được xác định theo tiết diện ngang của tường. Khi khoảng cách giữa các kết cấu bảo đảm ổn định ngang của tường l ≤ k β h thì chiều cao H của tường không bị hạn chế và được xác định bằng[r]
Trang 1Tên bài giảng môn học: KẾT CẤU GẠCH ĐÁ VÀ GẠCH ĐÁ CÓ CỐT THÉP
Trang 2KHOA XÂY DỰNG
Tên bài giảng môn học: KẾT CẤU GẠCH ĐÁ VÀ GẠCH ĐÁ CÓ CỐT THÉP
Hà Nội, ngày … tháng… năm…
Trang 3Mở đầu
1 Mục tiêu:
- Cung cấp cho sinh viên những kiến thức cơ bản về vật liệu gạch đá và khối xây
gạch đá
- Giới thiệu các phương pháp tính toán kết cấu gạch đá và gạch đá có cốt thép
- Nguyên tắc cấu tạo và tính toán các cấu kiện cơ bản trong kết cấu nhà cửa bằng
gạch đá và gạch đá có cốt thép
- Cung cấp các kiến thức cơ bản về thiết kế các bộ phận của nhà gạch, các kết cấu
đặc biệt bằng gạch đá
2 Phạm vi biên soạn:
- Khái niệm về vật liệu và tính chất cơ lý của khối xây gạch đá
- Nguyên lý tính toán kết cấu gạch đá
- Tính toán các cấu kiện gạch đá và gạch đá có cốt thép theo khả năng chịu lực
- Thiết kế các bộ phận của nhà gạch
- Kết cấu đặc biệt bằng gạch đá
3 Phương pháp biên soạn
4 Đối tượng phục vụ: Sinh viên năm thứ 4 chuyên ngành Xây dựng dân dựng và công
nghiệp
5 Địa chỉ áp dụng: Khoa Xây dựng trường Đại học Kiến trúc Hà nội
Trang 4Mở đầu
Chương 1.Tính chất cơ học của khối xây gạch đá (lên lớp 5t , chuẩn bị 5t)
1.1 Khái niệm chung về kết cấu gạch đá
1.1.1 Sơ lược lịch sử phát triển (tự học)
1.1.2 Ưu, khuyết điểm và phạm vi sử dụng
1.2.Vật liệu dùng trong khối xây gạch đá
1.2.1 Gạch
1.2.2 Đá
1.2.3 Vữa
1.2.4 Tảng lớn và panen cỡ lớn (tự học)
1.3.Các dạng của khối xây gạch đá
1.3.1 Phân loại khối xây gạch đá
1.3.2 Các nguyên tắc chung liên kết gạch đá trong khối xây
1.4.Tính chất cơ học của khối xây gạch đá
1.4.1 Cường độ chịu nén của khối xây, các yếu tố ảnh hưởng
1.4.2 Cường độ chịu nén cục bộ, chịu kéo, chịu uốn, chịu cắt
Chương 2 Nguyên lý tính toán và các chỉ dẫn thiết kế kết cấu gạch đá (lên
lớp 3t , chuẩn bị 3t)
2.1.Khái niệm chung
2.2.Phương pháp tính theo trạng thái giới hạn
2.3.Cường độ tiêu chuẩn và cường độ tính toán của khối xây
3.3.Cấu kiện chịu nén cục bộ
3.3.1 Khái niệm chung
3.3.2 Công thức tính toán
3.4 Cấu kiện chịu kéo, uốn, cắt
Chương 4.Tính toán khối xây có cốt thép theo khả năng chịu lực (tự học)
4.1.Khối xây đặt lưới thép ngang
4.1.1 Cấu tạo và tác dụng của lưới thép
4.1.2 Tính toán cấu kiện chịu nén đúng tâm đặt lưới thép ngang
4.1.3 Tính toán cấu kiện chịu nén lệch tâm đặt lưới thép ngang
4.1.4 Các ví dụ tính toán
4.2.Khối xây đặt cốt thép dọc
Trang 54.2.1 Yêu cầu cấu tạo
4.2.2 Tính toán cấu kiện chịu nén đúng tâm đặt cốt thép dọc
4.2.3 Tính toán cấu kiện chịu nén lệch tâm đặt cốt thép dọc
4.2.4 Các bài toán thiết kế và ví dụ tính toán
4.3.Kết cấu hỗn hợp và gia cố khối xây bằng vành đai
4.3.1 Kết cấu hỗn hợp chịu nén đúng tâm và lệch tâm
4.3.2 Gia cố khối xây bằng vành đai thép, vành đai BTCT và vành đai xi măng
lưới thép
Chương 5 Thiết kế các bộ phận của nhà gạch (tự học)
5.1.Các dạng nhà gạch
5.2 Phân loại tường và trụ gạch
5.3 Cấu tạo của tường và trụ gạch
5.4 Tính toán tường, trụ có sơ đồ kết cấu cứng
5.5 Tính toán tường, trụ có sơ đồ kết cấu mềm
Chương 6 Kết cấu chuyên dụng bằng gạch đá (3 tiết)
Trang 6CHƯƠNG I TÍNH CHẤT CƠ HỌC CỦA KHỐI XÂY GẠCH ĐÁ
1.1 Khái niệm chung về kết cấu gạch đá(1t)
1.1.1 Sơ lược lịch sử phát triển của kết cấu gạch đá
Kết cấu gạch đá ra đời từ rất sớm
- Kim tự tháp Ai cập được xây dựng cách đây trên 5000 năm bằng đá và vẫn tồn tại
cho đến bây giờ Tháp lớn nhất cao 146.6m với cạnh đáy dài 233m Để xây dựng được
kim tự tháp này cần đến hơn hai triệu viên đá, mỗi viên nặng từ 2.5 đến 50tấn
Hình 1.1 Kim tự tháp ai cập
- Đền thờ nữ thần Đian ở Hy Lạp xây vào thế kỷ thứ 6 trước công nguyên, trong đền
có 125 cột đá cao 19m
- Cây hải đăng thành Alexăngdơri (Ai Cập) được xây dựng bằng đá vào thể kỷ thứ 3
trước công nguyên, cao 127m Công trình này đã bị sụp đổ do động đất vào năm 1375
- Vườn treo Babilon được xây dựng vào thế kỷ thứ 15 trước công nguyên
- Điện Pantheon ở Rome cao 42.7m, mái là một Cupon đường kính 43.5m xây dựng
vào thế kỷ thứ 2
- Nhà thờ Đức bà có mái Cupôn đường kính 32.5m xây dựng ở Côngxtăngtinốp vào
thế kỷ thứ 6
- ở Trung Quốc vào khoảng 520 trước công nguyên người ta đã xây dựng toà tháp 15
tâng cao 40m ở tỉnh Hà Nam
Trang 7- Vạn lý trường thành xây dựng vào thế kỷ thứ 3 trước công nguyên là một công trình
vĩ đại Thành dài trên 23000km xây bằng đá, gạch nung dùng để bảo vệ biên giới phía
Bắc nhà Tần
Hình 1.2 Vạn lý trường thành ở Trung Quốc
- Công trình Ăngco (Đế Thiên, Đế Thích) được người Campuchia xây dựng từ thế kỷ
thứ 9 cũng là một công trình nổi tiếng thế giới
Hình 1.3 Đền thờ Ankor Wat ở Campuchia
Trang 8Hình 1.4 Nhà thờ đá Phát Diệm ở Ninh Bình
1.1.2 Ưu nhược điểm và phạm vi sử dụng
Hình 1.5 Khối tường xây
a- Tường xây bằng gạch đất sét nung; b – Tường xây bằng block xi măng
Trang 9a Ưu điểm:
- Tốn ít tiền bảo dưỡng
- Kết cấu gạch đá có độ cứng lớn
- Có khả năng cách âm cách nhiệt tốt
- Sử dụng được các vật liệu địa phương do đó làm giảm giá thành công trình
b Nhược điểm:
- Trọng lượng bản thân lớn, khả năng chịu lực không cao so với kết cấu bêtông,
bêtông cốt thép hoặc kết cấu thép
- Chịu tải trọng tác động kém Với kết cấu chịu tải trọng động nên sử dụng kết cấu
BTCT
- Với khối xây bằng gạch đất sét nung thì sau khoảng 100 năm cường độ khối xây có
thể bị giảm đi khoảng 1/3 cường thiết kế
- Gặp khó khăn cơ giới hóa trong công tác thi công
c Phạm vi áp dụng:
- Trong xây dựng dân dụng và công nghiệp, kết cấu gạch đá được sử dụng làm kết cấu
chịu lực như tường, cột, móng, vòm, ống khói, bể nước và làm các kết cấu bao che
- Kết cấu gạch đá còn được sử dụng trong các công trình cầu, cống, hầm lò, tường
chắn đất, kè mương sông
1.2 Vật liệu dùng trong khối xây gạch đá (1t)
1.2.1 Gạch
Trang 11a Phân loại gạch
- Theo phương pháp chế tạo:
+ Gạch nung (hình 1.6): Là gạch đất sét được sản xuất bằng phương pháp ép khô
hoặc ép dẻo và gạch kêzamit (gạch gốm) sau đó được nung trong lò ở nhiệt độ thích
hợp
+ Gạch không nung: Là gạch được chế tạo bằng cốt liệu và chất kết dính như: gạch
than xỉ, gạch đất đồi, gạch block xi măng, gạch bêtông (nặng, nhẹ), gạch
silicát Hiện nay theo yêu cầu của chính phủ các nhà cao tầng phải ưu tiên sử dụng
gạch không nung, do vậy các kỹ sư khi thiết kế phải ưu tiên sử dụng loại vật liệu
này:
Hình 1.7 Nhà máy sản xuất block xi măng
- Theo dung trọng:
+ Gạch nặng: γ ≥ 1800 kG/m3 Như các loại gạch đặc, gạch block xi măng, gạch
bêtông nặng, gạch rỗng với lỗ rỗng toàn phần nhỏ hơn 30%
+ Gạch nhẹ : 1000 kG/m3 < γ < 1500 kG/m3 Như gạch gốm có lỗ, gạch bêtông
nhẹ có lỗ với lỗ rỗng toàn phần từ 30 ÷ 50%
+ Gạch rất nhẹ: γ ≤ 1000 kG/m3 Gồm các loại gạch bêtông tổ ong, gạch gốm có lỗ
ngang với độ rỗng toàn phần lớn hơn 50%
Trang 12- Theo độ rỗng:
+ Gạch đặc: Độ rỗng toàn phần (thể tích lỗ rỗng/thể tích viên gạch) nhỏ hơn 20%
+ Gạch rỗng: Độ rỗng toàn phần ≥ 20%
- Theo trọng lượng viên gạch:
+ Viên gạch: Khi trọng lượng viên gạch ≤ 5kG, bề rộng viên gạch từ 120 đến
140mm, người công nhân có thể dùng một tay để đưa viên gạch vào khối xây,
+ Tảng khối: Khi trọng lượng viên gạch lớn hơn 5kG và nhỏ hơn 25kG, người công
nhân phải dùng 2 tay mới có thể bê được
b Cường độ của gạch
Để xác định cường độ chịu nén của gạch người ta cắt đôi viên gạch sau đó đảo chiều
xếp chồng lên nhau và giữa hai viên gạch có lớp vữa như hình vẽ a Ngoài ra để xác
định cường độ chịu kéo thông qua chịu uốn người ta đặt viên gạch lên hai gối tựa cách
nhau 200mm và lực tập trung đặt tại giữa như hình b
- Sơ đồ thí nghiệm:
Hình 1.8 Sơ đồ thí nghiệm
a- thí nghiệm cường độ chịu nén; b- thí nghiệm cường độ chịu uốn
- Cường độ mẫu thử của gạch được xác định:
Trang 13Khi chịu uốn: , 3 2
2
m
g u
Pl R
bh
trong đó: P – lực phá hoại mẫu, l – khoảng cách giữa hai gối (l=160÷180mm), b – chiều
rồng mẫu thử, h – chiều cao mẫu thử
- Cường độ tiêu chuẩn: Cường độ tiêu chuẩn của gạch được xác định bằng cường độ
trung bình cộng của 5 mẫu thử:
Khi chịu nén:
5
5
1 ,,
∑
=
= i
m ni g c
∑
=
= i
m ui g c
u
R
Giới hạn cường độ chịu kéo và chịu cắt của gạch rất nhỏ và chỉ bằng khoảng từ 5
÷ 10% giới hạn cường độ của gạch khi nén đúng tâm
c Mác gạch
Mác gạch được xác định trên cơ sở cường độ trung bình và cường độ bé nhất của
mẫu thử khi nén và khi uốn Gạch có các Mác:
+ Gạch Mác thấp: 4, 7, 10, 25, 35, 50
+ Gạch Mác trung bình: 75, 100, 125, 150, 200
+ Gạch Mác cao: 300, 400, 500, 600, 800
Bảng 1.1 Mác gạch trung bình bằng đất sét Mác (Số hiệu)
Trang 14- Đối với gạch đất sét ép khô: Eg = (0,2 ÷ 0,4).105 kG/cm2
- Hệ số biến dạng ngang (hệ số Poátxông) của gạch tăng lên cùng với sự tăng của ứng
suất Với gạch đất sét nung: μg = 0,03 ÷ 0,1
Trang 15• Vữa xây - là vật liệu xây dựng được tạo thành từ chất kết dính (vôi hoặc xi măng
hoặc mật mía ) với cốt liệu nhỏ (cát) và nước (có thể phụ gia)
• Tác dụng của vữa trong khối xây:
o Liên kết các viên gạch đá trong khối xây với nhau tạo nên một loại vật liệu
liền khối mới;
o Truyền nội lực từ những viên gạch này sang những viên gạch khác, phân bố
ứng suất đều hơn theo diện tích bề mặt viên gạch;
o Lấp kín các khe hở và tăng chống thấm trong khối xây
• Yêu cầu chung của vữa xây:
o Vữa phải có cường độ nhất định;
o Vữa phải có độ linh động cần thiết để dễ dàng dàn trải trong quá trình thi
công;
o Vữa phải có độ sệt để đảm bảo cho mạch vữa không bị trồi ra sau khi xây;
o Vữa phải có độ giữ nước cần thiết
b Phân loại vữa
• Theo dung trọng ở trạng thái khô:
o Vữa nặng: γ > 1500 kG/m3
o Vữa nhẹ: γ ≤ 1500 kG/m3
• Theo chất kết dính và cốt liệu:
o Vữa nước: Dùng các chất kết dính là ximăng Pooclan hoặc ximăng Puzơlan
o Vữa khô: Dùng các chất kết dính là vôi hoặc thạch cao
• Theo thành phần:
o Vữa ximăng: Gồm ximăng, cát, nước Vữa ximăng khô cứng nhanh, có
cường độ khá cao, nhưng dòn khó thi công
o Vữa tam hợp (vữa bata): Gồm ximăng, vôi, cát, đất sét và nước Vữa này có
tính dẻo cần thiết, thời gian khô cứng vừa phải
o Vữa không có ximăng: Như vữa vôi gồm: vôi, cát, nước; vữa đất sét gồm:
cát, đất sét, thạch cao
Trang 16• Theo chức năng:
o Vữa xây;
o Vữa hoàn thiện
c Cường độ tiêu chuẩn của vữa
• Cường độ tiêu chuẩn của vữa được xác định bằng thí nghiệm nén các mẫu thử lập
phương, kích thước cạnh a=7,07cm, trong điều kiện tiêu chuẩn: bảo quản mẫu 28
ngày tuổi ở nhiệt độ phòng t=20±2 o C, độ ẩm ≥80%.
• Cường độ trung bình của vữa ximăng và vữa tam hợp trong phạm vi tuổi dưới 90
ngày có thể được xác định bằng công thức kinh nghiệm sau:
28 , ,
)1(
t
t a
at R
+
−
(1.5)
trong đó: R t , R 28 là cường độ chịu nén của vữa ở ngày thứ t và ngày thứ 28
hệ số: a = 1,5, t- tuổi của vữa tính bằng ngày đêm
d Mác vữa
• Mác (M) vữa theo cường độ chịu nén – lấy theo cường độ trung bình tiêu chuẩn
chịu nén của vữa Có các loại Mác sau:
o Vữa mác thấp: 0, 2, 4 M 0 dùng để xác định cường độ khối xây lúc vừa xây
xong M2 dùng để xác định biến dạng của khối xây bằng vữa vôi ở tuổi dưới
3 tháng M4 dùng để đổ lớp lót đệm
o Vữa mác trung bình: M10, 25
o Vữa mác cao: M50, 75, 150, 200
e Biến dạng của vữa
• Biến dạng của vữa trong khối xây chiếm hơn 80% biến dạng của khối xây trong
khi thể tích trung bình vữa chỉ chiếm từ 10-15%
Khảo sát mạch vữa dày 10mm, loại vữa nặng chịu nén với tải trọng tác dụng ngắn
hạn bằng 1/3 tải trọng giới hạn Biến dạng khi đó là:
o 0,007mm ứng với vữa M≥50,
Trang 17o 0,039mm ứng với vữa M≥25,
o 0,062mm ứng với vữa M≥10
• Nhận xét: Độ biến dạng của vữa phụ thuộc vào mác vữa, thành phần và cấp phối
của vữa, tính chất của tải trọng:
o Vữa mác cao biến dạng ít hơn vữa mác thấp, vữa nhẹ biến dạng nhiều hơn
vữa nặng, vữa vôi biến dạng nhiều hơn vữa ximăng
o Biến dạng của vữa tăng lên khi chịu tác dụng của tải trọng dài hạn (vữa có
tính từ biến)
o Trong quá trình khô cứng của vữa, có hiện tượng co ngót (biến dạng khối)
f Cấp phối của vữa
• Lượng ximăng Qx trong 1m3 cát hạt trung và lớn khi độ ẩm 1÷ 3% được xác định:
1000 7
.
v x
R
R
trong đó: R v , R x tương ứng là mác vữa và mác xi măng
Lượng ximăng tối thiểu cho 1m3 cát khi dùng vữa tam hợp ximăng sét ở độ ẩm bình
thường là 125kG và khi độ ẩm lớn là 100kG Trong các trường hợp khác lấy 75kG
Ví dụ: Yêu cầu xác định thành phần cấp phối của vữa tam hợp với Mác 50 Biết sử
dụng xi măng pooclăng PCB-40 (mác 400), cát thạch anh hạt trung, độ ẩm 2%, dung
R Q
R
3 cát
Trang 18Chuyển lượng xi măng qua thể tích: 178,6/1100=0,16 m3 xi măng/1m3 cát
Lượng vôi tôi được xác định như sau:
Trang 191.4 Tính chất cơ học của khối xây gạch đá
1.4.1 Trạng thái ứng suất trong khối xây chịu nén đúng tâm
• Sơ đồ thí nghiệm:
Hình 1.12 Trạng thái ứng suất của gạch trong khối xây
1-chịu nén, 2-chịu kéo, 3-chịu uốn, 4-chịu cắt, 5-nén cục bộ
Làm thí nghiệm nén một khối xây chịu tải trọng nén đúng tâm bằng cách chất tải trọng
phân bố đều trên toàn bộ diện tích tiết diện, người ta nhận thấy các ứng suất trong các
vật liệu gạch đá và vữa phân bố rất phức tạp
• Trạng thái ứng suất của khối xây:
o Ứng suất sẽ tập trung ở những vị trí có độ cứng lớn Trong viên gạch có thể
xuất hiện cả thành phần ứng suất do mômen uốn, ứng suất cắt, ứng suất kéo, ứng suất nén cục bộ
o Trong các mạch vữa có thể có ứng suất nén hoặc ứng suất kéo phát sinh do
co ngót
o Trong khối xây đá hộc, ứng suất tập trung lớn tại những vị trí đầu lồi của
viên đá
• Các nguyên nhân tạo nên trạng thái ứng suất phức tạp khối xây:
o Do sự không đồng nhất về tính chất biến dạng của các lớp gạch đá và vữa
Trang 20o Do sự không đồng nhất về hình dạng và tính chất cơ học của các viên gạch
đá
o Do sự không đồng nhất của vữa trong khối xây Tính chất cơ học của vữa ở
những vị trí khác nhau là khác nhau do khi nhào trộn vữa không đều hoặc do
sự khô cứng không đồng đều của vữa
o Do vữa có tính co ngót, khi co ngót bị cản trở sẽ phát sinh các ứng suất co
ngót trong khối xây, cũng có thể làm cho vữa tách khỏi gạch đá ở một số chỗ
o Do sự không đồng nhất về hình dạng và tính chất của các viên gạch đá
o Do trong quá trình thi công có thể gây ra sự không đồng đều ở các mạch
vữa
1.4.1.1 Các giai đoạn làm việc của khối xây chịu nén
Từ lúc bắt đầu chịu tải đến khi bị phá hoại, khỗi xây trải qua 3 giai đoạn:
N<Nn
a)
N=Nnb)
N <N<Nnc)
N=N d)
p
Hình 1.13 Các trạng thái làm việc của khối xây khi chịu nén
• Giai đoạn I: Khi lực nén còn nhỏ, ứng suất trong khối xây còn khá bé, trong khỗi
xây chưa xuất hiện vết nứt Khi lực nén tăng lên, trong khỗi xây xuất hiện một số
vết nứt nhỏ Lực nén ở thời điểm này đạt đến Nn (Hình 1.13, a)
• Giai đoạn II: Khi lực nén tiếp tục tăng lên, các vết nứt bắt đầu mở rộng và phát
triển dọc theo phương tác dụng của lực nén, đồng thời xuất hiện các vết nứt mới ở
các vị trí khác Các vết nứt cũ và mới nối liền với nhau và nỗi với mạch vữa đứng
Trang 21làm cho khối xây dần bị phân thành những nhánh đứng độc lập chịu các tải trọng
nén lệch tâm khác nhau (Hình 1.13, b,c)
• Giai đoạn III: Khi lực nén tiếp tục tăng lên, khối xây xẽ bị phá hoại, gọi giá trị lực
nén lúc này là lực phá hoại Np (Hình 1.13, d)
Nhận xét:
- Thực ra khi khối xây làm việc ở giai đoạn II, nếu lực nén không tăng mà giữ nguyên
giá trị thì các khe nứt vẫn tiếp tục mở rộng và phát triển cho đến khi khối xây bị phá hoại
do tác dụng dài hạn của tải trọng Lực phá hoại do tác dụng dài hạn của tải trọng bé hơn
lực ngắn hạn
- Trong mọi trường hợp, sự xuất hiện vết nứt đầu tiên phải được xem là dấu hiệu
không bình thường, cần phân tích nguyên nhân để có biện pháp xử lý kịp thời
0,7 0,6 0,5
0,8 0,7 0,6
1.4.1.2 Cường độ chịu nén của khối xây
a Cường độ:
• Giới hạn cường độ của khối xây bằng gạch đá, bằng khối lớn, bằng đá hộc chịu nén
đúng tâm được xác định theo công thức của L.I Onhisich:
η)2
1(
g v g
c
R
R b
a AR
Trang 22 A<1 - là hệ số kết cấu, phụ thuộc vào cường độ và loại gạch, được xác định:
g
g nR m
R A
+
+
= 100
η - Hệ số hiệu chỉnh, dùng cho các khối xây có số hiệu vữa thấp, khi
Rv ≥ R0 thì lấy η = 1, khi Rv < R0 thì η được xác định theo công thức:
v R R
R R
2
) 3 ( 0
0 0 0
0 +
− +
• Nhận xét:
o Khi cường độ của gạch đá không đổi thì cường độ khối xây phụ thuộc vào
cường độ của vữa
o Khi Rv = 0, khối xây vừa xây xong, cường độ khối xây Rc = Rcmin > 0
η)1(
min
b
a AR R
Hình 1.14 Quan hệ giữa cường độ của khối xây và cường độ vữa
o Khi cường độ cửa vữa tăng lên vô cùng:
g c
g
c R
R
A tức là bằng phương pháp xây thông thường không thể nào sử dụng hết khả năng chịu nén của gạch đá, cường độ của khối xây
Trang 23luôn bé cường độ của gạch đá Hệ số A đánh giá mức độ hiệu quả của việc sử dụng
cường độ gạch trong khối xây
Bảng 1.3 – Cường độ chịu nén tính toán (R) của khối xây bằng gạch các loại và gạch
gốm có lỗ rỗng thẳng đứng tới 12mm có chiều cao hàng xây 50-150m, được xây bằng vữa
CHÚ THÍCH: Cường độ tính toán của khối xây dùng mác vữa từ 0,4 đến 5 cần phải được
giảm bớt bằng cách nhân với các hệ số sau:
0,85 - khi xây bằng vữa xi măng ít dẻo (không cho thêm vôi hoặc đất sét) hoặc xây bằng
vữa nhẹ và vữa vôi có tuổi dưới 3 tháng;
0,90 - khi xây bằng vữa xi măng (không vôi) có thêm phụ gia hóa dẻo
Cường độ của khối xây bằng các loại gạch, đá khác tra theo bảng 2-8 trong tiêu chuẩn
TCVN 5573-2011
Lưu ý:
Cường độ tính toán chịu nén của khối xây bằng block bê tông rỗng được xác định theo
thí nghiệm Trong trường hợp không có số liệu thí nghiệm thì có thể lấy theo bảng 3
TCVN 5573-2011 với hệ số 0,9; 0,5 và 0,25 khi độ rỗng block tương ứng nhỏ hơn hoặc
bằng 5%; 25% và 45%
b Các yếu tố ảnh hưởng đến cường độ chịu nén của khối xây
• Ảnh hưởng của gạch, đá:
Trang 24o Cường độ của gạch, đá tăng lên thì cường độ của khối xây tăng lên nhưng
với mức độ chậm hơn
o Trong các khối xây bằng gạch có quy cách, khi chiều dày các viên gạch đá
tăng lên thì cường độ của khối xây tăng lên
o Cường độ của khối xây bằng gạch đá có quy cách lớn hơn cường độ của khối
xây bằng đá hộc
o Cường độ của khối xây bằng gạch đá đặc lớn hơn cường độ của khối xây
bằng gạch đá rỗng có cùng quy cách
• Ảnh hưởng của vữa:
o Khi cường độ của vữa tăng lên thì cường độ của khối xây tăng lên, mức độ
tăng lên nhanh khi cường độ của vữa còn thấp sau đó chậm dần và dừng hẳn khi cường độ của vữa khá cao
o Cường độ của vữa trong khỗi xây đá hộc ảnh hưởng lớn đến cường độ khối
xây, còn trong các khỗi xây bằng tảng lớn, cường độ của vữa ảnh hưởng không đáng kể
o Với vữa có biến dạng lớn, bề dày mạch vữa quá lớn sẽ làm giảm cường độ
của khối xây nhất là
o Dùng vữa có độ sệt lớn sẽ làm tăng cường độ của khối xây
o Vữa dùng chất phụ gia, vữa ximăng cứng, vữa vôi dưới 3 tháng tuổi làm
giảm cường độ của khối xây, khi tính toán lấy giảm 10÷15% so với vữa thông thường
• Ảnh hưởng của tuổi khối xây và tính chất tác dụng của tải trọng:
o Tuổi khối xây càng lớn, cường độ của khối xây càng lớn Cường độ khối xây
tăng nhanh trong khoảng thời gian đầu nhưng chậm dần và dừng hẳn khi tuổi khối xây tăng lên
o Nếu khối xây chịu tải trọng dài hạn Ndh < Nn thì sẽ làm tăng cường độ của
khối xây, còn nếu Ndh > Nn thì cường độ của khối xây sẽ giảm đi
o Cường độ của khối xây giảm khi chịu tác dụng của tải trọng lặp
Trang 25• Ảnh hưởng của chất lượng thi công:
o Khi xây, các mạch vữa trải không đều, mạch vữa không đầy, các hàng gạch
xắp xếp không hợp lý làm giảm cường độ cửa khối xây
o Cường độ của khối xây khi xây bằng phương pháp rung chấn động, lớn hơn
cường độ của khối xây khi xây thủ công (Từ 2 ÷ 2.5lần)
1.4.2 Cường độ chịu nén cục bộ, chịu kéo, chịu uốn và chịu cắt của khối xây
1.4.4.1 Cường độ chịu nén cục bộ của khối xây
Giới hạn cường độ chịu nén cục bộ được xác định theo công thức thực nghiệm:
c cb
c c
F
F R
trong đó:
Rc – cường độ chịu nén đúng tâm,
Fcb – diện tích chịu nén cục bộ,
F – diện tích chịu nén tính toán bao gồm diện tích chịu nén cục bộ và một phần
diện tích xung quanh,
Ψ - hệ số phụ thuộc vào loại khối xây và vị trí tải trọng, Ψ = 1÷2,
Trang 26Vật liệu khối xây
Chất tải theo sơ đồ
3 Bê tông rỗng, đá tự nhiên đúng
quy cách và không đúng quy cách
1,2 1,5 1,0
1.4.2.2 Cường độ chịu kéo của khối xây
Tuỳ theo phương tác dụng của lực kéo mà khối xây có thể bị phá hoại theo tiết diện
giằng hoặc không giằng
Trang 27Hình 1.16 Khối xây chịu kéo
a Sự phá hoại chịu kéo theo tiết diện không giằng
Sự phá hoại theo tiết diện không giằng khi lực kéo vuông góc với mạch vữa ngang
và có thể xảy ra theo 1 trong các trường hợp sau:
1 - theo mặt tiếp xúc giữa mạch vữa và gạch
2 - theo mặt cắt qua mạch vữa
3 - theo mặt cắt qua gạch
Thông thường xảy ra theo mặt cắt 1-1 hoặc 2-2 Trường hợp phá hoại theo mặt cắt qua
gạch chỉ xảy ra khi cường độ của gạch quá yếu
Khi sự phá hoại xảy ra ở mặt tiếp xúc (1-1), cường độ chịu kéo của khối xây lấy
bằng cường độ lực dính pháp tuyến giữa gạch và vữa:
) / ( 40 1
cm kG R
R R
v
c d
c k
+
=
Khi sự phá hoại xảy ra theo mặt cắt qua vữa, cường độ chịu kéo của khối xây lấy
bằng cường độ chịu kéo của vữa
b Sự phá hoại chịu kéo theo tiết diện giằng
Sự phá hoại theo tiết diện giằng khi lực kéo song song với mạch vữa ngang và có thể
xảy ra theo 1 trong các trường hợp sau:
1 – theo tiết diện đi qua các mạch vữa đứng và các viên gạch
2 – theo tiết diện cài răng lược
3 – theo tiết diện bậc thang
Nhận xét:
- Phần lớn xảy ra sự phá hoại theo tiết diện 2-2 hoặc 3-3
- Khi xác định cường độ chịu kéo của khối xây, bỏ qua sự tham gia chịu lực của các
mạch vữa đứng vì thành phần lực dính pháp tuyến của gạch và mạch vữa đứng
gần bằng 0 do hiện tượng co ngót của vữa và do vữa lấp không đầy các mạch
đứng.Khả năng chịu kéo của khối xây do lực dính tiếp tuyến giữa gạch và mạch
Trang 28vữa ngang quyết định Theo các kết quả thực nghiệm thì cường độ lực dính tiếp
tuyến lớn hơn cường độ lực dính pháp tuyến khoảng 2 lần
Cường độ chịu kéo khối xây khi sự phá hoại theo mặt cắt 2-2 hoặc 3-3:
c
Trong đó:
Rd - là cường độ của lực dính tiếp tuyến giữa gạch và mạch vữa ngang
ν = d/a - là độ giằng vào nhau của các viên gạch
d - chiều sâu đoạn giằng vào nhau của viên gạch
a - chiều dày một lớp khối xây
Với khối xây bằng gạch, đá có quy cách mà d ≥ a, cho phép lấy ν =1; với khối xây
ν’ = Fg/ F - hệ số kể đến sự giảm yếu của tiết diện do bỏ qua mạch vữa đứng
Fg - diện tích tiết diện gạch bị cắt qua không kể các mạch vữa
1.4.2.3 Cường độ chịu uốn của khối xây
Khối xây có thể làm việc chịu uốn theo tiết diện giằng hoặc không giằng Uốn theo
tiết diện giằng khi mặt phẳng uốn song song với mạch vữa ngang, còn khi mặt phẳng uốn
vuông góc với mạch vữa ngang thì xảy ra trường hợp uốn theo tiết diện không giằng
Trang 29Hình 1.17 Phá hoại chịu uốn theo tiết diện giằng
Hình 1.18 Phá hoại chịu uốn theo tiết diện không giằng
Cường độ chịu uốn của khối xây được lấy bằng:
Rcku = 1.5Rck, (1.16)
1.4.2.4 Cường độ chịu cắt của khối xây
Trang 30Khối xây có thể làm việc chịu cắt theo tiết diện giằng hoặc không giằng Cắt theo
tiết diện không giằng khi lực cắt nằm dọc theo mạch vữa ngang, khi lực cắt vuông góc với
mạch vữa ngang thì xảy ra trường hợp cắt theo tiết diện giằng
Hình 1.19 Phá hoại chịu cắt theo tiết diện không giằng và giằng
a) – Theo tiết diện không giằng; b) – theo tiết diện giằng Cường độ chịu cắt trong trường hợp khối làm việc theo tiết diện không giằng:
Rcc = Rd + f σ0, (1.17) trong đó:
Rd - Lực dính tiếp tuyến giữa gạch và mạch vữa ngang,
f - Hệ số ma sát giữa gạch và mạch vữa ngang,
σ0 - Là ứng suất nén do lực nén dọc gây ra,
Cường độ chịu cắt trong trường hợp khối làm việc theo tiết diện giằng:
trong đó: Rcg là cường độ chịu cắt của gạch
Bảng 1 Cường độ tính toán Rk, Rku, Rc,, Rkc của khối xây bằng gạch, đá đặc với vữa xi
măng vôi hoặc vữa vôi khi khối xây bị phá hoại theo mạch vữa ngang hay đứng
Bảng 1.15 - Cường độ tính toán R k , R ku , R c , R kccủa khối xây bằng gạch đá đặc với vữa xi măng
vôi hoặc vữa vôi khi khối xây bị phá hoại theo mạch vữa ngang hay đứng
Loại trạng thái ứng suất Trị số R (MPa)
Khi mác vữa Khi
cường độ
Trang 31vữa
≥ 5 2,5 1 0,4 0,2
A Kéo dọc trục, R k
1 Theo mạch không giằng đối với mọi loại
khối xây (lực dính pháp tuyến, Hình 1) 0,08 0,05 0,03 0,01 0,050
2 Theo mạch giằng (cài răng lược, Hình 2)
a) đối với khối xây gạch đá có hình đều đặn 0,16 0,11 0,05 0,02 0,010
B Kéo khi uốn, R ku
1 Theo mạch không giằng đối với mọi loại
khối xây và mạch nghiêng bậc thang (ứng suất
kéo chính khi uốn R kc ) 0,12 0,08 0,04 0,02 0,010
1 Theo mạch không giằng đối với mọi loại
khối xây (lực dính tiếp tuyến) 0,16 0,11 0,05 0,02 0,010
2 Theo mạch giằng đối và đối với khối xây đá
CHÚ THÍCH 1: Cường độ tính toán của khối xây ghi ở Bảng 9 cần được nhân với hệ số:
0,70 - đối với khối xây bằng gạch silicát thông thường, còn khối xây bằng gạch silicát
được sản xuất bằng các loại cát nhỏ được lấy theo số liệu thực nghiệm Khi tính theo
trạng thái mở rộng khe nứt theo công thức (61) cường độ tính toán R ku của khối xây
bằng mọi loại gạch silicát được lấy theo Bảng 9 (không có hệ số);
0,75 - đối với khối xây không rung, xây bằng vữa xi măng ít dẻo không có chất phụ gia
vôi hoặc đất sét;
1,25 - đối với khối xây gạch rung được chế tạo bằng gạch đất sét ép dẻo;
1,40 - đối với khối xây gạch rung bằng bàn rung khi tính với tổ hợp tải trọng đặc biệt
CHÚ THÍCH 2: Khi tỉ số giữa chiều sâu liên kết cài răng lược và chiều cao một hàng
xây của khối xây bằng gạch đá có hình đều đặn nhỏ hơn 1 thì cường độ tính toán R k và
R kutheo mạch giằng được lấy bằng các trị số ghi ở Bảng 9 nhân với tỉ số đó
2 Biến dạng của khối xây
Trang 32Khối xây là vật liệu đàn hồi dẻo, dưới tác dụng của tải trọng, biến dạng ε bao gồm
biến dạng đàn hồi và biến dạng dẻo, quan hệ giữa ứng suất (σ) và biến dạng (ε) là một
đường cong
Hình 1.20 Biểu đồ ứng suất-biến dạng của khối xây
a Môđun biến dạng của khối xây:
Môđun biến dạng của khối xây được xác định:
ε
σϕ
d
d tg
E
1.1
10
σ, (1.20) Trong đó: E0 - là môđun biến dạng ban đầu của khối xây (khi σ = 0, E0 = tgϕ0)
E0 = αRc (Theo nghiên cứu thực nghiệm)
α - là đặc trưng đàn hồi của khối xây lấy phụ thuộc vào dạng khối xây và số
hiệu vữa (Bảng 3.3)
Trong thực hành tính toán kết cấu có thể lấy:
E = 0,8E0 - khi tính toán theo THGH I
E = 0,5E0 - khi tính toán nội lực kết cấu siêu tĩnh có khối xây cùng làm việc
với
các vật liệu khác
Trang 33b Các yếu tố ảnh hưởng đến biến dạng của khối xây:
- Biến dạng của khối xây gồm biến dạng của vữa, gạch, và lớp tiếp xúc giữa
vữa và gạch trong đó biến dạng của vữa và lớp tiếp xúc là chủ yếu, biến dạng của gạch rất nhỏ
- Biến dạng của vữa phụ thuộc vào loại vữa, tổng chiều dày của vữa, số lượng
mạch vữa, mức độ tiếp xúc giữa gạch và vữa
- Khối xây tăng biến dạng theo thời gian khi chịu tác dụng dài hạn của tải
trọng, đây là hiện tượng từ biến của khối xây Talk: Nếu khối xây chịu ứng suất nén nhỏ, N<N n , thì từ biến diễn ra nhanh trong thời gian đầu sau đó tắt dần và dừng hẳn sau vài năm Nếu ứng suất nén trong khối xây vượt quá ứng suất phát sinh vết nứt thì từ biến không tắt dần mà tiếp tục phát triển cho đến khi khối xây bị phá hoại
- Khối xây còn bị biến dạng do co ngót Biến dạng do co ngót phụ thuộc vào
tính chất của vữa và gạch đá, khối xây dùng vữa ximăng có co ngót lớn hơn khối xây dùng vữa vôi, khối xây dùng gạch silicát hoặc gạch bêtông có co ngót lớn hơn khối xây dùng gạch nung
CHƯƠNG II NGUYÊN LÝ TÍNH TOÁN VÀ CẤU TẠO KẾT CẤU GẠCH ĐÁ
(3tiết)
2.1 Khái niệm chung
Kết cấu gạch đá được sử dụng từ rất lâu, nhưng suốt trong một thời gian dài nó chỉ được
xây dựng theo kinh nghiệm Mãi đến cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 khi vật liệu gạch đá
được sử dụng nhiều người ta mới bắt đầu nghiên cứu về sự làm việc của khối xây gạch đá
và đề ra phương pháp tính toán
a Phương pháp ứng suất cho phép
Phương pháp này được tiến hành dựa theo các phương pháp của sức bền vật liệu
Nội dung phương pháp:
Trang 34trong đó:
σ - là ứng suất tính toán trong kết cấu
[σ] - là ứng suất cho phép của khối xây gạch đá
o Phương pháp tính này không phù hợp với khối xây gạch đá, không phản ánh
đúng bản chất làm việc thực của kết cấu gạch đá, giả thiết vật liệu là đàn hồi, đồng nhất là không đúng
o Chưa tận dụng hết khả năng làm việc của kết cấu, gây lãng phí
b Phương pháp nội lực phá hoại
Phương pháp này bắt đầu được sử dụng từ giữa thế kỷ 20
• Nội dung của phương pháp:
trong đó:
Np - là nội lực gây phá hoại kết cấu, được tính toán với cường độ khối xây và
đặc trưng hình học của kết cấu
N - là nội tính toán trong kết cấu
Trang 35o Tiết kiệm vật liệu
• Nhược điểm:
o Chỉ kể đến được một hệ số an toàn chung cho kết cấu, chưa phân tích điều
kiện ảnh hưởng đến nó
o Chưa xét đến yếu tố biến dạng và phát triển khe nứt trong kết cấu gạch đá
Trong khoảng vài chục năm trở lại đây, bắt đầu từ năm 1955, ở Liên Xô và một số nước
đã bắt đầu áp dụng phương pháp tính toán theo trạng thái giới hạn (THGH) Phương
pháp này ngày càng được phổ biến và phát triển rộng dãi Ta sẽ xem xét nội dung của
phương pháp này trong một mục riêng dưới đây
2.2 Phương pháp tính toán theo TTGH
a Khái niệm:
• Trạng thái giới hạn là trạng thái mà từ đó trở đi kết cấu không thoả mãn các yêu
cầu được đặt ra ban đầu cho nó
• Kết cấu gạch đá được tính toán theo hai nhóm trạng thái giới hạn: TTGH I - theo
khả năng chịu lực và TTGH II - theo điều kiện sử dụng bình thường
b Trạng thái giới hạn I (theo khả năng chịu lực)
• Là trạng thái kết cấu bắt đầu không chịu thêm lực được nữa vì bắt đầu bị phá hoại
hay bị mất ổn định
• Điều kiện tính toán:
trong đó:
T - là nội lực bất lợi nhất trong kết cấu do tải trọng tính toán gây ra
Tgh - là khả năng chịu lực bé nhất của kết cấu: M, Mx, N, Q
• Tính toán theo TTGH I cho mọi loại kết cấu và trong mọi giai đoạn: thi công, sử
dụng và sửa chữa
c Trạng thái giới hạn II (theo điều kiện sử dụng bình thường)
• Là trạng thái đảm bảo điều kiện hạn chế về độ biến dạng, bề rộng khe nứt, độ dao
động của kết cấu
Trang 36• Điều kiện tính toán:
Về biến dạng: f≤ fgh
Về bê rộng khe nứt: Δ ≤ Δgh
trong đó:
f, Δ - là độ biến dạng và bể rộng khe nứt do tải trọng tiêu chuẩn gây ra
fgh, Δgh - là giá trị giới hạn về độ biến dạng và bể rộng khe nứt
Việc tính toán kết cấu gạch đá theo điều kiện về khe nứt hiện còn khó khăn, trên thực tế
vẫn dùng cách tính toán quy ước bằng cách hạn chế ứng suất kéo trong khối xây hoặc
hạn chế ứng suất trong cốt thép dọc vùng kéo
2.3 Cường độ của khối xây
a Cường độ tiêu chuẩn
n
R R
R
trong đó: R1, R2, Rn là cường độ của các mẫu thử; n - là số lượng mẫu thử
b Cường độ tính toán của khối xây
k
R m R
c
trong đó:
- k - là hệ số an toàn k = 2 khi chịu nén, k = 2,25 khi chịu kéo
- m - hệ số điều kiện làm việc được lấy như sau:
- m = 0,8 - với trụ và mảng tường giữa 2 ô cửa có diện tích tiết diện ngang ≤
0.3m2
- m = 0,6 - với tiết diện tròn không có lưới thép, xây bằng gạch thường
- m = 1,25 - khi k.tra cường độ khối xây chịu nén của các công trình chưa xây
xong
- m = 1,1 - khi tính toán khối xây chịu nén mà tải trọng đặt vào khi khối xây
đã khô cứng (quá 1 năm tuổi)
Chú ý: Giá trị R được cho sẵn trong các bảng 2-8 TCVN 5573-2011 tuỳ thuộc vào
loại khối xây, là loại cường độ tính toán gốc chưa kể đến hệ số điều kiện là việc m
Trang 37Cường độ tính toán của cốt thép trong khối xây
c t
R - cường độ tiêu chuẩn của cốt thép lấy theo bảng 4.1;
kt – hệ số an toàn lấy bằng: 1,1÷ 1,25 đối với cốt cán nóng, 1,5÷ 1,75 – đối với
sợi thép kéo nguội và sợi thép cường độ cao;
mt – hệ số điều kiện làm việc lấy trong khoảng: 0,5÷ 0,9
2.4 Các dạng khối xây gạch đá
2.4.1 Phân loại khối xây gạch đá
a Theo hình dáng của gạch, đá trong khối xây:
• Khối xây gạch đá có quy cách:
o Khối xây từ các loại khối lớn có chiều cao mỗi hàng xây lớn hơn 500mm
o Khối xây từ đá thiên nhiên có chiều cao mỗi hàng xây từ 150 ÷ 350mm
o Khối xây từ gạch và đã nhỏ có chiều cao mỗi hàng xây từ 50 ÷ 150mm
• Khối xây gạch đá không có quy cách:
o Khối xây đá hộc
o Khối xây bêtông đá hộc
b Theo cấu tạo khối xây:
• Khối xây đặc;
• Khối xây có lỗ rỗng;
• Khối xây nhiều lớp: Làm từ ít nhất 2 lớp vật liệu khác nhau;
• Khối xây hỗn hợp: Gồm nhiều lớp vật liệu khác nhau cùng làm việc chung;
• Khối xây kết hợp: Chỉ có một lớp chịu lực, còn lại là các lớp trang trí hay cách âm,,
cách nhiệt;
• Khối xây có đặt cốt thép;
• Khối xây có gia cường bằng lớp bọc ngoài
2.4.2 Các chỉ dẫn thiết kế kết cấu khối xây bằng gạch đá (Mục 10 TCVN 5573-2011)
Trang 38Hình 2.1 Liên kết giằng trong khối xây
2.4.2.1 Các chỉ dẫn chung
2.4.2.1.1 Cần phải kiểm tra cường độ của tường, cột, mái đua và những cấu kiện khác
trong giai đoạn thi công và giai đoạn sử dụng Trong giai đoạn thi công, các cấu kiện của
sàn như dầm, bản, tấm sàn… tùy theo tiến độ xây lắp, có thể phải tựa trên khối xây mới
xong
2.4.2.1.2 Các cấu kiện có kích thước lớn (như tấm tường, khối xây lớn…) phải được
kiểm tra bằng tính toán trong giai đoạn chế tạo, vận chuyển và dựng lắp Trọng lượng bản
thân của cấu kiện lắp ghép được tính với hệ số động lực lấy bằng 1,8 khi vận chuyển và
bằng 1,5 khi nâng cẩu, lắp ghép; khi đã kể đến hệ số động lực thì không kể đến hệ số vượt
tải nữa
2.4.2.1.3 Yêu cầu tối thiểu về liên kết trong khối xây đặc bằng gạch hoặc đá có hình dạng
vuông vắn (ngoại trừ tấm gạch rung) như sau:
a) Đối với khối xây bằng gạch có chiều dày đến 65 mm - một hàng gạch ngang cho sáu
hàng gạch dọc; còn đối với khối xây bằng gạch rỗng có chiều dày đến 65 mm - một hàng
gạch ngang cho bốn hàng gạch dọc;
b) Đối với khối xây bằng đá có chiều cao một hàng xây từ 200 mm trở xuống (một hàng
ngang cho ba hàng dọc)
2.4.2.1.4 Cần phải chống ẩm cho tường và cột Nước mao dẫn có thể thấm vào tường từ
phía móng hoặc vỉa hè do vậy lớp cách nước phải nằm trên vỉa hè hoặc trên bề mặt móng
Lớp cách nước cũng phải đặt dưới nền tầng hầm
Đối với bậu cửa, tường chắn mái hoặc những bộ phận khối xây nhô ra phải chịu tác động
của nước mưa thì phải có lớp bảo vệ bằng vữa xi măng hoặc tôn lá Các bộ phận nhô ra
này cần có độ dốc thích hợp để thoát nước
Trang 392.4.2.1.5 Khối xây không có cốt thép được chia ra bốn nhóm tùy theo loại khối xây và
cường độ của gạch, cường độ của vữa (xem Bảng 2.1)
4.2.1.6 Tùy thuộc vào sơ đồ kết cấu của nhà, tường gạch được chia ra:
- Tường chịu lực: ngoài việc chịu trọng lượng bản thân và tải trọng gió còn phải chịu tải
trọng truyền từ sàn tầng, mái, cầu trục…;
- Tường tự chịu lực: chịu tải trọng do trọng lượng bản thân tường của tất cả các tầng nằm
phía trên của nhà và tải trọng gió;
- Tường không chịu lực (kể cả tường treo): chỉ chịu tải trọng do trọng lượng bản thân
tường và tải trọng gió trong phạm vi một tầng khi chiều cao tầng không quá 6 m; khi
chiều cao tầng lớn hơn thì các tường này thuộc loại tường tự chịu lực;
- Vách ngăn: các tường bên trong chỉ chịu tải trọng do trọng lượng bản thân và tải trọng
gió (khi các cửa sổ mở) trong phạm vi một tầng khi chiều cao của nó không quá 6 m; khi
chiều cao tầng lớn hơn thì các tường loại này được qui ước gọi là tường tự chịu lực
Bảng 2.1 - Phân nhóm khối xây
1 Khối xây bằng gạch hoặc
đá mác 50 và lớn hơn Vữa mác 1 và lớn hơn Vữa mác 0,4 - -
2 Khối xây bằng gạch hoặc
đá mác 35 và 25
- Vữa mác 1
và lớn hơn
Vữa mác 0,4
6 Khối xây bằng gạch mộc - - Vữa vôi Vữa đất
sét
7 Khối xây bằng đá hộc - Vữa mác 5
và lớn hơn Vữa mác 2,5 và 1 Vữa mác 0,4
8 Bê tông đá hộc Bê tông
mác 100
Bê tông mác 75 và
50
Bê tông mác 35
-
Trang 40Trong những ngôi nhà có tường ngoài tự chịu lực và không chịu lực, tải trọng do sàn,
mái… được truyền vào khung hoặc vào các tường ngang của nhà
2.4.2.1.7 Theo phương nằm ngang, tường và cột gạch tựa vào sàn mái và tường ngang
Những gối tựa này được chia thành gối tựa cứng (không chuyển vị) và gối tựa đàn hồi
Những kết cấu sau đây được xem là gối tựa cứng:
a) Tường ngang bằng gạch và bằng bê tông có chiều dày không dưới 11 cm, tường bê
tông cốt thép có chiều dày không dưới 6 cm, khung ngang có nút cứng và những kết cấu
khác được tính để chịu tải trọng ngang;
b) Sàn và mái khi khoảng cách giữa các tường (hoặc khung) ngang (như ở 4.2.1.7a)
không vượt quá những giá trị cho trong Bảng 2.2;
c) Giàn gió, giằng và các giằng bê tông cốt thép được tính theo cường độ và biến dạng để
chịu tải trọng ngang truyền từ tường vào
Sàn và mái được gọi là gối tựa đàn hồi khi khoảng cách giữa các tường (hoặc khung)
ngang vượt quá giá trị trong Bảng 2.2, mà không có giằng gió, như trong 4.2.1.7c)
2.4.2.1.8 Khi sàn và mái là gối tựa đàn hồi thì tường và cột gạch đóng vai trò cột của
khung ngang mà xà ngang là sàn và mái Khi đó cần được ngàm cứng vào móng Khi tính
nội lực trong khung ngang, độ cứng của tường hoặc gạch xác định theo mô đun đàn hồi
của khối xây E = 0,8E 0 và mô men quán tính của tiết diện được tính theo tiết diện toàn
phần không để đến sự mở rộng các khe nứt ở vùng kéo còn sàn và mái thì được coi là xà
ngang tuyệt đối cứng có liên kết khớp với tường
Bảng 2.2 - Khoảng cách giữa các tường (khung) ngang
Đơn vị tính bằng mét
Loại sàn và mái Khoảng cách giữa các tường (khung)
ngang ứng với nhóm khối xây
ghép (xem chú thích 3) có hoặc không