1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hệ thống biểu tượng trong truyện ngắn của nguyễn minh châu

120 849 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với sự trân trọng tài năng nghệ thuật của ông và nhận thấy tính chất hấp dẫn của đề tài, sự cần thiết trong việc tiếp cận tác phẩm văn học từ góc độ biểu tượng, chúng tôi muốn vận dụng l

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ TIẾP

HÖ THèNG BIÓU T¦îNG TRONG TRUYÖN NG¾N

CñA NGUYÔN MINH CH¢U

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60.22.01.21

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Văn Phượng

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất

kỳ một công trình nào khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Tiếp

Trang 3

đã giúp tôi có được kết quả như ngày hôm nay

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Văn Phượng

Với học vấn uyên thâm, niềm đam mê nghiên cứu khoa học, thầy đã hướng dẫn tôi tìm đề tài, nghiên cứu các thành tựu sáng tác của Nguyễn Minh Châu, định hướng xây dựng những luận điểm khoa học khách quan, chính xác và nhiệt tình, trách nhiệm trong quá trình hoàn thiện luận văn của tôi

Tuy thời gian học tập và nghiên cứu khoa học tại trường Đại học sư phạm Hà Nội không nhiều, nhưng tôi đã học tập và trưởng thành rất nhiều trong nhận thức, nghiên cứu khoa học của mình Kết quả của quá trình đào tạo Thạc sĩ sẽ giúp tôi vững vàng hơn trong nghề nghiệp mà tôi gắn bó và cống hiến trọn đời mình

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 06 tháng 06 năm 2017

Người viết

Nguyễn Thị Tiếp

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 7

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 7

6 Phương pháp nghiên cứu 8

7 Đóng góp mới của luận văn 8

8 Cấu trúc của luận văn 8

Chương 1 : BIỂU TƢỢNG VÀ Ý NGHĨA MỸ HỌC - NGHỆ THUẬT CỦA BIỂU TƢỢNG 9

1.1 Khái niệm biểu tƣợng 9

1.1.1 Biểu tượng và sáng tạo nghệ thuật 9

1.1.2 Biểu tượng trong văn học 13

1.2 Sứ mệnh nghệ thuật của biểu tƣợng trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu 22

1.2.1 Biểu tượng, một nét đặc sắc của trong phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu 24

1.2.2 Biểu tượng và vai trò nghệ thuật của biểu tượng trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu 27

Chương 2 : HỆ THỐNG BIỂU TƢỢNG TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN MINH CHÂU 31

2.1 Cơ sở hình thành 31

2.1.1 Bản sắc văn hóa dân tộc 31

2.1.2 Âm hưởng thời đại 31

2.1.3 Hoàn cảnh lịch sử xã hội và hoàn cảnh riêng 32

2.1.4 Vốn sống, tài năng và quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu 34

Trang 5

2.2 Hệ thống biểu tƣợng trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu 41

2.2.1 Nhóm biểu tượng thể hiện vẻ đẹp tâm hồn Việt 41 2.2.2 Nhóm biểu tượng thể hiện vẻ đẹp tính cách Việt 54 2.2.3 Nhóm biểu tượng thể hiện những vấn đề tư tưởng, triết lý Việt 58

Chương 3 : TÍNH GIÁ TRỊ, Ý NGHĨA THẨM MĨ NGHỆ THUẬT VÀ CÁC VẪN ĐỀ DIỄN GIẢI BIỂU TƢỢNG TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN MINH CHÂU 75 3.1 Tính đa trị của biểu tượng trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu 75 3.2 Ý nghĩa thẩm mĩ nghệ thuật của biểu tƣợng trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu 80 3.3 Biểu tƣợng trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu và các vấn đề đặt ra về diễn giải 89 KẾT LUẬN 109 TÀI LIỆU THAM KHẢO 111

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Biểu tượng được xem như là một hình thức tư duy nghệ thuật của nhà văn Nói đến hình ảnh biểu tượng là nói đến bản chất tượng trưng của hình tượng nghệ thuật Hệ thống hình ảnh tượng trưng mang tính chất ám ảnh được sử dụng như một

mã nghệ thuật để thể hiện cái nhìn độc đáo của nhà văn về thế giới và lưu giữ những dấu ấn riêng của tác giả, thể loại, thời đại, dân tộc, khuynh hướng văn học

Trong văn học, bên cạnh việc tái hiện thế giới như nó vốn có, cần một hệ thống hình tượng vừa cụ thể, vừa khái quát để tái tạo, xây dựng nên một thế giới riêng sinh động giàu tính biểu cảm của tác phẩm

Với tài năng và bản lĩnh sáng tạo của mình, nhà văn xây dựng biểu tượng nghệ thuật tham gia vào kết cấu tác phẩm, mang tính đa nghĩa, đa thanh, đem lại sự mới mẻ, độc đáo cho tác phẩm, tạo dấu ấn phong cách rõ nét cho chính tác giả Biểu tượng luôn chứa đựng trong nó những giá trị đã được khẳng định, song không phải

vì thế mà nó trở thành nơi giam giữ các tầng ý nghĩa cũ mòn Trái lại, biểu tượng là một thực thể sống động, luôn luôn có sự luân chuyển đắp bồi thêm ý nghĩa liên tục Sinh thể ấy được nuôi dưỡng bằng tư duy, bằng những tưởng tượng phong phú của con người Đời sống của con người không bao giờ bớt phức tạp đi và biểu tượng vì thế cũng không bao đơn giản hơn Những phức tạp của đời sống dội vào tâm tư con người những suy tưởng không cùng, để rồi từ đó chúng ta lại dồn nén vào hệ thống biểu tượng Đó là con đường tất yếu của đời sống và cũng là xu hướng tồn tại và phát triển của biểu tượng

Nguyễn Minh Châu là nhà văn suốt đời khao khát, khám phá cái đẹp và sự phức tạp chứa đựng trong tâm hồn con người và cuộc sống Với sự cống hiến hết mình cho nghệ thuật, ông được đánh giá là tiền trạm đổi mới cho văn học Việt Nam hiện đại Trước năm 1975, các sáng tác của ông chủ yếu theo khuynh hướng sử thi

và cảm hứng lãng mạn cách mạng, ông mê mải tìm kiếm hạt ngọc ẩn giấu trong tâm hồn con người Sau năm 1975, bắt nhịp với công cuộc đổi mới và cuộc sống thời bình đầy những vấn đề phức tạp, các sáng tác của ông- đặc biệt là truyện ngắn chủ

Trang 7

yếu đề cập tới những vấn đề thế sự mang chiều sâu nhân bản Sử dụng hình ảnh biểu tượng là một trong những nét độc đáo trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu Nó như một dấu ấn đặc sắc đánh dấu một chất lượng mới của sự phát triển tư duy nghệ thuật Trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu, đặc biệt là các truyện ngắn sau năm 1975 thường xuất hiện những biểu tượng đa nghĩa góp phần nâng tác phẩm lên tầng ý nghĩa triết học Có chiều sâu về nội dung phản ánh, hấp dẫn bởi bút pháp thể hiện độc đáo, các tác phẩm của Nguyễn Minh Châu thu hút sự quan tâm của đông đảo giới nghiên cứu và phê bình văn học Tuy nhiên, với số lượng sáng tác rất đồ sộ của ông, chúng tôi nhận thấy nhiều vấn đề trong các sáng tác ấy vẫn còn có thể là những gợi ý để chúng ta nghiên cứu và tìm tòi một cách chuyên sâu Và đến nay, qua khảo sát, chúng tôi chưa thấy một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về biểu tượng nghệ thuật trong sáng tác của ông Với công

trình này xin được nghiên cứu sâu về Hệ thống biểu tượng trong truyện ngắn cuả

Nguyễn Minh Châu

Với sự trân trọng tài năng nghệ thuật của ông và nhận thấy tính chất hấp dẫn của đề tài, sự cần thiết trong việc tiếp cận tác phẩm văn học từ góc độ biểu tượng, chúng tôi muốn vận dụng lý thuyết về biểu tượng và biểu tượng nghệ thuật vào khám phá những biểu tượng nghệ thuật tiêu biểu trong một số truyện ngắn đặc sắc của ông, để từ đó góp thêm phần khẳng định về tài năng sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu Đồng thời, chúng tôi hi vọng vấn đề này sẽ góp phần thiết thực vào việc dạy và học các sáng tác của ông trong trường phổ thông

2 Lịch sử vấn đề

Ba mươi năm miệt mài đóng góp cho nền văn học dân tộc, Nguyễn Minh Châu đã để lại cho đời một sự nghiệp sáng tác đồ sộ với những tác phẩm có nội dung nhân văn cao cả và độc đáo về bút pháp Dường như cả cuộc đời người nghệ sĩ cách mạng này là cuộc kiếm tìm mê mải với hiện thực cuộc sống và tâm hồn con người Ông vừa là cây bút văn xuôi có những đóng góp xuất sắc cho nền văn học

thời kì kháng chiến chống Mĩ lại vừa là một trong những người “mở đường tinh anh

và tài năng” (Nguyên Ngọc) cho công cuộc đổi mới văn học Việt Nam từ sau năm

Trang 8

1975 Từ phong cách sáng tác mang đậm tính sử thi và cảm hứng lãng mạn cách mạng sang cảm hứng thế sự, đời tư với những đề tài độc đáo và giàu tính triết lý Nguyễn Minh Châu là một trong số nhà văn mà sự nghiệp sáng tác phản ánh tương đối trung thành quá trình vận động phát triển của văn xuôi Việt Nam đương đại Các tác phẩm của ông được lựa chọn giảng dạy trong chương trình ngữ văn Trung học cơ sở, Trung học phổ thông và Đại học

Đã có hàng trăm bài phê bình, nghiên cứu các tác phẩm độc lập hoặc các phương diện, giá trị đặc sắc về nội dung và nghệ thuật, tư tưởng và tài năng của Nguyễn Minh Châu Hình như nhà phê bình nào, bạn đọc nào cũng có thể tìm thấy

ở tác phẩm của Nguyễn Minh Châu những điều tâm đắc và hứng thú Ở đây, khi tìm hiểu lịch sử nghiên cứu biểu tượng truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, chúng tôi nhận thấy các công trình khoa học, chuyện luận, thảo luận, bài viết… ít nhiều đều có động chạm tới biểu tượng trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, khi thì bằng cái nhìn hệ thống qua nhiều tác phẩm, khi thì khám phá giá trị của những biểu tượng cụ thể trong từng tác phẩm Đó là cơ sở, tiền đề, gợi ý cho người viết triển khai hoàn thành luận văn này

Nhà văn Nguyên Ngọc đã từng dự đoán và mong mỏi: “Nhất định rồi sẽ có

cả một khoa nghiên cứu về nhà văn hết sức đặc sắc này của một giai đoạn mấy mươi năm của văn học ta” [47; 10] Và đúng như Nguyên Ngọc dự đoán, trong

khoảng mấy thập kỉ gần đây, Nguyễn Minh Châu cùng những sáng tác của ông được sự quan tâm rất nhiều của giới phê bình và giới nghiên cứu văn học Trong lĩnh vực nghiên cứu các sáng tác của Nguyễn Minh Châu, chúng tôi có thể kể đến các công trình nghiên cứu có tầm vóc như công trình nghiên cứu của Trần Đình Sử

Trong bài viết Bến quê một phong cách trần thuật giàu tính triết lí, ông cho rằng bắt đầu từ truyện ngắn Bức tranh rồi tập Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, truyện

ngắn Nguyễn Minh Châu xuất hiện như một hiện tượng văn học mới, một phong cách trần thuật mới Bài viết này đã chủ ý khẳng định sự độc đáo trong phong cách của Nguyễn Minh Châu nhưng mới chỉ dừng ở mức độ sơ lược chủ yếu đi sâu khám phá phong cách nhà văn từ điểm nhìn trần thuật Sáng tác của Nguyễn Minh Châu

Trang 9

nhất là thể loại truyện ngắn sau năm 1975 ngay từ đầu ra mắt trên diễn đàn đã thu hút sự chú ý của đông đảo nghệ sĩ, người phê bình và bạn đọc Có những bài phê bình, những cuộc thảo luận, tranh luận về sáng tác của ông diễn ta ngay khi nhà văn còn sống, chứng kiến và tham dự tạo nên không khí văn chương học thuật sôi nổi, tâm huyết, năng động trong cuộc đổi mới văn học Tôn Phương Lan trong chuyên

luận Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu (1999) đã nghiên cứu toàn diện

phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu, trong đó khám phá biểu tượng chỉ là một khía cạnh nhỏ được người nghiên cứu dành cho 3/204 trang chuyên luận Trong phần giọng điệu và ngôn ngữ nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu, Tôn Phương Lan

có chỉ ra: “Sâu sắc, lắng đọng bởi những câu mang ý nghĩa triết lý, văn Nguyễn

Minh Châu còn sâu sắc và đượm chất chữ tình bởi những hình ảnh biểu tượng đó là

cơn giông trong truyện ngắn cùng tên, là giếng nước của buổi ban đầu nay gặp lại

sau bao năm xa cách trong bên đường chiến tranh, là tiếng xe cút kít não nề, nhẫn lại, dai dẳng trong Khách ở quê ra… Tấm gương soi trong Bức tranh là vật chứng

để người nghệ sỹ nhận diện mình trong những cuộc đối thoại giữa cái mặt thật và

bóng của cái mặt mình khi đang cắt tóc Trăng trong truyện của ông có thể nói như

là một “nhân vật” có một thứ tiếng nói riêng “Vầng trăng khuyết mỏng manh sáng trong như một màn bạc” là vầng trăng của kẻ đang yêu (Mảnh trăng) “Mảnh trăng cuối tháng như một chiếc đĩa bằng vàng bị vỡ” trong lần Thai và Lực đi dỡ sắn ở vùng núi Đợi phải chăng là một dự báo về hạnh phúc, để rồi hơn hai mươi năm sau,

họ gặp lại nhau trong hoàn cảnh oái oăm thì “trăng trở nên như một chiếc thuyền vàng đi chòng chành giữa nền trời” (Cỏ lau) “Đỏ quạch và đang bốc cháy giữa

một vùng ánh lửa chớp bom” là mặt trăng đêm Lữ hy sinh dũng cảm và đau xót

trên Đồi không tên (Dấu chân người lính) … Đặc biệt chúng tôi nhận thấy hình

ảnh ngọn lửa, bếp lửa thường trở đi trở lại trong sáng tác của ông với những ý

nghĩa biểu trưng khách nhau’’ [41; 181- 182] Tác giả còn phát hiện và điểm qua

biểu tượng đất trong mối quan hệ với con người trong nhiều truyện ngắn của

Nguyễn Minh Châu (Cửa sông, Những người đi từ trong rừng ra, Mảnh đất tình

yêu, Khách ở quê ra, Phiên chợ Giát, Sống mãi với cây xanh…) Như thế Tôn

Trang 10

Phương Lan chủ yếu điểm qua hệ thống biểu tượng, từ đó chỉ ra bản thân biểu tượng mang chứa những ý nghĩa nghệ thuật, giá trị nhân sinh sâu sắc, đa tầng góp phần thể hiện diện mạo, phong cách nghệ thuật của nhà văn

Bên cạnh những chuyên luận, công trình khoa học trên, còn hành loạt các bài viết về các tác phẩm cụ thể, về thành tựu trên các mặt nội dung nghệ thuật… của truyện ngắn Nguyễn Minh Châu Bài viết nào hầu như cũng ít nhiều nhận định sự phong phú và vai trò quan trọng của biểu tượng trong thế giới nghệ thuật của tác

phẩm, tác giả Đỗ Đức Hiểu khi đọc Phiên Chợ Giát của Nguyễn Minh Châu (1990)

đã nhận ra biểu tượng hóa thân người/ bò- biểu tượng của sự tha hóa [30; 179] và Hoàng Ngọc Hiến trong Đọc Nguyễn Minh Châu (từ Bức tranh tới Phiên chợ Giát) (1997) cũng đồng tình, tiếp nối ý kiến này: “Biểu tượng hóa thân bò/ người có tính

chất đa nghĩa Biểu tượng này “mồi” cho sự liên tưởng đến “kiếp trâu bò”, đến thân phận “nửa người nửa vật” của nông dân Quan trọng hơn cả là biểu tượng này tạo ra nghĩa bóng cho một hình tượng đặc sắc trong truyện” [28; 193]

Năm 1995, Nguyễn Tri Nguyên khi nhận diện Những đổi mới về thi pháp

trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu sau năm 1975 khẳng định: “Trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu, đặc biệt ở truyện ngắn thường xuất hiện những ẩn dụ, biểu tượng đa nghĩa không tham gia và cốt truyện và hành động của nhân vật nhưng nó giãi bày được nhiều suy nghĩ của tác giả, nâng tác phẩm lên ý nghĩa triết học, tượng trưng” [63; 221] Tác giả gọi tên một số biểu tượng nổi bật trong truyện ngắn

sau năm 1975 của Nguyễn Minh Châu như: mảnh trăng, giếng nước mát lạnh, cơn

giông, cơn mộng du, chiếc xe cút kít, con bò khoang, cái gương soi mặt và bức tranh, bức ảnh… và những khẳng định biểu tượng này đã tạo lên lời ngầm trong tác

phẩm của ông, “mang trong đó những dự cảm về những vấn đề nhân sinh, xã hội

diễn ra phức tạp hơn trước trong cuộc sống đời thường sau chiến tranh” [63; 222]

Đặc biệt nhạy cảm, tinh tế trong nhận diện, khám phá biểu tượng cụ thể, Chu Văn Sơn khi thẩm bình, tâm đắc một số tác phẩm của Nguyễn Minh Châu cũng gọi ra ít

nhiều đặc điểm và ý nghĩa của việc sử dụng biểu tượng Từ năm 1990, viết Đường

tới cỏ lau, nhà phê bình Chu Văn Sơn đã khơi những mạch nguồn văn hóa cổ sơ của

Trang 11

biểu tượng vọng phu trong tác phẩm: “…ở ta, hai tiếng vọng phu bao giờ cung dội

vào tâm tình người Việt những âm vọng riêng, khuấy động những xôn xao vừa linh thiêng, vừa huyền bí Trong lòng mỗi con người của xứ sở này dường như đều có, khi thì sừng sững, khi thì thấp thoáng ẩn hiện, một hòn núi vọng phu” [68; 196]

“Trong cuộc chiến tranh khốc liệt và dai dẳng vừa qua, vẻ đẹp mẫu tính điển hình

nhất của người phụ nữ Việt Nam, do một nhào nặn nào đó, lại có gương mặt vọng phu” [68; 199] Đến năm 2010, trăn trở với Thi pháp gói rào trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa, Chu Văn Sơn khái quát thành thi pháp, thành phong cách

nghệ thuật trong nhiều tác phẩm của Nguyễn Minh Châu: “Yêu cầu gói rào đã khiến

Nguyễn Minh Châu kiên trì như một hư chiêu: mài nhẵn hết những cạnh sắc nhô ra, dìm sâu ẩn ý vào vào lòng mỗi hình ảnh Bởi thế những tượng trưng thông thường dường như đã thành ẩn tượng” Do không để lộ ý diễn trong thực tại đời sống chính

trị xã hội của thời đại, những biểu tượng, ẩn tượng đã giúp nhà văn truyền tải những khám phá, trăn trở, triết lí, dự cảm, khao khát ẩn ý sâu kín và mới mẻ phía sau lớp

vỏ ngôn từ

Có thể thấy, các nhà phê bình đều nhận thấy sử dụng biểu tượng là một nét đặc sắc nổi bật và giàu giá trị trong các sáng tác của Nguyễn Minh Châu Song trên đây là những bài nghiên cứu phê bình từng tác phẩm độc lập, chưa khám phá, lí giải

cụ thể và bao quát diện mạo và giá trị của biểu tượng trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu

Năm 2007, Nguyễn Văn Long, Trịnh Thu Tuyết với công trình nghiên cứu công phu, khoa học, toàn diện về sự nghiệp và đóng góp của nhà văn qua cuốn sách

Nguyễn Minh Châu trong cuộc đổi mới văn học sau năm 1975 Công trình khẳng

định đóng góp của Nguyễn Minh Châu cho công cuộc đổi mới văn học sau năm 1975: sự đổi mới từ quan niệm và ý thức nghệ thuật tới thế giới nhân vật, kết cấu và nghệ thuật trần thuật của Nguyễn Minh Châu Biểu tượng chỉ được khai thác rải rác nhằm làm sáng tỏ cho sự đổi mới ấy

Đến năm 2000, Dương Thị Thanh Hiên đóng góp một công trình nghiên cứu tập trung, toàn diện, sâu sắc hơn cả về biểu tượng trong truyện ngắn của Nguyễn

Trang 12

Minh Châu, đó là luận văn thạc sĩ: Hệ thống hình ảnh biểu tượng trong truyện ngắn

Nguyễn Minh Châu Luận văn đã nghiên cứu hệ thống biểu tượng trong truyện ngắn

của Nguyễn Minh Châu với cái nhìn bao quát và sâu sắc, để thấy được cách xây dựng và ý nghĩa, vai trò của biểu tượng với các phương diện, yếu tố của tác phẩm: nhân vật, chủ đề, kết cấu, chất triết lí, chất trữ tình… Năm 2014, tác giả Nguyễn Thị

Châm trong công trình luận văn thạc sĩ Ngữ văn với đề tài Biểu tượng trong truyện

ngắn Nguyễn Minh Châu sau năm 1975 nhìn từ lý thuyết của IU M Lotman Với

luận văn này, tác giả đã nghiên cứu biểu tượng trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu qua việc vận dụng lý thuyết của Lotman, từ đó vừa làm sáng tỏ một lý thuyết

lý luận văn học hiện đại, vừa khám phá và khẳng định thêm giá trị và tầm vóc của Nguyễn Minh Châu trong bề rộng chiều dài văn học thời đại và dân tộc

Như thế, nghiên cứu về biểu tượng trong văn học nói chung, biểu tượng trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu nói riêng không phải là con đường hoàn toàn mới mẻ Bởi lẽ, biểu tượng là một trong những đặc trưng của văn học nghệ thuật, một trong những thủ pháp tiêu biểu mang dấu ấn riêng của Nguyễn Minh Châu Các công trình, kết quả nghiên cứu phê bình trên là tiền đề, cơ sở, gợi ý quý báu cho người viết khi thực hiện đề tài Chúng tôi hi vọng với đề tài luận văn này sẽ góp thêm một cái nhìn khá độc đáo hấp dẫn về truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu

3 Mục đích nghiên cứu

Qua việc tìm hiểu đề tài Hệ thống biểu tượng trong truyện ngắn Nguyễn Minh

Châu, chúng tôi muốn đưa ra một nhận thức mang tính cá nhân về biểu tượng, biểu

tượng trong văn học, đồng thời từ đó đi sâu tìm hiểu về ý nghĩa các biểu tượng nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu Qua đó thấy được những giá trị về nội dung cũng như tư tưởng nghệ thuật mà nhà văn muốn gửi gắm thông qua các biểu tượng nghệ thuật của mình Từ đó, chúng tôi thêm một lần khẳng định vai trò, vị trí

và những đổi mới của nhà văn trong sự vận động của tiến trình văn học dân tộc

4 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là biểu tượng trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu

Trang 13

được sử dụng với tần suất cao như các truyện: Nguồn suối, Nhành mai, Mảnh trăng

cuối rừng, Bức tranh, Bên đường chiến tranh, Cơn giông, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Chiếc thuyền ngoài xa, Bến quê, Cỏ lau… trong Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Minh Châu của Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội in năm 2009

6 Phương pháp nghiên cứu

Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng những phương pháp chủ yếu sau:

7 Đóng góp mới của luận văn

Với đề tài luận văn này, chúng tôi mong muốn đóng góp một cách nhìn (mang tính cá nhân) về biểu tượng và biểu tượng trong văn học Và từ đó, chúng tôi góp phần làm sáng tỏ những nét đặc sắc trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu trên phương diện tạo dựng hệ thống biểu tượng nghệ thuật sinh động

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phần nội dung chính của luận gồm ba chương:

Chương 1: Biểu tượng và ý nghĩa mỹ học- nghệ thuật của biểu tượng

Chương 2: Hệ thống biểu tượng trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu Chương 3: Tính đa trị, ý nghĩa thẩm mĩ nghệ thuật và các vấn đề diễn giải

biểu tượng trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu

Trang 14

Chương 1

BIỂU TƢỢNG VÀ Ý NGHĨA MỸ HỌC - NGHỆ THUẬT

CỦA BIỂU TƢỢNG 1.1 Khái niệm biểu tƣợng

1.1.1 Biểu tượng và sáng tạo nghệ thuật

Biểu tượng là một thuật ngữ đã và đang tiếp tục được nghiên cứu trên toàn thế giới, trong nhiều ngành khoa học khác nhau

Bắt nguồn từ Hy Lạp, thuật ngữ biểu tượng (Symbolon) có nghĩa là kí hiệu (Sign), dấu hiệu, lời nói, tín hiệu, triệu trứng, hợp đồng …

Trong tiếng Hán: Biểu có nghĩa là “bày ra”, “trình bày”, “dấu hiệu”, để

người ta dễ nhận biết một điều gì đó Tượng có nghĩa là “hình tượng” Biểu tượng là một hình tượng nào đó được phô bày ra trở thành một dấu hiệu, kí hiệu tượng trưng, nhằm diễn đạt một ý nghĩa mang tính trừu tượng

Theo từ điển Tiếng Việt (GS Hoàng Phê chủ biên): “Biểu tượng là hình ảnh tượng trưng, là hình ảnh của nhận thức, cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc khi tác dụng của sự vật vào giác quan đã chấm dứt” [ 58; 19]

Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới cho rằng: “Mọi nền văn hóa đều có thể xem như một tập hợp các hệ thống biểu tượng trong đó xếp hàng đầu là ngôn ngữ, quy tắc hôn nhân, các quan hệ kinh tế, nghệ thuật, khoa học, tôn giáo…” [33; 23]

Từ điển thuật ngữ văn học cho rằng theo nghĩa rộng biểu tượng thể hiện “đặc trưng phản ánh cuộc sống bằng hình tượng văn học nghệ thuật” và theo nghĩa hẹp,

biểu tượng là “một phương thức chuyển mã của lời nói” đặt bên cạnh ẩn dụ, hoán dụ hoặc là một loại hình tượng nghệ thuật đặc biệt “có khả năng truyền cảm lớn, vừa

khái quát được bản chất của một hiện tượng nào đấy, vừa thể hiện một quan niệm, một tư tưởng hay một triết lí sâu xa về con người và cuộc đời” [70; 23]

Trong đời sống, biểu tượng được dùng với ý nghĩa không nhất quán Nó có thể

được hiểu là một hình ảnh tượng trưng mang tính ổn định (chim bồ câu- biểu tượng

cho hòa bình); cũng có thể được hiểu là một lôgô, một kí hiệu đã chuyển thành hình

Trang 15

được tổ chức tại Việt Nam); được dùng chỉ dấu hiệu đặc trưng, một cảnh quan thiên

nhiên hoặc một công trình kiến trúc nổi bật của một khu vực, quốc gia (tượng Nữ

thần tự do của Mỹ, tháp Eiffel của Pháp, Tháp Rùa, chùa Một cột của Hà Nội- Việt

Nam); thậm chí biểu tượng được coi là mật mã của sự bí ẩn… Những nhận thức khác nhau này về biểu tượng khiến cho khái niệm này càng trở nên phức tạp Vì vậy, trước khi đi vào nghiên cứu biểu tượng trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, chúng tôi tìm hiểu nội hàm của nó trong một số ngành khoa học

Dưới góc độ triết học, biểu tượng được hiểu là “hình ảnh cảm tính cụ thể về

những hình tượng của thế giới bên ngoài Biểu tượng cùng với cảm giác, tri giác tạo nên nhận thức cảm tính” Như vậy, hiểu theo nghĩa triết học, tất cả các sự vật trong

thế giới khách quan khi được con người tiếp nhận đều sẽ trở thành biểu tượng

Dưới góc độ tâm lí, biểu tượng là một phạm trù tâm lí gắn liền với trí tưởng tượng, là hình thức cao nhất của giai đoạn nhận thức cảm tính trực quan Biểu tượng vừa là kết quả của hoạt động nhận thức, vừa là phương tiện để biểu đạt của hoạt động

sáng tạo nghệ thuật, là một “mật mã” khó cắt nghĩa Nhà phân tâm học C G Jung cho rằng: “Biểu tượng không phải là một phúng dụ, cũng chẳng phải một dấu hiệu

đơn giản, mà đúng hơn là một hình ảnh thích hợp để chỉ ra đúng hơn cả cái bản chất,

ta mơ hồ nghi hoặc của tâm linh” Trong văn hóa, biểu tượng là một đối tượng được

nghiên cứu cơ bản bởi nó là đầu mối để xác định đặc trưng của nền văn hóa cũng như mối quan hệ của các nền văn hóa khác nhau Biểu tượng trong văn hóa được xem là một yếu tố động, luôn biến đổi theo sự biến đổi của đời sống xã hội TS Nguyễn Văn

Hậu cho rằng: “Biểu tượng là một hình thái ngôn ngữ - ký hiệu tượng trưng của văn

hóa Nó được sáng tạo nhờ vào năng lực “tượng trưng hóa” của con người, theo phương thức dùng hình ảnh này để bày tỏ ý nghĩa kia nhằm để nhận thức và khám phá ra một giá trị trừu tượng nào đó Biểu tượng được xem là “tế bào” của văn hóa

và là hạt nhân “di truyền xã hội” đầu tiên của nhân loại Nó quy định mọi hành vi ứng xử và giao tiếp của con người đồng thời liên kết họ lại thành một cộng đồng riêng biệt” Ông khẳng định những quan niệm hay định nghĩa nêu trên đều gắn biểu

tượng với sự thực hiện “khiếu năng tinh thần” đặc biệt chỉ có ở loài người - năng lực

Trang 16

tượng trưng hóa Biểu tượng được hiểu là một hiện tượng vật thể, nhờ thể hiện trong

đó một nội dung cụ thể - cảm tính mà hiện tượng này thể hiện, trình ra những ý nghĩa, những giá trị trừu xuất nào đó Và do đó, ông đã đưa ra quan điểm riêng của mình về biểu tượng như trên Quan niệm của ông tuy nhiên chỉ dừng lại ở góc độ gắn với văn hóa, đây là một quan điểm đúng đắn nhưng chưa đầy đủ nếu như ta tiến hành nghiên cứu và áp dụng vào việc nghiên cứu văn học

Ở phương diện ngôn ngữ, “Biểu tượng là một ký hiệu tùy thuộc vào đối tượng

mà nó biểu hiện do một luật lệ thông thường là một sự liên tưởng chung” Biểu tượng

vì vậy là một sự vật có hình ảnh mang tính chất thông điệp được dùng để gợi ra một cái ở bên ngoài theo một quan hệ ước lệ Biểu tượng là sự thống nhất giữa cái biểu đạt (hình thức tồn tại) và cái được biểu đạt (giá trị nội dung) Cái biểu đạt khi tác động lên tư tưởng, cảm xúc, nhận thức của con người sẽ gợi lên một số nội dung ý nghĩa nào đó (gợi cái được biểu đạt)

Trong văn học, biểu tượng là phương tiện tạo hình và biểu đạt có tính đa nghĩa Mỗi nhà văn khi sáng tạo đồng thời lại là một nhà tư tưởng Nhà văn thực hiện việc

mã hóa ngôn từ nhằm tạo ra một thế giới hình tượng in đậm cảm quan cá nhân, nói rộng hơn là phong cách của chủ thể sáng tạo Những hình tượng nghệ thuật có sức sống sẽ vượt lên trên ý nghĩa biểu đạt và làm thành các biểu tượng nghệ thuật độc đáo,

đa nghĩa Trong tác phẩm, biểu tượng chính là hình tượng được hiểu ở bình diện kí hiệu và là kí hiệu chứa đựng tính đa nghĩa của hình tượng Trở thành biểu tượng, hình ảnh sẽ có chiều sâu, tầng ý nghĩa mới và có tính khái quát Việc nghiên cứu, sáng tạo

ra những biểu tượng nghệ thuật sẽ mang tới cái nhìn sâu sắc, khắc phục sự đơn giản

về hình ảnh được sao chép từ cuộc đời thật Biểu tượng trong văn học mang tính đa nghĩa nên cần phải phát huy nhận thức cùng với sự liên tưởng

Từ quá trình nghiên cứu tìm hiểu,kế thừa quan điểm và kết quả nghiên cứu của những người đi trước, chúng tôi sơ bộ đưa ra quan niệm về biểu tượng như sau:

Biểu tượng là một sự vật có hình ảnh mang tính chất thông điệp được dùng để gợi ra một cái ở bên ngoài, theo một quan hệ ước lệ Quan hệ liên tưởng, tưởng tượng

và tính ước lệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt trong biểu tượng là cơ sở để tạo

Trang 17

nên tính đa nghĩa cho biểu tượng Biểu tượng mang tính khái quát về đối tượng, là hình ảnh tượng trưng được phô bày ra khiến người ta cảm nhận một giá trị bên trong hay thế giới ý nghĩa của nó Chính vì thế, biểu tượng phản ánh được đặc trưng của các sự vật, hiện tượng

Giải mã biểu tượng trong tác phẩm văn học không thể dựa trên một nhận thức nhất định Cần mở rộng nó theo chiều rộng đồng đại và khám phá nó ở chiều dài lịch

sử, gắn kết với cái nhìn văn hóa, không thể bỏ qua đặc trưng phong cách tác giả, đồng thời cần lưu ý ngữ cảnh nảy sinh, bao chứa nó

Trong hành trình sáng tạo nghệ thuật, nghệ sĩ là những người khao khát khám phá và thể hiện những ấn tượng độc đáo, tư duy sâu sắc, cảm xúc mãnh liệt, tưởng tượng phong phú về cuộc sống và con người Con đường để người nghệ sĩ thực hiện tư duy nghệ thuật của chính mình là thông qua hình tượng nghệ thuật được xây dựng bằng ngôn ngữ nghệ thuật

Trước một hiện tượng đời sống, một khám phá về bản chất và quy luật của cuộc đời, không chỉ những cung bậc cảm xúc rung động trong trái tim mà tâm hồn, trí tuệ của người nghệ sĩ sẽ nảy sinh những tưởng tượng, liên tưởng để tư tưởng, cảm xúc được cụ thể hóa, hữu hình hóa Nhờ đó, hiện thực đời sống hiện ra trong diện mạo của một hình tượng, một thế giới sống động, nhiều tầng nghĩa… Và những hình tượng nghệ thuật ra đời có sức sống mạnh mẽ vượt lên trên ý nghĩa biểu đạt, trở thành các biểu tượng nghệ thuật đa nghĩa Có thể nói, biểu tượng giúp nhà sáng tạo nghệ thuật cô đọng cảm xúc, tư tưởng, tìm cho tư duy nghệ thuật của mình một hình tượng sống động, hữu hình, mở ra con đường hữu hiệu nhất để chuyển tải, gửi gắm những khám phá, lí giải sâu sắc về cuộc sống con người Biểu tượng bước vào những văn bản cụ thể từ ngôn ngữ cho nên biểu tượng mang tính đa nghĩa rõ rệt Biểu tượng phản ánh được những vấn đề thuộc bản chất của thế giới, quy luật của cuộc đời mở ra những chiều sâu hơn bản thân hiện tượng và hiện thực được phản ánh Chính vì vậy mà không thể giải mã biểu tượng bằng nỗ lực của lí trí đơn thuần,

nó đòi hỏi sự xâm nhập, liên tưởng

Với nhu cầu khái quát, nhận thức, biểu hiện cuộc sống, văn học nghệ thuật tự

Trang 18

bản thân nó đã mang tính biểu tượng và đòi hỏi người cầm bút lẫn người thưởng thức phải tư duy bằng biểu tượng Vì thế, tự bản chất của nghệ thuật ngôn từ đã có quan hệ gần gũi, gắn bó với biểu tượng Biểu tượng nghệ thuật mang những đặc trưng cơ bản của nghệ thuật ngôn từ như tính gợi cảm, hàm súc…, mặt khác biểu tượng lại chứa đựng những khả năng hòa nhập với hồi ức, hình ảnh cấu thành trong tiềm thức mỗi người Cho nên mỗi biểu tượng nghệ thuật đều có khả năng tái sinh liên hồi từ cái biểu đạt đến cái được biểu đạt Hơn thế, khả năng tái sinh liên hồi ấy phụ thuộc rất nhiều và cá tính, vào năng lực chủ thể sáng tạo Chính họ mang tới những nội dung phong phú, mới mẻ cho văn học và những biểu tượng ấy góp phần làm giàu tinh thần của chúng ta

Việc xây dựng các biểu tượng trở thành một hình thức tư duy tạo nên hiệu quả nghệ thuật cao Dưới sự tổ chức của nhà văn, biểu tượng tham gia vào kết cấu tác phẩm, tạo nên những điểm sáng và được coi là những tín hiệu thẩm mĩ đa chức năng Về bản chất, mỗi tác phẩm văn học là một hệ thống tín hiệu thầm mĩ, trong đó hình ảnh biểu tượng là tín hiệu nhỏ trong thế giới lớn ấy Chúng góp phần tạo nên

sự thống nhất hình tượng trong tác phẩm, tạo nên sự đa dạng, phong phú của hiện thực tác phẩm

1.1.2 Biểu tượng trong văn học

Biểu tượng không chỉ tồn tại trong tâm linh nỗi con người, trong nền văn hóa mỗi dân tộc mà còn là hạt giống chắc mẩy được các nhà văn, nhà thơ gieo trên địa

hạt văn chương màu mỡ Các tác giả Từ điển thuật ngữ văn học đã có những kiến

giải xác đáng về biểu tượng dưới góc độ văn học

Biểu tượng có thể được hiểu theo hai nghĩa:

Theo nghĩa rộng: “Biểu tượng là đặc trưng phản ánh cuộc sống bằng hình

tượng của văn học nghệ thuật” [70; 24]

Theo nghĩa hẹp: “Biểu tượng là một phương thức chuyển nghĩa của lời nói

hoặc một loại hình nghệ thuật đặc biệt có khả năng truyền cảm lớn, vừa khái quát được bản chất của một hiện tượng nào đấy, vừa thể hiện được một quan niệm, một

tư tưởng hay triết lý sâu xa về con người và cuộc đời” [70; 24]

Trang 19

Các tác giả cũng dành hơn một trang viết cho thấy những điểm khác nhau

giữa ẩn dụ và hoán dụ Những khái niệm này đều “được hình thành trên cơ sở đối

chiếu, so sánh các hiện tượng, đối tượng có những phương diện, khía cạnh, những đặc điểm gần gũi trong mối quan hệ tượng đồng nhằm làm nổi bật bản chất, tạo ra một ý niệm cụ thể, sáng tỏ về hiện tượng hay đối tượng đó” [70; 24]

Tuy nhiên, xét một cách toàn diện thì ẩn dụ và hoán dụ khác biểu tượng về

ba điểm:

Thứ nhất, ẩn dụ và hoán dụ đều mang ít nhiều ý nghĩa biểu tượng nhưng biểu

tượng không phải bao giờ cũng là hoán dụ, ẩn dụ [70; 25]

Thứ hai, biểu tượng không loại bỏ ý nghĩa cụ thể, cảm tính của vật tượng

trưng hoặc hình tượng nghệ thuật Trong khi đó, ẩn dụ và hoán dụ nhiều khi làm mờ

đi ý nghĩa biểu vật, trực quan của lời nói [70; 25]

Thứ ba, do một ẩn dụ có thể làm nhiều đối tượng khác nhau và một đối

tượng cũng có thể diễn đạt bằng nhiều ẩn dụ, hoán dụ khác nhau nên người đọc phải tìm hiểu ý nghĩa của chúng trong ngữ cảnh cụ thể của từng văn bản Khác với ẩn dụ,

ý nghĩa biểu tượng tồn tại ở ngoài văn bản mà chúng ta đang tiếp xúc [70; 25]

Bên cạnh đó, các tác giả cũng đề cập đến một phương diện khác nhau của biểu tượng như “ý nghĩa biểu tượng không ngừng được bổ sung” [70; 26] trong lịch

sử tồn tại lâu dài, “bên cạnh những biểu tượng thể hiện ý thức chung của xã hội, trong văn học nghệ thuật có rất nhiều biểu tượng in đậm dấu ấn cá tính sáng tạo của nhà văn, nhà thơ” [18; 26]

PGS.TS Lê Lưu Oanh trong Thơ trữ tình Việt Nam 1975-1990 khi bàn về những đặc trưng của biểu tượng đã cho rằng: “Biểu tượng có khả năng tái sinh liên

hồi từ cái biểu đạt đến cái được biểu đạt Biểu tượng nghệ thuật là tín hiệu thẩm mĩ mới mẻ, đa chức năng Biểu tượng vừa mang tính kế thừa vừa mang tính sáng tạo Giải mã biểu tượng là con đường tư duy nghệ thuật ”

Tổng hợp những quan điểm trên chúng tôi cho rằng: Biểu tượng thường là những hình ảnh cụ thể cảm tính, giàu cảm xúc, chứa đựng những tầng ý nghĩa sâu sắc Biểu tượng không phải là hiện tượng khép kín mà là một cấu trúc mở có khả

Trang 20

năng gợi liên tưởng lớn và khả năng tái sinh đến vô tận Từ lâu, biểu tượng đã được xem như một phương thức tư duy nghệ thuật của các nhà văn, nhà thơ, mang đến những hình tượng cụ thể, cảm tính, đa nghĩa, được lặp đi, lặp lại và giàu giá trị nghệ thuật Biểu tượng được các nhà văn, nhà thơ sáng tạo và tham gia vào việc biểu hiện cấu trúc, ý nghĩa tác phẩm Bởi thế, nó có một vai trò quan trọng trong việc lập mã

và giải mã ý nghĩa tác phẩm

Với công việc tiếp nhận văn học, việc nghiên cứu và giải mã biểu tượng chính là chìa khóa để đi sâu vào hành trình khám phá thế giới nghệ thuật Không những thế, việc tìm hiểu về biểu tượng còn giúp ta giải thích thấu triệt những hiện tượng văn học phức tạp từ ngọn nguồn văn hóa, đồng thời thấy được tài năng, bản lĩnh, phong cách nghệ thuật của mỗi nhà văn cũng như mỗi trào lưu, giai đoạn văn học nhất định

1.1.2.1 Sơ lược vài đặc điểm, tính chất của biểu tượng

Các nhà nghiên cứu đều thống nhất khi cho rằng: biểu tượng dù đa dạng đến đâu vẫn mang tính ổn định, tương đối Mỗi con người đều có thể tìm thấy trong biểu tượng những ý nghĩa khác nhau, những trải nghiệm tinh thần mang tính cá nhân nhưng vẫn không tách rời bản chất xã hội, cái trung tâm tinh thần chi phối toàn bộ

sự vận động của chúng Đó là một mối quan hệ thuộc bản chất, chứ không phải là

sự tưởng tượng hỗn loạn, vô hướng Các biểu tượng đã tỏ rõ một tính ổn định nào

đó trong lịch sử các tôn giáo, các xã hội và lịch sử tâm thức mỗi cá nhân Cũng chính vì tính ổn định nên có những biểu tượng được khắp nơi trên thế giới dùng và

có cùng nét nghĩa chung thống nhất Chẳng hạn, khi nhắc đến loài chim bồ câu người ta thường nghĩ đến biểu tượng của hòa bình vì đây là loài chim có đặc tính hiền lành, không hay đánh chọi nhau… Bắt nguồn từ ý nghĩa đó, biểu tượng nghệ thuật thường có những hạt nhân bảo lưu và được các thi sĩ đời sau tiếp nối nhau bên

cạnh việc bồi đắp thêm ý nghĩa mới Ví như khi nhắc đến cây cầu trong văn học dân

gian Việt Nam thì người ta nghĩ đến khát khao nối kết, khát khao gặp mặt và mong ước cả hai bên đều vượt qua những cản trở, khó khăn trong tình yêu Tính ổn định của biểu tượng nghệ thuật thường bắt nguồn từ việc bảo lưu nét nghĩa của biểu

Trang 21

tượng mẫu gốc đã ăn sâu vào “vô thức tập thể” và “chảy tràn” trong kí ức nhân

loại để lưu truyền cho đời sau Việc dùng lại ở đời sau không có nghĩa là sự sao chép máy móc mà đòi hỏi người nghệ sĩ vẫn phải có những tìm tòi, những khám phá mới mẻ để nhận thức về cuộc sống Việc liên tục bồi đắp và tái sinh các ý nghĩa mới là tiền đề tạo ra tính đa nghĩa cho biểu tượng văn học

Biểu tượng nổi bật nhất ở bản chất sống động khó nắm bắt, khó xác định Khác với dấu hiệu, người ta dễ dàng có thể nhận ra ý nghĩa biểu hiện bên trong, biểu tượng thì khác nó ẩn tàng những vỉa tầng ý nghĩa mơ hồ, khó nắm bắt bên cạnh những cái hiển nhiên lộ diện Nó vừa bộc lộ, vừa che giấu, vừa định hình, vừa biến

ảo khôn lường, S Freud nhận định: “Biểu tượng diễn đạt một cách gián tiếp, bóng

gió và ít nhiều khó nhận ra niềm ham muốn hay xung đột Biểu tượng là mối dây liên kết thống nhất nội dung rõ rệt của một hành vi, một tư tưởng, một lời nói với ý nghĩa tiềm ẩn của chúng…” [69; 24] Mỗi một biểu tượng không chỉ mang trong

mình một hình tượng đời sống cụ thể mà còn khái quát những kinh nghiệm nghệ thuật trong mạch nguồn truyền thống, và đồng thời kết hợp với sự cách tân làm mới theo năng lực tư duy và tưởng tượng của từng chủ thể khiến cho biểu tượng ngày càng được làm đầy hơn những giá trị và ý nghĩa mới Việc bồi đắp thêm những nét mới cho biểu tượng sẽ tạo cơ sở cho việc lưu lại dấu ấn nhà văn Biểu tượng luôn chứa đựng trong mình những giá trị vĩnh hằng hóa, song không phải vì thế mà nó trở thành nơi tồn đọng những giá trị cũ mòn, nơi giam giữ các tầng ý nghĩa trong sự

xơ cứng Biểu tượng thực chất là một thực thể vô cùng sống động, luôn có sự luân chuyển và đắp đổi ý nghĩa Sinh thể ấy được nuôi dưỡng bằng những lối tư duy, những tượng trưng phong phú của con người

Khi xem xét biểu tượng, không thể bỏ qua một đặc tính nổi bật của nó là tính

đa nghĩa Không ai phủ nhận tính ổn định, song ổn định ở đây không đồng nhất với

cố định Bởi thế nên không thể gói gọn làm đông cứng ý nghĩa của biểu tượng trong một khuôn khổ chật hẹp mà biểu tượng luôn sản sinh những ý nghĩa mới trên vỉa tầng ý nghĩa là cái đã ăn sâu vào vô thức của con người Tính chất sống động của biểu tượng cũng là tiền đề để tạo ra tính đa trị của nó Tính đa trị ở đây có thể hiểu

Trang 22

là biểu tượng không tồn tại với một vài nét nghĩa thuần túy, cố định mà nó luôn bao chứa trong mình những thái cực khác nhau Nó luôn đa chiều

Mỗi thời đại bộ mặt xã hội đi vào văn học với một hệ thống biểu tượng khác nhau Chính sự khác nhau này đã tạo nên tính lịch sử của biểu tượng văn học Chẳng hạn, trong văn học Việt Nam, ta thấy sự đổi thay của hệ thống biểu tượng qua từng thời kì lịch sử Như trong thơ ca dân gian, ta thường thấy xuất hiện những biểu tượng nguyên sơ, khởi phát bắt nguồn từ thế giới tự nhiên bao quanh con người như: mặt trăng, mặt trời, cái cò, cái bống, quả cau,… Đến văn học Trung đại với tính quy phạm chặt chẽ tư tưởng Nho giáo chi phối nên hệ thống biểu tượng nghệ thuật thường xoay quanh những biểu tượng cao quý như: tùng, cúc, trúc, mai, long,

ly, quy, phượng… Đến Thơ mới với sự bùng phát của cái tôi cá nhân và sự giải phóng về tư tưởng, người ta thường thấy xuất hiện biểu tượng lạc thú và tình yêu nam nữ, sự cô đơn… Trong thơ ca cách mạng, ta lại bắt gặp nhiều biểu tượng hào hùng như Đảng, lãnh tụ, chiến sĩ, màu đỏ, lá cờ Tổ quốc… Trong thơ ca đương đại,

ta bắt gặp những biểu tượng mới như tòa cao ốc, computer… Như thế, hệ thống biểu tượng nghệ thuật còn lưu dấu ấn của mỗi thời kì lịch sử Có những biểu tượng tồn tại xuyên suốt nhiều thời kì văn học nhưng tùy theo thời kì mà nó mang những nét nghĩa khác nhau Biểu tượng văn học không phải là một cấu trúc khép kín mà nó

là một hiện tượng mở bởi vậy nó thường xuyên mất đi những nét nghĩa lỗi thời và được bồi đắp những nét nghĩa mới

1.1.2.2 Vai trò của biểu tượng trong văn học

* Biểu tượng thể hiện con đường tư duy nghệ thuật của nhà văn

Nghệ sĩ là những người khao khát muốn khám phá và thể hiện những ấn tượng độc đáo, tư duy sâu sắc, cảm xúc mãnh liệt, tưởng tượng phong phú về cuộc sống và con người Con đường để người nghệ sĩ thực hiện tư duy nghệ thuật của mình chính là thông qua hình tượng nghệ thuật

“Nhà triết học nói bằng tam đoạn luận, nhà thơ nói bằng hình tượng và các bức tranh”- (Beilinski) Trước một hiện tượng đời sống, một khám phá về bản chất

và quy luật của cuộc đời, không chỉ những cung bậc cảm xúc rung động trong trái

Trang 23

tim, mà cả tâm hồn, trí tuệ của người nghệ sĩ sẽ nảy sinh những tưởng tượng, liên tưởng để tư tưởng, cảm xúc được cụ thể hóa, hữu hình hóa Nhờ đó hiện thực đời sống hiện ra trong diện mạo của một hình tượng, một thế giới sống động, nhiều tầng nghĩa, hiển lộ mà ẩn giấu, truyền thống mà hiện đại, quen thuộc mà mới mẻ, vừa trí tuệ vừa tình cảm… Muốn gửi gắm nỗi đau xót trước tình trạng con người bị tàn phá, hủy hoại, biến dạng thành con vật, con quỷ dữ, Nam Cao đã mã hóa vào trong những hình tượng người- ngợm sống động, có ý nghĩa biểu trưng, điển hình như Chí Phèo, thị Nở… Như vậy có thể nói biểu tượng là con đường tư duy nghệ thuật của các nhà văn, giúp nhà văn cô đọng cảm xúc, tư tưởng, tìm cho tư duy nghệ thuật của mình một hình thức sống động, hữu hình, mở ra con đường hiện hữu nhất để chuyển tải, gửi gắm những khám phá, lí giải sâu sắc độc đáo, phong phú về cuộc sống, con người

* Biểu tượng là phương thức phản ánh, tái hiện, chiếm lĩnh đời sống của văn học

Văn học nghệ thuật phản ánh cuộc sống, con người, gửi gắm tư tưởng tình cảm, khát vọng của người nghệ sĩ bằng hình tượng nghệ thuật Hình tượng nghệ thuật không chỉ làm bức tranh đời sống trong văn học nghệ thuật trở nên sống động mà còn

ẩn chứa những chiều sâu trong khám phá hiện thực, trong quan niệm, tư tưởng, tình cảm của tác giả Mỗi hình thức đời sống khi trở thành kết quả của quá trình sáng tạo bao giờ cũng là một biểu tượng góp phần mã hóa nội dung hiện thực, tư tưởng và cảm xúc nào đó Nó không chỉ là hiện thực khách quan được mô tả mà đã bao hàm,

xuyên thấm tình cảm và cái nhìn chủ quan bên trong Như “Củi một cành khô lạc

mấy dòng” (Tràng giang- Huy Cận) không chỉ là sự trôi nổi phù du của một thực thể

tự nhiên mà còn kí thác bao nỗi niềm thân phận của người trí thức trước cách mạng tháng Tám: cô đơn, bơ vơ, phiêu dạt, lạc lõng, vô định giữa dòng đời…

Biểu tượng trong văn học do đó được coi là những hình thức đời sống mang một ý nghĩa, giá trị khác, vừa cụ thể, vừa khái quát, vừa hữu hình, vừa vô hình, không đơn nghĩa mà đa nghĩa Biểu tượng bước vào trong những văn bản nghệ thuật cụ thể từ ngôn ngữ văn hóa của nhiều thời đại, mang vào đó toàn bộ sức nặng ngữ nghĩa mà nó tích lũy được qua nhiều thế kỉ Cho nên, khác với ẩn dụ, hoán dụ,

Trang 24

biểu tượng bao giờ cũng mang tính đa nghĩa Biểu tượng là những hình ảnh, hình tượng có ý nghĩa biểu đạt, tượng trưng sâu rộng hơn bản thân chính nó Biểu tượng giúp văn học phản ánh được những vấn đề thuộc về bản chất của thế giới, quy luật của cuộc đời, mở ra những chiều kích rộng- dài- sâu hơn bản thân hiện tượng và hiện thực được phản ánh

Biểu tượng không chỉ phản ánh, khái quát được bản chất của một hiện tượng nào đấy, mà còn thể hiện một quan niệm, một tư tưởng, một triết lý sâu xa về con

người và cuộc đời như hình tượng bò khoang trong truyện Phiên chợ Giát của Nguyễn Minh Châu, hình tượng Đạm Tiên trong Truyện Kiều của Nguyễn Du… Ý

nghĩa của biểu tượng tồn tại cả ở ngoài văn bản mà chúng ta đang tiếp xúc Bởi vì, quá trình tạo nghĩa của một biểu tượng thường có lịch sử lâu đời, gắn liền với quá trình hình thành quan niệm về thế giới của con người cổ xưa

Với chất liệu phi vật thể là ngôn ngữ, văn học có khả năng tích chứa, hội tụ mật độ và dung lượng biểu tượng phong phú, đồ sộ hơn tất cả các ngành nghệ thuật khác Không một tác phẩm văn học nào thiếu biểu tượng, bởi biểu tượng chính là phương thức, phương tiện phản ánh, khám phá chiếm lĩnh đời sống Sự giàu có, chiều sâu, bề dày, sức khái quát của biểu tượng là phẩm chất và sức mạnh của thế giới nghệ thuật văn chương Biểu tượng làm nên vẻ đẹp về hình thức nghệ thuật, giá trị nội dung tư tưởng của tác phẩm, sức mạnh của văn chương trong dòng chảy cuộc đời

* Giải mã biểu tượng chính là con đường chiếm lĩnh tác phẩm văn học

Việc giải mã các biểu tượng với những năng lượng dồn nén của nó là con đường tất yếu để chiếm lĩnh các tác giá trị của tác phẩm văn học về các phương diện như: tư tưởng, tình cảm, quan niệm của nhà văn…

Khi khám phá một tác phẩm văn học, nếu không nắm bắt được thế giới hình tượng được tác giả xây dựng, sáng tạo, đặc biệt là những biểu tượng quan trọng, cốt yếu, ta sẽ không thể đi đến tầng bậc tiếp theo và tận cùng trong chiều sâu ý nghĩa của văn bản, ý đồ nghệ thuật của nhà văn Nhà thơ Chế Lan Viên từng đúc kết rất thú vị về con đường giải mã biểu tượng để tiếp nhận tác phẩm văn chương qua bài

thơ nhỏ Mình và ta:

Trang 25

“Mình là ta đấy thôi ! Ta lại gửi cho mình

Sâu thẳm mình ư? Lại là ta đấy

Ta gửi tro, mình nhen thành lửa cháy Gửi viên đá con mình dựng lại lên thành”

Kết tinh hoạt động sáng tạo của người nghệ sĩ, tác phẩm nghệ thuật trao tay

bạn đọc chỉ còn là tro sau một quá trình lửa cháy, viên đá con hứa hẹn sẽ làm nên một thành trì Vì vậy, muốn hiểu tác giả, tác phẩm, người đọc phải nỗ lực tìm kiếm

thổi bung lên ngọn lửa ẩn giấu trong đám tro tàn ấy

Tính hàm súc, đa nghĩa là đặc trưng, bản chất của hình tượng văn học Biểu tượng như tảng băng trôi (Hê- min- guê) khiến tác phẩm văn học chỉ một phần nổi

mà có tới bẩy phần chìm Chính cấu túc mở, cấu trúc mời gọi ấy đòi hỏi người đọc tất yếu phải giải mã được biểu tượng mới có thể tiếp nhận thành công tác phẩm

1.1.2.3 Vài nét về biểu tưởng trong văn học Việt Nam

Trong văn học Việt Nam, biểu tượng được sử dụng như một thủ pháp nghệ thuật phổ biến và hết sức độc đáo Trong văn học dân gian, biểu tượng được thể hiện trong sự biến hóa dạng lưỡng thể nửa người – nửa vật, mang dấu vết thời hoang dã,

nguyên sơ của thần thoại, hoặc dạng người hóa vật, vật hóa người (hòn vọng phu,

trầu cau,…) mang dấu tích thần thoại trong cổ tích Nghệ sĩ dân gian thường lấy

những hình ảnh gần gũi với đời sống sinh hoạt hàng ngày như con cò, con bống, tấm

lụa đào, nụ tầm xuân… để diễn tả thế giới tâm hồn phong phú của người lao động,

diễn tả tư tưởng, tình cảm của con người Trong ca dao cổ, nói đến “con cò” là người

ta liên tưởng đến hình ảnh người nông dân hiền hậu chất phác, đặc biệt là hình ảnh biểu tượng cho thân phận người phụ nữ lao động xưa - đó là hình ảnh người đàn bà lam lũ vất vả Ví dụ:

“Cái cò lăn lội bờ sông

Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non”

Trong văn học trung đại, các nhà văn, nhà thơ đã sáng tạo và tích lũy được một hệ thống biểu tượng hết sức phong phú, đa dạng

Trang 26

Ví dụ:

Dương liễu: Biểu tượng cho sự chia ly Phù dung: Biểu tượng của sự thanh bạch Con Rồng: Hiện thân của sự uy nghi Con Rùa: Biểu tượng của tuổi thọ, sự trường tồn

Bồ câu: Biểu tượng của hòa bình…

Khác với văn học dân gian, văn học trung đại xây dựng những biểu tượng trên

cơ sở chú ý đến giá trị, tính cao cả, phẩm chất đặc biệt của sự vật hiện tượng Nổi bật

là biểu tượng tùng, cúc, trúc, mai trong thơ Nguyễn Trãi: Vừa có ý nghĩa tượng trưng cho người quân tử, vừa thể hiện vẻ đẹp cao thượng và phẩm chất nhà thơ Nguyễn Trãi đã từng ví phẩm chất, khí tiết của người quân tử với phẩm chất của cây tùng, trúc, mai:

“ Trúc Tường Hủ nên thêm tiết cứng/ Mai Lâm Bô dâm được câu thần”

Hay:

“ Song có hoa mai, trì có nguyệt/ Án còn phiến sách, triện còn hương’’

Kết hợp biểu tượng với các điển tích, điển cố tác giả vừa thể hiện sự sáng tạo vừa diễn tả thành công thế giới nội tâm

Trong văn học hiện đại những năm đầu thế kỉ XX, văn học dân tộc và phát huy cao độ tinh thần “đổi mới” từ giai đoạn trước, đồng thời đưa ra những biểu tượng khỏe khoắn, mới lạ đầy tính sáng tạo Với một số tác giả tiêu biểu: Nguyễn Bính, Xuân Quỳnh, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Tố Hữu…

Xuyên suốt hành trình thơ của Nguyễn Bính, ta thấy lặp đi lặp lại hình ảnh cánh bướm và giậu mồng tơi, mưa xuân bay và làng quê vào hội, giàn trầu không và hàng cau liên phòng, con đê làng và sự hẹn hò chờ đợi… ở hầu hết các tập thơ, các bài thơ và nó là tiêu biểu cho hệ thống biểu tượng văn hóa truyền thống của làng quê Việt Nam

Trong văn học 1945 – 1975, các biểu tượng nghệ thuật mang đậm tính sử thi Xuất phát từ nhu cầu nhằm phục vụ cách mạng, đề cao tinh thần tất cả vì tiền tuyến, các sáng tác thơ ca giai đoạn này thường sử dụng các biểu tượng mang tính lãng mạn

Trang 27

cách mạng Ta bắt gặp hình ảnh “đầu súng trăng treo” trong bài Đồng chí của nhà

thơ Chính Hữu – một biểu tượng nghệ thuật đa nghĩa về tình đồng chí, về niềm tin và khát vọng hòa bình

Nhà thơ nữ Xuân Quỳnh để lại ấn tượng sâu sắc với biểu tượng sóng trong bài thơ cùng tên Biểu tượng sóng giàu giá trị cảm xúc, tinh tế và phong phú đã diễn tả

thành công mọi cung bậc của trái tim người phụ nữ nhân hậu và giàu khát khao yêu

thương Sóng trở thành biểu tượng tiêu biểu sâu sắc bao trùm toàn bộ bài thơ, sóng bộc lộ bản thể ngay từ đầu “Dữ dội và dịu êm/ Ồn ào và lặng lẽ…”, sóng còn vỗ dọc bài thơ và cuối cùng bài thơ khép lại trong các âm vang của biển “Giữa biển lớn tình

yêu/ Để ngàn năm còn vỗ”

Từ sau 1975, hướng tới cuộc sống hòa bình, văn học sử dụng biểu tượng linh hoạt và phong phú hơn Theo yêu cầu mới của thời đại, các hình ảnh biểu trưng thể hiện sự kết tinh ý chí, sức mạnh của cả một cộng đồng dần nhường chỗ cho các biểu tượng gần gũi gắn với cuộc sống thế sự và đời sống cá nhân Biểu tượng trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu vừa là một bước tiếp nối và phát triển hệ thống hình ảnh biểu tượng trong truyền thống lịch sử văn học Việt Nam, vừa khẳng định được yếu tố

cá nhân, một khía cạnh của đời sống, những “giếng nước” chờ đợi, “bến quê”,

“chuyến tàu tốc hành”, “chiếc thuyền ngoài xa”, “cỏ lau”, “tiếng xe cút kít”… chuyển

tải khá nhiều thông điệp về con người và cuộc đời

Có thể nói, sử dụng biểu tượng vẫn là một thủ pháp hữu hiệu nhằm biểu đạt đời sống và con người của văn học sau 1975 Dĩ nhiên, với mục tiêu hướng đến phản ánh đời sống đa sự và tìm về bản ngã của con người, hệ thống biểu tượng trong văn học giai đoạn này cũng đa dạng hơn, gần gũi hơn, phong phú hơn và nhiều ám ảnh hơn

1.2 Sứ mệnh nghệ thuật của biểu tƣợng trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu

Nói đến một nền văn học hoặc một thời kì văn học nhất thiết phải nói đến

những tác giả tiêu biểu vì họ là những “thư kí trung thành của thời đại” Có thể họ

là nhà cổ điển, có thể là nhà cách tân, người đi tiên phong Nhưng cũng có thể họ không có danh hiệu nào song tên tuổi và tác phẩm lại chinh phục người đọc

Trang 28

Nguyễn Minh Châu (1930- 1989) là một trong số các nhà văn tiêu biểu của nền văn học Việt Nam hiện đại Với hai mươi chín năm cầm bút ông đã để lại cho đời mười

ba tập văn xuôi và một tập phê bình tiểu luận Điều đáng nói ở đây là với trí tuệ và trái tim mẫn cảm, nhà văn đã làm việc và suy nghĩ nghiêm túc nên mỗi tác phẩm của ông ra đời đều được bạn đọc cũng như giới nghiên cứu phê bình đón nhận nồng nhiệt vì nó thực sự có ích cho cách mạng, cho đời sống

Số phận văn chương của Nguyễn Minh Châu gắn liền với những bước đi cơ bản của nền văn học Việt Nam ở những thời điểm lịch sử cụ thể Trước những năm

1975, là người luôn khao khát sáng tạo khám phá hiện thực chiến tranh và phẩm chất của con người Sau năm 1975, khi lịch sử đất nước sang trang, nền văn học Việt Nam chuyển mình qua một chặng đường mới, ngòi bút của Nguyễn Minh Châu cũng sớm chuyển hướng Xuất phát từ quan niệm coi con người với những quy luật vĩnh hằng là đối tượng của văn học, ông đã đi vào các số phận, các tính cách, tìm đến các nỗi niềm riêng tư, sâu kín vốn thường bị trùm phủ bởi các sự kiện xã hội hoặc bị che khuất bởi tư tưởng thời đại Quá trình tìm kiếm cho mình con đường đi tới cái đích xa xôi của nghệ thuật cũng là quá trình Nguyễn Minh Châu thể hiện cái riêng của mình trong quan điểm, trong cách nhìn, thể hiện ở những kiến giải độc

đáo của ông trước các vấn đề của đời sống hiện thực “Con đường đi của nhà văn

dám khám phá và sáng tạo, con đường đi của một nghệ sĩ chân chính nói chung thường gập ghềnh và có khi gặp nguy hiểm thường ít người đi, vì thế vắng vẻ, và cái đích đi đến cũng xa xôi” [41; 44] Truyện ngắn mới thực sự làm phát lộ tài năng

Nguyễn Minh Châu trong giai đoạn sau 1975, mới làm cho nhà văn trở thành một

“hiện tượng văn học”, mới đúng với sở trường sở đoản của nhà văn này Giới

nghiên cứu, phê bình văn học và bạn đọc công nhận ông là người đi tiên phong trong sự nghiệp đổi mới văn học Người đọc nhận thấy trong những trang truyện ngắn ấy luôn có những hình ảnh để lại nhiều dư âm trong lòng độc giả Đó là các

hình ảnh: tấm gương soi mặt, chuyến tàu tốc hành, hình ảnh con bò khoang… Trong các truyện: Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Cỏ lau, Khách ở quê ra,

Phiên chợ Giát…

Trang 29

1.2.1 Biểu tượng, một nét đặc sắc của trong phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu

Sự nghiệp văn học của Nguyễn Minh Châu là một di sản văn học đáng kính trọng, một tấm gương sáng tạo Đó là con đường gian khổ xuyên qua cuộc sống phức tạp, xuyên qua vô vàn cuộc đời để khám phá bản chất con người với một khát vọng hướng thiện cháy bỏng, nhiều khi đến phẫn nộ gay gắt Có thể nói, các tác phẩm của Nguyễn Minh Châu là một mạch nguồn khơi mãi dường như vẫn bất tận, đọc nhiều lần vẫn mở ra những khám phá và vỡ lẽ không ngừng, tạo nên sức sống

và sức cuốn hút lâu dài Điều ấy chắc chắn có sự đóng góp không nhỏ của hệ thống biểu tượng như là một phương diện tư duy nghệ thuật, thủ pháp đặc thù trong phong cách nghệ thuật, một dấu ấn đặc sắc nổi bật trong các tác phẩm của Nguyễn Minh Châu nói chung và thể loại truyện ngắn nói riêng

Hầu như bài viết nào, công trình nghiên cứu nào về Nguyễn Minh Châu cũng

ít nhiều nhắc tới biểu tượng trong sáng tác của ông, ở mức độ lướt qua hay đi sâu, đơn lẻ độc lập hoặc nhìn trong hệ thống Bởi lẽ biểu tượng có quan hệ và chi phối với tất cả các yếu tố, phương diện của truyện ngắn Nguyễn Minh Châu: đề tài, chủ

đề, cốt truyện, kết cấu, nhân vật, nghệ thuật trần thuật…

Trong tiểu luận nổi tiếng Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ

minh họa, Nguyễn Minh Châu thường tâm sự cay đắng về viết văn ở ta: “nhà văn vừa muốn phô diễn tư tưởng, chõ miệng ra giữa hai hàng chữ để cảnh tỉnh với đời một cái điều gì đó tiên cảm thấy trong đời sống, nhưng lại muốn giấu đi, gói nó trong bao lần là, rào nó sau bao tầng chữ” “Gói trong bao lần lá, rào sau bao tầng chữ”, ấy chính là không thể hiển lộ mọi điều trên văn bản ngôn từ, trong lớp vỏ đơn

xơ mà phải sử dụng hình tượng, biểu tượng TS Chu Văn Sơn gọi đó là thi pháp

“gói rào”: “Yêu cầu gói rào đã khiến Nguyễn Minh Châu kiên trì một hư chiêu: mài

nhẵn hết những cạnh sắc nhô ra, dìm sâu ẩn ý vào lòng mỗi hình ảnh Bởi thế những tượng trưng thông thường dường như đã thành ẩn tượng” [68]

Từ quan niệm thành thi pháp, biểu tượng đã trở thành nét nổi bật trong tư duy nghệ thuật và phong cách sáng tác của Nguyễn Minh Châu Giá trị tác phẩm

Trang 30

của Nguyễn Minh Châu phải kể tới công lao của hệ thống biểu tượng phong phú, giàu có, có sức nặng và tầm vóc ấy Người đọc muốn hiểu Nguyễn Minh Châu, muốn tri âm cùng ông qua tác phẩm, muốn cùng ông khám phá và suy tư về cuộc sống, con người, cũng là người có thể thâm nhập, nắm bắt, thấu hiểu, lĩnh hội thế giới biểu tượng mà ông đã sử dụng, đã sáng tạo nên trong từng trang truyện

Sử dụng và sáng tạo hình tượng là đặc trưng của văn học nghệ thuật Song không phải nhà văn, nhà thơ nào cũng dành ưu tiên cho vai trò, vị trí của biểu tượng trong thế giới nghệ thuật của mình, nhất là với người viết truyện ngắn- thể loại chú trọng trước hết tới những sự kiện, tình huống, biến cố đời sống, những chân dung nhân vật, những lời kể, điểm nhìn… Song với Nguyễn Minh Châu, biểu tượng trở thành một yếu tố quan trọng, đậm đặc và xuyên suốt thế giới nghệ thuật trong đời văn của ông, đặc biệt ở thể loại truyện ngắn thời kì đổi mới

Đọc truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, chúng tôi nhận thấy hình ảnh biểu

tượng xuất hiện với một tần số cao “Ông thường cô đọng vấn đề, khái quát vấn đề

bằng sự triết lý, bằng những hình ảnh mang tính tượng trưng” [41] khiến cho hiện

thực được phản ánh càng thêm sâu sắc, lắng đọng và giàu chất trữ tình Với những hình ảnh biểu tượng này, tác giả đã giãi bày được nhiều suy nghĩ của mình và nâng tác phẩm lên tầng ý nghĩa triết lý

Khảo sát truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, chúng tôi thấy có khoảng 15 hình ảnh rõ nét nhất được lặp đi lặp lại nhiều lần, tham gia vào nhiều yếu tố cấu trúc

truyện ngắn Đó là mảnh trăng trong Mảnh trăng cuối rừng; là cơn giông và bến

quê trong hai truyện ngắn cùng tên; là hình ảnh giếng khơi mát lành trong Bên

đường chiến tranh; là hình ảnh chiếc thuyền và bức ảnh chụp trong Chiếc thuyền ngoài xa; bức chân dung và chiếc gương soi mặt trong Bức tranh… Đặc biệt

Nguyễn Minh Châu còn sử dụng loại biểu tượng gắn với đời sống tâm linh, đời sống

nội tâm tạo nên những ảo ảnh, những giấc mơ có sức ám ảnh lớn như hình ảnh bò

khoang cùng tiếng xe cút kít trong Khách ở quê ra và Phiên chợ Giát, cơn mộng du

và hình ảnh chuyến tàu trong Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành… Chính sự

xuất hiện với tần số cao của các hình ảnh biểu tượng trên đây khiến cho truyện ngắn

Trang 31

Nguyễn Minh Châu được xây dựng bằng nhiều điểm sáng, bằng những hình tượng có sức ám ảnh tâm trí người đọc, khiến cho những sáng tác sau này của ông trở nên đa dạng, phong phú, sâu sắc và biến ảo hơn trong việc thể hiện cuộc sống, đi sâu vào nội tâm con người Quá trình đi tìm những sắc thái mới cho các hình ảnh biểu tượng đã giúp Nguyễn Minh Châu chọn được những điểm nhìn mới, những nhân vật mới và là

cơ sở để ông tạo nên giọng điệu riêng cho tác phẩm của mình

Nhìn xuyên suốt quá trình sáng tác của Nguyễn Minh Châu chúng tôi thấy có những hình ảnh lấy từ mô típ biểu tượng truyền thống trở đi trở lại trong tác phẩm của ông với những dấu ấn sáng tạo mới Hình ảnh trăng trong truyện của ông, có thể

nói như là một “nhân vật” có một thứ tiếng nói riêng: “Vầng trăng khuyết mỏng

manh sáng trong như một mảnh bạc” là vầng trăng của kẻ đang yêu (Mảnh trăng cuối rừng) “Mảnh trăng cuối tháng như một chiếc đĩa bằng vàng bị vỡ” trong lần

Thai và Lực đi dỡ sắn ở vùng núi Đợi phải chăng là một dự báo về hạnh phúc, để

rồi hơn 20 năm sau, họ gặp lại nhau trong một hoàn cảnh oái ăm thì “Trăng chở lên

như một chiếc thuyền vàng đi tròng trành giữa nền trời” (Cỏ lau)

Bước vào thế giới nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu sau năm 1975, người

đọc sẽ bắt gặp vô vàn biểu tượng Một truyện ngắn Bến quê mở ra cả chuỗi biểu tượng phong phú bất ngờ: Bến bên dòng sông, con sông bên lở bên bồi, chuyến đò

ngang duy nhất trong ngày, bãi bồi màu mỡ bên kia sông, cây bằng lăng với những bông hoa cuối mùa tím thấm, ván cờ thế bên đường, bàn tay, chiếc áo, bước đi của người vợ, đứa con trai và hành trình đi tơi bãi bồi, ánh mắt và hành động cuối cùng của Nhĩ khi nỗ lực xua tay, khoát tay nhắc nhở ai đó… Phiên chợ Giát là câu

chuyện về kiếp người- bò của người nông dân trên mảnh đất nông nghiệp ngàn đời, cho nên không ngạc nhiên khi nhà văn gửi vào đó bao nhiêu biểu tượng Truyện nào của Nguyễn Minh Châu cũng giàu biểu tượng Số phận nhân vật gửi trong biểu

tượng, ý nghĩa của cả câu chuyện cô đọng ở biểu tượng (Cỏ lau) Mạch kể của truyện gắn liền với biểu tượng (Cơn giông) Nhân vật và biểu tượng đối chứng, song hành (Một lần đối chứng, Bức tranh…) Biểu tượng gửi gắm những cảm nhận, triết lí về nghịch lí hay chân lí cuộc đời (Chiếc thuyền ngoài xa)

Trang 32

Thế giới biểu tượng trọng truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu sau năm 1975 càng phong phú, đậm đặc, đa chiều và góp phần quan trọng làm lên diện mạo phong cách nhà văn Nó vừa là một thủ pháp nghệ thuật góp phần tạo dựng nên thế giới hình tượng sinh động giàu tính biểu cảm vừa là những mốc để đánh dấu sự phát triển của tư duy nghệ thuật trong tiến trình đổi mới nền văn học dân tộc Mặt khác, cũng với tư cách là một hình thức của tư duy nghệ thuật, các hình ảnh biểu tượng này là cơ sở để có thể xác định sự thống nhất tương đối ổn định hệ thống hình tượng trong sáng tác của nhà văn, của thời đại văn học với nhiều nét mới mẻ và độc đáo

1.2.2 Biểu tượng và vai trò nghệ thuật của biểu tượng trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu

Sau năm 1975, Nguyễn Minh Châu sớm nhận ra “cuộc đời đa sự con người

đa đoan” Nhà văn khao khát khám phá hiện thực và con người với những góc

khuất, khoảng tối, âm trầm, nốt lặng đầy bí ẩn và phức tạp chứ không đơn giản một

chiều như trước Trong Nguyễn Minh Châu và công cuộc đổi mới văn học Việt Nam

sau 1975, các tác giả đã chỉ ra điều này: “Từ cuộc chiến đấu giành quyền sống cho

cả dân tộc chuyển sang cuộc chiến đấu giành quyền sống cho từng con người, nhiệm vụ của nhà văn và văn học đã có sự thay đổi Thay cho một thế giới phân cực

và những kẻ thù cụ thể hữu hình trong chiến tranh là một thế giới tương thông với bao nỗi đa đoan của cuộc đời và lòng người, văn học phải tiến hành cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ với tất cả những nẻo khuất, góc tối, những mầm mống của cái xấu, cái ác đang manh nha trong mỗi con người, tiến hành cuộc chiến đấu cho cái chân- thiện- mĩ, cho một xã hội công bằng, bác ái” [47; 16] Văn học phải khám phá, tìm

ra, sử dụng những biểu tượng vì chỉ có biểu tượng mới chứa đựng được trọn vẹn trong nó sự phức tạp bộn bề như đời sống, những bề sâu, bề xa, chiều rộng, chiều dài của đời sống Khai thác tối đa biểu tượng là phương tiện, cách thức hữu hiệu giúp nhà văn chuyên chở những khám phá và triết lí, những khắc khoải và khát khao Vì thế, mỗi tác phẩm của Nguyễn Minh Châu ra đời thực sự đã mở ra một cuộc khám phá sôi động và hứng thú để nhận chân biểu tượng, đào sâu vào hiện thực lịch sử, đời sống dân tộc, thời đại và nhân loại cũng như đón nhận tư duy nghệ

thuật mới mẻ của “người mở đường tinh anh và tài năng”

Trang 33

Là nhà văn mặc áo lính, Nguyễn Minh Châu ý thức hết sức sâu sắc sứ mệnh thiêng liêng của người cầm bút trong giai đoạn khốc liệt của cuộc chiến Tâm niệm

sáng tác trở thành cháy bỏng trong ông lúc này là hướng đến cuộc “đấu tranh vì quyền

sống của cả dân tộc”, do vậy nhà văn đã dành gần nửa cuộc đời để say sưa, ngợi ca, mê

mải khám phá vẻ đẹp lung linh, kì ảo của cuộc sống và tâm hồn con người trong chiến tranh vệ quốc Hiện thực của cuộc chiến được khái quát qua những biểu tượng sống

động như: vầng trăng, nhành mai, giếng nước, nguồn suối…

Đến thời kì đổi mới văn học, với quan niệm nghệ thuật đích thực không bao giờ rời xa cuộc đời, tác giả không phán truyền, áp đặt mà đối thoại cùng người đọc suy ngẫm của mình về con người và nghệ thuật Hiện thực được phản ánh và nghiền

ngẫm trong tác phẩm được thu nhỏ trong biểu tượng chiếc thuyền ngoài xa trong

truyện ngắn cùng tên Đằng sau vẻ đẹp tuyệt mĩ, toàn bích như kì công của tạo hóa

ấy lại tiềm ẩn và ngự trị cái ác, cái xấu (người chồng to lớn, dữ dằn đánh đập người

vợ thô bạo) Vẻ đẹp tuyệt mĩ của con thuyền trong sương mờ từ xa bỗng vỡ vụn bởi một cảnh tượng trần trụi khi nó đến gần bờ Qua đó, nhà văn muốn gửi gắm một quan niệm về hiện thực: nhìn nhận cuộc đời không nên đơn giản, xuôi chiều, bị đánh lừa bởi vẻ đẹp bề ngoài mà cần soi thấu sự phức tạp, chứa đầy nghịch lí, mâu thuẫn bên trong Để nhận diện được bản chất đích thực của đời sống, mỗi con người cần thâm nhập mạch ngầm ẩn sâu để không bị ngộ nhận bởi vẻ đẹp hào nhoáng bên ngoài Như vậy, có thể nói với cách sử dụng các biểu tượng nghệ thuật đặc sắc, Nguyễn Minh Châu đã thành công khi khái quát hiện thực bộn bề qua những hình tượng sống động Và có lẽ vì thế mà những biểu tượng trong các truyện ngắn của nhà văn luôn để lại nhiều suy ngẫm trong lòng độc giả

Nhà văn đã từng quan niệm: “văn học và đời sống là những vòng tròn đồng

tâm mà tâm điểm là con người”, Nguyễn Minh Châu trước và sau đều hướng ngòi

bút của mình vào việc khám phá và thể hiện vẻ đẹp chân dung tâm hồn con người Việt qua những chặng đường lịch sử Trong những năm chiến tranh, khi hướng tới

sự khái quát bức tranh lịch sử với cảm hứng sử thi lãng mạn, Nguyễn Minh Châu đã tập trung thể hiện những vẻ đẹp cao cả Nhân vật thành công của ông, dù ít nhiều

Trang 34

đều được “ẩn giấu” bằng những biểu tượng nghệ thuật như mảnh trăng, nhành mai,

nguồn suối, cái giếng… Sau chiến tranh, nhà văn dần đi tới quan niệm toàn vẹn và

đa chiều về chiều sâu tâm hồn con người Vượt qua quan niệm còn phiến diện và một chiều của văn học mang khuynh hướng sử thi, nhà văn tiếp cận con người trên nhiều bình diện và nhiều tầng bậc: con người ở chiều sâu nội tâm, con người đời tư thế sự tồn tại cùng với con người xã hội lịch sử, con người trong tính cá thể riêng biệt và tính nhân loại phổ quát Hứng thú nhất với ngòi bút Nguyễn Minh Châu là khám phá cái thế giới bên trong, đầy bí ẩn của con người, lật xới vào những tầng đáy sâu của tâm lý, tư tưởng, cả tiềm thức và tâm linh của con người Với biểu

tượng mảnh trăng không chỉ là biểu tượng cho vẻ đẹp khuất lấp, khiêm nhường mà

hiện hữu hay vẻ đẹp đầy chất thơ mà nó còn là biểu tượng cho vẻ đẹp lung linh trong tâm hồn con người thời chống Mĩ Bước sang thời kì đất nước được hòa bình, ngòi bút của Nguyễn Minh Châu càng thể hiện rõ biệt tài trong khai thác, khám phá

tâm hồn con người: Biểu tượng con bò khoang, tiếng xe cút kít thể hiện cho đức tính

kiên trì, nhẫn nại chịu đựng của người nông dân biết vượt qua số phận- lão Khúng

Ở thiên truyện Chiếc thuyền ngoài xa, Nguyễn Minh Châu đã khám phá con người

trong sự phức hợp, đa chiều của nó Nhân vật của ông không đơn giản, nhất phiến

mà được soi chiếu, lật xới mọi chiều cạnh của khối vuông ru bích

Ở một khía cạnh khác, Nguyễn Minh Châu còn phát hiện ra những tình thế nghịch lí của cuộc đời: giữa cái hữu hạn và vô hạn của khả năng con người, sự xung đột gay gắt giữa cái thiện và ác, giữa khát vọng cá nhân với thực tế khắc nghiệt của hoàn cảnh… Nhận thức những nghịch lí trong các tình thế của đời sống con người

trở thành nhu cầu thiết yếu của nhà văn “để thể hiện một sự chiêm nghiệm lẽ đời

hơn là để phê phán một lối sống nào đó” thể hiện qua truyện: Bến quê, Cỏ lau, Chiếc thuyền ngoài xa… Chính những nghịch lí này khiến con người phải thay đổi,

thức tỉnh cách nghĩ, cách sống quen thuộc của mình, và cao hơn nó đòi hỏi con người phải có cái nhìn độ lượng hơn với cuộc đời Sử dụng những biểu tượng này Nguyễn Minh Châu đã tạo ra cái cớ để ông lật xới những vấn đề vốn thao thức trong ông và tạo nên những ám ảnh sâu sắc trong nhận thức người đọc, khiến người

Trang 35

đọc thấy rõ rằng cuộc sống thực tế còn đầy những nghịch lí, bi hài, bản chất con người luôn bao hàm cả bóng tối và ánh sáng, cả sức mạnh và sự yếu đuối cùng những giới hạn không thể vượt qua Khi nhìn thẳng vào những tình thế ấy con người sẽ có ý thức đấu tranh với những cái ác, vượt lên trên trở ngại của hoàn cảnh, tìm đến với hạnh phúc và sự hoàn thiện

Như vậy, những xu hướng khái quát lịch sử, khái quát những tư tưởng, chiêm nghiệm những chân lý đời sống, phát hiện ra những nghịch lí và những vấn

đề của tồn tại xã hội cho ta thấy rõ chiều sâu triết học trong các truyện ngắn của

Nguyễn Minh Châu Trong bài tiểu luận “Nhà văn, đất nước và dân tộc mình” ông

đã có một nhận xét sâu sắc: “Sự đời ngưng đến một độ nào đấy thì trở thành triết

học Đời sống dân tộc ta cũng đi qua một cơn bão táp ghê gớm và mỗi người anh hùng cũng từ đấy bước ra là một triết nhân” Vả chăng cũng do thói quen quan sát,

suy ngẫm mà ông đã vượt qua được lối sao chụp bình thường để khám phá trong

đời sống những “luật đời”, “luật sống” có ý nghĩa phổ quát, và vì thế các sáng tác

của ông sau năm 1975 càng đậm chất triết lí Điều này đã được Lã Nguyên khẳng

định: “Sức hấp dẫn trong những trang viết gần đây của Nguyễn Minh Châu chính là

chất thơ và chiều sâu triết học mà nhờ đó nhà văn hiện lên với đầy dủ tầm cỡ của nhà nghệ sĩ- tư tưởng” [62; 286]

Trang 36

Chương 2

HỆ THỐNG BIỂU TƢỢNG TRONG TRUYỆN NGẮN

CỦA NGUYỄN MINH CHÂU

2.1 Cơ sở hình thành

2.1.1 Bản sắc văn hóa dân tộc

Bản sắc văn hóa dân tộc là hệ thống những đặc tính bên trong, những sắc thái riêng có tính nguồn gốc, gắn với những đặc tính của chủ thể, trở thành nguồn cội, khuôn mặt, nền tảng, bản thể của một nền văn hóa; là thẻ căn cước, là chứng minh thư của văn hóa bất kì dân tộc nào Nó chính là cái để phân biệt văn hóa dân tộc này

và với văn hóa dân tộc khác, khiến cho văn hóa dân tộc này không trở thành “cái

bóng” của văn hóa dân tộc khác và ngược lại

Đối với một cộng đồng người thì bản sắc văn hóa dân tộc chính là những đặc điểm tính cách, phẩm chất đã được kết tinh lại trong lịch sử và qua lịch sử của mỗi quốc gia cụ thể Những nét riêng độc đáo đó được thể hiện thông qua văn hóa ứng xử, các kiểu quan hệ trong đời sống, tâm lý con người… Cụ thể hơn, nét đặc trưng của văn hóa mỗi dân tộc sẽ được nhận ra ở chính mỗi cá thể trong cộng đồng dân tộc đó,

từ lời ăn tiếng nói, từ tâm tư tình cảm đến chí hướng, từ ứng xử thông thường đến hành động

Sáng tác văn chương nghệ thuật là một trong những lĩnh vực thể hiện rõ nhất bản sắc văn hóa của một dân tộc Nhà văn dù vô tình hay hữu ý vẫn thể hiện những dấu ấn của văn hóa dân tộc Và điều đó minh chứng rằng bản sắc văn hóa đã ảnh hưởng một cách âm thầm nhưng khá mạnh mẽ, bền vững đối với các chủ thể sáng tạo này Nguyễn Minh Châu cũng không là một ngoại lệ

2.1.2 Âm hưởng thời đại

Sinh ra và lớn lên đúng vào những thời khắc lớn lao của lịch sử, Nguyễn Minh Châu chứng kiến những biến chuyển của đất nước từ thời chiến sang thời bình, lại là một nhà văn- chiến sĩ thấu hiểu sâu sắc về thời cuộc Vì vậy trên mặt trận cầm bút của mình, Nguyễn Minh Châu là một trong số những nhà văn tiêu biểu chịu ảnh hưởng và

Trang 37

sự chi phối mạnh mẽ của thời đại, điều đó thể hiện rõ nét qua mỗi trang viết trong cả hai giai đoạn sáng tác của ông

Giai đoạn đất nước ngập chìm trong bom đạn, thời khắc này muôn người như một đều hướng về tiền tuyến, giành lại non sông là mục tiêu sống còn của dân tộc ta lúc bấy giờ Toàn dân ta lúc này sống trong bầu không khí hào hùng, đi theo tiếng gọi chung, lý tưởng chung của cách mạng, tạo ra hào khí chiến đấu bảo vệ độc lập tự do một thời Các nhà văn cũng không đứng ngoài cuộc chiến, những trang viết, những vần thơ ở thời điểm này được coi như một thứ vũ khí sắc bén nhằm cổ vũ, động viên, kêu gọi tinh thần chiến đấu của toàn dân tộc

Đến thời bình, dân tộc ta bước vào thời kỳ mới, những nhu cầu đích thực của

cá nhân, con người lúc này mới có thời gian và cơ hội để sống cho mình, nhìn lại mình và thể hiện mình Các sáng tác văn học cũng có những bước đổi thay lớn khi nhà văn có cơ hội đi sâu vào số phận cá nhân, viết lên những tâm tư, tình cảm của riêng của mỗi con người… Không nằm ngoài thời cuộc, Nguyễn Minh Châu là một trong những cây bút đầu tiên hăng hái hòa nhập với công cuộc đổi mới và có những biến đổi mạnh mẽ cả trong suy nghĩ lẫn cách viết

2.1.3 Hoàn cảnh lịch sử xã hội và hoàn cảnh riêng

2.1.3.1 Hoàn cảnh lịch sử- xã hội

Cách mạng tháng Tám thành công năm 1945 đã mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử dân tộc, văn học đã có một “cuộc thay đổi lớn” và bền bỉ gắn với sứ mạng cổ vũ chiến đấu xây dựng chủ nghĩa xã hội trong suốt ba mươi năm (1945-1975)

Sự phong phú, đa dạng của văn học (1945-1975) có cơ sở từ sự thay đổi lớn trong quan niệm văn học mang tính đặc thù Sự phát hiện ra con người quần chúng

đã “định hướng” văn học vận động theo hướng sử thi Từ quan niệm con người

quần chúng trong văn học thời chống Pháp, với những hình tượng tập thể còn khá đơn giản, tuy sinh động và mới mẻ ở buổi đầu, đến thời kì chống Mĩ nhận thức về nhân dân đã đạt tới chiều sâu mới và hình tượng nhân dân là một thành công đáng

kể Văn học thời chống Mĩ đã sáng tạo những hình tượng con người mang tính dấu

ấn, tầm vóc, tư tưởng và ý chí của thời đại ấy Con người sử thi trong văn học thời

Trang 38

kì này với hai phương diện nổi bật là chủ nghĩa anh hùng và vẻ đẹp tâm hồn, là một đóng góp của văn học vào việc khám phá con người, đề cao sức mạnh và vẻ đẹp của con người Việt Nam.

Đại thắng mùa xuân năm 1975 đã chấm dứt một giai đoạn lịch sử đau thương của dân tộc, để từ đây đất nước bước vào một chặng đường mới, khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh, từng bước phát triển theo quy luật của đời sống hòa bình Sau năm 1975, văn học đã làm một cuộc đổi mới trọng đại, cái mốc 1986 đã trở thành một điểm khởi đầu mới chưa từng có cho một dòng chảy sâu rộng cho đến hết thế kỉ XX và tiếp diễn đương đại sang đầu thể kỉ XXI, với những tên tuổi tiêu biểu như Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Bảo Ninh, Nguyễn Huy Thiệp… Và

đặc biệt Nguyễn Minh Châu được coi là một trong số “người mở đường tinh anh và

tài năng nhất”

2.1.3.2 Hoàn cảnh riêng

Nguyễn Minh Châu sinh ngày 20 tháng 10 năm 1930 tại làng Thơi, xã Quỳnh Hải, thuộc huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An Từ nhỏ Nguyễn Minh Châu đã được tạo điều kiện học hành khá chu đáo Học ở quê rồi vào Huế, học tiếp đến năm

1945 thi đỗ bằng thành chung Những năm đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Minh Châu tiếp tục học trung học trong vùng kháng chiến Đầu năm 1950, khi đang là học sinh chuyên khoa trường Huỳnh Thúc Kháng ở Nghệ Tĩnh, Nguyễn Minh Châu tình nguyện vào quân đội, theo học trường sĩ quan Trần Quốc Tuấn Sau

đó, Nguyễn Minh Châu về công tác tại sư đoàn 320 Năm 1961, ông theo học trường văn hóa quân đội ở Lạng Sơn Từ năm 1962 cho đến khi mất, Nguyễn Minh Châu làm việc tại tạp chí Văn nghệ quân đội Ông mất ngày 23 tháng 1 năm 1989 tại Hà Nội

Vốn là một sĩ quan tham mưu trong quân đội, Nguyễn Minh Châu sống và làm việc trước hết với tư cách là một người lính, nhưng lại là một người lính viết văn Cũng như đối với nhiều nhà văn mặc áo lính cùng thời, công việc sáng tác đòi hỏi người cầm bút phải có nhiều lặn lội thực tế ở những nơi đầu sóng ngọn gió, ông

đã tham gia nhiều chiến dịch, đã từng trải qua những khó khăn gian khổ ở rừng

Trang 39

Trường Sơn Hòa bình lặp lại, ông cũng đi nhiều nơi, vào thành phố Hồ Chí Minh rồi trở ra Hà Nội Sau hơn một năm trời vật lộn với căn bệnh ung thư máu hiểm nghèo, ông đã vĩnh viễn chia tay cuộc đời vào ngày 23 tháng 1 năm 1989 tại viện Quân y 108 Hà Nội

Sự ra đi đột ngột của Nguyễn Minh Châu khi đang ở giai đoạn tài năng chín muồi nhất Những người thân, những người bạn của ông cùng với thế hệ bạn đọc, nhiều người trong giới nghiên cứu đương thời luôn dành cho ông một sự yêu quý và

kính trọng sâu sắc Họ nhìn thấy ở ông “một sự dũng cảm điềm đạm” (Vương Trí Nhàn), “một chiến sĩ chiến đấu đến cùng cho điều mình nhận thức là đúng” (Thái

Bá Lợi), với vẻ ngoài “hiền lành, có khi lại còn nhút nhát nữa, nhưng bên trong

dường như có một ngọn lửa, ngọn lửa ấy luôn tạo ra sức nóng ở nơi đầu ngọn bút”

(Ngô Vĩnh Bình)… Đọc những bài viết của họ về ông, ta hình dung ra một Nguyễn Minh Châu thâm trầm, lặng lẽ, ít nói nhưng giàu lòng thương yêu, luôn sống trung thực với chính mình và mọi người Ông không thích ồn ào, không thích bon chen tranh đoạt mà lặng lẽ nhẫn nại theo đuổi những công việc và mục đích mà mình đã lựa chọn Hơn nữa, ông lại rất nhạy cảm và quyết liệt với những gì được coi là cái xấu, cái ác, làm tổn hại đến con người Và trên hết Nguyễn Minh Châu là một người

có ý thức sâu sắc về thiên chức của nhà văn, về trách nhiệm và lương tâm của người cầm bút

Ở góc độ công dân, ông đã làm hết sức mình để sống một cuộc sống có ích cho xã hội và những người xung quanh mình Ở góc độ một nhà văn, bằng tài năng

và tấm lòng nhiệt tình yêu nghề, với thái độ điềm đạm nhưng hết sức dũng cảm, ông

đã dành trọn cuộc đời của mình để sống, chiến đấu, cống hiến cho những mục tiêu

cao đẹp của văn chương nghệ thuật, xứng đáng là “niềm hãnh diện của những

người cầm bút về một đời văn trong sáng và trọn vẹn” (Nguyễn Khải)

2.1.4 Vốn sống, tài năng và quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu

2.1.4.1 Vốn sống, tài năng

Trong suốt cuộc đời sáng tác của mình, Nguyễn Minh Châu đã để lại 9 cuốn tiểu thuyết, 4 tập truyện ngắn, 1 tập tiểu luận phê bình và một số bút kí, truyện ngắn khác đăng rải rác trên các báo, tạp chí

Trang 40

Các tác phẩm xuất bản gồm: Cửa sông (tiểu thuyết, 1967), Những vùng trời

khác nhau (tập truyện ngắn, 1970), Dấu chân người lính (tiểu thuyết, 1972), Từ giã tuổi thơ (tiểu thuyết, viết cho thiếu nhi, 1981), Những người đi từ trong rừng ra

(tiểu thuyết, 1982), Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (tập truyện ngắn, 1983),

Đảo đá kì lạ (tiểu thuyết viết cho thiếu nhi, 1985), Bến quê (tập truyện ngắn, 1985), Mảnh đất tình yêu (tiểu thuyết, 1987), Cỏ lau (tập truyện, 1989), tập tiểu luận phê

bình Trang giấy trước đèn…

Có thể nói với một khối lượng sáng tác tương đối dày dặn như trên, Nguyễn Minh Châu đã ghi tên mình vào lịch sử văn học Việt Nam hiện đại như một tên tuổi hết sức quan trọng

Theo khảo sát của chúng tôi, tính đến năm 1975, ông có tất cả 19 truyện

ngắn, gồm 7 truyện in trong tập “Những vùng trời khác nhau”, 11 truyện khác in trên tạp chí Văn nghệ quân đội và 1 tập truyện in trong tập “Người đàn bà trên

chuyến tàu tốc hành” (1983) nhưng thời gian sáng tác là năm 1967 Nhìn chung,

chất lượng truyện ngắn giai đoạn này không đồng đều Những truyện ngắn ở giai

đoạn đầu như Sau một buổi tập, Con đường đến trường… chỉ có tính chất thử

nghiệm, chất lượng nghệ thuật chưa cao Nhưng những truyện ngắn hay hơn đã

được chuyển vào tập Những vùng trời khác nhau, trong số đó “Mảnh trăng cuối

rừng” được coi là truyện ngắn hay nhất và cũng tiêu biểu nhất cho cảm hứng và bút

pháp trữ tình, lãng mạn- sử thi của nhà văn

Sau năm 1975, Nguyễn Minh Châu có 23 truyện ngắn, gồm 8 truyện in trong

tập “Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành”, 9 truyện in trong tập “Bến quê”, 3 truyện in trong tập “Cỏ lau”, 3 truyện in trên tạp chí Văn nghệ quân đội (Chú chim,

Chợ tết, Sân cỏ Tây Ban Nha) Nhiều tác phẩm được đánh giá cao hơn giai đoạn

trước như Bức tranh, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Chiếc thuyền ngoài

xa, Bến quê, Cỏ lau, Khách ở quê ra, Phiên chợ Giát…

Căn cứ vào thời gian ra đời và những chuyển đổi trên nhiều phương diện

nghệ thuật, có thể coi Bức tranh là tác phẩm đánh dấu bước ngoặt trong sáng tác

của Nguyễn Minh Châu qua hai giai đoạn trước và sau 1975 Thiên truyện này được

Ngày đăng: 14/06/2017, 11:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân (1987), Sáng tác truyện ngắn những năm gần đây của Nguyễn Minh Châu, Tạp chí Văn học, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sáng tác truyện ngắn những năm gần đây của Nguyễn Minh Châu
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Năm: 1987
2. Lại Nguyên Ân (1984), Văn học và phê bình, NXB Tác phẩm mới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học và phê bình
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: NXB Tác phẩm mới
Năm: 1984
3. Lại Nguyên Ân ( 1990), 150 thuật ngữ vãn học, Nxb ĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ vãn học
Nhà XB: Nxb ĐHQG
4. Bakhtin, (1992), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Bộ văn hoá thông tin, Trường viết văn Nguyễn Du Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: Bakhtin
Nhà XB: Bộ văn hoá thông tin
Năm: 1992
5. Nguyễn Duy Bắc, (1998), Bản sắc dân tộc trong thơ ca Việt Nam hiện đại (1945- 1975). NXB Văn hoá dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc dân tộc trong thơ ca Việt Nam hiện đại (1945- 1975)
Tác giả: Nguyễn Duy Bắc
Nhà XB: NXB Văn hoá dân tộc
Năm: 1998
6. Nguyễn Thị Bình (1999), Những đổi mới của văn xuôi Việt Nam sau 1975, Luận án Tiến sĩ, ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đổi mới của văn xuôi Việt Nam sau 1975
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: ĐHSP Hà Nội
Năm: 1999
7. Nguyễn Thị Châm (2014), Biểu tượng trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau năm 1975 nhìn từ lý thuyết của IU. M. Lotman, Luận văn thạc sĩ Ngữ văn, Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biểu tượng trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau năm 1975 nhìn từ lý thuyết của IU. M. Lotman
Tác giả: Nguyễn Thị Châm
Năm: 2014
8. Nguyễn Minh Châu (1996), Cửa sông: Tiểu thuyết, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cửa sông
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1996
9. Nguyễn Minh Châu (1970), Những vùng trời khác nhau: Tập truyện ngắn. NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vùng trời khác nhau
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1970
10. Nguyễn Minh Châu, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành: Tập truyện ngắn, NXB TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành: Tập truyện ngắn
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Nhà XB: NXB TPHCM
11. Nguyễn Minh Châu (1985), Bến quê: Tập truyện ngắn, NXB TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bến quê: Tập truyện ngắn
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Nhà XB: NXB TPHCM
Năm: 1985
12. Nguyễn Minh Châu (1989), Cỏ lau: Tập truyện ngắn, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cỏ lau: Tập truyện ngắn
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1989
13. Nguyễn Minh Châu (1994), Tuyển tập truyện ngắn, NXB Văn học . 14. Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn: Tập phê bình tiểu luận Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập truyện ngắn
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1994
15. Nguyễn Minh Châu (2009), Tuyển tập truyện ngắn, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập truyện ngắn
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2009
16. Phạm Vĩnh Cư (1990), Những yếu tố tiểu thuyết trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, Tạp chí Văn nghệ tháng 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những yếu tố tiểu thuyết trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu
Tác giả: Phạm Vĩnh Cư
Năm: 1990
17. Đinh Xuân Dũng (1990), Hiện thực chiến tranh và sáng tạo văn học, NXB QĐND Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện thực chiến tranh và sáng tạo văn học
Tác giả: Đinh Xuân Dũng
Nhà XB: NXB QĐND
Năm: 1990
18. Hà Minh Đức (Chủ biên) (1993), Lý luận văn học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1993
19. Hà Minh Đức (Chủ biên), Mấy vấn đề lý luận văn học trong sự nghiệp đổi mới, NXB Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề lý luận văn học trong sự nghiệp đổi mới
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Sự thật
20. V.I.Erêmina (1978), Kết cấu nghệ thuật thơ ca trữ tình dân gian Nga, NXB KH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết cấu nghệ thuật thơ ca trữ tình dân gian Nga
Tác giả: V.I.Erêmina
Nhà XB: NXB KH
Năm: 1978
21. Phạm Minh Hạc (Chủ biên) (1988), Tâm lý học: T1,T2, NXB Giáo dục. 21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học: T1,T2
Tác giả: Phạm Minh Hạc (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục. 21
Năm: 1988

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w