đều cho rằng quê hương của ngôn ngữ Tạng Miến nằm ở phía bắc, xung quanh Tây tạng, phía tây Szechwan, Vân Nam và ở thượng lưu các con sông Dương tử, Brahmaputra, Irrawaddy và Mêkông Quê hương của tiếng Hán nằm xa hơn về phía bắc, trên sông Hoàng Hà Sự mở rộng của tiếng Hán bắt đầu từ khu vực này và sau đó mở rộng đến tận miền nam Trung Quốc

Dựa theo sơ đồ của M.Ruhlrn , chúng ta có thể thể hiện hình cây phổ hệ của họ ngôn ngữTạng – Miến như sau:

ghcôhuo

Bắc

Nam

Tạng Karen

Miến-Lôlô

Bôđô-Naga-Kachin

Naga-Kuki-chin Gyarung-Mishmi

Trang 6

III Các dân tộc sử dụng ngữ hệ Hán-Tạng ở Việt Nam

Sống trên mảnh đất Đông Dương - nơi cửa ngõ nối Đông Nam Á lục địa với Đông Nam

Á hải đảo, Việt Nam là nơi giao lưu của các nền văn hoá trong khu vực Ở đây có đủ 5ngữ hệ lớn trong khu vực Đông Nam Á: Ngữ hệ Nam Á, Nam Đảo,Tai-Kađai, Mèo-Dao

và ngữ hệ Hán - Tạng Tiếng nói của các dân tộc Việt Nam thuộc 8 nhóm ngôn ngữ khácnhau:

- Nhóm Việt - Mường có 4 dân tộc là: Chứt, Kinh, Mường, Thổ

- Nhóm Tày - Thái có 8 dân tộc là: Bố Y, Giáy, Lào, Lự, Nùng, Sán Chay, Tày, Thái

- Nhóm Môn - Khmer có 21 dân tộc là: Ba na, Brâu, Bru-Vân kiều, Chơ-ro, Co, Cơ-ho,

Cơ-tu, Gié-triêng, Hrê, Kháng, Khmer, Khơ mú, Mạ, Mảng, M'Nông, Ơ-đu, Rơ-măm,Tà-ôi, Xinh-mun, Xơ-đăng, Xtiêng

- Nhóm Mông - Dao có 3 dân tộc là: Dao, Mông, Pà thẻn

- Nhóm Kađai có 4 dân tộc là: Cờ lao, La Chí, La ha, Pu péo

- Nhóm Nam đảo có 5 dân tộc là: Chăm, Chu-ru, Ê đê, Gia-rai, Ra-glai

- Nhóm Hán có 3 dân tộc là: Hoa, Ngái, Sán dìu

- Nhóm Tạng có 6 dân tộc là: Cống, Hà nhì, La hủ, Lô lô, Phù lá, Si la

Trang 7

Mặc dù tiếng nói của các dân tộc thuộc nhiều nhóm ngôn ngữ khác nhau, song do các dântộc sống rất xen kẽ với nhau nên một dân tộc thường biết tiếng các dân tộc có quan hệhàng ngày, và dù sống xen kẽ với nhau, giao lưu văn hoá với nhau, nhưng các dân tộcvẫn lưu giữ được bản sắc văn hoá riêng của dân tộc mình Ở đây cái đa dạng của văn hoádân tộc được thống nhất trong quy luật chung - quy luật phát triển đi lên của đất nước,như cái riêng thống nhất trong cái chung của cặp phạm trù triết học.

Các dân tộc thuộc ngữ hệ Hán-Tạng ở Việt Nam thuộc hai nhánh: Nhánh Hán và nhánhTạng-Karen Thuộc nhánh Hán có 3 dân tộc: Hoa, Ngái, Sán Dìu Thuộc chi Tạng-Miến, nhánh Tạng-Karen, tiểu nhóm Lôlô, nhóm Miến-Lôlô bao gồm 6 dân tộc: Cống,

Hà Nhì, Phù Lá, Lô Lô, La Hủ,Si La

1.Nhánh Hán

1.1Dân tộc Hoa

1.1.1 Tên gọi và các nhóm địa phương

a Tên tự gọi Người Hoa có tên tự gọi là: Hoa, Hán, Hồ

b.Các nhóm địa phương hay những tên gọi khácNgoài những tên tự gọi trên, người Hoa và các nhóm địa phương còn có những tên gọi khác Những tên này có do các nhóm địa phương gọi nhau, song cũng có những tên do dân tộc khác đặt cho:

Trang 8

Người Sường Phống hay Xảng Phang (Thượng Phương) là người Hoa ở các tỉnh phía

bắc đến Việt Nam Đây là những tên gọi theo phiên âm phương ngữ Quảng Đông tiếng

Trung Quốc hiện đại Người Sường Phống bao gồm nhiều nhóm nhỏ khác nhau là:Xìa

Phống (Hạ Phương), Xạ Phang, Hạ là tên gọi chỉ người Hoa từ Hoa Nam (Trung Quốc)

đến Đây là những tên gọi được phiên âm theo phương ngữ Quảng Đông tiếng Trung

Quốc hiện đại Theo Đặng Nghiêm Vạn thì tên gọi Xạ Phang là tên gọi không đúng.

Người Liêm Châu là tên gọi chỉ những người Hoa ở Liêm Châu, Khâm Châu, Hợp

Phố-nơi cư trú cũ của họ ở tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc)-đến Việt Nam vào triều đại Mãn Thanh

Người Triều Châu, Phúc Kiến, Hải Nam, Quảng Đông,…là tên gọi chỉ người Hoa ở

Triều Châu, Phúc Kiến, Quảng Đông,…- nơi cư trú cũ của họ tại các tỉnh ở Trung Quốc

Người Thòng Nhằm là tên gọi người Hoa vào Việt Nam từ đời nhà Đường Nhóm người

này còn được gọi là người Đường

Người Minh Hương là tên gọi chỉ người Hoa đến cư trú ở Việt Nam vào đời nhà Minh Hắc Láo là tên gọi do người Sán Dìu đặt để chỉ người Hoa.

Mán Hoa là tên gọi do dân tộc khác đặt mang tính chất miệt thị.

1.1.2 Nguồn gốc

Việc di dân của người Hoa vào Việt Nam cũng như tới các nước thuộc khu vực ĐôngNam Á là một quá trình diễn ra rất phức tạp, lâu dài, liên tục và gắn liền với nhiều đợt,nhiều hình thức trong lịch sử, từ lẻ tẻ, tự phát đến dồn dập, ồ ạt và quy mô

Quá trình định cư của người Hoa ở Việt Nam, đặc biệt là ở Nam bộ, ít ra là đã trên 3 thế

kỷ Những cộng đồng tộc người từ Trung Quốc sang Việt Nam định cư đã dần hội nhập vào cộng đồng Việt, đã nhập quốc tịch Việt Nam, và từ đó họ mang tên gọi mới: người Hoa

Người Hoa đến Việt Nam vào nhiều thời điểm khác nhau Tuy nhiên, có thể kể đến một

số đợt di dân lớn vào Việt Nam và Đàng Trong từ thế kỷ 17 đến nay như cuộc di dân của Mạc Cửu (Mac King Kiou) và gia đình đến vùng đất Mang Khảm (nay là Hà Tiên, thuộc tỉnh Kiên Giang) vào năm 1671 Năm 1679, nhóm các tướng Trung Hoa là Trần Thượng Xuyên (Trần Thắng Tài-Tchen Tchang Tchouen) và Dương Ngạn Địch (Yang Yen Ti) đổ

bộ xuống Đà Nẵng Chúa Nguyễn cho họ vào vùng đất phương Nam khai khẩn Trần Thượng Xuyên định cư ở Biên Hoà –Cù Lao Phố (tỉnh Đồng Nai); Dương Ngạn Địch định cư ở Mỹ Tho (tỉnh Tiền Giang)

Đến thế kỷ 19, người Pháp tạo điều kiện cho người Hoa vào định cư ở Sài Gòn, Chợ Lớn….Năm 1949, Đảng Cộng Sản Trung Quốc giải phóng Trung Hoa, một số Quốc Dân Đảng chạy sang Đài Loan, và một số sang Việt Nam

Như vậy, từ thế kỷ 17 đến giữa thế kỷ 20, người Trung Hoa đã sang Việt Nam thành 4 đợt lớn, bằng đường thủy và đường bộ Hai khu vực cư trú lớn nhất ở Gia Định là làng Thanh Hà ở Biên Hoà và làng Minh Hương ở Chợ Lớn

Trang 9

1.1.2 Dân số và địa bàn cư trú

Người Hoa là một dân tộc trong 54 cộng đồng tộc người ở Việt Nam, cư trú tại nhiều địabàn khác nhau trong cả nước, như ở miền núi, nông thôn và biển Họ sống xen kẽ vớingười Việt và hoà nhập vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội

Thành phố Hồ Chí Minh và đồng bằng sông Cửu Long là những trung tâm thu hút người Hoa đến định cư đông

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 1999, cả nước có 862.371 người Hoa, trong đó

tại thành phố Hồ Chí Minh đã có đến 428.768 , chiếm tỉ lệ 49,71% người Hoa cả nước

Hiện nay, ở Việt Nam, người Hoa sống tập trung tại một số tỉnh như Hà Giang, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Bắc Ninh, Hưng Yên, thành phố Hà Nội, Quảng Nam, Bình Thuận, Đồng Nai…

Có thể thấy sự phân bố của tộc người này ở Việt Nam qua một số vùng có đông người Hoa cư trú:

Duyên hải Nam Trung bộ 8.782

Tây Nguyên 21.165

Đông Nam bộ 581.950

Đồng bằng sông Cửu Long 199.778

( Nguồn: Tổng điều tra dân số năm 1999 của Tổng cục Thống kê Hà Nội Thống kê 2001)

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Hoa ở Việt Nam có dân số 823.071 người, có mặt tại tất cả 63 tỉnh, thành phố Người Hoa cư trú tập trung tại: thành phố Hồ Chí Minh (414.045 người, chiếm 50,3 % tổng số người Hoa tại Việt Nam), Đồng

Nai (95.162 người), Sóc Trăng (64.910 người), Kiên Giang (29.850 người), Bạc

Liêu (20.082 người), Bình Dương (18.783 người), Bắc Giang (18.539 người) Như vậy, người Hoa là một trong hai dân tộc duy nhất tại Việt Nam có dân số giảm trong 10 năm 1999-2009, dân tộc còn lại là người Ngái, một cộng đồng nói tiếng Hoa được chính phủ Việt Nam tách ra từ người Hoa vào thập niên 1970

Tại vùng đồng bằng sông Cửu Long, người Hoa sống tập trung đông đảo tại các tỉnh TiềnGiang, An Giang, thành phố Cần Thơ, Hậu Giang, Đồng Tháp, Bạc Liêu, Sóc Trăng, CàMau…

Ở thành phố Hồ Chí Minh, người Hoa có mặt hầu hết các quận, tập trung đông tại quận

5, 6, 11

Trang 10

1.1.4 Văn hóa

Hoạt động sản xuất: Người Hoa ở vùng nông thôn chủ yếu sống bằng nghề nông, coi lúanước là đối tượng canh tác chính, ở các thành phố, thị xã, thị trấn họ làm nghề dịch vụ, buôn bán Tiểu thủ công nghiệp khá phát triển như nghề gốm (Quảng Ninh, Sông Bé, Ðồng Nai), làm giấy súc, làm nhang (thành phố Hồ Chí Minh) Một bộ phận người Hoa

cư trú ở ven biển sống chủ yếu bằng nghề làm muối và đánh cá Trong hoạt động sản xuấtkinh doanh, người Hoa luôn coi trọng chữ "tín"

Ăn: Lương thực chính là gạo, nhưng trong bữa ăn thường có các loại như mì xào, hủ tiếu Ở các gia đình bình dân, buổi sáng điểm tâm bằng cháo trắng với trứng vịt muối, còn những nhà khá giả hơn là hủ tiếu, bánh bao, xíu mại Người Hoa có kỹ thuật nấu ăn giỏi, thích các món ăn xào mỡ với gia vị

giải khát còn là loại thuốc mát, bồi dưỡng "lục phủ, ngũ tạng" Các loại trà sâm, hoa cúc là những thứ thông dụng trong mọi gia đình Những dịp hội hè, lễ, tết nam giới cũng quen dùng rượu Thuốc lá được nhiều người hút, kể cả phụ nữ, nhất là những người phụ nữ có tuổi

Trang phục:

Trong cách ăn mặc, đàn ông dùng quần áo như đàn ông Nùng, Giáy, Mông, Dao Đàn

bà mặc quần, áo 5 thân cài cúc vải ở bên nách phải, dài trùm mông, áo cộc tay cũng 5thân Các thầy cúng có y phục riêng khi làm lễ Nón, mũ, ô là các đồ đội trên đầu thôngdụng của người Hoa

Trang 11

Những trang phục gọi là truyền thống của người Hoa hiện chỉ còn thấy ở một số người cótuổi hay trong các nghi lễ cưới xin, tang ma Phụ nữ thường mặc áo cổ viền cao, cài khuymột bên, xẻ tà cao hoặc một chiếc áo "sườn xám" may dài, ôm ngang hông, xẻ tà dướiphần đùi Màu sắc trang phục của họ, nhất là các thiếu nữ thích màu hồng hoặc màu đỏ,cùng với các sắc màu đậm Ðàn ông mặc áo màu đen hay xanh đậm, cài khuy vải mộtbên, vai liền cổ đứng, xẻ tà hoặc kiểu áo tứ thân, xẻ giữa, cổ đứng, vai liền, có túi Phụ nữthích dùng đồ trang sức, đặc biệt là vòng tay (bằng đồng, vàng, đá, ngọc ), bông tai, dâychuyền Ðàn ông thích bịt răng vàng và xem như một lối trang sức.

Nhà cửa:

Những người làm nghề nông thường sống thành thôn xóm Làng thường ở ven chân núi,trong cánh đồng, trải dài trên bờ biển, gần nguồn nước, giao thông thuận tiện Trong làng,nhà ở bố trí sát nhau theo dòng họ Ở thành thị họ thường sống tập trung trong các khuphố riêng

Nhà cổ truyền của người Hoa có những đặc trưng mang dấu ấn của người phương Bắc rất

rõ Kiểu nhà "hình cái ấn" là rất điển hình Nhà thường năm gian đứng (không có chái)

Bộ khung với vì kèo đơn giản, tường xây gạch một rất dày Mái lợp ngói âm dương Mặtbằng sinh hoạt: nhà chính bao giờ cũng thụt vào một chút tạo thành một cái hiên hẹp.Gian chính giữa là nơi đặt bàn thờ tổ tiên, đồng thời còn là nơi tiếp khách Các gian bênđều có tường ngăn cách với nhau Đến nay nhà người Hoa đã có nhiều thay đổi: có một

số kiểu nhà là biến dạng của nhà cổ truyền Nhưng cũng có những kiểu nhà, người Hoatiếp thu của người Tày hay người Việt

Nhà cửa thường có 3 loại: nhà 3 gian hai chái, nhà chữ Môn và chữ Khẩu Nhà thườngxây bằng đá, gạch mộc hay trình đất, lợp ngói máng hay là quế, lá tre, phên lứa

Nổi bật trong nhà ở là các bàn thờ tổ tiên, dòng họ, thờ Phật và các vị thần cùng các câuđối, liễn, các giấy hồng chữ Hán với nội dung cầu phúc, cầu lợi, cầu bình yên

Trang 12

Quan hệ xã hội:

Người Hoa thường cư trú tập trung thành làng xóm hoặc đường phố, tạo thành khu vựcđông đúc và gắn bó với nhau Trong đó các gia đình cùng dòng họ thường ở quây quầnbên nhau Xã hội phân hoá giai cấp sâu sắc và mang tính phụ quyền cao

Mối quan hệ với những người cùng họ được hết sức coi trọng Mỗi một dòng họ có một

từ đường để thờ cúng Hàng năm vào một ngày nhất định, những người cùng họ tụ tập tại

từ đường để làm lễ giỗ tộc họ Những hoạt động kinh doanh, sản xuất thường có các hội nghề nghiệp tương ứng Những hội này đều có một vị tổ và một ngày giỗ tổ trong năm.Gia đình được xây dựng theo chế độ một vợ một chồng khá bền vững và mang tính phụ

hệ Người Hoa thường dựng vợ gả chồng cho con trong cùng một nhóm địa phương Trưởng họ, ông mối, các chức dịch đóng vai trò khá quan trọng trong hôn nhân Hiện nay, phụ nữ xây dựng gia đình khá muộn (tuổi cưới trung bình là 28, 30) và số con ít nhất(trung bình một phụ nữ sinh 2 hoặc 3 con)

Lễ tết: Trong một năm có nhiều ngày lễ tết: Nguyên đán, Nguyên tiêu, Thanh minh, Ðoan ngọ, Trung nguyên, Trung thu

Tết Nguyên đán vào những năm cũ chuyển sang năm mới

theo âm lịch và kéo dài tới ngày rằm tháng giêng (tết

Nguyên tiêu) Lễ Nguyên tiêu là đặc trưng lễ tết của

người Hoa, mọi hoạt động tập trung nhất của tín ngưỡng

và văn hoá truyền thống đều được biểu hiện trong dịp này

Thờ cúng: Nổi bật trong các tín ngưỡng dân gian là thờ

cúng tổ tiên, gia tộc, dòng họ, thờ cúng các vị thần phù hộ

(thần bếp, thổ địa, thần tài ) và một số vị thánh và bồ tát

(Quan Công, bà Thiên Hậu, ông Bổn, Nam Hải Quan

Âm )

Hệ thống chùa miếu khá phát triển Chùa miếu của người

Hoa thường gắn liền với các hội quán, trường học Ðó

cũng là nơi sinh hoạt văn hoá cộng đồng, nơi diễn ra các

hội lễ

Ngôn ngữ: Ngôn ngữ người Hoa thuộc nhánh Hán của ngữ hệ Hán-Tạng.Ở Nam bộ, cộng đồng người Hoa bao gồm 5 nhóm ngôn ngữ : Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hải Nam và Hẹ

Học chữ Hoa - một nhu cầu bức thiết của người Hoa ở Việt Nam đã được Ðảng và Nhà nước quan tâm và tạo điều kiện Hiện nay học chữ hoa đang phổ biến rộng rãi trong cư dân người Hoa ở các địa phương.

Trang 13

Học: Chữ Hán được dạy và học trong các trường phổ thông.

Văn nghệ: Sinh hoạt văn hoá truyền thống của người Hoa có nhiều thể loại như hát, múa,hài kịch với nhiều loại nhạc cụ: tiêu, sáo, các loại đàn (tỳ bà, nhị, nguyệt ), chập choã Hát "sơn ca" (sán cố) là hình thức được nhiều người ưa chuộng, nhất là tầng lớp thanh niên Tổ chức văn nghệ dân gian truyền thống mang tính nghiệp dư đã có từ lâu là các "nhạc xã"

Múa lân, sư tử, rồng là những loại hình nghệ thuật mang tính quần chúng sâu rộng đượctrình diễn hàng năm, vào những ngày lễ lớn, ngày lễ tết

1.2.Dân tộc Ngái

1.2.1 Tên tự gọi và các nhóm địa phương

Trước năm 1979, người Ngái các nhóm địa phương của họ đã từng được coi là cácnhóm địa phương của người Hoa

a.Tên tự gọi

Người Ngái có tên tự gọi là Sán Ngải (người ở rừng)

b.Tên các nhóm địa phương và các tên gọi khác

Ngoài tên tự gọi Sán Ngải, dân tộc này và các nhóm địa phương còn có những têngọi: Ngái Hắc Cá (Khách Gia, Khách)

Đản là tên gọi chỉ người Ngái chuyên sống bằng nghề đánh cá với phương thứcsinh hoạt trên thuyền

Tàn Cá Lẩu là tên gọi phiên âm theo phương ngữ Quảng Đông tiếng TrungQuốc(âm Hán Việt là Đản Gia Lão) Đây là tên gọi do người Hoa làm ruộng nướcđặt để chỉ nhóm người Đản của dân tộc Ngái

Sủi Sường Nhằn (mà âm Hán Việt là Thủy Thượng Nhân) là tên gọi chỉ ngườiĐản sống trên mặt nước (từ 1975 thay thế cho tên Đản Gia Lão)

Hờn Bạn là tên gọi chỉ người Ngái ở bản

Sín, Xín, Sín Lẩu (mà âm Hán Việt là Thôn Lão, tức người Thôn) cũng dùng chỉngười Ngái ở bản Nhóm này còn có tên gọi khác là Hờn Bạn

Trang 14

Lô, Đản, Xuyến, Hắc Cá, Ngái Lần Mần cũng là những tên gọi để chỉ những nhómngười Ngái khác nhau, song hiện chưa rõ nguồn gốc, xuất xứ và ý nghĩa của cáctên gọi này.

1.2.2: Nguồn gốc:

Là một bộ phận của người Khách Gia Trong quyển "Nguồn gốc Mã lai của dân tộc VN"

(Sài gòn 1971), Bình Nguyên Lộc cho rằng Khách Gia chính là dân tộc của nước Thục(cũ) đã bị Tư Mã Thác diệt năm -300 (Thục vương và gia tộc bị giết sạch) bỏ chạy lưulạc Ông cũng cho rằng (An Dương Vương) Thục Phán là cháu nội của vua Thục cuốicùng, mượn quân Âu Việt sang đánh chiếm nước Lạc Việt của Hùng Vuơng và lập ranước Âu Lạc (sau bị Triệu Đà đánh chiếm thành lãnh thổ của nước Nam Việt) Đại đa sốdân tộc này ở lại Ba, Thục (Tỉnh Tứ Xuyên) và bị đồng hoá thành Hoa tộc, nhưng nhữngnhóm (quí tộc và tùy tùng) lưu lạc lúc đầu có ít đàn bà, đời này qua đời khác suốt hơn haingàn năm nên trong nước Tàu họ cũng trở thành Hoa tộc Sang các nước khác họ dần dầnlai, vì lấy vợ khác giống Ở miền Nam Việt Nam họ tự gọi là người "Cắc chú" (Kháchtrú), người Quảng gọi họ là người Hẹ Người Ngái có nhiều gốc khác nhau và thiên di tớiViệt Nam làm nhiều đợt Quá trình này diễn ra suốt thời kỳ Trung và Cận đại

1.2.2 Dân số và địa bàn cư trú:

Người Ngái cư trú rải rác ở nhiều tỉnh thành Theo số liệu điều tra dân số năm 1999 thì tạiViệt Nam có 4.841 người Ngái Các tỉnh thành tập trung đông nhất là: An Giang, TháiNguyên, Thái Bình, thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Hà Nội, Bà Rịa-Vũng Tàu, TràVinh, Đồng Tháp, Bình Thuận, Hà Nam

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Ngái ở Việt Nam chỉ còn 1.035người, có mặt ở 27 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố Người Ngái cư trú tập trung tại cáctỉnh: Thái Nguyên (495 người, chiếm 47,8 % tổng số người Ngái tại Việt Nam), BìnhThuận (157 người, chiếm 15,2 % tổng số người Ngái tại Việt Nam), Đồng Nai (53người), Bắc Kạn (48 người), Tuyên Quang (43 người), Đắk Lắk (37 người),Cao Bằng (30người)

1.2.3 Văn hóa:

Hoạt động sản xuất:

Trang 15

Người Ngái trồng lúa nước làm nguồn sống chính Ngoài ra họ còn trồng ngô, khoai, sắn,chăn nuôi Bộ phận ở ven biển và hải đảo sống bằng nghề đánh cá là chủ yếu Thủ công nghiệp với các nghề như làm mành trúc, dệt chiếu, mộc, nề, rèn, gạch ngói, nung vôi cũng đóng vai trò đáng kể trong đời sống của người Ngái.

Hôn nhân gia đình:

Trong gia đình, người chồng quyết định mọi việc lớn, con trai được coi trọng, con gái không được chia gia tài khi cha mẹ chết và phải về nhà chồng sau khi cưới Xưa kia, trai gái Ngái được cha mẹ dựng vợ gả chồng phải trải qua hai lần cưới: lễ thành hôn và lễ nhập phòng Để cưới vợ cho con, nhà trai chủ động chọn tìm đối tượng dạm hỏi

Tục lệ ma chay:

Người Ngái quan niệm chết tức là linh hồn chuyển sang sống trong một thế giới khác Vì thế họ thường chôn theo người chết những đồ tuỳ táng mà khi sống người ta vẫn dùng Tang lễ có nhiều công đoạn phức tạp: báo tang, nhập quan, chôn cất, mở mả

Theo phong tục Ngái, người chết được tổ chức đám ma chu đáo Sau khi chôn cất được cúng vào dịp 21 ngày, 35 ngày, 42 ngày, 49 ngày, 63 ngày, 70 ngày, 3 năm thì làm lễ đoạn tang

Người Ngái sống phân tán trong các tỉnh Bắc Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng

Ninh Người Ngái thường lập thôn xóm ở sườn đồi, thung lũng hoặc ven biển, trên đảo Nhà phổ biến là nhà ba gian hai chái Họ ở nhà đất với nhiều kiểu kiến trúc và chất liệu lợp mái khác nhau Bộ phận ở ven biển và hải đảo thường sống ngay trên thuyền

Trang phục:

Trang phục Ngái giống người Hoa (Hán) Ngoài quần áo, đồng bào còn đội mũ, nón các loại tự làm từ lá, mây tre, đồng thời đội khăn, che ô

Trang 16

Làm những cây rơm để giữ dùng đun nấu dần là một thói quen của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước ở đồng bằng và trung du Người Ngái giữ các cây rơm trên dàn cao để

tránh mối mục và gia súc phá hoại.

Phương tiện vận chuyển:

Cư dân ở miền núi quen dùng gùi đeo, sọt gánh, còn ở miền biển thì dùng thuyền, xuồng

ba lá

Quan hệ xã hội:

Gia đình nhỏ phụ quyền Quan hệ cộng đồng còn mạnh mặc dù đã xuất hiện sự phân hoá giầu nghèo Trong mỗi làng bản, vị trí của người tộc trưởng của dòng họ lớn nhất được

đề cao và có vai trò lớn trong việc giải quyết các quan hệ làng xóm

Người Ngái nhận họ và phân biệt chi ngành qua hệ thống tên đệm Họ vợ, một đại diện chính là ông cậu (khảo), có vai trò quan trọng trong quan hệ thân tộc Mặc dù vậy dòng

họ Ngái vẫn mang tính huyết thống dòng cha

Cưới xin:

Chế độ hôn nhân một vợ, một chồng Nghi thức mỗi đám cưới với hai lần cưới: lần đầu là

lễ thành hôn, lần sau là lễ nhập phòng Tuổi kết hôn sớm, hôn nhân máng tính gả bán cao.Sau đám cưới cô dâu cư trú bên chồng Chỉ có những trường hợp đặc biệt (nhà gái không

Trang 17

có con trai, chú rể đông anh em ) mới có hiện tượng ở rể.

Sinh đẻ:

Phụ nữ có mang và sinh nở phải kiêng khem nhiều trong cả ăn uống và hành vi Khi có thai, phụ nữ Ngái kiêng cữ rất cẩn thận: không ăn ốc, thịt bò, dê, không may vá hay mua quần áo Sau khi sinh con 60 ngày đối với con đầu, 40 ngày đối với con thứ, người sản phụ mới được đến nhà mẹ đẻ của mình

Trẻ sơ sinh sau 2-3 ngày đã được mẹ cho ăn bột

Văn hoá vật chất của người Ngái ở vùng trung du đã cải biến rất nhiều Nhưng người

phụ nữ vẫn giữ được chiếc áo kiểu cổ cao, xẻ nách truyền thống.

Thờ cúng:

Tin vào sự tồn tại của hai phần trong con người (thể xác và linh hồn) cũng như sự tồn tại của các thần thánh, linh hồn người) Người ngái thường thờ cúng nhiều đối tượng như tổ tiên, thần, Phật, ma rừng, vong hồn thập loại chúng sinh Nghi thức cúng mỗi đối tượng khác nhau cùng các loại lễ vật khác nhau Ðã tồn tại một lớp người chuyên hành nghề tôngiáo

Lễ tết:

Tết Nguyên đán vào đầu mỗi năm mới Ngoài ra có các tết khác như Hàn thực (3-3 âm lịch), Ðoan ngọ (5-5 âm lịch), Vu lan (15-7 âm lịch), cơm mới (10-10 âm lịch)

Trang 18

Học:

Người Ngái nói nhiều thổ ngữ khác nhau của tiếng Hán phương nam song xưa kia ít người biết chữ Ngày nay, đa số trẻ em đến tuổi đi học đều biết chữ quốc ngữ và tiếng phổ thông

Văn nghệ:

Người Ngái có một kho tàng văn nghệ dân gian phong phú với loại hình nghệ thuật như dân ca, dân vũ và đặc biệt là loại văn học truyền miệng Họ có nhiều truyền thuyết, truyện cổ tích, thành ngữ, tục ngữ thể hiện quan niệm của họ về thế giới quan, nhân sinh quan đến nay còn giàu ý nghĩa nhân bản

b.Tên các nhóm địa phương hay những tên gọi khác

Trại là tên chỉ người Dao ở miền núi bên Trung Quốc Nhưng khi sang ViệtNam, người Sán Dìu lại được gọi là Trại vì họ hay ở thành từng trại ở miềntrung du Đây cũng là một tên gọi có sự phân biệt giữa người tiến bộ (người ởđồng bằng) và lạc hậu (người ở trung du, miền núi)

Trại Đất là tên gọi chỉ những người Sán Dìu ở nhà đất

Trại Cộc là tên gọi chỉ người Sán Dìu mặc váy ngắn (cộc)

Trại Ruộng là tên gọi chỉ những người làm ruộng

San Nhiêu, Slán Dảo, Sán Dìu Chộc, San Dìu Chộc, Sán Chỉ Mộc, Sán Chỉ Hà

có lẽ là do cư dân Tày Nùng gọi căn cứ vào một vài đặc điểm văn hóa củangười Sán Dìu

Trang 19

Những tên gọi: Mán Quần Cộc, Mán Cộc, Mán Đất, Mán Ruộng, Mán Váy

Xẻ, có thể ban đầu Trung Quốc dùng Man để chỉ các tộc người không phải làHán ở phương nam Trung Quốc bị phụ thuộc vào họ Nhiều người như Bô-ni-pha-xi, Luy-nê đơ La-giông-kê đã ghép các dân tộc không phải Dao như SánDìu vào Mán

Mán Cộc, Mán Váy Xẻ là tên gọi đã căn cứ vào trang phục váy ngắn xẻ

Mán Đất là tên gọi chỉ người Mán (tức người Sán Dìu) ở nhà đất

Mán Ruộng là tên gọi giống như Trại Ruộng để chỉ người Mán (Sán Dìu) làmruộng

Câu Hò cũng là tên gọi chỉ người Sán Dìu hiện chưa rõ nguồn gốc và xuất xứcủa nó

1.3.3 Dân số và địa bàn cư trú:

Dân tộc Sán Dìu là một trong những dân tộc thiểu số có số dân ít ở miền Bắc nước ta,với khoảng 146.821, cư trú ven các triền núi thấp, trên các đồi gò thuộc các tỉnh QuảngNinh, Hải Hưng, Hà Bắc, Vĩnh Phú, Bắc Thái, Hà Tuyên, và một bộ phận ở Thanh Hóa.Sống xen ghép với người Việt, Tày, Nùng, Dao, Hoa, nhưng người Sán Dìu vẫn sốngtrong những chòm xóm riêng.Một số di cư vào Tây Nguyên lập nghiệp, thành các lànghay sống rải rác tại các tỉnh thành khác

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Sán Dìu ở Việt Nam có dân số146.821 người, có mặt tại 56 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố Người Sán Dìu cư trú tậptrung tại các tỉnh: Thái Nguyên (44.131 người, chiếm 30,1 % tổng số người Sán Dìu tại

Trang 20

Việt Nam), Vĩnh Phúc (36.821 người, chiếm 25,1 % tổng số người Sán Dìu tại ViệtNam), Bắc Giang (27.283 người), Quảng Ninh(17.946 người), Tuyên Quang (12.565người), Hải Dương (1.872 người), Đồng Nai (850 người), Hà Nội (832 người), LâmĐồng (662 người), Đắk Nông (617 người)[2]

1.3.4 Văn hóa:

Đặc điểm kinh tế:

Người Sán Dìu chủ yếu làm ruộng nước, có phần nương, soi, bãi Thêm vào đó, còn có chăn nuôi, khai thác lâm sản, đánh bắt nuôi thả cá, làm gạch ngói, rèn, đan lát Từ lâu đời, người Sán Dìu đã sáng tạo ra chiếc xe quệt (không cần bánh lăn) dùng trâu kéo để làm phương tiện vận chuyển Hình thức gánh trên vai hầu như chỉ dùng cho việc đi chợ

Từ rất lâu họ biết dùng phân bón ruộng Nhờ đắp thêm mũi phụ, lưỡi cày của họ trở nên bền, sắc và thích hợp hơn với việc cày ở nơi đất cứng, nhiều sỏi đá

Tổ chức cộng đồng:

Người Sán Dìu ở thành từng chòm xóm nhỏ

Họ sống tập trung ở trung du Bắc bộ, trong vùng từ tả ngạn sông Hồng đổ về phía Ðông Làng xóm của họ tựa như làng người Việt, có luỹ tre bao bọc và giữa các nhà thường có tường hay hàng rào ở nhà đất trình tường hay thưng ván

Trang 21

Trước Cách mạng tháng Tám, ruộng đất đã tư hữu hoá và xã hội đã có sự phân hoá giai cấp rõ rệt Ðịa chủ và phú nông nắm giữ nhiều ruộng đất và bóc lột các tầng lớp nông dânlao động dưới hình thức phát canh thu tô, thuê mướn nhân công và cho vay nặng lãi.

Bên cạnh bộ máy chính quyền, ở các làng còn có người đứng đầy làng do dân bầu ra để

quản lý công việc chung

Hôn nhân gia đình:

Trong nhà, người chồng (cha) là chủ gia đình, con theo họ cha, con trai được thừa hưởng gia tài Cha mẹ quyết định việc cưới gả cho con Con trai con gái phải được xem số, so tuổi trước khi nên duyên vợ chồng

xé lấy một miếng thịt gà luộc để ăn, ai đến trước nhất được mào gà, tiếp theo được đầu,

cổ, cánh Nhà mồ có mái bằng, lợp lá rừng Khi cải táng, xương được xếp vào tiểu hoặc chum theo tư thế ngồi và nếu chưa chọn được ngày tốt thì chôn tạm ở chân đồi hay bờ ruộng

Văn hóa:

Thơ ca dân gian của người Sán Dìu phong phú, dùng thơ ca trong sinh hoạt hát đối nam

nữ (soọng cô) rất phổ biến Truyện kể, chủ yếu truyện thơ khá đặc sắc Các điệu nhảy múa thường xuất hiện trong đám ma Nhạc cụ có tù và, kèn, trống, sáo, thanh la, não bạt cũng để phục vụ nghi lễ tôn giáo Nhiều trò chơi của dân tộc được đồng bào ưa thích là:

đi cà kheo, đánh khăng, đánh cầu lông kiểu Sán Dìu, kéo co

Nhà cửa:

Người Sán Dìu ở nhà đất Nhà cửa đồng bào không có những đặc trưng riêng Có lẽ vì vậy mà người Sán Dìu đã tiếp thu mẫu nhà của người Việt khá dễ dàng

Trang 22

Mỗi khi có ai làm nhà thì mọi người trong họ, trong làng tự đến giúp đỡ, chủ nhân khôngcần phải mời giúp Trong lễ lên nhà mới chủ nhà mời người cao tuổi trong họ đem lửa, bình vôi, ít hạt giống vào nhà

đẹp

Bộ y phục truyền thống của phụ nữ gồm khăn đen, áo dài (đơn hoặc kép), nếu là áo kép thì bao giờ chiếc bên trong cũng màu trắng còn chiếc bên ngoài màu chàm dài hơn một chút; yếm màu đỏ; thắt lưng màu trắng, hồng hay xanh lơ; váy là hai mảnh rời cùng chung một cạp,chỉ dài quá gối có màu chàm; xà cạp màu chàm; xà cạp màu trắng Ðồ trang trí gồm vòng cổ, vòng tay, hoa tai và dây xà tích bằng bạc

Nam giới ăn mặc như người Việt: búi tóc vấn khăn hoặc đội khăn xếp, áo dài thâm, quần trắng

Trang 23

Ngoài gánh còn sử dụng xe quệt như là một phương tiện vận chuyển chính Xe làm bằng tre, gỗ do trâu kéo, dùng để vận chuyển chính Xe làm bằng tre, gỗ do trâu kéo, dùng để vận chuyển tất cả mọi thứ, từ thóc lúa, củi đuốc cho đến phân bón Do không có bánh bên

xe quệt có thể sử dụng ở nhiều loại địa hình khác nhau

Bộ đồ nghề của thày cúng Sán Dìu gồm có án,lệnh bài, sách cúng, tù và và thẻ xin âm dương

Thờ cúng:

Trên bàn thờ thường đặt ba bát hương thờ tổ tiên, pháp sư và táo quân Nếu chủ nhà chưa được cấp sắc thì chỉ có hai bát hương Những người mới chết chưa kịp làm ma cũng đặt bát hương lên bàn thờ nhưng để thấp hơn Ngoài ra, người Sán Dìu còn thờ thổ thần ở miếu thờ thành hoàng ở đình

Lễ tết:

Có những ngày tết như nhiều dân tộc ở trong vùng Riêng tết Ðông chí còn mang thêm ý nghĩa cầu mong có con đàn, cháu đống Những người đã lấy nhau lâu mà vẫn chưa có con thì sau khi ăn tết xong người vợ về nhà bố mẹ đẻ ở Người chồng cho ông mối đến hỏi và sau đó tổ chức cưới lại như là cưới vợ mới

Lịch: Người Sán Dìu theo âm lịch.

Trang 24

Trên đây là một số ví dụ về tiếng dân tộc Sán Dìu Những từ ngữ này không phải là những từ thuộc lớp từ cơ bản mà chỉ thuộc lớp từtrong cưới hỏi của dân tộc Sán Dìu.

Chữ viết

Hiện nay, người Sán Dìu ở một số tỉnh thuộc vùng Đông Bắc, Tây Bắc của nước ta vẫn

còn sử dụng chữ viết của dân tộc mình Chữ viết thường được lưu truyền ở những gia

Trang 25

đình thầy cúng, thầy địa lý Nơi nào có thầy cúng, thầy địa lý người Sán Dìu, nơi đó cònchữ viết của người Sán Dìu.

Theo giới nghiên cứu ngôn ngữ học, dân tộc học, ngôn ngữ của người Sán Dìu thuộcngữ hệ Hán- Tạng, nhóm Hán ngữ Như vậy, tiếng nói mang âm hưởng, ngữ nghĩa Hán

và chữ viết cũng xuất phát từ chữ Hán Họ dựa vào chữ Hán để tạo ra chữ Hán - NômSán Dìu giống như kiểu tạo ra Hán- Nôm Tày, Hán- Nôm Cao Lan, Nôm Dao, Nôm SánChỉ

Các bài cúng của các dân tộc: Sán Dìu, Cao Lan, Dao, Sán Chỉ, Hoa tương đốigiống nhau về ý nghĩa và phần chữ viết cũng gần giống nhau, chỉ khác ở phần phát âmtheo tiếng riêng của mỗi dân tộc và mỗi thời điểm cúng, nội dung cúng

Chữ Hán- Nôm Sán Dìu trên nguyên tác không khác gì cách ghép âm và nghĩatheo kiểu Nôm Việt, Nôm Tày, Nôm Cao Lan Thực tế, người Sán Dìu dùng khoảng 60

- 70% chữ Hán cổ trong một văn bản hoặc sách cúng, đọc theo cách phát âm tiếng củadân tộc mình Còn lại những từ thiếu biểu âm, biểu nghĩa, họ dùng cách ghép phần âm

và phần nghĩa thành chữ Nôm của họ Ví dụ chữ “sệch” nghĩa là “ăn” Trong chữ Hán không có chữ “sệch”, nên được ghép bộ “khẩu” là cái mồm với chữ “đích” biểu âm thành chữ “sệch”, cũng có khi họ dùng nguyên chữ “thực” của chữ Hán có nghĩa là

“ăn” mà đọc là “sệch” Hay chữ “sộ” nghĩa là “ngồi”, được ghép từ chữ “thổ” và chữ

“nhân đứng” được đọc là “sộ” Còn đại đa số họ dùng chữ Hán cổ nguyên nghĩa nhưng

đọc theo âm của tiếng Sán Dìu

Hệ thống chữ Nôm Sán Dìu đủ khả năng ký âm chuyển tải thông tin cho hệ thốngtiếng nói của họ Nó thể hiện trong bộ sách cúng, hát đối (soọng cô), thậm chí thể hiệntrong thư từ gửi cho người thân trao đổi tình hình khi ở xa cách nhau lâu ngày Qua đócho thấy năng lực sử dụng ngôn ngữ với chữ viết Nôm Sán Dìu của các thầy cúng cùng

đồ đệ của họ đạt ở trình độ cao

Cùng với chữ Nôm, người Sán Dìu đồng thời dùng hệ thống chữ cái La tinh đểphiên âm, ký âm tiếng nói của mình Nó xuất hiện ở thời hưởng ứng phong trào “Bìnhdân học vụ” Người Sán Dìu tham gia học chữ quốc ngữ rất sớm và đã biết sử dụng hệthống chữ cái La tinh để phiên âm và phát triển rộng trong việc lưu truyền các bài hátđối (soọng cô), truyện kể, truyền thuyết, bài thuốc dân gian

Mặc dù người Sán Dìu không có chữ viết riêng nguyên gốc; chữ viết của họ đượctạo ra từ chữ Hán cổ, thành chữ Hán-Nôm Sán Dìu và được phiên âm bằng chữ cái Latinh để dễ đọc, song người Sán Dìu từ xưa đến nay đều có ý thức giữ gìn, lưu truyền,phổ biến chữ viết dân tộc mình để thế hệ sau kế tiếp bảo tồn, phát huy di sản văn hóa

Trang 26

chữ viết của thế hệ trước

Được biết hiện nay, chữ Hán - Nôm Sán Dìu đang được một số thầy cúng, ngườigià mở lớp dạy ở một số dòng họ, một số làng bản ở huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang.Học trò chủ yếu là nam giới đang chuẩn bị nối nghiệp thầy cúng, thầy tướng số và thầythuốc Hình thức học và luật lệ lớp học được thực hiện nghiêm ngặt theo kiểu thầy đồdạy học trò thời xưa nhưng các lớp học vẫn được duy trì, phát triển tốt

Dưới đây là một số mẫu chữ Nôm Sán Dìu trong sách cúng, sách địa lý và sáchchữa bệnh:

2.Nhánh Tạng-Miến

2.1 Dân tộc Hà Nhì

Trang 27

2.1.1 Tên gọi và các nhóm địa phương

a Tên tự gọi

Hà Nhì Già (người Hà Nhì) là tên tự gọi của người Hà Nhì

b Các nhóm địa phương hay những tên gọi khác

Người Hà Nhì gồm 3 nhóm địa phương là: Hà Nhì Cố Chồ, Hà Nhì La Mi, Hà Nhì Đen.Uní là tên mà các dân tộc khác dùng gọi người Hà Nhì

Xả Uní, Mán Uní, Xá Uni cũng là các tên gọi mà các dân tộc khác đặt để gọi người HàNhì Những tên gọi gắn với các dân tộc danh Xá, Mán đều là những tên gọi mang tìnhchất miệt thị và không đúng

2.1.2 Nguồn gốc

Người dân tộc Hà Nhì đã từng sinh sống lâu đời ở phía Nam Trung Quốc và Bắc Việt Nam Từ thế kỷ thứ tám, thư tịch cổ đã viết về sự có mặt của họ ở Tây Bắc Việt Nam nhưng phần lớn tổ tiên của người dân tộc Hà Nhì hiện nay là lớp cư dân đã di cư đến ViệtNam khoảng 300 năm trước

Người ta chưa biết rõ nguồn gốc của người dân tộc Hà Nhì, tuy tổ tiên họ thuộc tộc ngườiKhương đã di cư từ vùng cao nguyên Thanh Tạng xuống phía nam từ trước thế kỷ thứ ba.Theo lời truyền miệng của người Hà Nhì thì họ có nguồn gốc từ người Di (Yi), tách khỏi nhau thành bộ tộc riêng biệt 50 đời về trước

2.1.3 Dân số và địa bàn cư trú

Tại Việt Nam, theo điều tra dân số năm 1999 có khoảng 17.500 người dân tộc HàNhì cư trú ở các tỉnh Lai Châu và Lào Cai, giáp ranh với Trung Quốc; gồm 3 nhóm địa phương là Cồ Chồ, Hà Nhì La Mí và Hà Nhì Đen Ước tính năm 2003, dân tộc Hà Nhì códân số 19.954 người Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, dân tộc Hà Nhì ở Việt Nam có dân số 21.725 người, cư trú tại 32 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố Họ cư trú tập trung tại các tỉnh Lai Châu 13.752 người, chiếm tỷ lệ 63,3% tổng số người Hà Nhì tại Việt Nam, tỉnh Lào Cai 4.026 người, tỉnh Điện Biên 3.786 người

Tại Trung Quốc, có khoảng 97% trong tổng số hơn 574.800 người Hà Nhì sống ởtỉnh Vân Nam, rải rác quanh dãy núi Ai Lao Sơn, nằm giữa các sông Lan Thương Giang

Trang 28

(Mekong) và Nguyên Giang hay Hồng Hà theo tiếng Hà Nhì Tại đây có huyện tự trị dân tộc Cáp Nê, dân tộc Di, dân tộc Thái Nguyên Giang với huyện lỵ là Nguyên Giang

Tại Lào, theo số liệu điều tra năm 1985, có 727 người dân tộc Hà Nhì cư trú ở đây

Phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm theo lối chăn thả tự nhiên Ðàn trâu nuôi thả rông trong rừng có đến hàng trăm con

Nghề trồng bông, dệt vải đảm bảo nhu cầu vải mặc truyền thống Có nơi do khí hậu lạnh nên không trồng được bông phải đem các sản phẩm như chàm, đồ đan, gia cầm đổi lấy bông Phụ nữ dệt vải trên khung cửi nhỏ, khổ 20 cm Vải bền do kỹ thuật dệt đo được nhuộm chàm nhiều lần Trồng chàm và nhuộm chàm là một hoạt động rất đặc sắc ở người

Trang 29

tới 50, 60 hộ Những nơi làm nương, bản thường phân tán rải rác theo nương.

Ða số cư dân ở nhà đất, tường trình chắc chắn, dày tới 30-40cm, thích hợp với khí hậu lạnh vùng núi cao Tuỳ từng nơi, nhà có hàng hiên phía trước hoặc hàng hiên ở ngay trong nhà để tránh gió rét Họ quen nấu cơm bằng chảo ở bếp lò xây trên nền đất

Người Hà Nhì có nhiều họ, mỗi họ gồm nhiều chi Tên của người Hà Nhì thường đặt theotập tục là lấy tên người cha, hoặc tên con vật ứng với ngày sinh của người ấy làm tên đệm

Tính cộng đồng trong làng bản biểu hiện khá tập trung không chỉ trong sản xuất mà cả trong lĩnh vực văn hoá tinh thần, tôn giáo, tín ngưỡng

Gia đình nhỏ phụ quyền song người phụ nữ vẫn được trân trọng trong xã hội Có nhiều

họ khác nhau, mỗi họ lại chia ra thành nhiều chi Tên chi gọi theo tên ông tổ

Người Hà Nhì không có tục thờ cúng chung toàn dòng họ mà chỉ thờ cúng theo gia đình Việc thờ cúng do con trai cả, dòng trưởng đảm nhận Nếu dòng trưởng không có người thừa kế thì việc thờ cúng chuyển cho con trai út Các thành viên trong gia đình, dù đã ra ởriêng, nếu bị chết phải đưa xác về quàn tại trước bàn thờ bố mẹ thì người quá cố mới được thờ cúng chung với tổ tiên

Hàng năm vào tối 30 tết, một nghi lễ rất quan trọng trong gia đình được thực hiện Ðó là

lễ tưởng nhớ tổ tiên dòng họ, đọc tên từng tổ tiên và mọi người cùng nhắc lại Tên từng người được gọi theo cách gọi phụ tử liên danh, tên cha nối với tên con, nên có vần điệu

dễ nhớ Có họ nhắc tới 71 tên gọi trong buổi lễ này Có nơi nghi lễ này cũng được thực hiện trong lễ nhập quan cho người chết

Hôn nhân gia đình:

Trai gái Hà Nhì được tìm hiểu nhau trước khi kết hôn Mỗi cặp vợ chồng phải trải qua hailần cưới Sau ba lần dạm hỏi, lễ cưới thứ nhất được tổ chức nhằm đưa con dâu về nhà chồng Ở Tây Bắc, sau lễ hỏi, con rể đến ở rể Nếu trả ngay tiền cưới thì không phải ở rể,

lễ cưới được tổ chức ngay, từ đó con dâu mang họ của chồng.Ngay sau lần cưới trước, họ

Trang 30

đã thành vợ chồng, cô dâu về nhà chồng và theo phong tục ở Lai Châu cô dâu phải đổi họtheo chồng Cũng ở Lai Châu, có nơi lại ở rể Lần cưới thứ hai được tổ chức khi họ làm

ăn khấm khá và thường là khi đã có con Lần cưới này ăn uống linh đình ở nhà gái Lễ này chỉ diễn ra sau khi đôi vợ chồng làm ăn khá giả, lúc đó họ đã có con, cháu, có người 50-60 năm sau hoặc cho đến khi chết vẫn chưa tổ chức được lễ cưới này

Tục lệ ma chay:

Phong tục ma chay của các vùng không hoàn toàn giống nhau, nhưng có một số điểm chung: khi trong nhà có người chết, phải dỡ bỏ tấm liếp (hay rút một vài nan) của buồng người đó, phá bàn thờ tổ tiên, làm giường đặt tử thi ở bếp, chọn ngày giờ tốt mới chôn Người Hà Nhì không có nghĩa địa chung của bản, kiêng lấp đất lẫn cỏ tươi xuống huyệt, không rào dậu hay dựng nhà mồ, chỉ xếp đá quanh chân mộ

Quan tài bằng thân cây khoét rỗng, có nắp đậy kín Nơi đào huyệt được chọn bằng cách ném trứng, trứng vỡ ở đâu thì đào ở đấy Kiêng chôn vào mùa mưa, vào thời điểm đó quan tài người chết được treo xuống huyệt nhưng không lấp, bên trên có nhà táng hoặc đặt trên giàn Hết mùa mưa mới đem chôn quan tài có người chết

Văn hóa:

Người Hà Nhì có nền văn học dân gian với nhiều thể loại như truyện thần kỳ, cổ tích, trường ca, ca dao, thành ngữ Nam nữ thanh niên có điệu múa riêng, đều theo nhịp tấu, nhạc cụ gõ Trai gái Hà Nhì tỏ tình thường dùng các loại khèn lá, đàn môi, sáo dọc Ngày

lễ hội còn có trống, thanh la, chập cheng góp vui Người Hà Nhì có nhiều loại bài hát: các

Trang 31

Người Hà Nhì hát dân ca mừng tết.(Ảnh: Internet)

Nhà cửa:

Nhà ở cổ truyền của người Hà Nhì là nhà đất Bộ khung nhà khá đơn giản Vì kèo cơ bản

là kiểu vì kèo ba cột Nhà có hiên rộng, người ta còn làm thêm một cột hiên nên trở thành

vì bốn cột Tường trình rất dày Nhà không có cửa sổ, của ra vào cũng ít, phổ biến là chỉ

có một cửa ra vào mở ở mặt trước nhà và lệch về một bên Nhà thường ba gian, ít nhà bốn gian Có hiên rộng ở mặt trước nhà Trong nhà chia theo chiều dọc: nửa nhà phía sau

là các phòng nhỏ, nửa nhà phía trước để trống, một góc nhà có giường dành cho khách, ở đây còn có bếp phụ

Phương tiện vận chuyển:

Người Hà Nhì phổ biến dùng gùi đeo qua trán, một số nơi dùng ngựa trong việc đi lại và chuyên chở

Sinh đẻ:

Phụ nữ Hà Nhì đẻ đứng Ðể dễ đẻ họ có tục đập vỡ ống bương đựng nước cho nước toé

ra hoặc thả ống bương nước trong có cái đục từ trên đỉnh nóc nhà xuống, đục bắn ra

Trang 32

giống như đứa trẻ được đẻ ra Có nơi sản phụ được uống nước tro của ruột voi với mong muốn sản phụ có sức mạnh như voi Nhau đẻ được chôn ở ngay sau cửa ra vào hay cột cạnh bếp lò.

Nhà có trẻ mới sinh được báo hiệu bằng chiếc nón úp trên cọc ở trước cửa, nếu cọc ở phía bên phải - sinh con gái, bên trái - sinh con trai

Thờ cúng:Họ tin có linh hồn, thờ cúng tổ tiên, cúng bản và các nghi lễ nông nghiệp.

Lễ tết:Người Hà Nhì ăn tết năm mới vào đầu tháng 10 âm lịch Trong năm còn có Tết

cơm mới, Tết mồng năm tháng năm, rằm tháng 7

Học:Người Hà Nhì chưa có chữ viết riêng, việc giáo dục chủ yếu dựa vào kinh nghiệm

truyền thống được truyền từ đời này qua đời khác

Chơi:Trẻ em Hà Nhì thích chơi các trò chơi đòi hỏi lòng dũng cảm, khéo léo như đấu

vật, đuổi bắt, trốn tìm, chơi cù, đu quay

Ngôn ngữ Ngôn ngữ dân tộc Hà Nhì thuộc nhánh ngôn ngữ Di, ngữ hệ Tạng-Miến Theo lời truyền miệng thì người dân tộc Hà Nhì đã từng có một thứ chữ viết, nhưng thứ chữ này đã bị thất lạc khi di cư từ tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc xuống phía nam Giờ đây

họ sử dụng chữ cái Latinh làm chữ viết

2.2 Dân tộc Cống :

2.2.1 Tên gọi và các nhóm địa phương

a Tên tự gọi

Xắm khôống: được bắt nguồn từ tên gọi của người Cống ở bản Bo Lêch

P’uy ạ: là tên tự gọi của người Cống ở bản Nậm Khao, Nậm Pục Các nhóm ở đây hiện cũng dùng tên tự gọi là Xắm Khôống

b Tên các nhóm địa phương và những tên gọi khác:

Các tên gọi Côống Tác Ngá, Côống Bó Khăm, Côống Lồ Ma là những tên gọi mà các dân tộc khác gọi người Cống Đây là lọai tên gọi gồm tên dân tộc kèm theo địa danh nơi

cư trú( người Côống suối Tác Ngá, người Côống bản Tác Nga), hoặc nơi có mỏ

vàng( người Côống Bó Khăm), hay nơi cư trú của họ bên Trung Quốc (Côống Lồ Ma, người Côống bản Tá Lồ Ma)

Trang 33

Côống sát đánh (Côống chiếu mây đỏ) là tên gọi nhóm địa phương Côống có nghề đan chiếu mây nhuộm đỏ

Ngoài ra, họ còn có tên gọi là Côống Nậm Kè – Pù Xung hay Mằng La để chỉ người ở núi cao Từ này có lẽ bắt nguồn từ ngôn ngữ Tày Thái (Pù Xung: người ở núi cao)

Xá, Xá Cống, Xá Côống là những tên gọi có lẽ bắt nguồn từ tên gọi do cư dân Tày Thái chỉ người Cống

Các tên gọi: Pù Xung, Xá, Xá Cống là những tên gọi mang tính chất miệt thị kiểu như

“Khạ”

2.2.2 Nguồn gốc

Người Cống có nguồn gốc di cư trực tiếp từ Lào sang Người Cống sinh sống tập trung

ở các xã của huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu Nguồn sống chính là làm nương, đang chuyển sang làm nương cuốc, ruộng

2.2.3 Dân số và địa bàn cư trú

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Cống ở Việt Nam có 2.029 người,

cư trú tại 13 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố Người Cống cư trú tập trung tại các tỉnh: LaiChâu (1.134 người, chiếm 55,9 % tổng số người Cống tại Việt Nam), Điện Biên (871 người, chiếm 42,9 % tổng số người Cống tại Việt Nam), còn lại 24 người sinh sống ở một

số tỉnh, thành khác

2.2.4 Văn hóa

Hoạt động sản xuất: Nguồn sống chính là làm nương, đang chuyển sang làm nương

cuốc, ruộng Hái lượm còn giữ vai trò quan trọng Người Cống không quen dệt vải, chỉ trồng bông để đổi lấy vải của các dân tộc khác Họ giỏi đan chiếu mây nhuộm đỏ, các đồ đựng bằng tre nứa như gùi đeo, giỏ đựng cơm, rương hòm Chuyển xuống định cư ven sông Ðà, nên người Cống quen dần với việc sử dụng thuyền trên sông

Ăn: Người Cống ăn cơm nếp và cơm tẻ.

Mặc: Y phục của người Cống giống người Thái Một ít gia đình còn giữ lại vài bộ y phục

truyền thống bằng vải dệt của người Lào

Ở: Nhà sàn ba hay bốn gian, chỉ có một cửa ra vào, một cửa sổ ở gian giữa, chạy dọc

theo vách mặt chính của nhà có thêm một chiếc sàn nhỏ ít có giá trị sử dụng nhưng nhà nào cũng có là đặc trưng trong nhà người Cống

Trang 34

Một bản của người Cống ở Lai Châu.

Phương tiện vận chuyển: Người Cống quen sử dụng thuyền đi lại trên sông Ðà và gùi

đeo qua trán khi đi nương, đi rẫy

Quan hệ xã hội: Người Cống ở khá tập trung trong các làng bản có quy mô vừa và lớn

Tính cộng đồng làng bản cao Phụ nữ có vai trò quan trọng trong gia đình cũng như xã hội

Trong xã hội cổ truyền, chưa có sự phân hoá giai cấp, chịu sự chi phối chặt chẽ của hệ thống chức dịch người Thái

Dân số ít song người Cống có tới 13 dòng họ khác nhau Ða số các dòng họ mang tên Thái như: Lò, Quang, Kha dấu vết tô tem giáo còn rõ nét với tục kiêng và thờ các loại chim muông, thú vật Mỗi dòng họ thường có người đứng đầu với chức năng chủ trì các công việc liên quan tới đời sống tinh thần

Cưới xin:

Thiếu phụ Cống búi tóc ngược, một dấu hiệu của người phụ nữ đã có chồng.

Hôn nhân một vợ một chồng chặt chẽ Không có đa thê, ly dị trong xã hội truyền thống.Tục ở rể được thực hiện nghiêm ngặt, trước kia khoảng 8 - 12 năm Lễ vật truyền thống

Trang 35

trong lễ xin con trai tới ở rể thường vào buổi tối là gói muối, gói chè, cuộn dây gai đan chài, hay một ống rượu cần Ngay sáng hôm sau, người con trai mang chăn, gối, con daotới nhà gái ở rể, cũng từ đó người con gái búi tóc ngược đỉnh đầu, dấu hiệu của người đã

Sinh đẻ: Sản phụ đẻ ngồi Trước và sau khi đẻ phải kiêng kỵ nhiều thứ Người Cống rất

giỏi trong việc tìm kiếm lá thuốc để chăm sóc phụ nữ khi sinh nở

Ma chay: Khi nhà có người chết, phải mời thầy mo tới làm lễ cúng đưa hồn về với tổ

tiên Việc chọn ngày chôn được coi trọng Trong những ngày trước hôm chôn, thường phải cúng cơm cho người chết, buổi tối có các nghi thức nhảy múa truyền thống Sau khi táng có làm nhà mồ đơn giản Mười hai ngày sau khi chôn người chết, con cháu mới lập bàn thờ trong nhà Con cái để tang cha mẹ bằng cách cạo trọc đầu (con trai), cắt tóc mai (con gái) và đội khăn tang cho tới khi cúng cơm mới, mới được bỏ

Thờ cúng: Cùng với việc cúng tổ tiên 2, 3 đời theo phụ hệ là việc cúng ma bố mẹ vợ vào

dịp tết Bố chủ trì việc cúng Nếu bố chết, mẹ thay thế Khi anh em chia nhà ra ở riêng, mỗi người con trai lập bàn thờ cúng riêng tại nhà mình Lễ vật cúng tổ tiên chỉ có bát gạo,ống nước và con gà Người cúng ôm gà ngồi trước bàn thờ khấn, xong giết gà ngay tại chỗ, bôi máu vào lá dong, gói lại cài lên vách nơi thờ cúng vài ba chiếc lông gà

Hàng năm cứ đến tháng ba âm lịch, các bản đều tổ chức lễ cúng bản trước vụ gieo hạt, các ngả đường vào bản làm cổng, cắm dấu hiệu kiêng kỵ một ngày không ai được vào bản

Các gia đình đều làm lễ cúng trên nương trước khi kết thúc công việc tra hạt Ðêm đó chủnhà làm lễ cúng ở phía trên lều nương; lễ vật chỉ có cá, cua, cầu mong chim thú không phá hại; trồng vài khóm kiệu cầu xin lúa tốt, xanh tươi như khóm cây này

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến (ngữ hệ Hán - Tạng) gần hơn

với tiếng Miến, cùng nhóm với các tiếng La Hủ, Phù Lá, Si La Họ quen sử dụng tiếng Thái trong giao dịch hàng ngày

Trang 36

Học: Việc giáo dục truyền thống thông qua kinh nghiệm truyền từ đời này sang đời khác

kết hợp với thực hành

Văn nghệ: Người Cống thường hát múa vào dịp lễ tết, nhất là trong đám cưới Hát đối

đáp giữa nhà trai và nhà gái hôm đón dâu ở chân cầu thang trước khi lên nhà thực sự là một cuộc thi hát dân gian Trai gái, già trẻ đều vui múa trong ngày cưới Ðặc biệt là điệu múa đầu tiên do các em gái của chàng rể trình diễn để bắt đầu cuộc vui Họ vừa múa, vừagiơ cao các tặng vật truyền thống như con gà, con sóc, cá khô mà người anh trai tặng mình

Chơi:Các trò chơi tập thể như đuổi bắt, đánh khăng được trẻ em ưa thích Ngoài ra,

chúng còn chơi các loại đồ chơi bằng tre gỗ tự chế

2.3.Dân tộc Lô Lô

2.3.1 Tên tự gọi và các nhóm địa phương

a Người Lô Lô có tên tự gọi là Màn Dì, Màn Chì hay Mùn Di (người Di) (tuỳ theo cáchphát âm của mỗi vùng)

Lô Lô, Lôlô (âm Hán Việt là Loả La) là tên gọi được dùng trong cuốn Nguyên sử loạibiên (Trung Quốc) ngày xưa

b Tên các nhóm địa phương và tên gọi khác

Ô Man, Lưu Lọc Màn, La La, Qua La, Di Nhân, Di Gia, Lạc Tô,… là những tên gọi mà

sử sách cổ của Việt Nam và Trung Quốc hay dùng để chỉ người Lô Lô

Pu Myà là tên gọi mà người Tày, Nùng, Giáy dùng để chỉ người Lô Lô

Ma là tên gọi mà người Mông dùng chỉ người Lô Lô

Màn Dì No là tên gọi dùng để chỉ người Lô Lô Đen ở Lũng Cú (Đồng Văn, Hà Giang).Màn Dì Mân Tê là tên gọi chỉ ngành Lô Lô Đen ở huyện Bảo Lạc

Màn Di Qua, Màn Di Pu là tên gọi chỉ ngành Lô Lô Hoa ở Mèo Vạc và Đồng Văn

M’ti là tên gọi do Bô-ni-pha-xi đưa ra năm 1908 dùng để chỉ người Lô Lô ở Việt Nam.K’tan te’ou Lô Lô (Lô Lô chặt đầu) là tên gọi do L.đơ La-giông-kê dùng vào năm 1904

để chỉ người Lô Lô còn có những tên gọi và tên tự khác như: Ko, Kaw, Ekaw, Ikaw, Aka,Ak’a, Ahka, Khako, Kha Ko, Aini, Ikor Đặng Nghiêm Vạn cho rằng người Lô Lô còn cótên gọi khác là Mán Khoanh

Ngoài ra, ở các nước trong khu vực như Mi-an-ma, Lào, Thài Lan, Trung Quốc, người Lô

Lô còn có những tên gọi và tên tự gọi khác như: Ko, Kaw, Ekaw, Ikaw, Aka, Ak’a,…

2.3.2 Nguồn gốc

Trang 37

Xét về mặt lịch sử cũng như tên gọi, người Lô Lô ở Việt Nam có quan hệ mật thiết với người Di ở Trung Quốc Theo Giản sử dân tộc Di (sơ thảo), điều tra lịch sử xã hội các dân tộc thiểu số Vân Nam của Sở nghiên cứu dân tộc thuộc Viện Khoa học Trung Quốc biên soạn năm 1963 thì: Di là một dân tộc cư trú ở miền tây cao nguyên Vân Quý với diện tích rộng lớn khoảng 500 km2 Họ là dân tộc thiểu số có số dân đông nhất ở miền Tây Nam Trung Quốc, phân bố chủ yếu ở bốn tỉnh Vân Nam, Tứ Xuyên, Quý Châu và Quảng Tây Từ xa xưa người Di đã có quan hệ với người Đế Khương, cũng có ý kiến cho

Di và Đế Khương có nguồn gốc chung Ở thời cổ đại, vùng đất đai rộng lớn thuộc tây nam Trung Quốc gồm các tỉnh: Thanh Hải, Cam Túc, Tứ Xuyên…ngày nay, đã là địa bànphân bố của người Đế Khương Điều này đã được ghi trong văn giáp cốt (chữ khắc trên mai rùa, xương thú) Theo sách “ Nguồn gốc lịch sử tộc người vùng biên giới phía Bắc Việt Nam” thì Khương là tên gọi của tộc loại, còn Đế chỉ là một bộ phận của Khương cổ

đã định canh, định cư làm ruộng nước, dệt vải; còn bộ phận mang tên Khương thì vẫn giữcuộc sống của cư dân du mục, lấy chăn nuôi làm nghể chính Họ thiên di về phía nam diễn ra mạnh mẽ từ các thế kỷ 4-3 TCN Các nhà ngôn ngữ học khi nghiên cứu áng thơ văn nổi tiếng Bạch Long Ca viết bằng ngôn ngữ Đế Khương, đã cho rằng từ vựng vá kết cấu văn phạm trong tập thơ này, có những chỗ giống với ngôn ngữ Di

Mặc dù ở Việt Nam được gọi là dân tộc Lô Lô, nhưng đồng bào vẫn tự nhận mình là dân tộc Di Người Lô Lô ờ Việt Nam vẫn có quan hệ mật thiết với người Di ở Trung Quốc Đồng bào thiên di vào đất nước ta do nhiều nguyên nhân, hoặc để tránh sự áp bức bóc lột,đàn áp, truy đuổi của các triều đình phong kiến Trung Quốc, hoặc để tìm đất đai canh tác kiếm kế sinh nhai

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, thì năm Mậu Thìn (1508), người Lô Lô ở Vân Nam tràn vào vùng Thuỷ Vĩ thuộc Hưng Hoá Người Lô Lô đến Việt Nam được chia làm nhiều đợt, trong đó có hai đợt liên quan đến hai cuộc khởi nghĩa của họ chống lại triều đình phong kiến Trung Quốc Đó là cuộc khởi nghĩa của người Di ở 18 trại thuộc vùng Di Lạc, nay thuộc châu tự trị Hà Nhì- Di tộc, Hồng Hà, tỉnh Vân Nam, nổ ra năm 1521, và cuộc khởi nghĩa của người Di ở vùng Ô Tát, nay thuộc Quý Châu, nổ ra năm 1613.Người Lô Lô đến khai phá vùng đất Đồng Văn, Mèo Vạc tỉnh Hà Giang trước tiên, trước các dân tộc H’mông, Dao, Nùng, Giáy, Cơ Lao, Pu Péo Cho đến nay, mỗi khi các dân tộc này có dịp cúng bái, họ có lễ cúng hồn người Lô Lô, cư dân có công khai phá đầu tiên

ở vùng đất này Theo sách các dân tộc ít người ở Việt Nam, thì năm 937 Nam Chiếu bị nhóm người Bạch, một trong những bộ phận tố thành cua nhà nước Nam Chiếu, do Đoàn

Tử Bình cầm đầu đánh chiếm Dân Nam Chiếu không chịu khuất phục, một bộ phận đã chạy xuống phía Nam, có lẽ nhóm Lô Lô đầu tiên vào Việt Nam từ thời ấy hoặc sớm hơn.Song cái mốc được nhiều người nói đến là vào đời nhà Minh, khoảng thế kỷ XV, do

Ngày đăng: 08/08/2021, 10:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w