1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Giao an HS lop 8

55 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác phẩm của ông thường viết về những con người nghèo khổ dưới đáy xã hội, với một lòng yêu thương đồng cảm vì vậy ông được coi là nhà văn của những con người cung khổ... Sự vất vả, lam

Trang 1

1

Buổi 1

CỤM VĂN BẢN TRUYỆN KÝ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI

Bài 1: Văn bản Tôi đi học

Truyện ngắn của ông trong trẻo mà êm dịu Văn của ông nhẹ nhàng mà thấm sâu, mang dư vị man mác buồn thương, vừa ngọt ngào, vừa quyến luyến

Ông để lại sự nghiệp đáng quý:

+ Về thơ: Hận chiến trường, sức mồ hôi, đi giữa mùa sen

+ Truyện: Ngậm ngải tìm trầm, Xuân và Sinh

2 Tác phẩm:

- Tôi đi học in trong tập truyện ngắn Quê mẹ(1941), thuộc thể loại hồi ký: ghi lại những kỷ niệm đẹp của tuổi thơ trong buổi tiu trường

II/ Phân tích tác phẩm

1 Tâm trạng của chú bé trong buổi tựu trường

a Trên đường tới trường:

- Là buổi sớm đầy sương thu và gió lạnh chú bé cảm thấy mình trang trọng

và đứng đắn trong chiếc áo vải dù đen dài – Lòng chú tưng bừng, rộn rã khi được

mẹ âu yếm nắm tay dắt di trên con đường dài và hẹp – Cậu bé cảm thấy mình xúc động, bỡ ngỡ, lạ lùng – Chú suy nghĩ về sự thay đổi – Chú bâng khuâng thấy mình đã lớn

b Tâm trạng của cậu bé khi đứng trước sân trường

- Ngạc nhiên, bỡ ngỡ, vì sân trường hôm nay thật khác lạ, đông vui quá - Nhớ lại trước đâythấy ngôi trường cao ráo sạch sẽ hơn các nhà trong làng Nhưng lần này lại thấy ngôi trường vừa xinh xắn, oai nghiêm đĩnh đạc hơn – Chú lo sợ vẩn vơ, sợ hãi khép nép bên người thân – Chú cảm thấy trơ trọi, lúng túng, vụng về – Khi nghe ông đốc gọi tên, chú bé giật mình, lúng túng , tim như ngừng đập oà khóc nức nở

c Tâm trạng của cậu bé khi dự buổi học đầu tiên

- Khi vào lớp học, cảm xúc bâng khuâng, hồi hộp dâng lên man mác trong lòng cậu Cậu cảm thấy một mùi hương lạ bay lên Thấy gì trong lớp cũng lạ lạ hay hay rồi nhìn bàn ghế rồi lạm nhận đó là của mình

2 Hình ảnh người mẹ

Trang 2

2

- Hình ảnh người mẹ là hình ảnh thân thương nhất của em bé trong buổi tựu trường Người mẹ đã in đậm trong những kỷ niệm mơn man của tuổi thơ khiến cậu bé nhớ mãi Hình ảnh người mẹ luôn sánh đôi cùng nhân vật tôi trong buổi tựu trường Khi thấy các bạn mang sách vở, tôi thèm thuồng muồn thử sức mình thì người mẹ cúi đầu nhìn con, cặp mắt âu yếm, giọn nói dịu dàng “thôi để

mẹ cầm cho ” làm cậu bé vô cùng hạnh phúc Bàn tay mẹ là biểu tượng cho tình thương, sự săn sóc động viên khích lệ Mẹ luôn đi sát bên con trai , lúc thì cầm tay, mẹ đẩy con lên phía trước , lúc bàn tay mẹ nhẹ nhàng xoa mái tóc của con

III/ Cách xây dựng truyện

IV/ Chất thơ trong truyện ngắn

a Chất thơ được thể hiện trong cốt truyện: Dòng hồi tưởng, tâm trạng của nhân vật tôi ở những thời điểm khác nhau

b Chất thơ được thể hiện đậm đà qua những cảnh vật , tâm trạng, chi tiết dạt dào cảm xúc

c Giọng văn nhẹ nhàng, trong sáng, gợi cảm

d Chất thơ còn thể hiện ở những hình ảnh so sánh tươi mới giàu cảm xúc

V/ Bài tập:

Qua văn bản “Tôi đi học”, em hãy kể lại kỷ niệm ngày đầu tiên đi học

Buổi 2

Bài 2: Văn bản trong lòng mẹ

(Trích : Những ngày thơ ấu – Nguyên Hồng)

I Vài nét về tác giả, tác phẩm

1 Tác giả:

- Nguyên Hồng sinh ở thành phố Nam Định, nhưng Hải Phòng cửa biển đã khơi dậy và gắn bó với ông, với sự nghiệp văn chương của ông Tác phẩm của ông thường viết về những con người nghèo khổ dưới đáy xã hội, với một lòng yêu thương đồng cảm vì vậy ông được coi là nhà văn của những con người cung khổ

Trang 3

Chương 5: Đêm nôen

Chương 6: Trọn đêm đông

b Đặc điểm:

Bé Hồng luôn hiểu và bênh vực mẹ: Mẹ dù đi tha hương cầu thực, phải sống trong cảnh ăn chực nằm chờ bên nội Bà cô luôn soi mói, dèm pha tìm cách chia cắt tình mẫu tử Với trái tim nhạy cảm và bản tính thông minh, Hồng đã phát hiện ra ý nghĩ cay độc trong giọng nói khi cười rất kịch của bà cô Em biết rất rõ bà cô cố gieo rắc vào đầu óc em những ý nghĩ để em khinh miệt vf ruồng rẫy mẹ Bằng tình yêu thương mẹ, bé Hồng đã rất hiểu , thông cảm với cảnh ngộ của mẹ nên em đã bênh vực mẹ Càng thương mẹ bao nhiêu, em càng ghê tởm, căm thù những cổ tục phong kiến đã đầy đoạ mẹ Một ý nghĩ táo tợn như một cơn giông tố đang trào dâng trong em

Bé Hồng luôn khao khát được gặp mẹ Khao khát đó của Hồng chẳng khác nào khao khát của người bộ hành trên sa mạc khao khát một dòng nước, và em sẽ gục ngã khi người ngồi trên chiếc xe kéo kia không phải là mẹ Em đã ung sướng

và hạnh phúc khi được ngôi trong lòng mẹ Khi mẹ gọi, em trèo lên xe, mừng ríu

cả chân lại Em oà lên và cứ thế nức nở Đó là giọt nước mắt của sự tủi thân bàng hoang Trong cái cảm giác sung sướng của đứa con ngôi cạnh mẹ, em đã cảm

Trang 4

- Luôn sống tình nghĩa : Đến ngày giỗ đầu của chồng- về

- Yêu thương con: Khi gặp con khi được ôm hình hài máu mủ đã làm cho ngươi mẹ lại tươi đẹp

ức trong lòng càng bừng lên dữ dội

b Căm ghét đến cao độ những cổ tục

Cuộc đời nghiệt ngã, bất côngđã tước đoạt của mẹ tất cả tuổi xuân, niềm vui, hạnh phúc Càng yêu thương mẹ bao nhiêu, thi nỗi căm thù xã hội càng sâu sắc quyết liệt báy nhiêu: “Giá những cổ tục kia là một vật như mới thôi”

c Niềm khao khát được gặp mẹ lên tới cực điểm

Những ngày tháng xa mẹ, Hồng phải sống trong đau khổthiếu thốn cả vật chất, tinh thần Có những đêm Nô-en, em đi lang thang trên phố trong sự cô đơn

và đau khổ vì nhớ thương mẹ Có những ngày chờ mẹ bên bến tầu, để rồi trở về trong nỗi buồn bực nên nỗi khao khát được gặp mẹ trong lòng em lên tới cực điểm

Trang 5

Nguyên Hồng xứng đáng là nhà văn của phụ nữ và trẻ em Bằng sự hiểu biết của

em về tác phẩm Trong lòng mẹ, em hãy làm sáng tỏ ý kiến trên

Hướng dẫn:

1 Giải thích:

Vì sao Nguyên Hồng được đánh giá là nhà văn của phụ nữ và trẻ em

Đề tài: Nhìn vào sự nghiệp sáng tác của Nguyên Hồng, người đọc dễ nhận thấy hai đề tài này đã xuyên suốt hầu hết các sáng tác của nhà văn: Những ngày thơ ấu, Hai nhà nghỉ, Bỉ vỏ

Hoàn cảnh: Gia đình và bản thân đã ảnh hưởng sâu sắc đến sáng tác của nhà văn Bản thân là một đứa trẻ mồ côi sống trong sự thiếu thốn cả về vật chất lẫn tinh thần lại còn bị gia đình và xã hội ghẻ lạnh

Nguyên Hồng được đánh giá là nhà văn của phụ nữ và trẻ em không phải

vì ông viết nhiều về nhân vật này Điều quan trọng ông viết về họ bằng tất cả tấm lòng tài năng và tâm huyết của nhà văn chân chính Mỗi trang viết của ông là sự đồng cảm mãnh liệt của người nghệ sỹ , dường như nghệ sỹ đã hoà nhập vào nhân vật mà thương cảm mà xót xa đau đớn, hay sung sướng, hả hê

2 Nguyên Hồng là nhà văn của phụ nữ

a Nhà văn đã thấu hiểu và đồng cảm sâu sắc cho nỗi bất hạnh của người phụ nữ

Thấu hiểu nỗi khổ về vật chất của người phụ nữ Sau khi chồng chết vì nợ nần cùng túng quá, mẹ Hồng phải bỏ đi tha hương cầu thực, buôn bán ngược xuôi

để kiếm sống Sự vất vả, lam lũ đã khiến người phụ nữ xuân sắc một thời trở nên tiều tụy đáng thương “Mẹ tôi ăn mặc rách rưới, gầy rạc đi ”…

Thấu hiểu nỗi đau đớn về tinh thần của người phụ nữ : Hủ tục ép duyên đã khiến mẹ Hồng phải chấp nhận cuộc hôn nhân không tình yêu với người đàn ông gấp đôi tuổi của mình Vì sự yên ấm của gia đình, người phụ nữ này phải sống

âm thầm như một cái bóng bên người chồng nghiện ngập Những thành kiến xã hội và gia đình khiến mẹ Hồng phải bỏ con đi tha hương cầu thực , sinh nở vụng trộm dấu diếm

b Nhà văn còn ngượi ca vẻ đẹp tâm hồn, đức tính cao quý của người phụ nữ:

Giàu tình yêu thương con Gặp lại con sau bao ngày xa cách, mẹ Hồng xúc động đến nghẹn ngào Trong tiếng khóc sụt sùi của người mẹ, người đọc như cảm

Trang 6

6

nhận được nỗi xót xa ân hận cũng như niềm sung sướng vô hạn vì được gặp con Bằng cử chỉ dịu dàng âu yếm xoa đầu, vuốt ve, gãi rôm mẹ bù đắp cho Hồng những tình cảm thiếu vắng sau bao ngày xa cách

c Là người phụ nữ trọng nghĩa tình

Dẫu chẳng mặn mà với cha Hồng song vốn là người trọng đạo nghĩa, mẹ Hồng vẫn trở về trong ngày dỗ để tưởng nhớ người chồng đã khuất

d Nhà văn còn bênh vực, bảo vệ người phụ nữ:

Bảo vệ quyền bình đẳng và tự do , cảm thông vời mẹ Hồng khi chưa đoạn tang chồng đã tìm hạnh phúc riêng

Tóm lại: Đúng như một nhà phê bình đã nhận xét “Cảm hứng chủ đạo bậc nhất trong sáng tạo nghệ thuật của tác giả Những ngày thơ ấu lại chính là niềm cảm thương vô hạn đối với người mẹ Những dòng viết về mẹ là những dòng tình cảm thiết tha của nhà văn Không phải ngẫu nhiên khi mở đầu tập hồi ký Những ngày thơ ấu, nhà văn lại viết lời đề từ ngắn gọn và kính cẩn: Kính tặng mẹ tôi”

Có lẽ hình ảnh người mẹ đã trở thành nguồn mạch cảm xúc vô tận cho sáng tác của Nguyên Hồng để rồi ông viết văn học bằng tình cảm thiêng liêng và thành kính nhất

2 Nguyên Hồng là nhà văn của trẻ thơ

a Nhà văn thấu hiểu và đồng cảm sâu sắc cho nỗi khổ, nội bất hạh của trẻ thơ

Nhà văn thấu hiểu nỗi thống khổ cả vạt chất lẫn tinh thần : Cả thời thơ ấu của Hồngđược hưởng những dư vị ngọt ngào thì ít mà đau khổ thì không sao kể xiết : Mồ côi cha, thiếu bàn tay chăm sóc của mẹ, phải ăn nhờ ở đậu người thân Gia đình và xã hội đã không cho em được sống cuộc sống thực sự của trẻ thơ nghĩa là được ăn ngon, và sống trong tình yêu thương đùm bọc của cha mẹ, người thân Nhà văn còn thấu hiểu cả những tâm sự đau đớn của chú bé khi bị bà

cô xúc phạm

b Nhà văn trân trọng, ngợi ca phẩm chất cao quý của trẻ thơ:

Tình yêu thương mẹ sâu sắc mãnh liệt Luôn nhớ nhung về mẹ Chỉ mới nghe bà cô hỏi “Hồng, mày có muốn vào Thanh Hoá chơi với mợ mày không?”, lập tức, trong ký ức của Hồng trỗi dậy hình ảnh người mẹ

Hồng luôn tin tưởng khẳng định tình cảm của mẹ dành cho mình Dẫu xa cách mẹ cả về thời gian, không gian, dù bà cô có tính ma độc địa đến đâu thì Hồng cũng quyết bảo vệ đến cùng tình cảm của mình dành cho mẹ Hồng luôn hiểu và cảm thông sâu sắc cho tình cảnh cũng như nỗi đau của mẹ Trong khi xã hội và người thân hùa nhau tìm cách trừng phạt mẹ thì bé Hồng với trái tim bao dung và nhân hậu yêu thương mẹ sâu nặng đã nhận thấy mẹ chỉ là nạn nhân đáng thương của những cổ tục phong kiến kia Em đã khóc cho nỗi đau của người phụ

nữ khát khao yêu thương mà không được trọn vẹn Hồng căm thù những cổ tục đó: “Giá những cổ tục kia là một vật như thôi”

Trang 7

7

Hồng luôn khao khát được gặp mẹ Nỗi niềm thương nhớ mẹ nung nấu tích

tụ qua bao tháng ngày đã khiến tình cảm của đứa con dành cho mẹ như một niềm tín ngưỡng thiêng liêng, thành kính Trái tim của Hồng như đang rớm máu, rạn nứt vì nhớ mẹ Vì thế thoáng thấy người mẹ ngồi trên xe, em đã nhận ra mẹ, em vui mừng cất tiếng gọi mẹ mà bấy lâu em đã cất dấu ở trong lòng

c Sung sướng khi được sống trong lòng mẹ

Lòng vui sướng được toát lên từ những cử chi vội vã bối rối từ giọt nước mắt giận hờn, hạnh phúc tức tưởi, mãn nguyện

d Nhà thơ thấu hiẻu những khao khát muôn đời của trẻ thơ:

Khao khát được sống trong tình thương yêu che chở của mẹ, được sống trong lòng mẹ

Buổi 3, 4

Các yếu tố hình thức nghệ thuật cần chú ý khi

phân tích thơ trữ tình

I Đặc trưng của thơ trữ tình và một số lỗi cần tránh.

Thơ là một hình thái nghệ thuật đặc biệt Hệ thống cảm xúc, tâm trạng và cách thể hiện tình cảm, cảm xúc được xem như là đặc trưng nổi bật của thơ trữ tình Trong các tác phẩm thuộc các thể loại như văn xuôi tự sự, kịch, cũng có cảm xúc, tâm trạng, nhưng cách thể hiện thì rất khác so với thơ trữ tình Cảm xúc của tác giả có trong các thể loại văn học kể trên là thứ cảm xúc đợc thể hiện một cách gián tiếp thông qua hệ thống hình tượng nhân vật, các sự kiện xã hội và diễn biến của câu chuyện Trái lại, trong thơ trữ tình, tác giả bộc lộ trực tiếp cảm xúc của mình Rõ ràng khi đọc đoạn thơ:

“ Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ

Màu nước xanh, cá bạc, chiếc thuyền vôi,

Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi,

Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá !

( Quê hơng - Tế Hanh)

người đọc cảm nhận được rất rõ tấm lòng và tình cảm nhớ nhung da diết của nhà thơ Tế Hanh đối với quê hương, nơi ông đã sinh ra, lớn lên và gắn bó một thời ở đây nhà thơ công khai và trực tiếp nói lên những tình cảm, suy nghĩ của chính mình Khác với cách thể hiện tình cảm trong thơ, các em hãy đọc đoạn văn sau:

Hôm sau lão Hạc sang nhà tôi Vừa thấy tôi, lão bảo ngay:

Trang 8

8

- Cậu Vàng đi đời rồi, ông giáo ạ !

- Cụ bán rồi ?

- Bán rồi ! Họ vừa bắt xong

Lão cố làm ra vui vẻ Nhưng trông lão cười nh mếu và đôi mắt lão ầng ậng nước

- Thế nó cho bắt à ?

Mặt lão đột nhiên co dúm lại Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít Lão hu hu khóc

( Nam Cao - Trích Lão Hạc)

Người kể chuyện ở đây xưng tôi, nhng tôi đây là ông giáo chứ không phải

là Nam Cao Nhà văn hoàn toàn không xuất hiện mà luôn dấu mình đi Trong trang sách chỉ có ông giáo kể lại câu chuyện Như thế phải qua cách kể chuyện và miêu tả của nhân vật ông giáo về nỗi ân hận, đau khổ đến cùng cực của lão Hạc, chúng ta mới thấy được tấm lòng thông cảm, thái độ trân trọng mến yêu của Nam Cao đối với nhân vật này

Trong nhiều bài thơ trữ tình, nhà thơ xưng bằng ta, chẳng hạn : “Ta nghe

hè dậy bên lòng - Mà chân muốn đạp tan phòng, hè ôi” ( Khi con tú hú - Tố Hữu)

hoặc nhiều khi không thấy xưng tôi hay ta gì cả, mà chỉ thấy một ai đó đang lẳng lặng kể, tả và tâm sự, tâm tình, chẳng hạn : “ Năm nay hoa đào nở - Không thấy

ông đồ xa - Những người muôn năm cũ- Hồn ở đâu bây giờ” ( Ông đồ - Vũ Đình

Liên ) Trong trường hợp như thế, người xưng ta hoặc không xưng gì cũng đều là chính nhà thơ Nghĩa là sau câu thơ vẫn thấy hiện lên rất rõ tấm lòng và tình cảm sâu nặng của tác giả Có những trường hợp nhà thơ mượn lời của một nhân vật nào đó, nhập vai vào một ai đó mà thổ lộ tâm tình ( người ta gọi là trữ tình nhập vai) thì thực chất nhân vật trữ tình đó cũng chính là tác giả Thế Lữ mượn lời con

hổ trong vườn bách thảo để dốc bầu tâm sự của chính ông về nỗi chán ghét cái xã hội giả dối, nghèo nàn, nhố nhăng, ngớ ngẩn đương thời; để nói lên khát vọng tự

do, khát vọng về cái thời một đi không trở lại Trong trường hợp này, khi ông

viết: “Ta sống mãi trong tình thơng nỗi nhớ - Thuở tung hoành hống hách những

ngày xa” thì ta là con hổ và cũng chính là Thế Lữ

Phân tích thơ trữ tình thực chất là chỉ ra tiếng lòng sâu thẳm của chính nhà thơ Nhưng tiếng lòng ấy lại được thể hiện rất cô đọng và hàm xúc bằng một hình thức nghệ thuật độc đáo - nghệ thuật ngôn từ Tiếp xúc với một bài thơ trữ tình trước hết là tiếp xúc với các hình thức nghệ thuật ngôn từ này Nhà thơ gửi lòng mình qua những con chữ, trong những con chữ và các hình thức biểu đạt độc đáo khác Tất cả thái độ sung sướng, hả hê, bõ hờn của Nguyễn Khuyến đối với tên

quan tuần mất cướp được gửi qua chữ “lèn” trong câu thơ “ Tôi nghe kẻ cướp nó

lèn ông” Tiếng kêu đau đớn, đột ngột của nhà thơ Tố Hữu trước sự ra đi của chú

bé liên lạc đợc thể hiện qua chữ thôi rồi và hình thức gãy nhịp của câu thơ “Bỗng

Trang 9

9

loè chớp đỏ - Thôi rồi, Lượm ơi !” (Lượm) Như thế, phân tích thơ trữ tình trước

hết phải xuất phát từ chính các hình thức nghệ thuật ngôn từ mà chỉ ra vai trò và tác dụng của chúng trong việc thể hiện tình cảm, thái độ của nhà thơ

Nắm chắc đặc điểm và yêu cầu trên, HS cũng sẽ tránh được các lỗi dễ mắc trong việc phân tích và cảm thụ thơ trữ tình Trong các bài phân tích, bình giảng thơ trữ tình, HS thường mắc một số lỗi sau đây:

a, Chỉ phân tích nội dung và tư tưởng được phản ánh trong bài thơ, không

hề thấy vai trò của hình thức nghệ thuật Đây thực chất chỉ là diễn xuôi nội dung bài thơ ra mà thôi

b, Có chú ý đến các hình thức nghệ thuật, nhưng tách rời các hình thức nghệ thuật ấy ra khỏi nội dung (thường là gần đến kết bài mới nói qua một số hình thức nghệ thuật được nhà thơ sử dụng trong bài)

c, Suy diễn một cách máy móc, gượng ép, phi lí các nội dung và vai trò, ý nghĩa của các hình thức nghệ thuật trong bài thơ Nghĩa là nêu lên các nội dung t-

ư tưởng, tình cảm không có trong bài; phát hiện sai các hình thức nghệ thuật hoặc

“bắp ép”các hình thức này phải có vai trò tác dụng nào đó trong khi chúng chỉ là những hình thức bình thường

Tóm lại, để phân tích thơ trữ tình có cơ sở khoa học, có sức thuyết phục phải cần đến rất nhiều năng lực, nhng trước hết người phân tích cần nắm được một số hình thức nghệ thuật ngôn từ mà các nhà thơ thường vận dụng để xây dựng nên tác phẩm của mình Đây chính là cơ sở đáng tin cậy nhất để người đọc

mở ra được “cánh cửa tâm hồn”của mỗi nhà thơ ở mỗi bài thơ

II Một số yếu tố hình thức nghệ thuật cần chú ý khi phân tích thơ trữ tình

Đọc tác phẩm văn học trước hết chúng ta tiếp xúc với những hình thức thể hiện cụ thể của ngôn từ nghệ thuật Đó là những dấu câu và cách ngắt nhịp, là vần điệu, âm hưởng và nhạc tính, là từ ngữ và hình ảnh, là câu và sự tổ chức đoạn văn, là văn bản và thể loại của văn bản… Phân tích tác phẩm văn học không được thoát li văn bản có nghĩa là trước hết phải biết bám sát các hình thức biểu hiện trên của ngôn từ nghệ thuật, chỉ ra vai trò và ý nghĩa của chúng trong việc thể hiện nội dung

1 Nhịp thơ

Nhịp điệu có vai trò, ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với thơ trữ tình Nó giúp nhà thơ nâng cao khả năng biểu cảm, cảm xúc Phân tích thơ trữ tình, không thể không chú ý phân tích nhịp điệu Để xác định được nhịp điệu của từng bài thơ, ngoài việc đọc từng câu thơ cho ngân vang âm điệu và làm bừng sáng hình ảnh thơ, việc nắm được đặc điểm chung về nhịp điệu của từng thể loại cũng là điều rất cần thiết Thông thường, nhịp điệu của thơ lục bát uyển chuyển, mềm mại thanh thoát; nhịp của thơ thất ngôn bát cú hài hòa, chặt chẽ; nhịp của thơ tự

do, thơ hiện đại rất phóng khoáng, phong phú

Trang 10

đó là tạo nên "ý tại ngôn ngoại", hàm nghĩa và gợi ra những điều mà từ không nói hết, nhất là trong thơ Tâm trạng nhà thơ chi phối trực tiếp cách tổ chức, vận hành nhịp điệu của bài thơ Với cảm xúc ào ạt, sôi nổi, đầy hứng khởi trớc khí thế lao động sản xuất của miền Bắc thời kỳ bắt đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội, Tố Hữu

có những câu thơ với nhịp điệu nhanh mạnh , khỏe khoắn, linh hoạt và sôi nổi:

Đi ta đi! Khai phá rừng hoang Hỏi núi non cao, đâu sắt đâu vàng?

Hỏi biển khơi xa, đâu luồng cá chạy?

Sông Đà, sông Lô, sông Hồng, sông Chảy Hỏi đâu thác nhảy, cho điện quay chiều?

(Bài ca mùa xuân 1961)

Trước hiện thực đổi thay ở một vùng quê, nơi mình từng hoạt động bí mật,

Tố Hữu hồi tưởng những tháng ngày đã qua với những xúc động bồi hồi Tâm trạng nôn nao, xao xuyến của một người lâu ngày quay trở lại chốn cũ đầy kỷ niệm đã được ông thể hiện bằng một nhịp điệu chậm, sâu lắng, phù hợp với sự hồi tởng và chiêm nghiệm:

Mời chín năm rồi Hôm nay lại bước Đoạn đường xa, cát bỏng lưng đồi

Ôi có phải sóng bồi thêm bãi trước Hay biển đau xa rút nước xa rồi?

(Mẹ Tơm) Câu thơ của Chế Lan Viên " Đất nước đẹp vô cùng Nhưng Bác phải ra đi

", nhiều học sinh đọc một mạch, bỏ quên cái dấu chấm giữa dòng thơ, đã làm mất

đi bao sức gợi cảm sâu lắng, thiết tha, diễn tả một sự nuối tiếc, đau đớn đến xót

xa trong lòng người ra đi khi phải xa tổ quốc

Để ngắt nhịp ngời ta thường dùng dấu câu, nhưng nhiều khi không có dấu câu Trong trường hợp này, các em cần phải thông nghĩa, hiểu ý mới ngắt nhịp

Trang 11

11

đúng Câu thơ của Tố Hữu “Càng nhìn ta lại càng say", có em đọc" Càng nhìn /

ta lại càng say "(nhịp 2/ 4), nhưng thực ra phải đọc là " Càng nhìn ta / lại càng say "( nhịp 3/ 3 ) Vì ở đây ý thơ muốn thể hiện là : ai đó (thế giới) càng nhìn ta

(Việt Nam) thì càng say lòng chứ không phải ta tự say ta Cũng như thế câu thơ

của Xuân Diệu :" Một chiếc xe đạp băng vào bóng tối ", nếu không chú ý các em

sẽ đọc thành:"Một chiếc xe đạp / băng vào bóng tối " Nhưng đúng ra phải đọc là:"Một chiếc xe / đạp băng vào bóng tối " ở đây, điều mà Xuân Diệu muốn nhấn mạnh là hành động "đạp băng" chứ không phải chiếc "xe đạp" Câu thơ của Tản Đà " Non cao tuổi vẫn chưa già", có em đọc : Non cao tuổi / vẫn cha già và hiểu là non dù đã cao tuổi nhưng vẫn còn trẻ (chưa già) Nhưng thực ra ở đây cao không phải là nhiều tuổi mà cao là độ cao, là núi cao ngất non cao những ngóng

cùng trông hoặc Non cao đã biết hay chưa? Trong nhiều trường hợp, sự xuống

dòng tiên tục tạo nên sự gãy nhịp liên tục, đột ngột của tác giả có một dụng ý hay đúng hơn có một ý nghĩa, một tác dụng rất sâu sắc trong việc thể hiện nội dung

Câu thơ: "Màu tím hoa sim tím chiều hoang biền biệt" (chín chữ) được nhà thơ

Hữu Loan “xé” thành 6 dòng thơ:

Màu tím hoa sim

Dấu câu và cách ngắt nhịp không chỉ quan trọng với thơ mà ngay cả khi đọc văn xuôi, các em cũng cần chú ý Thử đọc hai đoạn văn sau đây :

Đoạn 1 : Hàng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên

không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại náo nức những kỉ niệm mơn man của buổi tựu trường Tôi quên thế nào được những cảm giác trong sáng ấy nảy

nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng " ( Tôi đi học - Thanh Tịnh )

Đoạn 2 : Không được ! Ai cho tao lương thiện ? Làm thế nào cho mất

đ-ược những vết mảnh chai trên mặt này ? Tao không thể là ngời lương thiện nữa Biết không ! Chỉ còn một cách biết không ! Chỉ còn một cách là cái này ! Biết không ! Hắn rút dao ra, xông vào, Bá Kiến ngồi nhỏm dậy, Chí Phèo đã văng dao tới rồi ( Chí Phèo - Nam Cao )

Đoạn văn của Thanh Tịnh 62 chữ, chỉ có 2 câu, 2 dấu chấm và 2 dấu phảy, nhịp điệu nhẩn nha, không có gì gấp gáp, vội vàng Cả đoạn văn là những tiếng nói thì thầm, nhỏ nhẹ như lá rụng cuối thu, lãng đãng như mây bạc lưng trời Tất

Trang 12

kể đến sự cộng hưởng của ngữ nghĩa do các từ ngữ và hình ảnh, chỉ riêng nhịp điệu do hệ thống dấu câu ở trên tạo nên đã giúp Nam Cao tái hiện rất thành công cuộc đối mặt quyết liệt và dữ dội giữa Chí Phèo và Bá Kiến Cả cuộc đời Chí triền miên trong cơn say, mệt mỏi và u tối Bỗng giây phút này hắn bừng tỉnh và sáng láng Giây phút ấy dường nh rất ngắn ngủi nên Chí phải nói rất nhanh, làm rất gấp, tức khắc và quyết liệt Chính cách chấm câu và ngắt nhịp ấy đã giúp Nam Cao diễn tả rất thành công tâm trạng uất ức, dồn nén và tình thế gấp gáp khẩn trương của màn bi kịch này

Đọc đoạn văn của Thanh Tịnh, ai đọc nhanh, gấp và lên giọng thì hỏng ược lại không thể đọc đoạn văn của Nam Cao với giọng nhỏ nhẹ, nhẩn nha được

Ng-Tóm lại khi tiếp xúc với tác phẩm văn học, nhất là khi đọc bằng mắt, các

em cần lu ý đến hình thức dấu câu và xem cách ngắt nhịp của tác giả có gì đặc biệt Làm nh thế, trớc hết là để đọc cho đúng, cho diễn cảm và sau đó hãy phân tích và chỉ ra ý nghĩa cũng như tác dụng của hình thức ấy trong việc biểu hiện nội dung

2 Vần thơ

Tiếng Việt rất giàu nhạc tính Hệ thống vần điệu và thanh điệu là những yếu tố cơ bản tạo nên tính nhạc của tiếng Việt nói chung và ngôn từ văn học nói riêng, nhất là thơ Vần hiểu một cách đơn giản là một âm không có thanh điệu do

nguyên âm hoặc nguyên âm kết hợp với phụ âm tạo nên Ví dụ, các tiếng lan,

tan, man, tàn đều có chung một vần an, hoặc mẹ, nhẹ, té, xẻ có chung một vần

e Như thế, gieo vần trong thơ là sự lặp lại các vần hoặc những vần nghe giống

nhau giữa các tiếng ở những vị trí nhất định Đó là sự phối hợp âm thanh trong từng câu và trong cả bài; là sự cộng hởng của các âm có cùng một vần và cùng thanh bằng hoặc thanh trắc Ví dụ:

Tiếng thơ ai động đất trời Nghe như non nước vọng lời nghìn thu Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày

Hỡi Người xa của ta nay Khúc vui xin lại so dây cùng Người!

(Tố Hữu, Kính gửi cụ Nguyễn Du)

Vần của các câu được hiệp vần với nhau trong đoạn thơ trên là sự hài hòa trên cùng một âm vực cao thấp, một trường độ âm thanh phát ra Đó là sự hài hòa

có được từ việc phối âm giữa các từ trong một cặp câu lục bát Xét từng cặp câu

Trang 13

Căn cứ vào cấu trúc âm thanh - sự hòa âm của vần ngời ta chia thành vần chính và vần thông Vân chính là vần có âm giống nhau:

Tiếng thơ ai động đất trời Nghe như non nước vọng lời nghìn thu

vần thông là vần có âm na ná như nhau:

Nhân tình nhắm mắt, cha xong Biết ai hậu thế khóc cùng Tố Như ?

(Tố Hữu - Kính gửi cụ Nguyễn Du)

Căn cứ vào vị trí các từ hiệp vần với nhau để chia thành vần lưng và vần chân Vần lưng là lối gieo vần đứng giữa câu Trong các câu thơ trên, từ thứ 6

(lời, ru, đây, cùng) của câu bát hiệp vần với từ cuối (trời, du, nay, xong) của câu

lục Vần chân là lối hiệp vần ở cuối câu:

Chẳng phải rằng ngây chẳng phải đần, Bởi vì nhà khó hóa bần thần

Mấy đời thầy kiện mà thua mẹo,

Nghĩ phận thằng cùng phải biết thân

Trong cách phân chia vần theo vị trí của các từ hiệp vần với nhau, lại còn

có thể chia ra thành các loại:

- Vần liền (ví dụ đoạn thơ trích dẫn trên của Tố Hữu, bài thơ Thề non nớc

của Tản Đà)

- Vần cách: Trời đất cho ta một cái tài,

Giắt lng dành để tháng ngày chơi

Dở duyên với ruợu khôn từ chén,

Chót nợ cùng thơ phải chuốt lời

(Nguyễn Công Trứ - Cầm kỳ thi tửu)

- Vần hỗn hợp (ví dụ Thu điếu của Nguyễn Khuyến, Cảnh nghèo của

Nguyễn Công Trứ, Tràng giang của Huy Cận)

Trang 14

Một giọng thơ ngâm một giọng đàn

ở đây vần chính là an (tan, tràn, đàn)) nhưng bên cạn đó, nhà thơ còn sử dụng rất nhiều vần khác (lan/ tan, dương/ sương, trắng/ nắng, vọng/ giọng)

Trong bốn dòng thơ, hàng loạt các vần liên tiếp xuất hiện, tạo nên một khúc nhạc ngân nga, diễn tả một niềm vui phơi phới như muốn hát lên của nhà thơ khi đứng trước mùa xuân của đất nước Ba Lan

Bên cạnh vần điệu, tiếng Việt còn rất giàu thanh điệu Với 6 thanh (huyền,

sắc, hỏi, ngã, nặng và thanh không), chúng ta có thể nâng cao hoặc hạ thấp giọng

nói, tạo nên sự lên bổng, xuống trầm Ví dụ: sang là một âm tiết mang thanh

không Lần lợt thay các thanh ta có: sáng, sảng, sạng, sẵng, sàng Người ta chia 6

thanh trên làm 2 loại bổng và trầm hoặc bằng và trắc Loại vần bằng do thanh

huyền và thanh không đảm nhận, vần trắc do các thanh còn lại (sắc, nặng, hỏi, ngã) thể hiện Nhìn chung những vần bằng thường diễn tả sự nhẹ nhàng bâng

khuâng chơi vơi… còn vần trắc thường diễn tả sự trúc trắc, nặng nề, khó khăn, vấp váp… Về nguyên tắc, bình thường trong các câu thơ, những vần bằng, trắc đan xen nhau, phối hợp với nhau, nhưng khi mô tả, khắc sâu một ấn tượng, một cảm xúc, một tâm trạng theo một cung bậc tình cảm nào đó các nhà thơ thường

sử dụng liên tiếp một loại vần

Những câu thơ sau dùng toàn vần bằng tạo nên một âm hưởng rất đặc biệt:

- Sơng nương theo trăng ngừng lưng trời Tương tư nâng lòng lên chơi vơi

(Xuân Diệu)

- Ô hay buồn vương cây ngô đồng Vàng rơi, vàng rơi thu mênh mông

(Bích Khê)

- Mùa xuân cùng em lên đồi thông

Ta như chim bay trên tầng không

(Lê Anh Xuân)

… Ngược lại có những câu thơ, số lượng vần trắc xuất hiện rất nhiều, cũng tạo nên những âm hưởng lạ, cần được chú ý:

- Vó câu khấp khểnh bánh xe gập ghềnh

(Nguyễn Du)

- Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

(Quang Dũng)

Trang 15

15

Có khi hai loại vần này lại sóng đôi nhằm diễn đạt một tâm trạng phức tạp

Tài cao phận thấp chí khí uất Giang hồ mê chơi quên quê hương

(Tản Đà)

Câu trên với 5 thanh trắc liên tục diễn tả một tâm trạng nh bị dồn nén, uất

ức, nghẹn tắc Câu dưới lại toàn thanh bằng vừa nh một tâm sự, buông thả, phó mặc vừa như một tiếng thở dài

Có khi vần bằng, trắc được sử dụng như một biện pháp chơi chữ: Mỗi một

câu thơ là một loại vần do một thanh đảm nhận như bài thơ Tình hoài của Lê Ta trong phong trào Thơ mới:

Trời buồn làm gì trời rầu rầu

Em không yêu anh em đi đâu Lắng thấy tiếng suối thấy tiếng khóc Một bụng một dạ một nặng nhọc

ảo tưởng chỉ để khổ thêm tủi Nghĩ mãi, gỡ mãi lỗi vẫn lỗi Thương thay cho anh, căm thay em Tình hoài càng ngày càng tày đình

Tạo nên nhạc tính của thơ thực ra không chỉ có vần và hệ thống thanh điệu

mà ngay cả các âm tiết trong mỗi tiếng cũng có những giá trị nhất định Theo GS

Đinh Trọng Lạc: âm i gợi sự ngân dài: "Đi ta đi khai phá rừng hoang" (Tố Hữu),

âm u: gợi sự u sầu, bâng khuâng: "Hoa cánh trắng dắt tay vào lối cũ" (Thanh Thảo) Âm a gợi sự tơi vui, bao la: "Nhìn nhau mặt lấm cời ha ha" (Phạm Tiến Duật) Âm eo gợi êm đềm, trong trẻo: "Ao thu lạnh lẽo nớc trong veo", "Ngõ trúc

quanh co khách vắng teo" (Nguyễn Khuyến) Âm r gợi sự hãi hùng, run sợ:

"Rung rinh bậc cửa tre gầy" (Tố Hữu), hoặc "Những luồng run rẩy rung rinh lá" (Xuân Diệu), Âm ơi gợi sự phơi phới, mở ra: "Câu hát căng buồm cùng gió

khơi…" và "Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi" (Huy Cận)

Nhà văn Nguyễn Tuân đã nhận xét rất chính xác về các phụ âm mở đầu

bằng kh nh: khú, khai, khắm, khắc nghiệt, khắt khe, khấp khểnh, khủng khiếp,

khắm lằm lặm, khét lèn lẹt, khai mò mò Ông viết: "Tôi có ấn tượng là phụ âm

kh hay nhấn vào khía tiêu cực của những biểu hiện sự sống… Những từ ấy rất

liên quan tới ngũ giác của người Việt Nam nhắc đến những việc, những trạng

thái không được vừa mũi, vừa mắt, vừa tai, không được "vừa lòng" (Chuyện

nghề)

Có thể dẫn ra rất nhiều ví dụ nữa để minh hoạ cho tính nhạc của ngôn ngữ Việt trong thơ Song điều cần lu ý các em khi đọc, phân tích TPVH (nhất là thơ) cần hết sức chú trọng yếu tố này Một khi thấy âm điệu, âm hưởng, nhạc điệu của câu thơ không bình thường, có sự chuyển đổi (dĩ nhiên là phải tạo nên đợc hiệu

Trang 16

quan trọng ấy mà người ta coi lao động của nhà văn là thứ lao động chữ nghĩa, nhà văn là phu chữ… Có thể nói ngôn từ là một đặc trưng quan trọng và nổi bật

của văn học Vì thế các em cần lu ý một số điểm sau:

Thứ nhất: Phân tích TPVH không thể thoát li và bỏ qua yếu tố từ ngữ

Muốn phân tích tốt từ ngữ, trước hết phải nắm vững nghĩa của từ (nghĩa chung

và nghĩa trong văn cảnh cụ thể) sau đó luôn luôn suy nghĩ để trả lời các câu hỏi:

- Sại sao tác giả dùng từ này mà không dùng từ khác?

- Tại sao từ ngữ này lại xuất hiện nhiều như thế?

- Có bao nhiêu từ đồng nghĩa với từ ấy? Có thể thay từ ấy bằng một từ ngữ khác được không?

- Trong câu ấy, đoạn ấy, những từ ngữ nào cần gây chú ý phân tích ở đây cũng cần nhắc em, trong một đoạn, một bài văn, bài thơ không phải từ nào, câu nào cũng đáng phân tích, cũng có giá trị như nhau, chính vì thế biết phát hiện những từ ngữ đáng phân tích cũng là một năng lực, một trình độ Trong thực tế không ít em rơi vào tình trạng hoặc là phân tích tất cả, câu nào cũng phân tích, từ nào cũng khen hay, hoặc là từ ngữ đáng phân tích thì lại bỏ qua, từ không đáng dùng thì say sa tán tụng Trong trường hợp phân tích những tác phẩm văn học dịch phải thật thận trọng khi phân tích từ ngữ Bởi vì những từ được đưa ra bình giá chưa chắc đã phải là những từ mà tác giả dùng trong nguyên bản

Thứ hai: Người ta nói nhiều đến việc phân tích hình ảnh trong TPVH Bởi

vì cách nói của văn học, cách thể hiện của văn chương là cách nói, cách viết bằng hình ảnh Điều đó hoàn toàn đúng Nhưng hình ảnh trong tác phẩm văn học là gì, nếu không phải là do hệ thống từ ngữ tạo nên Vì thế phân tích hình ảnh thực ra là phân tích từ ngữ Câu thơ của Nguyễn Du tả chân dung Tú Bà:

Nhác trông nhờn nhợt màu da

Ăn gì to lớn đẫy đà làm sao

(Truyện Kiều)

vẽ chính xác thần thái của một mụ chủ nhà chứa, bọn buôn thịt bán người Ta

cũng thấy rõ thái độ của tác giả đối với loại người như thế Chữ nhờn nhợt lột tả

Trang 17

17

được rõ nét nhất thần thái của Tú Bà! thật khó diễn tả bằng những từ ngữ khác: vừa bóng nhẫy, vừa mai mái hay vàng bủng chăng? Có lẽ chỉ có thể nói như Nguyễn Công Hoan sau này về một bộ mặt cũng thuộc loại Tú Bà: bộ mặt "thiếu

vệ sinh" Có nhà phê bình cho rằng, đọc câu thơ ấy, ta có cảm giác lợm giọng là

vì thế Còn hai chữ ăn gì lại dường như muốn liệt mụ chủ chứa này vào một

giống loài gì đó, không phải giống người Bởi vì giống người thì ăn cơm, ăn gạo,

ăn thịt, ăn cá chứ ăn gì

Hệ thống từ ngữ gợi hình ảnh, cảm giác trong tiếng Việt rất phong phú, đa dạng Ví dụ:

- Gợi về tâm trạng như: xao xuyến, bâng khuâng, phân vân…

- Gợi về thị giác như: la đà, lơ lửng, chấp chới

- Gợi về thính giác như: sầm sập, rì rào, thánh thót…

- Gợi về vị giác như: mặn chát, chua lòm, ngọt lịm…

- Gợi về xúc giác như: lạnh ngắt, nóng bỏng, xù xì…

Chính do sức gợi này mà nhà văn Nguyễn Tuân tâm sự nh khuyên nhủ các nhà văn khi cầm bút:

"Đã nghĩ kỹ rồi mới cầm bút mà viết ra Nhưng khi đã viết ra rồi, chưa có nghĩa là xong hẳn Viết ra nhưng mà đọc lại (…) Tự mình duyệt lấy lời viết của mình (…) Cặp mắt soi xuống dòng trang vẫn là giữ vai trò cầm chịch (…) Nh-ưng cặp mắt chưa đủ để lọc hết mọi bụi bặm vẫn còn bám theo cai tiếng vừa phát biểu của mình Cho nên phải dùng cả cái tai của mình nữa (…) Ngoài việc soi lắng, hình như phải ngửi lại, nếm lại cái lời mình viết ra kia, trước khi bưng nó ra cho người khác thưởng thức (…) Có khi lại như chính lòng bàn tay mình phải sờ lại những góc cạnh câu viết của mình, xem lại có nên cứ gồ ghề chân chất như

thế, hay là nên gọt nó tròn trĩnh đi thì nó dễ vào lỗ tai người tiêu thụ hơn…" (Về

tiếng ta - Tuyển tập Nguyễn Tuân Nxb Văn học, H 1982)

Thứ ba: Để tạo cách nói, cách viết có hình ảnh, gợi hình tượng bằng từ

ngữ, các nhà văn có thể vận dụng nhiều cách: khi thì dùng từ láy:

Lưng dậu phất phơ làn khói nhạt Làn ao lóng lánh bóng trăng loe

(Nguyễn Khuyến)

Hoặc

Nỗi niềm chi rứa Huế ơi,

Mà mưa xối xả trắng trời Thừa Thiên (Tố Hữu)

Khi thì dũng những từ ngữ tượng hình, tượng thanh:

Thuyền câu thấp thoáng dờn trên vách Tiếng sóng long bong vỗ trước nhà

(Nguyễn Khuyến)

Trang 18

18

Ngay cả trong văn xuôi cũng vậy Hình ảnh lão Hạc được Nam Cao khắc

hoạ bằng một đoạn văn ngắn với một số từ rất gợi hình tượng: "Mặt lão đột nhiên

co rúm lại Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra Cái đầu lão nghẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu nh con nít Lão hu hu khóc" (Lão Hạc)

Hệ thống từ ngữ chỉ màu sắc cũng được các nhà văn sử dụng rất hiệu quả trong việc miêu tả hiện thực

Cỏ non xanh dợn chân trời Cành lê trắng điểm một vài bông hoa

Đây là đoạn văn Nguyễn Tuân tả màu sắc của sông Đà: "Mùa xuân dòng

xanh ngọc bích, chứ nước sông Đà không xanh màu xanh canh hến của sông

Gâm, sông Lô Mùa thu nước sông Đà lừ lừ đỏ như da mặt một người bầm đi vì

rượu bữa, lừ lừ cái mầu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu

về" "Người lái đò sông Đà" v.v…

Hệ thống tính từ chỉ màu sắc trong tiếng Việt là hết sức tinh diệu Đã khi nào các em thử thống kê tất cả các màu trắng, đỏ hay xanh ra trước mặt cha ? Cứ

thử đi sẽ thấy từ chỉ màu sắc trong tiếng Việt thật kỳ lạ Này nhé nếu là màu

trắng, ta có : Trắng bệch, trắng toát, trắng bong, trắng tinh, trắng nõn, trắng

xoá, trắng phau, trắng ngần, trắng muốt, trắng ngà, trắng hếu, trắng dã, trắng ngà, trắng nhởn, trắng nhợt, trắng bóc, trắng lốp, trắng lôm lốp, trắng nuột, trắng ởn, trắng phếch, trắng trẻo, trắng trong Nếu là màu Xanh lại có : xanh

um, xanh nhạt, xanh thẫm, xanh non, xanh lợt, xanh lè, xanh lét, xanh rờn, xanh

rì, xanh lam, xanh biếc, xanh lơ, xanh mét, xanh ngắt, xanh ngăn ngắt, xanh rớt, xanh xao Với màu Đỏ bạn có thể kể : đỏ au, đỏ bừng, đỏ choé, đỏ chói, đỏ chót, đỏ chon chót, đỏ nọc, đỏ gay, đỏ hoe, đỏ hoen hoét, đỏ hỏn, đỏ hon hỏn, đỏ

kè, đỏ khé, đỏ nhừ, đỏ khè, đỏ loét, đỏ lòm, đỏ lừ, đỏ lự, đỏ lựng, đỏ ngầu, đỏ ối,

đỏ quạch, đỏ rực, đỏ tơi, đỏ ửng, đỏ cạch, Với các tính từ trên khi chuyển

sang tiếng Pháp, tiếng Anh, thường người ta chỉ thêm vào chữ rất (très - Pháp hoặc very - Anh ) Chẳng hạn : xanh um, xanh rờn là très bleu ( rất xanh ) hoặc

Trang 19

tinh là trắng nguyên chất, trắng xoá là trắng rộng khắp một vùng, trắng phau là

trắng sạch sẽ, trắng ngần là trắng sạch và trong, trắng muốt là trắng sạch mà trơn nhẵn, trắng ngà là trắng quý phái, trắng hếu là trắng nhô ra thô bỉ, trắng dã là chỉ màu mắt kẻ gian giảo, trắng nhởn là trắng lố bịch ( chỉ răng hoặc mắt ) vv Và

nh thế sẽ là rất khó khi dịch những câu thơ sau ra một ngôn ngữ khác sao cho lột

tả hết được các màu sắc ấy :

- Cầu trắng phau phau đôi ván ghép ( Hồ Xuân Hương )

- Trắng xoá tràng giang phẳng lặng tờ ( Bà Huyện Thanh quan )

- Tiếc thay hạt gạo trắng ngần ( Ca dao )

- Rõ ràng trong ngọc trắng ngà ( Nguyễn Du )

- Bữa thấy bong bong che trắng lốp muốn tới ăn gan ( Đồ Chiểu )

- Có phải thịt da em mềm mại trắng trong ( Lâm Thị Mỹ Dạ )

- Hòn đá xanh rì lún phún rêu ( Hồ Xuân Hương )

- Cỏ non xanh rợn chân trời ( Nguyễn Du )

- Lng trời ai nhuộm mà xanh ngắt ( Nguyễn Khuyến )

- Xanh om cổ thụ tròn xoe tán ( Bà Huyện Thanh Quan )

- Tháng tám mùa thu xanh thắm ( Tố Hữu )

- Cửa son đỏ loét tùm hum nóc ( Hồ Xuân Hương )

- Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe ( Nguyễn Khuyến )

- Má đỏ au lên đẹp lạ thường ( Hàn Mặc Tử )

- Đờng quê đỏ rực cờ hồng ( Tố Hữu )

Thứ tư: Ngôn từ văn học là loại ngôn từ đã được chắt lọc từ ngôn ngữ đời

thường, được nâng cấp, sửa sang, làm cho nó càng óng ả, giàu đẹp hơn Các biện pháp tu từ chính là những phương tiện quan trọng để thực hiện nhiệm vụ trang

điểm cho ngôn từ văn học Có rất nhiều biện pháp tu từ: ẩn dụ, hoán dụ, nhân

hoá, điệp từ, điệp ngữ, so sánh… Theo GS Đinh Trọng Lạc có tới 99 phơng tiện

và biện pháp tu từ trong tiếng Việt Tất cả những cách ấy đều nhằm mục đích giúp ngời nói, ngời viết có nhiều cách diễn đạt hay hơn, đẹp hơn, phong phú hơn

và do vậy hiệu quả cao hơn Phân tích các biện pháp tu từ tức là chỉ ra tính hiệu quả của cách viết, cách nói ấy, vai trò và tác dụng của chúng trong việc miêu tả, biểu đạt chứ không phải đơn thuần là chỉ gọi được tên, kiệt kê các biện pháp mà nhà văn đã dùng

4 Không gian và thời gian trong thơ trữ tình

Không gian trong thơ trữ tình là nơi tác giả - cái tôi trữ tình hoặc nhân vật trữ tình xuất hiện để thổ lộ tấm lòng của mình trước mọi người và đất trời

Trang 20

20

Trong tiếng Việt có rất nhiều từ ngữ để nhà văn thể hiện không gian Trước hết

là bằng hệ thống từ chỉ vị trí và tính chất như : trên, dưới, trước, sau, trong,

ngoài, bên phải, bên trái, lên, xuống rồi mênh mông, bát ngát, rộng, hẹp, thăm thẳm, mịt mù, khúc khuỷu, quanh co vv

Không gian thờng gắn với các địa điểm chỉ nơi chốn như : bến đò, cây đa, mái

đình, giếng nước, núi cao, rừng thẳưm, biển sâu, trời rộng, sông dài Nhiều địa

danh riêng đã trở thành những không gian tượng trưng trong văn học như : Tiêu

Tương, Tầm Dương, Cô Tô, Xích Bích, Tây Thiên, Địa ngục, Thiên đường, Bồng lai, Tiên cảnh, cõi Phật, Suối vàng,

Khi đọc tác phẩm văn học, các em cần chú ý xem nhà văn mô tả không gian ở đây có gì đặc biệt, không gian ấy có ý nghĩa gì và nói được nội dung gì sâu sắc qua không gian đó ? Ví dụ, khi dân gian viết :

" Đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng mênh mông bát ngát,

Đứng bên tê đồng ngó bên ni đồng cũng bát ngát mênh mông "

là tác giả dân gian đã tạo được một không gian đẹp, rộng mở, khác hẳn với không gian nhỏ hẹp, trắc trở, cách ngăn trong câu ca dao này :

" Ai đưa em tới chốn này

Bên kia mắc núi, bên này mắc sông "

Không gian trong câu ca trên là không gian của một tâm hồn thảnh thơi, đang náo nức, rạo rực, phơi phới say sa của một người con gái vào tuổi dậy thì :

"Thân em như chẽn lúa đòng đòng- Phất phơ dưới ngọn nắng hồng buổi mai "

Còn không gian dưới là không gian của một tâm trạng bế tắc, một tiếng thở dài, ngao ngán Không gian trong tâm hồn Nguyễn Khuyến là một không gian

hiu quạnh, buồn bã, cô đơn, vắng lặng ở đó ta gặp toàn những :" Ao thu lạnh lẽo

nước trong veo - một chiếc thuyền câu bé tẻo teo "; nhà ông ở cũng chỉ là " ba gian nhà cỏ thấp le te " với cái "ngõ tối đêm sâu đóm lập loè "

Không gian thường gắn với điểm nhìn, điểm quan sát mô tả của tác giả

Câu thơ " Trông lên mặt sắt đen sì " trong truyện Kiều của Nguyễn Du cho thấy

ngời viết đứng phía dưới nhìn lên Nhà thơ Tố Hữu cho rằng như thế, Nguyễn Du

đã đứng về phía quần chúng lao động để quan sát bọn thống trị Cũng như thế

chữ Kìa trong câu thơ :" Kìa hội thăng bình tiếng pháo reo" của Nguyễn Khuyến cho ta thấy ông như đứng tách ra khỏi cái hội tây ồn ào, đầy những trò nhăng

nhít do bọn thực dân bày ra mà quan sát và ngẫm nghĩ, mà căm giận, mà đớn đau, chua xót

Đi liền với không gian nghệ thuật là thời gian nghệ thuật, bởi vì một hành động bao giờ cũng diễn ra ở một địa điểm vào một thời gian nhất định Có điều khi đọc tác phẩm văn học ta quên đi thời gian hiện thực, nhập vào tác phẩm, sống cùng với nhân vật, cùng chứng kiến con ngời và sự việc theo thời gian trong tác phẩm Vì thế đang đọc giữa ban ngày mà cứ tởng nh đêm đã khuya lắm rồi; quên

hiện tại mà cứ nghĩ mình đang ở " ngày xửa ngày xa" vào "đời Vua Hùng Vơng

Trang 21

21

thứ 18" hay " năm Gia Tĩnh Triều Minh" Do được thể hiện bằng ngôn ngữ nghệ

thuật, nên thời gian trong tác phẩm văn học được cảm nhận và mô tả rất linh hoạt

Nguyễn Du đã dồn 4 mùa trong một câu thơ :" Sen tàn cúc lại nở hoa - Sầu dài

ngày ngắn đông đà sang xuân "

Ngược lại Aimatốp đã mô tả " Một ngày dài hơn thế kỉ " Thời gian trong cuộc

đời là thời gian tuần tự, còn trong tác phẩm văn học thời gian có thể đảo ngược quá khứ, xen lẫn ngày hôm nay và những ngày đã xa khuất ngàn năm trớc cũng như tưởng tượng ra ngày mai chưa đến Thời gian trong tác phẩm văn học là thời gian tâm lí, không trùng khít với thời gian ngoài đời, vì thế không nên hiểu thời

gian ấy một cách máy móc, cứng nhắc và áp đặt Khi nhà thơ viết : Hôm qua,

hôm nay, ngày mai, dạo này, tháng trớc, năm sau, dạo ấy, vào một đêm hè thì

không nên cố tìm xem đó là thời điểm cụ thể nào trong cuộc đời Nếu như Hoàng Lộc viết :

" Hôm qua còn theo anh

Đi ra đường quốc lộ

Hôm nay đã chặt cành

Đắp cho người dới mộ "

( Viếng bạn ) thì rõ ràng không cần biết hôm qua và hôm nay là ngày nào, tháng nào mà chỉ

biết sao sự việc xảy ra nhanh quá, bất ngờ quá, hôm qua mới thế, hôm nay đã thế khiến người đọc bàng hoàng xúc động

Thời gian nghệ thuật cũng mang tính tượng trưng Khi nhắc tới ngày mai ường là tượng trưrng cho tương lai, như khi Tố Hữu viết: " Ngày mai bao lớp đời

th-dơ - sẽ tan như đám mây mờ đêm nay - Em ơi tháng rộng ngày dài - Mở lòng ra

đón ngày mai huy hoàng " Hoàng hôn, chiều tà thường tượng trưng cho sự tàn

lụi, sự kết thúc, cáo chung buồn bã Không phải ngẫu nhiên hay do bí từ mà

Nguyễn Du đã lặp lại chữ hoàng hôn và hôn hoàng trong một câu thơ: " Nay

hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng "để khái quát cả một đời Kiều đầy chuyện u

buồn, tàn tạ Ta có thể tìm thấy thời khắc này trong thơ Thôi Hiệu:" Quê hương

khuất bóng hoàng hôn ", trong thơ Bà Huyện Thanh Quan:" Trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn", trong thơ Huy Cận " Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà " Ngợc lại với hoàng hôn là bình minh Bình minh, rạng đông thường tượng trưng cho cái đang lên, rạng rỡ, tươi sáng Đó là khi Hồ Chí Minh viết : "Thuyền về trời đã rạng đông - Bao la nhuốm một màu hồng đẹp tươi "; là khi Nguyễn Đình Thi viết : " Trán cháy rực nghĩ trời đất mới - Lòng ta bát ngát ánh bình minh "

Mùa Xuân thường tượng trưng cho tuổi trẻ, sức sống, giàu sinh lực, nh khi Tố

Hữu viết: "Trời hôm nay dầu xám ngắt màu đông- Ai cản được mùa xuân xanh

t-ơi sáng - Ai cản được đàn chim quyết thắng - Sắp về đây tắm nắng xuân hồng"

Có rất nhiều cách thể hiện thời gian trong tác phẩm văn học Không nhất thiết

phải có các từ như sáng, tra, chiều, tối hay xuân, hạ, thu, đông thì ta mới biết

Trang 22

22

Trong văn học cổ , một chiếc lá ngô đồng rụng xuống, ấy là mùa thu đã về; một tiếng kêu khắc khoải của chim quốc báo hiệu hè đã sang Khi Nguyễn Du tả cảnh: " Cỏ non xanh tận chân trời - Cành lê trắng điểm một vài bông hoa " thì ai chẳng biết đó là mùa xuân Khi Tố Hữu viết: " Trăng lên, trăng đứng, trăng tàn"

cũng là để chỉ thời gian đang trôi đi của một đêm và đó cũng có thể hiểu là các

thời điểm của một đời người Đọc câu thơ của Trần Hữu Thung:"Cam ba lần có

trái- Bởi ba lần ra hoa" chắc các em đều hiểu thế là thời gian ba năm đã trôi qua

Nh thế không gian và thời gian đều có rất nhiều cách thức biểu hiện khác nhau Đấy chính là chỗ để các nhà thơ thể hiện sự sáng tạo và những cách cảm nhận độc đáo, riêng biệt trong tác phẩm của mình

Buổi 5

nam cao và tác phẩm lão hạc

A Cuộc đời, con người nam cao

1 Cuộc đời

Ông xuất thân trong gia đình trung nông Ông là người con trai cả trong gia đình đông anh em, ông là người duy nhất được học hành chu đáo Học xong trung học, ông vào Sài Gòn kiếm sống 3 năm chuyến đi này đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc sáng tác của nhà văn Vì ốm đau, ông trở về quê dạy học , rồi sống vất vưởng bằng nghề viết văn Cuộc đời của một giáo khổ trường tư, của một nhà văn nghèo đã ảnh hưởng sâu sắc đến phong cách viết văn của Nam cao Sau cách mạng, Nam Cao tiếp tục sáng tác phục vụ kháng chiến Năm 1951, trên đường đi công tác, nhà văn đã hi sinh

2 Con người Nam Cao

Hiền lành, ít nói, lạnh lùng Là nhà văn luôn gắn bó sâu nặng với quê hương và những người nghèo khổ Mỗi trang viết của nhà văn là trang viết đày cảm động về con người quê hương

3 Quan điểm sáng tác:

4 Phong cách viết truyện ngắn của Nam Cao

Truyện của Nam Cao rất mực chân thực , thẫm đẫm chất trữ tình, đậm đà chất triết lý Nam cao đặc biệt sắc sảo trong việc khám phá và diễn tả những quá trình tâm lý phức tạp của nhân vật Ngôn ngữ của Nam cao gần với ngôn ngữ người nông dân Bắc bộ

B Luyện tập:

Đề số 1:

Truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao giúp em hiểu gì về tình cảnh của người nông dân trước cách mạng?

Trang 23

b Nỗi khổ về tinh thần

Đó là nỗi đau cả người chồng mát vợ, người cha mất con Những ngày tháng xa con, lão sống trong nỗi lo âu, phiền muộn vì thương nhớ con, vì chưa làm tròn bổn phận của người cha Còn gì xót xa hơn khi tuổi già gần đất xa trời lão phải sống trong cô độc Không người thân thích, lão phải kết bạn chia sẻ cùng cậu vàng

Nỗi đau, niềm ân hận của lão khi bán con chó Đau đớn đến mức miệng lão méo xệch đi Khổ sở, đau xót buộc lão phải tìm đến cái chết như một sự giải thoát Lão đã chọn cái chết thật dữ dội Lão Hạc sống thì mỏi mòn, cầm chừng qua ngày, chết thì thê thảm Cuộc đời người nông dân như lão Hạc đã không có lối thoát

2 Con trai lão Hạc

Vì nghèo đói, không có được hạnh phúc bình dị như mình mong muốn khiến anh phẫn chí, bỏ làng đi đồn điền cao su với một giấc mộng viển vông có bạc trăm mới về Nghèo đói đã đẩy anh vào tấn bi kịch không có lối thoát

Không chỉ giúp ta hiểu được nỗi đau trực tiếp của người nông dân Truyện còn giúp ta hiểu được căn nguyên sâu xa nỗi đau của họ Đó chính là sự nghèo đói và những hủ tục phong kiến lạc hậu

II Truyện ngắn Lão Hạc giúp ta hiểu được vẻ đẹp tâm hồn cao quý của người nông dân

1 Lòng nhân hậu

Con đi xa, bao tình cảm chất chứa trong lòng lão dành cả cho cậu vàng Lão coi nó như con, cưu mang, chăm chút như một đứa cháu nội bé bỏng côi cút : lão bắt rận, tắm , cho nó ăn bàng bát như nhà giầu, âu yếm, trò chuyện gọi nó là cậu vàng, rồi lão mắng yêu, cưng nựng Có thể nói tình cảm của lão dành cho nó như tình cảm của người cha đối với người con

Nhưng tình thế đường cùng, buộc lão phải bán cậu vàng Bán chó là một chuyện thường tình thế mà với lão lại là cả một quá trình đắn đo do dự Lão cói

đó là một sự lừa gạt, một tội tình không thể tha thứ Lão đã đau đớn, đã khóc, đã xưng tội với ông giáo , mong được dịu bớy nỗi dằng xé trong tâm can

Trang 24

24

Tự huỷ diệt niềm vui của chính mình, nhưng lại sám hối vì danh dự làm người khi đối diện trước con vật Lão đã tự vẫn Trên đời có bao nhiêu cái chết nhẹ nhàng, vậy mà lão chọn cho mình cái chết thật đau đớn, vật vã dường như lão muốn tự trừng phạt mình trước con chó yêu dấu

2 Tình yêu thương sâu nặng

Vợ mất, lão ở vậy nuôi con, bao nhiêu tình thương lão đều dành cho con trai lão Trước tình cảnh và nỗi đau của con, lão luôn là người thấu hiểu tìm cách chia sẻ, tìm lời lẽ an ủi giảng dải cho con hiểu dằn lòng tìm đám khac Thương con lão càng đauđớn xót xa khi nhận ra sự thực phũ phàng : Sẽ mất con vĩnh viễn

“Thẻ của nó .chứ đâu có còn là con tôi ” Nhữn ngày sống xa con, lão không nguôi nỗi nhó thương, niềm mong mỏi tin con từ cuối phương trời Mặc

dù anh con trai đi biền biệt năm sáu năm trời, nhưng mọi kỷ niệm về con vẫn luôn thường trực ở trong lão Trong câu chuyện với ông giáo , lão không quyên nhắc tới đứa con trai của mình

Lão sống vì con, chết cũng vì con: Bao nhiêu tiền bòn được lão đều dành dụm cho con Đói khát, cơ cực song lão vẫn giữ mảnh vườn đến cùng cho con trai để lo cho tương lai của con

Hoàn cảnh cùng cực, buộc lão phải đứng trước sự lựa chọn nghiệt ngã : Nếu sống, lão sẽ lỗi đạo làm cha Còn muốn trọn đạo làm cha thi phải chết Và lão đã quyên sinh không phải lão không quý mạng sông, mà vì danh dự làm người, danh dự làm cha Sự hy sinh của lão quá âm thầm, lớn lao

3 Vẻ đẹp của lòng tự trọng và nhân cách cao cả

Đối với ông giáo người mà Lão Hạc tin tưởng quý trọng , cung luôn giữ ý

để khỏi bị coi thường Dù đói khát cơ cực, nhưng lão dứt khoát từ chối sự giúp

đỡ của ông giáo , rồi ông cố xa dần vì không muốn mang tiếng lợi dụng lòng tốt của người khác Trước khi tìm đến cái chết, lão đã toan tính sắp đặt cho mình chu đáo Lão chỉ có thể yên lòng nhắm mắt khi đã gửi ông giáo giữ trọn mảnh vườn,

và tiền làm ma Con người hiền hậu ấy, cũng là con người giầu lòng tự trọng Họ thà chết chứ quyết không làm bậy Trong xã hội đầy rẫy nhơ nhuốc thì tự ý thức cao về nhân phẩm như lão Hạc quả là điều đáng trọng

III Truyện giúp ta hiểu sự tha hoá biến chất của một bộ phận tầng lớp nông dân trong xã hội đương thời : Binh Tư vì miếng ăn mà sinh ra làm liều bản

chất lưu manh đã chiến thắng nhân cách trong sạch của con người Vợ ông giáo

vì nghèo đói cùng quấn mà sinh ra ích kỷ nhỏ nhen, tàn nhẫn, vô cảm trước nỗi đau của người khác

Đề số 2

Phân tích cách nhìn người nông dân của Nam Cao qua truyện ngắn Lão Hạc

Hướng dẫn:

Trang 25

25

1 Xuất phát từ quan điểm “Nghệ thuật vị nhân sinh”: Cách nhìn của nhà

văn là cách nhìn của một con người luôn thấu hiểu , đồng cảm với nỗi đau khổ của người khác Nhà văn luôn thấu hiểu nỗi khổ về vật chất và tinh thầnh của người nông dân Là người sống gần gũi , gắn bó với người nông dân Nam Cao đã nhìn sâu hơn vào nỗi đau tinh thần của nhà văn

2 Bằng cái nhìn yêu thương trân trọng, Nam Cao đã nhận ra vẻ đẹp tâm

hồn đáng quý của lão Hạc trong cuộc sống không phải giành cho con người

a Nhà văn nhận thấy từ thẳm sâu tâm hồn lão Hạc tấm lòng nhân hậu thật đáng quý

Nam Cao đã nhận ra tình cảm thân thiết máu thịt của con người dành cho con người

Nam Cao còn phát hiện ra nỗi ân hận cao thượng và đức tính trung thực của Lão Hạc qua việc bán con chó

Nhà văn càn nhận thấy ở người cha còm cõi xơ xác như lão Hạc tình yêu thương con sâu nặng

b Với phương chấm cố tìm mà hiểu, Nam Cao đã phát hiện ra đằng sau vẻ ngoài xấu xí gàn dở của Lão Hạc là lòng tự trọng và nhân cách trong sạch của lão Hạc

Mở rộng: Có thể so sánh cách nhìn trân trọng đối với người nông dân của

Nam Cao và cách nhìn có phần miệt thị, khinh bỉ người nông dân của Vũ Trọng Phụng Trong tiểu thuyết Vỡ đê, Vũ Trọng Phụng tả người nông dân như những con người không có ý thức không cảm xúc, coi họ như những bọn người xấu xa, đểu cáng Thấy được cái nhìn của Nam Cao là cái nhìn tiến bộ và nhân đạo sâu sắc

3 Là cách nhìn có chiều sau tràn đầy lạc quan tin tưởng

Nam Cao nhìn người nông dân không phải bằng thứ tình cảm dửng dưng của kẻ trên hướng xuống dưới, càng không phải là hời hợt phiến diện Nam Cao luôn đào sâu, tìm tòi khám phá những ẩn khuất trong tâm hồn của lão Hạc , từ đó phát hiện ra nét đẹp đáng quý : Đó là cái nhìn đầy lạc quan tin tưởng vào phẩm hạnh tốt đẹp của người nông dân Trước cách mạng, không ít nhân vật của Nam cao đều bị hoàn cảnh khuất phục, làm thay đổi nhân hình lẫn nhân tính Vậy mà

kì diệu thay hoàn cảnh khắc nghiệt đã không khiến một lão Hạc lương thiện thay đổi được bản tính tốt đẹp Lão đã bảo toàn nhân cách cao cả của mình để tìm đến cái chết : “Không cuộc đời chưa hẳn đã đấng buồn ” thể hiện niềm tin của nhà văn vào nhân cách vào sự tồn tại kiên cường vào cái tốt

Đề số 3

Đọc mỗi tác phẩm văn chương, sau mỗi trang sách, ta đọc được cả nỗi niềm băn khoăn trăn trở của tác giả về số phận con ngươi Dựa vào những hiểu biết về Lão Hạc, và Cô bé bán diêm hãy làm sáng tỏ nỗi niềm đó

Huớng dẫn:

Trang 26

26

I Những băn khoăn tră trở của Nam Cao về số phận những người nông dân qua truyện ngắn Lão Hạc:

Những lo lắng, trăn trở của Nam Cao thể hiện qua nhân vật Lão Hạc: Lão

là người sống lương thiện trụng thực, có nhân cách đáng quý nhưng cuộc đời lại nghèo khổ bất hạnh Sống thì mỏi mòn cơ cực , chết thì đau đớn thê thảm Đây

là những băn khoăn trăn trở của Nam Cao được thể hiện qua những triết lý chua chát của lão Hạc về kiếp người “khiếp chẳng hạn” và qua những triết lý của ông giáo: “Cuộc dời cứ buồn theo một nghĩa khác” Ôi cuộc đời này hình như không còn chỗ đứng cho những con người trung thực, lương thiện như lão Hạc Đó là điều khiến Nam Cao vô cùng day dứt

Những băn khoăn trăn trở của Nam Cao về những tấn bi kịch không có lối thoát của tầng lớp thanh niên nông thôn lúc bấy giờ, điển hình là anh con trai lão Hạc Cuộc sống cùng quẫn, nghèo đói khiến anh không có nổi hạnh phúc bình gị như mình mong muốn bỏ đi đồn điền cao su với suy nghĩ viển vông : “Có bạc trăm mới về”

II Những băn khoăn trăn trở của Nam Cao về số phận người trí thức trong

xã hội đương thời

Ông giáo là người có nhiều chữ nghĩa, giàu ước mơ khát vọng cao đẹp có nhân cách đáng quý song lại sống trong cảnh nghèo dói Từ Sài Gòn trở về quê hương, cả gia tài của ông chỉ có một va ly đựng toàn sách cũ ông đã bán dần những quyển sách mà ông vẫn nân niu quý trọng Đây là nỗi đu khổ đối với ngươi trí thức bởi sách là một phần của đời ông Vậy mà giờ đây vấn đề miếng cơm manh áo đã dập tắt những ước vọng trong sáng đẩy ông vào thảm cảnh

“Sống mòn ” không có lối thoát Qua tấn bi kịch của ông giáo Nam Cao không khỏi day dứt về số phận người tri thức trog xã hội đương thời Họ mang trong mình ước mơ hoài bão cao đẹp và kháy vọng nghề nghiệp

Tóm lại thông qua số phận người nông dân, người trí thức, Nam Cao muốn cất lên tiếng kiêu cứu

Trang 27

27

- Làm nổi bật được đặc điểm của văn thuyết minh, và cánh làm bài văn thuyết minh

II Nội dung : Học sinh cần thuyết minh, làm rõ hai phần:

1 Đặc điểm của văn thuyết minh:

- Văn thuyết minh là kiểu văn bản thông dụng trong mọi lĩnh vực đời sống nhằm cung

Văn thuyết minh cần được trình bày chính xác, chặt chẽ, rõ ràng, hấp dẫn

2 Cách làm bài văn thuyết minh

a Cần tìm hiểu kỹ đối tượng thuyết minh, Xác định rõ phạm vi tri thức của đối tượng

thuyết minh

b Xác định bố cục cho bài văn thuyết minh gồm ba phần:

- Mở bài : Giới thiệu đối tượng thuyết minh

- Thân bài : Trình bày, giới thiệu chi tiết đặc điểm của đối tượng thuyết minh

- Kết bài : Bày tỏ thái độ với đối tượng thuyết minh

c Sử dụng kết hợp linh hoạt các phương pháp thuyết minh:

- Phương pháp nêu định nghĩa, giải thích

- Phương pháp liệt kê

- Phương phápnêu ví dụ

- Phương pháp dùng số liệu

- Phương pháp so sánh

- Phương pháp phân loại, phân tích

d Sử dụng chọn lọc ngôn ngữ viết bài văn hoàn chỉnh

B/ Nội dung:

Ngày đăng: 18/01/2021, 22:00

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w