1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến giai cấp công nhân việt nam

184 129 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 184
Dung lượng 1,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ yêu cầu đó, nghiên cứu sinh chọn vấn đề: “Tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến giai cấp công nhân Việt Nam” làm đề tài luận án tiến sĩ chuyên ngành Chủ nghĩa x

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS Nguyễn Chí Hiếu

HÀ NỘI - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TÁC GIẢ

Phạm Quỳnh Trang

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 6

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 6

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 8

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 9

5 Những đóng góp về mặt khoa học của luận án 9

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 10

7 Kết cấu của luận án 10

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 11

1.1 Những công trình nghiên cứu về cách mạng công nghiệp lần thứ tư và giai cấp công nhân 11

1.1.1 Những công trình nghiên cứu về cách mạng công nghiệp lần thứ tư 11

1.1.2 Những công trình nghiên cứu về giai cấp công nhân 20

1.2 Những công trình nghiên cứu về tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến giai cấp công nhân 25

1.3 Khái quát những kết quả có giá trị tham khảo từ các công trình đã tổng quan có liên quan đến đề tài và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, làm rõ trong quá trình thực hiện luận án 31

1.3.1 Đánh giá khái quát những kết quả của các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 31

1.3.2 Những nội dung luận án cần tập trung nghiên cứu và làm sáng tỏ 32

Tiểu kết chương 1 33

Chương 2 TÁC ĐỘNG CỦA CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ ĐẾN GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM–MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 35

2.1 Quan niệm, đặc điểm giai cấp công nhân và cách mạng công nghiệp lần thứ tư 35

Trang 5

2.1.1 Quan niệm, đặc điểm giai cấp công nhân 35 2.1.2 Bản chất, đặc điểm của cách mạng công nghiệp lần thứ tư 50

2.2 Quan niệm và biểu hiện tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ

tư đến giai cấp công nhân 62

2.2.1 Quan niệm “tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến giai cấp công nhân” 62 2.2.2 Biểu hiện tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến giai cấp công nhân 65

Tiểu kết chương 2 81 Chương 3 TÁC ĐỘNG CỦA CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ ĐẾN GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM – THỰC TRẠNG

VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 83 3.1 Thực trạng tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến giai cấp công nhân Việt Nam 83

3.1.1 Tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến số lượng, cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam 83 3.1.2 Tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến đến trình độ của giai cấp công nhân Việt Nam 92 3.1.3 Tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến phẩm chất chính trị của giai cấp công nhân Việt Nam 96

3.2 Một số vấn đề đặt ra từ tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ

tư đến giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay 101

3.2.1 Sự phát triển về chất của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu của cách mạng công nghiệp lần thứ tư 101 3.2.2 Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mở ra cơ hội có được công việc tốt hơn cho bộ phận công nhân trí thức nhưng lại đặt bộ phận công nhân lao động giản đơn trước nguy cơ mất việc làm, đời sống bấp bênh 108

Trang 6

3.2.3 Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đòi hỏi phải có sự liên minh, liên kết, nhưng khối liên minh nòng cốt giữa giai cấp công nhân, nông dân và đội ngũ trí thức hiện nay chưa được phát huy hiệu quả 111 3.2.4 Công tác quy hoạch, kế hoạch định hướng phát triển giai cấp công nhân Việt Nam vẫn còn chậm, thiếu và chưa đồng bộ 113

Tiểu kết chương 3 116 Chương 4 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU THÚC ĐẨY NHỮNG TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC, HẠN CHẾ NHỮNG TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC CỦA CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ ĐẾN GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM HIỆN NAY 118 4.1 Quan điểm thúc đẩy những tác động tích cực, ngăn ngừa và hạn chế những tác động tiêu cực của cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến giai cấp công nhân Việt Nam 118

4.1.1 Chú trọng chuyển đổi cơ cấu giai cấp công nhân hợp lý 118 4.1.2 Tập trung củng cố, phát triển về phẩm chất chính trị cho giai cấp công nhân 121 4.1.3 Chú trọng phát triển khối liên minh công - nông - trí trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư 124 4.1.4 Xây dựng và hoàn thiện chiến lược tổng thể phát triển đội ngũ công nhân trí thức trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư 126

4.2 Một số giải pháp chủ yếu phát huy những tác động tích cực, ngăn ngừa và hạn chế những tác động tiêu cực của cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến giai cấp công nhân Việt Nam 129

4.2.1 Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với giai cấp công nhân Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư 129 4.2.2 Đổi mới nội dung, phương pháp và tăng cường các yếu tố sáng tạo trong giáo dục, đào tạo đáp ứng yêu cầu mới về trình độ, kỹ năng trong cách mạng công nghiệp lần thứ tư 133

Trang 7

4.2.3 Quá trình chuyển đổi số quốc gia cần kết hợp với việc quan tâm, nâng cao mức sống, bồi dưỡng và trau dồi lý tưởng cách mạng cho giai cấp công nhân 143 4.2.4 Xây dựng các chính sách và chương trình hành động cụ thể để ứng dụng thành tựu của khoa học, công nghệ; khuyến khích, thúc đẩy các mô hình liên minh, liên kết phát triển 149 4.2.5 Sử dụng các giải pháp công nghệ để nhận diện, phân tích những biến đổi cơ cấu giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay, từ đó đưa ra định hướng phát triển giai cấp này trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư 153

Tiểu kết chương 4 156 KẾT LUẬN 158 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN ĐÃ CÔNG BỐ 161 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 162 PHỤ LỤC 176

Trang 8

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

Chủ nghĩa xã hội khoa học CNXHKH

Giai cấp công nhân GCCN

Internet vạn vật kết nối IoT

Năng suất lao động NSLĐ

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Trải qua gần ba mươi lăm năm tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản – đội tiên phong của giai cấp công nhân, đất nước Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn về mọi mặt, trong đó có đóng góp không nhỏ của giai cấp công nhân Việt Nam Hiện nay, bối cảnh thế giới có nhiều thay đổi với xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và đặc biệt là cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư bùng phát vào thập kỉ đầu của thế kỉ XXI, sứ mệnh lớn lao của giai cấp công nhân Việt Nam vẫn được Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định, đó là “…giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam; giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến; giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”; lực lượng nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng” [25; tr.43 -44]

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (hay cách mạng công nghiệp 4.0) đã

và đang có tác động lớn đến tình hình kinh tế - xã hội trên thế giới Ngày 27/9/2019, Bộ Chính trị khóa XII ban hành Nghị quyết số 52 - NQ/TW “về một số chủ trương, chính sách, chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư” Nghị quyết chỉ rõ “Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ

tư mở ra nhiều cơ hội, đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức đối với mỗi quốc gia, tổ chức và cá nhân” Quan điểm của Đảng là “Phải nắm bắt kịp thời, tận dụng hiệu quả các cơ hội để nâng cao năng suất lao động, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế, hiệu lực, hiệu quả quản lý xã hội thông qua nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng mạnh mẽ các thành tựu tiên tiến của cuộc cách mạng

Trang 10

công nghiệp lần thứ tư cho các lĩnh vực của đời sống kinh tế-xã hội, nhất là một

số ngành, lĩnh vực trọng điểm, có tiềm năng, lợi thế để làm động lực cho tăng trưởng theo tinh thần bắt kịp, tiến cùng và vượt lên ở một số lĩnh vực so với khu vực và thế giới” [29] Quan điểm trên cho thấy sự chủ động, tích cực của Đảng trong việc đón đầu những ưu thế và tận dụng những thời cơ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư để phát triển đất nước Điều này, đang tác động đến nền kinh tế, đồng thời tác động trực tiếp đến giai cấp công nhân Việt Nam theo cả hai chiều hướng tích cực và tiêu cực

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với những ưu thế về khoa học – công nghệ, sự ra đời của những ngành nghề mới đòi hỏi trình độ tri thức, kỹ năng nghề nghiệp vượt trội… đặt ra yêu cầu cho giai cấp công nhân Việt Nam phải phát triển cả về số lượng, cơ cấu và chất lượng Tuy nhiên, hiện nay phần lớn công nhân Việt Nam vẫn đang ở trình độ lao động thủ công, các kỹ năng mềm còn hạn chế… quan trọng hơn, phẩm chất chính trị, lập trường tư tưởng của một bộ phận không nhỏ giai cấp công nhân Việt Nam còn nhiều bất cập

Do đó, cần nhanh chóng nhận diện những tác động bước đầu của cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến số lượng, chất lượng và đặc biệt là đến tư tưởng chính trị, lập trường của giai cấp công nhân, để kịp thời đưa ra được những quan điểm, giải pháp cụ thể phát triển giai cấp công nhân xứng đáng với vai trò tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Xuất phát từ yêu cầu đó, nghiên cứu sinh chọn vấn đề: “Tác động

của cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến giai cấp công nhân Việt Nam” làm đề tài luận án tiến sĩ chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học,

đáp ứng đòi hỏi cả về mặt lý luận và thực tiễn cấp bách đối với Việt Nam hiện nay, đúng như Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận định trong Dự thảo Văn kiện Đại hội XIII: “Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, tạo ra cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia - dân tộc” [30; tr.25]

Trang 11

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, thực tiễn tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến giai cấp công nhân Việt Nam, luận án đề xuất một số quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy những tác động tích cực, hạn chế những tác động tiêu cực của cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến giai cấp công nhân Việt Nam

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu trên, luận án thực hiện những nhiệm vụ cụ thể sau:

- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, đánh giá những đóng góp về mặt khoa học của các công trình tổng quan, chỉ ra những nội dung luận án cần nghiên cứu, làm rõ

- Làm rõ thêm một số vấn đề lý luận về giai cấp công nhân, cách mạng công nghiệp lần thứ tư và đặc biệt là tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến giai cấp công nhân Việt Nam

- Phân tích những tác động cơ bản của cách mạng công nghiệp lần thứ

tư đến giai cấp công nhân Việt Nam và những vấn đề đặt ra

- Nêu một số quan điểm cơ bản và đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm phát huytác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến giai cấp công nhân Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến giai cấp công nhân Việt Nam

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu: 1- Tác động của cách mạng

công nghiệp lần thứ tư đến số lượng, cơ cấu của giai cấp công nhân; 2- Tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến chất lượng của giai cấp công

Trang 12

nhân: trình độ (học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ, khả năng làm chủ kiến thức khoa học - công nghệ…) và phẩm chất chính trị (ý thức giai cấp, ý thức giác ngộ về sứ mệnh lịch sử…) của giai cấp công nhân Việt Nam

Về thời gian: Nghiên cứu tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ tư

đến giai cấp công nhân Việt Nam từ năm 2011 (đây là năm mà thuật ngữ công

nghiệp 4.0 được nhắc đến lần đầu tiên tại Đức) đến nay

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận

Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về giai cấp công nhân, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, vai trò của lực lượng sản xuất hiện đại, về vai trò của cách mạng công nghiệp trong phát triển kinh tế, xã hội

Luận án cũng dựa trên những quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, chính sách pháp luật của Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; về một số chủ trương chính sách chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, về chiến lược phát triển nguồn nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011-2020

Ngoài ra, luận án cũng kế thừa giá trị của những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở vận dụng tổng hợp phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Coi trọng

và kết hợp phương pháp lôgic - lịch sử và phương pháp trừu tượng hóa khoa học Ngoài ra, luận án còn sử dụng các phương pháp như: phân tích, so sánh, thống kê… để nghiên cứu

5 Những đóng góp về mặt khoa học của luận án

- Trên cơ sở làm rõ nội dung lý luận liên quan đến giai cấp công nhân, cách mạng công nghiệp lần thứ tư, luận án đã đưa ra được khái

Trang 13

niệm giai cấp công nhân và đặc biệt là xây dựng được khung lý thuyết về tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến giai cấp công nhân

- Làm rõ được những tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ

tư đến giai cấp công nhân Việt Nam, cả tác động tích cực và tiêu cực

- Chỉ ra và phân tích những vấn đề đặt ra từ tác động cơ bản của cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến giai cấp công nhân Việt Nam

- Xác định được bốn quan điểm định hướng và đề xuất được năm nhóm giải pháp để phát huy những tác động tích cực và hạn chế những tác động tiêu cực của cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến giai cấp công nhân Việt Nam

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

6.1 Ý nghĩa lý luận của luận án

- Luận án làm rõ những biểu hiện tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến giai cấp công nhân Việt Nam từ góc độ chính trị - xã hội Vì vậy, kết quả nghiên cứu của luận án có thể được sử dụng để làm tài liệu tham khảo cho việc học tập, nghiên cứu, giảng dạy bộ môn Chủ nghĩa xã hội khoa học nói riêng và các ngành khoa học xã hội khác nói chung

6.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận án

- Luận án dự báo và phân tích những tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến giai cấp công nhân Việt Nam, cung cấp luận cứ để Đảng

và Nhà nước đưa ra được chủ trương, chính sách đúng đắn về phát triển giai cấp công nhân trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư

- Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần vào cuộc đấu tranh tư tưởng chống lại những luận điệu xuyên tạc về giai cấp công nhân và bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin trong giai đoạn hiện nay

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình nghiên cứu khoa học của tác giả và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận án được chia thành 4 chương, 9 tiết

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Trong giai đoạn hiện nay, khi cách mạng công nghiệp lần thứ tư bùng

nổ trên thế giới, khoa học, công nghệ đã thực sự trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, vấn đề giai cấp công nhân, cùng với vị trí vai trò của giai cấp công nhân ngày càng được quan tâm Bên cạnh các công trình nghiên cứu về giai cấp công nhân, gần đây, cách mạng công nghiệp lần thứ tư cũng được các nhà khoa học đặc biệt chú ý, có nhiều công trình nghiên cứu được công bố:

1.1 Những công trình nghiên cứu về cách mạng công nghiệp lần thứ tư

và giai cấp công nhân

1.1.1 Những công trình nghiên cứu về cách mạng công nghiệp lần thứ tư

+ Công trình của các tác giả nước ngoài

- Tác giả Klaus Schwab (2018) với cuốn sách “Cách mạng công nghiệp lần thứ tư” [130] đã khẳng định, cách mạng công nghiệp lần thứ tư là

cuộc cách mạng khác tất cả các cuộc cách mạng đã từng diễn ra trong lịch

sử, trên ba phương diện: tốc độ, bề rộng chiều sâu.“Chúng ta đang ở điểm

khởi đầu của một cuộc cách mạng sẽ thay đổi sâu sắc cách chúng ta sống, làm việc và liên hệ với nhau.” [130; tr.11] Theo Klaus Schwab, có ba xu hướng công nghệ chính trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đó là: vật chất với xe tự hành, in 3D, Robot tiên tiến và vật liệu mới; kỹ thuật số

mà đặc trưng là internet vạn vật; cuối cùng là công nghệ sinh học Quan trọng hơn, tác giả cũng chỉ ra những tác động chính của cuộc cách mạng này theo một hệ thống chỉnh thể và toàn diện, vạch ra những thách thức mà con người sẽ phải đối diện trước cách mạng công nghiệp lần thứ tư

- Sau cuốn “Cách mạng công nghiệp lần thứ tư ”, Klaus Schwab (2019) tiếp tục xuất bản cuốn sách với tên gọi “Định hình cuộc cách mạng công

Trang 15

nghiệp lần thứ tư” [131] và một lần nữa khẳng định “sự phát triển của các

công nghệ mới hoàn toàn nằm trong khả năng của chúng ta” [131; tr.7], tuy vậy, chúng ta phải nhanh chóng định hình cuộc cách mạng này bởi nó: “ góp phần tạo điều kiện để một lực lượng đông đảo gồm các nhà lãnh đạo và người dân cùng tư duy sâu hơn về mối quan hệ giữa công nghệ và xã hội, hiểu được việc hành động (và không hàng động)…” [131, tr.447]

- Deloitte and Global Business Coalition for Education (2018) trong báo cáo đưa ra khung chương trình hành động và những giải pháp để chuẩn bị

lực lượng lao động cho cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Preparing tomorrow’s workforce for the Fourth Industrial Revolution) [174] đã chỉ rõ:

“Cách mạng 4.0 sẽ tạo ra những ứng dụng tuyệt vời có thể áp dụng vào hầu hết mọi mặt của cuộc sống thường nhật, tác động đến cách con người tương tác với công nghệ, và biến đổi cách thức và địa điểm làm việc” [174; tr.8] Tuy nhiên, tác động hay ảnh hưởng của cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến từng đất nước, khu vực trên thế giới là khác nhau, bởi điều này còn phụ thuộc rất nhiều vào nền văn hóa và khả năng tiếp cận cuộc cách mạng này Báo cáo cũng nêu lên hiện trạng đang thay đổi của lực lượng lao động trẻ trên toàn cầu, hàng triệu thanh niên trên thế giới thất nghiệp hoặc thiếu việc làm, nhưng các doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn trong vấn đề tuyển dụng bởi vì một mâu thuẫn đang diễn ra, mâu thuẫn giữa yêu cầu của nhà tuyển dụng và kỹ năng của người lao động, mâu thuẫn này sẽ ngày càng trở nên nghiêm trọng trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư Do vậy, báo cáo chỉ rõ, cần trang

bị cho lực lượng lao động trẻ trình độ chuyên môn cũng như những kỹ năng cần thiết, đây phải là nỗ lực từ nhiều phía: từ doanh nghiệp, nhà nước và bản thân người lao động

Tóm lại, các công trình nghiên cứu trên cơ bản đã cung cấp cái nhìn đa

chiều và toàn diện về cách mạng công nghiệp lần thứ tư, về những biểu hiện,

Trang 16

đặc trưng cũng như tác động của cuộc cách mạng này đến các nền kinh tế trên thế giới, đến các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, từ đó đưa ra những dự báo về xu hướng công nghệ tương lai và những thay đổi trong công việc, trong sản xuất và sinh hoạt của con người

+ Công trình của các tác giả trong nước

- Các tác giả trong cuốn Kỷ yếu hội thảo (2016) “Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những vấn đề đặt ra đối với phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam” [5] cho rằng cách mạng công nghiệp lần thứ tư là “…một thuật

ngữ bao gồm một loạt các công nghệ tự động hóa hiện đại, trao đổi dữ liệu và chế tạo CMCN lần thứ 4 là sự kết hợp của công nghệ trong các lĩnh vực vật

lý, công nghệ số và sinh học, tạo ra những khả năng hoàn toàn mới và có tác động sâu sắc tới các hệ thống chính trị, xã hội, kinh tế của thế giới” [5; tr.78] hay “Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (CMCN 4.0), là một thuật ngữ với nội hàm bao gồm một loạt các công nghệ tự động hóa hiện đại, trao đổi dữ liệu và chế tạo cùng với các hệ thống vật lý trong không gian ảo, internet của vạn vật

và internet của các dịch vụ tương tác với nhau và với con người theo thời gian thật” [5; tr.7] Nhiều bài viết đi vào đánh giá về cơ hội, thách thức, tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến lĩnh vực lao động, việc làm ở Việt Nam Các tác giả cho rằng thách thức lớn nhất đối với lao động việc làm

ở Việt Nam hiện nay là cơ cấu lao động lạc hậu và trình độ lao động thấp, người lao động có nhiều nguy cơ bị mất việc làm dẫn đến phá vỡ cấu trúc thị trường lao động đây là chủ đề rất gần với lĩnh vực luận án đang nghiên cứu

- Tác giả Nguyễn Văn Bình trong cuốn sách (2017) “Việt Nam với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư” [10] dự đoán cuộc cách mạng công

nghiệp lần thứ tư sẽ tạo ra một bước ngoặt mới cho phát triển kinh tế, xã hội ở Việt Nam “…dựa trên nền tảng số hóa của cuộc CMCN 3.0 nhưng mang một bản chất khác Đó là việc máy móc đã bắt đầu thay thế, trợ giúp cho sức suy nghĩ, tư duy hay năng lực trí tuệ của con người Điều này sẽ tạo ra những thay

Trang 17

đổi chưa từng có và được cho là sẽ tạo ra một bước ngoặt mới trong phát triển kinh tế - xã hội.” [10; tr.29] Tác giả cũng đề cập đến từng ngành nghề mũi nhọn trong nền kinh tế Việt Nam như: ngành chế biến, chế tạo, ngành công nghiệp năng lượng, ngành ngân hàng, ngành du lịch, ngành giáo dục, ngành phát triển thương mại kỹ thuật số trước cuộc cách mạng này

- Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang được Đảng và Nhà nước quan tâm, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

(2017) đã tổ chức Hội thảo “Cách mạng công nghiệp lần thứ tư thời cơ và thách thức đối với Việt Nam” [55] Công nghiệp 4.0 (industry 4.0) theo các

tác giả là “ một nền công nghiệp của các nhà máy thông minh và của chuỗi giá trị toàn cầu trong sản xuất – dịch vụ - kinh doanh” [55; tr.28] “Về bản chất là cuộc cách mạng số hóa, thông qua các công nghệ như Internet vạn vật (Iot), trí tuệ nhân tạo (AI), thực tế ảo (VR), tương tác thực tại - ảo (AR), mạng xã hội, điện toán đám mây, di động, phân tích dữ liệu lớn (SMAC)… để chuyển hóa toàn bộ thế giới thực thành thế giới số.” [55; tr.45] Đặc biệt, các tác giả đã chỉ ra một số ngành nghề chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi cuộc cách mạng này sẽ biến mất, điều đó đồng nghĩa với việc nhiều công nhân lao động thủ công mất đi việc làm, nhưng theo đúng quy luật của xã hội loài người một

số ngành nghề mới sẽ ra đời thay thế và làm mới nền kinh tế Bên cạnh đó, các tác giả cũng cho rằng nếu như “Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất

và thứ hai là hai cuộc cách mạng tạo lập nền tảng kinh tế, kỹ thuật của chủ nghĩa tư bản” thì “Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba và thứ tư là hai cuộc cách mạng công nghiệp tạo ra tiền đề kinh tế, kỹ thuật cho hình thái kinh

tế xã hội mới – chủ nghĩa cộng sản” [55, tr.146]

- Theo tác giả Trần Thị Vân Hoa trong cuốn (2017) “Cách mạng công nghiệp 4.0 vấn đề đặt ra cho phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế của Việt Nam” [51] “cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã kết hợp hệ thống

nhúng và quy trình sản xuất thông minh để mở đường cho một kỷ nguyên

Trang 18

công nghệ mới, kỷ nguyên thay đổi cơ bản chuỗi giá trị và mô hình kinh doanh trong sản xuất công nghiệp Sản xuất thông minh được coi như một chuẩn mực của quá trình hoạt động Trong quá trình sản xuất, máy móc hoạt động dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông thông minh, các hệ thống

và mạng lưới có khả năng độc lập trao đổi và trả lời các thông tin để quản lý các quá trình sản xuất công nghiệp” [51; tr.22]

Điểm nổi bật của cuốn sách là tập trung làm rõ thực trạng hiện tại của Việt Nam trong việc đáp ứng các yêu cầu của cách mạng công nghiệp lần thứ

tư, chỉ ra thách thức lớn nhất mà chúng ta đang phải đối mặt đó là Việt Nam hiện nay thiếu nghiêm trọng nguồn nhân lực chất lượng cao cho phát triển kinh tế

- Khi nghiên cứu về cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trong cuốn

(2018) “Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cuộc cách mạng của sự hội tụ và tiết kiệm” [34] tác giả Phan Xuân Dũng đã đi vào cắt nghĩa các khái niệm một

cách rõ ràng và khái quát: từ khái niệm “cách mạng khoa học”, “cách mạng khoa học và kỹ thuật”, “cách mạng khoa học và công nghệ”, “cách mạng công nghiệp”, cho đến khái niệm “cách mạng xã hội”… Trên cơ sở khái quát về các cuộc cách mạng công nghiệp trong lịch sử tác giả đã đưa ra cái nhìn tổng quan nhất về cách mạng công nghiệp lần thứ tư - sự xuất hiện, ảnh hưởng và những đặc trưng cơ bản Bên cạnh đó, tác giả cũng chỉ ra chính sách ứng phó với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư của một số nước công nghiệp phát triển trên thế giới: bắt đầu từ nước Đức sau đó đến Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật bản do

đó, Việt Nam cần chuẩn bị sẵn sàng để chủ động đón nhận, tham gia cách mạng công nghiệp lần thứ tư

- Hội thảo khoa học cấp Quốc gia (2018) “Nhu cầu nhân lực cho phát triển trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những đáp ứng của giáo dục đại học Việt Nam” [18] các tác giả đến từ Văn phòng hội đồng Quốc

gia giáo dục và phát triển nhân lực, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc

Trang 19

gia thành phố Hồ Chí Minh và Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh đã chỉ ra những hạn chế của nguồn nhân lực ở Việt Nam, đó là “…thiếu lao động có trình độ và kỹ năng phù hợp” [18, tr.17] Từ thực trạng, các tác giả đi vào phân tích nguyên nhân và đề xuất nhiều nhóm giải pháp khắc phục Những giải pháp được đưa ra chủ yếu xoay quanh vấn đề làm thế nào nâng cao chất lượng giáo dục đại học, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực cho phát triển trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư Để làm được điều này, trước tiên cần kết hợp hài hòa chính sách học phí, học bổng và tín dụng sinh viên, quốc tế hóa giáo dục đại học ở Việt Nam, đổi mới phương pháp giảng dạy và quản lý sinh viên để nâng cao chất lượng đào tạo đại học trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư

Hội thảo đã cung cấp những số liệu về nguồn lực, cơ cấu lao động, chất lượng lao động, chất lượng giáo dục đào tạo… ở Việt Nam hiện nay, đây là một lĩnh vực mà luận án quan tâm cần tham khảo

-Trong cuốn (2018) “Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và vấn

đề đặt ra với Việt Nam” [64] tác giả Nguyễn Đắc Hưng chỉ ra vấn đề quan

trọng đối với các quốc gia, dân tộc trong cách mạng công nghiệp lần thứ tư đó là: chất lượng nguồn nhân lực, bởi tương lai sẽ diễn ra sự chuyển dịch cơ cấu lao động Theo số liệu của Ngân hàng Anh quốc dự báo rằng “khoảng 95 triệu lao động phổ thông bị mất việc trong vòng 10 – 20 năm tới tại Mỹ và Anh, tương đương khoảng 50% lực lượng lao động tại hai nước này” [64, tr.366, 367]; tất nhiên, không chỉ có lao động phổ thông sẽ bị mất việc làm mà phân tầng xã hội sẽ ngày càng trở nên sâu sắc dẫn đến những bất bình đẳng lớn trong xã hội Trong khi đó, những công nhân có trình độ, bằng cấp cũng có nguy cơ mất việc làm nếu không biết tự nâng cao năng lực và kỹ năng làm việc Bởi vì, theo tác giả cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư là cuộc cách mạng của những “sáng tạo và những ý tưởng mới” Do đó, Việt Nam trước hết phải đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Nội dung cốt lõi của đổi mới

Trang 20

giáo dục chính là sự chuyển biến tư duy của mỗi con người trong xã hội, từ coi trọng nhồi nhét kiến thức sang coi trọng nhân cách và kỹ năng, từ coi trọng giáo dục chính quy sang công nhận tất cả các loại hình giáo dục khác… để tạo nên một xã hội giáo dục, xã hội học tập trong thời đại cách mạng công nghiệp lần thứ tư

- Trong công trình (2019) “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế Việt Nam trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư” [143] tác giả

Phạm Thuyên khi bàn về vấn đề công nghiệp hóa, hiện đại hóa cho rằng đây

là mục tiêu của toàn Đảng, toàn dân ta được đề ra từ Đại hội III của Đảng, nhằm chuẩn bị những tiền đề, điều kiện vật chất cho Việt Nam trở thành một nước công nghiệp trong tương lai Để đạt đến mục tiêu đó, việc đón nhận, tiếp thu sáng tạo cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư là một yêu cầu, nhiệm vụ cấp bách hiện nay Bởi, cách mạng công nghiệp là để “… biến nền kinh tế giản đơn, quy mô nhỏ, dựa vào lao động chân tay sang nền kinh tế công nghiệp và chế tạo máy móc quy mô lớn;… làm thay đổi phương thức sản xuất của những người lao động, từ lao động độc lập, phân tán thành lao động hiệp tác, tạo tiền đề cho sự ra đời của máy móc sau này” [143; tr.17] Vì thế “Xét

về logic phát triển, công nghiệp hóa có nội dung rộng hơn cách mạng công nghiệp Cách mạng công nghiệp là cuộc cách mạng trong cấu trúc kinh tế, và

là khởi điểm của công nghiệp hóa Nếu cách mạng công nghiệp chỉ dừng lại ở mặt kỹ thuật và không dẫn tới sự thay đổi về cấu trúc của nền kinh tế, không làm phương thức sản xuất công nghiệp trở thành phương thức sản xuất chi phối thì chưa phải là công nghiệp hóa” [143; tr.20], hơn thế nữa công nghiệp hóa và hiện đại hóa có mối quan hệ rằng buộc, đặc biệt trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư này, công nghiệp hóa không thể tách rời hiện đại hóa bởi “hiện đại hóa là quá trình liên tục thay đổi công nghệ cũ bằng công nghệ mới, tiên tiến, hiện đại hơn” [143; tr.21] Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là cuộc cách mạng “… tập trung chủ yếu vào sản xuất thông minh dựa trên các thành tựu đột phá của công nghệ số, máy tính và khoa học dữ liệu, tích hợp tất

Trang 21

cả các công nghệ như: công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ nano, công nghệ vật liệu mới, công nghệ tự động hóa, người máy thông minh, khoa học dữ liệu, công nghệ in 3D…” [143; tr.57] Mặc dù còn nhiều khó khăn, thách thức, đặc biệt là nguồn nhân lực nước ta còn nhiều hạn chế nhưng con người Việt Nam vốn thông minh, cần cù, dũng cảm, có ý chí đặc biệt là chúng ta có Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân… nếu như biết phát huy những lợi thế này thì Việt Nam hoàn toàn có thể tận dụng thời

cơ từ cách mạng công nghiệp lần thứ tư

- Ngoài sách tham khảo, chuyên khảo, hội thảo ra, trong những năm gần đây đã có nhiều bài báo viết về cách mạng công nghiệp lần thứ tư xoay quanh những vấn đề: nhận diện cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đặc trưng, bản chất, biểu hiện và những tác động của cuộc cách mạng này đến mọi mặt trong đời sống xã hội

Trong bài viết (2018) “Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 tại Đức: Những thành tựu và thách thức” [48] hai tác giả Nguyễn Chí Hiếu, Phạm Văn

Biển với những phân tích ngắn gọn nhưng sâu sắc về cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã chỉ ra sự khác biệt về bản chất giữa cách mạng công nghiệp lần thứ tư với cách mạng công nghiệp lần thứ ba trước đó Đồng thời làm rõ đặc trưng, biểu hiện của cuộc cách mạng này, trước tiên là ở Đức - đây

là quốc gia đầu tiên nhắc đến công nghiệp 4.0 và là nước tiên phong trong việc áp dụng công nghệ mới vào công nghiệp Qua đó, các tác giả cho rằng khó khăn, thách thức lớn của Đức khi đối mặt với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đó là sự thiếu hụt về nguồn nhân lực chất lượng cao, đây là vấn đề mà luận án đặc biệt quan tâm

Tác giả Nguyễn Chí Trường trong bài viết (2018) “Cuộc cách Cách mạng công nghiệp 4.0: cơ hội, thách thức và giải pháp hai tốc độ cho giáo dục nghề nghiệp” [160] đã dự đoán những xu thế phát triển mới từ ảnh hưởng

của cách mạng công nghiệp 4.0 đó là: xu thế phát triển kinh tế - văn hóa – xã

Trang 22

hội với những đặc điểm nổi bật là nền kinh tế tri thức thay cho nền kinh tế dựa vào vật liệu và lực lượng lao động chân tay là chủ yếu, bên cạnh đó con người sẽ phải đối phó với biến đổi khí hậu Xu thế việc làm, tuyển dụng và đào tạo Tác giả đi sâu phân tích cơ hội và thách thức đối với giáo dục nghề tại Việt Nam khi cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra, từ đó đề ra giải pháp hai tốc độ: một mặt, theo tốc độ của nền kinh tế tri thức, mặt khác theo tốc độ thực hiện giảm nghèo và phát triển toàn diện, giữ vững ổn định, nhất là ở khu vực nông thôn

Bài viết (2018) “Cơ hội và thách thức với lao động nữ trong thời kỳ Cách mạng công nghiệp lần thứ tư” [59] của tác giả Nguyễn Thị Thu Hồng

đã chỉ ra cơ hội cũng như thách thức với lao động nữ trước cách mạng công nghiệp lần thứ tư Đây là một góc nghiên cứu hẹp nhưng quan trọng, tác giả cho rằng hai việc lao động nữ cần làm để kịp thời thích ứng với cuộc cách mạng này đó là: 1 Chủ động nâng cao nhận thức về cách mạng công nghiệp lần thứ tư và nâng cao trình độ, tay nghề; 2 Phát triển kỹ năng mềm đáp ứng nhu cầu cách mạng công nghiệp lần thứ tư

Ngoài ra, có rất nhiều bài viết liên quan đến cách mạng công nghiệp lần

thứ tư trong vài năm trở lại đây trên các tạp chí như: “Những thách thức trong việc bảo đảm công bằng xã hội cho công nhân trước Cách mạng công nghiệp 4.0” của tác giả Lã Trọng Đại; “Phát triển lực lượng sản xuất trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0” của tác giả Đỗ Thu Hằng; “Cơ hội và thách thức đối với lao động, việc làm ở Việt Nam trước tác động của Cách mạng công nghiệp 4.0” của tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền; tác giả Hoàng Thị Thúy Hằng và Nguyễn Thị Hà với bài viết “Nhu cầu của người lao động trong Cách mạng công nghiệp 4.0”; tác giả Chu Thị Bích Ngọc với bài viết

“Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam trong cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0”; Tác giả Triệu Quang Minh với bài viết “Tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến quan hệ giai cấp ở Việt Nam hiện nay”; bài

Trang 23

viết “Cách mạng công nghiệp 4.0 – Nhìn lại quan niệm của C.Mác về vai trò của lực lượng sản xuất” của tác giả Phạm Ngọc Hòa…

Những công trình, bài viết nêu trên là nguồn tư liệu quý, cung cấp cho

tác giả luận án cái nhìn đa chiều về cách mạng công nghiệp lần thứ tư

1.1.2 Những công trình nghiên cứu về giai cấp công nhân

Bước sang thế kỷ XXI, bối cảnh thế giới và trong nước có nhiều thay đổi Xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đang giữ vai trò chủ đạo Cùng với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hướng đến xây dựng một nền kinh tế tri thức phát triển bền vững, giai cấp công nhân Việt Nam cũng có nhiều thay đổi trong thời đại mới Trước bối cảnh đó, có nhiều công trình, bài viết, luận án đi vào nghiên cứu về giai cấp công nhân, sứ mệnh lịch sử, vị trí vai trò và những xu hướng biến động của giai cấp công nhân… Trong giới hạn của luận án, chúng tôi không tổng quan những công trình nghiên cứu trước thế kỷ XXI, mà chỉ tổng quan những công trình bàn đến giai cấp công nhân trong thế kỷ XXI Những công trình nghiên cứu tiêu biểu là:

+ Công trình của các tác giả nước ngoài:

- Trong cuốn sách (2008) “Vị trí vai trò của giai cấp công nhân đương đại” [70] các tác giả Liễu Khả Bạch – Vương Mai – Diêm Xuân Chi đã bám

sát bốn đặc trưng quan trọng, đó là tính lịch sử, tính hiện thực, tính quốc tế và tính sáng tạo để làm rõ vị trí và vai trò của giai cấp công nhân đương đại Bên cạnh đó, theo các tác giả, phạm vi của khái niệm giai cấp công nhân hiện nay

đã được mở rộng bao gồm tất cả những người lao động có thu nhập tiền lương

và chính nó cũng là hình ảnh lao động làm thuê mà C.Mác đã chỉ ra từ thế kỷ thứ XIX Ở Trung Quốc, sau khi thực hiện chính sách cải cách mở cửa, thu nhập tiền lương của công nhân tăng ổn định, họ có tài sản cá nhân, có cổ phần, cổ phiếu trong doanh nghiệp Tuy nhiên, tác giả khẳng định, với tình hình mới cần lấy chủ nghĩa Mác làm kim chỉ nam, tiến hành nhận thức từ đầu

về phạm trù giai cấp công nhân trong xã hội tư bản chủ nghĩa, để đưa ra được

Trang 24

khái niệm mới về giai cấp công nhân đương đại Theo đó, các tác giả cho rằng: “… dưới sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật hiện đại, lao động chân tay ngày càng bị máy móc thay thế, tỷ lệ công nhân trực tiếp tham gia sản xuất trong các ngành chế tạo ngày càng thấp, trong tổng thể lao động,

vị trí người lao động trí óc ngày càng trở nên quan trọng… sự chuyển dịch của tổng thể chủ thể công nhân từ lao động chân tay sang lao động trí óc đã trở thành xu thế trung của sự phát triển và tiến bộ của xã hội ” và đặc biệt,

“trong thời đại cách mạng thông tin, khoa học kỹ thuật đã chiếm vị trí số một

về sức sản xuất, người lao động trí óc trở thành bộ phận hợp thành quan trọng của giai cấp công nhân” [70, tr 652] vì thế, giai cấp công nhân đương đại nảy sinh nhiều đặc điểm khác trước, có sự phân hóa tầng lớp trong nội bộ giai cấp công nhân, cho nên vị trí và vai trò của giai cấp công nhân ở mỗi một tầng lớp

sẽ có sự khác nhau

+ Công trình của các tác giả trong nước

- Trong công trình nghiên cứu về “Xu hướng biến động giai cấp công nhân Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XXI” (2001) Tổng liên đoàn Lao

động Việt Nam - Viện Công nhân và Công đoàn [153] đã chỉ ra: cùng với những biến động của tình hình thế giới, Việt Nam sau hơn 15 năm tiến hành đổi mới, giai cấp công nhân đã có bước phát triển cả về số lượng, chất lượng

và chắc chắn sẽ còn tiếp tục phát triển Hơn thế nữa, xét đến cùng “…muốn công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành công thì yếu tố con người, trong đó những người trực tiếp áp dụng thành tựu khoa học vào sản xuất ra của cải vật chất, tức là người công nhân… cần được coi trọng” [153; tr.23] Vì vậy, muốn xây dựng một nền kinh tế tri thức phát triển, rất cần phải chú ý nâng cao chất lượng giai cấp công nhân Tuy nhiên, thời điểm các tác giả viết công trình khoa học này, tình hình thế giới và trong nước có nhiều điểm khác so với hiện nay, do đó, chưa có bài viết nào đề cập đến giai cấp công nhân trong cách mạng công nghiệp lần thứ tư và đây chính là nội dung luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu

Trang 25

- Trong cuốn (2010) “Giai cấp công nhân Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” [17] các tác giả đi sâu

bàn về bối cảnh mới ở Việt Nam cũng như trên thế giới Ở Việt Nam quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang diễn ra mạnh mẽ Trên thế giới, xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế là xu thế chủ đạo, bên cạnh đó

sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ, của kinh tế tri thức đang tác động trực tiếp đến tất cả các Quốc gia, dân tộc Một số bài viết cho rằng, thay vì tập trung khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên sắp cạn kiệt thì hãy suy nghĩ về tài nguyên con người, về nguồn lực của khoa học, công nghệ để tiến tới quá trình công nghiệp hóa rút ngắn cho Việt Nam

Cuốn sách góp phần cung cấp tư liệu về giai cấp công nhân trong xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, đôi chỗ cũng đề cập đến vai trò của khoa học công nghệ, tuy nhiên, chưa đề cập đến cách mạng công nghiệp lần thứ tư

- Tác giả Đặng Ngọc Tùng trong cuốn (2010) “Xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam giai đoạn 2011 -2020 [163] đi từ những luận điểm cơ bản của

chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về giai cấp công nhân, về “trí thức hóa giai cấp công nhân”, những quan điểm tư tưởng của các học giả phương Tây ở một số nước tư bản trong những năm gần đây về giai cấp công nhân… để đưa ra khái niệm giai cấp công nhân như sau “Giai cấp công nhân hiện đại là một tập đoàn xã hội

ổn định, hình thành và phát triển cũng với cách mạng công nghiệp, với nhịp

độ phát triển của lực lượng sản xuất hiện đại có tính chất xã hội hóa ngày càng cao; là lực lượng sản xuất cơ bản, tiên tiến trong nền sản xuất hiện đại, lao động trong môi trường công nghiệp, dịch vụ công nghiệp, trực tiếp hoặc tham gia vào quá trình sản xuất, tái sản xuất ra của cải vật chất và cải tạo các quan hệ xã hội; là giai cấp đại biểu cho phương thức sản xuất tiên tiến, động lực chính của tiến trình lịch sử từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội” [163;

Trang 26

tr.65], “Giai cấp công nhân Việt Nam là lực lượng xã hội to lớn, đang phát

triển cùng với sự phát triển của nền công nghiệp hiện đại, bao gồm những người lao động chân tay và trí óc, làm công, hưởng lương trong các loại hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ công nghiệp, hoặc sản xuất kinh doanh và dịch vụ có tính chất công nghiệp, trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất và tái sản xuất của cải vật chất; là giai cấp có sứ mệnh lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam; giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến; lực lượng xã hội nòng cốt trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” [163; tr.70] Từ khái niệm, tác giả rút ra những đặc điểm của giai cấp công nhân Việt Nam, vai trò của giai cấp công nhân Việt Nam trong cách mạng Việt Nam; chỉ ra những hạn chế hay thực trạng của giai cấp công nhân Việt Nam trong thời kỳ mới: về số lượng, cơ cấu và chất lượng… đề ra những giải pháp thiết thực, có tính khả thi để xây dựng, phát huy vai trò của giai cấp công nhân Việt Nam trong giai đoạn 2011 – 2020, giai đoạn quan trọng trong tiến trình phát triển khi thế giới có nhiều biến động khó lường, đặc biệt là sự phát triển vượt bậc của khoa học - công nghệ

- Tác giả Bùi Thị Kim Hậu trong cuốn sách (2012) “Trí thức hóa công nhân Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay” [47] đã phân tích bối

cảnh quốc tế những năm 2012, khi xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập Quốc tế trở thành xu hướng chủ đạo Từ đó, tác giả cho rằng để giai cấp công nhân Việt Nam thực sự trưởng thành, phát triển đáp ứng yêu cầu của thời đại rất cần phải có đội ngũ công nhân tri thức Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về trí thức hóa công nhân, tác giả đưa ra quan điểm về trí thức hóa công nhân Việt Nam hiện nay đó là “ quá trình tác động một cách toàn diện để nâng nhận thức và năng lực hoạt động thực tiễn của công nhân lên trình độ cao, mà trước hết là về học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, ý thức chính trị và tác phong công nghiệp…” [47; tr.30] Đây là một khía cạnh quan trọng để xây dựng, phát triển giai cấp công nhân

Trang 27

trong thời kỳ mới Tuy nhiên, bối cảnh lịch sử từ năm 2012 đến nay đã có rất nhiều thay đổi, đặc biệt đó ra sự xuất hiện của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, do đó, rất cần phải tiếp tục nghiên cứu thực tiễn, bổ sung lý luận để xây dựng, phát triển giai cấp công nhân trong tình hình mới

- Trong Luận án Tiến sĩ Triết học (2017)“Sự biến đổi của giai cấp công nhân Việt Nam dưới tác động của hội nhập quốc tế hiện nay” [40] tác giả Phạm Văn Giang trên cơ sở phân tích khái niệm giai cấp công nhân theo quan điểm

của chủ nghĩa Mác – Lênin, đã chỉ ra những yếu tố hợp lý cũng như những hạn chế về mặt lịch sử trong khái niệm giai cấp công nhân của các nhà kinh điển; Tác giả cho rằng, bên cạnh những đặc trưng về nghề nghiệp và về địa vị của giai cấp công nhân trong quan hệ sản xuất thì giai cấp công nhân còn là một phạm trù lịch sử Tức là có sự biến đổi qua từng thời kỳ lịch sử và sẽ có những đặc trưng mới khác với thời của C Mác “…khi lực lượng sản xuất ngày càng phát triển, giai cấp công nhân cũng được nâng cao về trình độ học vấn và chuyên môn” [40; tr.36] đã xuất hiện những công nhân cổ cồn, cổ trắng, cổ hồng Vì thế trong cơ cấu giai cấp công nhân, công nhân truyền thống ngày càng giảm đi và “xu hướng này đang ngày càng trở thành tất yếu… Việc rút ngắn khoảng cách giữa nghiên cứu khoa học vào sản xuất đã dẫn đến một thực

tế, các nhà nghiên cứu, sáng chế, các kỹ sư, kỹ thuật viên cao cấp,… gia nhập vào hàng ngũ công nhân ngày càng đông” [40; tr.35] đó chính là công nhân trí thức Đây là xu hướng của thời đại, ngay cả trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư hiện nay thì công nhân trí thức cũng là một phần quan trọng làm thay đổi về chất trong bản thân giai cấp công nhân Trong cách mạng công nghiệp lần thứ tư, xu thế hội nhập quốc tế vẫn là điều kiện khách quan tác động đến giai cấp công nhân Việt Nam Vì vậy, kết quả nghiên cứu của luận án là một tài liệu quan

trọng về giai cấp công nhân, về sự biến đổi của giai cấp công nhân

Có thể thấy, đề tài về giai cấp công nhân là một mảnh đất mầu mỡ, chính vì thế, nhiều công trình đi sâu nghiên cứu về giai cấp công nhân dưới

Trang 28

những góc độ khác nhau Các công trình đó đã cung cấp cho luận án nguồn tư liệu quý trong việc giải quyết những vấn đề lý luận về giai cấp công nhân, giai cấp công nhân trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư hiện nay

1.2 Những công trình nghiên cứu về tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến giai cấp công nhân

+ Công trình của các tác giả nước ngoài

- Trong cuốn sách (2019) “Làn sóng thứ ba” [146], Alvin Tofler chia

lịch sử phát triển của xã hội loài người thành ba làn sóng, ứng với nền văn minh: nông nghiệp, công nghiệp và hậu công nghiệp Nền văn minh hậu công nghiệp được ông gọi là làn sóng thứ ba, đồng thời ví von đó là “Làn sóng tương lai” Cách mạng công nghiệp lần thứ hai hay “Làn sóng thứ Hai” theo tác giả, một mặt, đã đẩy công nghệ lên tầm cao hoàn toàn mới Bởi, cuộc cách mạng ấy không chỉ sinh ra những cỗ máy chạy điện khổng lồ, những bộ phận chuyển động, dây chuyền, mà còn “ mang đến cho công nghệ những cơ quan cảm ứng tạo ra các máy móc có thể nghe, nhìn và chạm với sự hợp lý và độ chính xác cao hơn con người” [146; tr.41] Mặt khác, làn sóng thứ hai đã tạo ra sự phân chia giữa sản xuất và tiêu thụ, sự chuyên môn hóa, đồng bộ hóa, tập trung hóa do đó, nếu “ một nhóm nhân công ở một nhà máy hoàn thành công việc chậm trễ, những người khác ở cuối dây chuyền cũng bị chậm theo” [146; tr.74] Đồng thời “mọi tiến bộ công nghệ tương lai sẽ được định hình bởi những ràng buộc mới về môi trường” [146; tr.168] và rằng “Chúng ta đang ở thời kỳ cuối – ít nhất trong vài thập kỷ - của năng lượng giá rẻ” [146; tr.168] Nhưng quan trọng hơn, đó là sự sụp đổ

về mặt nhân cách: “Sự sụp đổ của nền văn minh Làn sóng thứ Hai đã tạo ra một dịch bệnh khủng hoảng nhân cách” [146; tr.170] Tuy nhiên “Nếu nhìn

kỹ xung quanh mình, chúng ta sẽ thấy các dấu hiệu ban đầu của sự phát triển

và tiềm năng mới đan xen giữa những biểu hiện của thất bại và sụp đổ” [146; tr.171] – đó chính là làn sóng thứ ba

Trang 29

Ở làn sóng thứ ba, công nghiệp không còn là các loại điện cơ với những

kỹ thuật cổ điển và sự phát triển hạn chế của khoa học, đó sẽ là sự tổng hợp của nhiều ngành khoa học với những phát minh tiên tiến như: điện tử lượng

tử, tin học, sinh học phân tử…Tất cả những phát minh khoa học này sẽ tác động đến giai cấp công nhân và mang lại cơ hội cũng như thách thức không nhỏ đối với giai cấp này bởi “Ngày nay, hàng triệu người bị đào thải khỏi thị

trường việc làm do mù chữ Kể cả những công việc đơn giản nhất cũng cần người có khả năng đọc biểu mẫu, các nút tắt-mở, bảng lương, hướng dẫn công việc và tương tự.” [146; tr.89] Thực tiễn đang đặt ra, số công nhân làm việc ở các ngành sản xuất trong các quốc gia tiên tiến đã và đang giảm đi, xuất hiện nhiều công việc mới có thể làm tại nhà như công việc chào hàng hoặc thăm viếng khách hàng thông qua mạng điện thoại, các kiến trúc sư, cố vấn viên, bác sĩ nội khoa hoặc tâm lý, nhân viên bảo hiểm, luật sư, những người làm việc viễn thông… Như vậy, “Làn sóng thứ ba” với những dự báo về sự phát triển của khoa học công nghệ dẫn đến những thay đổi công việc trong tương lai là một tài liệu tham khảo cho luận án nghiên cứu tác động của cách mạng công nghiệp đến công việc của giai cấp công nhân

- Quá trình thế giới bị san “phẳng” bởi xu thế toàn cầu hóa, hội nhập

quốc tế và sự phát triển như vũ bão của khoa học, công nghệ được tác giả

Thomas L Friedman miêu tả rất sinh động trong cuốn (2017) Thế giới phẳng

[172] “Phẳng” ở đây không gì khác đó chính là sự kết nối trong một thế giới

đa cực, điều này đang tác động và mở ra cho con người những phương thức sản xuất - kinh doanh, tiêu dùng và những tình thế địa - chính trị và địa - kinh

tế hoàn toàn mới Tác giả nhấn mạnh: “Toàn cầu hóa 3.0 thực chất đang ở vào giai đoạn tăng tốc, nó làm cho thế giới chuyển từ cỡ nhỏ xuống cỡ siêu nhỏ và đồng thời san phẳng thế giới Chúng ta đang sống trong một thế giới phẳng…” [172; tr.9] Xu thế này đang làm xuất hiện những công dân toàn cầu, những người có trí tưởng tượng sáng tạo và hơn bao giờ hết, họ liên kết

Trang 30

với nhau, kết nối lại với nhau theo cách thức mới để tạo nên một thế giới năng động với những sợi dây liên kết chằng chịt - một thế giới “phẳng”

Cuốn sách là câu chuyện về những biến động lớn diễn ra trong thế giới của chúng ta ngày nay, khi mà khoa học công nghệ ngày càng có những bước tiến nhảy vọt Sự phát triển của khoa học, công nghệ không chỉ tạo ra những công việc khác nhau mà còn tạo ra cả những người công nhân công nghệ, công nhân chất lượng cao

- Tác giả Vương Thục Phương với bài viết (2016) “Công nghiệp 4.0:

Sự trừng phạt hay cứu rỗi của tư bản kỹ thuật đối với con người – Từ góc độ phê phán “Sùng bái hàng hóa” và “Thời gian tự do” của C.Mác” [121]

Trong bài viết, tác giả nhấn mạnh, điều đặc biệt của công nghiệp 4.0 chính là

“hệ thống vật lý” do cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, thứ hai tạo nên cộng với “hệ thống thông tin” ngày một hoàn thiện do cách mạng công nghiệp

lần thứ ba mang lại Nếu như đặc trưng chủ yếu của cách mạng công nghiệp lần thứ ba là xu thế tự động hóa thì ở Công nghiệp 4.0 đó là “thông minh hóa” Tự động hóa, theo tác giả, khác thông minh hóa ở chỗ tự động hóa là

quá trình tương tác một chiều giữa người công nhân với hệ thống máy móc hiện đại, còn thông minh hóa đó chính là quá trình tương tác đa chiều trong một thế giới vạn vật kết nối dựa trên sự phát triển vượt bậc của nhiều ngành khoa học, công nghệ tiên tiến nhất Tác giả đã vận dụng vũ khí phê phán của C.Mác để đi đến trả lời cho câu hỏi: Công nghiệp 4.0 thực sự là thuốc tiên giải phóng sức lao động ra khỏi logic tư bản hay là xiềng xích mới của công nghệ và tư bản áp đặt lên sức lao động? Suy cho cùng “…công nghiệp 4.0 vẫn với danh nghĩa là tiến bộ khoa học kỹ thuật, tiếp tục đẩy dần công nhân cổ xanh ra bên lề công nghiệp một cách danh chính ngôn thuận” [121; tr.4] Vì thế, trong thời đại công nghiệp 4.0 tưởng như sức lao động được giải phóng, con người sẽ ngày càng có thời gian tự do để phát triển toàn diện bản thân, thế nhưng thực tế đời sống internet đang ngày càng trói buộc con người và cả

Trang 31

những thế hệ tiếp theo, vì vậy, tất cả chỉ là ảo tưởng xa vời khác xa so với thực tế đang diễn ra - tác giả gọi đó là tình trạng áp bức thời gian Cuối cùng, tác giả đi đến khẳng định rằng, công nghiệp 4.0 vẫn chỉ là một nấc thang trên con đường phát triển của tư bản, sẽ không có gì khác hơn nếu “…hệ thống kinh tế chính trị tư bản chủ nghĩa không có sự biến đổi căn bản, thì sự tiến bộ mới về công nghệ ra đời dưới logic tích lũy tư bản như Công nghiệp 4.0 cũng không thể giúp toàn thể người lao động trên thế giới có được sự giải phóng thực sự” [121; tr.13]

+ Công trình của các tác giả trong nước

- Các tác giả Nguyễn Đắc Hưng, Phùng Thế Đông trong cuốn sách

(2018) “Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa ở Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư” [65] cho rằng cấu trúc kinh tế thế giới những

năm gần đây đang có sự chuyển dịch đó là sự khan hiếm nguồn nguyên nhiên liệu, sự lệ thuộc vào các nước lớn… xu hướng này sẽ tác động không nhỏ tới Việt Nam Trước bối cảnh này, các nền kinh tế lớn trên thế giới buộc phải tiến hành điều chỉnh nhờ vào các giải pháp công nghệ hiện đại Tuy nhiên, theo các tác giả, ngày Việt Nam trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại “vẫn còn rất xa”, vì một số lý do: Việt Nam là nước có thu nhập trung bình, cơ cấu xuất khẩu còn chưa hợp lý, chưa thu được lợi nhuận cao, đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài chưa đáng kể, vẫn phải nhận đầu tư của nước ngoài, và quan trọng đó là nền công nghiệp ở Việt Nam phát triển vẫn trong trại thái thiếu bền vững, sức cạnh tranh còn kém… để nhanh chóng bắt vào cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tác giả đưa ra hai nhóm giải pháp: 1 Nhóm giải pháp kết nối theo chiều đứng, tức là tích hợp công nghệ thông tin, tích hợp các nhà cung ứng với người tiêu dùng nhờ hệ thống cảm biến, hệ thống điều khiển thông minh; 2 Nhóm giải pháp tích hợp theo chiều ngang, tức là đòi hỏi các doanh nghiệp phải nâng cao chất lượng cho người lao động

từ trình độ chuyên môn đến kỹ năng làm việc…

Trang 32

Với những nội dung phong phú mang tính hệ thống được đề cập đến trong cuốn sách, luận án có thêm cái nhìn bao quát và rộng lớn hơn về tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ tư, về yêu cầu và đòi hỏi phải nâng cao chất lượng cho giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay

- Trong bài viết (2018) “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở

nước ta trước tác động của Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư” đăng trên Tạp chí Cộng sản [9], tác giả Nguyễn Đình Bắc dự đoán rằng cách mạng

công nghiệp lần thứ tư sẽ tạo ra những thay đổi căn bản trong nền sản xuất thế giới và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ là một trong những lĩnh vực chịu sự tác động trực tiếp nhất từ cuộc cách mạng công nghiệp lần này Việt Nam khi đối diện với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, theo tác

giả thách thức lớn nhất đó là “trình độ của người lao động nói riêng và của cả nền kinh tế nước ta nói chung còn lạc hậu”, nền kinh tế vẫn dựa nhiều vào

các ngành sử dụng lao động giá rẻ và khai thác tài nguyên thiên nhiên Tuy Việt Nam đang ở vào thời điểm dân số vàng, số người trong độ tuổi lao động

cao nhưng nguồn nhân lực nước ta còn hạn chế về số lượng, chất lượng và bất cập về cơ cấu

- Tác giả Nguyễn An Ninh với bài viết (2019)“Thực hiện nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”, được đăng trên tạp chí cộng sản điện tử cho rằng, hiện nay, cuộc cách

mạng công nghiệp lần thứ tư tác động trực tiếp đến việc thực hiện nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trên cả ba lĩnh vực: kinh tế, chính trị và văn hóa tư tưởng Đi từ lý luận về sứ mệnh lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin

trên ba lĩnh vực, tác giả lần lượt phân tích, làm rõ từng vấn đề một

Thứ nhất, trên lĩnh vực kinh tế - kỹ thuật, tác giả chỉ ra C.Mác đã từng

khẳng định: giai cấp công nhân là chủ thể của phương thức sản xuất công nghiệp và là giai cấp quyết định sự tồn tại, phát triển của xã hội hiện đại, thông qua đó chuẩn bị những tiền đề vật chất cho xã hội tương lai… đồng thời

Trang 33

chứng minh, những điều C.Mác nói đến đang diễn ra sâu sắc và rộng lớn hơn

trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư Thứ hai, trên lĩnh vực chính trị,

tác giả đã chứng minh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư chính là lực đẩy để thực hiện các mục tiêu dân chủ, công bằng, bình đẳng… mà chúng ta đang hướng đến để xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản văn minh

Thứ ba, trên lĩnh vực văn hóa – xã hội, tác giả cũng chỉ ra cách mạng công

nghiệp lần thứ tư đang tạo điều kiện để xác lập hệ giá trị mới của giai cấp công nhân - hệ giá trị vì con người, vì hạnh phúc của loài người, vì tiến bộ xã hội Chính sự phát triển của khoa học, công nghệ đang thúc đẩy kinh tế phát triển và tiến tới giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội

Bài viết sâu sắc, ngắn gọn đã luận giải những vấn đề cơ bản về thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, trực tiếp trong cách mạng công nghiệp lần thứ tư hiện nay Đây là lý luận cơ bản và nền tảng của học thuyết

sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân

- Tác giả Chu Ngọc Anh với 02 bài viết: 1.(2017) “Cách mạng công nghiệp lần thứ tư: cơ hội và thách thức đối với mục tiêu tăng trưởng bền vững của Việt Nam” [2], tác giả đã đưa ra tầm nhìn chiến lược và sâu sắc về cuộc

cách mạng công nghiệp lần này ở góc độ tăng trưởng bền vững cho Việt Nam Cuộc cách mạng khoa học, công nghệ cho phép chúng ta ứng dụng và tối ưu hóa quá trình sản xuất, tiêu dùng Nền kinh tế thế giới bước vào giai đoạn

“tăng trưởng chủ yếu dựa vào động lực công nghệ và đổi mới sáng tạo, thay

cho tăng trưởng chủ yếu dựa vào các yếu tố đầu vào truyền thống” [1; tr.35];

do đó, từ góc độ xã hội, tác giả cho rằng bất bình đẳng sẽ gia tăng, đây phải chăng chính là mâu thuẫn, một vấn đề đặt ra cần suy ngẫm khi cách mạng

công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ hơn 2 (2018) “Phát triển nhân lực khoa học và công nghệ đáp ứng yêu cầu của Cách mạng công nghiệp lần thứ

tư và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng” [3] Trong bài viết, tác giả chỉ ra

Trang 34

cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang đặt ra nhiều vấn đề, trong đó yêu cầu

về nhân lực khoa học và công nghệ phải có những kỹ năng mang tính toàn cầu là vấn đề cấp bách hiện nay

- Tác giả Nguyễn An Ninh và Tô Văn Sơn với bài viết (2017) “Tác động của Cách mạng công nghiệp 4.0 đến công nhân, lao động các nước công nghiệp phát triển” [117] khẳng định “Mỗi lần diễn ra, CMCN đều mang lại những tác động đa chiều vào lao động xã hội và giai cấp công nhân” [115; tr.24]; đặc biệt, cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã làm cho phương thức lao động công nghiệp của công nhân G7, G20 có nhiều thay đổi sâu sắc và làm thay đổi quan hệ giao tiếp – quan hệ sản xuất cũng như nhiều yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng ở các nước công nghiệp phát triển

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang là xu thế của thời đại mới, vì thế tác động của cuộc cách mạng này đến các lĩnh vực của đời sống xã hội luôn được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên ở khía cạnh tác động trực tiếp đến bản thân giai cấp công nhân Việt Nam thì còn rất ít, đây là một khó khăn không nhỏ đối với nghiên cứu sinh khi nghiên cứu vấn đề này

1.3 Khái quát những kết quả có giá trị tham khảo từ các công trình đã tổng quan có liên quan đến đề tài và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, làm rõ trong quá trình thực hiện luận án

1.3.1 Đánh giá khái quát những kết quả của các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Thứ nhất, những công trình nghiên cứu trình bày ở trên đã đi vào giải

quyết những vấn đề lý luận liên quan đến giai cấp công nhân và cách mạng công nghiệp lần thứ tư Các tác giả làm rõ khái niệm giai cấp công nhân, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và giai cấp công nhân trong xu thế hội nhập quốc tế, toàn cầu hóa hiện nay, đồng thời chỉ ra đặc trưng, biểu hiện, bản chất của cách mạng công nghiệp lần thứ tư

Trang 35

Thứ hai, những công trình nghiên cứu đó đã phân tích những tác động

của cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến các nước tư bản phát triển như Mỹ, Đức, Nhật Bản, Trung Quốc… phân tích những cơ hội và thách thức của cuộc cách mạng này đến tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam nói chung, đến từng ngành, từng lĩnh vực như: giáo dục - đào tạo, ngân hàng, tài chính, du lịch, nhà hàng khách sạn… nói riêng

Thứ ba, những công trình nghiên cứu trên đã đưa ra được một số quan

điểm và hệ thống giải pháp chủ yếu, để Việt Nam có thể nắm bắt cơ hội, vượt qua thách thức, sẵn sàng đón nhận cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư Trong đó, nhiều công trình đã đưa ra các nhóm giải pháp để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho Việt Nam: bắt đầu từ hệ thống chính sách, đến cải cách giáo dục, đào tạo nghề…

Các công trình nghiên cứu trên đây về giai cấp công nhân chủ yếu bàn đến vấn đề trí thức hóa công nhân, nguồn nhân lực chất lượng cao trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế Tính đến thời điểm này, chưa có nhiều công trình nghiên cứu về tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến bản thân giai cấp công nhân nói chung và giai cấp công nhân Việt Nam nói riêng Do vậy, đây là một vấn đề mới, cần tiếp tục nghiên cứu làm sáng tỏ cả

về lý luận và thực tiễn

1.3.2 Những nội dung luận án cần tập trung nghiên cứu và làm sáng tỏ

Trên cơ sở tổng quan những công trình nghiên cứu liên quan đến nội dung của luận án, tác giả nhận thấy có một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu

và làm sáng tỏ thêm như sau:

Thứ nhất, luận án tập trung làm rõ quan niệm về giai cấp công nhân và

đặc điểm của giai cấp công nhân ngày nay, từ đó đưa ra khung lý luận về tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến giai cấp công nhân, đây chính

là đóng góp mới của luận án

Thứ hai, cách mạng công nghiệp lần thứ tư là cuộc cách mạng mới

được nhắc đến nhiều trong những năm gần đây, ở Việt Nam cuộc cách mạng

Trang 36

này đang ở giai đoạn ban đầu, với những biểu hiện chưa thật sự rõ nét; chính

vì thế, tác động của cuộc cách mạng này đến giai cấp công nhân Việt Nam sẽ được tác giả của luận án luận giải dựa trên những phân tích từ quan niệm, bản chất và đặc trưng của cách mạng công nghiệp lần thứ tư

Thứ ba, trên cơ sở đó, nội dung trọng tâm của luận án là chỉ ra thực

trạng tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến giai cấp công nhân Việt Nam: về số lượng, cơ cấu, chất lượng (bao gồm trình độ làm chủ khoa học - công nghệ và ý thức giai cấp)

Thứ tư, luận án làm rõ những vấn đề đặt ra từ tác động của cách mạng

công nghiệp lần thứ tư đến giai cấp công nhân Việt Nam, trên cơ sở đó đề xuất một số quan điểm, giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy những tác động tích cực, hạn chế những tác động tiêu cực của cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay

Như vậy, luận án không chỉ là sự kế thừa kết quả nghiên cứu trước đó

về những vấn đề lý luận liên quan đến giai cấp công nhân, cách mạng công nghiệp lần thứ tư, mà còn tiếp tục nghiên cứu, triển khai những vấn đề mới về tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay cả trên phương diện lí luận lẫn thực tiễn Đây chính là khoảng trống mà tác giả cần tập trung nghiên cứu

mổ xẻ trên nhiều phương diện với góc nhìn khác nhau

Kể từ năm 2011, thuật ngữ “công nghiệp 4.0” được chính thức nhắc đến tại Đức, từ đó cách mạng công nghiệp lần thứ tư nhận được sự quan tâm của nhiều quốc gia, dân tộc, các nhà lãnh đạo cấp cao, các nhà khoa học, nhà

Trang 37

nghiên cứu lý luận Cũng có những nghiên cứu về cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tác động của cuộc cách mạng này đến giai cấp công nhân Việt Nam, mặc dù không trực tiếp nhưng những nghiên cứu này ít nhiều chỉ ra những tác động ban đầu của cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến số lượng và đặc biệt

là chất lượng giai cấp công nhân Việt Nam

Tuy nhiên, cho đến nay các công trình bàn về tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến giai cấp công nhân Việt Nam còn khiêm tốn và ít

ỏi Vì vậy, đề tài tác giả lựa chọn không trùng với bất kỳ công trình khoa học nào đã được công bố Những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài được tổng thuật trên đây sẽ cung cấp nhiều tư liệu quan trọng, để tác giả tiếp thu, kế thừa trong quá trình thực hiện luận án

Trang 38

Chương 2 TÁC ĐỘNG CỦA CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ

ĐẾN GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM–

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

2.1 Quan niệm, đặc điểm giai cấp công nhân và cách mạng công nghiệp lần thứ tư

2.1.1 Quan niệm, đặc điểm giai cấp công nhân

Quan niệm về giai cấp công nhân

Nửa đầu thế kỷ XIX, cách mạng công nghiệp lần thứ nhất diễn ra tại Anh đã làm thay đổi toàn bộ nền sản xuất xã hội Nhiều giai cấp, tầng lớp mới ra đời, trong đó “con đẻ” của đại công nghiệp chính là giai cấp công nhân hiện đại Trong quá trình luận giải cho sự hình thành cũng như sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, C.Mác và Ph.Ăngghen đã dùng nhiều

từ đồng nghĩa để nói về giai cấp này như: giai cấp vô sản, giai cấp vô sản công nghiệp, giai cấp công nhân đại cơ khí, giai cấp công nhân, giai cấp công nhân hiện đại, công nhân công xưởng, công nhân thành thị… Ph.Ăngghen từng nói: “… tôi thường dùng những từ người lao động hoặc công nhân (working man) và người vô sản, giai cấp công nhân, giai cấp không có của, giai cấp vô sản như những từ đồng nghĩa” [91; tr.327 -328] Như vậy, tất cả những thuật ngữ nêu trên, chỉ là những từ đồng nghĩa dùng

để chỉ một giai cấp - giai cấp công nhân

Những thuật ngữ đó ít nhiều gắn liền với nghề nghiệp, đặc điểm công việc, điều kiện sống của những người công nhân và đặc biệt là gắn với thời điểm lịch sử cụ thể Ví dụ, C.Mác và Ph.Ăngghen gọi là “giai cấp vô sản đại công nghiệp”, bởi vì giai cấp này ra đời cùng với nền đại công nghiệp, là giai cấp bị tước đoạt hết ruộng đất, trắng tay, không có gì để bán ngoài sức lao động của mình, từ “vô sản” nói lên tất cả bản chất của giai cấp công nhân lúc

Trang 39

bấy giờ, họ“là giai cấp những công nhân làm thuê hiện đại, vì mất các tư liệu sản xuất của bản thân, nên buộc phải bán sức lao động của mình để sống”[93; tr.568] Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và

Ph.Ăngghen viết: Giai cấp vô sản: “… tức là giai cấp chỉ có thể sống với điều kiện là kiếm được việc làm, và chỉ kiếm được việc làm, nếu lao động của họ làm tăng thêm tư bản - cũng phát triển theo Những công nhân ấy, buộc phải

tự bán mình để kiếm ăn từng bữa một, là một hàng hoá, tức là một món hàng đem bán như bất cứ món hàng nào khác; vì thế, họ phải chịu hết mọi sự may rủi của cạnh tranh, mọi sự lên xuống của thị trường với mức độ như nhau” [93; tr.605] Hay gọi là “Giai cấp công nhân công xưởng” vì hình ảnh người công nhân thế kỷ XIX luôn gắn liền với máy móc và công xưởng… nhưng không chỉ có vô sản, công xưởng và đại công nghiệp, giai cấp công nhân còn được Ph.Ăngghen nhắc đến với thuật ngữ “giai cấp vô sản trí thức” Trong những cách gọi nêu trên, cách gọi bao quát được đặc trưng, bản chất của giai cấp công nhân phù hợp với mọi thời kỳ lịch sử đó là “giai cấp công nhân” hoặc “giai cấp công nhân hiện đại”

Những quan điểm, lý luận của C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ thực sự trở nên hoàn bị và được kiểm nghiệm trong thực tiễn khi V.I.Lênin bổ sung, phát triển và biến thành hiện thực C.Mác và Ph.Ăngghen từng viết: “… nếu giai cấp

vô sản thông qua con đường cách mạng mà trở thành giai cấp thống trị và với tư cách là giai cấp thống trị, nó dùng bạo lực tiêu diệt những quan hệ sản xuất cũ, thì đồng thời với việc tiêu diệt những quan hệ sản xuất cũ ấy, nó cũng tiêu diệt luôn cả những điều kiện tồn tại của sự đối kháng giai cấp, nó tiêu diệt các giai cấp nói chung và cũng do đấy, tiêu diệt cả sự thống trị của chính nó với tư cách

là một giai cấp” [93; tr.596] Vậy một giai cấp ở đây có thể hiểu là gì? Đây là cơ

sở để hiểu về bản thân giai cấp công nhân? V.I.Lênin trong tác phẩm Sáng kiến

vĩ đại, đã chính thức đưa ra định nghĩa “kinh điển về giai cấp”: “Người ta gọi là

giai cấp, những tập đoàn to lớn gồm những người khác nhau về địa vị của họ,

Trang 40

trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định trong lịch sử, khác nhau về quan

hệ của họ (thường thường thì những quan hệ này được pháp luật quy định và thừa nhận) đối với những tư liệu sản xuất, về vai trò của họ trong tổ chức lao động xã hội và như vậy là khác nhau về cách thức hưởng thụ và về phần của cải xã hội ít hoặc nhiều mà họ được hưởng Giai cấp là những tập đoàn người,

mà tập đoàn này thì có thể chiếm đoạt lao động của tập đoàn khác, do chỗ các tập đoàn đó có địa vị khác nhau trong một chế độ kinh tế - xã hội nhất định” [79; tr.17-18]

Từ định nghĩa giai cấp của V.I.Lênin, chúng ta nhìn rõ hơn về giai cấp công nhân Theo V.I.Lênin: “Công nhân là những người lao động công nghiệp, làm việc trong nền đại công nghiệp: Được coi là công nhân, người nào trước đây đã là công nhân làm thuê bình thường trong nền đại công nghiệp ít ra là 10 năm và hiện nay đang làm việc trong đại công nghiệp từ 2 đến 3 năm” [83; tr.349] Như vậy, công nhân chỉ bao gồm những ai do điều kiện sinh sống của bản thân mà thực sự có đầy đủ tâm lý vô sản; song muốn

có đầy đủ tâm lý đó thì phải làm việc tập trung nhiều năm trong công xưởng V.I.Lênin cũng dùng nhiều thuật ngữ khác nhau để chỉ giai cấp công nhân như: giai cấp vô sản, giai cấp vô sản thế kỉ XX, giai cấp công nhân…

Khi chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh và chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, khi giai cấp công nhân đã bước lên vũ đài chính trị, thực sự trưởng thành về chất và trở thành người làm chủ, thì giai cấp công nhân vẫn là giai cấp mang trong mình những đặc điểm sau:

Một là, giai cấp công nhân vừa là sản phẩm vừa là chủ thể của nền đại công nghiệp

Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất diễn ra đã làm cho xã hội phân hóa sâu sắc, trong các công trường thủ công máy móc dần thay thế cho lao động cơ bắp, công nghiệp cơ khí phát triển mạnh, lúc này giai cấp vô sản công nghiệp hình thành Chính nền “Công nghiệp hiện đại đã biến xưởng thợ

Ngày đăng: 11/01/2021, 16:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w