Thành ngữ Việt Nam Thành ngữ hoặc là những cụm từ mang ngữ nghĩa có định phan lớn không tạo thành câu hoàn chỉnh về mặt ngữ pháp không thê thay thé và sửa đổi về mặt ngôn từ và độc lập
Trang 1Thành ngữ Việt Nam
Thành ngữ hoặc là những cụm từ mang ngữ
nghĩa có định (phan lớn không tạo thành câu
hoàn chỉnh về mặt ngữ pháp) (không thê thay thé
và sửa đổi về mặt ngôn từ) và độc lập riêng rẽ với
từ ngữ hay hình ảnh mà thành ngữ sử dụng, thành
ngữ thường được sử dụng trong việc tạo thành
những câu nói hoàn chỉnh Cần phân biệt thành
ngữ và tuc ngữ
A
Ác giả ác báo
AI khảo mà xưng
An ban lac dao
An cu lac nghiép
An phan thu thuong
Án binh bất động
Anh em cột chèo
Anh hùng không có đất dụng võ
Anh hung mat 16
Anh hung nhat khoanh
Anh hung rom
Anh hung tao thoi thé
Ao có bờ sông có bến
Ao liền ruộng cả
Ao sâu nước cả
Ao tù nước đọng
Ào ào như thác lũ
Áo ấm cơm no
Áo đơn đợi hè
Ao gam di dém
Áo đơn lồng áo kép
Ao gam vé lang
An báo cô
Ăn Bắc mặc Kinh (Bắc= miễn bắc;
Kinh = dan toc Kinh (Viét))
An bằng nói chắc
Ăn bơ làm biếng
Ăn bờ ở bụi
Ăn bớt đọi, nói bớt lời
Ăn bữa hôm lo bữa mai
Ăn bớt ăn xén
Án cháo đá bát
Ăn cơm trước kẻng
Ăn thùng uống vại
Ăn Ốc nói mò
Ăn thủng nôi trôi re
Ăn như rong cuỗn
Ăn cây táo, rào cây sung
Ăn chay niệm phật
Ăn chắc mặc bên
An cay nuốt đắng
Ăn cắp như ranh
An can ở kiệm
Ăn cây nào rào cây nay
An quả nhớ kẻ trồng cây
Ăn cây táo rào cây sung
Án cháo đá bát
Án cháo lá đa
Ăn chay nằm mộng
Ăn chay niệm Phật
Ăn chắc mặc bên
Ăn chực nằm chờ
Ăn chưa no lo chưa tới
Ăn chung ở lộn
An chung máng, ở chung chuông
Ăn cô đi trước, lội nước đi sau
Ăn cơm chúa múa tối ngày
Ăn cơm có canh, tu hành có ban
Ăn cơm lừa thóc, ăn cóc bỏ gan
Ăn cơm mới nói chuyện cũ
Ăn cơm nhà vác tù và hàng tông
Ăn đến nơi, làm đến chốn
Ăn cơm thiên hạ
Ăn đất nằm sương
Ăn đói mặc rách
Ăn đói mặc rét
Ăn đong ở đợ
Ăn đời ở kiếp
Ăn gan uong mau
Ăn giả làm thật
Ăn giập miệng trầu
Ăn gió năm mưa
Ăn gửi năm chờ
Ăn hiển ở lành
Trang 2Ăn hương ăn hoa
Ăn hơn nói kém
An khỏe như thân trùng
Ăn không ăn hỏng
Ăn không ngồi rôi
Ăn không ngon, ngủ không yên
Ăn không nói có
Ăn lông Ở 16
An may cam tinh bi gay
Ăn mày đòi xôi gắc
Ăn mày quen ngð
Ăn mắm mút dòi
Ăn mặn khát nước
Ăn mật trả gừng
Ăn tục nói phét
Ăn nên làm ra
An miếng trả miéng
An trang mac tron
Ăn trên ngồi trước
Ăn tươi nuốt sông
Ăn vụng ngon miệng
Ăn sung mặc sướng
An ngay nói thăng
Bắt cóc bỏ đĩa
Bên trọng bên khinh
Bước thấp bước cao
Buổi đực buôi cái
Bat phan thang bai
Bung lam da chiu
Bach chién bach thang
Ba chìm bảy nổi
Bờ xôi ruộng mật
Bình an vô sự
Bánh ít đi, bánh qui lại
Bán mặt cho đất, bán lưng cho trời
Có còn hơn không
Có tật giật mình
Có mới nới cũ
Con nhà lính, tính nhà quan Còn nước còn tát
Con ông cháu cha Con sâu làm rầu nôi canh Cùng hội cùng thuyền Chó treo mèo đậy Cha nào con nay Chân ướt chân ráo Chân cứng đá mềm Châu chấu đá xe
Cháy nhà mới ra mặt chuột
Chạy sap dap ngtra
Cá chậu chim lồng Cành vàng lá ngọc
Cao muon oai hum
Có thực mới vực được đạo
Chạy đôn chạy đáo Cong ran can ga nha
Chim kéu vuon hu
Con dai cai mang Chín bỏ làm mười Cây muốn lặng mà gió chăng ngừng Chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo Con nhà tông không giỗng lông cũng giống cánh
Chuột sa chính gạo
Chở củi về rừng Chó chạy củng rào Con giun xéo lắm cũng quan Chưa thấy quan tài chưa đồ lệ
Cần cù bù thông minh
Chưa đồ ông nghè, đã đe hàng tông Cây ngay không sợ chết đứng Chết cha còn chú, xây mẹ bú dì Chọc gậy bánh xe
Chó chê mèo lắm lông
Chó cùng dứt dau
Chịu đấm ăn xôi
Chia ngọt sẻ bùi Chết vinh còn hơn sống nhục
Chậm như rùa Chim sa cá lặn
Có trăng quên đèn
Trang 3Đầu đường xó chợ
Đầu trộm đuôi cướp
Đất rộng trời cao
Điếc không sợ súng
Đội nón ra đi
Được voi đòi tiên
Đêm dài lắm mộng
Éch ngồi đáy giếng
Gan mực thì đen gần đèn thì sáng
Già đẻ trứng vàng
Giấy rách phải giữ lấy lề
Giậy ông đập lưng ông
Gan nhà xa ngõ
Giao trứng cho ác
Gan dat xa trời
Gặp lửa bỏ tay người
Giả nhân giả nghĩa
Giang son gam vóc
Gieo nhân nào gặt quả nấy
Gieo gid gặt bão
Gio tay mat dat tay trai
Họa vô đơn chí
Học thây không tày học bạn
Hồ phụ sinh hồ tử
Học một hiểu mười
Hoa hòe hoa sói
Hóa mù ra mưa
Hữu danh vô thực
Há miệng mắc quai
Hồng nhan bạc phận
Hồ đầu xà vĩ
Không thây đỗ mày làm nên Không mợ thì chợ vẫn đông
Khẩu phật tâm xà
Khôn nhà dại chợ Khôn ba năm dai mot giờ
khỏe như voi
Lá lành đùm lá rách
Lá rụng về cội Lạt mềm buộc chặt
Lời ăn tiếng nói Lam trai cho dang than trai Long lang da sói
Lên voi xuống chó Lên bờ xuống ruộng Lực bất tòng tâm
Muốn sang thì bắt cầu Kiều Muôn con hay chữ phải yêu lây thây
ngưu tâm ngưu mã tâm mã
Nước sông công lính Ngồi chờ sung rụng
Năm thì mười họa
Nói một đẳng làm một nẻo Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm
Ngã theo chiêu gió
Nhàn cư vi bất thiện
Non song gam voc
Nước đục thả câu
nhanh như cắt Nhân vô thập toàn Nhất cử lưỡng tiện Nước chảy đá mòn
Trang 4Nước mắt chảy xuôi
Nước đồ đầu vịt
Nước đồ lá khoai
Nuôi ong tay áo
nuôi khỉ dòm nhà
No com 4m ao
Ngay lanh thang tot
Nem cong cha phượng
Ném đá giấu tay
Ngày rộng tháng dài
Nhất tự vi sư, bán tự vi sư
Nhà cao cửa rộng
Nhà tranh vách đất
G bau thi tron, ở Ống thì dài
Phép vua thua lệ làng
Quýt ngọt cam chua
Qua câu rút ván
Vạn sự khởi đầu nan
Vô thưởng vô phạt
Văng chủ nhà, gà mọc đuôi tôm (or:
vọc niều tôm)
Vắt cô chày ra nước
Việc nhà thì nhác việc chú bác thì
siêng
Vì thân phải nề cây đa
Yêu nhau yêu cả đường ởi, ghét
nhau ghét cả tông ti ho hang
Yêu cho roi cho vọt, ghét cho ngọt
Ruột để ngoài da Ruộng sâu trâu nái không bằng con gái đầu lòng
Rán sành ra mỡ
Sai một ly đi một dặm
Sông có khúc người có lúc Sinh cơ lập nghiệp
Sơn hào hải vị
(Thuốc đăng dã tật) sự thật mất
lòng Sắc nước hương trời
Sức cùng lực kiệt
Song to gió lớn
Sống khôn thác thiêng
Sống chết mặc bay
Tiền thầy bỏ túi
Uông nước nhớ nguôn Uông công phí sức
Vắt chanh bỏ vỏ Vào sinh ra tử
Xuất đầu lộ diện
Xuất khẩu thành thơ
Xem mặt mà bắt hình dong Xôi hỏng bỏng không
Xa mặt cách lòng
Xa sông cách núi
Yêu thì quả âu cũng tròn, ghét thì
bồ hòn cũng méo ẹo Tiền mất tật mang
Thắt lưng buộc bụng