Đáng chú ý là tác giả Ma Văn Vịnh trong năm 2016 xuất bản 4 cuốn sách tìm hiểu, dịch, chú thích về Then của người Tày ở Bắc Kạn:Các bài hát Then nghi lễ cúng chữa bệnh “Cứu dân độ thế”
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
HOÀNG THU TRANG
HỆ THỐNG BIỂU TƯỢNG TRONG THEN TÀY
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Thái Nguyên - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
HOÀNG THU TRANG
HỆ THỐNG BIỂU TƯỢNG TRONG THEN TÀY
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.01.21
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Đức Ngôn
Thái Nguyên - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ: Hệ thống biểu tượng trong Then Tày là
kết quả nghiên cứu của riêng tôi, không sao chép của ai Kết quả nêu trong luận văn
là trung thực và chưa được công bố trong các công trình khác Nếu sai, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Tác giả luận văn
Hoàng Thu Trang
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Trần Đức Ngôn, người thầy đã
hướng dẫn tận tình, chu đáo, đầy tinh thần trách nhiệm trong quá trình em thực hiện luận văn
Em xin cảm ơn Ban Giám hiệu, Ban chủ nhiệm Khoa Ngữ Văn và các thầy, cô
giáo Khoa Ngữ văn, phòng Sau đại học - trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã giảng dạy và tạo điều kiện giúp đỡ trong thời gian em học tập tại trường
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Hội đồng chấm luận văn đã đọc và chỉ ra sai sót giúp em hoàn thiện công trình nghiên cứu của mình
Cuối cùng, xin chân thành cảm ơn những người thân, bạn bè đã động viên và nhiệt tình giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập, thực hiện luận văn
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2017
Tác giả luận văn
Hoàng Thu Trang
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 1
3 Mục đích nghiên cứu 5
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 6
6 Phương pháp nghiên cứu 7
7 Những đóng góp của luận văn 7
8 Bố cục của luận văn 8
NỘI DUNG 9
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỂU TƯỢNG VÀ KHÁI QUÁT VỀ THEN TÀY 9
1.1 Cơ sở lý luận về biểu tượng 9
1.1.1 Khái niệm biểu tượng 9
1.1.2 Cấu trúc ngữ nghĩa của biểu tượng 11
1.1.3 Phân loại biểu tượng 15
1.1.4 Vai trò, vị trí của biểu tượng trong thơ ca 16
1.2 Khái quát về Then Tày 18
1.2.1 Khái niệm Then 18
1.2.2 Nguồn gốc và phân loại Then Tày 20
1.2.3 Những nội dung cơ bản của Then Tày 24
1.2.4 Phân loại các biểu tượng trong Then Tày 27
Tiểu kết 28
Chương 2: CỘI NGUỒN VÀ Ý NGHĨA TRỰC TIẾP CỦA CÁC NHÓM BIỂU TƯỢNG TRONG THEN TÀY NHÌN TỪ BÌNH DIỆN CÁI BIỂU HIỆN 30
2.1 Cội nguồn và ý nghĩa trực tiếp của các nhóm biểu tượng có nguồn gốc tự nhiên trong môi trường sinh thái Tày 30
2.1.1 Biểu tượng cây 32
2.1.2 Biểu tượng chim 35
Trang 62.1.3 Biểu tượng hoa 37
2.2 Cội nguồn và ý nghĩa trực tiếp của các nhóm biểu tượng có nguồn gốc nhân tạo trong môi trường văn hóa Tày 40
2.2.1 Nhóm biểu tượng Đàn Tính và Nhạc Xóc 41
2.2.2 Biểu tượng cầu 44
2.2.3 Nhóm biểu tượng mụ Dả Dỉn và lão Pú Cấy 45
Tiểu kết 49
Chương 3: Ý NGHĨA GIÁN TIẾP CỦA CÁC NHÓM BIỂU TƯỢNG TRONG THEN TÀY NHÌN TỪ BÌNH DIỆN CÁI ĐƯỢC BIỂU HIỆN 51
3.1 Ý nghĩa gián tiếp của các nhóm biểu tượng có nguồn gốc tự nhiên trong môi trường sinh thái Tày 51
3.1.1 Ý nghĩa gián tiếp hay ký hiệu mật ngôn của biểu tượng cây 51
3.1.2 Ý nghĩa gián tiếp hay ký hiệu mật ngôn của biểu tượng chim 55
3.1.3 Ý nghĩa gián tiếp hay ký hiệu mật ngôn của biểu tượng hoa 60
3.2 Ý nghĩa gián tiếp của nhóm biểu tượng có nguồn gốc nhân tạo trong môi trường văn hóa Tày 65
3.2.1 Ý nghĩa gián tiếp hay ký hiệu mật ngôn của biểu tượng Đàn Tính và Nhạc Xóc 65
3.2.2 Ý nghĩa gián tiếp hay ký hiệu mật ngôn của biểu tượng cầu 68
3.2.3 Ý nghĩa gián tiếp hay ký hiệu mật ngôn của biểu tượng mụ Dả Dỉn và lão Pú Cấy 71
Tiểu kết 75
Chương 4: GIÁ TRỊ CỦA BIỂU TƯỢNG TRONG THEN TÀY 76
4.1 Giá trị của biểu tượng trong Then Tày với tư cách một phương thức nghệ thuật 76
4.1.1 Là cách diễn đạt hình ảnh, là hư cấu nghệ thuật độc đáo 76
4.1.2 Là nội dung và mục đích biểu trưng mang tư duy mẫn cảm tộc người 81
4.2 Giá trị của biểu tượng với tư cách một thực thể văn hóa Tày 83
4.2.1 Biểu tượng trong Then là ký hiệu văn hóa, văn học truyền thống của người Tày 83
4.2.2 Biểu tượng trong Then mang bản sắc văn hóa tộc người Tày 88
Tiểu kết 91
KẾT LUẬN 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97 PHỤ LỤC
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một quốc gia giàu bản sắc văn hóa với 54 dân tộc anh em chung sống Mỗi dân tộc ở một vùng miền lại mang trong mình một bản sắc văn hóa độc đáo riêng Chính sự đa dạng về văn hóa này đã tạo nên sự phong phú về bản sắc dân tộc, một bức tranh muôn màu trong nền văn hóa Việt Trong sắc mầu văn hóa đó, Then nổi lên là một loại hình nghệ thuật dân gian độc đáo của người Tày Then là một loại hình văn hóa tín ngưỡng có truyền thống lâu đời, trong đó lời Then là một trong những phần tinh túy, giàu giá trị, đậm chất nguyên hợp
Đã có nhiều công trình nghiên cứu công phu về Then và cũng có những kiến giải sâu sắc về nhiều phương diện Tuy nhiên, Then có giá trị nhiều mặt, đặc biệt vừa
có giá trị văn học vừa có ý nghĩa văn hóa Tìm hiểu sâu về biểu tượng - một trong những phương diện nằm trong thế giới nghệ thuật Then để nhận diện, lý giải về giá trị của loại hình nghệ thuật độc đáo này vẫn đem lại cho ta những tri thức mới Tuy nhiên, biểu tượng trong Then chưa được chú ý nghiên cứu một cách hệ thống
Với những lý do trên, chúng tôi chọn Hệ thống biểu tượng trong Then Tày làm
đề tài nghiên cứu cho luận văn Hy vọng hướng tiếp cận này đem lại những nhận thức sâu hơn, mới hơn về Then Tày
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Những nghiên cứu chung về Then Tày
Văn học dân gian trước kia được sáng tác và lưu truyền chủ yếu bằng miệng Trước năm 1945, do hoàn cảnh lịch sử, đất nước ta phải dồn sức cho chiến đấu và bảo
vệ Tổ quốc giành lại độc lập cho dân tộc nên chưa có một công trình nghiên cứu trực tiếp về Then
Từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, đặc biệt là từ Hội nghị bàn về
công tác sưu tầm văn hóa dân gian ở miền Bắc (2/1964), văn hóa dân gian của các
dân tộc thiểu số miền Bắc nói chung và ở vùng Việt Bắc nói riêng được các nhà sưu tầm, nghiên cứu đã đi điền dã, điều tra ở khu vực Việt Bắc và kết quả đã thu được là những cuốn sách Then viết bằng chữ Nôm, Tày, Nùng lưu truyền ở một số địa phương
Sang những năm 1970 của thế kỉ XX, việc nghiên cứu Then thực sự được Đảng và Nhà nước quan tâm đầu tư, nhất là cho việc sưu tầm nghiên cứu và xuất bản sách
Trang 8Cuốn đầu tiên phải kể đến đó là cuốn Lời hát Thencủa Dương Kim Bội do sở
Văn hóa thông tin Việt Bắc xuất bản 1975 Cuốn sách đã giới thiệu nguồn gốc hát Then, mối quan hệ giữa Then, Mo, Tàovà tập hợp một số lời Then ở vùng Việt Bắc Song vì mục đích chính là sưu tầm nên tác giả mới chỉ dừng lại ở việc giới thiệu về lời của Then, chưa đi sâu vào tìm hiểu thế giới nghệ thuật của Then Tày
Mấy vấn đề về Then Việt Bắcdo nhà xuất bản Văn hóa dân tộc ấn hành năm
1978 là cuốn sách có nhiều tín hiệu mới Cuốn sách tập hợp những bản báo cáo, tham luận của một số nhà nghiên cứu trong Viện văn học và ở Việt Bắc sau Hội nghị Sơ kết công tác sưu tầm nghiên cứu Then Việt Bắc năm 1975 Đây là cuốn sách đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện về các mặt của Then như nguồn gốc loại hình, nghệ thuật diễn xướng, thế giới nghệ thuật, yếu tố tâm linh trong Then Do mục đích khái quát của công trình, các tác giả chưa đi sâu tìm hiểu về biểu tượng trong Then Tày
Sli, lượn, dân ca trữ tình Tày Nùng xuất bản năm 1979 của tác giả Vi Hồng là
công trình nghiên cứu đáng chú ý về dân ca Trong công trình này, tác giả đã so sánh Then với các hình thức tín ngưỡng dân gian khác và xem xét mối quan hệ giữa Then với Sli, Lượn, từ đó gián tiếp giới thiệu về Then Tuy chủ yếu nghiên cứu về hình thức dân ca trữ tình song tác phẩm cũng có nhiều đóng góp cho công trình nghiên cứu
về Then, trong đó có nghệ thuật
Bộ Then Tứ Báchcủa Lục Văn Pảo năm 1996 là cuốn sách thuần túy sưu tầm
nhưng cũng giới thiệu sơ qua về Then, trong đó có quan niệm của người Tày về các loài thú, các loài chim, ngũ cốc và hoa
Công trình Tìm hiểu yếu tố tín ngưỡng trong lễ hội của người Tày Nùng ( 1998)
của Nguyễn Thị Yên đã bước đầu tìm hiểu Then dưới góc nhìn văn hóa tâm linh
Đoàn Thị Tuyến với khóa luận tốt nghiệp Đạo Then trong đời sống tâm linh
của người Tày, Nùng Lạng Sơn (1999) quan niệm Then là một thứ đạo và nhấn mạnh
vai trò của Then trong đời sống tinh thần của người Tày ở Lạng Sơn Tuy nhiên, tác giả mới chủ yếu nghiên cứu Then dưới góc độ xã hội học, phạm vi nghiên cứu còn nhỏ lẻ
Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Huệ (Đại học quốc gia Hà Nội) nghiên cứu Then Tày ở Văn Quan – Lạng Sơn (qua trường hợp bà Then Hoàng Thị Bình), luận bàn về những yêu cầu cơ bản của một người làm nghề Then
Trang 9Công trình Then cấp sắc của người Tày (qua khảo sát ở huyện Quảng Hòa –
Cao Bằng) xuất bản năm 2000 của tác giả Nguyễn Thị Yên đã đề cập đến vấn đề tâm linh, tín ngưỡng trong Then qua khảo sát thực tế Song, cuốn sách này mới chỉ về khảo sát lễ cấp sắc ở một địa phương thuộc tỉnh Cao Bằng
Cuốn Then Tày của tác giả Nguyễn Thị Yên, nhà xuất bản văn hóa thông tin ấn
hành năm 2003 là công trình xem xét khá toàn diện về Then Tày như: tổng quan về Then, các vấn đề nội dung, nghệ thuật Then…Nhưng trong công trình này, tác giả tìm hiểu chuyên sâu về Then cấp sắc
Cuốn Nét chung và nét riêng của âm nhạc trong diễn xướng Then Tày Nùng
của tác giả Nông Thị Nhình xuất bản năm 2004 là một công trình khảo cứu công phu
về âm nhạc Then, tuy nhiên tác giả chủ yếu quan tâm đến giai điệu Then, không chú tâm tìm hiểu về nghệ thuật lời hát Then
Luận văn thạc sĩ Văn hóa tâm linh của người Tày qua lời hát Then của Hà
Anh Tuấn (bảo vệ năm 2008 tại Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên) đã đề cập đến đời sống tâm linh của người Tày, xác định tầm quan trọng của Then trong đời sống văn hóa của người Tày
Một loạt các sách sưu tầm, nghiên cứu về Then Tày những năm gần đây cho thấy sức hấp dẫn của Then và sự quan tâm của các nhà nghiên cứu về loại hình văn hóa tín ngưỡng này
Có thể kể ra nhiều công trình nghiên cứu, hoặc vừa sưu tầm tập hợp vừa nghiên cứu theo dòng thời gian như: “Then - một hình thái Shaman của dân tộc Tày ở Việt Nam” của tác giả Ngô Đức Thịnh, đăng trên Tạp chí Văn hóa dân gian năm
2002; Ba cuốn sách dày dặn của Triều Ân: Lễ hội Dàng Then, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2011;Then Tày giải hạn, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2013; Then
Tày lễ Kỳ yên, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội, 2016 là sự ghi nhận cho những nỗ lực sưu
tầm nghiên cứu Then của ông; Hát Then lên chợ mường trời (Khắp Then pay ỉn
dương cươi)của Dương Thị Đại, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2014; Lẩu Then cấp sắc hành nghề của người Tày ở xã Tân Lập, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn của Trần
Văn Ái, Dương Thị Lâm, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2015; Giá trị những bài
Then cổ hay nhất của Nguyễn Thiên Tứ, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2015; Lễ
Trang 10cưới của người Sán Chỉ, Then Hỉn én, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2013;Một số
lễ giải hạn của người Tày, Nùng ở Cao Bằng, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội (2016) của
cùng một tác giả Triệu Thị Mai
Đáng chú ý là tác giả Ma Văn Vịnh trong năm 2016 xuất bản 4 cuốn sách tìm
hiểu, dịch, chú thích về Then của người Tày ở Bắc Kạn:Các bài hát Then nghi lễ
cúng chữa bệnh “Cứu dân độ thế” của người Tày Bắc Kạn, Nxb Hội nhà văn, Hà
Nội, (quyển 1); Các bài hát Then nghi lễ cúng chữa bệnh “Cứu dân độ thế” của
người Tày Bắc Kạn, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội, (quyển 2);Các bài hát Then nghi lễ cấp sắc, tăng sắc của người Tày Bắc Kạn, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội, (quyển 1); Các bài hát Then nghi lễ cấp sắc, tăng sắc của người Tày Bắc Kạn, Nxb Hội nhà văn, Hà
Nội, (quyển 2)…
Những công trình sưu tầm, nghiên cứu trên cung cấp cho chúng ta diện mạo Then Tày nói chung, nét riêng của Then Tày ở một số địa phương nói riêng Tuy nhiên, chưa có cuốn nào tìm hiểu về biểu tượng, phương thức nghệ thuật độc đáo trong Then Tày
2.2 Những nghiên cứu về biểu tượng trong Then Tày
Luận văn Thạc sĩ của Nông Thị Ngọc thực hiện tại trường Đại học sư phạm
Thái Nguyên với đề tài Then Kỳ Yên của người Tày ở Bắc Quang, Hà Giang – Tiếp
cận từ góc độ văn học dân gian (bảo vệ năm 2012) đã giới thiệu về một vùng Then
tiêu biểu ở Hà Giang Trong luận văn này, tác giả chủ yếu đề cập đến nội dung, nghệ thuật Then, trong đó tìm hiểu các biện pháp tu từ - những yếu tố nghệ thuật gần gũi với biểu tượng
Luận văn tốt nghiệp đại học năm 2016 Biểu tượng trong dân ca Tày của tác
giả Vũ Thị Thoa (Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên) cũng bước đầu nghiên cứu các biểu tượng thường gặp trong các loại dân ca Tày nói chung, trong đó đề cập đến một số lời Then đã được sưu tầm, xuất bản Luận văn cũng đã thống kê một số biểu tượng và phân tích giá trị biểu đạt của chúng Tuy nhiên, tác giả luận văn mới chủ yếu miêu tả các biểu tượng mà chưa lý giải chúng trên cơ sở những tiêu chí khoa học, cũng như chưa tiếp cận dưới góc độ khoa học liên ngành
Trang 11Cũng trong năm 2016, công trình nghiên cứu về Then thuộc xã Lam Vĩ, Định Hóa, Thái Nguyên của tác giả Nguyễn Thùy Linh( Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học
Sư phạm Thái Nguyên) đã khảo cứu về các dạng thức, nội dung, nghệ thuật Then Tày
ở một địa phương cụ thể Trong phần tìm hiểu về nghệ thuật, tác giả đã khảo sát các biện pháp tu từ, những phương thức nghệ thuật có mối liên hệ gần gũi với biểu tượng
Năm 2017, công trình Then Tày ở Võ Nhai, Thái Nguyên của tác giả Nguyễn
Thị Hà (Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm Sư phạm Thái Nguyên) cũng tìm hiểu Then Tày ở một vùng văn hóa cụ thể Tác giả đã sưu tầm được một số lượng đáng kể và khảo sát nội dung, nghệ thuật của Then Tày nơi đây Trong luận văn, các yếu tố nghệ thuật Then Tày được đưa ra khảo sát khác phong phú thể thơ, các biện pháp tu từ, thời gian, không gian nghệ thuật… Các biện pháp liệt kê, so sánh, điệp… cũng có mối liên hệ gián tiếp với biểu tượng, một phương thức nghệ thuật độc đáo trong Then Tày
Như vậy, ở từng thời điểm khác nhau, từng giai đoạn khác nhau đã có những công trình nghiên cứu về Then khá công phu và khoa học Cũng đã có những công trình tìm hiểu về biểu tượng và biểu tượng trong Then Then Tày Tuy nhiên, nghiên cứu về một phương diện nghệ thuật – biểu tượng trong Then dưới góc độ tiếp cận liên ngành thì từ trước đến nay chưa có công trình nào chuyên sâu Nhưng những công trình đi trước có ý nghĩa là tiền đề giúp chúng tôi thực hiện luận văn này
- Trong chừng mực nhất định, gợi ra hướng bảo tồn, phát huy những nét đẹp vốn có của Then Tày nói chung, biểu tượng trong Then Tày nói riêng trong di sản văn hóa Tày, trong đời sống cộng đồng Tày
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu những vấn đề lý luận về biểu tượng và khái quát về Then Tày
- Khảo sát, thống kê, phân tích giá trị của biểu tượng trên cơ sở nhận diện các tầng ý nghĩa biểu hiện từ các phương diện cấu trúc của biểu tượng trong Then Tày
Trang 12- Bước đầu nêu một số suy nghĩ về bảo tồn, phát huy những giá trị văn học, văn hóa của Then Tày nói chung, biểu tượng nói riêng trong đời sống đương đại trước sự vận động của thời gian lịch sử, đặc điểm văn hóa, xã hội
5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu chính là những biểu tượng đang tồn tại trong văn bản Then Tày
- Phạm vi tư liệu nghiên cứu:
+ Nghiên cứu các văn bản Then Tày trong các cuốn sách đã xuất bản sau đây:
1 Triều Ân (2011), Lễ hội Dàng Then, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội
2 Triều Ân (2013), Then Tày giải hạn, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội
3 Triều Ân (2016), Then Tày lễ Kỳ yên, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội
4 Dương Kim Bội (1975), Lời hát Then, Sở Văn hóa thông tin Việt Bắc, Bắc
Thái
5 Hoàng Luận, Hoàng Tuấn Cư (2016), Then giải hạn của người Tày huyện
Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội
6 Triệu Thị Mai, Ma Văn Hàn (2011), Những khúc ca cầu trường thọ của Bụt
Ngạn, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội
7 Triệu Thị Mai (2013), Lễ cưới của người Sán Chỉ, Then Hỉn én, Nxb Văn hóa
thông tin, Hà Nội
8 Ma Văn Vịnh (2016), Các bài hát Then nghi lễ cấp sắc, tăng sắc của người
Tày Bắc Kạn, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội, (quyển 2)
9 Một số cuốn sách nghiên cứu, sưu tầm Then của các tác giả khác để so sánh, đối chiếu khi cần thiết
+ Ngoài ra, chúng tôi tham khảo thêm một số văn bản Then mới được sưu tầm,
chưa xuất bản của các tác giả trong các cuốn Luận văn Th.S: Then Tày ở Lam Vĩ,
Định Hóa, Thái Nguyên và Then Tày ở Võ Nhai, Thái Nguyên… (đã dẫn trong Tài
liệu Tham khảo)
- Phạm vi vấn đề nghiên cứu: Hệ thống biểu tượng trong Then Tày phong phú
và phức tạp, trong giới hạn một luận văn Thạc sĩ, chúng tôi chủ yếu tìm hiểu các biểu
Trang 13tượng tiêu biểu trên cơ sở được nhận diện bằng tiêu chí khoa học chuyên ngành Đó
là các biểu tượng: cây, chim, hoa, Đàn Tính, Nhạc Xóc, cầu, Dả Dỉn, Pú Cấy
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp điền dã:
Chúng tôi sử dụng phương pháp điền dã để gặp gỡ các nghệ nhân và những người yêu quý Then Tày, tìm hiểu thêm về văn hóa Tày từ truyền thống đến hiện đại 6.2 Phương pháp thống kê:
Luận văn sử dụng phương pháp thống kê để xử lý những tư liệu liên quan đến
đề tài; định lượng tần xuất xuất hiện của yếu tố nghệ thuật và những yếu tố khác, làm
cơ sở cho các nhận định nghiên cứu
6.3 Phương pháp phân tích tổng hợp:
Trên cơ sở tư liệu đã tập hợp thống kê, luận văn phân tích, tổng hợp vấn đề, rút
ra những đánh giá, nhận xét về ý nghĩa và giá trị khái quát của hệ thống biểu tượng trong Then Tày
6.4 Phương pháp so sánh:
Để có cái nhìn khách quan, chân thực về đối tượng nghiên cứu, chúng tôi đối sánh một số vấn đề về Then của người Tày với Then được dân tộc khác sử dụng để tìm ra nét tương đồng và dị biệt nhằm đưa ra những nhận xét, đánh giá có cơ sở Phương pháp so sánh cũng được dùng trong những trường hợp cụ thể hơn, chẳng hạn: so sánh tỉ lệ xuất hiện của các biểu tượng trong Then Tày…
6.5 Phương pháp nghiên cứu liên ngành
Then Tày là loại hình văn hóa tín ngưỡng gắn bó mật thiết với đời sống trong mối quan hệ nguyên hợp Tìm hiểu Then Tày nói chung, biểu tượng trong Then Tày nói riêng, chúng tôi sử dụng thêm phương pháp nghiên cứu của các ngành khoa học
có liên quan như văn hóa học, xã hội học, dân tộc học… để khảo sát nghiên cứu
7 Những đóng góp của luận văn
- Là công trình nghiên cứu có hệ thống về biểu tượng trong Then Tày trên cơ sở lý luận khoa học chuyên ngành, liên ngành
- Gợi ra hướng triển khai mới, có cơ sở và mang tính liên ngành - nghiên cứu dựa vào
cấu trúc ngữ nghĩa của biểu tượng để giải mã biểu tượng nói chung, biểu tượng trong Then Tày nói riêng
Trang 14- Trong quá trình nghiên cứu, người viết đã tập hợp khá đầy đủ các công trình sưu tầm và nghiên cứu về Then Tày, làm cơ sở cho việc khảo cứu biểu tượng Tư liệu đã tập hợp gồm cả những công trình đã in ấn xuất bản và những tác phẩm, thông tin văn hóa Tày còn lưu truyền trong đời sống dân gian
- Góp phần bảo lưu, gìn giữ, phát huy giá trị Then Tày nói chung, biểu tượng trong Then Tày nói riêng trong dòng chảy văn hóa dân tộc
8 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Nội dung chính của luận văn được triển khai trong 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về biểu tượng và khái quát về Then Tày
Chương 2: Cội nguồn và ý nghĩa trực tiếp của các nhóm biểu tượng trong Then Tày nhìn từ bình diện cái biểu hiện
Chương 3: Ý nghĩa gián tiếp của các nhóm biểu tượng trong Then Tày nhìn từ bình diện cái được biểu hiện
Chương 4: Giá trị của biểu tượng trong Then Tày
Trang 15NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỂU TƯỢNG VÀ KHÁI QUÁT
VỀ THEN TÀY
Tìm hiểu biểu tượng trong Then Tày là nghiên cứu một phương thức nghệ thuật độc đáo từng được sử dụng nhiều trong các ngành khoa học xã hội Vậy biểu tượng là gì, cấu trúc ngữ nghĩa, cách thức phân loại, vai trò của nó trong thơ ca… là những vấn đề cần quan tâm tìm hiểu Then được xác định là một hình thức văn hóa tín ngưỡng của người Tày Nhưng Then là gì, cách thức phân loại, tiêu chí nhận diện và nội dung cơ bản của Then… vẫn còn những điều hiện nay chưa thống nhất Nghiên cứu những vấn đề về biểu tượng và Then Tày ở trên là cơ sở để luận văn tìm hiểu hệ thống biểu tượng trong Then, di sản văn hóa tinh thần độc đáo của người Tày, một tộc người bản địa có quá trình lịch sử văn hóa lâu dài, nhiều thành tựu ở Việt Nam
1.1 Cơ sở lý luận về biểu tượng
1.1.1 Khái niệm biểu tượng
Tìm hiểu văn học nghệ thuật nói riêng, các khoa học liên ngành khác như văn hóa, triết học, tâm lý học… nói chung đang có xu hướng chú trọng đến một loại phương tiện truyền đạt thông tin đặc biệt, đó là biểu tượng Vậy biểu tượng (symbol)
là gì?
“Thuật ngữ symbol bắt nguồn từ Hy Lạp Symbolon có nghĩa là ký hiệu (Sign),
dấu hiệu, lời nói, tín hiệu, triệu chứng, hợp đồng v.v
Cũng có thuyết cho rằng chữ symbol bắt nguồn từ động từ Hy Lạp "Symballo" có
nghĩa là "ném vào một vị trí", "liên kết", "suy nghĩ về", "thoả thuận", "ước hẹn" v.v
Biểu tượng trong tiếng Hán: Biểu có nghĩa là: "bày ra", "trình bày", "dấu hiệu",
để người ta dễ nhận biết một điều gì đó Tượng có nghĩa là "hình tượng" Biểu tượng
là một hình tượng nào đó được phô bày ra trở thành một dấu hiệu, ký hiệu tượng trưng, nhằm để diễn đạt về một ý nghĩa mang tính trừu tượng (…) Bản chất khó xác định và sống động của biểu tượng chính là sự chia ra và kết lại với nhau, nó hàm chứa hai ý tưởng phân ly và tái hợp Mọi biểu tượng đều chứa đựng dấu hiệu bị đập vỡ, ý nghĩa của biểu tượng luôn biến ảo, nó bộc lộ ra trong cái vừa gãy vỡ vừa là nối kết,
Trang 16vừa xuất hiện lại vừa mất đi, khiến cho tư duy luôn phải truy tìm, liên tưởng và muốn nắm bắt lấy vô vàn những ý nghĩa đang còn tiềm ẩn ngay trong lòng của nó”[91]
Bàn về biểu tượng còn có rất nhiều ý kiến Mỗi nhà nghiên cứu có cách hiểu và
diễn đạt khác nhau về biểu tượng, chẳng hạn: Georges Gurvitch trong Từ điển biểu
tưọng văn hoá thế giới đã phát biểu một cách ngắn gọn: "Các biểu tượng tiết lộ mà che giấu và che giấu mà tiết lộ" [Dẫn theo 91]
Cũng theo cách ngắn gọn, Chu Hy, nhà triết học Trung Quốc nổi tiếng đời Tống
(1131 - 1200) trong "Dịch thuyết cương lĩnh" khi bàn về biểu tượng đã viết: "Tượng
là lấy hình này để tỏ nghĩa kia".[Dẫn theo 91]
Hay, nhấn mạnh vào cách thức diễn đạt và mối quan hệ giữa nội dung và ý nghĩa tiềm ẩn của biểu tượng, Freud cho rằng: "Biểu tượng diễn đạt một cách gián tiếp, bóng gió và ít nhiều khó nhận ra niềm ham muốn hay các xung đột Biểu tượng
là mối liên kết thống nhất nội dung rõ rệt của một hành vi, một tư tưởng, mọi lời nói với ý nghĩa tiềm ẩn của chúng"[Dẫn theo 91]
Nhà phân tâm học C G Jung trong Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới lại chú
ý đến các phương tiện hình thành biểu tượng và những “ý nghĩa khác, ý nghĩa bổ
sung” và định nghĩa về biểu tượng như sau: "Cái mà chúng ta gọi là biểu tượng là
một từ ngữ, một danh từ hay một hình ảnh, ngay cả khi chúng là quen thuộc trong đời sống hàng ngày vẫn chứa đựng những ý nghĩa khác, bổ sung vào cái ý nghĩa ước định hiển nhiên và trực tiếp của nó"[Dẫn theo 91]
Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên đưa ra một định nghĩa về biểu tượng
như sau: “Hình thức của nhận thức, cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc sau khi tác động của sự vật vào giác quan đã chấm dứt”[61, tr 67]
Như vậy, có thể thấy, xác định bản chất, đặc biệt là giải mã biểu tượng để tìm ra
ý nghĩa, giá trị của tín hiệu nghệ thuật này là hết sức phức tạp Một biểu tượng thường có nhiều nghĩa và ngược lại một ý nghĩa lại có thể có nhiều biểu tượng cùng biểu thị
Trang 17Vậy, có thể định nghĩa “biểu tượng là những hình ảnh tượng trưng được phô bày khiến người ta có thể cảm nhận một giá trị trừu xuất nào đó đang tiềm ẩn trong lòng của nó”[91]
Để có thể tiếp cận biểu tượng, cần một số phẩm chất và năng lực tư duy như: sự nhạy cảm đối với văn chương và ngôn ngữ; tri thức văn hóa, lịch sử về vùng miền ở thời điểm biểu tượng ra đời và tồn tại; năng lực tư duy hình tượng và loogic… Cấu trúc ngữ nghĩa của biểu tượng là điều cần xem xét tiếp theo khi muốn áp dụng lý thuyết về biểu tượng vào nghiên cứu Then Tày
1.1.2 Cấu trúc ngữ nghĩa của biểu tượng
Như đã tìm hiểu ở trên, biểu tượng là những hình ảnh tượng trưng được phô bày khiến người ta có thể cảm nhận một giá trị trừu xuất nào đó đang tiềm ẩn trong lòng của nó Vậy nên, biểu tượng có mối quan hệ gần gũi với ký hiệu học Nói giản dị: biểu tượng gồm có phần ký hiệu và phần ý nghĩa trong ký hiệu đó
“Ngành nghiên cứu mối quan hệ giữa vật làm biểu tượng với thế giới ý
nghĩa làm nên giá trị của biểu tượng cũng như đời sống của các ký hiệu trong lòng
sinh hoạt xã hội, được F.De Saussure gọi là ký hiệu học (semeiology) Tiếp cận ký
hiệu học nghiên cứu biểu tượng cũng chính là muốn tìm thấy được bản chất của hệ thống ngôn ngữ ký hiệu đặc thù này Trong lĩnh vực nghiên cứu chuyên ngành về ký hiệu học có nhiều quan niệm và các khuynh hướng khác nhau Song, chỉ có một số
tên tuổi được nhắc đến như: F.De Saussure, Charles Sanders Peirce, William Morris, G.Mounin v.v và nổi trội hơn hết làR.Barthes và Louis Trolle Hjelmslev,
trong lĩnh vực nghiên cứu hệ thống ký hiệu học hàm nghĩa - biểu tượng
Theo L.Hjelmslev mỗi ký hiệu là hiện tượng được nẩy sinh bằng mối quan hệ
giữa sự biểu đạt (Signifiant) còn gọi là cái biểu đạt (CBĐ): như các sự kiện, hiện
tượng, cái dùng để biểu thị (một đồ vật, một hình ảnh v.v ) và nội dung được biểu đạt
(Signifié) còn gọi là cái được biểu đạt (CĐBĐ) Đó là những giá trị, quan niệm, ý
nghĩa, ý tưởng v.v Vậy ký hiệu là nội hàm của mối quan hệ CBĐ/CĐBĐ Nói cách khác mỗi ký hiệu là bộ ba:
Trang 18
Sơ đồ ký hiệu học biểu thị của L.Hjelmslev
Điều đóng góp quan trọng nhất của L.Hjelmslev là có sự phân biệt giữa “ký
hiệu học biểu thị” với “ký hiệu học hàm nghĩa”
Ngôn ngữ thông thường là hệ thống ký hiệu biểu thị Một ngôn ngữ hàm nghĩa
là một ngôn ngữ mà bình diện biểu đạt (hình thức) của nó cũng là một hệ thống ngôn ngữ thông thường (ký hiệu biểu thị) và cả hai hệ thống đã lồng vào nhau tạo thành
một hệ thống kép - hệ thống siêu ký hiệu
R.Barthes đã tiếp thu khái niệm ký hiệu học biểu thị và ký hiệu học hàm nghĩa
của Hjelmslev vào sơ đồ cú pháp ký hiệu học hàm nghĩa của mình Có thể tóm tắt hệ thống "siêu ký hiệu" của R.Barthes như sau: Một là hệ thống ký hiệu học biểu
thị (A) còn gọi là ngôn ngữ thông thường Hai là hệ thống ký hiệu học hàm nghĩa (B) còn gọi là "siêu ngôn ngữ" (Metalanguage) - ngôn ngữ biểu tượng Hai hệ
thống ký hiệu này lồng trong nhau, biểu hiện thành sơ đồ sau:
Trang 19Sơ đồ cú pháp ký hiệu học hàm nghĩa của R.Barthes
Sơ đồ này có nghĩa là ở siêu ngôn ngữ (B) ở bình diện biểu đạt (hình thức) lại là một ký hiệu biểu thị - ngôn ngữ thông thường
Để hiểu được hệ thống ký hiệu học hàm nghĩa của R.Barthes trong quá trình tiếp cận ký hiệu học nghiên cứu biểu tượng ta có thể chuyển đổi sơ đồ mẫu trên đây thành sơ đồ giải thích như sau:
Vận dụng mô hình siêu ký hiệu của R.Barthes "giải mã"
hệ thống ngôn ngữ biểu tượng (Symbol)
Trang 20” [91]
Nhìn vào các sơ đồ trên, chúng ta thấy rõ hơn sự phức tạp của biểu tượng (symbol) Đó là sự lồng ghép 2 hệ thống ký hiệu (ký hiệu học biểu thị (ngôn ngữ thông thường) và ký hiệu học hàm nghĩa (ngôn ngữ biểu tượng) Tuy nhiên, về bản chất, đó là sự có mặt của hai bình diện: cái biểu đạt (CBĐ) và cái được biểu đạt (CĐBĐ) trong cấu trúc của biểu tượng, gồm các tầng nghĩa trực tiếp và gián tiếp trong mối quan hệ qua lại biện chứng giữa chúng tạo nên siêu ký hiệu – biểu tượng (symbol) Và nội dung trong “cái được biểu đạt” còn được gọi là “ký hiệu mật ngôn”
Về cơ bản, chúng tôi thống nhất với cách lý giải bằng sơ đồ của các nhà nghiên cứu ở trên Tuy nhiên, mỗi cách triển khai phân tích sẽ có những nét riêng, phù hợp với đặc điểm đối tượng, mục đích nghiên cứu và văn hóa tộc người
Trang 21Vậy nên, vận dụng linh hoạt lý thuyết về biểu tượng, tìm hiểu ý nghĩa trực tiếp, gián tiếp và giá trị khái quát nhất của biểu tượng là điều cần thiết khi tiếp cận các biểu tượng trong Then Tày
1.1.3 Phân loại biểu tượng
Chúng ta biết rằng, phân loại để chia cắt đối tượng nghiên cứu thành những đơn vị nhỏ nhằm mục đích tiếp cận, phân tích, nhận diện đối tượng thuận lợi, hiệu quả hơn Biểu tượng là phương thức nghệ thuật có cấu trúc về hình thức và ngữ nghĩa khá phức tạp nên yêu cầu phân loại lại càng trở nên cần thiết
Có nhiều cách phân loại biểu tượng, điều này phụ thuộc vào đặc điểm của đối tượng nghiên cứu và mục đích hướng tới của sự nghiên cứu Có thể giới thiệu một vài cách phân loại biểu tượng đã được bàn đến ở Việt Nam:
1 Bàn về biểu tượng và biểu tượng xã hội, nhà nghiên cứu phân loại biểu tượng theo
mức độ ghi nhớ về sự vật hiện tượng trong ký ức con người, sẽ có: biểu tượng của trí
nhớ và biểu tượng của tưởng tượng Biểu tượng của trí nhớ là hình ảnh của tri giác
lúc trước được tái hiện lại trong một hoàn cảnh nhất định Biểu tượng của tưởng tượng là hình ảnh mới được trí tưởng tượng tạo nên trên nền của biểu tượng cũ.[93]
2 Trong luận án Tiến sĩ Lịch sử văn hóa và nghệ thuật, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Hậu lại đưa ra 2 khung phân loại biểu tượng như sau:
(1) Chọn hướng tiếp cận lịch sử để phân loại biểu tượng theo quá trình đi lên của ý thức con người, gồm 6 hình thái biểu tượng: “Nhiên thần”, “ Hồn ma”, “ Phồn thực”, Nhân thần”, “Trí tuệ”, “Xúc cảm”
(2) Bằng hướng tiếp cận ký hiệu học để phân loại biểu tượng theo hình thái biểu hiện của ngôn ngữ đặc trưng, luận án trình bày 6 loại ngôn ngữ ký hiệu: Ký hiệu cử chỉ, ký hiệu tạo hình, ký hiệu âm thanh, ký hiệu tiếng nói, ký hiệu chữ viết, ký hiệu tổng hợp.[20, tr 10]
3.Tác giả luận án Biểu tượng nghệ thuật trong ca dao truyền thống người Việt chia
biểu tượng thành ba loại:
(1) Biểu tượng là các vật thể tự nhiên
(2) Biểu tượng là các vật thể nhân tạo
(3) Biểu tượng là con người [16]
Trang 224 Chúng tôi thấy có thể phân loại biểu tượng theo nguồn gốc, tức nơi gợi hứng cho
sự hình thành, “nuôi dưỡng” biểu tượng Kết quả của cách phân chia này sẽ gồm:
biểu tượng có nguồn gốc từ môi trường sinh thái tự nhiên và biểu tượng có nguồn gốc từ môi trường văn hóa xã hội Phân loại theo cách này không chỉ đơn thuần nhận
diện biểu tượng đó là biểu tượng tự nhiên hay biểu tượng xã hội mà còn giúp tìm hiểu mối quan hệ giữa biểu tượng với môi trường sinh thái và văn hóa, nơi biểu tượng được sinh ra, tồn tại và phát triển
1.1.4 Vai trò, vị trí của biểu tượng trong thơ ca
Ngày nay, biểu tượng được sử dụng trong nhiều lĩnh vực: nghệ thuật, hình thức ẩn dụ, thần thoại, tôn giáo và các nghi lễ tôn giáo Trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, biểu tượng không hề giảm vai trò quan trọng của nó, biểu tượng vẫn tiếp tục xuất hiện trong văn học, phim ảnh
Không những thế trong lĩnh vực tâm lí học người ta nhận thấy tầm quan trọng của các biểu tượng, đó là các biểu tượng của giấc mơ (Con người tri giác thế giới không chỉ bằng các giác quan mà còn bằng tiềm thức nữa Chúng ta phản ứng trước những hiện tượng có thực, trước những khích động thị giác và thính giác và những cảm giác ấy được chuyển từ bên ngoài vào tâm trí ta, những cảm giác trở thành những thực thể tinh thần) nó trở thành liệu pháp để điều trị các căn bệnh liên quan đến tâm lí (khi chúng ta giải thích ý nghĩa các biểu
tượng trong giấc mơ, thì chúng ta có thể chữa được bệnh): bệnh suy nhược thần kinh, bệnh mất trí nhớ
Biểu tượng có vai trò nối kết con người ở các thế hệ khác nhau, bởi vì mỗi nhóm người, mỗi thời đại có những biểu tượng của riêng mình: khi chúng ta rung động trước biểu tượng nghĩa là chúng ta đã tham gia vào nhóm người và thời đại ấy Như vậy biểu tượng còn mang tính xã hội hóa
Thêm nữa, biểu tượng còn là một ngôn ngữ phổ biến, bởi vì không cần thông qua trung gian ngôn ngữ nói hay viết, mọi người đều có thể hiểu được nó Biểu tượng
là công cụ hiệu quả đế các cá nhân, các nhóm người, các dân tộc có thể thấu hiểu lẫn nhau Khi chúng ta hiểu sâu sắc ý nghĩa các biểu tượng của một cá nhân hay một dân tộc tức là chúng ta đã hiểu được tận cùng con người và dân tộc ấy.[69, tr.15]
Trang 23Nhấn mạnh vai trò quan trọng của biểu tượng trong đời sống, nhận xét sau của
Từ điển Văn hóa thế giới là có cơ sở và chí lý: “Thời đại không có biểu tượng là thời đại chết; xã hội thiếu biểu tượng là xã hội chết Một nền văn minh không còn có biểu tượng thì sẽ chết; nó chỉ còn thuộc về lịch sử” [69, tr 15]
Các nhà nghiên cứu văn hóa cũng rất quan tâm đến vai trò của biểu tượng Chẳng
hạn, trong bài viết Biểu tượng như là “đơn vị cơ bản” của văn hóa, nhà nghiên cứu
Nguyễn Văn Hậu đã cho rằng: “Biểu tượng chính là "ngôn ngữ tượng trưng" chỉ có
ở loài người và là "tế bào" của văn hoá Cho nên tìm hiểu biểu tượng cũng là tìm hiểu
về văn hoá Thế giới văn hoá chính là thế giới của biểu tượng Quá trình tìm hiểu và
nhận thức về biểu tượng là quá trình nắm bắt và truyền đạt thông tin có trong các biểu tượng Qua đó con người có thể nhận thức một cách sâu sắc về đời sống của chính bản thân mình nhằm góp phần biến đổi một cách lớn lao trong sự phát triển toàn diện về
nhân cách của anh ta Vì thế, biểu tượng có một chức năng quan trọng nhất, là sự điều
tiết và định hướng trở lại đời sống xã hội Đó cũng là tính văn hoá của biểu tượng
Ngoài ra, biểu tượng còn có "năng lực" làm bộc lộ ra những điều bí ẩn đang
còn chìm sâu trong cõi vô thức của con người và là nguồn động lực sâu kín của nhận thức, nó mở cánh cửa của trí tuệ cho ta bước vào một thế giới tưởng tượng đầy nhân
tính Điều quan trọng, nó còn là hạt nhân của sự di truyền xã hội, từ đời này sang đời khác theo dòng đi của lịch sử, bằng các khuôn mẫu văn hoá cổ truyền - Cổ
mẫu (Archetypes) chìm sâu trong vô thức của cộng đồng - xã hội.” [91]
Như vậy, biểu tượng là “tín hiệu” có mặt trong nhiều lĩnh vực đời sống tinh thần của con người Trong văn học nói chung, nhất là trong thơ ca, nó cũng có vai trò đặc biệt quan trọng
Trong văn học nghệ thuật, biểu tượng là phương thức diễn đạt hiệu quả, là
điểm nhấn của tác phẩm Biểu tượng cái lò gạch bỏ không xuất hiện ở mở đầu và kết thúc truyện Chí Phèo là một trong những trường hợp như thế
Trong thơ ca, nhất là thơ ca dân gian, biểu tượng được bàn tới như một phương thức nghệ thuật hữu hiệu, là nơi lưu giữ bản sắc văn hóa dân tộc
Trang 24Khi nghiên cứu về biểu tượng trong ca dao, Nguyễn Thị Ngọc Điệp đã chỉ ra nguồn gốc, cấu tạo của biểu tượng; phân loại, miêu tả biểu tượng và tác giả cũng đã nhấn mạnh vào chức năng biểu đạt của biểu tượng trong ca dao truyền thống người Việt [16]
“Đọc thơ ca dân gian của các dân tộc ít người Việt Nam, chúng ta càng thấm thía sức ám ảnh của biểu tượng nước trong tâm thức dân gian Những con người miền núi quen sống giữa thiên nhiên gửi gắm những suy tưởng, những tình cảm vào biểu tượng nước Sự đồng điệu trong cách cảm, cách nghĩ này cho thấy nước là biểu tượng lớn của văn hoá dân gian các dân tộc ít người Những câu ca dao dân gian của người Tày thường mượn biểu tượng nước mà định giá tình cảm Nước được xem như là một giá trị đã định hình, là cái hiển nhiên, mặc định Nó là cái cớ vin vào cho sự khẳng định tình cảm vững bền của đôi lứa yêu nhau:
- Thương nhau đựng sọt nước vơi Không thương nước đựng cong rồi cũng khô
- Thương nhau nước đựng vào sàng Không thương nước đựng trong cang còn rò.”
[89]
Tìm hiểu Then Tày, ngoài giá trị nhân văn sâu sắc của nội dung, nghệ thuật lời hát và cách thức diễn xướng, Then đã được ghi nhận là độc đáo, khác lạ Làm nên giá trị đó có phần đóng góp không nhỏ của biểu tượng, phương thức biểu đạt chứa đựng bản sắc văn hóa cộng đồng Tày
Như vậy, không thể phủ nhận vai trò của biểu tượng trong mọi lĩnh vực đời sống tinh thần nhân loại, đặc biệt là trong thơ ca Tìm hiểu biểu tượng trong Then Tày, một loại hình thơ ca dân gian chắc chắn sẽ là một trong những hướng tiếp cận phù hợp và hiệu quả
1.2 Khái quát về Then Tày
1.2.1 Khái niệm Then
Then là loại hình văn hóa tín ngưỡng dân gian tổng hợp gồm ca, múa, nhạc…Theo một số nhà nghiên cứu, Then được hiểu là Thiên, chỉ trời Hầu hết trong các nghi lễ cúng bái của người Tày đều có hát Then Hát Then không chỉ đơn thuần là
Trang 25một loại hình âm nhạc hay diễn xướng dân gian mà còn có sự kết hợp chặt chẽ với tín ngưỡng Then là gì cho đến nay những người yêu thích nghệ thuật Then, ngay cả những người làm Then cũng chưa định nghĩa được rõ ràng, thống nhất
Nông Văn Hoàn trong Mấy vấn đề về Then Việt Bắc cho rằng “Then là tiên (có
nơi gọi là sliên), là người của trời Họ là người giữ mối liên hệ giữa người trần gian với Ngọc Hoàng và Long Vương…”[53]
Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: Then là một lực lượng siêu nhiên sáng tạo ra thế
giới theo quan niệm của một số dân tộc thiểu số ở miền Bắc Việt Nam Người làm nghề cúng bái (thường là nữ) ở vùng các dân tộc thiểu số nói trên, bà Then làm Mo, làm Then Loại hình nghệ thuật gồm đàn hát, múa gắn liền với tín ngưỡng các dân tộc thiểu số nói trên, hát Then, múa Then [61, tr.931]
Cũng trong cuốn Mấy vấn đề về Then Việt Bắc, nhà nghiên cứu Vi Hồng cho
rằng “Then là hình thức nghệ thuật dân gian “tổng hợp” Then là thơ+ múa+ thanh nhạc+ hội họa+ âm nhạc.” Ông còn nhấn mạnh thêm: “Then là loại dân ca nghi lễ phong tục…” [53,tr.270-271]
Đặng Văn Lung quan niệm: “Then là một loại hình văn hóa rất phổ biến ở hai dân tộc Tày, Nùng Nó không những được tầng lớp nhiều tuổi yêu thích mà còn chiếm được cảm tình sâu sắc trong tầng lớp thanh thiếu nhi” [53, tr.295]
Dương Kim Bội trong “Lời hát Then”cũng đưa ra quan niệm về Then: “Cho
dù chưa có các định nghĩa, giải thích một cách thỏa đáng Cứ coi nó như một danh từ dùng để chỉ một loại hình mê tín”[9, tr.10]
Các công trìnhnghiên cứu về Then mà chúng tôi đã tìm hiểu ở trên cho thấy rằng khái niệm Then là gì được hiểu theo hai hướng: Người làm Then và loại hình văn hóa Then Ở đây, chúng tôi chủ yếu quan tâm đến khái niệm Then với tư cách một loại hình văn hóa tín ngưỡng bởi thực chất người làm Then ở mỗi địa phương có thể được gọi bằng những cái tên khác nhau: Then, Dàng, Bụt, Pụt…
Trên cơ sở tìm hiểu các nghiên cứu trên và qua khảo sát thực tế phỏng vấn người dân thuộc cộng đồng Tày ở khu vực quanh Thái Nguyên, chúng tôi xin đưa ra
cách hiểu về Then như sau: Then là một hình thức văn hóa tín ngưỡng có từ xa xưa
trong đời sống của người Tày Nội dung Then phản ánh những vấn đề liên quan đến
Trang 26đời sống xã hội của người Tày trong quá khứ Nghệ thuật Then là sự tổng hợp của nghi lễ với lời hát, điệu múa, âm nhạc, hội họa và lời ca nhằm đưa con người tới được những bí ẩn của thế giới tâm linh với niềm tin linh thiêng
1.2.2 Nguồn gốc và phân loại Then Tày
* Về nguồn gốc của Then, có nhiều ý kiến khác nhau song đa phần cùng nhận
định: hát Then có xuất xứ từ Cao Bằng khi nhà Mạc thất sủng
Câu hỏi Then có từ bao giờ luôn là vấn đề đặt ra trong giới nghiên cứu mà chưa có đáp án cuối cùng
- Theo Dương Kim Bội, trong dân gian chủ yếu là các nghệ nhân trên dưới 80 tuổi giải thích Then bằng một số giai thoại khác nhau:
Then có từ thời vua Lê, trung tâm và nơi xuất xứ của Then là ở Cao Bằng Vua
Lê ngày xưa có một thời đem quan quân lên đón ở Cao Bằng để dẹp loạn, quan quân hầu hết là người miền xuôi, do không hợp với thủy thổ, thời tiết khắc nghiệt ở vùng này, nên một số quan quân bị ốm và con số này tăng lên đến hàng ngàn người Trước tình hình bệnh tật ngày càng gia tăng, nên một số người đã bày ra cách làm Then bằng thể song thất (thể thơ phổ biến trong Dân ca, Sli, Lượn của dân tộc Tày - Nùng, với nhạc đệm là cây đàn tính và xóc nhạc) để giúp cho quan quân giảm đi nỗi vất vả, nhớ nhà Ngày đó họ sáng tác bằng con đường truyền khẩu, có thể coi bản Then đầu tiên gồm ba phần chính:
+ Tứ quý (tả cảnh bốn mùa),
+ Bách điểu (nói về trăm loài chim),
+ Tình ca (nói về tình yêu trai gái)
Từ khi nghe được những lời hát Then, quan quân tự nhiên khỏi bệnh, vua Lê
ra lệnh cho nhóm người này truyền bá và phổ biến rộng rãi trong đám quan quân này
để chữa bệnh
Then có từ thời nhà Mạc (nội dung giống như giai thoại kể trên)
Then có từ Cao Bằng, từ thời nước ta hàng năm phải cử người mang lễ vật sang cống nạp vua Tàu Lời ca trong Then là do một phường hát chuyên nghiệp của cung đình theo quan đi sứ sang Trung Quốc Giai thoại này giải thích hợp lí một số chương đoạn trong nội dung lời ca như Khảm hải, Bắt phu
Trang 27Cả ba giai thoại trên, chúng tôi đều thấy có nhiều yếu tố lịch sử khá lâu đời Như vậy phải chăng từ thời Bắc thuộc Then đã có mầm mống sơ khai? [10]
-Tác giả Nông Văn Hoàn trong cuốn “Mấy vấn đề về Then Việt Bắc” cho
rằng cần tìm hiểu thêm về nguồn gốc Then Then có nguồn gốc lâu đời từ thời xa xưa Song qua các giai thoại lưu truyền ở Cao Bằng thì nhiều ý kiến cho rằng Then có
từ thời Lê, Mạc (tức cuối TK XVI đầu TK XVII) Khi Mạc Kính Cung lên chiếm cứ đất Cao Bằng còn lưu giữ tài liệu viết tay nói về hai ông Bế Phùng người làng Đám Vạn (Hòa An) và ông Hoàng Quỳnh người Trùng Khánh, Cao Bằng, cả hai ông đều làm quan cho nhà Mạc và đặt ra Then Vua thấy Then múa hát làm cho vua được vui
vẻ, khỏe mạnh hơn, bèn truyền cho phổ biến trong dân, dần Then biến thành thứ cúng
lễ, cầu khấn cho khỏi bệnh và đạt được ước vọng Tuy nhiên ngoài những tài liệu trên hiện nay cũng chưa có một tài liệu cụ thể nào khác.[53, tr 15]
- Nhà nghiên cứu Triều Ân và nhà văn Vi Hồng lại nhìn nhận về nguồn gốc của Then theo một cách khác
Trong cuốn “Then Tày những khúc hát” Triều Ân đưa ra ý kiến: “Cây đàn và
lời hát Then của dân tộc Tày đã có từ rất lâu, từ khi tổ tiên ta có nhu cầu sinh hoạt văn hóa” “Hát Then là loại hát thuộc về thờ cúng (Chant Culteel) mà thờ cúng với bất cứ dân tộc nào cũng có từ rất sớm, theo vũ trụ quan, vạn vật hữu linh của họ” [3, tr.9]
Nhà văn Vi Hồng cho rằng Then có nguồn gốc từ thời nguyên thủy, thời nô lệ! Điều này không chỉ tìm thấy yếu tố của nó riêng trong một nội dung của lời ca mà có thể tìm thấy trong vũ, nhạc, trang trí của Then, có thể tìm thấy ý kiến cội nguồn ấy ở cảm xúc sâu lắng của âm nhạc Then, của đường nét, kết cấu \, mầu sắc của trang trí
Then… [53, tr 291]
- Các tác giả Dương Sách, Hoa Cương trong cuốn Văn hóa dân gian Cao
Bằng đều cho rằng: Then và cây đàn tính của dân tộc Cao Bằng có nguồn
gốc từ rất lâu đời
Trong quá trình đi điền dã, khi được hỏi về nguồn gốc của Then, những người dân tộc Tày có nguyên quán ở Cao bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Hà Giang…đều cho rằng: Then có nguồn gốc từ xa xưa, do trời phật ban phát cho con người, giúp con người thực hiện được mơ ước về một cuộc sống no đủ, bình an Theo thời gian, Then
Trang 28ngày càng hoàn thiện dần và mang tính thẩm mĩ của nhiều thế hệ người Tày Then còn là món ăn tinh thần không thể thiếu đối với mỗi gia đình, làng bản của đồng bào Tày Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại, Then đang có nguy cơ mai một Nhưng những vấn đề liên quan đến nguồn gốc Then vẫn còn đang tiếp tục được nghiên cứu và vẫn cần bảo tồn những giá trị văn hóa từ Then
* Vấn đề phân loại Then Tày hết sức phức tạp bởi Then rất đa dạng, phong phú Mỗi vùngThen lại thường gồm nhiều loại khác nhau; mỗi tộc người lại thường
có cách gọi tên các loại Then khác nhau … Bởi vậy, theo chúng tôi, phân loại Then nên dựa vào mục đích, tính chất của lễ Then
Tác giả Nông Văn Hoàn trong cuốn Mấy vấn đề về Then Việt Bắc đề xuất
chia Then thành 7 loại:
(1).Then cầu mong: Thường diễn ra vào đầu xuân hàng năm làm lễ cầu mong
được hạnh phúc yên lành và sống lâu…Ví dụ: Then Kỳ Yên: Then cầu an cho cả gia đình, Then "cáp khoăn", "cáp tơ hồng": hai vợ chồng mới cưới mời Then đến làm lễ nhập vía để có thể ở với nhau lâu bền, hạnh phúc, Then cầu bjooc (cầu hoa): mời Then làm lễ cầu cho đôi vợ chồng hiếm muộn con cái, Then cầu thọ: Cầu sống lâu (thường làm vào tuổi 49, 61, 73, 83), Then nối số: cầu mong được sống lâu, sống
khoẻ
(2).Then chữa bệnh (chỏi khẩy): Đây là loại Then mang nặng tính chất mê
tín Khi nhà có người ốm đau bệnh tật, người ta đón thầy Then về gọi hồn vía cho người ốm và phải đem theo lễ vật để "chuộc vía" Dù ở nơi bến sông, rừng núi, miếu thần thì vẫn phải sắm lễ mời thầy Then đi "loọng khoăn" (gọi vía)
(3) Then bói toán: Có 2 hình thức làm Then bói toán: Bói cho người ốm,
người nhà mang áo của người ốm và một bát gạo để nhờ Then bói, Bói tình duyên và
làm ăn sinh sống Làm Then loại này phải sắm lễ vật và phải tham gia trong Then gọi
là "hỉm én"
(4) Then tống tiễn (slống vjác): Làm lễ tiễn hồn người chết ra khỏi nhà khi
chôn cất xong Người ta sẽ chọn ngày lành đón Then về làm lễ để người chết có thể yên nghỉ mà không quấy rầy người sống
(5).Then cầu mùa, diệt trùng: Diễn xướng Then được làm ở nơi thờ thổ công,
hoặc miếu thờ thành hoàng, cầu cho mùa màng được tốt tươi Có thể một làng, một
Trang 29xã, một bản mời Then về làm lễ chứ không riêng một gia đình (có nơi mời cả thầy Tào về cầu mùa) Lễ vật trong Then cầu mùa chủ yếu là hoa quả bánh trái và các sản vật địa phương khác
Loại Then cầu mùa, cầu đảo còn có một hình thức nữa là "mời nàng hai" (nàng trăng) Thường là những đêm trăng sáng, thanh niên nam nữ mời ông hoặc bà Then làm lễ Then đi trước hát, họ đi theo sau thắp hương khấn vái cùng nhau hát múa mời "nàng hai" xuống trần cùng họ cầu mùa
(6) Then chúc tụng, ca ngợi: Loại Then này được làm khi có những người
được thăng cấp, hoặc chức tước trong xã hội cũ Loại Then này không có cúng lễ Khi hát Then, họ không theo trình tự như các đám Then cúng lễ mà phần lớn là ứng tác cho phù hợp với hoàn cảnh, yêu cầu của gia chủ Đối tượng giao lưu là giữa người với người chứ không phải người với ma
(7) Then trung lễ, đại lễ, cấp sắc (Lẩu vửt): Hình thức làm Then trung lễ, đại
lễ cấp sắc (Lẩu Then) là sự tập trung, là đỉnh cao của các nghệ thuật Then Những người làm Then cứ 3 - 5 năm được làm lễ cấp sắc một lần Người nào muốn được cấp sắc, phải chuẩn bị vật chất rất tốn kém, phải mời sư phụ và từ 5 - 10 bạn Then cùng các con "sớ", con "hương" đến hát múa trong mấy ngày đêm liền Người nào đến hạn cấp sắc mà kinh tế khó khăn thì có thể khất đến ngày đại lễ binh sẽ khao quân làm trung lễ (tiếng Tày gọi là "hắt lẩu khao mạ") và chỉ mời một Then đến làm giúp [53,
tr 21-24]
Lại có ý kiến phân loại (còn gọi là tiểu lễ dân gian) như sau:
1 Lễ Kỳ yên khai xuân, giải hạn, thượng thọ
2 Then vào nhà mới
3 Then mãn nguyệt trẻ em
4 Then bách điểu (ca ngợi trăm loài chim, Then vui)
5 Then công sứ (người bị bà sứ quở phạt, ốm đau quặt quẹo)
6 Then đi hương đi én (cho trai gái du xuân đi ngoạn cảnh và hưởng phúc lộc)
7 Then đưa hoa héo về trời (đưa hồn trẻ em chết về chợ trai gái, còn có cơ hội tái sinh)
8 Then cầu mùa (cầu mưa thuận gió hòa)
9 Then đưa hồn người làm nghề tâm linh quá cố về núi hoa
Trang 3010 Lượn Then mừng đám cưới
11 Then cầu tự, xin hoa
Ma Văn Hàn); Then nghi lễ cấp sắc, tăng sắc…(Ma Văn Vịnh)… Điều này đã phần
nào thể hiện ý kiến của các nhà nghiên cứu sưu tầm về việc phân loại Then
Mỗi cách phân loại trên đều có nhân tố hợp lý của nó Trong tình hình như vậy, chúng tôi sẽ tham khảo, dung hòa các cách phân loại, bởi nhiệm vụ chính của luận văn là nghiên cứu biểu tượng, mà tư liệu chính chúng tôi sử dụng lại là các sách
đã sưu tầm xuất bản nói trên
1.2.3 Những nội dung cơ bản của Then Tày
Then Tày là loại hình văn hóa tín ngưỡng có lịch sử phát triển lâu đời, có giá trị nhân văn sâu sắc và có sức hấp dẫn, lan truyền rộng rãi trong cộng đồng các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc, đặc biệt trong cộng đồng Tày Then Tày lại gồm nhiều loại, nhiều “biến thể” do lưu truyền chủ yếu bằng hình thức truyền miệng và để đáp ứng nhu cầu nhiều mặt trong đời sống tâm linh của đồng bào Bởi vậy, nội dung của Then Tày hết sức phong phú, đa dạng
Khó có thể bao quát hết các nội dung đa dạng, phong phú của Then nói chung, bởi mỗi loại Then lại gắn với cảnh huống, mục đích… làm Then riêng, Tuy nhiên, vẫn có thể khái quát được nội dung cơ bản của loại hình nghệ thuật dân gian này để nhận diện Then:
1 Then bộc lộ thế giới quan, nhân sinh quan của tộc người Tày
2 Then phản ánh xã hội người Tày trong quá khứ
3 Then ca ngợi cảnh sắc thiên nhiên và đời sống sinh hoạt xã hội của người Tày
4 Then khuyên răn con người làm điều thiện, sống có nghĩa , có nhân, có hiếu Nhìn chung, các nội dung cơ bản của Then ở trên ít nhiều được thể hiện ở tất
cả các chương đoạn Then thuộc các loại Then Tuy nhiên, sự đậm nhạt của từng nội dung phụ thuộc vào yêu cầu, mục đích làm Then Chẳng hạn, Then Hỉn ẻn (Then
Trang 31đoán số mệnh không gắn với bàn thờ hương khói), thì nội dung ca ngợi cảnh sắc thiên nhiên, đời sống xã hội được chú ý hơn Trong lễ Then Hỉn ẻn, có nhiều chương đoạn Then ca ngợi cảnh sắc thiên nhiên:
Hương truyền cảnh chúa xuân hoa nở
Vỗ cánh én rậm rịp bay ra Vượt qua cây mẫu đơn chín tàu Phật lấy về gội đầu thơm thảo Qua vườn Thanh Tơ hoa xòe tán Qua vườn Thanh Thảo lá biếc xanh Hoan Châu với Hoan Húy chín tầng
Lá gốc rụng lá trong nhú biếc…
[42, tr.142- 143]
Đoạn Then Gửi thiếp sau đây miêu tả một lát cắt trong sinh hoạt xã hội
của tộc người Tày trong quá nhứ:
Một thiếp gửi xuống thung lá dong Lấy sào để đợi quan
Sắm dao liềm đợi chúa Một thiếp gửi xuống chốn cửa quan Một thiếp gửi xuống đường cửa sổ…
[42, tr.176]
Còn Then Kỳ yên, Then Cấp sắc lại bao quát gần như tất cả các nội dung trên Bởi các loại Then này có ý nghĩa, phạm vi, biên độ lan truyền rộng Chẳng hạn, Then Cấp sắc miêu tả quá khứ khổ đau, đầy bất công phi lý đối với người dân lao động Tày:
… Nếu không đi là ta liều tội Việc quan thật khó chối làm sao
Rủ nhau dậy ra thuyền sửa soạn
Vợ suông thấy ngao ngán với chồng Ngày ngày đi việc vua cả đời
Gạo ăn đường không dời một khi…
[5, tr 66-67]
Trang 32Then khuyên răn con người làm điều thiện, sống có nghĩa, có nhân, sống trong sạch, thanh tịnh, nhất là những người được phong chức tước để làm Then Điều đó
thể hiện qua chương đoạn Sát hạch gường sở (gường, sở tức là những người làm
Then xin được cấp sắc) trong lễ hội Dàng Then (Then cấp sắc) Dưới dạng hát đối đáp giữa Say (tức thầy Cả) đại diện cho Ngọc Hoàng phong chức tước cho Then với gường, sở (người làm Then), điều răn dạy con người ấy trở nên vừa sinh động, hài hước, vừa cụ thể, sâu sắc:
…Nấu rượu thì mắng chó mèo
Nấu rượu lại mắng mỏ con, phải không?
(Không đâu ạ) Diều hâu bắt vịt bắt gà đi xua đuổi
Hổ bắt lợn trong ruộng thì đuổi, có đúng không?
(Làm vậy đúng ạ) Trâu ngã gường đi xẻ thịt Nhà người gường đi rỡ, phải lẽ chăng?
(Không đi đâu ạ) Bến rửa đầu sàn sở đi chui qua dưới Nơi thắp hương dưới sàn sở bước qua trên, hay sao?
(Không bao giờ ạ) (…)
Đi làm đồng còn mê hoa
Đi làm ruộng còn mê nụ, hay sao?
(Không có chuyện hoa nguyệt bao giờ) Gường ăn thịt thừa của chó
Gường ăn cá thừa ôi thiu, được chăng?
(Không ạ) Gường đội nón vào tang Gường lẫn lộn trai gái, thì sao?
(Không đội nón vào tang Không lẫn lộn trai gái đâu ạ)
Trang 33Dạ dạ…
[ 4, tr 127-128]
Lối sống đẹp của gường (tức Then khi được làm lễ cấp sắc) còn được Say (thầy Cả) “sát hạch” bằng cách cho gường nhổ ra, thổ ra xem trong miệng có gì không và kết quả đã chứng minh là trong sạch, không tham lam, kể cả trong ăn uống:
Nắm cổ để gường thổ Cầm mồm để gường nhả Khạc lên toàn những hơi khói Nhổ ra toàn những sương mù
(Sát hạch gường sở)
[4, tr 32]
Đi sâu nghiên cứu từng loại Then sẽ cho ta những hiểu biết cụ thể, sinh động hơn về nội dung, ý nghĩa Then Tày Tuy nhiên, tìm hiểu những nội dung cơ bản của Then Tày nói chung, ta sẽ có cái nhìn khái quát, sâu sắc hơn về loại hình nghệ thuật
dân gian đậm dấu ấn tín ngưỡng này
1.2.4 Phân loại các biểu tượng trong Then Tày
1.2.4.1 Tiêu chí phân loại
Bất kỳ sự phân loại mang tính khoa học nào cũng cần xác định rõ tiêu chí, bởi
đó chính là cơ sở khoa học giúp cho phân loại chuẩn xác và khách quan
Như đã trình bày, có nhiều cách phân loại biểu tượng Tuy nhiên, lựa chọn cách phân loại nào phụ thuộc vào đối tượng và mục đích nghiên cứu
Qua khảo sát, thống kê, chúng tôi nhận thấy, biểu tượng trong Then Tày là biểu tượng nghệ thuật, chủ yếu dùng để diễn tả một cách sâu sắc, hàm súc nội dung tiềm ẩn trong những sự vật hiện tượng được lấy làm phương tiện biểu đạt Chúng gắn bó với môi trường tự nhiên và đời sống văn hóa Tày Bởi vậy, phân loại biểu tượng theo
tiêu chí nguồn gốc là cách thích hợp hơn cả trong số các phương án phân loại kể trên 1.2.4.2 Kết quả phân loại
Trên cơ sở tiêu chí và cách thức phân loại đã xác định, biểu tượng trong Then Tày có thể chia thành hai loại:
- Biểu tượng có nguồn gốc từ môi trường sinh thái Tày
Trang 34- Biểu tượng có nguồn gốc từ môi trường văn hóa Tày
Biểu tượng có nguồn gốc từ môi trường sinh thái Tày là biểu tượng được tạo nên bởi những sự vật hiện tượng có trong môi trường tự nhiên Đó gồm những biểu tượng sử dụng sinh vật, thực vật, đồ vật có sẵn trong thiên nhiên để tạo nên phương
diện cái biểu đạt (mặt vật chất của ký hiệu học hàm nghĩa) như: cây, hoa, chim, ve,…
Biểu tượng có nguồn gốc từ môi trường văn hóa Tày là biểu tượng được tạo nên bởi những sự vật hiện tượng trong môi trường xã hội Đó gồm những biểu tượng sử dụng sinh vật, thực vật, đồ vật có sẵn trong xã hội, và tương tự như trên,
để tạo nên phương diện cái biểu đạt (mặt vật chất của ký hiệu học hàm nghĩa)
như: đàn tính và chùm nhạc xóc, cây cầu, mụ Dả Dỉn và lão Pú Cấy,
Mỗi loại lại tiếp tục được chia theo từng nhóm căn cứ vào nguồn gốc và tính chất của biểu tượng Trong mỗi nhóm, ngoài phần giới thiệu chung, luận văn dành đi sâu xem xét biểu tượng tiêu biểu trong nhóm Hy vọng cách phân loại và triển khai này giúp cho việc tìm hiểu biểu tượng trong Then Tày không sa vào chi tiết mà quên mất tổng thể, cũng như nghiên cứu khái quát mà bỏ qua các khảo sát nhỏ lẻ
Tiểu kết
Những vấn đề về biểu tượng như khái niệm, cấu trúc ngữ nghĩa, vai trò của biểu tượng trong thơ ca, vận dụng biểu tượng trong nghiên cứu văn học nghệ thuật, những vấn đề về Then…là cơ sở để triển khai tìm hiểu biểu tượng trong Then Tày
Có thể thống nhất định nghĩa: Biểu tượng là những hình ảnh tượng trưng được phô
bày khiến người ta có thể cảm nhận một giá trị trừu xuất nào đó đang tiềm ẩn trong lòng của nó Để triển khai nghiên cứu biểu tượng trong Then Tày, cũng cần xem xét
cấu trúc của phương thức nghệ thuật này Dựa trên lý thuyết chuyên ngành và liên ngành, cấu trúc của biểu tượng được xác định gồm hai phần: cái biểu hiện và cái được biểu hiện Cái biểu hiện là phương tiện, là “cơ sở vật chất” ban đầu tạo nên biểu tượng Cái được biểu hiện là nội dung, ý nghĩa chứa đựng trong phương tiện vật chất ban đầu đó Tuy nhiên, trong cấu trúc nội tại của biểu tượng, mối quan hệ được xác định giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện là khá phức tạp Song đó vẫn là cơ sở là gợi ý để giải mã biểu tượng trong Then Tày Bên cạnh đó, luận văn cũng khẳng định: biểu tượng là “tín hiệu” có mặt trong nhiều lĩnh vực đời sống tinh thần của con người
Trang 35Trong văn học nói chung, nhất là trong thơ ca, trong Then Tày nó có vai trò đặc biệt quan trọng
Là một loại hình văn hóa tín ngưỡng đậm dấu ấn tộc người, Then Tày được
hiểu là một hình thức văn hóa tín ngưỡng có từ xa xưa trong đời sống của người Tày
Nội dung Then phản ánh những vấn đề liên quan đến đời sống xã hội của người Tày trong quá khứ Nghệ thuật Then là sự tổng hợp của nghi lễ với lời hát, điệu múa, âm nhạc, hội họa và lời ca nhằm đưa con người tới được những bí ẩn của thế giới tâm linh với niềm tin linh thiêng Có lịch sử ra đời và phát triển lâu dài, Then Tày được
xác định là loại dân ca nghi lễ phong phú về nội dung, đa dạng về loại và độc đáo về hình thức thể hiện Nội dung Then Tày chứa đựng những giá trị nhân văn sâu sắc, là quan niệm của dân gian Tày về thế giới tự nhiên và xã hội, là bài học mang tính giáo dục cao, là sự phản ánh sinh động về xã hội người Tày trong quá khứ và là hình ảnh khúc xạ vẻ đẹp thiên nhiên miền núi cùng cuộc sống sinh hoạt của đồng bào Các loại biểu tượng trong Then Tày được xác định là có nguồn gốc từ môi trường sinh thái và môi trường văn hóa Tày cũng là cơ sở để luận văn triển khai nghiên cứu về biểu tượng trong Then Tày
Trang 36Chương 2: CỘI NGUỒN VÀ Ý NGHĨA TRỰC TIẾP CỦA CÁC NHÓM BIỂU
TƯỢNG TRONG THEN TÀY NHÌN TỪ BÌNH DIỆN
CÁI BIỂU HIỆN
Như đã biết, mối quan hệ giữa môi trường tự nhiên và môi trường xã hội đối với con người nói chung và với các sản phẩm văn hóa mà họ tạo ra trong suốt tiến trình lịch sử nói riêng là mối quan hệ qua lại, biện chứng Tìm hiểu biểu tượng, một sáng tạo nghệ thuật đặc biệt cần truy nguyên về cội nguồn để có cơ sở giải mã Cũng cần tìm hiểu lớp nghĩa đầu tiên, trực tiếp nằm ở bình diện cái biểu hiện của biểu tượng để khám phá phương thức nghệ thuật này
Nghiên cứu những vấn đề trên cũng là cơ sở để bước đầu tiếp cận môi trường sống, môi trường văn hóa Tày, nơi sản sinh và nuôi dưỡng Then, trong đó có hệ
thống biểu tượng độc đáo, giầu ý nghĩa của tộc người Tày
2.1 Cội nguồn và ý nghĩa trực tiếp của các nhóm biểu tượng có nguồn gốc tự nhiên trong môi trường sinh thái Tày
Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật Môi trường lại thường được phân chia thành môi trường tự nhiên và môi
trường xã hội Trong đó, môi trường tự nhiên là yếu tố có trước môi trường xã hội Môi trường tự nhiên còn được gọi là môi trường sinh thái Môi trường tự nhiên gồm 2 thành phần cơ bản: môi trường vật lý và môi trường sinh vật Môi trường vật lý là thành phần vô sinh của môi trường tự nhiên, bao gồm đất, nước, không khí, nhiệt độ…Môi trường sinh vật là thành phần hữu sinh của môi trường tự nhiên, bao gồm động vật, thực vật, vi sinh vật…
Như vậy, thành phần môi trường tự nhiên là yếu tố vật chất tạo thành môi trường như đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật, hệ sinh thái và một số hình thái vật chất khác.[92]
Mối quan hệ giữa môi trường tự nhiên với con người nói chung và với các sản phẩm văn hóa mà họ tạo ra trong suốt tiến trình lịch sử nói riêng là mối quan hệ tự
nhiên, biện chứng Trong Sự đa dạng văn hóa và đối thoại giữa các nền văn hóa một
Trang 37góc nhìn từ Việt Nam, nhà nghiên cứu Phạm Xuân Nam đã cho rằng mối quan hệ giữa
môi trường tự nhiên với đời sống và hoạt động sáng tạo văn hóa của con người được thể hiện qua bốn điểm chủ yếu: (1) Môi trường tự nhiên cung cấp không chỉ “tư liệu sống trực tiếp” mà cả “vật liệu, đối tượng, công cụ” cho con người trong hoạt động sản xuất và tái sản xuất ra đời sống vật chất (2) Môi trường tự nhiên còn là đối tượng để con người khám phá ra cái thật, khơi nguồn cảm hứng cho họ về cái đẹp và tạo nên trong họ niềm tin về cái thiêng của những điều bí ẩn từ thiên nhiên mà con người chưa thể lý giải (3) Điều kiện tự nhiên thường có sự đan xen cả mặt thuận lợi
và khó khăn Điều này kích thích con người tìm cách vượt qua yếu tố khắc nghiệt; khai thác, tận dụng những mặt thuận lợi của thiên nhiên để phục vụ cuộc sống của mình (4) Trong giới hạn mà tự nhiên cho phép, năng lực sáng tạo của con người đóng vai trò quan trọng trong quá trình thích ứng và cải biến môi trường tự nhiên vốn
có thành môi trường sinh thái - nhân văn theo “qui luật của cái đẹp”, vì nhu cầu tồn tại và phát triển của chính con người [45, tr 149 - 121]
Như vậy, môi trường tự nhiên (hay còn gọi là môi trường sinh thái) là yếu tố quan trọng, là môi trường sống, là điều kiện không thể thiếu để con người tồn tại trong suốt trường kỳ lịch sử “Tuy nhiên, tự nhiên cũng cần sự đồng hành chủ động, tích cực, thiện chí từ phía con người Với miền núi phía Bắc Việt Nam, điều kiện tự nhiên đã đáp ứng tốt để con người nơi đây không chỉ nương tựa mà còn được khơi nguồn cảm hứng, kích thích ý chí, năng lực vươn lên trong quá trình thích ứng và cải tạo môi trường tự nhiên vốn có thành môi trường văn hóa sinh thái - nhân theo “qui luật của cái đẹp”, vì nhu cầu tồn tại và phát triển của con người Và trong sự đồng hành ấy, đồng bào các dân tộc thiểu số bằng cách riêng của mình đã bước đầu chạm được vào
“giới hạn mà tự nhiên cho phép” để tạo nên một diện mạo văn hóa vùng miền đa dạng, phong phú, độc đáo, trong đó có các loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống.”[62, tr 556]
Các nhóm biểu tượng có nguồn gốc tự nhiên trong Then Tày đã ra đời trong môi trường sinh thái ấy Ý nghĩa trực tiếp của các nhóm biểu tượng có nguồn gốc tự nhiên chính là lớp nghĩa chỉ sự vật hiện tượng, là phương tiện biểu hiện của biểu tượng trong Then Tày
Trang 382.1.1 Biểu tượng cây
Cây và rừng cùng với các loài sinh vật, động vật… là một trong hai thành phần quan trọng - thành phần hữu sinh của môi trường tự nhiên “Thực vật rừng hay cây rừng gồm tất cả các loài cây, loài dây leo, loài cỏ thuộc thực vật bậc cao có mạch phân
bố trong rừng Chúng là thành phần chính của hệ sinh thái rừng và là nguồn tài nguyên quan trọng mang lại nhiều lợi ích cho con người
Ở từng nơi, từng lúc thành phần thực vật rừng có thể thay đổi; đó là kết quả sinh trưởng phát triển của từng loài và sự thích ứng của chúng với những biến động của nhân tố ngoại cảnh Vì vậy, thực vật rừng ở mỗi địa phương trong thời điểm nhất định không chỉ phản ánh hiện trạng tài nguyên, tính đa dạng sinh học mà còn phản ánh tình trạng môi trường rừng Nơi lập địa khắc nghiệt thành phần thực vật thường đơn giản, chất lượng thấp; nơi lập địa tốt, ít bị tác động không những chất lượng rừng cao mà thành phần thực vật rừng cũng phong phú đa dạng (…)
Thực vật nói chung và thực vật rừng nói riêng là loại sinh vật duy nhất trên trái đất có khả năng quang hợp tạo nên sinh chất nuôi sống mình và nuôi sống các sinh vật khác góp phần quan trọng vào chu trình tuần hoàn vật chất và năng lượng Thực vật rừng
là nguồn tài nguyên thiên nhiên có khả năng tái tạo cung cấp cho loài người từ lương thực, thực phẩm đến các nguyên liệu, nhiên liệu dùng trong công nghiệp, các loại thuốc chữa bênh, và các vật liệu sử dụng hàng ngày Quần thể thực vật rừng tạo nên môi trường sinh thái thích hợp là nơi cư trú cho nhiều loài sinh vật, nó cũng góp phần cải tạo môi trường không khí, đất và nước làm tăng vẻ đẹp nơi sống của con người”[94]
Đó là nhìn cây và rừng từ góc nhìn khoa học liên ngành, còn từ góc tiếp cận của văn học nghệ thuật, thì đó là cả một kho phong phú tư liệu để sáng tạo nên những trang viết giầu hình ảnh, có sức gợi cảm, góp phần đắc lực tạo nên thế giới nghệ thuật Biểu tượng trong Then Tày lấy ý tưởng từ cây và rừng cũng là một sáng tạo theo con đường như thế
Khảo sát lời Then trong các cuốn sách sưu tầm đã xuất bản, chúng tôi nhận thấy, cây là biểu tượng có mặt trong Then với mật độ khá cao so với các biểu tượng khác Số lần xuất hiện biểu tượng cây là 806 trong tổng số lần xuất hiện các biểu tượng khảo sát 3.359, chiếm tỉ lệ: ~ 23,99 % , đứng thứ hai trong số 8 biểu tượng (xem thêm Bảng 5, phần Phụ lục) Tuy nhiên, ở từng cuốn sách sưu tầm, không phải
Trang 39lúc nào biểu tượng cây cũng chiếm ưu thế (xem Bảng 1, phần Phụ lục), nhưng như vậy không hoàn toàn nói lên vai trò và tính chất quan trọng của biểu tượng này bởi điều đó còn phụ thuộc vào từng loại Then, số lượng văn bản sưu tầm và sự lựa chọn trích dịch chương đoạn nào trong Then của người soạn sách…
Sống gắn bó, lâu đời với thiên nhiên, người Tày đã cảm nhận được giá trị mà cây mang lại cho đời sống của họ, cả về vật chất lẫn tinh thần Trong các khúc ca Then, cây luôn hiện hữu dưới nhiều dạng khác nhau Lúc là cây, lúc là rừng, lúc lại là
vô vàn biến thể khác như: rừng cây, rừng già, sơn lâm, gỗ, gốc cây, ngọn cây, bách mộc, mộc hương, vườn thông, rừng tiên, hoặc các cây có tên cụ thể như cây Rồm, cây Vông, cây đa, cây Sâu, cây Sa nhân, cây Gụ, cây Bồ đề, cây Si, cây Trẩu, cây Sở, cây Sung, cây Bồ kết, cây chuối, cây mía… Dù ở dạng nào thì khi miêu tả, cây vẫn hiện lên trước hết là nguồn tài nguyên quí báu mà thiên nhiên trao gửi cho con người Cũng có lúc rừng động, cây gãy… làm loài người kinh sợ, nhưng trong Then, cây chủ yếu vẫn ưu ái con người nhiều hơn
Trong khúc Then Tày giải hạn, hình ảnh về loài thực vậy ấy thật nên thơ:
… Mỗi cây cao đến hơn trăm sải
Ngay thẳng vút lên ngọn rõ ràng
Én nhạn cùng phượng hoàng làm tổ Sớm chiều xen cánh vỗ thú vui
Rễ nó giữ chui sâu dưới đất Dáng trông tựa kỳ lân vọng nguyệt
Ai cũng thầm yêu quí trong lòng…
Có cây này bốn phương thơm tỏa Trăm thứ ve ngàn dã lùm cây (…) Nào cùng chặt cây này xẻ gỗ…
[6, tr 105]
Trang 40Ở Then Tày, cây còn được nhắc đến trong mối quan hệ gắn bó với số phận con người Dường như chúng được gán cho những buồn vui trăn trở của kiếp người;
chuyên chở, dự báo số phận của con người Sau đây là đoạn Lựa cây để đậu trong
Then Hỉn ẻn của người Tày:
Chớ đậu vào cây Rồm bờ sông
Có hoa mà lại không kết trái Đậu cậy sậy giữa vực gió lay Chim muông không có nơi đan tổ Đời đơn côi quạnh quẽ một thân (…) Thiếu chi ở trong rừng cây tốt
Chớ đậu vào Tin Pết, Kiếp Hoi Cây đó nuôi con không có lộc Hoa đến hoa lại đi không đậu…
[84, tr 290]
Người Thái trắng cũng rất gắn bó với cây và dường như ý nghĩa ấy toát ra
ngay trong câu chữ tộc người này nói về nó:
Đẳm rừng nứa lá mỏng Đẳm chuồng cam dưới “khái”
Lá nứa không lìa cành đâu chứ Trăng khuyết ma không chặt cây nứa làm đòn đâu chứ Trăng rằm ma không chặt cây tre làm rào đâu chứ Tre già không chẻ lạt đan “ bung” đâu chứ
Tre cao không đan sọt đâu chứ Cây thành khóm không chặt làm nhà đâu chứ…
[14, tr 63]