+ Phế nham thời kỳ đầu, phần phế nham đã được cắt bỏ, bệnh lý chứng thực đã được loại trừ bằng phẫu thuật, không nhất thiết phải điều trị phóng xạ hoặc hóa dược (hoá chất) mà có [r]
Trang 1137
Chương II
BIỆN CHỨNG LUẬN TRỊ BỆNH PHẾ, BÌ PHU, HUYẾT DỊCH
THIẾU MÁU HUYẾT TÁN MIỄN DỊCH
1 Đại cương
1.1 Theo quan niệm của YHHĐ:
+ Thiếu máu huyết tán miễn dịch là hiện tượng giảm ngắn đời sống hồng cầu
do bị biến dạng hoặc tổn thương Dù cho nguyên nhân bẩm sinh hay mắc phải, bệnh thiếu máu huyết tán đều có một số triệu chứng lâm sàng chủ yếu: sắc mặt trắng bệch, mệt mỏi, ăn kém, phát sốt không có qui luật, thắt lưng đau mỏi, vàng
da và đái máu rõ rệt, thường gặp ở tuổi thanh thiếu niên, cả nam và nữ đều có thể mắc bệnh Đặc điểm quá trình phát bệnh từ từ, kéo dài và hay tái phát
+ Nguyên nhân chính là rối loạn miễn dịch của cơ thể Cơ thể sản sinh kháng thể kháng hồng cầu làm cho hồng cầu bị phá vỡ, dẫn đến thiếu máu huyết tán Bản chất bệnh do phản ứng nhiệt kháng thể hoặc hoà kháng thể mà dẫn đến, cũng
có thể do thứ phát sau viêm nhiễm, hệ thống limpho ác tính tăng sinh, hoặc phản ứng quá mẫn do thuốc (dược vật quá mẫn), bệnh tổ chức liên kết Căn cứ vào triệu chứng lâm sàng và nguyên nhân phát bệnh, người ta chia 2 thể: thiếu máu huyết tán nguyên phát; thiếu máu huyết tán thứ phát
1.2 Theo quan niệm của Y học cổ truyền:
YHCT cho rằng, bệnh phát sinh có quan hệ mật thiết với tỳ, thận; được mô tả trong phạm trù: hoàng đản, nuy hoàng và hư lao
Nguyên nhân chủ yếu là tiên thiên bất túc lại phục cảm thấp nhiệt (thấp nhiệt
có phục tà, có tân cảm), ngoại tà hoặc do tỳ vị hư tổn thấp trọc nội sinh, uất mà hóa ứ, thấp nhiệt uẩn trưng dẫn đến thương khí bại huyết Bệnh lâu ngày sẽ làm khí trệ huyết ứ ảnh hưởng đến chức năng tạng phủ và dẫn đến hoàng đản thiếu
Trang 2lý, đa số bệnh nhân có nốt xuất huyết tím dưới da
1.3.3 Xét nghiệm kiểm tra:
+ Các triệu chứng do tiêu hủy hồng cầu quá mức:
- Bilirubin gián tiếp tăng, stercobilirubin ở phân tăng
- Urobilin nước tiểu tăng
- Sắt huyết thanh tăng
+ Triệu chứng xét nghiệm do tái tạo tủy xương:
- Hồng cầu lưới, hồng cầu non và hồng cầu đa sắc đều xuất hiện; có thể có bạch cầu và tiểu cầu tăng; cá biệt thấy giảm bạch cầu và tiểu cầu do bị hủy hoại quá mức trong lách
- Kháng thể kháng nhân (+)
2 Biện chứng luận trị
+ Hoàng đản xuất hiện nhanh hoặc phát sốt, miệng khát không muốn uống, nôn hoặc nôn khan, đau lưng quản bĩ phúc chướng, tiện bế hoặc đình trệ, tiểu tiện ngắn, nước tiểu vàng đỏ, lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng nhờn, mạch nhu sác
+ Phương pháp điều trị: thanh nhiệt lợi thấp, kiện tỳ, thoái hoàng
+ Phương thuốc: “nhân trần ngũ linh tán” gia giảm
- Nhân trần 20g, phục linh 15g, trạch tả 10g, bạch truật 10g, đại hoàng 10g, liên kiều 10g, đan sâm 15g
Trang 3139
Cam thảo: 6g
- Nôn mửa nhiều thì gia thêm: trúc nhự 10g, hoàng liên 5g
- Nhiệt thịnh miệng khát thì gia thêm: lô căn 20g, thạch hộc 20g
2.2 Khí - huyết lưỡng hư:
+ Đầu choáng, mắt hoa, khí đoản, phạp lực, diện sắc bất hoa, tâm quí, tự hãn, loạn ngôn, thần quyện (mệt mỏi); lưỡi nhợt, rêu trắng mỏng; mạch tế nhược + Phương trị: bổ ích khí - huyết, tư bổ tâm - tỳ
+ Phương thuốc: “qui tỳ thang” gia giảm
- Nếu xuất huyết thì gia thêm: tiên cước thảo 15g, quỉ hoa 10g
- Nếu có hoàng đản thì gia thêm: nhân trần 15g, trạch tả 10g
2.3 Tỳ thận lưỡng hư:
+ Đầu choáng, tai ù; lưng đau mỏi; ăn kém, quản tức, hình hàn chi lạnh, đại tiện lỏng nát; lưỡi nhợt, rêu trắng mỏng; mạch tế nhược
+ Phương trị: ôn bổ tỳ thận, ích khí dưỡng huyết
+ Phương thuốc: “hữu qui hoàn” gia giảm
Trang 4
140
+ Gia giảm:
- Nếu dương hư nặng, chi lạnh rõ thì gia thêm: phụ tử 10g, nhục quế 10g
- Nếu xuất huyết thì gia thêm: bào khương thán, tiên cước thảo, long cốt thiêu, mẫu lệ mỗi thứ đều 15g
- Nếu nhiệt độ thấp, gò má đỏ, tâm phiền; lòng bàn tay, bàn chân ấm, tự hãn, chỉ giáp khô sáp thì dùng “lục vị địa hoàng thang” gia giảm:
+ Phương trị: hoạt huyết hóa ứ - lý khí thoái hoàng
+ Phương thuốc: “huyết phụ ứ thang” gia giảm
- Nếu xuất huyết thì gia thêm: tiên cước thảo 15g, sinh địa 10g, tây thảo 10g
2.5 Lâm sàng tinh hoa:
- Có hai báo cáo của Khương Kỳ, Khương Mai trong tạp chí Trung - Tây y kết hợp (Thượng Hải, 1987) và của Diên Kỳ, Điền Ngọc Cát trong tạp chí Trung
- Tây y kết hợp (Thiên Tân, 1995) Cả hai báo cáo trên, các tác giả đều chỉ định
Trang 5141
truyền huyết thanh miễn dịch, kết hợp truyền các chế phẩm dạng tiêm của thuốc thảo mộc (nhưng không ghi rõ bài thuốc và vị thuốc)
QUÁ MẪN TÍNH TỬ BAN (Viêm thành mạch dị ứng)
1 Đại cương
1.1 Theo quan điểm của YHHĐ:
Theo YHHĐ, bản chất bệnh là phản ứng quá mẫn mà nguyên nhân chính là
vi khuẩn và độc tố của vi khuẩn, ký sinh trùng, ăn uống thức ăn lạ và dùng dược vật (thuốc đưa vào cơ thể) dẫn đến viêm các mao động mạch - tĩnh mạch, viêm các tiểu huyết quản làm cho tăng tính thấm thành mạch và giãn mạch Bệnh hay gặp ở nhi đồng và thanh niên, đa số có triệu chứng ở khớp, ở vùng bụng và ở thận; tiểu cầu, thời gian máu đông, máu chảy bình thường
Nghiệm pháp dây thắt (+); sức bền thành mạch giảm, tốc độ máu lắng nhanh, nước tiểu thường qui có thể thấy hồng cầu hoặc albumin và hình trụ
1.2 Theo quan niệm của YHCT:
YHCT cho rằng, bệnh là do ngoại cảm phải tà khí lục dâm, lại gặp phải lao thương quá độ tổn thương chính khí; tỳ, vị hư nhược mất chức năng thu nhiếp huyết nên huyết xuất ra ngoài mạch Đa phần do huyết nhiệt bức huyết vong hành mà dẫn đến Ngoài ra, bệnh còn biểu hiện là huyết ly kinh lạc thành huyết
ứ Vì vậy, đa số bệnh nhân có điểm ban ứ huyết ở lưỡi làm cho chất lưỡi xám tía, tĩnh mạch dưới lưỡi căng chướng ngoằn ngoèo, các khớp sưng, đau mỏi; nữ giới
có biểu hiện đau bụng và thống kinh Như vậy, bản chất bệnh có liên quan mật thiết với huyết ứ
2 Biện chứng luận trị
2.1 Nhóm phong nhiệt phát ban:
+ Ban xuất huyết màu tím tía đơn thuần, thời kỳ đầu đa số có viêm nhiễm đường hô hấp trên, có phát sốt, đau đầu, đau họng; rêu lưỡi mỏng; mạch phù sác + Phương pháp điều trị: sơ phong thanh nhiệt, lương huyết chỉ huyết
+ Phương thuốc: “ngân kiều tán” + “tang cúc ẩm” gia giảm
Trang 6+ Phương pháp điều trị: thanh nhiệt - giải độc, lương huyết chỉ huyết
+ Phương thuốc: “thanh doanh thang”, “hoá ban thang”, “thanh ôn bại độc ẩm”, “tê giác địa hoàng thang” gia giảm
Các vị thuốc thường được trọng dụng: tê giác, đan bì, xích thược, sơn chi, tử thảo, kim ngân hoa
2.3 Nhóm thấp nhiệt phát ban:
+ Phần nhiều ban màu tía, phân bố ở hạ chi là chính, đa số bệnh nhân có đau khớp; rêu lưỡi nhờn, mạch huyền sác
+ Phương pháp điều trị: thanh lợi thấp nhiệt, hoạt huyết thông lạc
+ Phương thuốc: dùng “tam hoàng thang” hoặc “độc hoạt tang ký sinh thang” gia giảm
Các vị thuốc được trọng dụng: hoàng liên, hoàng bá, độc hoạt, tang ký sinh, ngưu tất, thương truật, trạch tả tần cửu, tây thảo căn
2.4 Âm hư phát ban:
+ Hay tái phát ban tía, kỳ nhiệt (ngũ tâm phiền nhiệt), ban tía phân bố lưa thưa
+ Phương pháp điều trị: dưỡng âm thanh nhiệt lương huyết chỉ huyết
+ Phương thuốc: bài thuốc thường dùng là “lục vị địa hoàng hoàn” hoặc “đại
+ Phương pháp điều trị: ích khí nhiếp huyết
+ Phương thuốc: “qui tỳ thang”
Trang 7+ Phương pháp điều trị: sơ can giải uất - hoạt huyết khư ứ
+ Phương thuốc: “khư ứ thang”, “miết giáp tiễn hoàn”, “đào hồng tứ vật thang”
Thuốc thường dùng: đương qui, đan sâm, đào nhân, hồng hoa, sài hồ, xuyên luyện tử, xuyên khung Liều lượng từng vị thuốc dùng theo biện chứng
2.7 Thể huyết ứ thấp nhiệt:
+ Thường có ban tía, ngứa dưới da vùng khoeo chân, hai đùi tức mỏi, căng chướng; cảm giác ngứa nhức và đau khớp; rêu lưỡi mỏng nhờn, mạch huyền + Phương pháp điều trị: phải hoạt huyết - khư ứ - thanh nhiệt - lợi thấp
+ Bài thuốc thường dùng: “tê giác địa hoàng thang”, “tam diệu thang” gia giảm
Chủ dược: sinh địa, xích thược, phục linh, trạch tả, ngưu tất, hoàng bá, sa tiền
tử Liều lượng từng vị thuốc dùng theo biện chứng
2.8 Huyết nhiệt thương lạc:
+ Thời kỳ đầu của bệnh, ban xuất huyết màu tía tập trung ở các huyết quản giãn to; thường nhiều ban điểm màu đỏ Tuy nhiên, ở thể này chủ yếu là giãn các mao mạch nhỏ, triệu chứng toàn thân không rõ ràng, rêu lưỡi vàng mỏng, mạch sác
+ Phương pháp điều trị: lương nhiệt - thanh huyết, hoạt huyết, chỉ huyết + Phương thuốc: “tê giác địa hoàng thang” hợp “thập khôi tán”
+ Thuốc trọng dùng: tê giác, sinh địa, đan bì, thược dược, quỉ hoa thán (khôi), tiên cước thảo, bồ hoàng Liều lượng từng vị thuốc dùng theo biện chứng
2.9 Thể huyết ứ hiệp phong:
+ Ban xuất huyết sắc tía mỏng không căng, nhưng ngứa nhiều hoặc trên nền ban tía sắc lúc rõ lúc mờ, có ban tía ngoài da ngứa gãi gây tổn thương da, có đám
và mảng xuất huyết
Trang 8
144
+ Phương pháp điều trị: trừ phong - hoạt huyết
+ Phương thuốc: đương qui, tây thảo căn, sinh địa, xích thược, đan sâm, tàm sa Liều lượng từng vị thuốc dùng theo biện chứng
HỒNG BAN LANG SANG (Luput ban đỏ hệ thống)
1 Đại cương
1.1 Theo quan điểm của YHHĐ:
+ Luput ban đỏ hệ thống là bệnh khá phổ biến, tiên lượng nặng, nguyên nhân chưa thật rõ, nhưng thường gặp ở phụ nữ trẻ và do rối loạn điều hoà miễn dịch gây ra
+ Đặc điểm: bệnh phát sinh đột ngột, có triệu chứng mệt mỏi kéo dài không
rõ nguyên nhân
- Đau bụng, đau khớp, đau ngực
- Khởi phát đột ngột, sốt kéo dài không rõ nguyên nhân
- 50 - 80% có tổn thương ở da mặt từng mảng đỏ hình cánh bướm
- Tổn thương tạng phủ đa dạng (tim, phổi, thận, thần kinh ) nên còn có tên là luput ban đỏ rải rác
Người ta tìm thấy trong huyết thanh bệnh nhân một yếu tố đặc biệt gọi là yếu
tố LE Yếu tố này làm tan nhân bạch cầu nên còn gọi là yếu tố kháng nhân Các mảnh nhân bị vỡ, được một bạch cầu trung tính khác ăn vào, chụp được qua kính hiển vi gọi là tế bào Hargraves (do Hargraves tìm ra) Yếu tố kháng nhân là một loại globulin miễn dịch kiểu IgG, phá vỡ các AND kiểu chuỗi kép Người ta tìm được nhiều AND tự do trong máu bệnh nhân bị bệnh luput ban đỏ Ngoài ra còn thấy kháng thể chống lại hồng cầu, tiểu cầu, bạch cầu; kháng thể kháng cơ quan trong bệnh luput ban đỏ hệ thống
Trang 9145
Như vậy, tự kháng nguyên là AND của nhân tế bào, hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu Tự kháng thể là một globulin miễn dịch kiểu IgG phá các kháng nguyên nói trên Phức hợp kháng nguyên – kháng thể tạo ra lắng đọng trên thành mạch của nhiều cơ quan nhất là thận (gây ra protein niệu), khớp (gây viêm khớp) Một số tác giả cho rằng, bệnh có liên quan đến dùng một số thuốc: penixilin, isoniazid, procainamid, hydralazin… và thuốc tránh thai; hoặc do thuốc gây bệnh là điều kiện để phát bệnh thì còn đang nghiên cứu Ngoài ra, bệnh còn liên quan đến yếu
tố di truyền, đến nội tiết và tác động của môi trường
Xét nghiệm: tìm tế bào Hargraves, tìm kháng thể kháng nhân (ANA), phức
+ Viêm các màng (phổi, tim)
+ Viêm thận (protein niệu, đái máu, trụ niệu)
+ Rối loạn tâm thần kinh (hưng phấn, u ám)
+ Rối loạn máu, thiếu máu, tan máu, giảm bạch cầu, giảm limpho, giảm tiểu cầu + Rối loạn miễn dịch: có tế bào Hargraves, kháng Smith (Sm)
du phong Khi bệnh ảnh hưởng đến nội tạng thì thường thấy thủy thũng, hư tổn, suyễn tức, huyết chứng, quan cách
Trang 10
146
+ Nguyên nhân bệnh là do tiên thiên bẩm thụ bất túc lại cảm phải lục dâm ngoại tà hoặc ẩm thực thất tiết, lao thương quá độ dẫn đến âm - dương thất điều, khí - huyết hao hư, vận hành không thông, khí trệ huyết ứ, kinh lạc tắc trở liên quan đến ngũ tạng lục phủ và nhiều chứng trạng phức tạp Bệnh diễn biến kéo dài khó khỏi, nhiệt độc vào huyết phận làm thiêu đốt âm huyết, tý trở kinh mạch, thường đến tạng phủ, cân cốt cơ phu Ngoài ra, còn do dùng thuốc quá mẫn, cảm thụ vi khuẩn bệnh độc, thức ăn quá mẫn
+ Trương Trọng Cảnh (trong Kim quĩ yếu lược) đã nêu trong “thời độc âm - dương” trong biện chứng luận trị đã lấy “dương độc vi bệnh” (mặt đỏ nổi ban, đau họng hầu, thường có nùng huyết (mủ máu)) thì trọng dụng “thăng ma miết giáp thang” làm chủ Nếu “âm độc vi bệnh” (mặt đỏ, toàn thân như bì tượng, hầu họng đau) thì trọng dụng “thăng ma miết giáp thang” bỏ vị thuốc hùng hoàng Nếu thể bệnh thuộc loại “âm - dương độc vi bệnh” thì bản chất chính là bệnh thuộc về âm - dương thịnh suy
2 Biện chứng luận trị
+ Hiện nay Y học hiện đại không có phương pháp nào điều trị đặc hiệu mà chủ yếu là điều trị bằng thuốc kích thích tố và thuốc ức chế miễn dịch nhưng hiệu quả không mỹ mãn mà có nhiều tác dụng phụ Đa số các tác giả đều thừa nhận điều trị kết hợp giữa Đông y và Tây y thì sẽ đạt được hiệu quả tối ưu, giảm được tác dụng phụ đến mức tối đa, giảm lượng thuốc, rút ngắn thời gian điều trị; ổn định và khống chế được bệnh, giảm thấp được tỷ lệ tái phát, được đại bộ phận bệnh nhân tín nhiệm
2.1 Thể nhiệt tà tích thịnh:
+ Triệu chứng: đột nhiên sốt cao liên tục không lui, vùng mặt và da xuất hiện ban đỏ (hồng ban) hoặc ban đỏ phù nề, thậm chí mọng to ứ huyết (ra ánh sáng thì bệnh nặng lên hoặc tái phát), toàn thân vô lực, cơ nhục khớp xương đau nhức, phiền táo, bất miên, tinh thần mệt mỏi hoặc thần hôn, loạn ngôn hay co giật, đại tiện táo kết, tiểu tiện ngắn đỏ; miệng khát, thích uống nước mát; mắt đỏ, môi đỏ;
có thể thấy thổ huyết, nục huyết, tiện huyết, xuất huyết hoặc miệng và lưỡi sinh mụn, hầu họng sưng đau; lưỡi đỏ tía hoặc giáng đỏ, rêu lưỡi vàng nhờn hoặc vàng khô hoặc là vàng trắng xen kẽ, nhờn hoặc xám bóng; mạch huyền, sác
Trang 11147
+ Phương pháp điều trị: thanh nhiệt - giải độc, lương huyết dưỡng âm - hoá ứ tiêu ban
+ Phương thuốc: “thanh ôn bại độc ẩm” gia giảm:
Trúc diệp: 10g Cát cánh: 10g
Cam thảo: 10g
+ Gia giảm:
- Nếu đại tiện táo kết thì gia thêm đại hoàng 10g (sắc sau)
- Nếu sốt cao không lui hoặc thấy thần chí bất minh thì gia thêm linh dương giác 0,3 - 0,5g (xung phục)
- Sốt hư nhiệt (kỳ nhiệt) thì gia thêm: ngân sài hồ, địa cốt bì mỗi thứ đều 15g
- Nếu ban xuất huyết nhiều thì gia thêm: bạch mao căn, tử thảo mỗi thứ đều 20g
- Nếu thấp nhiệt rõ, rêu lưỡi dày nhờn thì gia thêm: thương truật, thạch xương
bồ mỗi thứ đều 10g và bỏ đi: sinh địa, huyền sâm, chi mẫu
2.2 Nhiệt thương khí âm:
+ Triệu chứng: phiền nhiệt tự hãn; tâm quí, ngực bí; khí đoản, khái thấu; hư phiền bất miên hoặc phiền táo tương đối nặng hoặc miệng môi xanh tím, sắc mặt bạch sang (lở trắng); tứ chi nghịch lạnh, tứ chi phạp lực; tinh thần mệt mỏi; mạch
tế nhược hoặc kết đại; lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng mỏng Thể này phần nhiều có tâm - phế tổn hại hoặc là trung khu thần kinh trung ương tổn hại
Phương pháp điều trị: thanh nhiệt dưỡng âm - ích khí an thần
- Phương thuốc: “chích cam thảo thang” hợp phương “tả tâm thang” gia giảm:
Nhân sâm: 15g Đại táo: 20g
A giao: 10g Mạch đông: 10g
Trang 12
148
Sinh khương: 10g Quế chi: 10g
+ Gia giảm:
- Nếu khí hư nặng thì gia thêm hoàng kỳ 30 - 100g
- Nếu tỳ hư rõ mà tiện lỏng ăn kém thì gia thêm phục linh, bạch truật, mỗi thứ đều 10g
- Âm hư rõ mà dẫn đến miệng khô họng ráo, ho khan thì gia thêm: sa sâm 20g, thiên môn 10g, mạch môn 10g
- Nếu hư phiền, khó ngủ thì gia thêm: hợp bì, dạ giao đằng, toan táo nhân mỗi thứ đều 10g
- Nếu phiền táo nặng thì gia thêm: trúc diệp 5g, liên kiều 10g, địa cốt bì 10g
- Nếu khí cấp khái thấu, ho khan không long đờm thì gia thêm: tang bạch bì, ngư tinh thảo, tử uyển khoản đồng hoa mỗi thứ đều 10g, bạch hoa xà thiệt thảo 15g
- Nếu có sắc mặt trắng sáng sợ hàn chi lạnh thì gia thêm: phụ tử, nhục quế,
tiên linh tỳ mỗi thứ đều 10g
2.3 Can kinh uất nhiệt:
+ Vùng gan đau tức, hoặc là ngực sườn quản phúc bĩ mãn chướng đau, tâm phiền dễ giận dữ hoặc uất ức bất thư, da lở loét sắc hồng hoặc tía xám, phụ nữ đa phần là thống kinh, bế kinh hoặc kinh nguyệt không đều Ngoài ra có thể sợ lạnh, phát sốt; ăn kém, phạp lực; đầu choáng, thất miên; lưỡi đỏ giáng, có ban điểm ứ huyết, rêu lưỡi trắng mỏng hoặc vàng khô; mạch khẩn tế hoặc huyền sác; thường
có huyết áp tăng cao và can tỳ thũng đại công năng thương tổn
+ Phương pháp điều trị: sơ can thanh nhiệt, hoạt huyết hóa ứ
+ Phương thuốc: “nhất quán tiễn “ hợp” tứ diệu dũng an thang” gia giảm
Sinh cam thảo: 10g
+ Gia giảm:
Trang 13- Nếu tỳ hư rõ thì gia thêm: nhân sâm 10g, phục linh 20g, bạch truật 10g
- Nếu nhiệt độc thiên thịnh thì gia thêm: đại hoàng, long đởm thảo, sài hồ, kỷ
tử, chi tử mỗi thứ đều 10g
2.4 Âm hư hoả vượng:
+ Sốt kéo dài, ngũ tâm phiền nhiệt, mặt đỏ, gò má đỏ, tự hãn, sức yếu; bì chẩn sắc hồng hoặc hồng nhợt, phát ban mới; khớp đau mỏi, đầu choáng, mắt hoa, tai ù; tóc rụng, họng khô miệng ráo; nước tiểu đỏ, đại tiện bế; lưỡi đỏ, lưỡi ít rêu; mạch huyền tế sác; nếu là phụ nữ thì kinh nguyệt không đều Nhóm này đa phần cấp tính
+ Phương pháp điều trị: tư thận, dưỡng âm, thanh nhiệt
+ Phương thuốc: “đại bổ âm hoàn” hợp phương “tứ vật thang” gia giảm: Qui bản: 30g Miết giáp: 30g
Xuyên khung: 10g
+ Gia giảm:
- Khí hư nặng thì gia thêm: hoàng kỳ 20g, tây dương sâm 10g
- Nếu tự hãn rõ phải gia thêm: long cốt, mẫu lệ mỗi thứ đều 10g
- Nếu tỳ hư, ăn kém thì gia thêm: hoài sơn, phục linh mỗi thứ đều 20g, bạch truật 10g
- Nếu triều nhiệt, ngũ tâm phiền nhiệt phải gia thêm: sơn dược, phục linh mỗi thứ đều 20g; đan bì, sơn thù, trạch tả mỗi thứ đều 10g và địa cốt bì, huyền sâm, hoa phấn, thanh cao mỗi thứ đều 10 - 15g
- Nếu huyết hư, bì chẩn rõ thì gia thêm: hồng hoa, đào nhân mỗi thứ đều 10g; đan sâm, xích thược mỗi thứ đều 15g; bạch mao căn, ngân tiết mỗi thứ đều 20g
Trang 14
150
- Thận hư rõ, lưng đau, gối mỏi, đầu choáng, tai ù thì gia thêm: kỷ tử, thỏ ty
tử, nhục thung dung, ngưu tất, hà thủ ô; mỗi thứ đều 10g
2.5 Thể khí trệ huyết ứ:
+ Đoạn chi xanh tía, thương bạc (sang bạch), xanh tía xen kẽ, bì phu tía ban,
cơ phu khô thô, khớp và cơ nhục đau mỏi, tình chí uất ức; chất lưỡi hồng tía, tĩnh mạch dưới lưỡi nổi rõ ứ huyết xanh tía Bệnh nhân là nữ thì kinh nguyệt không đều, bế kinh hoặc thống kinh Thời kỳ này, viêm các huyết quản nổi bật
+ Phương pháp điều trị: hoạt huyết hóa ứ - lý khí thông lạc
+ Phương thuốc: “huyết phụ trục ứ thang” gia giảm
Khớp chi đau mỏi thì gia thêm: bạch hoa xà, toàn yết, ngô công; mỗi thứ đều 10g
2.6 Thể tỳ thận lưỡng hao:
+ Hình hàn, chi lạnh, kỳ nhiệt hoặc triều nhiệt, mệt mỏi vô lực, đoản khí loạn ngôn, vận động thì bệnh nặng lên; ăn kém, bụng trướng, có thể nôn mửa hoặc tiết tả; mặt sang bạch hoặc vàng; lưng gối đau mỏi, khớp sưng đau; chi thể phù thũng, tiểu tiện bất lợi; lưỡi nhợt bệu hoặc xám nhợt có hằn răng, rêu lưỡi mỏng trắng; mạch nhu tế hoặc trầm tế (tương ứng với những bệnh nhân có tổn thương thận, dùng kích tố thượng thận kéo dài)
Trang 15151
+ Phương pháp điều trị: bổ thận - kiện tỳ, ôn - dương lợi thủy
+ Phương dược: “thận khí hoàn” hợp “tứ quân tử thang” gia giảm
Nhục quế: 15g Phụ tử: 08g
3 Các phương pháp điều trị khác và tinh hoa lâm sàng
3.1 Bài thuốc hạch tâm:
“Tứ diệu dũng an thang” hợp phương “đại bổ âm hoàn” gia giảm:
Trang 16Tỷ lệ mắc bệnh ở Việt Nam là 4%, trên thế giới là 6% Nguyên nhân bệnh phần lớn do dị ứng, viêm phế quản mạn tính
+ Đặc điểm lâm sàng: cơn khó thở ở thì thở ra, hay tái phát, khò khè, khạc đờm trong quánh (đờm hạt trai)
+ Bệnh lý khó thở do:
- Co thắt cơ trơn
- Phù nề niêm mạc
- Tăng tiết nhày ở các tuyến phế quản (chủ yếu là phế quản to và nhỏ)
Bệnh sinh: hậu quả của phản ứng dị ứng giữa kháng nguyên và kháng thể IgE; tế bào mastocyt gắn nhiều kháng thể (tế bào hạt), chứa nhiều chất trung gian hoá học khi phản ứng kháng nguyên - kháng thể dẫn đến tế bào bị kích thích vỡ hạt và giải phóng ra chất trung gian hoá học (như: histamin, SRS - A, ECF - A; PAF ) Các chất này kích thích trực tiếp niêm mạc hoặc gián tiếp qua phản xạ phó giao cảm gây co thắt cơ trơn phế quản, phù và tăng tiết
+ Phân loại: 3 loại
- Hen ngoại lai (bên ngoài đưa lại)
- Hen nội lai (nội sinh, do bên trong nhiễm trùng)
- Hen hỗn hợp
+ Cụ thể theo nguyên nhân:
- Hen phế quản dị ứng (90% ở tuổi < 30, 50% tuổi > 40) Do hít phải nấm, bụi nhà; ở Việt Nam nguyên nhân do bụi chiếm tới 60% trong số các nguyên nhân
Trang 17- Gắng sức và viêm mạch (có thể trước hoặc sau)
+ Điều kiện dễ bị hen: di truyền, hệ thần kinh không ổn định, tăng quá mẫn phế quản Trong viêm xoang, có chửa dễ làm bệnh nặng lên
1.2 Theo Y học cổ truyền:
Y học cổ truyền mô tả bệnh trong các phạm trù “háo chứng, suyễn chứng, ẩm chứng”; đa phần do đàm túc ở trong (nội túc đàm yếm ở phế), phục tà, tân ngoại cảm lục dâm, tình chí nội thương, ẩm thực hoặc lao quyện làm cho tà tụ ở phế, phế khí thượng nghịch mà dẫn đến bệnh Dựa vào căn nguyên gây bệnh, YHCT chia ra làm 3 loại:
+ Hợp tà nội ngoại: đàm trọc nội yếm, phục thụ ngoại cảm, nội ngoại hợp tà,
tụ tắc khí đạo, phế mất tuyên giáng dẫn đến khí cấp suyễn súc
+ Phế tỳ khí hư, tỳ mất kiện vận, đàm thấp nội sinh, phế khí bất tuyên đàm trọc tụ phế dẫn đến suyễn súc khí cấp
+ Thận phế dương hư: thận dương hư tắc mệnh môn hỏa suy, bất năng thượng phế vu tâm (thủy hoả ký tế), tắc tâm - dương thụ lụy Phế hư bất năng trị tiết, tắc khí - huyết vận hành thất điều mà dẫn đến thoát
1.3 Chẩn đoán xác định:
Bệnh xảy ra khi tiếp xúc với các nguyên nhân: với phấn hoa, bụi nhà hoặc có viêm nhiễm đường hô hấp trên và có liên quan đến thời tiết (đa số phát bệnh vào mùa xuân thu)
Chứng trạng và bản chứng có tam lãm “Tam chứng” rõ, hô hấp khó khăn, khó thở, nghe phổi có tạp âm bệnh lý
Xét nghiệm: thời kỳ phát bệnh, trong máu có tế bào ái toan tăng cao; khi viêm nhiễm thì bạch cầu tăng nhiều; trong huyết thanh hàm lượng kháng thể IgE tăng cao; trong dịch đàm có thể thấy nhiều hạ khoa lôi động kết tinh (tế bào hạt)
Trang 18+ Phương pháp điều trị: ôn phế tán hàn - hoá đàm bình suyễn
+ Phương thuốc: “xạ can ma hoàng thang” gia giảm:
+ Phương pháp điều trị: thanh nhiệt tuyên phế hoá đờm định suyễn
+ Phương thuốc: “định suyễn thang” gia giảm:
Trang 19155
Sinh cam thảo: 5g
+ Gia giảm:
- Đàm nhiều, không ho khạc được thì gia thêm: toàn qua lâu 12g, đởm nam tinh 12g
- Tức ngực nhiều thì gia thêm: chỉ xác 12g , hậu phác 12g
- Nếu phế nhiệt nặng phải gia thêm: thạch cao 20 - 30g (sắc trước), ngư tinh thảo 20g
- Đại tiện bí kết thì gia thêm: sinh đại hoàng 15g (bào thang xung phục)
2.1.3 Suyễn thoát:
+ Suyễn nghịch nặng, khó thở không nằm ngủ được; đàm ứ trở, tâm quí, phiền táo bất an, tức ngực; mặt môi xanh tím, hãn xuất, chi lạnh; mạch phù đại vô căn, thậm chí mạch vi muốn tuyệt
+ Phương pháp điều trị: hồi dương cứu nghịch bình suyễn cố thoát
+ Phương thuốc: “sâm phụ long mẫu thang” hợp “hắc duyên đan” gia giảm
Sinh mẫu lệ (trước): 30g
2.2 Thời kỳ mãn tính hoà giải:
2.2.1 Phế khí hao hư:
+ Tự hãn, sợ gió, thường dễ cảm mạo, bệnh tái phát khi thời tiết thay đổi Trước khi lên cơn thường chảy nước mũi trong, lỏng; tắc mũi; khí đoản, âm thanh nhỏ, nói khàn, trong hầu thường có “thuỷ kế thanh” mức độ nhẹ, ho khạc đờm trắng, sắc mặt trắng sáng, chất lưỡi nhợt hồng, rêu lưỡi trắng mỏng; mạch tế nhược hoặc là hư nhuyễn
+ Phương pháp điều trị: bổ phế - ích khí cố biểu
+ Phương thuốc: “ngọc bình phong tán” hợp phương “sinh mạch tán” gia giảm
Trang 20to, rêu lưỡi nhờn trắng nhuận; mạch hư nhược
+ Phương pháp điều trị: kiện tỳ hóa đàm
+ Phương thuốc: “trần hạ lục quân tử thang” gia giảm:
Trần bì: 10g Chế bán hạ: 10g
Đẳng sâm: 15 - 30g Bạch truật: 12g
Đại táo: 7 quả
+ Gia giảm:
- Nếu đàm nhiều, thấp nặng thì gia thêm: ý dĩ nhân 20g, thương truật 10g
- Nếu quản bĩ, nạp ngai (ăn kém) thì gia thêm: mộc hương 10g, sa nhân 10g
+ Phương pháp điều trị: bổ thận nhiếp nạp
+ Phương thuốc: “(kim quĩ) thận khí hoàn” hợp phương “nhân sâm cáp giới tán” gia giảm
Trang 213.1 Châm cứu thể châm:
Thường dùng các huyệt: định suyễn, đản trung, phế du, đại chùy, hợp cốc Nếu phế hư sợ lạnh thì thêm: túc tam lý, thận du
Nếu đàm nhiều thì thêm huyệt phong long; ho nhiều thêm huyệt thiên đột Mỗi ngày châm 1 - 2 lần, mỗi lần 1 - 2 huyệt , 10 - 15 ngày là 1 liệu trình cắt cơn hen
3.4 Đắp dán:
Tất cả tán bột nhỏ mịn, thêm xạ hương 6g, hoà với nước gừng rồi đắp vào các huyệt: phế du, cao hoang, bạch lao, sau 1 - 2h thì bỏ đi; 10 ngày đắp 1 lần; 7 lần
là một liệu trình
3.5 Đơn thuốc nghiệm phương:
Tạo giác 15g, sắc tẩm vào 30g bạch giới tử; sau 12h đem phơi khô; mỗi lần uống 1 - 1,5g; mỗi ngày uống 3 lần Điều trị cho bệnh nhân khi lên cơn hen suyễn mà có đàm thũng, khí nghịch
Trang 22
158
4 Bài thuốc chọn lọc trên lâm sàng
+ Theo tài liệu của Dụ Kỳ: dùng “ma hoàng địa long thang” để điều trị, 53 bệnh nhân hen phế quản đã đạt kết quả mãn ý
- Bài thuốc gồm có:
- Gia giảm:
Nếu suyễn nặng thì gia thêm: đình lịch tử.
Ho nhiều thêm bạch giới tử, lai phục tử, nga quản thạch
Nếu ngoan đàm giao cô thì thêm tạo hiệp đình; trung khí hư thì gia thêm: hoàng kỳ, đẳng sâm, bạch truật
Nếu phế thận dương hư phải gia thêm: bổ cốt chỉ, trầm hương, nhục quế, tử thạch anh
Nếu hen nhiệt thì gia thêm: thạch cao, ngư tinh thảo mỗi thứ đều 30g; hoàng cầm, đởm tinh mỗi thứ đều 10g
Nếu phế thận âm hư thì gia thêm: sa sâm, mạch đông, thục địa, trầm hương, ngũ vị tử
- Kết quả: khống chế hen hoàn toàn trên lâm sàng sau 1 tháng trở lên: 25 ca tốt; cải thiện 7, không hiệu quả 4 Tổng số hiệu quả 92,5% (1995)
+ Bài thuốc theo dẫn liệu của Vương Kỳ điều trị cho 374 bệnh nhân hen phế quản: khỏi 269 (70,2%), chuyển biến tốt 102 (28,9%), không hiệu quả 3 (0,9%)
- Hải tảo, quế chi, xích thược, bán hạ, hạnh nhân; mỗi thứ đều 15g
- Chế xuyên ô, ma hoàng, can khương, tế tân, ngũ vị tử, chế nam tinh, bách bộ; mỗi thứ đều 10g
- Nguyên hoa, lê lô, cam thảo; mỗi thứ đều 5g
- Bá thụ quả 30 (viên) 2 ngày 1 thang, sắc nước uống; 1 tháng là 1 liệu trình,
3 liệu trình 3 tháng (Vương Diên Lập, Trung y Tứ Xuyên 1995)
+ Bài thuốc theo dẫn liệu của Đô Kỳ: “Bán hạ định suyễn thang”:
Bán hạ, đình lịch tử, trần bì mỗi thứ đều 12g
Trang 23159
Bạch phục linh, hoàng cầm, đẳng sâm, sơn dược, bạch truật mỗi thứ đều 15g
Cát cánh, hạnh nhân mỗi thứ đều 10g
Ma hoàng, cam thảo mỗi thứ đều 9g
Sinh hoàng kỳ 30g
- Gia giảm:
Nếu hen nhiệt thì gia thêm: thạch cao, thiên trúc hoàng
Nếu hen hàn phải gia thêm: can khương, tế tân; huyết ứ thì gia thêm: xích thược, xuyên khung; phát sốt thì gia thêm: sài hồ, ngư tinh thảo
Sắc uống ngày 1 thang, 2 tuần là 1 liệu trình Đạt kết quả 89,4% (Đỗ Lập Phong, Trung y Thiểm tây 1995)
+ Theo giới thiệu của Vương Kỳ dùng “lý phế bổ thận thang” điều trị 208 bệnh nhân hen:
- Thể âm hư phế táo: tang bạch bì, tô tử, thiên hoa phấn, đông qua tử, chích
ma hoàng, hạnh nhân, địa long, thạch cao, thục địa, hoài sơn, cam thảo Nếu ho thì gia thêm: bách bộ, khoản đông hoa Nếu đại tiện bế phải gia thêm: đại xích thạch , sinh đại hoàng; hay giận dữ thì gia thêm: hương phụ, bạch thược
- Thể tỳ hư đàm thấp: tô tử, hạnh nhân, đẳng sâm, phục linh, bạch truật, trần
bì, bán hạ, tử uyển, khoản đông hoa, chích ma hoàng, thục địa, sơn dược Nếu có đau lưng nặng thì gia thêm: hoàng kỳ, cẩu tích, can khương
- Thể thận hư, phế thực: thục địa, sơn dược, phục linh, ngũ vị tử, bổ cốt chỉ,
tô tử, mạch đông, đương qui, nhân sâm, hạnh nhân
Kết quả: hiệu quả 96,4% (nghiên cứu dược Trung y, 1991)
MÃN TÍNH CHI KHÍ QUẢN VIÊM (Viêm phế quản mạn tính)
1 Đại cương
1.1 Theo YHHĐ:
+ Viêm phế quản mạn tính là tình trạng tăng tiết dịch nhày của niêm mạc phế quản gây ho và khạc đờm liên tục hoặc tái phát từng đợt (khoảng 3 tuần lễ), ít nhất là 3 tháng trong một năm và ít nhất là 2 năm liền
Trang 24+ Chẩn đoán xác định dựa vào:
- Hỏi bệnh: phần lớn là nam giới từ 44 - 50 tuổi có nghiện thuốc lá, thuốc lào;
ho và khạc đờm thường về buổi sáng, từng đợt khoảng 3 tuần liền, mỗi năm 3 tháng và ít nhất là 2 năm liền
- Có từng đợt kịch phát nặng: ho, khạc đờm có mủ; khó thở như cơn hen; nghe phổi có ran rít, ran ngáy và ran ẩm, rì rào phế nang giảm Thường do bội nhiễm, triệu chứng nhiễm khuẩn có khi rõ rệt nhưng phần nhiều là kín đáo Bệnh nhân có thể tử vong do suy hô hấp cấp
- XQ: rốn phổi 2 bên đậm
Cần chẩn đoán phân biệt với: lao phổi, hen phế quản, ung thư phế quản, giãn phế quản, giãn phế nang
1.2 Theo YHCT:
Y học cổ truyền cho rằng, bản chất bệnh thuộc các phạm trù “khái thấu, đàm
ẩm, suyễn chứng” kết hợp với ngoại tà (phản phục) xâm lăng và liên quan mật thiết đến công năng của 3 tạng (phế, tỳ, thận) thất điều Thời kỳ cấp tính đa phần
do ngoại tà phạm phế, phế mất thanh liêm dẫn đến khái thấu; khái thấu lâu gây thương phế, phế khí hao hư tổn thương đến tỳ thận và công năng của tâm Tỳ hư bất năng vận hóa thủy thấp, tất thấp ngưng sinh đàm ở trên trở phế, phế khí bất tuyên tắc khái thấu, đàm trọc tụ phế, hoặc thận bất nạp khí suyễn tắc Thời kỳ mãn tính kéo dài phần nhiều thuộc về chính khí bất túc hoặc chứng hư thác tạp
Trang 25161
lỏng; miệng không khát, thích ăn uống nóng; tiểu tiện trong dài; chất lưỡi nhợt hồng, rêu lưỡi trắng nhờn, mạch hoạt hoặc huyền hoãn
+ Phương pháp điều trị: sơ phong tán hàn - hóa đàm chỉ khái
+ Phương thuốc: “Xạ can ma hoàng thang” hợp phương “trạch tất thang” gia giảm
- Biểu thực hàn thì gia thêm: sinh ma hoàng 10g
- Vô hãn phải gia thêm: quế chi 10g
- Đại tiện nát thì bỏ chích tô tử; gia thêm: sinh khương 2 - 3 lát
- Miệng khát, rêu vàng, đầu lưỡi hồng thì gia thêm: hoàng cầm 10g
2.1.2 Phong nhiệt phạm phế:
+ Khái thấu đàm vàng, dính khó khạc (long), phát sốt, hơi sợ gió sợ lạnh, hoặc chi thể mệt mỏi, họng đau; khát, thích uống mát; tiểu tiện vàng ít, đại tiện khô kết; chất lưỡi hồng, rêu lưỡi vàng nhờn; mạch phù sác hoặc hoạt sác
+ Phương pháp điều trị: sơ phong giải biểu - thanh nhiệt hóa đàm
+ Phương thuốc: “ngân kiều tán” gia giảm:
Trang 26
162
2.1.3 Thể táo nhiệt thương phế:
+ Ho khan không có đờm hoặc đờm ít khó khạc (khó long đờm); mũi táo, họng khô; ho nhiều ngực đau, trong đàm có máu; kèm theo sợ lạnh, phát sốt (biểu chứng); chất lưỡi đỏ khô ít tân, rêu lưỡi vàng mỏng; mạch phù sáp hoặc tế sác + Phương pháp điều trị: tân lương thanh phế - nhuận táo hóa đàm
+ Phương thuốc: “tang hạnh thang” gia vị
Đông tang diệp: 10g Sơn chi tử: 10g
- Đại tiện táo thì thêm: huyền sâm 12g, qua lâu nhân 10g
2.2 Thời kỳ mãn tính kéo dài:
2.2.1 Thể phế khí hao hư:
+ Tiếng ho trong rõ đa phần ho đơn thuần, khạc đờm trong loãng, sắc trắng, lượng ít; đa số bệnh nhân có tự hãn (dễ đổ mồ hôi), sợ gió, thường dễ cảm mạo; chất lưỡi nhợt hồng, rêu lưỡi trắng mỏng; mạch huyền tế mà vô lực
+ Phương pháp điều trị: bổ ích phế khí - cố biểu hóa đàm
+ Phương thuốc: “ngọc bình phong tán” hợp “trạch đông thang” gia giảm
Trang 27163
chất lưỡi nhợt hoặc bệu mềm, rìa lưỡi có hằn răng, rêu trắng hoặc trắng nhờn, mạch nhu hoạt
+ Phương pháp điều trị: ích khí kiện tỳ - hóa đàm chỉ khái
+ Phương thuốc: “trần hạ lục quân tử thang” gia giảm
- Khí nghịch đàm nhiều thì gia thêm: tô tử 10g, toàn phức hoa 10g (bao tiểu)
- Ăn kém phải gia thêm: sa nhân 10g, bạch đậu khấu 10g
- Ngực tức, bụng trướng thì gia thêm: chỉ xác 15g, hậu phác 12g
2.2.3 Thận bất nạp khí:
+ Vận động (gắng sức) khí suyễn, khí đoản, tiếng ho trầm thấp, đa phần ho cơn nặng về nửa đêm; khạc đờm sắc trắng lỏng loãng, dính tròn, lượng đờm tương đối nhiều; đa số có khó thở tắc nghẽn; thậm chí nặng không nằm ngửa được, sợ lạnh, lưng gối đau mỏi; lưỡi nhợt bệu, rìa lưỡi có hằn răng; mạch trầm
tế vô lực
+ Phương pháp điều trị: ôn thận nạp khí - hóa đàm bình suyễn
+ Phương thuốc: “(kim quĩ) thận khí hoàn” gia giảm
Hồ đào nhục: 15g
+ Gia giảm:
- Nặng hư nhược thì gia thêm: nhân sâm 10 - 15g, cáp giới 10g
- Đàm khí tụ thực phải gia thêm: tô tử 15g, trần bì 10g, chế bán hạ 10g
- Nếu môi, lưỡi mỏng; tay chân xanh tía, mạch kết đại thì gia thêm: đan sâm 12g, xuyên khung 12g, xích thược 10g
2.2.4 Phế thận âm hư:
+ Ho khan không đàm hoặc ít đàm, đàm dính tròn không dễ khạc ra, khí đoản, vận động khó thở tăng lên, miệng khô họng ráo, ngũ tâm phiền nhiệt, triều nhiệt
Trang 28
164
tự hãn, đầu choáng mắt hoa, lưng đau mỏi, lưỡi hồng ít rêu hoặc xanh lục không rêu ít tân, mạch tế sáp hoặc tế sác
+ Phương pháp điều trị: tư âm nhuận phế, chỉ khái hóa đàm
+ Phương thuốc: “bách bộ cố kim thang” gia giảm
Sinh địa: 15g Thục địa: 15g
Huyền sâm: 10g Mạch môn: 30g
Khoản đông hoa: 12g
+ Gia giảm:
- Ho mà khí xúc thì gia thêm: kha tử 12g, cáp giới 5g (uống bột)
- Triều nhiệt phải gia thêm: thập đại công lao diệp 15g, hồ hoàng liên 6g, thư giới bạch căn 10g
- Trong đàm có máu thì gia thêm: đan bì 10g, chi tử 6g, tiên cước thảo 20g,
a giao 10g
Thể âm - dương đều hư:
+ Khi vận động khí bất túc, thiếu khí, loạn ngôn, hình hàn chi lạnh; đầu choáng, tâm quí, tự hãn; nam giới hoạt tinh dương nuy; nữ giới kinh nguyệt không đều hoặc bế kinh; lưỡi đỏ ít rêu hoặc lưỡi nhợt hình bệu, rìa lưỡi có hằn răng; mạch vi
tế mà sác hoặc hư đại vô lực (căn)
+ Phương pháp điều trị: trị âm bổ dương ích khí hoạt huyết
+ Phương thuốc: “hà sa đại tảo hoàn” gia giảm:
Trang 29+ Háo suyễn nặng thì dùng huyệt: phế du, tam âm giao
+ Đàm trọc trở phế gia thêm huyệt: phong long, trung quản Phế tỳ khí hư thì thêm huyệt túc tam lý
+ Phế thận lưỡng hư thêm: quan nguyên, thận du
+ Thực chứng dùng tả pháp, hư chứng dùng bổ pháp
+ Dịch đan sâm 2 - 4 ml tiêm vào huyệt túc tam lý (phải, trái thay đổi), mỗi tuần 2 - 3 lần, 2 tháng là 1 liệu trình (không có tác dụng phụ và chống chỉ định) (Đại học Trung y - Thượng Hải, 1998)
Tác động vào các huyệt: phế du, đản trung hoặc đại chùy, thiên đột Hai nhóm huyệt thay đổi, mỗi ngày 1 nhóm, liên tục trị liệu 2 - 3 tháng
3.4 Đắp dán:
Bạch giới tử 30g, bạch phàn 30g;tất cả tán bột mịn; gia thêm lượng thích hợp bách diệp phấn Dùng dưới dạng hồ, mỗi tối trước khi đi ngủ lấy thuốc dán vào huyệt: phế du, định suyễn, túc tam lý Sau khi đắp dán 12h thì thay thuốc; 10 ngày
là 1 liệu trình
3.4 Đơn thuốc nghiệm phương:
Bách bộ căn 250g phơi khô tán bột, luyện mật lượng thích hợp Thường uống sau khi ăn, mỗi lần 1 nửa sung phục (hoà nước sôi uống)
4 Tinh hoa lâm sàng
Theo nghiên cứu của Trương Vĩ - Viện y học Trung y - Sơn Đông, (1996): vận dụng “phù chính - trừ tà” điều trị viêm phế quản mãn tính kéo dài đạt kết quả 97,5%
+ Bài thuốc gồm:
Tía tô diệp 12g, quất bì, hoàng cầm, chỉ xác, chế bán hạ, hạnh nhân mỗi thứ đều 9g
Cát cánh, chích ma hoàng mỗi thứ đều 6g
Phục linh 15g, hoàng kỳ 20 - 30g, đẳng sâm 15 - 25g
+ Gia giảm: dâm dương hoắc 9 - 15g, kỷ tử 9 - 12g
- Nếu ho nặng thì gia thêm: khoản đông hoa, tử uyển, xuyên bối
Trang 30
166
- Nếu suyễn tức nặng thì gia thêm: tô tử, đình lịch tử
- Nếu mũi tắc, chảy nước trong lỏng thì thêm: tế tân, quế chi
Mỗi ngày 1 thang sắc uống, uống 6 ngày thì ngừng 1 ngày, dùng liền trong
8 tuần (theo nghiên cứu của Trương Vĩ - Viện Y học Trung y - Sơn Đông, 1996)
NGÂN TIẾT BỆNH (Bệnh vẩy nến)
1 Đại cương
1.1 Nguyên nhân sinh bệnh theo Y học hiện đại và Y học cổ truyền:
1.1.1 Theo quan điểm YHHĐ:
Bệnh vẩy nến là bệnh ngoài da khá phổ biến, thường chiếm tỷ lệ từ 3 - 5%
trong tổng số bệnh da ở các khoa da liễu; chiếm 0,5 - 3% trong tổng số dân ở các
nước châu Âu Căn nguyên, cách di truyền của bệnh vẩy nến thì chưa được rõ,
nhưng thể địa vẩy nến hay vẩy nến tiềm tàng đến nay đã được xác định rõ ràng,
gen vẩy nến nằm ở những nhiễm sắc thể số 6, có liên quan đến kháng nguyên
bạch cầu người (HLA), đến đáp ứng miễn dịch tế bào, đến tự kháng thể
Biểu hiện chủ yếu ở bệnh vẩy nến là tăng nhanh lớp thượng bì, bởi hoạt động
phân nhân và sự tổng hợp ADN của tế bào đáy (thường nhanh hơn bình thường
tới 8 lần) Chu kỳ tế bào rút ngắn hơn 12 lần, chu chuyển tế bào từ đáy lên lớp
sừng rút ngắn hơn 8 lần dẫn đến dày sừng, rối loạn biệt hóa tế bào sừng, nhiều
vẩy á sừng và bong vẩy (Tần Vạn Lập, Lý Trung Phác - Tài liệu Y viện Trung
sơn và Đại học Y khoa Thượng Hải, 1988; Vu Quân Ngọc - Bắc Kinh, 1993)
Về điều trị, hiện nay còn rất nhiều khó khăn, chưa có phương pháp nào chữa
khỏi bệnh vẩy nến nhưng có nhiều phương pháp làm sạch tổn thương vẩy nến
bằng các thuốc tân dược Nhiều tác giả phương tây đã ghép tủy đồng loại và
truyền kháng thể đơn dòng CD4 để điều trị bệnh vẩy nến có hiệu quả Một số tác
giả Trung Quốc đã dùng phá cố chỉ (hạt đậu miêu) hoặc bạch chỉ, một trong hai
vị thuốc trên kết hợp với chiếu tia tử ngoại (sóng ngắn) dài ngày càng làm sạch
tổn thương vẩy nến Có điều là hay tái phát và những đợt tái phát thường là rầm
rộ và nặng hơn Mặt khác, tác dụng phụ của các thuốc tân dược thường để lại
biến chứng nặng nề về ức chế chức năng tủy xương, tăng khối lượng gan, biến
đổi chức năng thận, bạch cầu giảm, thiếu máu nghiêm trọng, loét ống tiêu hóa Vì
vậy, kết quả điều trị bệnh vẩy nến bằng YHHĐ rất hạn chế (Vu Quân Ngọc,
Bạch Vĩnh Ba - Bắc Kinh, 1993)
Trang 31167
1.1.2 Theo Y học cổ truyền:
Bệnh vẩy nến đã được mô tả rất sớm trong những bệnh danh: ngưu bì tiên, tùng bì tiên và hiện nay là ngân tiết bệnh Về căn nguyên, bệnh thường do bản tạng là huyết nhiệt khi gặp phải các yếu tố lục dâm phong, hàn, nhiệt, táo, thấp sẽ
có các biểu hiện khác nhau Nhưng lâm sàng thường tập trung vào 3 thể lớn: huyết hư, huyết nhiệt và huyết ứ; khi có nhiễm trùng là thể nhiệt độc Phương pháp điều trị chính là phù trợ chính khí, trừ tà, điều hòa khí - huyết đã mang lại kết quả tương đối tốt, hạn chế tác dụng phụ và nâng cao hiệu quả điều trị của các thuốc tân dược
1.2 Tiêu chuẩn chẩn đoán thể bệnh theo YHHĐ:
Theo tài liệu của Trần Vạn Lập, Lý Trung Phác - Thượng Hải (1988), chẩn đoán xác định dựa vào kết quả giải phẫu bệnh lý Biểu hiện sừng và á sừng tăng sinh dày lên các nhú thượng bì lớn và ăn sâu xuống chân bì, áp xe nhỏ ở trong lớp sừng và lớp gai, thoái hóa hốc của các tế bào gai, lớp thượng bì trên các nhú chân bì mỏng
1.2.1 Chẩn đoán xác định dựa vào:
+ Phương pháp cạo Brocque:
- Sẩn đỏ, kích thước từ bằng đầu đinh ghim đến bằng móng tay, đồng xu hoặc mảng bám to bằng bàn tay; ranh giới rõ, sờ nắn thấy cộm, màu đỏ tươi
- Vẩy trên nền sẩn đỏ, có vẩy màu ánh bạc phủ thành nhiều lớp dày hoặc mỏng, cạo dễ bong như cạo vào sáp nến
- Xác định theo phương pháp cạo Brocque, dấu hiệu vết nến chứng tỏ có dày sừng và á sừng; dấu hiệu màng mỏng bong được rất có ý nghĩa, sự tăng sinh lớp đáy; dấu hiệu hạt sương máu chứng tỏ có tăng sinh mao mạch nhú bì và tăng nhú
+ Phân loại vẩy nến ở da dựa theo hình dạng và kích thước: thể chấm, thể giọt, thể đồng tiền, thể mảng
- Phân loại vẩy nến chung: vẩy nến thông thường, vẩy nến thể khớp, vẩy nến thể mụn mủ toàn thân hoặc khu trú
+ Cách cho điểm PASI (psoriasis area severity index):
Nhằm đánh giá mức độ nặng, gồm 3 chỉ tiêu:
- Đỏ da (erythema)
- Nhiễm cộm (infltration)
Trang 32
168
- Bong vẩy (decrustation)
Ba chỉ tiêu được tính theo diện tích da bị tổn thương trên tổng diện tích vùng: được ký hiệu chung là (A); ký hiệu cho từng vùng: đầu (H), chi trên (U), thân mình (T), chi dưới (L) Đánh giá về mức độ cho điểm từ 0 đến 4: không có tổn thương (0 điểm), tổn thương nhẹ (1 điểm), tổn thương vừa (2 điểm), tổn thương nặng (3 điểm) tổn thương rất nặng (4 điểm)
+ Cách tính diện tích riêng cho từng vùng:
Không có tổn thương: 0 điểm
Tổn thương dưới 10%: 1 điểm
Nhân số điểm chỉ số nặng (đỏ, cộm, vẩy) với diện tích vùng và nhân với hằng
số (đầu = 0,1; chi trên = 0,2; thân mình = 0,3; chi dưới= 0,4)
PASI chung = 0,1 (Eh + Ih + Dh) Ah + 0,2 (Eu + Iu + Du) uA +
+ Đánh giá tiến triển của bệnh:
Cứ 15 hoặc 30 ngày quan sát và tính điểm 1 lần:
- Kết quả = (điểm PASI ban đầu - điểm PASI quan sát)
- Sự chênh lệch giữa hai chỉ số PASI càng cao thì bệnh tiến triển càng tốt và ngược lại
2 Bệnh vẩy nến theo y lý cổ truyền
2.1 Khái niệm:
+ Bệnh vẩy nến được YHCT mô tả rất sớm, cùng ra đời với Nạn Nội Kinh là những bệnh danh “Tùng bì tiên, Ngưu bì tiên “trong “Bì phu bệnh” nghĩa là
Trang 33169
chứng ngứa, sẩn ở da Theo y lý cổ truyền là bệnh mãn tính, tái phát liên tục, đa phần phát sinh ở tứ chi, mặt bên đùi, đầu gối, cẳng chân, mặt ngoài tay, chân và vùng đầu Tổn thương chủ yếu là những sẩn cộm kiểu đốm, đám hoặc mảng, đỏ hoặc trắng mốc như sáp nến và ngứa
2.2 Nguyên nhân bệnh lý:
+ Bệnh thuộc bản tạng và trạng thái thiên thắng; khởi phát thường do yếu tố thuận lợi phong tà, nhiệt tà kết tụ ở bì phu mà dẫn đến tà khí uất tụ, trệ lâu ngày sinh ra nhiệt (biểu hiện là nốt sẩn đỏ, vẩy) Khí - huyết không lưu thông, nên da không được nuôi dưỡng đầy đủ sinh ra sẩn đỏ, vẩy nhiều hơn, ngứa liên tục + Biện chứng và thể lâm sàng: thời kỳ đầu của bệnh chủ yếu là sơ phong thanh nhiệt thì thường phải chọn dùng các loại thuốc lương huyết giải độc Bệnh lâu ngày, khí - huyết bất túc sinh ra phong hóa táo thì phải lấy dưỡng huyết trừ phong
+ Mặt da nổi lên sẩn đỏ hoặc tím, có thể nhỏ như đinh ghim, có thể tụ lại thành từng đám, mảng; bề mặt da tăng sinh nhiều tầng, trắng như sáp nến, ngứa nhiều, sau khi bong đi để lại lớp da đỏ và có điểm xuất huyết nhỏ, chất lưỡi thường đỏ, rêu lưỡi hơi vàng; mạch huyền sác
+ Phương pháp điều trị: lương huyết giải độc - sơ phong thanh nhiệt
2.4 Thể huyết hư phong táo:
+ Các tổn thương thành đám, mảng, sẩn cộm, thường có màu hồng đỏ hoặc tím nhợt, có thể có sắc hồng xám thâm Thời kỳ này, ngứa giảm, hầu như không ngứa; tổn thương da thu nhỏ hơn, có chỗ tự tiêu đi hoàn toàn (biến mất đột ngột hoặc từ từ), chỉ còn lại mặt da trắng bạc phẳng; ăn uống, đại tiểu tiện và mọi sinh hoạt trong thời kỳ này hầu như bình thường; rêu lưỡi vàng mỏng, chất lưỡi hồng nhợt; mạch đới huyền hoặc huyền mà tế
+ Phương pháp điều trị: là dưỡng huyết khu phong
+ Phương thuốc thường dùng:
Đương qui: 12g Thủ ô đỏ: 16g
Trang 342.5 Thuốc bôi ngoài thường dùng chung cho cả hai thể trên:
+ Dạng cao ngưu bì tiên:
Hùng hoàng, lưu hoàng, long não, khô phàn, minh phàn; tất cả đều hai phân, thêm hồng phàn 1 phân Tất cả tán bột, chấm hoặc bôi lên trên chỗ tổn thương (thuốc rất độc không được bôi lên gần môi, miệng, mũi, mắt )
+ Đại phong tử nhân:
Ma nhân: 16g Mộc triết tử: 12g
Tất cả nấu thành cao, bôi ngày 2 lần trong 2 ngày
+ Bôi cao mềm thạch lựu bì:
Long não 1g, acid cacbonic 1ml, bột thạch lựu bì 15g, phàn thổ lâm 100g Tất
cả nấu thành cao lỏng (hoặc dùng bột thạch lựu bì 1 phân, dầu vừng 3 phần - luyện thuốc thành dạng hồ để bôi)
2.6 Châm cứu:
+ Có thể dùng điện châm:
- Các huyệt ở chi trên: khúc trì, nội quan, thần môn
- Các huyệt ở chi dưới: huyết hải, phi dương, tam âm giao
Mỗi ngày 1 lần, mỗi lần 3 - 5 huyệt, 15 lần là 1 liệu trình
+ Nhĩ châm: thường dùng các điểm như: thần môn, phế, nội tiết, giao cảm
2.7 Tư liệu tham khảo về biện chứng theo thể bệnh:
Theo tài liệu “Trung y chẩn liệu học bệnh hiện đại nan trị” của Vu Quân Ngọc (Bắc Kinh, 1993)
2.7.1 Thể huyết nhiệt:
+ Phương pháp điều trị: thanh nhiệt lương huyết - trừ phong chỉ tiên
+ Phương thuốc thường dùng: Hợp phương “lương huyết địa hoàng thang” và
“tê giác địa hoàng thang” gia giảm (Ngoại khoa đại thành)
- Thuốc: Lương huyết địa hoàng thang:
Sinh địa: 15g Đương qui: 20g
Trang 35171
Cam thảo: 10g Thăng ma: 6g
- Tê giác địa hoàng thang (Thiên kim yếu phương): Tê giác, Đan bì và Xích thược
- Cũng có thể dùng kết hợp “thanh đại ẩm” hoặc “tả qui ẩm” Nếu thể da đỏ
có thì chọn dùng “thanh doanh thang” Nếu có sốt cao, thần hôn loạn ngôn có thể
cho thêm “an cung ngưu hoàng hoàn” hoặc “tử tuyết tán”
2.7.2 Thể huyết hư:
+ Thường gặp vào thời kỳ thoái hư của bệnh, mãn tính kéo dài, tổn thương da
thu gọn hoặc biến mất, ban đỏ và bong vẩy giảm nhẹ, ngứa không nhiều, tổn
thương da khô táo, bệnh tình ổn định; chất lưỡi nhợt hồng, rêu lưỡi trắng; mạch
huyền tế
+ Phương pháp điều trị: Dưỡng huyết tư âm - trừ phong nhuận táo
+ Phương thuốc thường dùng: “Đương qui ẩm tử” hoặc “dưỡng huyết nhuận
phu ẩm” gia giảm
2.7.3 Thể huyết ứ:
+ Thường gặp trong thời kỳ thoái lui của bệnh, tổn thương da thu nhỏ, không
sẩn cộm, vẩy đỡ dày; sắc ban hồng xám hoặc sắc da chung quanh tổn thương
hồng xám, lờ mờ có sắc tố da; chất lưỡi xám tía, có ban điểm ứ huyết, rêu lưỡi
trắng hoặc hơi vàng; mạch huyền tế hoặc sáp
+ Phương pháp điều trị: Hoạt huyết hóa ứ - trừ phong chỉ tiên
+ Phương thuốc thường dùng: “Đào hồng tứ vật thang” hoặc “huyết phụ trục
ứ thang” gia giảm
2.7.4 Thể phong thấp tý trở:
+ Thường gặp ở vẩy nến thể khớp, tổn thương da không nhiều ở thân thể mà
tập trung vào các vùng khớp, các khớp sưng đau hạn chế vận động tứ chi, thậm
chí biến dạng hoặc phát sốt, tâm phiền, ăn kém; chất lưỡi hồng, rêu lưỡi nhờn
trắng; mạch huyền hoạt mà sác
+ Phương pháp điều trị: Khu phong trừ thấp - thông lạc giải độc
+ Phương thuốc thường dùng: “Độc hoạt tang ký sinh thang” gia giảm
2.7.5 Nhiệt độc tích thịnh:
+ Thường gặp ở thể mụn mủ, tổn thương tập trung nhiều ở tay, chân và đầu
Nếu nặng thì lan ra toàn thân Trên nền da sẩn đỏ lồi lên mụn đầu nhọn, ngứa,
Trang 36
172
đau và hóa mủ, sắc trắng vàng xen kẽ, mụn mọng nước hay tái phát; có khi phát sốt, miệng khát, thậm chí mê sảng (thần hôn loạn ngôn), đại tiện bí kết, tiểu tiện ngắn đỏ, chất lưỡi hồng, rêu lưỡi vàng; mạch hoạt sác hoặc huyền sác
+ Phương pháp điều trị: Thanh nhiệt lương huyết giải độc
+ Phương thuốc thường dùng: “Tê giác địa hoàng thang” hợp phương “ngũ vị tiêu độc ẩm” gia giảm Ngoài ra phối hợp với châm đổi bên để điều trị Trên lâm sàng căn cứ vào tình trạng cụ thể nặng hay nhẹ khác nhau, vị trí khác nhau để gia giảm huyệt vị
3 Thuốc nghiệm phương
+ “Thổ phục linh hoàn”:
Thổ phục linh: 310g Sơn đậu căn: 250g
Bạch tiên bì: 125g Thảo hà sa: 250g
Hoàng dược tử: 125g Hạ khô thảo: 250g
Tất cả tán thành bột mịn, trộn mật làm viên hoàn, mỗi hoàn nặng 6g, mỗi ngày ăn 2 viên hoàn
- Công dụng: thanh nhiệt - giải độc
- Chủ trị: Ngân tiết bệnh thể thông thường thời kỳ tiến triển
+ “Sơn bạch thảo hoàn”:
Sơn đậu căn: 40g Bạch tiên bì: 90g
Thảo hà sa: 90g Hạ khô thảo: 45g
Vương bất lưu hành: 45g Sao nga truật: 45g
Đại thanh diệp: 45g
Tất cả tán thành bột mịn luyện mật làm hoàn, mỗi viên hoàn nặng 9g, mỗi một ngày ăn 2 viên hoàn
- Công dụng: thanh nhiệt giải độc - tán phong nhuyễn kiên
- Chủ trị: ngân tiết bệnh thể thông thường, da dày, sừng nhiều
+ “Thanh ôn bại độc ẩm”:
Quảng tê giác (tán bột nhỏ xung phục) 30g
Trang 37173
Tất cả sắc nước uống ngày 1 thang
- Công dụng: thanh doanh lương huyết - thanh nhiệt giải độc
- Chủ trị: vẩy nến thể đỏ da do nhiệt độc thương doanh
+ “Cầm liên địa đinh thang”:
Hy thiêm thảo: 12 - 15g Thương nhĩ tử: 12 - 15g
Thất diệp nhất chi hoa: 20 - 30g Sinh hoàng kỳ: 12g
Sinh cam thảo: 6 - 10g
Sắc ngày 1 thang chia 2 lần uống
- Công dụng: thanh nhiệt - giải độc
- Chủ trị: thể vẩy nến mụn mủ ở tay chân do thấp nhiệt ôn độc
Chương III
BIỆN CHỨNG LUẬN TRỊ BỆNH TIÊU HÓA
VIÊM LOÉT DẠ DÀY TÁ TRÀNG
(Vị quản thống)
Trang 38
174
1 Đại cương
1.1 Theo quan điểm Y học hiện đại:
+ Viêm loét dạ dày - tá tràng, một bệnh lý thường gặp Theo Nguyễn Xuân Huyên (Hà Nội, 2003): tỉ lệ mắc bệnh hàng năm khoảng 5 - 10% dân số thế giới,
ở các nước phát triển tỉ lệ còn cao hơn: khoảng 10% dân số, hàng năm tăng khoảng 0,2% Ở Việt Nam tỉ lệ bệnh chiếm khoảng 26% trong các bệnh nội khoa, đứng hàng đầu về các bệnh đường tiêu hoá (Tạ Long, 1999)
+ Trong những năm gần đây, tỉ lệ mắc bệnh ngày càng tăng bởi cường độ lao động cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế; mặt khác do những tiến bộ của nhiều ngành khoa học nhất là nội soi và xét nghiệm mô học giúp cho việc phát hiện bệnh sớm và chính xác Tuy nhiên việc điều trị hiện nay còn gặp nhiều khó khăn vì nguyên nhân sinh bệnh phức tạp và đa dạng: chế độ ăn không hợp lý, sử dụng thuốc không đúng, rối loạn điều hoà về thần kinh và thần kinh thể dịch Hiện nay giả thuyết được nhiều người công nhận là sự mất cân bằng giữa yếu tố gây loét và yếu tố bảo vệ niêm mạc dạ dày, vì vậy điều trị chủ yếu là làm giảm yếu tố gây loét và tăng cường yếu tố bảo vệ
+ Từ năm 1983, Marshall và Warren đã xác định nguyên nhân chính gây viêm loét dạ dày tá tràng là vi khuẩn Helicobacter pylori (Hp), nên việc điều trị viêm loét dạ dày - tá tràng, đã thu được kết quả khả quan hơn, trong phác đồ điều trị thường có kết hợp từ 2 - 3 loại kháng sinh Tuy nhiên, những kháng sinh này đều phải nhập ngoại và rất đắt tiền, mặt khác khả năng kháng thuốc của trực khuẩn Hp tăng rất nhanh và dao động (5,9 - 46,6%)
1.2 Cơ chế bệnh sinh loét dạ dày - tá tràng:
+ Mặc dù bệnh loét dạ dày - tá tràng được mô tả từ lâu trên lâm sàng, nhưng cho đến năm 1829 tác giả Cruveiheir người Pháp mới bắt đầu nghiên cứu bệnh sinh và có những mô tả tỉ mỉ những tổn thương trên bề mặt niêm mạc dạ dày - tá tràng, bệnh diễn biến mãn tính, có tính chất chu kỳ, bệnh tiến triển nặng lên khi
có rối loạn thần kinh thể dịch hay có rối loạn về chức năng bài tiết, đặc biệt là chức năng bảo vệ niêm mạc dạ dày - tá tràng Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu trên thực nghiệm, hoặc trên lâm sàng; cơ chế bệnh sinh được đề cập đến đa dạng như là:
+ Thuyết tiêu mô của Quinke (1852), của Claude Bernard (1886)
+ Tác nhân gây loét là do acid HCl của Schwatz: “không có acid - không có loét” (Thuyết cơ học của Aschiff -1912)
Trang 39175
+ Thuyết viêm nhiễm của Konjetzny (1925)
+ Thuyết thần kinh - dinh dưỡng của Spiranski (1935)
+ Ngoài các thuyết trên, rất nhiều tác giả còn cho rằng: viêm loét dạ dày - tá tràng còn hình thành do sự tác động của các yếu tố thuận lợi khác như: yếu tố gia đình, vai trò của thuốc lá, rượu, sử dụng thuốc - hoá chất Tuy nhiên, thuyết được nhiều công nhận và được nghiên cứu nhiều nhất để từ đó định hướng phương thức điều trị là thuyết về sự mất cân bằng giữa yếu tố bảo vệ và yếu tố gây loét:
- Yếu tố bảo vệ: các tế bào tiết nhầy tiết ra các chất glucoprotein dạng keo bao phủ bề mặt dạ dày, ngăn cản sự tác động của acid HCl, pepsin xuống phía dưới Bicacbonat được tiết ra bởi các tế bào biểu mô niêm mạc, góp phần duy trì
độ pH của niêm mạc dạ dày - tá tràng vào khoảng 6 - 7,4; trong khi đó pH của dạ dày rất thấp vào khoảng 1,5 - 2,2 Mặt khác sự cung cấp máu, cung cấp oxy của mạng lưới mao mạch niêm mạc, cũng góp phần bảo vệ niêm mạc dạ dày
- Yếu tố tấn công: bình thường acid chlohydric và pepsin tồn tại trong lòng
dạ dày - tá tràng giúp cho quá trình tiêu hoá thức ăn, trong đó acid chlohydric đóng vai trò chính còn pepsin đóng vai trò thứ yếu, pepsin được tiết dưới dạng pepsinogen được hoạt hoá thành pepsin dưới tác dụng của acid chlohydric
- Khi có sự thiếu hụt của một hoặc nhiều yếu tố bảo vệ dẫn tới sự mất cân bằng giữa yếu tố bảo vệ - yếu tố tấn công và dẫn tới viêm loét
- Sử dụng các thuốc steroid và non - steroid làm giảm sự tiết nhầy của niêm mạc
dạ dày, có nghĩa yếu tố bảo vệ bị thiếu hụt dẫn đến tổn thương niêm mạc và gây loét
- Ngược lại, sự tăng cường của yếu tố tấn công đóng vai trò chủ yếu trong loét dạ dày - tá tràng, các biểu hiện hay gặp là sự tăng tiết acid trong dạ dày, hay
do tăng phát triển tế bào viền, tăng tiết gastrin đã làm cho yếu tố bảo vệ mất cân bằng với yếu tố tấn công nên gây loét
+ Từ năm 1983, với việc tìm ra Helicobacter pylori là một trong những nguyên nhân gây loét dạ dày - tá tràng, những nghiên cứu về H pylori đã mở ra một hướng mới về bệnh sinh học của viêm loét dạ dày - tá tràng, trong đó H pylori
làm mất cân bằng giữa yếu tố tấn công và yếu tố bảo vệ
1.3 Chẩn đoán xác định:
+ Theo tài liệu Trung - Tây y kết hợp (Điền Đức Lộc Bắc Kinh, 2002) thì viêm loét dạ dày - tá tràng thường có các triệu chứng:
Trang 40- Chụp X quang có hình ảnh viêm loét dạ dày hoặc tá tràng
+ Chẩn đoán xác định dựa vào nội soi dạ dày bằng ống soi mềm, SOLYMPUS; xét nghiệm mô bệnh học, giúp cho chẩn đoán xác định
2 Biện chứng luận trị theo Y học cổ truyền
2.1 Phạm trù vị quản thống:
+ Vị quản thống là một phạm trù của các chứng bệnh đau thượng vị không
có chu kỳ, do khí huyết không điều hoà, tỳ vị bị tổn thương gọi là vị quản thống,
vị thống
+ Triệu chứng: đau thượng vị kèm theo rối loạn tiêu hoá là chính và thường gặp là đầy trướng bụng trên, ợ chua, có thể đau bụng dưới, đầy chướng Bệnh hay tái phát, có lúc đau liên miên, có lúc có chu kỳ, điều trị khó khỏi, có thể nôn
ra máu, đại tiện phân đen, nội soi có hình ảnh viêm loét dạ dày
+ Liên hệ với YHHĐ: chứng vị thống nằm trong viêm dạ dày mãn và cấp tính, loét ống tiêu hoá, RLTK chức năng hoặc K dạ dày hoặc các bệnh lý vùng tụy mật gan đều có thể đau vùng thượng vị, đều có thể tham khảo vị thống để biện chứng luận trị
+ Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh:
Khi mới phát đa phần là thực chứng, bệnh chủ yếu ở dạ dày hoặc giữa gan và
dạ dày, bệnh có thể ảnh hưởng đến gan lâu ngày chuyển thành hư chứng Thường bệnh tại tỳ nhưng cũng liên quan đến hư thực thác tạp bởi vì tỳ vị đồng bệnh hoặc can tỳ đồng bệnh Người ta đều thống nhất nguyên nhân tà phạm vị, ngoại
tà trong đó có hàn tà xâm nhập vào vị nhất là mùa hè, thử nhiệt hoặc thấp trọc tà phạm vị hoặc giữa các mùa (chuyển mùa) hay bị bệnh do các tà khí xâm phạm vào vị làm tổn thương vị khí dẫn đến khí có ngưng trệ, nặng thì hoá giáng thất thường dẫn đến đau thượng vị Nếu đau do hàn ngưng, đa phần đau dữ dội; nếu
do thử đau tức nóng rát; nếu do thấp trọc đau căng tức nặng nề Tùy theo nguyên nhân khác nhau mà có triệu chứng lâm sàng khác nhau
+ Ẩm thực thất tiết chủ yếu do ăn uống vì vị khai khiếu ở miệng, nên bụng đau, ngại ăn, khi ăn uống nóng lạnh thất thường hoặc thức ăn sống lạnh làm tổn thương