Các công trình nghiên cứu về trường ca Trần Anh Thái tuy đã có nhưng chưa đầy đủ, chưa hệ thống và nhất là chưa thực sự sâu sắc, mà mới chỉ dừng lại ở những bài báo, một số bài nghiên cứ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
Trang 2Nguyễn Lệ Quyên
Trang 3MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
2.1 Nhận định về trường ca Trần Anh Thái 3
2.2 Nhận định về biểu tượng trong trường ca Trần Anh Thái 6
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 10
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
5 Phương pháp nghiên cứu 11
6 Đóng góp của luận văn 11
7 Cấu trúc luận văn 11
NỘI DUNG 12
CHƯƠNG 1: BIỂU TƯỢNG VÀ TÁC GIẢ TRƯỜNG CA TRẦN ANH THÁI 12 1.1 Lý thuyết biểu tượng 12
1.1.1 Khái niệm biểu tượng 12
1.1.2 Tính chất của biểu tượng 16
1.1.3 Cách thức giải mã biểu tượng 18
1.1.4 Phân biệt biểu tượng với một số khái niệm gần gũi 23
1.1.4.1 Biểu tượng với hình tượng 24
1.1.1.2 Biểu tượng với hình ảnh 26
1.2 Biểu tượng trong trường ca Trần Anh Thái 28
Trang 41.2.1 Tác giả trường ca Trần Anh Thái 28
1.2.2 Con đường hình thành biểu tượng trường ca Trần Anh Thái 33
CHƯƠNG 2: HỆ THỐNG BIỂU TƯỢNG TRONG NGÀY ĐANG MỞ SÁNG VÀ MỖI LOÀI HOA MỘT MẶT TRỜI 43
2.1 Biểu tượng con người 43
2.1.1 Biểu tượng mẹ 44
2.1.2 Biểu tượng người lính 48
2.1.3 Biểu tượng những đứa trẻ 55
2.1.4 Biểu tượng người lao động 58
2.2 Biểu tượng thiên nhiên 62
2.2.1 Biểu tượng nước 62
2.2.3 Biểu tượng lửa 66
2.2.3 Biểu tượng đất 70
2.2.4 Biểu tượng cây cối 73
2.3 Biểu tượng sự vật 75
2.3.1 Biểu tượng con đường 75
2.3.3 Biểu tượng đô thị 82
CHƯƠNG 3: CÁCH KIẾN TẠO BIỂU TƯỢNG TRONG TRƯỜNG CA TRẦN ANH THÁI 90
3.1 Ẩn dụ 90
3.2 Nhân hóa 95
Trang 53.3 Tượng trưng 97
3.4 Một số đặc sắc nghệ thuật khác 101 3.4.1 Đối lập 101
3.4.2 Giọng điệu 103
3.4.3 Sự phối hợp các thể loại 108
Kết luận 112
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1 Trong văn học, biểu tượng được sử dụng như một mã nghệ thuật quan trọng, thể hiện cái nhìn độc đáo của nhà văn về thế giới Việc nghiên cứu khám phá và giải mã các biểu tượng trong văn học giúp ta hiểu sâu sắc hơn bản chất sáng tạo của nghệ thuật nói chung, bổ sung thêm một hướng nghiên cứu thi pháp hình tượng, đem lại những khám phá mới mẻ và lí giải quá trình sáng tạo nghệ thuật của tác giả
2 Chiến tranh - hòa bình luôn là những vấn đề lớn, thường xuất hiện ấn tượng trong các thể tài văn học Việt Nam và thế giới Ở thể loại trường ca, đặc biệt là trường ca Việt Nam thế kỉ XX, vấn đề này tiếp tục những phát triển rộng mở và mạnh mẽ, nhất là thời kì đổi mới (sau 1986) đến nay Các nhà nghiên cứu thường gọi giai đoạn này là
Đợt sóng trường ca lần thứ hai Cũng bắt đầu từ đây trở đi, trường ca Việt Nam bước
hẳn sang một giai đoạn mới, giai đoạn tìm tòi, biến đổi ở cả hai phương diện: nội dung
và hình thức nghệ thuật
Trường ca trước 1975 kéo dài đến 1986 ( Đợt sóng trường ca lần một), mang đậm dấu
ấn sử thi và tự sự Âm hưởng chủ đạo trường ca giai đoạn này là ngợi ca, tôn vinh cuộc chiến tranh của dân tộc Sau năm 1975, cùng với những biến động lớn lao của lịch sử-
xã hội; sự nhất thể hóa các dòng văn học trong nước và đặc biệt là sự tương tác, ảnh
hưởng trực tiếp của văn học thế giới, đã tạo ra một cột mốc cho nền văn học trong nước Có thể nói, đây là thời kỳ có nhiều chuyển động mạnh mẽ trong các sáng tác, là thời kì lên ngôi của cái tôi cá nhân, cá thể, cái tôi bản thể Bởi vậy, hiện thực được các tác giả tập trung khai thác là mảng hiện thực của thân phận cá nhân con người, của chiều sâu tâm linh, chiều sâu suy tưởng
Song, có một thực tế, sự quan tâm đến nghiên cứu về trường ca còn lẻ tẻ, chưa có hệ thống và nhất là chưa được tập trung đào sâu suy ngh một cách thấu đáo và toàn diện
Trang 7Các công trình nghiên cứu phê bình thường tập trung vào các trường ca kháng chiến, như Thanh Thảo đã từng nhận xét: Trường ca đã được quyền nghỉ ngơi vì chiến tranh
đã kết thúc rồi Chính vì có quan điểm này, nên việc nhìn nhận đánh giá về trường ca trong thời gian qua chưa thực sự công b ng và chưa có cái nhìn xác thực, thấu đáo Trên thực tế, vùng hiện thực của trường ca v n không ngừng phát triển và nới rộng biên độ, có sự phát triển mạnh mẽ ở cả chiều sâu và bề rộng Và nhất là hiện nay, sau
“đợt sóng trường ca lần thứ hai , nhiều cây bút trẻ liên tiếp cho ra đời, thử sức mình ở thể loại trường ca - Một thể loại đòi hỏi ở người viết phải có một nội lực sáng tạo mạnh
mẽ, bền bỉ, một tư duy rộng và sâu
3 Là một gương mặt tiêu biểu của trường ca Việt Nam hiện đại, Trần Anh Thái với bộ
bốn trường ca Đổ bóng xuống mặt trời (1999) Trên đường (2004), Ngày đang mở sáng (2007), Mỗi loài hoa một mặt trời (2015) đã làm mới diện mạo trường ca Việt
Nam, có sự cách tân trên nhiều phương diện: đề tài, ngôn từ, giọng điệu, hệ thống hình ảnh,… Trần Anh Thái đã mở ra một hướng đi mới cho trường ca Việt Nam trong thời điểm trường ca dường như đang rơi vào ngõ cụt
Trần Anh Thái là một người nghệ s chân chính Ông đã có những cống hiến lớn lao trong việc phát huy truyền thống thơ ca của dân tộc, kết hợp một cách nhuần nhuyễn giữa truyền thống và hiện đại; đồng thời góp phần không nhỏ trong việc tìm tòi, đổi mới, cách tân thể loại Đưa thể loại trường ca tiệm cận với đời sống sâu thẳm của hiện thực, của thân phận người Các công trình nghiên cứu về trường ca Trần Anh Thái tuy
đã có nhưng chưa đầy đủ, chưa hệ thống và nhất là chưa thực sự sâu sắc, mà mới chỉ dừng lại ở những bài báo, một số bài nghiên cứu và một số luận văn nghiên cứu chuyên sâu về phong cách, đặc điểm trường ca,… đặc biệt chưa có công trình nào nghiên cứu
về hệ thống biểu tượng trong trường ca của ông
Trang 8Với tất cả những lý do trên, mục đích nghiên cứu của luận văn lần này là làm rõ hệ thống biểu tượng trong trường ca Trần Anh Thái, chỉ ra những đóng góp của Trần Anh Thái trên thể loại trường ca nói riêng và trong nền thơ ca Việt Nam nói chung
2 Lịch sử vấn đề
Trần Anh Thái là một trong số ít những nhà thơ đương đại nhận được sự quan tâm, chú
ý của bạn đọc và giới nghiên cứu phê bình Ngay từ tập trường ca đầu tiên Đổ bóng xuống mặt trời được ra mắt bạn đọc, nó đã ngay lập tức thu hút sự quan tâm của giới
văn học, các nhà nghiên cứu phê bình có uy tín về phong cách, giọng điệu, ngôn từ, cấu trúc, hình ảnh,…
Có rất nhiều công trình nghiên cứu dưới dạng các bài báo, lời nhận xét ngắn, luận văn nghiên cứu về trường ca Trần Anh Thái có giá trị Đặc biệt cuộc hội thảo thơ có tầm cỡ,
với chủ đề “Nhà thơ Trần Anh Thái với thể loại trường ca” của Viện Văn học Việt
Nam và Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, có sự tham gia của đông đảo các nhà nghiên cứu, phê bình, các nhà văn nhà thơ hàng đầu của cả nước như: GS Trần Đình Sử, GS
Đ ai Thúy, PGS Trương Đăng Dung, PGSTS Nguyễn Đăng Điệp, TS Chu Văn Sơn,
GS Trần Ngọc Vương, GS Nguyễn Văn ong Nhà thơ Trúc Thông, nhà thơ Thanh Thảo, nhà thơ Inrasara, nhà văn Bảo Ninh, Nguyễn uang ập, Chu Lai, Đ Minh Tuấn, Dương Kiều Minh, Hoàng Hưng…
2.1 Nhận định về trường ca Trần Anh Thái
GS.TS Trần Đình Sử đã khẳng định “Trường ca Trần Anh Thái là một cuộc lột xác về diễn ngôn “Trường ca Trần Anh Thái là một đối thoại với truyền thống và giai đoạn trước
Trung Trung Đình đánh giá cao “sức mạnh cảm hứng trong trường ca: “Trần Anh Thái không chọn cấu trúc cho cảm hứng mà ông đã cùng với cảm hứng chọn cho
Trang 9trường ca của mình một cấu trúc, có thể nói một cấu trúc ng u hứng, một cấu trúc hoàn toàn nương theo cảm hứng mang đậm chất tài tử của lối chơi dân dã… và ý tưởng đó
đã tạo nên “vẻ đẹp vạm vỡ của mạch nguồn bởi sức hấp d n của cá tính trầm uất nhưng đầy phóng túng của nhà thơ [14]
Cùng nhận định về cấu trúc trường ca Trần Anh Thái, Nguyễn Hòa nêu ý kiến: “Cái khác biệt của trường ca Trần Anh Thái chính là sự phá vỡ cấu trúc trường ca, không phải kể sự kiện mà là suy tư về sự kiện “Trần Anh Thái chính là đã làm cho trường ca sống lại b ng cảm xúc tâm trạng thoát khỏi những cốt truyện, những sự kiện mà dựa vào suy tư, trải nghiệm của bản thân [57] Còn Trương Đăng Dung thì nhận xét: “Trần Anh Thái đã bóp méo cấu trúc hiện thực để giữ lại cấu trúc cái tôi “Trường ca Trần Anh Thái giữ được mạch trọn vẹn Cảm hứng của anh không như người ta lắp ghép vào với nhau [57] Không thể không nhắc đến nhận định của Đoàn Ánh Dương về cấu trúc trường ca Trần Anh Thái: “Cốt truyện sự kiện bị phân rã và cốt truyện tâm lý được đẩy lên đến cao trào Nó làm nên nét khác biệt của trường ca Trần Anh Thái so với trường ca trước đó Cấu trúc tự sự trong trường ca của anh dựa hoàn toàn vào cảm xúc, lấy cảm xúc làm mạch chủ đạo, mạch sự kiện chỉ nảy sinh nhờ liên tưởng [57]
Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo nhận định: “Câu thơ của Trần Anh Thái có nhiều sự lấp lánh, tạo nên những mảng sáng, khiến người ta đọc không bị nhàm Trường ca Trần Anh Thái có tính bè phách, làm trường ca có bề thế, có hình dáng Sự biến đổi và thay đổi giọng điệu, sắc thái của âm thanh, nhịp điệu biến trường ca Trần Anh Thái như một bản giao hưởng [57]
Ngôn ngữ trường ca Trần Anh Thái có nhiều cách tân, nhà phê bình ưu Khánh Thơ
đã nhận xét: “Trường ca của Trần Anh Thái đều sử dụng các biểu trưng nghệ thuật Ngôn ngữ không còn là những thông tin ngữ ngh a thông thường mà tôi cảm thấy anh
đã xây dựng được những biểu trưng mang tính ẩn dụ nghệ thuật đậm nét [57]
Trang 10Tiến s Đ Thu Thủy nhận thấy “ Dấu riêng của trường ca Trần Anh Thái trước hết là ở những suy tư, lí giải về con người Đó là n i ám ảnh về thân phận người “Sự khác biệt của Trần Anh Thái trong cách nhìn, cách đánh giá, cách lý giải về con người, về lịch sử
là ở tư duy theo chiều hướng tổng hợp và xuyên thấu cả hai phương diện trên [57] Ngoài ra còn có rất nhiều bài báo nghiên cứu về trường ca riêng lẻ của Trần Anh Thái
Có thể kể đến như: Tạ Duy Anh đánh giá cao Đổ bóng xuống mặt trời của Trần Anh
Thái, ông cho r ng với trường ca này Trần Anh Thái đã tạo cho mình một khuôn mặt riêng, không thể hoàn l n với ai Và ông cũng đặc biệt đánh giá cao giọng điệu trong trường ca Trần Anh Thái: “một thứ giọng khỏe, có thể nói là vạm vỡ, không chau chuốt, m n mặn vị muối Thái Bình nhưng thâm trầm của người đã thấm văn hóa Hà Nội , “chính giọng điệu tạo ra cảm giác hoành tráng, sử thi cho tác phẩm [1] Khi
trường ca Trên đường xuất hiện, lại một lần nữa làm người ta ngỡ ngàng, Dương Kiều Minh viết: “Ở trường ca này, tác giả của trường ca Đổ bóng xuống mặt trời đã mạnh
mẽ dứt bỏ, dứt bỏ một cách bạo liệt, quyết đoán đối với những gì còn bịn rịn, níu kéo […] Có lẽ sự dứt bỏ này chưa tạo được sự cảm thông của người đọc đối với trường ca Nhưng sáng tạo thơ ca là vậy, sự cách tân, đổi mới chính mình là mục tiêu quan thiết
nhất, là nguyên tắc quyết định con đường thi ca của m i nhà thơ [36] Ngày đang mở sáng đã đưa Trần Anh Thái trở thành gương mặt tiêu biểu của trường ca hiện đại với
hàng loạt bài viết, bài nghiên cứu của các nhà nghiên cứu, phê bình Nguyễn Đăng Điệp trong bài “Sự khắc khoải của những dòng tâm tư nhận xét “ngôn ngữ thơ Trần Anh Thái được chọn lọc k càng nhưng v n hết sự tự nhiên bởi đó là những con chữ chân thực nhất của một trái tim nhạy cảm đầy suy tư [12] Ngọc Thiên Hoa với “Trần Anh Thái – khúc huyền ca khắc khoải nhận định: “đây là một bản trường ca khai mở một giá trị nhân văn tích cực, nhất là cách nhìn người lính bên kia chiến tuyến với tư cách con người […] Ngày đang mở sáng có đầy đủ những tư cách để đóng dấu son vào văn học Việt Nam nói chung và thể trường ca nói riêng, là lần đầu tiên có một tác
Trang 11phẩm văn học thay đổi cách nhìn trực diện về một cuộc chiến đi qua 2/3 thế kỉ trên một tinh thần nhân văn không cải lương [19;464], về nghệ thuật: “Đây là tác phẩm mở đường cho thi pháp sáng tác mới trong văn học Việt Nam hiện đại [19;465] Với tập
trường ca mới nhất Mỗi loài hoa một mặt trời, “Cái lo âu, bối rối, buồn rầu, thất vọng
và tự giễu mình ấy đã xuất hiện trong ba tập trường ca trước của nhà thơ Trần Anh
Thái là Đổ bóng xuống mặt trời, Trên đường, Ngày đang mở sáng Nhưng phải đến Mỗi loài hoa một mặt trời thì mạch trạng huống ấy mới được phát triển sâu hơn, cao
hơn Ấy là tinh thần phản biện thời đại rõ ràng, song phẳng và đầy nhân bản [9]
Từ những đổi mới, cách tân táo bạo và những đóng góp lớn cho thấy tài năng của Trần Anh Thái ở thể loại trường ca, TS Chu Văn Sơn khẳng định: “Trần Anh Thái là cây trường ca số 1 của thế hệ anh Hiện nay, Trần Anh Thái là một trong những cây trường
ca nổi bật nhất đương đại
Các nghiên cứu này, về cơ bản đều thống nhất đánh giá cao những cách tân về thể loại, ngôn ngữ, giọng điệu, … đồng thời khẳng định Trần Anh Thái là một tài năng độc đáo,
đã có những đóng góp quan trọng cho bộ mặt trường ca Việt Nam thời hiện đại
2.2 Nhận định về biểu tượng trong trường ca Trần Anh Thái
Đã có một số bài viết trên các tạp chí chú ý đến hệ thống hình ảnh trong trường ca Trần Anh Thái Nhìn chung những ý kiến này đều thống nhất nhận thấy và khẳng định giá trị biểu đạt của hệ thống hình ảnh trong trường ca ông
Dương Kiều Minh trong bài viết “Tính hiện đại qua một số hình ảnh biểu tượng, tượng trưng, ẩn dụ trong trường ca Ngày đang mở sáng , ông đã đi khảo sát một số hình ảnh giàu giá trị biểu tượng như: ngôi đền, ngọn lửa, sóng biển, những hộp giấy đựng bầu
trời, ngày,… Dương Kiều Minh khẳng định “Những hình ảnh mang tính biểu tượng,
tượng trưng và ẩn dụ trong trường ca của Trần Anh Thái – là sự sáng tạo, tìm tòi, cách tân - một n lực và bạo liệt của nhà thơ Tính phức điệu của ngữ ngh a, hình ảnh và
Trang 12nhịp điệu được tạo ra từ bản trường ca, đó là một trong những đặc trưng và đặc thù quan trọng nhất của thơ hiện đại đó là đóng góp đáng ghi nhận của nhà thơ Trần Anh Thái với thi ca đương đại Việt Nam [35]
Trong bài “Về những suy tư trong bộ ba trường ca của Trần Anh Thái của PGS tiến s Nguyễn Hữu Sơn, nhận xét “Tôi cảm nhận trường ca Trần Anh Thái thật giàu chất suy
tư suy tưởng, giàu hình ảnh và những liên tưởng làm nên chất thơ giọng thơ [42] Đậu Dung nhấn mạnh về hình ảnh thơ Trần Anh Thái “hình ảnh thơ mang tính ẩn dụ, nhiều lúc thành hình tượng nghệ thuật, ký thác cái tôi tự sự của Trần Anh Thái [9]
“Cấu trúc không gian mở trong Ngày đang mở sáng của Nguyễn Thanh Tú, khi khảo sát về cấu trúc không gian trong trường ca, tác giả đã đặc biệt nhấn mạnh vào biểu tượng biển, với sự khảo sát khá chi tiết 22 lần biển xuất hiện trực tiếp, Nguyễn Thanh
Tú đã đưa ra những ý ngh a tương đối ổn định, trở thành mô tip của biểu tượng biển trong trường ca Trần Anh Thái Nhưng bên cạnh đó, tác giả cũng nhận ra r ng, để làm phong phú, đa dạng và sinh động hơn, Trần Anh Thái đã cấp cho biểu tượng biển ý
ngh a mới: “sự cựa quậy muốn tìm một sự bung phá để vượt qua giới hạn và “là
những gì vất vả lam lũ tảo tần
Nguyễn Chí Hoan trong bài viết “Con đường tượng trưng và băn khoăn lữ khách , ông
đã phát hiện ra k thuật sáng tạo biểu tượng trong thơ Trần Anh Thái “kết hợp một cái
cụ thể với một cái trừu tượng “ba không gian + một thời gian khiến cho những “con đường, lửa, hi vọng, bờ và sóng được thấy như là những biểu tượng, được trừu xuất khỏi ý ngh a thông thường vốn có để trở thành những dấu hiệu của một thực tại, thuộc
về cái tâm linh [23]
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều gọi “Đổ bóng xuống mặt trời là “bản huyền ca của đất [50] xem trường ca này là biểu tượng về văn hóa tinh thần và tâm hồn người Việt
Trang 13Trong cuộc tọa đàm “Trần Anh Thái và trường ca , PGS.TS ưu Khánh Thơ đã nhận xét: “Cả ba trường ca của Trần Anh Thái đều sử dụng các biểu tượng nghệ thuật […] những hình ảnh biểu trưng mang tính ẩn dụ nghệ thuật đậm nét, nhiều phép ẩn dụ nghệ thuật thú vị đã xuất hiện, như: “Con đường, ánh sáng,… vừa là tâm linh, vừa là vô thức Nhân vật “tôi có một cơ chế giấc mơ d n dắt trở thành biểu tượng nghệ thuật đẹp Cũng trong buổi tọa đàm này, PGS.TS Nguyễn Đăng Điệp cũng đã khẳng định: “ngôn ngữ của anh đẹp và giàu biểu tượng Hay TS Nguyễn Thanh Tú thì phát hiện ra:
“Hình ảnh “biển trong thơ Trần Anh Thái day dứt, chật vật, đau đớn về thân phận con người Nhà văn Phạm Ngọc Tiến đã phát hiện ra cái mới mẻ độc đáo trong việc sử dụng hình ảnh trường ca Trần Anh Thái: “Trường ca Trần Anh Thái sâu sắc ở thủ pháp hình ảnh […] Anh viết rất tự nhiên, không khuôn sáo, không theo “phom nào cả Tôi
ấn tượng nhất là yếu tố nguồn cội và hình ảnh mặt trời trong thơ anh [57] Các nhà nghiên cứu, các tác giả đều nhận thấy những nét đặc sắc trong hệ thống hình ảnh và biểu tượng trong trường ca Trần Anh Thái
Lời lời giới thiệu cuốn “Trường ca , nhà xuất bản uân đội Nhân dân đã khẳng định cách thức để vén mở những bí ẩn trong trường ca Trần Anh Thái “Biểu tượng “Trên đường và ẩn dụ tín hiệu “Ngày đang mở sáng , có lẽ là một trong những chìa khóa để bạn có thể vén mở cái khoảng trời hiện dần lên trong trường ca Trần Anh Thái [43] Tiểu luận phê bình “Nhìn lại bến bờ của nhà nghiên cứu Ngọc Thiên Hoa, đã dành một dung lượng rất lớn để khảo sát về trường ca Trần Anh Thái Trong cuốn tiểu luận phê bình này, bà đã khai thác trường ca Trần Anh Thái theo ba phân khúc: Trước, trong và sau chiến tranh Trong quá trình tìm hiểu này bà đã đề cập khá nhiều đến hình ảnh tiểu biểu trong trường ca ông: con người, thiên nhiên, không gian, thời gian,… Tuy nhiên những hình ảnh đó mới chỉ như là những phương tiện để khái quát lên những ý ngh a, giá trị cơ bản, chứ bà không nhìn và khai thác nó như một biểu tượng
Trang 14Trong cuộc tọa đàm về trường ca Trần Anh Thái, bên cạnh những nhận xét về cấu trúc,
đề tài, ngôn từ, một số nhà nghiên cứu cũng đã chú ý đến phương diện hình ảnh của trường ca, PGS.TS ưu Khánh Thơ cho r ng “cả ba trường ca Trần Anh Thái đều sử dụng biểu tượng nghệ thuật, ngôn ngữ thơ không đơn giản là thông tin ngữ ngh a thông thường mà là những biểu trưng mang tính ẩn dụ nghệ thuật đậm nét, nhiều phép ẩn dụ thú vị xuất hiện…Nhân vật “tôi có một cơ chế giấc mơ d n dắt trở thành biểu tượng nghệ thuật đẹp [57]
Luận văn thạc s “Phong cách trường ca Trần Anh Thái của Bùi Thị Thủy, đã bước đầu tìm hiểu hệ thống biểu tượng trong trường ca ông, tác giả đã khẳng định: “Trên hành trình kiếm tìm sự đổi mới, n lực cách tân thơ, Trần Anh Thái đã góp tiếng nói đầy nhiệt huyết của mình b ng những biểu tượng thơ giàu sức gợi, giàu vốn văn hóa và giàu chất suy tưởng [55;74] Trong luận văn này, tác giả đã đi khảo sát một cách khái lược về một số biểu tượng tiểu biểu trong trường ca Trần Anh Thái như: biển, làng, con đường, cái chết, sự hồi sinh Sự nghiên cứu v n còn mang tính khái quát, chưa thể hiện được hết những giá trị mà trường ca Trần Anh Thái đem đến cho người đọc
Một luận văn thạc s khác, tác giả Nguyễn Thị Tuyết Anh, khi đi tìm hiểu “Đặc điểm
cơ bản của trường ca Trần Anh Thái đã khẳng định: “Trường ca Trần Anh Thái rất giàu hình ảnh, đó thường là những hình ảnh kì v , lớn lao bộc lộ một tâm hồn phóng khoáng, tự do mang đậm chất biển [2;88], đồng thời tác giả cũng nhấn mạnh: “Trần Anh Thái xây dựng những hệ thống hình ảnh biểu tượng đa ngh a nhưng nhất quán xuyên suốt ba trường ca Những hệ thống hình ảnh đó thường được đặt trong quan hệ tương phản, đối lập [2;89] Ở luận văn này, tác giả khai thác hệ thống biểu tượng theo hướng: biểu tượng về cái chết, sự hư vô; Hình ảnh biểu trưng cho sự hồi sinh; hình ảnh biểu trưng cho hành trình kiếm tìm và khai mở Cách khai thác theo kiểu tương quan đối lập giữa hai hệ thống biểu tượng và bước đầu đã cho người đọc cái nhìn khái quát về biểu tượng trong trường ca Trần Anh Thái
Trang 15“Trường ca Trần Anh Thái nhìn từ góc độ thể loại luận văn thạc s Nguyễn Thị Thanh Thủy, tác giả cũng đã nhắc tới những biểu tượng tiêu biểu trong trường ca ông như: àng “Trần Anh Thái đã làm sống dậy bản sắc và sức sống của văn hóa Việt – văn hóa Làng với những biểu tượng văn hóa linh thiêng [56;72]; con đường “gắn với hành trình khám phá và sáng tạo nghệ thuật của anh, đó là con đường gắn với khát vọng khám phá và kiếm tìm cuộc sống tận cùng bản thể người của nhà thơ [56;73],…
Các bài viết cũng như công trình nghiên cứu nghiêm túc, sâu sắc, diễn ra rất sôi nổi, bước đầu cho thấy vai trò độc đáo về các hình ảnh trong trường ca Trần Anh Thái Song những nhận xét này mới chỉ dừng lại ở quy mô nhỏ, chưa có hệ thống và chưa có một cái nhìn bao quát tổng thể Đồng thời cũng chưa có công trình nghiên cứu sâu sắc nào trên toàn bộ hệ thống trường ca của ông B ng tất cả những đánh giá, nhận định trên đã góp phần khơi gợi ý tưởng, cung cấp tri thức để người viết lựa chọn và triển
khai đề tài “Hệ thống biểu tượng trong hai trường ca Ngày đang mở sáng và Mỗi loài hoa một mặt trời của Trần Anh Thái
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Qua việc tìm hiểu hệ thống biểu tượng trong hai trường ca của Trần Anh Thái chúng tôi muốn làm rõ tài năng sáng tạo của tác giả, qua đó làm rõ phong cách, bút pháp của ông khi sáng tác trường ca
Quá trình nghiên cứu cũng nh m làm rõ những cống hiến của nhà thơ đến quá trình vận động, phát triển của thể loại trường ca đối với nền văn học nước nhà
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Dựa trên sự phù hợp của đề tài, người viết xác định đối tượng nghiên cứu chính của
luận văn là hai trường ca: Ngày đang mở sáng và Mỗi loài hoa một mặt trời Bên cạnh
Trang 16đó chúng tôi sẽ khảo sát thêm hai trường ca còn lại của ông là Trên đường và Đổ bóng xuống mặt trời
Ngoài ra để làm rõ những đóng góp của trường ca Trần Anh Thái chúng tôi còn mở rộng phạm vi tư liệu với các tác giả trường ca gia đoạn trước và cùng thời
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp tiếp cận hệ thống
5.2 Phương pháp thống kê phân loại
5.3 Phương pháp phân tích tổng hợp
5.4 Phương pháp nghiên cứu liên ngành
6 Đóng góp của luận văn
Qua việc khảo sát hai trường ca của Trần Anh Thái, chúng tôi mong muốn đóng góp hữu ích vào việc làm rõ một cách có hệ thống những yếu tố làm nên sức hấp d n, sức hút của trường ca Trần Anh Thái, đặc biệt là qua hệ thống biểu tượng ở hai trường ca Không chỉ vậy, qua hai trường ca còn cho thấy sự kế thừa và phát triển của trường ca Trần Anh Thái, đóng góp của ông trong việc làm hồi sinh thể loại trường ca hiện đại
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Biểu tượng và tác giả trường ca Trần Anh Thái
Chương 2: Hệ thống biểu tượng trong Ngày đang mở sáng và M i loài hoa một mặt trời
Chương 3: Cách kiến tạo biểu tượng trong trường ca Trần Anh Thái
Trang 17NỘI DUNG CHƯƠNG 1: BIỂU TƯỢNG VÀ TÁC GIẢ TRƯỜNG CA TRẦN ANH THÁI
1.1 Lý thuyết biểu tượng
1.1.1 Khái niệm biểu tượng
Biểu tượng (tiếng anh là symbol, tiếng Pháp là symbole) Triết tự hai chữ biểu tượng ta
có thể hiểu như sau: Biểu là bày ra ngoài, tượng là sự vật hiện tượng cụ thể được dùng
để tượng trưng cho cái cụ thể nào đó Biểu tượng là hình ảnh, sự vật cụ thể bày ra ngoài, dùng để tượng trưng cho cái cụ thể
Biểu tượng có ngh a rộng và hẹp: theo ngh a rộng, văn học phản ánh đời sống b ng hình tượng nghệ thuật Đặc điểm cơ bản của hình tượng nghệ thuật là sự tái hiện thế giới thông qua lăng kính chủ quan của người nghệ s Nhưng hình tượng cũng là hiện tượng đầy tính ước lệ B ng hình tượng, nghệ thuật sáng tạo ra thế giới hoàn toàn mang tính biểu tượng Vậy, biểu tượng là đặc trưng phán ánh cuộc sống b ng hình tượng của văn học nghệ thuật
Theo ngh a hẹp biểu tượng là phương thức chuyển ngh a của lời nói hoặc một loại hình tượng nghệ thuật đặc biệt, có khả năng vừa khái quát được bản chất của sự vật hiện tượng vừa thể hiện một quan niệm, tư tưởng, triết lí sâu xa về con người cuộc đời Biểu tượng bắt đầu được định danh và chú ý từ Arixtot, trải qua quá trình lịch sử nghiên cứu lâu dài với các tác giả như Heghen, Anault,… cho đến nay đã hình thành một hệ thống lý thuyết hết sức phong phú, đa dạng nhưng cũng vô cùng phức tạp Đối với biểu tượng để có một khái niệm thật chính xác về nó quả là một điều không hề đơn giản, đúng như nhà nghiên cứu Jean Chevalier đã nhận xét: “Không cách gì định ngh a
Trang 18được biểu tượng Tự bản chất của nó, nó đã phá vỡ các khuôn khổ định sẵn và tập hợp lại các thái cực trong cùng một ý niệm [26] Hơn nữa, biểu tượng không chỉ là thuật ngữ sử dụng riêng cho mảng nghiên cứu về văn hóa văn học, mà biểu tượng còn là đối tượng nghiên cứu của rất nhiều ngành khoa học khác Bởi vậy, trước khi đi đến một kết luận đầy đủ về biểu tượng, chúng tôi xin được khảo sát các cách hiểu về biểu tượng ở những ngành khoa học khác nhau và đặc biệt là trong l nh vực văn hóa và văn học Việc làm này giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện và đầy đủ hơn về biểu tượng
Theo từ điển Triết học “Biểu tượng là hình ảnh trực quan – cảm tính, khái quát về các
sự vật hiện tượng của hiện thực, được giữ lại và tái tạo lại trong ý thức và không có sự tác động trực tiếp của các sự vật và các hiện tượng đến giác quan Như vậy, nhìn từ góc độ triết học, biểu tượng thuộc về giai đoạn tiền ý thức, nó xuất phát từ hiện thực khách quan và được tái tạo lại trong não con người Với cách hiểu như vậy, tất cả các
sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan sẽ trở thành biểu tượng khi con người tiếp nhận b ng ý thức chủ quan của mình Thế giới ấy có phong phú đa dạng hay không tùy thuộc vào năng lực của m i cá nhân khi tiếp nhận Bởi vậy, trong m i chúng ta ẩn chứa một kho biểu tượng vô tận, đúng như Guy Schoello nhận định: “Sẽ là quá ít, nếu nói
r ng chúng ta sống trong một thế giới biểu tượng, một thế giới biểu tượng sống trong chúng ta [26]
Dưới góc độ Tâm lý, theo từ điển tiếng việt “Biểu tượng là một hiện tượng tâm sinh lý
do một số sự việc ở ngoài tác động vào giác quan khiến ý thức nhận biết được sự vật, kích thích hoặc nhìn thấy hình ảnh của nó trở lại trong trí tuệ hay ý thức Như vậy, từ góc độ tâm lí biểu tượng chỉ có thể xuất hiện khi có sự vật hiện tượng ở ngoài tác động vào giác quan con người và nó là hình thức cao nhất của giai đoạn nhận thức cảm tính trực quan Tâm lý học coi biểu tượng là khâu liên kết giữa các giai đoạn nhận thức của cảm giác trực quan với tư duy trừu tượng, góp phần tạo tiền đề cho giai đoạn nhận thức
lý tính Nó cũng giúp con người nhận biết và hiểu sâu sắc về những thuộc tính, bản
Trang 19chất cũng như tính quy luật của sự vật hiện tượng Nhưng dù là hình thức cao nhất của giai đoạn nhận thức cảm tính, biểu tượng v n chưa phải là hình thức đóng vai trò quyết định đối với việc khám phá và phản ánh thế giới Với đặc điểm như vậy, biểu tượng luôn gắn liền với trí tưởng tượng của con người và nó có thể chuyển hóa thành biểu tượng trong l nh vực nghệ thuật, đặc biệt là l nh vực thơ ca
Theo quan điểm Ngôn ngữ học, S.X.Poocxo đã đưa ra khái niệm về biểu tượng: “Biểu
tượng là một kí hiệu tùy thuộc vào đối tượng mà nó biểu hiện do một luật lệ thông thường là sự liên tưởng chung, là cho biểu tượng ấy được xem như tùy thuộc vào đối tượng ấy Còn E.Yanggo cho r ng: “Biểu tượng là cái nhìn thấy được, mang một kí hiệu diễn tả cái không thấy được Nhìn chung các nhà ngôn ngữ học cho r ng, biểu tượng cũng như tín hiệu ngôn ngữ, là sự thống nhất giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt Cái biểu đạt là lớp vỏ bên ngoài hay phương thức thể hiện, cái được biểu đạt là ý ngh a bên trong hay giá trị nội dung tư tưởng Mối quan hệ giữa hai bình diện này là có
lý do dựa trên quan hệ liên tưởng, tưởng tượng và tính ước lệ Cũng nhờ mối quan hệ này mà biểu tượng thường chứa đựng trong nó nhiều tầng ý ngh a sâu xa, hàm ẩn
Từ góc độ Văn hóa, m i nền văn hóa đều được cấu thành từ nhiều yếu tố khác nhau,
và một trong những yếu tố đó chính là biểu tượng Biểu tượng cũng là một trong những
cơ sở để xác định đặc trưng của các nền văn hóa với nhau
Theo từ điển về văn hóa của Unessco đã khẳng định: “Văn hóa là tập hợp hệ thống biểu tượng, nó quy ước về ứng xử của con người và làm cho số đông người có thể giao tiếp với nhau, liên kết họ thành một cộng đồng riêng Vì vậy, biểu tượng là vấn đề được các nhà văn hóa đặc biệt quan tâm
Jean Chevalier đã chỉ rõ “mọi nền văn hóa đều có thể xem như tập hợp các hệ thống biểu tượng trong đó xếp hàng đầu là ngôn ngữ, quy tắc hôn nhân, các quan hệ kinh tế,… , và ông cũng khẳng định “bản chất khó xác định và sống động của biểu tượng,
Trang 20đồng thời “phân biệt rạch ròi hình ảnh tượng trưng với tất cả những hình ảnh khác mà
nó quá thường hay bị l n lộn [26;XVII] như: biểu hiện, phúng dụ, ẩn dụ,… Những lối diễn đạt b ng hình ảnh này chỉ là những dấu hiệu, không vượt quá mức độ biểu ngh a, còn biểu tượng luôn luôn “rộng hơn hơn cái ý ngh a được gán cho nó một cách nhân tạo, nó có một sức vang cốt yếu và tự sinh [26;XIX] Biểu tượng luôn mang trong nó tính cách tân, biến đổi không ngừng, mãi mãi gợi đến những cái bất tận, vô biên Đồng thời m i thời đại, m i dân tộc lại có những biểu tượng của riêng mình, nó hướng tới biểu đạt những tầng vỉa cảm xúc, thể hiện rõ nét âm hưởng dân tộc và thời đại
Bên cạnh đó biểu tượng vừa mang tính ổn định vừa chứa đựng một tiềm năng về sự biến đổi và phát triển Ổn định vì các nền văn hóa khác nhau bao giờ cũng có một tập hợp hệ thống biểu tượng khác nhau Mặt khác, trong dòng chảy văn hóa ý ngh a của
m i biểu tượng cũng như cả hệ thống luôn được bồi đắp những ý ngh a mới cùng những biến đổi và chuyển hóa của thời đại Chẳng hạn, ở cấp độ đầu tiên là m u gốc khi đi vào đời sống văn hóa m i m u gốc lại sản sinh ra những biểu tượng văn hóa khác nhau, ví như m u gốc nước sẽ sản sinh những biểu tượng khác nhau như: biển, sông, suối, giọt sương, Cho nên, không thể xem xét biểu tượng như một yếu tố t nh
mà phải luôn luôn nhìn nó trong quá trình vận động, trong sử dụng và tái tạo nó của đời sống xã hội
Từ góc độ văn học, biểu tượng là phương tiện tạo hình và biểu đạt có tính đa ngh a
trong văn học Văn học là nghệ thuật ngôn từ trong đó ngôn từ nghệ thuật không chỉ là vật liệu chuyên chở nội dung mà nó có thể làm nảy sinh tư tưởng Muốn vậy, nhà văn phải mã hóa ngôn từ, tạo ra hình thức lạ hóa nh m tổ chức một thế giới nghệ thuật in đậm dấu ấn của chủ thể sáng tạo và xuất hiện những hình tượng nghê thuật có giá trị Như vậy, trong văn học, biểu tượng chính là hình tượng được hiểu ở bình diện kí hiệu – kí hiệu chứa tính đa ngh a của hình tượng Biểu tượng văn học mang nhiều tầng sâu ý ngh a và có tính khái quát cao, soi sáng và làm rõ hình tượng Cũng chính vì biểu
Trang 21tượng mang tính đa ngh a nên không thể giải mã chúng chỉ b ng n lực của lí trí mà đòi hỏi phải có sự thâm nhập vào bên trong với sự m m cảm trong liên tưởng, tưởng tượng
Để giải mã ý ngh a của biểu tượng cần đặt chúng trong mối quan hệ với cả ngữ cảnh (ngữ cảnh lời nói và ngữ cảnh văn hóa) Bởi vì các mối quan hệ này tạo nên hàng loạt
sự tương tác trong môi trường văn hóa – ngôn ngữ, giúp cho chúng ta nhận diện được ý ngh a cũng như sự biến đổi ý ngh a nếu chỉ dựa vào các thành phần nội tại của ngôn ngữ nhất là đối với ngôn ngữ văn học Các biến đổi ngữ ngh a trước hết xuất phát từ các nguyên do : đời sống tâm lí xã hội, văn hóa, năng lực nhận thức về đối tượng của cộng đồng
Như vậy, biểu tượng và đặc biệt là biểu tượng trong văn học có tính đa ngh a và khả năng khái quát cao Biểu tượng văn học không còn sức sống khi tồn tại biệt lập trong ngôn ngữ của tác phẩm văn học mà còn phải có sự liên hệ với môi trường văn hóa, tâm
lí xã hội Do vậy, biểu tượng chỉ được nắm bắt, lí giải b ng việc thâm nhập, khả năng liên tưởng, xâu chu i kết hợp với sự nhạy bén của m i người
Trong văn học dù được xem xét ở nhiều khía cạnh nhưng hầu hết các nhà nghiên cứu đều nhấn mạnh về vai trò, giá trị khái quát và tượng trưng của biểu tượng, đồng thời nêu bật tính đa ngh a của biểu tượng trong tác phẩm văn học
1.1.2 Tính chất của biểu tượng
Trước hết biểu tượng trong văn học mang tính chất tương đối ổn định Khởi nguyên
của biểu tượng là hai mảnh vật bị cắt làm đôi, sau ghép lại để cha mẹ, những người yêu thương nhận ra nhau, cho nên giữa hai mặt của biểu tượng, cái biểu trưng và cái được biểu trưng là mối quan hệ mang tính có lí do Jean Chevalier đã khẳng định “Đặc trưng của quan hệ này là có một sự ổn định nhất định giữa các yếu tố bộc lộ và tiềm ẩn của biểu tượng [26] Các nhà nghiên cứu đều thống nhất khi cho r ng, biểu tượng dù
Trang 22đa dạng, giàu ý ngh a đến đâu v n mang tính ổn định tương đối, ngh a là trong mối quan hệ giữa cái biểu trưng và cái được biểu trưng v n có quan hệ gần gũi ở những mức độ nhất định
Ý ngh a của biểu tượng không phải là một cấu trúc khép kín mà gợi ra nhiều chiều liên tưởng trong thực tại tinh thần của con người, những chiều hướng này rất khác nhau thậm chí trái ngược nhau M i con người có thể tìm thấy trong biểu tượng sự trải nghiệm tinh thần mang tính cá nhân nhưng v n không tách rời bản chất xã hội, cái trung tâm tinh thần chi phối toàn bộ sự vận động của chúng Đó là mối quan hệ thuộc
về bản chất, chứ không phải là sự tưởng tượng h n loạn, không định hướng “các vế chưa biết mà biểu tưởng hướng tư duy của ta về đó không phải là bất cứ điều ngông cuồng nào của trí tưởng tượng [26; XXX], “các biểu tượng đã tỏ rõ một tính ổn định nào đó trong lịch sử các tôn giáo, các xã hội và lịch sử tâm thức m i cá nhân [26; XLII]
Cũng vì có tính ổn định nên biểu tượng được khắp nơi trên thế giới dùng mang ý ngh a chung, thống nhất Bắt nguồn từ ý ngh a đó, biểu tượng nghệ thuật thường có những hạt nhân bảo lưu cho đời sau và được đời sau tiếp thu, bồi đắp thêm các ý ngh a mới, qua quá trình tìm tòi, khám phá của người nghệ s
Biểu tượng văn học mang tính đa nghĩa Do liên tục được bồi đắp những ý ngh a mới
bên cạnh những ý ngh a được bảo lưu nên biểu tượng thường chứa đựng rất nhiều ý ngh a, đó là một hiện tượng đa ngh a Các ý ngh a trong biểu tượng có sự đan xen, chồng lấn và tương tác l n nhau gợi lên những ý ngh a đồng thời Các ý ngh a ban đầu gần m u gốc, có ý ngh a khá rõ ràng, càng xa m u gốc ý ngh a càng trở nên mơ hồ, khó nắm bắt Nó vừa bộc lộ, vừa che giấu, vừa ổn định vừa biến ảo Nhận định về điều này, C.Jung cho r ng “biểu tượng là một hình ảnh thích hợp để chỉ ra đúng hơn cả cái bản chất ta mơ hồ, nghi hoặc của tâm linh… biểu tượng không bó chặt gì hết, nó không cắt ngh a, nó đưa ra bên ngoài chính nó đến một ý ngh a còn n m ở tận phía ngoài kia,
Trang 23không thể nắm bắt được dự cảm một cách mơ hồ và không có từ nào trong ngôn ngữ của chúng ta có thể diễn đạt một cách thỏa đáng [26;XXV] Biểu tượng chứa đựng một năng lượng v nh cửu, nó mãi mãi gợi về cái bất tận, với một biểu tượng m i người
sẽ có những cảm nhận riêng trên cơ sở cái chung của cộng đồng
Ngoài ra, biểu tượng còn mang tính lịch sử Ở m i thời đại, văn học đề cập đến một hệ
thống biểu tượng khác nhau Trong văn học dân gian, hệ thống biểu tượng thường gắn với những gì là khởi nguyên, nguyên sơ như: mặt trời, mặt trăng, gió, nước, lửa,… Đến văn học trung đại, ảnh hưởng mạnh mẽ của Nho giáo, hệ thống biểu tượng lại thay đổi,
đó là: tùng, cúc, trúc, mai, long, ly, quy, phượng,… Đến văn học hiện đại, du nhập và chịu ảnh hưởng của văn hóa phương Tây, biểu tượng lại một lần nữa thay đổi: cao ốc, mảnh vụn,… Không chỉ vậy, có những biểu tượng tồn tại xuyên suốt từ thời kì văn học này đến thời kì văn học khác nhưng nội hàm ý ngh a của nó cũng đã có những sự thay đổi nhất định Biểu tượng văn học không phải là một cấu trúc khép kín mà nó là một hiện tượng mở bởi vậy nó thường xuyên mất đi những nét ngh a quen thuộc thay vào
đó là những nét ngh a mới mang dáng dấp thời đại
1.1.3 Cách thức giải mã biểu tượng
Để có thể hiểu được nội hàm ý ngh a của biểu tượng không phải là một điều đơn giản,
mà cần phải xem xét nó trong tương quan với nhiều yếu tố khác Và chúng tôi xin đưa
ra một số yếu tố khi lí giải biểu tượng cần vận dụng vào để có cách hiểu chính xác nhất
về một biểu tượng:
Xem xét biểu tượng trong tương quan với ngữ cảnh, Đ Việt Hùng cho r ng: “Bất kỳ
một lời nói được phát ra cũng xảy trong một tình huống nhất định Không nắm được tình huống phát ngôn được phát ra, có thể d n tới việc hiểu không đúng, thậm chí không thể hiểu được ý ngh a mà phát ngôn đó muốn truyền đạt [24;39]
Trang 24Trong ngữ cảnh và chỉ trong ngữ cảnh, giá trị hiệu quả của một yếu tố ngôn ngữ mới được bộc lộ trọn vẹn Như vậy, khi phân tích một yếu tố ngôn từ, bao giờ cũng phải đặt
nó trong ngữ cảnh cụ thể Trong ngữ cảnh tu từ, một yếu tố ngôn ngữ biểu hiện một hoặc một số ý ngh a bổ sung nhất định bên cạnh ý ngh a cơ bản Ngoài ngữ cảnh đó, yếu tố cơ bản v n giữ nguyên nhưng phần ý ngh a bổ sung, mang bản chất ngữ cảnh,
có tính chất lâm thời bao giờ cũng biến đổi
Việc giải mã tác phẩm văn chương không bao giờ có thể tách rời ngữ cảnh Và việc giải mã biểu tượng cũng vậy, phải luôn luôn phải đặt biểu tượng trong ngữ cảnh sản sinh ra nó
Xem xét biểu tượng trong tương quan với phong cách tác giả “Phong cách là ch độc
đáo về tư tưởng cũng như nghệ thuật có phẩm chất thẩm mỹ thể hiện trong sáng tác của những nhà văn ưu tú [32;89] Biểu tượng thơ đa dạng, phong phú khi m i nhà thơ đều
có nhu cầu sáng tạo riêng để tạo nên dấu ấn phong cách của mình Các biểu tượng trong thơ hiện đại gắn liền với đặc trưng phong cách của từng tác giả Môi trường sống, kinh nghiệm sống từ ấu thơ cho đến quá trình trưởng thành, trải qua lao động, đấu tranh, chiêm nghiệm có ý ngh a quyết định đến sự hình thành biểu tượng Qua biểu tượng có thể nhận ra cuộc sống quen thuộc, vùng thẩm mỹ của nhà thơ Những dấu ấn tuổi trẻ in đậm trong tư duy sáng tạo của nhà thơ, có khi qua nhiều không gian, thời gian khác nhau nhưng ấn tượng ấy mãi tồn tại trong phần tiềm thức, vô thức của tác giả
Vì thế mà sông nước cứ trở đi trở lại trở thành biểu tượng trong thơ Tế Hanh, trăng máu là biểu tượng trong thơ Hàn Mặc Tử, bà trong thơ B ng Việt, Nguyễn Duy,… Quá trình chuyển từ phạm vi tâm lý xã hội sang phạm vi tâm lý cá nhân, từ cái vô thức sang ý thức sáng tạo, từ bình diện văn hóa mang tính cộng đồng sang cái cá nhân, cá thể, từ chất liệu vật thể đến chất liệu phi vật thể (ngôn ngữ) mà kết quả của nó là sự biến đổi ý ngh a của biểu tượng nghệ thuật, biểu tượng thơ ca được hiện thực hóa thông qua chính các thao tác ngôn từ: lựa chọn các biến thể trong vốn từ - biểu tượng
Trang 25trong phạm vi ngôn ngữ văn hóa và tạo ra các biến thể mới b ng các quan hệ kết hợp trong ngữ đoạn uá trình đó xác định dấu ấn của tác giả - người sử dụng đồng thời là người sáng tạo lại các biểu tượng trong thơ ca Tồn tại ở bình diện chủ thể, được hiện thực hóa thông qua các thao tác lựa chọn, kết hợp ngôn từ, sự biến đổi ý ngh a biểu tượng tất yếu gắn với đặc trưng phong cách thể loại và nhất là phong cách tác giả Vấn đề phong cách tác giả trong sự biến đổi ý ngh a của biểu tượng là sự thống nhất giữa các yếu tố sau: quan niệm của tác giả về thực tại – đối tượng biểu hiện – phương thức, thủ pháp biểu hiện Trong từng tác phẩm, ý ngh a văn hóa của biểu tượng được nhào nặn lại thông qua năng lực nhận thức của những cá tính sáng tạo nhất định Điều quan trọng nhất là tác giả đã sử dụng vốn văn hóa chung, cái tiềm năng ý ngh a ở trong
m i biểu tượng ấy ra sao Trong những nhân tố của ngữ cảnh, nhân tố chủ thể nối kết
và điều chỉnh tất cả các nhân tố khác do tính chủ động và khả năng định hướng của nó Mục đích của tác giả quyết định sự lựa chọn biến thể cũng như quá trình kết hợp các yếu tố để tạo ra biểu tượng mới, điều chỉnh ý ngh a vốn có, sản sinh ra nét ngh a mới
Do đó, sự biển đổi ý ngh a biểu tượng trong thơ ca, xét đến cùng chính là vấn đề liên quan đến phong cách tác giả trong mối tương quan với phong cách thời đại, phong cách thể loại
Trong phạm vi các phong cách ngôn ngữ phi nghệ thuật, sự lựa chọn không n m
trong bản thân ngôn ngữ mà trong những tình huống xã hội, những hoàn cảnh giao tiếp điển hình sẽ chi phối sự lựa chọn của người sử dụng Với ngôn ngữ nghệ thuật, hoàn cảnh điển hình luôn luôn là các yếu tố đã được thẩm thấu qua đời sống tinh thần của chủ thể, bị điều chỉnh bởi chủ thể Trong phạm vi đó, thao tác lựa chọn và kết hợp quyết định giá trị phong cách trong các cấp độ biểu hiện của biểu tượng: đặc trưng của hình tượng và sự tổ chức hệ thống tín hiệu thẩm m
Ở một tác phẩm văn học, có thể tồn tại một hoặc nhiều hình tượng Có thể một tác phẩm chỉ tập trung làm sáng rõ một biểu tượng, trong trường hợp này biểu tượng là sự
Trang 26hóa thân của hình tượng trung tâm Chẳng hạn như biểu tượng “ánh trăng trong tác phẩm “Ánh trăng của Nguyễn Duy Hoặc có một số tác phẩm có nhiều biểu tượng, hay biểu tượng gắn với phần nào đó trong tác phẩm, thì biểu tượng thực chất là sự nâng cấp của các hình ảnh, chi tiết – nâng cấp b ng cách trao cho nó ý ngh a sâu sắc, giàu ấn tượng Vấn đề đặt ra là làm thế nào để những hình ảnh đó trở thành biểu tượng Trong đời sống văn hóa, trở thành biểu tượng khi nó được gắn với một hoặc một vài ý ngh a nào đó Nhưng quan trọng hơn ý ngh a đó phải được xây dựng trên một nền tảng nhất định và được nhiều người thừa nhận Từ cách hiểu này, ta có thể phần nào hiểu được
cơ chế tạo thành biểu tượng trong tác phẩm nghệ thuật Biểu tượng nghệ thuật là kết quả của sự sáng tạo đầy dụng ý của nhà văn Để có được biểu tượng trong tác phẩm, trước hết nhà văn phải tạo ra những hình ảnh cụ thể cảm tính, có đường nét, màu sắc, hình hài mà người đọc có thể cảm thấy, nghe thấy, nhìn thấy Tiếp đến nhà văn sắp xếp,
bố cục sao cho hình ảnh đó thật nổi bật, gây ấn tượng sâu sắc về mặt ý ngh a Nhà văn phải làm cho người đọc luôn cảm thấy đ ng sau những hình ảnh đó luôn tồn tại những
ý ngh a khác và khiến họ bị ám ảnh Mà ý ngh a của bất kì sự vật, hiện tượng nào chỉ
có được trong mối quan hệ với sự vật, hiện tượng khác Cho nên để cho hình ảnh trở thành biểu tượng, nhà văn thường sắp xếp nó trong các mối quan hệ và biến nó thành trung tâm của mối quan hệ ấy
Muốn hiểu được biểu tượng, nhất thiết phải đặt nó trong môi trường sống của nó Đối với các tác phẩm văn học, môi trường trước tiên đó chính là tác phẩm Các nghệ s thường xuyên sử dụng các hình ảnh mang ý ngh a biểu tượng, và sự lặp lại các hình ảnh đó mang đến một giá trị nhất định đến người tiếp nhận nó Sống trong môi trường chung về văn hóa, thời đại, biểu tượng tồn tại trong môi trường không mất đi: chỉnh thể tác phẩm, nên thời đại mà tác phẩm ra đời dù đã lùi xa nhưng nó v n sống động trong những mối quan hệ, ý ngh a của nó v n được cảm nhận và lí giải Tuy nhiên, theo thời gian và không gian, những biểu tượng đó sẽ liên tục được bổ sung những ý ngh a mới
Trang 27Chính vì vậy, dù tồn tại trong môi trường không thay đổi theo không gian và thời gian
“chỉnh thể tác phẩm thì ý ngh a biểu tượng trong tác phẩm cũng không hoàn toàn xác định, v n luôn phát triển, kích thích khả năng sáng tạo của người đọc
Phong cách là cá tính tác giả nhưng nó v n mang dấu ấn thời đại và dân tộc Tính dân tộc là thuộc tính tất yếu của văn học, thì phong cách tác giả không thể thoát li được thuộc tính này, không thể thoát li được thời đại của mình M i thời đại có một khuynh hướng hình thành biểu tượng riêng và m i nhà văn cũng có hứng thú riêng khi xây dựng biểu tượng nghệ thuật
Xem xét biểu tượng trong tương quan với truyền thống “Đứng trước một tác phẩm,
nhất là tác phẩm hay, phải luôn có ý thức đặt vấn đề nó đã kế thừa và bảo vệ những tinh hoa và loại bỏ những cặn bã trong di sản dân tộc như thế nào; đồng thời đã có đóng góp, phát triển ra sao cho những tinh hoa đó [33;689] Biểu tượng chính là phần tinh hoa nhất của m i tác phẩm Chính vì vậy, khi xem xét biểu tượng phải xem xét chúng trong mối tương quan với truyền thống, mới có thể thấu đáo, giải mã được hết những ý ngh a của biểu tượng
Không thể phủ nhận yếu tố truyền thống của các biểu tượng nghệ thuật, nó dường như
là m u số chung Yếu tố truyền thống chính là sự thừa nhận về mặt ý ngh a của một cộng đồng trong một thời kì lịch sử nhất định đối với một biểu tượng Khi tiếp nhận biểu tượng, không thể bỏ qua yếu tố này, chính nó đem lại giá trị độc đáo cho biểu tượng nghệ thuật – giá trị thời gian, giá trị lịch sử, giá trị của chiều sâu quan niệm, cảm nhận của con người trong một thời, nó là cơ sở tạo nên tính đa ngh a, cơ sở tiếp nhận biểu tượng nghệ thuật Thế nhưng, bên cạnh những ý ngh a truyền thống, biểu tượng luôn có xu hướng cách tân, hoặc là bổ sung ý ngh a cho những biểu tượng đã cũ hoặc phát sinh những biểu tượng hoàn toàn mới Ví dụ biểu tượng “sóng trong tác phẩm
Sóng của Xuân Quỳnh, vốn trong truyền thống văn hóa, sóng là biểu tượng cho sự ra đi,
cho cái động tức biểu tượng cho người nam giới, nhưng trong tác phẩm này, Xuân
Trang 28Quỳnh đã làm mới biểu tượng b ng cách cho hình tượng sóng là biểu tượng của người phụ nữ Biểu tượng thường xuyên đan xen giữa yếu tố truyền thống và yếu tố cách tân Chính điều đó khiến cho biểu tượng nghệ thuật, một mặt dễ khơi dậy những yếu tố cổ xưa nhưng đồng thời lại khơi dậy những yếu tố mới, sáng tạo
Biểu tượng nghệ thuật có khả năng tái sinh, có thể chuyển vào trong nó những ý ngh a mới, dấu ấn thời đại và luôn luôn mang đậm dấu ấn cá nhân của người sáng tạo ra nó Như vậy, khi tiếp nhận một biểu tượng nghệ thuật không được tách rời nó khỏi thời đại, nền văn hóa mà nó được sản sinh ra Bởi vì “quá trình tạo ngh a của m i biểu tượng thường có lịch sử lâu đời hàng vạn năm, gắn liền với quá trình hình thành quan niệm về thế giới của con người cổ xưa [15;25] Nhà văn thường dùng những nét ngh a này như một phương tiện để cộng hưởng với người đọc Nếu không nắm được yếu tố truyền thống trong m i mã nghệ thuật thì rất khó trong việc tiếp cận tác phẩm nói chung và biểu tượng nghệ thuật nói riêng
M i biểu tượng cũng thường chứa đựng những ý ngh a kín đáo, thâm trầm, thậm chí bí hiểm của nhà văn, cho nên, khi tìm hiểu biểu tượng chúng ta cần đặt nó trong một mối quan hệ khác: chỉnh thể tác phẩm, toàn bộ thế giới nghệ thuật của nhà văn Thời đại có thể thay đổi, nhiều khi trở thành quá khứ khó nhận biết, khó tái hiện một cách toàn vẹn, nhưng văn bản, cấu trúc tác phẩm và toàn bộ thế giới nghệ thuật của tác giả thì không bao giờ thay đổi, vì vậy, nó trở thành cơ sở quan trọng để giải mã biểu tượng Nhìn chung, chúng ta cần vận dụng toàn bộ tâm tư, tình cảm, sự nhạy bén, tư duy để tìm hiểu và giải mã biểu tượng, xét nó trong nhiều mối quan hệ
1.1.4 Phân biệt biểu tượng với một số khái niệm gần gũi
Trong thực tế biểu tượng được dùng với nhiều ý ngh a không nhất quán, hơn nữa biểu tượng lại là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, vì vậy việc xác định nội hàm khái niệm biểu tượng là vấn đề rất phức tạp Để hiểu rõ biểu tượng chúng ta cần
Trang 29có sự phân biệt biểu tượng với một số thuật ngữ khác hay nhầm l n với biểu tượng Bởi
vì “sự nhầm l n này dễ làm cho biểu tượng yếu đi thành một dạng tu từ
1.1.4.1 Biểu tượng với hình tượng
Văn học là nghệ thuật ngôn từ, nó phản ánh cuộc sống b ng hình tượng Bên cạnh đó sức sống của các tác phẩm văn học, tính đa ngh a của một tác phẩm phụ thuộc vào hệ thống biểu tượng Vậy giữa hình tượng và biểu tượng khác nhau ở đâu và chúng có mối quan hệ gì với nhau?
Biểu tượng và hình tượng là hai mặt biểu hiện tồn tại trong tác phẩm, chúng có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau Trong thực tế hai khái niệm này thường bị dùng l n lộn với nhau, mặc dù bản chất của chúng khác xa nhau
Hình tượng (image) nghệ thuật là phương thức nhận thức và sáng tạo lại hiện thực theo cách nhìn, quan điểm của m i tác giả Tức hình tượng được hình thành trong mối quan
hệ với hiện thực khách quan với nhận thức chủ quan của con người Tuy nhiên, hình tượng không phải bản sao chép máy móc của hiện thực khách quan, mà nó là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, nó đã được tái tạo qua lăng kính chủ quan, sự sáng tạo của người nghệ s
Biểu tượng chính là hình tượng được hiểu ở bình diện kí hiệu – kí hiệu chứa tính đa ngh a của hình tượng, ý ngh a của biểu tượng là sự kết hợp giữa tính nghệ thuật của văn học và đặc trưng văn hóa của dân tộc Biểu tượng văn học mang nhiều tầng sâu ý
ngh a và có tính khái quát cao, soi sáng và làm rõ hình tượng “Sự ra đời của biểu
tượng gắn liền với sự thực hiện năng khiếu tinh thần đặc biệt chỉ có ở loài người -
năng lực "biểu tượng hoá" và biểu tượng được hiểu là một sự vật hiện tượng nào đó,
nhờ thể hiện trong nó một nội dung cụ thể, cảm tính, mà hiện tượng này biểu hiện,
trình ra những ý ngh a, mang giá trị trừu tượng Có thể nói biểu tượng chính là một dạng thức ký hiệu - ngôn ngữ văn hoá.” [16]
Trang 30Theo TS Nguyễn Thị Ngân Hoa “biểu tượng văn hóa, biểu tượng nghệ thuật, biểu tượng thơ ca trong những tác phẩm nhất định, phải được tổ chức lại thành các hình tượng với chất liệu đặc trưng cho từng ngành nghệ thuật [21] và từ đó tác giả khẳng định “biến thể của biểu tượng trong tác phẩm là hình tượng Như vậy, “mọi biểu tượng trước hết phải là hình tượng (ký hiệu biểu thị) [21], nhưng cũng cần lưu ý r ng không phải bất cứ hình tượng nào cũng có thể trở thành biểu tượng Mặc dù, biểu tượng xuất phát từ hình tượng, nhưng giữa chúng v n có sự khác nhau rất rõ nét:
Biểu tượng và hình tượng đều là những kí hiệu (sign) mang ngh a, có những giá trị nhận thức cảm tính chủ quan trong việc phản ánh thực tại, có phương tiện biểu đạt là ngôn ngữ, nhưng lại khác nhau ở ch : sự tồn tại của hình tượng nghệ thuật không bao giờ vượt qua giới hạn của hình thức biểu đạt cụ thể (luôn có phương tiện biểu thị trọn vẹn ngh a của hình tượng) còn sự tồn tại của biểu tượng thì vượt quá giới hạn của hình thức biểu đạt, biểu ngh a (ngh a là không có một phương tiện nào có thể biểu đạt trọn vẹn ngh a của biểu tượng)
Hình tượng bao giờ cũng có xu hướng tách khỏi một hệ thống nào đó để phù hợp với yêu cầu: tự do, hoàn thiện, độc đáo và khác biệt Trong khi đó biểu tượng bao giờ cũng
n m trong một hệ thống nhất định, không thể tách ra trong sự nhận thức của con người Điểm khác nhau rõ nhất chính là biểu tượng có phạm vi lớn hơn nhiều so với hình tượng Hình tượng là “sự phản ánh thực tại một cách khái quát b ng nghệ thuật dưới hình thức những hiện tượng cụ thể, sinh động, điển hình, nhận thức cảm tính trực tiếp [26;550] Như vậy, hình tượng vừa thể hiện bản chất hiện thực vừa bộc lộ thái độ, tình cảm của chủ thể Từ hình tượng gợi lên biểu tượng tức là thêm một động tác trong quá trình tiếp nhận nghệ thuật, đời sống, và như vậy, trong quan hệ này, hình tượng là một khái niệm, còn biểu tượng là ý ngh a của khái niệm ấy Thế nên, cũng dễ hiểu, cùng một hình tượng sẽ hình thành những biểu tượng phụ thuộc vào cá tính của người sáng tạo, đối tượng tiếp nhận Cùng một hình tượng người mẹ trong thơ Tố hữu là một biểu
Trang 31tượng, trong thơ Nguyễn Duy là một biểu tượng khác hẳn b ng những chất liệu, chi tiết cảm quan và ý đồ nghệ thuật khác Cái được biểu đạt dồi dào hơn cái biểu đạt
Giữa biểu tượng và hình tượng có sự khác biệt đáng kể nhất là cấu trúc ý ngh a của chúng Mặc dù có xu hướng mở rộng ý ngh a nhưng biểu tượng bao giờ cũng hướng
về tính cố định của ngh a Bất cứ biểu tượng nào, dù có phong phú về ý ngh a bao nhiêu thì cũng có một ngh a cố định, chí ít là trong một giai đoạn nào đó Trong khi đó hình tượng nghệ thuật lại chứa đựng cái mới, cái bất ngờ, nó làm biến đổi quan niệm mới về thực tại Chính sự khác biệt đó tạo ra cơ sở cho sự biến đổi linh hoạt giữa biểu tượng và hình tượng: phần lớn sự kết hợp của nhiều biểu tượng có thể tạo nên hình tượng Ví dụ như trong “Đây thôn v dạ – Hàn Mặc Tử, nhiều biểu tượng kết hợp tạo nên hình tượng thế giới đẹp đẽ nhưng n m ngoài tầm với Ngược lại không phải hình tượng nào cũng có thể trở thành biểu tượng Chỉ những hình tượng thực sự điển hình, được công chúng thừa nhận, thể hiện sâu sắc một ý ngh a nào đó mới trở thành biểu tượng Để trở thành biểu tượng phải có sự cộng hưởng, hòa nhập với không khí của thời đại Nếu như hai hình tượng Chí Phèo và Thị Nở mà thiếu đi biểu tượng “bát cháo hành thì câu chuyện sẽ mất đi chiều sâu nhân văn nhân bản Hay người ta khó có thể
nói chị em Liên trong Hai đứa trẻ – Thạch Lam là biểu tượng cho một điều gì đó Nhưng với AQ trong AQ chính truyện của L Tấn là biểu tượng sống động cho phép
thắng lợi tinh thần
Biểu tượng và hình tượng là hai mặt biểu hiện tồn tại trong cùng một tác phẩm – thuộc phạm trù nghệ thuật Chúng có mối tương quan, gắn bó chặt chẽ với nhau trong quá trình hình thành nên tác phẩm nghệ thuật
1.1.1.2 Biểu tượng với hình ảnh
Biểu tượng là những hình ảnh sự vật cụ thể cảm tính bao hàm trong nó nhiều ý ngh a, gây được ý ngh a sâu sắc với người đọc Biểu tượng được coi là kí hiệu thẩm m đa
Trang 32ngh a bao gồm cái biểu đạt và cái được biểu đạt Nó chính là sự mã hóa ý tưởng, cảm xúc của nhà văn Biểu tượng trở thành phương tiện diễn đạt cô đọng, hàm súc, có sức khai mở lớn trong sự tiếp nhận của độc giả Những tác phẩm sử dụng nhiều biểu tượng chính là sự chối từ cách viết theo lối biểu hiện tâm tư tình cảm, nhất là đối với thơ ca Biểu tượng được hình thành trong một quá trình lâu dài có tính ước lệ và tương đối ổn định Biểu tượng là cái nhìn thấy được mang một kí hiệu d n ta đến cái không nhìn thấy được Biểu tượng là môi giới giúp ta tri giác những thứ bất khả tri giác Biểu tượng được hiểu như những hình ảnh tượng trưng được cả cộng đồng dân tộc chấp nhận và sử dụng rộng rãi trong một thời gian dài Ngh a của biểu tượng nhiều tầng bậc phong phú ẩn kín bên trong, nhiều khi khó nắm bắt Biểu tượng thể hiện quan niệm thẩm m của m i tác giả
Như vậy, được gọi là biểu tượng khi tích tụ trong nó ý ngh a sâu sắc, được cộng đồng thừa nhận, nó luôn hướng đến một ngh a cố định nào đó, đồng thời lại tiềm ẩn mở ra những ngh a khác trong sự tiếp nhận của con người Có thể nói biểu tượng là những hình ảnh sự vật cảm tính chứa đầy ý ngh a và nó trở nên sinh động hơn trong đời sống văn hóa và sự tiếp nhận của con người
Từ nhiều hình ảnh sẽ d n đến biểu tượng nhưng không phải bất cứ hình ảnh nào cũng
có thể trở thành biểu tượng “Hình ảnh, thứ nhất là người, vật, cảnh vật thu được b ng khí cụ quang học [máy ảnh] hoặc để lại ấn tượng nhất định và tái hiện trong trí (hình ảnh quê hương, hình ảnh mẹ lại hiện lên trong tâm trí); thứ hai là khả năng gợi tả sinh động trong cách diễn đạt (lối diễn đạt có hình ảnh, dùng nhiều từ ngữ giàu hình ảnh) [37;548] Hình ảnh được hiểu là người, vật, cảnh để lại ấn tượng và tái hiện trong trí nhớ chúng ta, ở một mức độ nào đó, cái biểu đạt trùng khít với cái được biểu đạt
Trang 33Trong văn học nghệ thuật biểu tượng và hình ảnh gần gũi với nhau về mặt chức năng
và nội dung Tự bản thân chúng, các hình ảnh không được sử dụng như một biểu tượng; chúng trở thành biểu tượng khi được đặt trong môi trường phù hợp
Như vậy một hình ảnh có thể mang ý ngh a biểu tượng, cũng như nhiều hình ảnh khác nhau có thể được sử dụng để truyền tải một ý ngh a biểu tượng giống nhau
1.2 Biểu tượng trong trường ca Trần Anh Thái
1.2.1 Tác giả trường ca Trần Anh Thái
Nhà thơ Trần Anh Thái sinh ngày 10 tháng 8 năm 1954, ở một vùng quê nghèo ven biển Đông Hoàng, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình Tuổi thơ ông chìm trong tiếng sóng quanh năm ngày tháng u trầm, nhiều nhọc nh n và lam lũ Vì thế như một định mệnh, biển chính là niềm vui, n i buồn, là hạnh phúc, khổ đau, là nơi nương tựa, chở che, nơi
để ông tìm về sau những hoang hoải, giông bão của cuộc đời Đó là một cõi linh thiêng trong sâu thẳm tâm hồn thi s nơi ông Cũng chính sự gắn bó sâu nặng với không gian biển đầy nắng, gió này đã góp phần tạo nên một Trần Anh Thái thực sự đặc biệt, không hòa l n với những nhà thơ đương thời Thơ ông vừa mang cái trong sáng, hào phóng vừa ẩn chứa sự thâm trầm, sâu lắng như chính biển khơi bao la, rộng lớn và sâu thẳm Vốn xuất thân trong một gia đình nghèo, nên ngoài những giờ đến trường, tuổi thơ Trần Anh Thái gắn liền với cánh đồng – vùng biển quê hương ông để tìm kế sinh nhai Trải qua những năm tháng khó khăn và nghèo khổ, nhà thơ đã có dịp đi khắp các vùng đất quê hương Vốn là người ưa khám phá, tìm tòi nhà thơ đã có cái nhìn thật đặc sắc
mà cũng đầy sâu nặng với quê hương mình, đó là một tình yêu chân thành, tha thiết, được vun trồng, bồi đắp qua những năm tháng ấu thơ Đồng thời, chính sự ham hiểu biết, khám phá ấy, đã giúp Trần Anh Thái tích lũy được vốn hiểu biết phong phú, đa dạng về những phong tục, tập quán và tinh hoa văn hóa dân gian của vùng đồng b ng châu thổ sông Hồng
Trang 34Sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống hiếu học, bởi vậy ngay từ nhỏ, Trần Anh Thái đã có tình yêu với thơ ca Thú vui thuở niên thiếu của nhà thơ là những lần sang nhà hàng xóm để mượn sách và ông ngấu nghiến đọc cho kì hết những cuốn sách mình mượn được Có lẽ duyên nợ với thơ văn của ông đã bắt nguồn từ tấm bé Để rồi, năm
16 tuổi ông cầm bút viết những câu thơ đầu tiên, nhưng đó là những vần thơ cất đi, vần thơ cho riêng mình Hai năm sau những vần thơ ngây ngô, vụng dại ấy đã theo ông vào chiến trường
Năm 1973, sau khi tốt nghiệp cấp III, Trần Anh Thái nghe theo tiếng gọi của đất nước lên đường ra nhập quân đội, vào miền Nam chiến đấu tại chiến trường Tây Nguyên và quân khu V Trần Anh Thái đã tham gia nhiều trận đánh lớn, trải qua nhiều hiểm nguy trong những năm tháng mưa bom bão đạn ác liệt Những trận đánh tối trời, tối đất, mịt
mù khói bom đạn, kéo dài tưởng như vô tận không có hồi kết, chết chóc luôn đi ngang trước mặt, hy vọng về sự sống mong manh và đôi khi là tuyệt vọng đã trở thành vết sẹo tinh thần ăn sâu vào tâm khảm, tiềm thức của ông Và cũng chính vì những điều ấy mà các trang thơ sau này của ông đều thấm đ m dư âm của chiến tranh, một chiến tranh tàn khốc, chia ly, nước mắt, máu, n i đau,… Đồng thời, đó cũng là hồi chuông cảnh tỉnh, sự phản kháng mạnh mẽ về chiến tranh, về tính người
Năm 1975, chiến tranh chấm dứt, hòa bình được lập lại, Trần Anh Thái ở lại miền Nam một thời gian ngắn rồi trở ra Bắc, theo học khoa Ngữ Văn, trường Đại học Tổng hợp
Hà Nội để tiếp tục đam mê văn chương thuở niên thiếu
Năm 1981, Trần Anh Thái được điều về làm phóng viên văn hóa của tờ báo uân đội nhân dân Trong thời gian này, nhà thơ đã có dịp đi tới mọi vùng quê của đất nước, tiếp xúc với nhiều mảnh đời, phận người khác nhau, những n i buồn đau nhân thế Có điều kiện đi công tác nhiều nơi, được học hỏi và giao lưu rộng rãi với các nền văn hóa, đặc biệt ông còn được nhiều lần ra nước ngoài, giao lưu, học hỏi, gặp gỡ, tiếp xúc với những nền văn học lớn Chính sự gặp gỡ này đã thôi thúc trong Trần Anh Thái tinh
Trang 35thần cách tân, đổi mới thơ ca, những thử nghiệm, tìm tòi của Trần Anh Thái đã có những đóng góp to lớn cho sự đổi mới cho nền thi ca của dân tộc
Là một cây bút có tiềm lực dồi dào, Trần Anh Thái có một sự nghiệp sáng tác tương đối đồ sộ Trong sáng tạo nghệ thuật, ông luôn mang trong mình sự băn khoăn, lựa chọn, luôn tìm những hướng đi mới, cách tân, đổi mới, đó chính là cách mà Trần Anh Thái khẳng định chính mình Trần Anh Thái trải nghiệm trên khá nhiều thể loại: Tiểu
thuyết: Số phận nghiệt ngã (in 1991); Truyện kí: Gieo chữ trên đá (2001); Tạp văn: Nói thật nói ối (2012); Nghiên cứu lịch sử : uận c ng Nguy n ng ơ uộc đời
à s nghiệ (2015); Thơ: hát đắng và ngọt ngào (1990), Độc thoại trắng (1996), Vọng trắng (1997), T ạch ( 010); Trường ca: Đổ bóng xuống mặt trời (1999), Trên đường (2004), Ngày đang mở sáng (2007), Mỗi loài hoa một mặt trời (2015) Tuyển tậ trường ca à thơ (2014) Trải nghiệm trên nhiều thể loại khác nhau, Trần Anh Thái
thực sự khẳng định mình khi đến với thể loại trường ca Với trường ca, Trần Anh Thái không chỉ làm mới mẻ và khẳng định diện mạo của chính mình trên văn đàn mà còn đánh dấu một bước phát triển cho trường ca hiện đại Việt Nam
Trần Anh Thái thuộc thế hệ nhà thơ đổi mới Giai đoạn này, văn học Việt Nam nói chung và thể loại trường ca nói riêng có nhiều bước chuyển biến, sự thể nghiệm trên mọi phương diện: ngôn ngữ, cấu trúc, giọng điệu, trần thuật,… sự vận động diễn ra hết sức phong phú, sôi động đồng thời cũng vô cùng phức tạp
Trường ca trước 1975 kéo dài đến 1986 ( Đợt sóng trường ca lần một), mang đậm dấu
ấn sử thi và tự sự Âm hưởng chủ đạo trường ca giai đoạn này là ngợi ca, tôn vinh cuộc
chiến tranh của dân tộc (Một nền thơ tràn trề niềm tin và hy vọng chắc nịch - chữ dùng
của giáo sư Trần Đình Sử) Cách nhìn của các tác giả thường một chiều, đứng hẳn về
(Bên thắng cuộc), quan hệ giới tuyến rạch ròi giữa ta và địch: “Ôi nhân dân, tấm lá chắn diệu kì/ Người biết nhận về mình mọi vết xăm cho căn hầm nguyên vẹn (Đường
tới thành phố - Hữu Thỉnh), những người lính vô danh chiến đấu kiên cường, sẵn sàng
Trang 36hi sinh vì tổ quốc: “Người lính nằm đợi thù/Thời gian dồn thuốc nổ/ Đêm nhập cùng màu áo/ Áo nhậ cùng đêm khuya/ Họ đã sống những đêm ròng ghê gớm/ Ném thủ pháo, chôn mìn, nổ súng/ Lửa tóe lên từ ng c áo mưa ầm/ Họ nằm bên xác người đã khuất/ Nước mắt lưng tròng nối bước xung hong” (Nguyễn Đức Mậu), “ húng t i đã
đi kh ng tiếc đời mình/ Nhưng tuổi hai mươi làm sao kh ng tiếc/ Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ quốc? (Những người đi tới biển – Thanh Thảo)
Sau những năm tháng chiến tranh và quán tính sử thi vài năm sau đó, trường ca nở rộ,
v n tiếp cận từ quan điểm sử thi, chiếm l nh và phản ánh bối cảnh hiện thực rộng lớn, xây dựng những nhân vật anh hùng mang phẩm chất và tinh thần chung của thời đại, trường ca như là bản tổng kết về chiến tranh Bên cạnh đó, trường ca giai đoạn này đã
bổ sung những trải nghiệm cá nhân, gia tăng chất liệu hiện thực và xu thế khái quát, chiêm nghiệm Càng về sau, tính chất phi sử thi hóa càng rõ nét, xu hướng khai thác hiện thực đã dần chuyển dịch theo hướng cái nhìn thế sự, đời tư, làm xuất hiện dạng mới của cái tôi trữ tình: cái tôi thế sự Cái nhìn thế sự sẽ trở thành khuynh hướng nổi bật trong trường ca những năm 90 của thế kỉ XX Mặc dù đời sống con người chưa được tìm hiểu một cách k lưỡng và đậm nét nhưng những cung bậc của cuộc sống đời thường sau chiến tranh đã trở thành mối quan tâm của nhiều tác giả
Sau thời kì trường ca phát triển rực rỡ, hoàng kim với nhiều đỉnh cao (1975 – 1985),
từ sau 1986 sự phát triển của thể loại liên tục đứt gãy, thậm chí đã có giai đoạn trường
ca chững lại, mà chính Thanh Thảo – một cây bút trường ca nổi bật đã cho r ng trường
ca đã đến lúc được nghỉ ngơi Những tưởng đúng như những gì Thanh Thảo nhận xét, nhưng đến nhưng năm 90 đánh dấu sự trở lại của trường ca với hàng loạt các tác phẩm tiêu biểu Các cây bút giai đoạn trước tiếp tục cho ra đời những tác phẩm mới sau thời gian dài ấp ủ: Nguyễn Đức Mậu (Bão và sau bão – 1994), Hữu Thỉnh (Trường ca biển – 1994), Thanh Thảo (Trò chuyện với nhân vật của mình – 1993), Anh Ngọc (Điệp khúc vô danh -1993),… Bên cạnh các cây trường ca kì cựu là sự xuất hiện của hàng
Trang 37loạt cây trường ca mới: Thi Hoàng (Gọi nhau qua vách núi – 1995), Hoàng Trần Cương (Trầm tích – 1999), Nguyễn Quang Thiều (Nhịp điệu châu thổ mới – 1997), Lê Thị Mây (Lửa mùa hong áo – 2003), Vương Trọng (Hơi thở rừng hồi – 2004), Lê Minh Quốc (hành trình của con kiến – 2006)…Trần Anh Thái với bộ bốn trường ca: Đổ bóng xuống mặt trời – 1999, Trên đường – 2004, Ngày đang mở sáng – 2007, M i loài hoa một mặt trời – 2015,…
Khi chiến tranh đã lùi về phía sau 20 năm, tình hình xã hội đã có nhiều biến chuyển, dần đi vào xu thế ổn định Văn học nói chung và trường ca nói riêng cũng không n m
ngoài sự vận động ấy, sự nhất thể hóa các dòng văn học trong nước và đặc biệt là sự
tương tác, ảnh hưởng trực tiếp của văn học thế giới, đã tạo ra một cột mốc cho nền văn học nước nhà Văn học giai đoạn này chuyển dần về những cái bình thường, cái đời thường, nghiêng hẳn sang hướng nội, với những lo toan bộn bề của cuộc sống thường nhật úc này, văn học quan tâm nhiều hơn đến sự đổi mới chính mình, có ý thức và nhu cầu đổi mới về hình thức nghệ thuật, phương thức thể hiện hơn bao giờ hết Có thể nói, đây là thời kỳ có nhiều chuyển động mạnh mẽ trong các sáng tác, là thời kì lên ngôi của cái tôi cá nhân, cá thể, cái tôi bản thể Bởi vậy, hiện thực được các tác giả tập trung khai thác là mảng hiện thực của thân phận cá nhân con người, của chiều sâu tâm linh, chiều sâu suy tưởng Hầu như thể loại nào cũng có sự tìm tòi, đổi mới
Trường ca cũng là thể loại có nhiều trải nghiệm mới mẻ Trường ca giai đoạn này đã chấm dứt hẳn với âm điệu sử thi hào hùng, bi tráng mà thay vào đó là sự đa thanh với
âm hưởng chủ đạo là sự trầm lắng, triết luận, nhiều trăn trở, day dứt, đầy suy tư Mối quan hệ giữa con người với con người sau chiến tranh đã mang diện mạo hoàn toàn mới so với thời kì chiến tranh, quan hệ giữa con người với nhau là hai quan hệ hoặc là đồng chí, hoặc là kẻ thù Sự thức tỉnh ý thức cá nhân đã mở ra nhiều đề tài, chủ đề mới, thay đổi quan niệm nghệ thuật về con người Nếu trước đây con người được nhìn nhận chủ yếu ở tư cách con người cộng đồng, cách mạng thì đến nay con người nhìn nhận
Trang 38trong muôn mặt đời thường, con người đa diện với xấu tốt, đúng sai, “trong con người tôi đang sống l n lộn người tốt kẻ xấu, rồng phượng l n rắn rết, thiên thần và ác quỷ [Nguyễn Minh Châu],… ý thức cá nhân đã trở lại, những giá trị đạo đức bền vững trước đây ít nhiều bị mai một nay cũng quay về Văn học ngày càng hướng đến một quan niệm toàn vẹn và sâu sắc hơn về con người, lấy hạt nhân là tư tưởng nhân bản Không chỉ vậy, các tác giả trường ca còn đi sâu khám phá những hiện thực vi mô, hiện thực của cuộc sống đời thường, thậm chí tầm thường của những con người nhỏ bé, bất hạnh Đó là những mảng hiện thực xám, xù xì, với nhiều góc khuất, góc tối Nhưng
đ ng sau hiện thực xù xì đó lại ánh lên cái nhìn nhân văn, nhân bản về con người Bên cạnh đó không thể không nhắc đến sự ý thức của các tác giả trong việc đổi mới hình thức nghệ thuật Về phương diện hình thức các tác giả trường ca có sự thử nghiệm trên nhiều bình diện, ngôn ngữ, hình ảnh,… và đặc biệt là về cấu trúc Không theo mô hình cấu trúc cố định, các tác giả trường ca đã có sự nhận thức và chiếm l nh cuộc sống theo kinh nghiệm và cách thức riêng của bản thân
Đặt trong tiến trình chung của thể loại, có thể nói sự xuất hiện của trường ca Trần Anh Thái đã mang đến cho trường ca một diện mạo, sức sống mới Với sự bản l nh, đam mê, luôn luôn tìm tòi, đổi mới trên hành trình sáng tạo, Trần Anh Thái đã cho ra đời bốn tập trường ca Nó cho thấy, ông đã thực sự làm nên một cuộc cách tân mới về thể loại Tác giả đã làm thức dậy cái sức sống tiềm tàng vốn có của thể loại mà bấy lâu nay nó
âm ỉ trong mạch ngầm chưa được khai sáng Sự xuất hiện của trường ca Trần Anh Thái
“khiến người ta cảm thấy như sự trở lại của trường ca [ ưu Khánh Thơ] Với ý thức cách tân về nghệ thuật, “càng ngày Trần Anh Thái càng làm mới mình và làm mới thể loại [ ý Hoài Thu] Ta có thể thấy r ng Trần Anh Thái có một vị trí không thể thay thế và một vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển của trường ca Việt Nam Ông chính là người đánh dấu sự hồi sinh của thể loại trường ca
1.2.2 Con đường hình thành biểu tượng trường ca Trần Anh Thái
Trang 39Trần Anh Thái là một trong những gương mặt tiêu biểu của trường ca hiện đại, có thể nói ông là người đánh dấu sự trở lại của trường ca, mang đến cho trường ca một dáng
vẻ, diện mạo mới Đọc Trần Anh Thái ta sẽ nhận ra ngay cái dáng vẻ, giọng điệu riêng trong thơ cũng như trong trường ca của ông Để tạo nên vẻ riêng biệt ấy chính là cách
mà Trần Anh Thái tạo nên hệ thống biểu tượng đa dạng, phong phú mà cũng vô cùng độc đáo Chúng ta biết r ng, biểu tượng thơ chỉ đươc tạo nên bởi những ám ảnh khôn nguôi trong lòng nhà thơ về hiện thực cuộc sống và khi cảm xúc tuôn trào, nó lại bật ra một cách tự nhiên, ngay bản thân nhà thơ cũng không thể cưỡng lại được Vì vậy, để có thể hiểu rõ hệ thống biểu tượng trong trường ca Trần Anh Thái thì việc tìm hiểu cơ sở
để hình thành nên hệ thống biểu tượng ấy là hết sức cần thiết Từ đó, hiểu được giá trị nghệ thuật của hệ thống biểu tượng, sự sáng tạo cũng như tài năng của Trần Anh Thái
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành biểu tượng trong trường ca Trần Anh Thái, trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi xin nhấn mạnh đến các yếu tố sau: yếu
tố khách quan, yếu tố chủ quan
Trước hết là yếu tố khách quan M i nhà thơ đều được sinh ra trong một giai đoạn,
thời đại nhất định và tất yếu sẽ chịu sự ảnh hưởng và chi phối âm hưởng thời đại mà họ sinh sống, mức độ ít hay nhiều là tùy thuộc vào m i nhà thơ Hiện thực cuộc sống sẽ là kho tàng vô tận giúp các tác giả hình thành những đề tài, chủ đề để sáng tạo nghệ thuật Đồng thời, đặc điểm của thời đại cũng tác động đến nội dung và hình thức nghệ thuật của m i tác phẩm
Cuộc kháng chiến chống M cứu nước, là một thử thách vô cùng dữ dội đối với lịch sử Việt Nam Đó là hiện thực bộn bề với máu nước mắt, khói lửa và bom đạn chiến tranh, với người sống kẻ chết, với ta và địch Hiện thực ngổn ngang ấy ùa vào các tác phẩm
và trở thành những bản trường ca dữ dội, hùng tráng Quán tính sử thi ấy kéo dài cho đến gần mười năm sau khi chiến tranh đã kết thúc Các trường ca lớn bé xuất hiện như các bản tổng kết lại một chặng đường v đại của lịch sử dân tộc, trường ca lúc này
Trang 40mang âm hưởng hào hùng, ngợi ca, tôn vinh, bi tráng những giai đoạn cuối, trường ca
đã bước đầu đi sâu hơn vào hiện thực cuộc sống con người Mặc dù đã có những giai đoạn trường ca như chững lại, như không thể phát triển được nữa, thì những năm 90 trường ca đột khởi trở lại với hàng loạt các trường ca của những cây bút cũ cũng như
sự xuất hiện của hàng loạt gương mặt trẻ, đã đem đến diện mạo mới cho trường ca Việt Nam hiện đại Và để làm mới mình, không bị hòa l n với những cây trường ca khác, các tác giả đã gia công tạo cho mình một hệ thống biểu tượng đặc sắc Các biểu tượng lại trở đi trở lại, len lỏi vào từng ngóc ngách sáng tác về cuộc chiến đã qua, về hiện thực ngày hôm nay, mơ ước về tương lai và thế giới tâm linh, nội cảm sâu kín của con người Tuy nhiên ở m i nhà thơ, sự chi phối về quê hương, truyền thống văn hóa văn học, truyền thống gia đình mà tạo nên những hệ thống biểu tượng khác nhau
Trần Anh Thái lên đường nhập ngũ năm 1973 – những năm cuối cùng của cuộc kháng chiến chống M , giai đoạn căng thẳng và quyết liệt của dân tộc để đòi lại độc lập tự do cho nhân dân Dù chỉ bước chân vào cuộc chiến trong những năm tháng cuối cùng nhưng những ám ảnh về cuộc chiến này thì tác giả không bao giờ có thể nguôi ngoai Chính những ám ảnh về cuộc chiến đã hình thành nên hệ thống biểu tượng về chiến tranh, về người lính vô cùng đặc sắc Không còn là những ngợi ca, hô hào về cuộc
kháng chiến chống M , không còn sự phân định giữa ta và địch: “Cả thế hệ xoay vần đánh giặc/ Mặc quần đùi khiêng háo lội qua s ng…/ uộc sống ở đây ẫn cuộc sống bình thường/ Cái lạ nhất là không thấy gì cả (Dấu chân người lính – Thanh Thảo), thái độ căm thù giặc tột cùng: “Ta căm giận ngàn đời chúng mày, giặc Mỹ/ Ta đau buồn đất nước hiểu ta không? (Mặt đường khát vọng – Nguyễn Khoa Điềm) Mà là
một cái nhìn mới nhân văn, nhân bản hơn đã tạo hệ thống hình tượng đặc sắc, mới mẻ
mang nhiều giá trị nhân văn trong trường ca Trần Anh Thái: “Xác quân thù xác bạn gục ào nhau” ,“ Kẻ thất trận ưới chân đồi lê bước/ Kéo hoàng hôn rã rời/ Kẻ thắng trận hai tay ôm mặt khóc/ Thương tích tạc vào gió thổi ngàn sau Chiến tranh trong