Nguyên khi dịch trực tiếp từ Hán Việt sang tiếng Trung Quốc và giải pháp khắc phục 91 Trần Đình Bình - Ứng dụng phương pháp dạy học qua dự án trong dạy học ngoại ngữ ở Việt Nam 97 [r]
Trang 2T¹p chÝ Khoa häc vµ C«ng nghÖ
SỐ ĐẶC BIỆT CHÀO MỪNG KỶ NIỆM 10 NĂM THÀNH LẬP
KHOA NGOẠI NGỮ - ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN (2007 – 2017)
TS Lê Hồng Thắng - Bàn về dạy-học ngoại ngữ qua đề án dưới góc độ của giáo học pháp 3 Nguyễn Thị Như Nguyệt, Chu Thành Thúy - Đánh giá năng lực đầu ra tiếng Nga của sinh viên trình độ
A2-B1 theo khung tham chiếu chung châu Âu tại Khoa Ngoại ngữ - Đại học Thái Nguyên 7 Nguyễn Thùy Linh - Kiểm tra đánh giá trong giảng dạy các môn đề án ngôn ngữ - một số chia sẻ từ thực tế 13
Vũ Thị Thanh Huệ - Nhận thức của sinh viên đối với khóa đọc mở rộng trực tuyến với sự trợ giúp của mạng xã
Mai Thị Thu Hân, Nguyễn Thị Liên, Hoàng Thị Tuyết, Dương Thị Ngọc Anh - Tăng cường tính tự học bằng
Dương Đức Minh, Dương Lan Hương - Nghiên cứu về sự tương tác giữa người thuyết trình và khán giả khi học
kỹ năng thuyết trình của sinh viên chuyên ngành tiếng Anh tại Khoa Ngoại ngữ - Đại học Thái Nguyên 31 Phạm Thị Kim Uyên - Sử dụng nhật ký trong dạy biên dịch cho sinh viên chuyên ngữ Đại học Nha Trang 37
Lê Thị Hồng Phúc - Phản hồi của sinh viên về dự án TV show lấy điểm cuối kỳ trong khóa ngữ âm 43 Hán Thị Bích Ngọc - Dạy học ngoại ngữ bên ngoài lớp học - ứng dụng mạng xã hội facebook trong dạy và học
Nguyễn Ngọc Lưu Ly, Quách Thị Nga - Vài nét về việc sử dụng truyền thông đa phương tiện trong giảng dạy
tiếng Trung Quốc trình độ sơ cấp tại Khoa Ngoại ngữ - Đại học Thái Nguyên 55
Lê Thị Hòa, Đậu Thị Mai Phương - Nâng cao kỹ năng thế kỷ 21 trong học tiếng Anh chuyên ngành thông qua
Nguyễn Thị Bích Ngọc, Trần Minh Thành - Phương pháp gia tăng hiệu quả của đề án tạp chí tiếng Anh trong
việc học viết cho sinh viên chuyên ngành tiếng Anh tại Khoa Ngoại ngữ - Đại học Thái Nguyên 67 Hoàng Thị Huyền Trang, Nguyễn Thị Ngọc Anh - Phát triển khả năng đọc hiểu tiếng Anh cho sinh viên ngoại
Nguyễn Quốc Thủy, Nguyễn Thị Đoan Trang - Dạy - học ngoại ngữ qua đề án tạp chí tại trường Đại học Sư
Nguyễn Tuấn Anh - Thiết kế tổ chức dạy học môn báo chí trực tuyến theo hướng học ngôn ngữ qua dự án như
Đỗ Thị Sơn, Đỗ Thị Phượng - Nghiên cứu phân tích lỗi sai của sinh viên Khoa Ngoại ngữ - Đại học Thái
Nguyên khi dịch trực tiếp từ Hán Việt sang tiếng Trung Quốc và giải pháp khắc phục 91 Trần Đình Bình - Ứng dụng phương pháp dạy học qua dự án trong dạy học ngoại ngữ ở Việt Nam 97
Lê Thị Khánh Linh, Lê Thị Thu Trang - Phương tiện biểu đạt thái độ của người kể chuyện trong các chương
Đỗ Thanh Mai, Phùng Thị Thu Trang - Ứng dụng Moodle trong dạy và học trực tuyến học phần tin học đại
Mai Thị Ngọc Anh, Vi Thị Hoa, Phạm Hùng Thuyên - Vận dụng phương pháp dạy học theo dự án trong giảng
Trần Thị Hạnh - Nhận thức của sinh viên về việc ứng dụng Edmodo như một công cụ phụ trợ trong học tập 123 Bùi Thị Ngọc Oanh - Cải thiện kỹ năng nói của sinh viên không chuyên trình độ A2 với dạy học qua đề án 129
Journal of Science and Technology
174 (14)
N¨m 2017
Trang 3Nguyễn Hạnh Đào, Đinh Nữ Hà My - Nghiên cứu tình huống về những khó khăn với người học và điều cần
lưu ý khi giảng dạy môn tiếng Anh chuyên ngành áp dụng phương pháp học qua dự án 135 Nguyễn Thị Kim Oanh - Sử dụng đường hướng học tập theo dự án cho môn học tiếng Anh chuyên ngành tại
Viện Ngoại ngữ, Đại học Bách Khoa Hà Nội: lợi ích, thách thức và đề xuất 141
Vũ Thị Kim Liên - Phát triển năng lực ngữ dụng của sinh viên trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia
Đàm Minh Thủy - Tích hợp kỹ năng trong học ngoại ngữ thông qua dự án làm video “Tìm hiểu ảnh hưởng của
Nguyễn Thị Thu Hoài - Thực trạng thực tập giảng dạy tiếng Anh ở một số trường THPT tại thành phố Thái
Nguyễn Thị Ngọc Anh, Hoàng Huyền Trang - Khảo sát lỗi sai của sinh viên Trung Quốc khi học tiếng Việt
Quách Thị Nga, Đỗ Thị Thu Hiền - Những vấn đề tồn tại của giáo trình đối dịch Trung - Việt ở Việt Nam hiện
nay và giải pháp khắc phục (khảo sát tại Khoa Ngoại ngữ - Đại học Thái Nguyên) 171 Phan Thanh Hải - Hướng tới một chương trình đào tạo cử nhân sư phạm tiếng Anh dựa trên các đề án học tập
Lê Vũ Quỳnh Nga, Lý Thị Hoàng Mến, Nguyễn Thị Thu Oanh - Nâng cao chất lượng bài dịch của sinh viên
Khoa Ngoại ngữ - ĐHTN thông qua việc áp dụng phương pháp học tập hợp tác 183 Đoàn Thị Thu Phương - Phong cách học ngoại ngữ của học sinh lớp 11, Nam Định 189 Đinh Thị Liên, Nguyễn Thị Ngọc Anh - Hệ thống biểu tượng trong Then Tày 197
Trang 4Đinh Thị Liên và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 174(14): 197-202
197
HỆ THỐNG BIỂU TƯỢNG TRONG THEN TÀY
Đinh Thị Liên*, Nguyễn Thị Ngọc Anh
Khoa Ngoại ngữ - ĐH Thái Nguyên
TÓM TẮT
Hát Then gần gũi và quen thuộc với người Tày, là hình thức sinh hoạt tín ngưỡng của người Tày
Vì vậy việc nghiên cứu hát Then của người Tày là cần thiết, từ đó có thể giới thiệu một số nét đặc sắc của nghệ thuật dân gian dân tộc Tày trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam Trong bài viết này, chúng tôi bước đầu tìm hiểu lớp từ ngữ và giới thiệu đến bạn đọc hệ thống những biểu tượng văn
hóa được thể hiện qua văn bản Then Tày những khúc hát của tác giả Hoàng Triều Ân dưới góc
nhìn Ngôn ngữ học, Văn hóa học Qua đó, người viết hi vọng góp phần khẳng định giá trị văn học của thể loại văn nghệ dân gian đậm chất linh thiêng, huyền bí, và đồng thời cũng nhằm tôn vinh vốn tài sản văn hóa vô giá này của người Tày
Từ khóa: Hát Then, dân tộc Tày, biểu tượng, văn hóa Tày, văn nghệ dân gian
MỞ ĐẦU *
Người Tày có một vốn văn hóa đa sắc thể
hiện trong phong tục tập quán, trang phục nhà
cửa và những phương thức lưu truyền các thể
loại văn nghệ dân gian như cổ tích, thần thoại
và không thể không kể đến vốn âm nhạc –
một phương tiện bảo lưu đặc sắc nét văn hóa
tộc người Âm nhạc dân gian của người Tày
là hát Then – một loại hình âm nhạc dùng
trong sinh hoạt cộng đồng và cúng lễ [4] Hát
Then và gảy đàn Tính là một trong những thứ
“đặc sản” tinh thần của hai dân tộc Tày và
Nùng ở vùng Đông Bắc Việt Nam, chủ yếu là
ở 6 tỉnh: Cao - Bắc - Lạng - Thái - Tuyên - Hà
và một phần của Bắc Giang, Quảng Ninh,
Yên Bái Ngày nay, làn điệu hát Then và cây
đàn Tính cũng đã theo đồng bào Tày, Nùng
vào làm ăn ở một số tỉnh phía Nam: Đắc Lắc,
Đắc Nông, Bình Phước, Phú Yên, Đồng Nai,
Lâm Đồng [3]
Nét đẹp văn hóa của dân tộc Tày phản ánh
qua Then bằng nhiều hình thức khác nhau
Then của người Tày vô cùng phong phú và đa
dạng, bên cạnh những lời Then cổ các nghệ
nhân còn sáng tác thêm lời mới, nhưng giá trị
văn hóa lưu giữ và phản ánh sắc nét nhất phải
kề đến dòng Then cổ còn được lưu giữ đến
hôm nay Trong số những bản Then còn lưu
đến ngày nay, phải kể đến một công trình sưu
*
Tel: 0975615248; Email: liennn85@gmail.com
tầm khá công phu và đầy tâm huyết của nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Tày – Hoàng
Triều Ân với cuốn Then Tày những khúc hát
Ông đã ghi chép lại những khúc hát Then
(chủ yếu là Khúc hát Then cúng bái) Cụ thể,
đó là những khúc Then trong Lễ kì yên, cầu
chúc và Then lễ hội mà ông trực tiếp sưu tầm
được ở thầy Dàng làm Then tên Hoàng Ích Khải (pháp danh là Hoàng Hưng) quê ở Nga
Ổ, Thượng Lang - Cao Bằng, nay là Bản Mom, xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng Đó là văn bản được sử dụng làm ngữ liệu trong bài viết này
Sự nghiên cứu Then Tày đã cho thấy bên cạnh ý nghĩa tâm linh, những chương đoạn Then còn chứa đựng những giá trị văn học độc đáo (về phương diện phản ánh và hình thức) Một trong những giá trị văn học đáng
kể nhất trong Then là ở phương diện ngữ nghĩa (được phản ánh qua những biểu tượng)
Đó chính là sự phản ảnh những nét nghĩa của lớp từ ngữ tạo nên nội dung của tác phẩm nhằm phản ánh hiện thực theo một chiều hướng tư tưởng nhất định [3]
NỘI DUNG Kết quả khảo sát Trong quá trình khảo sát tác phẩm, chúng tôi
đã khảo sát 3 lớp từ ngữ tiêu biểu làm ngữ liệu cho bài viết, cụ thể: lớp từ ngữ chỉ con vật; lớp từ ngữ chỉ thực vật và lớp từ ngữ chỉ hiện tượng tự nhiên
Trang 5Đinh Thị Liên và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 174(14): 197-202
Trong Then Tày, lớp từ ngữ biểu thị những sự
vật, hiện tượng tự nhiên trong đó có các từ ngữ
chỉ động vật rất phong phú Đó là những vật
nuôi gần gũi, là muông thú trong rừng sâu, núi
thẳm, và trong đó có cả những con vật là kết
quả của sự hư cấu, tưởng tượng
Qua kết quả thống kê, có thể thấy thế giới
động vật trong Then Tày tương đối đa dạng
(39 từ ngữ) với 335 lượt dùng Xuất hiện
nhiều nhất là mạ (ngựa) và mèng ngoảng (ve
sầu) với 35 lượt (10.45%); thứ hai là luồng
(rồng) với 29 lượt (8.66%); thứ ba là nộc
(chim) với 25 lượt (7.46%); thứ tư là dạng
(voi) với 23 lượt (6.87%); đồng vị trí thứ năm
là vài (trâu) và phượng (chim phượng) với 19
lượt (5.67%); thứ sáu là ẻn (én) với 16 lượt
(4.78%)
Lớp từ ngữ biểu thị thế giới thực vật cũng
rất đa dạng Đó là những loài hoa, rau, cây,
củ, quả quen thuộc với người Tày
Có thể thấy, lớp từ ngữ chỉ thực vật trong
Then Tày khá phong phú Xuất hiện nhiều
nhất là mộc hương (mộc hương) với 13 lượt
(9.85%); thứ hai là mạy khoang (trúc) với 11
lượt (8.33%); đồng vị trí thứ ba là liễu (hoa
liễu), mạy (gỗ) với 6 lượt (4.55%) Các từ ngữ
còn lại xuất hiện với tần số thấp, thậm chí có
những từ ngữ chỉ xuất hiện 1 lần như: bioóc
nguộn (hoa ngón), mác mặn (quả mận), cam
thảo (cam thảo) (0.76%)
Sự vật, hiện tượng tự nhiên gồm nhiều
loại: rài (cát), đin (đất), nặm (nước), thin
(đá)… Chúng rất gần gũi với con người,
bao quanh và có ảnh hưởng rất lớn đến sự
tồn tại của con người
Lớp từ ngữ chỉ các hiện tượng tự nhiên khá
phong phú nhưng tần số xuất hiện không như
nhau, cụ thể là từ nặm (nước) có tần số xuất
hiện cao nhất với 99 lượt (32.67%); thứ hai là
từ phja (núi) với 80 lượt (26.40%); tiếp theo là
tàng (đường) với 50 lượt (16.50%); thứ tư là
kiều (cầu) với 20 lượt (6.60%); tiếp đến là
đông (rừng) với 17 lượt (5.61%); thứ sáu là lừa
(thuyền) với 8 lượt (2.64%) Có rất nhiều từ
ngữ chỉ xuất hiện một lần như: đét (nắng),
moóc (sương), đin (đất), phân (mưa)
(0.33%),…
Một số biểu tượng văn hóa trong Then Tày Qua khảo sát, có thể thấy các biểu tượng tiêu biểu trong sinh hoạt đời thường phản ánh qua
Then là ngoảng (ve sầu), mạ (ngựa), luồng (rồng), bioóc (hoa), nặm (nước), phja (núi),… Dưới đây, xin chọn hình ảnh ngoảng (ve sầu)
và luồng (rồng), bioóc (hoa) để phân tích làm
rõ một số biểu tượng văn hóa của người Tày qua các từ ngữ này
Biểu tượng ngoảng (con ve) Ngoảng có nghĩa là “con ve” Từ ngoảng xuất
hiện với tần số nhiều nhất trong lớp từ ngữ
chỉ con vật trong Then Tiếng kêu của ngoảng
mỗi khi hè về như miên man vang xa mãi nơi núi rừng gợi lên trong lòng người nghe những nỗi hoài vọng không dứt Hình dáng mới của
ngoảng mỗi khi lột xác cũng trở nên đầy ý
nghĩa Nó trở thành một biểu tượng không thể thiếu trong văn hóa dân gian Tày Vì thế
ngoảng trở thành hình ảnh ước lệ mỗi khi
nhắc đến giọng hát của Then
Tiếng ngoảng- khát vọng về một ước nguyện
cao đẹp Trong diễn xướng Then Tày, giọng hát của Then có lôi cuốn được người thưởng thức hay không, có lay động được thần linh
hay không là do xúc cảm từ giọng hát - giọng phải như tiếng ngoảng kêu Vì thế, mỗi lần
khai giọng, thầy Then theo thói quen phải xin
giọng giống ngoảng và gọi nó là mẻ (mẹ):
Giờ đây mọn khay pác Giờ miảc mọn khay hênh Khay pác đuổi mẻ mèng Khay hênh đuổi mẻ ngoảng…
[1; 328]
(Giờ đẹp tiện Then mở miệng Giờ lành tiện Then mở lời
Mở miệng với mẹ ong
Mở lời với mẹ ve…)
Trang 6Đinh Thị Liên và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 174(14): 197-202
199
Bên cạnh đó, tiếng ngoảng cũng là dấu hiệu của thời gian thực tại Trong Then, đường đi của quân Then lên mường trời vô cùng khổ ải, đi đến đâu không thể đo được Lúc này tiếng ngoảng
như một dấu hiệu đánh thức:
Mạ chúa lót đại ngản sơn dương
Luồng tiên thâng đông luông ngoảng roọng…
[1; 541]
(Ngựa chúa lọt đại ngàn sơn lâm Rồng tiên đến rừng sâu ve gọi…)
Tiếng ngoảng tha thiết gợi nhớ những việc đã qua Đoàn quân Then trên hành trình của mình có những phút xao lòng nhớ về quê hương, bản quán Tiếng ngoảng nỉ non trên ngàn nhắc họ về
những nỗi buồn và sự cô đơn:
Xam xiết các quân Then cùng đứng
Tổ quân là trạm nẳng nghỉ ngơi
Đảy nghìn tiểng mèng xui buồn toọng…
[1; 544]
(Thảm thiết các quân Then cùng đứng Đội quân tìm nơi ngồi nghỉ ngơi Được nghìn tiếng ve kêu buồn lòng…)
Trong Then, ngoảng còn là biểu tượng cho sự trẻ trung, bất tử Qua mỗi lần lột xác, ngoảng mang
trên mình những dáng vẻ mới, tượng trưng cho sự thay đổi số kiếp con người Người Tày tin rằng ở kiếp này khổ ải thì còn có kiếp sau sung sướng Bắt nguồn từ suy nghĩ mộc mạc đó, họ đã thêu dệt
nên câu chuyện mang màu sắc thần kì, hư ảo Kiếp trước của ngoảng là một cô gái trẻ trung, xinh đẹp nhưng đường tình duyên không như ý, điều này được thuật qua lời ngoảng- kiếp sau của người
Buồn tủi cho số phận của mình, cô gái đã bỏ vào rừng tìm đến cây lá ngón tự tử, hóa hình nên
ngoảng gọi lời thương Với hình dáng mới, ngoảng biến hóa theo thời gian: tháng Năm làm cà
cuống, thánh Bảy làm ve Vì thế, ngoảng trở thành biểu tượng cho cái mới mẻ, sự trẻ trung, khát
khao hạnh phúc:
Bươn chất noọng khỉn phja hất ngoảng
Tiếng ngoảng roọng ong óng nưa phja
Báo sao khoăn siểu mà đuổi ngoảng
Bươn chất roọng tiểng đàn…
[1; 347]
(Tháng bảy lại lên rừng làm ve Tiếng ve kêu ve ve trên núi Trai gái hồn xiêu lạc về núi Tháng bảy gọi tiếng buồn…)
Cuối cùng, ngoảng chính là cầu nối giữa cõi thực và cõi hư Trong những lời Then ta thấy
ngoảng với người có thể chuyện trò cùng nhau Điều này thật hư ảo nhưng có thể đó chính là sự
đồng điệu của con người với thiên nhiên hay với thân phận ngoảng:
Boong ngoảng táng thân thân mình roọng
Các chúa nghìn đát toọng thiết tha
Cám cảnh tản liện tha hất phúc
Tua ngoảng mì gằm chúc báo ân…
[1; 547]
(Bầy ve tự thân kêu cứu Các chúa nghe âu sầu vào dạ Cám cảnh Then làm phúc thả ve
Ve có lời chúc để báo ân…)
Then của người Tày sáng tạo nên biểu tượng ngoảng là một phương cách để khắc phục sự mâu thuẫn giữa cõi tạm (cõi người - cõi tục) với vĩnh cửu, trường tồn (cõi thiêng), giữa những khổ ải
thực tế với khát vọng hướng tới sự vĩnh hằng, tốt đẹp trong cuộc đời
Trang 7Đinh Thị Liên và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 174(14): 197-202
Cặp đôi luồng - ngưởc (rồng - thuồng luồng) trong Then
Đối với người Tày, tua luồng (rồng) - là một hình tượng có vị trí đặc biệt trong văn hóa, tín ngưỡng của tộc người này Đồng thời tua luồng cũng đại diện cho quyền lực của chế độ phong kiến trước đây ở vùng người Tày Trong Then, luồng là biểu tượng cho cái đẹp, cái cao cả trong cuộc sống và thường xuất hiện trong sự đối lập với ngưởc (thuồng luồng)
Trước hết, luồng là biểu tượng cho cái đẹp cao cả trong cuộc sống Trong Then, hình ảnh được lựa chọn để chạm khắc ở chốn linh thiêng là luồng với những dáng vẻ độc đáo, sáng tạo, thể hiện ước mơ của con người Trong khúc Phóng lệ hình ảnh luồng hiện lên với nét mềm mại thanh cao:
Bưởng đâư tạc long phủ, linh quy…
[1; 355]
(Bên trong tạc rồng múa, rùa quỳ…)
Ở một nét chạm khác, vẻ đẹp của luồng lại thể hiện ở sự oai nghiêm tại vị trí rất quan trọng theo quan niệm của người Tày - đó là cửa vào ra:
Long quy phủ xiên vây lộn cửa…
[1; 355]
(Tạc rồng bay trấn cửa ra vào…)
Luồng trong Then Tày còn là biểu tượng của vẻ đẹp cao quý Trang phục các Then được Ngọc
Hoàng ban thưởng sau khi lọc vía hào quang là những chiếc áo thêu hình luồng
Bên cạnh đường nét uốn lượn của luồng trên áo thêu, luồng còn ở cả chiếc mũ đội đầu, gợi lên
một vẻ đẹp linh thiêng trong những lời Then:
Mũa thung thúc vùa ban long khảm
Vẽ rồng bay, phượng hoàng, đào nguyên…
[1; 454]
(Mũ thung thúc vua ban rồng khảm
Vẽ rồng bay, phượng hoàng, đào nguyên…)
Luồng- biểu tượng cho ước mơ, hạnh phúc của người Tày Khi nói đến những quãng đời vui vẻ
tươi đẹp trong năm, người Tày cho rằng đó là khoảng thời gian:
Thả xuân thu có hội rồng bay…
[1;356]
(Chờ xuân thu có hội rồng bay…)
Đồng thời, luồng còn biểu trưng cho khát vọng cao cả của đời người:
Giai học hành lại thêm thi phú
Người khôn thì đỗ đăng khoa
Long hổ ứng phục mà giao hội…
[1; 356]
(Giai học hành lại thêm thi phú Người khôn thì đỗ thủ khoa Long hổ đều quay về giao hội…)
Đối lập với luồng là hình ảnh ngưởc (thuồng luồng) hiện lên với dáng vẻ hung dữ Đặc biệt, trong quan niệm của người Tày, ngưởc thường biến thành những chàng trai, cô gái xinh đẹp để bắt hồn
người trên những khúc sông:
Thua lừa ngoặc lồng vắng
Ngù ngưởc khỉn pắt gần nả nặm…
[1; 586]
(Đầu thuyền quay xuống lối vắng Thuồng luồng lên bắt người mặt nước…)
Ngưởc thường biểu trưng cho cái xấu luôn rình rập, đe dọa con người trong cuộc sống Ngược
lại, luồng lại gắn với những khát vọng lớn lao của con người Cặp hình tượng này tưởng chừng
Trang 8Đinh Thị Liên và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 174(14): 197-202
201
như đối lập, xa vời, không thể nối kết nhưng Then lại giải quyết được vấn đề này Vì vậy, hát Then là cầu nối giữa thực tại nghiệt ngã với những khát khao cao đẹp của con người
Biểu tượng Bioóc - biểu tượng của vẻ đẹp Sự xuất hiện của bioóc khiến thiên nhiên trở nên hiền
hòa, thơ mộng, đầy màu sắc
Vẻ đẹp, sức sống của những nậu bioóc làm cho cảnh vật thơ mộng, tâm hồn con người rung động, xao xuyến Qua lời miêu tả của Then, phủ thành Lâm - không gian tâm linh trong Then Tày thơm ngát hương bioóc Những nậu với bioóc đan xen trong vườn nhỏ làm cho lòng Ngọc
Hoàng cũng thấy ngẩn ngơ:
Nậu đeo nở bách nhụy thơm danh
Nậu khao là nậu đeng hom bioóc
Gừn vằn vua khảu oóc dồm hoa…
[1; 439]
(Một bông nở trăm nhụy thơm lừng
Nụ trắng lại nụ đỏ thơm hoa Đêm ngày vua ra vào ngắm hoa…)
Bioóc cũng trở thành một biểu tượng cho vẻ đẹp của của tiên nữ ở trên trời:
Tiện nự nả khảo xóa như hoa…
[1; 570]
(Tiên nữ mặt trắng xóa như hoa…)
Bioóc từ biểu tượng của vẻ đẹp, nó vì thế đã trở thành biểu tượng cho sự toàn hảo đặc biệt là trong tâm
linh của người Tày Trong sinh hoạt tâm linh, bioóc được lựa chọn làm phương tiện thanh tẩy sự uế tạp:
Mừng thư cáng seng sảo lại quang
Mừng thư cáng bioóc vàng lại quét…
[1; 420 - 421]
(Tay cầm cành thanh thảo lại tẩy rửa Tay cầm cành hoa bưởi lại quét…)
Bioóc trong thiên nhiên đã được nâng lên thành biểu tượng một vị thánh của người Tày- Mẻ Bioóc (Mẹ Hoa) Trong hình dung của người Tày, Mẹ Hoa có tấm lòng nhân ái cao cả, là vị thần
cai quản việc sinh nở dưới nhân gian:
Sổ sinh giú thượng phương Mẻ Bioóc…
[1; 444]
(Số sinh ở trên phía Mẹ Hoa…)
Do đó trong lễ Then của người Tày thuộc phần Then kì yên, cầu chúc có một phần lễ dành riêng cho những người hiếm muộn muốn có mụn con để ấm êm cửa nhà đó là lễ Cái kiều cầu tự Đứa con được sinh ra họ gọi là lủc bioóc (con hoa):
Bioóc te lồng chang sóa đảy an
Hoa niên phòng mà đang đoạn giá
Cái cấu thâng nưa vạ đảy an
Bioóc te lồng dương gian vạn đại…
[1; 413]
(Nụ ấy đưa về nhà được an Hoa ấy nở thân nàng rồi vậy Bắc cầu đến mường trời được an
Nụ đã xuống dương gian vạn đại…)
Đó là những đứa con do Mẻ Bioóc chia, cho nên chúng được yêu chiều hết mức và được gửi vào cửa
Then:
Sinh mì quắc lủc bioóc, doỏc lủc hương…
[1; 412]
(Sinh có mụn con hoa, con hương…)
Trang 9Đinh Thị Liên và Đtg Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ 174(14): 197-202
Như vậy, trong Then Tày, bioóc tượng trưng
cho vẻ đẹp của lí tưởng, vẻ đẹp cao quý của
muôn loài Bioóc là con người, là sức sống
bền vững mãnh liệt, là tuổi trẻ, mùa xuân, là
hạnh phúc, là bản lĩnh, là sự thanh khiết, cao
cả trong đời sống của người Tày
KẾT LUẬN
Hệ thống biểu tượng trong Then Tày khá
phong phú Qua tìm hiểu, có thể có một số
nhận xét như sau:
Thứ nhất, lớp từ ngữ chỉ động vật và thực
vật trong Then đã phản ánh chân thực môi
trường sống tự nhiên của người Tày xưa Đó
là môi trường miền rừng núi hoang sơ, trù
phú với đặc trưng là nền kinh tế tiểu nông tự
cung tự cấp Một số từ ngữ được dùng để ghi
nhận các biểu tượng văn hóa của người Tày
cho ta thấy mối quan hệ gắn bó lâu đời giữa
con người với thiên nhiên trong quá trình
khám phá để chinh phục nó
Thứ hai, sự truyền cảm và có sức cuốn hút
nhất của Then là ở các biểu tượng vốn quen
thuộc trong đời sống hàngngày qua các từ ngữ
đi vào lời Then, đó là: Biểu tượng bioóc (hoa), ngoảng (ve sầu), nặm (nước), phja (núi đèo) và cặp hình tượng luồng (rồng) -ngưởc
(thuồng luồng),… Tóm lại, tất cả các biểu tượng xuất hiện như những đường nét, họa tiết hoa văn đủ màu sắc tô điểm cho chiếc cầu Then nối liền cõi tục với cõi thiêng trong đời sống tâm linh của người Tày
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Triều Ân (2000), Then Tày những khúc hát,
Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội
2 Nguyễn Thị Ngọc Điệp (2002), Biểu tượng
nghệ thuật trong ca dao truyền thống người Việt,
Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Đại học sư phạm TPHCM
3 Dương Thị Thanh Hiên (2000), Hệ thống hình
ảnh biểu tượng trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, Đại học sư
phạm Hà Nội
4 Hoàng Ngọc La (chủ biên) (2002), Văn hóa dân
gian Tày, Sở Văn hóa Thông tin Thái Nguyên,
Thái Nguyên
5 Nguyễn Thị Yên (2006), Then Tày, Nxb Văn
hóa dân tộc, Hà Nội
SUMMARY
THE SYSTEM OF SYMBOLS IN THEN SONGS OF TAY PEOPLE
Dinh Thi Lien*, Nguyen Thi Ngoc Anh
School of Foreign Languages - TNU
Singing Then is the popular form of religious activities of Tay people Therefore, studying about Then is essential for us in order to introduce some of thetypical characteristics in folk art of Tay people – an ethnic group in the community of 54 peoples and culture diversity in Vietnam In this paper, the authors intend to make a study of the vocabulary of Tay people and make an introduction to the readers into a system of cultural symbols expressed in the book “Then Tay – the songs” by Hoang Trieu An from linguistic and cultural perspective The authors hope to help the literary values of this sacred and mysterious folk art be recognized and affirmed, as well as to honor this valuable cultural asset of Tay people
Key words: Singing Then, Tay people, symbols, Tay Culture, folk art
Ngày nhận bài: 15/10/2017; Ngày phản biện: 16/11/2017; Ngày duyệt đăng: 13/12/2017
*
Tel: 0975615248; Email: liennn85@gmail.com
Trang 10oµ soT T¹p chÝ Khoa häc vµ C«ng nghÖ
SCHOOL OF FOREIGN LANGUAGES - TNU (2007-2017)
Nguyen Thi Nhu Nguyet, Chu Thanh Thuy - Students’ Output Competency Assessment in Using Russian
Language at Level A2-B1 on the Basis of Common European Framework of Reference at School of Foreign
Nguyen Thuy Linh - Evaluation and Assessment in Project-Based Learning - Some Practical Suggestions 13
Vu Thi Thanh Hue - Students’ Perception about an Online Extensive Reading Course with the Help of Edmodo 19 Mai Thi Thu Han, Nguyen Thi Lien, Hoang Thi Tuyet, Duong Thi Ngoc Anh - Fostering Learners’
Autonomy through Project Work in an ESP Class at Hoa Lu University: A Case Study 25 Duong Duc Minh, Duong Lan Huong - A Study on the Interaction between the Presenter and Audience in the
Presentation Skill for English Major Students at School of Foreign Languages - Thai Nguyen University 31 Pham Thi Kim Uyen - Use of Journals in Teaching Translation for English Major Students of Nha Trang University 37
Le Thi Hong Phuc - Students’ Responses to the TV Show Project as the End-of-Term Assessment in the
Han Thi Bich Ngoc - Teaching Outside the Classroom - Integrating Social Media into Innovative Language
Nguyen Ngoc Luu Ly, Quach Thi Nga - Some Features in Applying Multimedia Tools into Teaching
Elementary Chinese in School of Foreign Languages - Thai Nguyen University 55
Le Thi Hoa, Dau Thi Mai Phuong - Fostering the 21st Century Skills in Project-Based ESP Learning 61 Nguyen Thi Bich Ngoc, Tran Minh Thanh - Methods to Increase the English Magazine Project Power in the
Study of the English Written Language for English Major Students at School of Foreign Languages - Thai
Hoang Thi Huyen Trang, Nguyen Thi Ngoc Anh - Developing English Language Reading Comprehension
Nguyen Quoc Thuy, Nguyen Thi Doan Trang - Teaching Foreign Languages through Magazine Project at
Nguyen Tuan Anh - PBLL Course Development as a Way of Ensuring a Multidisciplinary Program 85
Do Thi Son, Do Thi Phuong - An Analysis of Students’ Errors at School of Foreign Languages, Thai Nguyen
University in Directly Translating from Sino-Vietnamese Words to Chinese and Solutions 91 Tran Dinh Binh - Application of Project-Based Learning in Language Teaching in Vietnam 97
Le Thi Khanh Linh, Le Thi Thu Trang- Evaluative Devices in Personal Narratives from American and
Do Thanh Mai, Phung Thi Thu Trang - The Application of Moodle in E-Learning and Teaching Informatics
Mai Thi Ngoc Anh, Vi Thi Hoa, Pham Hung Thuyen - Application of Project-Based Learning to the Teaching
of Chinese Excursion at School of Foreign Languages – Thai Nguyen University 117 Tran Thi Hanh - Students’ Perceptions on the Use of Edmodo as a Supplementary Tool in Learning 123 Bui Thi Ngoc Oanh - Using Project-Based Learning to Improve English Speaking Skills of Non-English Major
Journal of Science and Technology
174 (14)
N¨m 2017