1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài giảng kinh tế tài nguyên nước

84 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 2,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nói chung, những vấn đề này của phân bổ, phân tích chính sách, và phân tích dự án, cũng như những thứ khác, cần đến sự hiểu biết các hậu quả hành vi của mọi người và các doanh nghiệp, cá

Trang 1

BỘ MÔN KINH TẾ

*****

BÀI GIẢNG KINH TẾ TÀI NGUYÊN NƯỚC

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

Chương 1: Giới thiệu 4

1.1 Các kiểu quyết định 4

1.2 Cải thiện cung và quản lý cầu 5

1.3 Các lực tương lai 5

1.4 Kinh tế, Môi trường và Bình đẳng 5

Chương 2: Phân bổ tối ưu và Phát triển 7

2.1 Chi phí cung cấp nước 7

2.2 Hiệu quả cho cơ quan sử dụng-nước đơn lẻ 9

2.3 Hàm lợi ích ròng cận biên tổng hợp và lợi ích ròng cận biên 16

2.4 Hiệu quả kinh tế (tổng hợp) 18

2.6 Chi phí cơ hội 19

2.7 Hiệu quả kinh tế khi có mặt các dòng hồi quy 19

2.8 Hiệu quả kinh tế với phi-cạnh tranh 20

2.9 Hiệu quả kinh tế trung tính 21

Chương 3: Hiệu quả động 23

3.1 Tỷ lệ ưa thích theo thời gian 23

3.2 Lý thuyết nằm-bên dưới 24

3.3 Giá trị thời gian của tiền 25

3.4 Giá trị thời gian xã hội của tiền là gì? 26

3.5 Cải thiện động và hiệu quả động 26

3.6 Các độ đo khác 28

3.7 NPV đối chọi với những thứ khác 28

3.8 Hiệu quả/Cải thiện động là trung tính hay tổng hợp 29

3.9 Hiệu quả động: Biểu diễn đồ thị hai-giai đoạn 29

Chương 4: Các thể chế xã hội 31

Phần I: Kinh tế học thể chế 31

4.1 Các dạng quyền sở hữu 31

4.2 Bàn tay vô hình và Định lý thứ nhất của Kinh tế Phúc lợi 32

4.3 Thất bại thị trường 32

Trang 3

Phần II: Các thể chế pháp luật 34

• Luật nước 34

• Luật nước mặt: 35

• Luật nước ngầm 36

Chương 5: Phân tích chính sách 38

5.1 Hai dạng phân tích chính sách: Lý thuyết và thực nghiệm 38

5.2 Phân tích chính sách thực nghiệm 38

5.3 Đo lường thặng du người tiêu dùng và nhà sản xuất 39

5.4 Chính sách phân phối-giá (Price-Rationing Policy) 40

5.5 Chính sách phân phối-khối lượng 41

5.6 Chính sách dịch chuyển-cầu 42

5.7 Chính sách dịch chuyển-cung 42

5.8 Nghiên cứu tổng quan và phân tích các kiểu chính sách khác 43

5.9 Kết hợp NB vào NPV cho các chính sách động học 43

5.10 Tác động kinh tế thứ cấp 44

Chương 6: Phân tích Chi phí – Lợi ích 45

6.1 Cơ sở nền tảng của chính sách 45

6 CBA là nhiều hơn việc chỉ tính toán NPV 46

6.2 Bảng tính với nhu cầu nhập số liệu 47

6.3 Xác định lợi ích và chi phí 48

6.6 Dự án đa-mục tiêu 48

6.7 Sử dụng chi phí thay thế như một thước đo lợi ích 49

6.8 Cung cấp tài chính cho các dự án: các hàm ý cho CBA 50

6.10 Phân bổ chi phí bởi phương pháp các lợi ích còn lại-chi phí khả tách 50

Chương 7: Thương mại hóa nước 52

7.1 Các công cụ thương mại hóa nước 52

7.2 Bề nổi : Giải phóng tài nguyên khỏi các ứng dụng giá trị-thấp 54

7.3 Kinh doanh nước cơ bản và lý thuyết giá trị 55

7.4 Khung giao dịch điển hình 57

7.5 Bảo vệ chống lại các thất bại thị trường 58

7.6 Mặt chìm có được cố định hay không 59

7.7 Quy mô toàn cầu của thương mại hóa 60

Trang 4

7.10.Thách thức nước ngầm 61

Chương 8: Định giá nước 63

8.1 Các thuật ngữ về định giá 63

8.2 Các mục tiêu tập quán của sắp đặt tỷ giá 64

8.3 Thực hành hạch toán 64

8.4 Lý thuyết kinh tế về định giá 65

8.5 Chi tiết hóa tỷ giá dung tích theo mùa 69

Chương 9: Phân tích cầu 70

9.1 Tiếp cận “cầu nước” 70

9.2 Khai triển điểm 71

9.3 Quy cho phần dư 71

9.4 Phân tích hoạt động và quy hoạch toán học 71

9.5 Các hàm sản xuất 72

9.6 Hồi quy thống kê trực tiếp 73

9.7 Các kỹ thuật đánh giá giá trị phi-thị trường 73

9.8 Đánh giá giá trị ngẫu nhiên 73

9.9.Định giá hưởng lạc 74

9.10.Chi phí đi lại 74

9.11 Cầu nước sinh hoạt 74

9.12 Cầu nước công nghiệp và thương mại 75

9.13 Cầu nước nông nghiệp 76

Chương 10: Phân tích cung 78

10.1 Vai trò của thông tin cung 78

10.2 Quá trình chế biến nước 79

10.3 Xây dựng khái niệm chi phí 80

10.4 Các phương pháp cơ bản ước lượng cung 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

Chương 1: Giới thiệu

1.1 Các kiểu quyết định

Làm-quyết định liên-quan-tới-nước xảy ra ở các mức khác nhau, trên cả những vũ đài chính phủ

lẫn phi-chính phủ Được áp dụng một cách đúng đắn, kinh tế học có thể trợ giúp cho đa số những

quyết định này Đối với một số quyết định, thông tin được đề xuất bởi kinh tế học sẽ là tối cao

trong việc tạo khung cho lựa chọn Trong các quyết định khác, nó có thể hữu ích nhưng không

nhất thiết phải là trụ cột (pivotal)

Trong một số lựa chọn trọng yếu gặp phải trong quy hoạch nước, những người làm-quyết

định cố gắng sàng lọc một hệ thống quyền sở hữu hoặc một học thuyết pháp luật để chỉ dẫn cho

sử dụng nước tương lai Đó thường là các quyết định cấp quốc gia hoặc cấp bang/tỉnh Mặc dù các

học thuyết pháp luật đã tồn tại trước đây có xu hướng được bén rễ sâu sắc, sự khan hiếm tăng cao

chưa-từng-có (ever-mounting) bị đốt cháy bởi cầu không ngừng tăng có một cách để tiết lộ những

điều còn thiếu thốn trong các quy tắc hiện có Do vậy các đạo luật luôn dường như cần cải thiện

tăng thêm và đôi khi cần phải viết lại hoàn toàn Kinh tế học có thể giúp cho chúng ta hiểu các hậu

quả của các quy tắc thay thế nhau sao cho có thể thực hiện được các lựa chọn tốt hơn

Trong các trường hợp khác, các bên khác nhau có thể cất lên những tiếng nói về các tuyên

bố mâu thuẫn nhau với tài nguyên nước hạn chế Bất kể cuộc tranh cãi được tiến hành trên tòa án,

trong các cơ quan lập pháp, hoặc trước một hãng thông tấn, việc giải quyết tranh cãi đòi hỏi một

phân chia các tài nguyên sẵn có Một năng lực then chốt của kinh tế học là có khả năng nói về

phân bổ tối ưu giữa các bên cạnh tranh Đôi khi phân chia này được chi phối (governed) một cách

gián tiếp bởi sắp đặt giá nước và cho phép những người sử dụng nước tiêu dùng cái mà họ muốn,

khi mà họ thanh toán các hóa đơn của họ Định giá là nhiệm vụ kinh tế gần gũi một cách mật thiết,

do vậy chỉ dẫn kinh tế học là khá mạnh ở đây

Một việc làm-quyết định liên-quan-tới-nước nào đó quan tâm tới phát triển cơ sở hạ tầng Ở

đây, chúng ta quan tâm tới kiểu cơ sở hạ tầng nào cần tiến hành Khi đã biết các quỹ công cộng bị

hạn chế, các dự án nào cần được xây dựng, kích thước của chúng cần là bao nhiêu, và ai phải thanh

toán cho chúng? Công cụ kinh tế có tên gọi là phân tích chi phí-lợi ích đã được xây dựng cho chính

mục tiêu phân tích những điều như vậy Trong khi công cụ này trước tiên được áp dụng cho các

dự án được quốc gia tài trợ, nó cũng có khả năng lớn được áp dụng cho các dự án bang và địa

Trang 6

phương cũng như các đề xuất dự án trái-với-thông lệ (unconventioanal) (Như một ví dụ đơn giản,

cơ quan quản lý nước có nên thu thập và phân phối miễn phí các vòi tắm hoa sen bảo-tồn-nước?)

Nói chung, những vấn đề này của phân bổ, phân tích chính sách, và phân tích dự án, cũng

như những thứ khác, cần đến sự hiểu biết các hậu quả hành vi của mọi người và các doanh nghiệp,

các nhân tố quyết định của giá trị, các cách thức theo đó các quyết định thay thế nhau hình thành

lên tương lai của chúng ta

1.2 Cải thiện cung và quản lý cầu

Mặc dù việc phân nhánh (dichotomy) thường làm lu mờ nền tảng có giá trị nằm ở giữa, việc phân

biệt giữa nâng cung và quản lý cầu vẫn là một phân biệt hữu ích Bất cứ khi nào cầu nước vượt

quá cung nước, sẽ có hai phương pháp tổng quát để đề cập vấn đề1 Chúng ta có thể hoặc là thực

hiện các phương án thay thế lẫn nhau được thiết kế để nâng cao cung cấp nước hoặc theo đuổi các

tiếp cận kiểm soát (quản lý) cầu Phương pháp thứ nhất khai thác một nguồn nước khác theo một

cách nào đó

1.3 Các lực tương lai

 Tăng trưởng dân số vẫn tiếp tục và cầu nước tăng lên => tái phân bổ

 Tiến bộ và phát triển kinh tế cũng sẽ gây ra cầu nước bổ sung Khi các thành viên của dân số

cố định trở nên giàu có hơn do phát triển kinh tế, cầu nước tập thể của họ sẽ tăng lên

 Cầu hướng tới môi trường cho nước tăng nhanh trong các thập kỷ gần đây và có thể tiếp tục

như vậy Tới một phạm vi lớn, các cầu này yêu cầu nước giữ nguyên tại chỗ, hoặc trong dòng

chảy, hoặc dưới lòng đất, và điều mà nước ở tại chỗ tương đối không bị hư hại

 Cung cấp nước không tăng lên; trên thực tế, cung bị co lại do dân số và cạn kiệt nước ngầm

Tác dụng phụ sẽ khuếch đại các hậu quả của cầu nước gia tăng Khan hiếm sẽ chắc chắn tăng lên

 Khí hậu toàn cầu ấm nóng có nhiều triển vọng sẽ tăng cầu nước

 Sức khỏe cộng đồng quan tâm tới việc liên quan đến chất lượng và an ninh nước uống tiếp tục

làm tăng chi phí của nước và vận hành xử lý nước thải

 Giá năng lượng sẽ tăng vì khan hiếm gia tăng của các nhiên liệu hóa thạch có thể cạn kiệt

1.4 Kinh tế, Môi trường và Bình đẳng

Nước được sử dụng cho rất nhiều thứ Chúng ta sử dụng nước trong nhà ở, các doanh nghiệp, và

các ngành công nghiệp của chúng ta Chúng ta vận tải hàng hóa trên mặt nước Chúng ta cung cấp

Trang 7

nước cho mùa màng của chúng ta và cho chăn nuôi của chúng ta Chúng ta bơi lội trong nước, câu

cá trong nước, và giải trí trong nước Chúng ta cảm thấy vui vẻ khi nhìn và nghe dòng nước chảy

qua Chúng ta đổ chất thải của chúng ta vào nước, dựa vào các lực tự nhiên để vận tải và hấp thụ

những thứ mà chúng ta thải ra Đánh bắt cá thương mại, thậm chí đánh bắt xa bờ, phụ thuộc vào

khả năng có nước ngọt Nước là chất liệu sống còn (vital) để duy trì môi trường, và môi trường

một cách tương tự là sống còn cho hỗ trợ cho loài người Mặc dù hiểu biết của chúng ta vẫn còn

chưa đầy đủ về phạm vi mà sự phụ thuộc của loài người vào môi trường và vai trò của nước trong

đó, chúng ta đã biết rằng nhiều điều đang bị đe dọa (at stake)

Trang 8

Chương 2: Phân bổ tối ưu và Phát triển

Phần I: Lý thuyết Kinh tế Căn bản

2.1.Chi phí cung cấp nước

Nhiệm vụ của cơ quan quản lý nước (utility) hoặc hạt quản lý nước (district) là xử lý nước

thô, nước chưa-chế biến, hoặc nước tự nhiên từ một dòng chảy mặt _ như sông, suối, hoặc hồ _

hoặc một tầng ngậm nước ngầm, và sau đó chuyển nước tự nhiên thành nước bán-lẻ giao cho các

khách hàng Một số nhà cung cấp mua một phần nước đã chế biến từ một nhà cung cấp khác Một

số nhà cung cấp sử dụng nước tự nhiên tử cả các nguồn nước mặt lẫn nước ngầm Các nhiệm vụ

chuyển đổi có thể là ít hoặc nhiều, tùy thuộc vào những khác biệt tồn tại giữa (các) nguồn nước tự

nhiên và các thuộc tính mong muốn của nước bán-lẻ Thậm chí hành động trữ nước trong một hồ

chứa thể hiện một chuyển đổi, có nghĩa là nước không còn 100% tự nhiên nữa

• Hình thức: tổ chức cung cấp nước chế biến

• Sở hữu: tư nhân hoặc nhà nước

• Hoạt động: lợi nhuận hoặc phi lợi nhuận

• Khách hàng: người sử dụng tưới,thương mại, hộ gia đình, hoặc các trang thiết bị được sở

hữu công cộng

• Đặc điểm: Khó cạnh tranh do chi tiêu cơ sở hạ tầng phân phối nước và O&M cao

• Nhiệm vụ của cơ quan quản lý nước là xử lý nước thô, nước chưa-chế biến, hoặc nước tự

nhiên từ một dòng chảy mặt Các nhà cung cấp mua một phần nước đã chế biến từ một

nhà cung cấp khác

• Đối với các tổ chức cung cấp nước tưới:

• khác biệt liên quan tới vị trí của nước, họ bơm và chuyển tải nước tới cổng ruộng

• Cần có chi phí O &M, quản lý hành chính cho quy hoạch, quản lý, kế toán, làm hóa

đơn, và các quan hệ khách hàng…

• So với việc cung cấp nước cho tưới, chi phí quản lý hành chính đô thị lớn hơn do

những phức tạp xử lý, tăng áp lực, độ tin cậy, và khối lượng lớn những người tiêu dùng

Trang 9

Hình 2.1 có chứa một tầm nhìn chung của một hàm tổng chi phí như vậy Tổng chi phí được

đọc trên trục tung bên trái Được thể hiện trong đường cong cụ thể này là một vài đặc điểm có thể

không thích hợp cho mọi tình huống:

 Một điểm tiêu chuẩn hóa phù hợp với thực hành thường gặp là, hàm C W  không kết hợp chi

phí cho nước tự nhiên Nếu chúng ta muốn kết hợp các chi phí này, đồ thị của sẽ xoay lên

phía trên bởi một lượng thích hợp

 Được gắn vào và ẩn tàng trong hàm tổng chi phí là khái niệm cho rằng mỗi mức có được

bằng cách sử dụng các kỹ thuật chi phí-hiệu quả nhất sẵn có Điều này là căn bản cho tất cả các

hàm tổng chi phí

 Chi phí cung cấp 0 đơn vị nước là 0 đô la Điều này suy ra tất cả chi phí được miêu tả như là

chi phí khả biến (variable costs) trên Hình 2.1 Tức là, nhà cung cấp có thể kiểm soát đầy đủ trên

mọi chi tiêu tiềm năng ở chỗ không có các bổn phận thiết lập-trước Đây không là một mô tả thích

hợp cho các tình huống trong đó nhà cung cấp nước đã được thiết lập và có chi phí cần phải bù

đắp thậm chí khi thiếu vắng các phân phối nước Các chi phí được thiết lập trước như vậy có tên

là chi phí cố định (fixed costs) trong kinh tế học Chúng được tạo ra từ các cam kết không thể đảo

 

C W

W

Trang 10

 Khi lượng nước phân phối tăng lên, tổng chi phí tăng ngặt Điều này là căn bản

 Khi phân phối nước tăng từ mức 0, chi phí tăng đôi chút nhanh hơn so với các mức trung gian

(tức là từ khoảng 267 triệu gallons tới gần 700 triệu gallons _ ND) của phân phối nước Điều này

được minh chứng một cách rõ ràng nhất bằng cách khảo sát đường cong thể hiện chi phí cận biên

(marginal costs), Chi phí cận biên được đọc trên trục tung bên phải Về mặt định nghĩa,

chi phí cận biên là đạo hàm của tổng chi phí theo ; nó chỉ ra độ dốc của hàm tổng chi phí Chi

phí cận biên giảm qua dãy các phân phối nước thấp (0 – 267 triệu gallons), được cho là vì phân

phối tăng thêm cho phép nhà cung cấp sử dụng đầy đủ hơn các khoản vốn (như các nhà máy bơm,

các đường ống dẫn nước, và các phương tiện xử lý) và vì một số hàm quản lý hành chính không

tăng tỷ lệ với phân phối nước

2.2.Hiệu quả cho cơ quan sử dụng-nước đơn lẻ

Một công ty tạo ra khối lượng y nào đó của đầu ra (gạo, điện, đường sá, bánh hamburger, …) trong

một giai đoạn thông thường sẽ có công suất kỹ thuật sử dụng các khối lượng thay thế nhau của

nước, w, và các đầu vào khác trong một giai đoạn để sản xuất ra y Lượng w được sử

dụng cho mỗi đơn vị của y thường không được cố định bởi một công nghệ sẵn có Thay vào đó,

có các mức độ thay thế khác nhau giữa các đầu vào Ví dụ, ít w hơn có thể được sử dụng để sản

xuất cùng một khối lượng y nếu có nhiều (các) đầu vào khác hơn được sử dụng

Công nghệ hiện có cho sản xuất y bởi một công ty có thể được chỉ ra bởi hàm sản xuất, f,

cho biết có thể sản xuất bao nhiêu y từ các tổ hợp thay thế lẫn nhau của nước và các đầu vào khác:

Trang 11

Để mường tượng ra điều này, hãy xét tiết diện điển hình được cung cấp trong đồ thị trên của Hình

2.2 trong đó các đã được cố định tại các mức tùy ý Nếu ta thay đổi các mức đầu vào khác,

đường cong của Hình 2.2 sẽ dường như dịch chuyển, nhưng hình dáng của nó có xu hướng vẫn

được giữ nguyên Đạo hàm của đầu ra theo nước được thể hiện trong đồ thị dưới Tương tự các đồ

thị cũng được áp dụng cho tất cả các đầu vào khác Các đặc điểm điển hình được thể hiện như sau:

1 Sản phẩm cận biên dương, được xác định như đạo hàm bậc-nhất dương , xuất

hiện cho tới điểm , bên ngoài điểm đó sử dụng nước thêm vào sẽ làm giảm sản lượng

2 Giao hoàn gia tăng theo quy mô, được xác định như đạo hàm bậc-hai dương , xảy

ra cho tới điểm , và giao hoàn giảm dần theo quy mô tồn tại bên ngoài

Trang 12

Cả hai đặc điểm này trở thành quan trọng cho tối đa hóa lợi nhuận Từ đặc điểm đầu tiên, sử dụng

nước trên mức không thể tối đa hóa lợi nhuận vì nó sẽ hạ thấp sản lượng trong khi tăng chi phí

nước Từ đặc điểm thứ hai, sử dụng nước dưới không thể tối đa hóa lợi nhuận trong đa số các

tình huống vì các điều kiện bậc-hai thông thường cho tối đa hóa có thể không được tuân thủ Biểu

diễn điểm sau một cách trực giác hơn, nếu lợi nhuận là dương cho các mức sử dụng nước < , thì

thậm chí lợi nhuận lớn hơn có thể đạt được bằng cách tăng w

Kết hợp những phần tử này, công ty phải giải bài toán

Trang 13

Mỗi một trong các cũng như , tạo thành một biến quyết định cần được tối ưu hóa Một điều

kiện bậc-nhất có thể có được cho mỗi quyết định bằng thủ tục tính toán thông thường.2 Tập trung

vào quyết định nước và giả thiết sẽ là tối ưu nếu sử dụng một khối lượng nước khác không, chúng

ta lấy đạo hàm bậc nhất của phương trình lợi nhuận ở trên và đạt nó bằng không Kết quả,

hoàn toàn chỉ ra khối lượng tối đa-lợi nhuận của nước cần phải sử dụng Nếu thành phần

có chứa bất kỳ thành phần nào, như nó nói chung sẽ như vậy, thì phương trình (2.4) và (2.5),

sẽ cần được giải như một hệ phương trình đồng thời để nhận được một nghiệm tường minh cho w

tối đa-lợi nhuận

Do vậy, từ viễn cảnh của công ty khối lượng hiệu quả của nước để sử dụng được cho bởi

những điều kiện bậc-nhất kết hợp (2.4) và (2.5) này Khi hàm f đã được biết, một tiếp cận đại số

hữu ích là loại bỏ tất cả khỏi (2.4) bằng cách sử dụng giá thị trường đã biết của mỗi và lời

giải đồng thời cho (2.5) để xác định mỗi , với khả năng để mỗi biến đó phụ thuộc hàm vào w

Thế những kết quả này vào (2.4) ta nhận được điều kiện (2.4) xét lại chỉ chứa và

Mức hiệu quả của sử dụng nước được chỉ ra bởi (2.4) – (2.5) là phụ thuộc vào giá đầu ra,

năng suất cận biên của nước theo các thành phần của sản lượng y, và chi phí cận biên của nước

Để minh họa vai trò của mỗi nhân tố xác định, hai đồ thị của Hình 2.3 cung cấp tương tự đồ thị

của phương trình (2.4) Đồ thị trên miêu tả hàm sản xuất điển hình và hàm sản phẩm cận biên tạo

thành, , một khi các mức của tất cả các đầu vào khác đã được chọn và được thế vào f Chú

ý trục tung của đồ thị trên được tính theo đơn vị của y Trong đồ thị dưới, các đơn vị đã được

chuyển đổi thành $ bằng cách đầu tiên nhân hàm sản phẩm cận biên với giá cố định của y Hàm

giá trị sản phẩm cận biên (VMP) tạo thành (vế trái của [2.4]) được vẽ đồ thị trong đồ thị dưới cùng

với hàm chi phí cận biên (MC) (vế phải của [2.4]) Lựa chọn hiệu quả cho công ty này là

Chú ý có thể thay đổi như thế nào để phán ứng với những thay đổi trong các nhân tố xác

định của nó Một thay đổi công nghệ hoặc một thay đổi trong sử dụng các đầu vào khác có thể

dịch chuyển đường cong VMP lên phía trên, do vậy làm tăng Giống như vậy, một gia tăng

Trang 14

trong sẽ làm tăng Cuối cùng, nếu chi phí cận biên của nước giảm xuống (dịch chuyển xuống

phía dưới), sẽ được tăng lên

Điều kiện bậc-nhất (2.4) cũng có thể được thao tác để đạt được cầu của công ty đối với nước

_ một khái niệm quan trọng trong kinh tế học tài nguyên nước Trong trường hợp của một công ty

đơn lẻ, hàm cầu nước nói cho chúng ta biết sử dụng nước mong muốn của công ty thay đổi như

thế nào để phản ứng lại với giá trị của nước Thế giá trị của nước, p, cho chi phí nước cận biên

trong (2.4), ta nhận được

là một mối quan hệ hàm số giữa và p Thế giá hiện tại của y (hoặc như một ví dụ khác, giá

tương lai được dự kiến của y) loại bỏ một biến, để lại cho chúng ta với một phương trình theo hai

biến là hệ thống thông thường có thể lấy nghịch đảo/giải cho w Lời giải này là cầu đối với nước

của công ty,

là điều được mô tả trên Hình 2.4 sử dụng truyền thống kỳ cục của các nhà kinh tế trong việc đặt

biến giá trên trục tung Trong trường hợp các công ty tối đa-lợi nhuận, độ dốc đi xuống của hàm

cầu là một hậu quả của việc giảm năng suất cận biên của nước (tức là, giao hoàn giảm theo quy

mô) qua dải thích hợp của w Vì đó không phải là tối ưu cho công ty nếu chọn sử dụng nước bên

ngoài khoảng , đường cầu không tồn tại bên ngoài dải này

Hiệu quả cho người tiêu dùng đơn lẻ

Phân tích các lựa chọn hiệu quả cho những người tiêu dùng là có vấn đề hơn so với cho các công

ty vì những người tiêu dùng không cố gắng thúc đẩy cái gì đó hữu hình Như lợi nhuận Những

người tiêu dùng khác nhau có các thu nhập khác nhau và các ưa thích khác nhau về các hàng hóa

mà họ có thể mua Nước là một trong những hàng hóa này

Trang 15

Hình 2.4 Cầu người sản xuất

Lý thuyết người tiêu dùng có tính sống còn là ưa thích của người tiêu dùng về tất cả các hàng

hóa có thể được cô đọng lại thành một hàm tiện ích (utility function), là điều phụ thuộc vào khối

lượng của mỗi hàng hóa được tiêu dùng: Trong lý thuyết tập trung-vào-nước

của chúng ta, một điều xứng đáng là nhiều hàng hóa quan trọng x sẽ là các thay thế nước theo một

cách nào đó trong khi các khác sẽ liên quan tới nước như một hàng hóa bổ sung (ví dụ kích

thước bề bơi hoặc diện tích đồng cỏ)

Các đặc điểm tổng quát quan trọng cho hình thành cầu và ứng dụng của nó là:

1 Nhiều nước hơn được ưa thích hơn khắp trong dải thích hợp của w

2 Tiện ích cận biên giảm dần (được xác định như là âm của đạo hàm bậc hai, ) xảy ra

trong toàn bộ dải thích hợp của w

3 Bất kỳ biến đổi bảo tồn-trật tự của hàm tiện ích của cá nhân _ như nhân toàn bộ hàm số với ba,

cộng một ngàn vào dó, hoặc lấy logarithm của nó _ cũng là một hàm tiện ích hợp lệ thể hiện

cùng một mẫu hình ưa thích

Một người tiêu dùng tối đa hóa tiện ích của mình tùy thuộc vào ràng buộc thu nhập (I là thu

nhập _ income) khi đó có thể được mô hình hóa như là đối mặt với bài toán hình thức sau:

hoặc sử dụng ký hiệu véc tơ,

Trang 16

Hàm cầu nước của người tiêu dùng:

Đặc điểm thứ hai ở trên hàm ý (cầu dốc xuống), và cũng rõ ràng là (những

gia tăng trong tư nhân làm tăng cầu)

Hình 2.6 Cầu nước của người dùng Việc là dương hay là âm đối với các mức giá hàng hóa biến thiên sẽ phụ thuộc vào các

hàng hóa đó là thay thế hay bổ sung đối với nước

Nếu giá hàng hóa phi-nước (nonwater) đã biết và thu nhập người tiêu dùng được thế vào hàm

cầu nói trên, thì hàm tạo thành có thể được vẽ đồ thị như trên Hình 2.6 Tất cả các điểm nằm trên

đường cầu cá nhân là hiệu quả cho người tiêu dùng theo nghĩa chúng là các lựa chọn nước tối ưu

của người tiêu dùng cho mỗi mức giá nước có thể Nếu chi phí cận biên thịnh hành của một đơn

vị nước là , thì mức tiêu dùng hiệu quả cá nhân duy nhất là

Trong dự tính (contemplate) và sử dụng các đường cầu như đường được miêu tả trên Hình

2.6, các nhà phân tích phải thực hành cẩn thận trong sử dụng thuật ngữ kinh tế học cầu của họ

Các nhà kinh tế đã đồng thuận về thuật ngữ sau để chuẩn hóa thông tin liên lạc Một thay đổi trong

cầu là một dịch chuyển trong đường cầu, như sẽ xảy ra nếu thu nhập tăng hoặc cá nhân cài đặt các

thiết bị tiết kiệm-nước Một thay đổi trong lượng cầu tạo thành một chuyển động dọc theo đường

cầu do một thay đổi trong giá trị nước hoặc giá nước

Trang 17

2.3.Hàm lợi ích ròng cận biên tổng hợp và lợi ích ròng cận biên

Hình 2.7 Tổng hợp đường cầu Giả thiết các công ty hoặc các hộ gia đình kép (hoặc phần nào đó bao gồm cả hai) sẽ nhận

được nước bán lẻ được xử lý một cách tương tự, tái-sử dụng không là mối quan tâm, và tiêu dùng

nước là cạnh tranh, thì việc tổng hợp cầu là vấn đề đơn giản Nếu cầu nước của

người-được-ủy-quyền-hành-động 1 đã được cho trước bởi , cầu nước của

người-được-ủy-quyền-hành-động 2 được cho bởi , và cầu nước của người-được-ủy-quyền-hành-động 3 được cho

bởi , thì tổng cầu của họ, , có thể dễ dàng có được như sau (hình 2.7)

Ước lượng cầu

Trong ứng dụng thực tế, các nhà phân tích có thể kiếm được thông tin hàm cầu thông qua nhiều

phương pháp Tuy nhiên, sẽ là có lợi nếu giới thiểu phương pháp đơn giản nhất, khai triển điểm

(point expansion), để đánh giá đôi khi các hàm cầu có thể đạt được một cách dễ dàng như thế nào,

ít nhất về mặt xấp xỉ Tiếp cận này sẽ được sử dụng thường xuyên trong các chương tới Để hiểu

được nó, cần phải bổ sung thêm khái niệm độ co giãn

Độ co giãn giá của cầu, , được định nghĩa như là thay đổi tỷ lệ phần trăm trong khối lượng

cầu sẽ xảy ra do một thay đổi tỷ lệ phần trăm trong giá:

Trang 18

Vì w được yêu cầu giảm khi p tăng, là âm Tại giới hạn, khi tỷ lệ phần trăm thay đổi trong giá

trở nên nhỏ sao cho chúng ta có thể nói về độ co giãn giá tại một điểm đặc biệt trên hàm cầu, chúng

ta có thể viết

Lợi ích và thay đổi cận biên trong tổng lợi ích

Về mặt thực hành, chúng ta đầu tiên phải đảo ngược hàm cầu (giải cho p) trước khi lấy tích

phân Các tích phân thích hợp cho các dạng độ co giãn tuyến tính và cố định là:

Do vậy, có hai ước lượng khác nhau của tổng lợi ích tùy thuộc vào hàm cầu nào được sử dụng.Điều

này không phải là hàm ý mỗi hàm cầu đều đúng đắn như nhau Mỗi một hàm cầu là một ước lượng

của cầu thực tế, và hàm cầu này là một ước lượng tốt hơn so với đường cầu kia

Có một bài học quan trọng trong sự khác biệt giữa hai thước đo này của tổng lợi ích Diện

tích a + b là $210000 trong khi diện tích a + b + c là vô hạn Thước đo thứ nhất dường như là một

ước lượng quá thấp (underesstimate), và thước đo thứ hai là một ước lượng quá cao (overestimate),

nhưng vấn đề cốt yếu là cả hai thước đo đều tận dụng đường cầu ước lượng ra xa khỏi điểm khai

triển (350000, 3) Điểm khai triển thực tế là điểm xác thực cho đường cầu này Khi chúng ta dịch

chuyển tới các dải p và w xa điểm khai triển, đường cầu ước lượng trở thành không xác thực hơn

và bất kỳ ứng dụng nào của nó cũng đều không đáng tin cậy hơn

Lợi ích ròng và những thay đổi cận biên trong lợi ích ròng

Chúng ta đã có khả năng sử dụng một hàm cầu tổng hợp cho những người tiêu dùng nước của

Little Town vì tất cả các khách hàng nhận được nước bán lẻ đã được chế biến một cách tương tự

từ cùng một phương tiện Khi các vấn đề tài nguyên nước cắt ngang (crosscut) các ngành khác

Trang 19

nhau (nông nghiệp, công nghiệp, hoặc sinh hoạt), các vùng lãnh thổ, hoặc cơ sở hạ tầng, như là

khu chợ (commonplace), việc tổng hợp yêu cầu chúng ta tính tới những khác biệt chi phí cung cấp

nước Một cách cơ bản để thực hiện điều này là dựa vào các hàm lợi ích ròng cận biên (MNB _

Marginal Net Benefit functions) Theo định nghĩa, lợi ích ròng cận biên bằng với lợi ích cận biên

(cầu) trừ đi chi phí cận biên (hầu như là cung):

2.4.Hiệu quả kinh tế (tổng hợp)

Hiệu quả kinh tế tổng hợp MNB được đặt theo cách thông thường Sử dụng nước bởi nhóm

1 được đo lường từ trục tung phía bên trái Sử dụng nước của nhóm 2 được đo lường từ trục tung

phía bên phải, do vậy cần thiết lật (flip) đường MNB của Hình 2.10 và đặt nó tương đối vào trục

phía bên phải của Hình 2.10 Trong khung này, các chuyển động từ trái sang phải dọc theo trục

nước chỉ ra w tăng lên và w giảm đi trong khi duy trì Trong mô hình đồ thị này,

hiệu quả kinh tế tồng hợp được xác định bởi giảo điểm của MNB và MNB Rõ ràng, thiết bị này

chỉ là một thể hiện thực hành cho hai nhóm người sử dụng

Hình 2.10 Phân bổ hiệu quả Tính đúng đắn của những tiếp cận đồ thị này xuất phát từ sự kiện là các diện tích nằm bên

dưới các đường cong MNB là các lợi ích ròng của sử dụng nước Khi lợi ích ròng tổng cộng của

1

2

Trang 20

điều kiện bậc-nhất Giả thiết J nhóm người sử dụng cạnh tranh trên một dòng chảy không có dòng

hồi quy hoặc tái-sử dụng, tối đa hóa tổng giá trị tạo ra bài toán sau đây:

chỉ là ký hiệu mới trong bài toán này, nhưng nó chưa thực sự mới Đó là lợi ích thô nhận

được bởi nhóm người sử dụng j khi nó tiêu dùng đơn vị nước Đây là diện tích bên dưới đường

cầu của nhóm, như chúng ta đã nhận xét Vì các lợi ích ròng (NB) được xác định như phần lợi ích

vượt quá chi phí, có khả năng viết lại bài toán trên là

Khi mà sẽ là tối ưu cho mỗi nhóm nếu nhận một lượng nước nào đó, thủ tục tối ưu Lagrange

(xem phụ lục) sẽ tạo ra các điều kiện bậc-nhất J:

2.6 Chi phí cơ hội

• Chi phí cơ hội của một hành động là giá trị của lựa chọn tốt nhất tiếp theo nhẽ ra có thể

được lựa chọn

• Chi phí cơ hội có thể khác với chi phí tài chính (hoặc chi phí kế toán).hoặc chúng có thể

là như nhau

2.7 Hiệu quả kinh tế khi có mặt các dòng hồi quy

Giả sử dòng hồi quy của nhóm 1 là một hàm số của các ngả lấy nước của nó từ dòng chảy và

được cho bởi Suy nghĩ chút ít có thể đề xuất rằng phải được kỳ vọng (Bạn

có đồng ý không?) Hiệu quả kinh tế khi đó được chỉ ra bởi lời giải cho bài toán sau:

Ràng buộc trong bài toán này ẩn ý cho phép nhóm 1 để sử dụng luồng hồi quy của riêng mình, là

điều không thực tế, do vậy có thể là cần thiết nếu cũng bổ sung thêm ràng buộc vào bài

Trang 21

toán nữa Ở đây, ràng buộc sau bị khử vì nó không tỏ ra không được tuân thủ 3 Xử lý hai điều kiện

bậc-nhất từ bài toán (2.32) cho chúng ta

Kết quả này có thể được mô tả bằng đồ thị bằng cách nhận thấy rằng mẫu số của vế trái tạo

thành một vòng quay của đường cong MNB Quay và các hàm ý của nó được trình bày trên Hình

2.12 Thêm vào việc quay, MNB được dịch chuyển để tính tới khả năng sẵn có của luồng hồi quy

của nhóm 1 Cuối cùng, giá trị cận biên của nước đã hạ xuống khi so sánh với Hình 2.11 vì nước

là ít khan hiếm hơn Khả năng sẵn có của nước có thể tái-sử dụng có nghĩa là các MNB hiệu quả

không còn bằng nhau (phương trình [2.33])

2.8 Hiệu quả kinh tế với phi-cạnh tranh (nonrivalness)

Tầm quan trọng của tính phi-cạnh tranh trong việc vận hành là cầu phi-cạnh tranh phải được

cộng theo chiều thẳng đứng chứ không theo chiều ngang Giả sử các cầu tuyến tính để cho rõ

nghĩa, cộng theo chiều thẳng đứng của hai cầu được miêu tả trên Hình 2.13, và được tương phản

với cộng trong trường hợp các hàng hóa cạnh tranh bình thường Đồ thị trên thể hiện cầu được

cộng cho trường hợp phi-cạnh tranh Hãy ghi nhớ trong đầu rằng cách thức theo đó nước được tiêu

dùng xác định liệu nó có được sử dụng một cách cạnh tranh hay phi-cạnh tranh Do vậy đối với

bất kỳ tình huống đặc biệt nào, chỉ một trong phương pháp cộng sẽ được áp dụng

1

2

Trang 22

Khi đó các kiểu cầu nào là phi-cạnh tranh? Một ví dụ tốt là được được áp dụng cho mục đích

cải tiến đa dạng sinh học Giả sử rằng một loài sên (slug) hoặc rắn (serpent) có nguy cơ diệt chủng

chỉ trong một đoạn sông cụ thể Vì các nguyên nhân khác nhau, một người có thể có một cầu nào

đó đối với việc duy trì sự tồn tại của loài này ngoài việc ăn hoặc bắt nó Các ví dụ bao gồm như

sau:

 Hiểu biết về sự tiếp tục tồn tại của loài này có thể mang lại niềm vui thích

 Cá nhân có thể hưởng được niềm hạnh phúc khi đích thân chứng kiến hoặc chứng kiến trên tv

sự xuất hiện hoặc hành vi thống nhất của loài vật này

 Người ta có thể tin sự hiện diện của loài vật này là một chỉ báo của sức khỏe hệ sinh thái và

quyền lực chung của môi trường để hỗ trợ một cách đáng tin cậy cho loài người

Bất kể nguyên nhân nào, nếu có những con người đánh giá giá trị của sự gìn giữ loài vật này thì

có các lợi ích cận biên gắn với các đơn vị của nước được phân bổ cho việc cứu sống nó Cộng các

lợi ích cận biên này qua tất cả mọi người đánh giá giá trị loài vật này phải được thực hiện theo

chiều thẳng đứng

2.9 Hiệu quả kinh tế trung tính

Trong các thủ tục được áp dụng ở trên, tối ưu hóa lợi ích ròng cho một vùng phần thủy

(watershed) đã được thoàn thành bằng cách sử dụng một đường lợi ích ròng, là đường là tổng của

Trang 23

các đường lợi ích ròng cho các người-được-ủy-quyền-hành-động cá nhân Nếu tất cả các cá nhân

là giống nhau và có cùng các đường cầu, thì việc cộng các lợi ích ròng dường như là khá nhạy

cảm Ở đây không có vấn đề “công bằng _ fairness” để tiến tới Tuy nhiên, trong các sắp đặt thực

tế hơn, các người-được-ủy-quyền-hành-động sẽ là khác nhau, và các lợi ích ròng của họ sẽ là khác

nhau Để thu được hiểu biết sâu sắc, giả sử rằng có hai người với các đường cầu khác nhau, như

trên Hình 2.14, và để cho đơn giản, không có ai có bất kỳ chi phí nào với khoan hút và chế biến

nước Do vậy, MNB = MB cho mỗi cá nhân Nếu tổng lượng nước sẵn có là W, thì hiệu quả kinh

tế tổng hợp yêu cầu rằng cá nhân A nhận được đơn vị nước và cá nhân B nhận được Nguyên

nhân B nhận được nhiều hơn là B đánh giá giá trị của cùng các đơn vị của nước cao hơn so với cá

nhân A Tức là cầu của cá nhân B cao hơn Nhưng B đánh giá giá trị nước cao hơn A vì cá nhân

đó có một ưa thích lớn hơn đối với nước hay là có thu nhập lớn hơn? Trong khi điều này dường

như thuyết phục cho các phân bổ tối ưu để phản ứng lại các ưa thích tương đối đối với nước, việc

cân nhắc mọi người bởi thu nhập tương đối của họ là mong manh (tenuous) hơn, nói về mặt đạo

đức

Hình 2.14 – Hiệu quả kinh tế tổng hợp

A

Trang 24

Chương 3: Hiệu quả động

3.1.Tỷ lệ ưa thích theo thời gian

Giả sử ai đó mà bạn tin tưởng không cần giữ kẽ (reservation) đề nghị bạn lựa chọn sau đây: không

cần ơn huệ (obligation), họ sẽ gửi cho bạn hoặc $100 ngày hôm nay (miễn-thuế) hoặc $100 một

năm sau (cũng miễn-thuế) Bạn sẽ phải chọn trường hợp nào Chỉ có một quy định là bạn phải tiêu

khoản tiền này khi bạn nhận được nó Bạn không thể tiết kiệm hoặc đầu tư khoản đó Một cá nhân

điển hình đối mặt với một lựa chọn như vậy sẽ chọn nhận tiền ngày hôm nay vì tỷ lệ ưa thích theo

thời gian cá nhân (private rate of time preference) là sao cho bây giờ quan trọng hơn ngày mai

Bây giờ điều gì xảy ra nếu lựa chọn là giữa $100 ngày hôm nay và $150 môt năm sau? Hãy

nhớ rằng bạn hoàn toàn tin tưởng cá nhân này Thậm chí nếu cá nhân đó chết vào một năm sau,

bất động sản của họ sẽ tự đông chuyển cho bạn $150 nếu đó là lựa chọn mà bạn đưa ra Nhiều

người đối mặt với những tùy chọn này sẽ lựa chọn nhận $150 vào năm sau, mặc dù một số có thể

muốn nhận $100 bây giờ

Chúng ta có thể tiếp tục những thí nghiệm này cho tới khi chúng ta thu hẹp vào một con số

x sao cho bạn bàng quan một cách xấp xỉ giữa $100 ngày hôm nay và $100 + $x sau một năm Vì

tương lai đưa ra ít hơn $100 + $x, bạn ưa thích $100 ngày hôm nay Vì tương lai đưa ra nhiều hơn

$100 + $x, bạn ưa thích tiền tương lai Những người khác nhau sẽ các khối lượng x khác nhau vì

nhiều lý do Bạn có thể kỳ vọng sẽ ở trong những tình huống tài chính tốt hơn một năm sau, do

vậy một đô la ngày hôm nay có thể tạo ra tiện ích nhiều hơn so với một đô là sau một năm Ngày

mai bạn có thể sẽ chết, hoặc trật tự xã hội có thể sụp đổ và trả lại những đồng đô là không có giá

trị Con người chúng ta thấy rằng ngày hôm nay là hữu hình hơn so với ngày mai Chúng ta mong

muốn nhiều hơn vào hàng hóa ngày hôm nay Những người khác nhau đánh giá những kiểu vật

chất này khác nhau bên trong các cấu trúc ưa thích cá nhân của họ Bất kể x nào cho bạn, chính tỷ

lệ ưa thích thời gian hàng năm của bạn được biểu diễn như một tỷ lệ phần trăm; tỷ lệ ưa thích thời

gian hàng năm của bạn là x phần trăm Đây là tham số then chốt cho phân tích động học cá nhân

Nó cho phép bạn xoay chuyển vấn đề táo-với-cam của lợi ròng-bây giờ đối chọi với lợi

ích-ròng-sau này thành so sánh táo-với-táo

Giả sử tỷ lệ ưa thích thời gian của bạn là 15 phần trăm và bạn kỳ vọng nó sẽ giữ lại ở mức

15 phần trăm trong năm năm tiếp theo Giả thiết bạn có cơ hội lắp đặt một bòi hoa sen tiết

kiệm-nước với giá $20 Dựa trên số liệu được cung cấp, bạn dự đoán một cách hợp lý rằng vòi hoa sen

này sẽ tiết kiệm cho bạn $5 trong chi phí nước và năng lượng mỗi năm trong năm năm tiếp theo

Trang 25

với với lợi ích $5 đầu tiên xảy ra một năm từ bây giờ Sau năm năm, bạn kỳ vọng đơn vị sẽ thất

bại theo nghĩa nó sẽ không còn tạo ra bất kỳ tiết kiệm nước hoặc năng lượng nữa Giả thiết không

có các tác động khác, bạn có lắp đặt sản phẩm này hay không? Biết tỷ lệ ưa thích thời gian của

ban, bạn có thể cân nhắc một cách thành công và cộng thêm lợi ích ròng hàng năm của bạn để đạt

tới một quyết định Các cấu phần của tính toán này được thu thập trong Bảng 3.1, trong đó người

ta chỉ ra rằng đây không là một mua sắm đáng giá cho bạn

3.2.Lý thuyết nằm-bên dưới (Underlying Theory)

Bây giờ việc xây dựng (lý thuyết) sâu sắc sẽ kiểm tra ưa thích thời gian (time preference) sâu hơn

một chút Hình 3.1 chứa một mô hình hai-giai đoạn đại diện của đánh-đổi cá nhân thông thường

(odinary) giữa của cải năm 1 và năm 2 Các giai đoạn khác được bỏ qua như một sự đơn giản hóa

năm , là điều tạo ra cùng một tổng phúc lợi cho cá nhân này Nói theo cách khác, người này

bàng quan giữa tất cả các điểm trên đường cong này Khi hỏi ý kiến ưa thích cá nhân của chúng ta

để kiểm tra khái niệm này, mỗi người trong chúng ta nói chung sẽ đồng ý rằng chúng ta có thể

“bàng quan” (break even) về những giảm sút nhỏ trong tiền bạc mà chúng ta hưởng trong năm 1

nếu chúng ta nhận được một gia tăng chấp nhận được trong tiền bạc sang năm Vì nguyên nhân

này, đường bàng quan có một độ dốc âm Các đường bàng quan khác (quả thực nhiều vô hạn) có

thể được vẽ cho chính cá nhân này, vì có một đường bảng quan phân biệt cho mỗi mức của phúc

lợi hai-giai đoạn của cá nhân này Một đường bàng quan thêm vào cũng được vẽ trên Hình

3.1 Vì đường thêm vào liên quan tới các mức giá trị-cao hơn so với đường đậm-nét (bold), nó tạo

ra tổng phúc lợi lớn hơn Khi mọi thứ khác bằng nhau, cá nhân này muốn nằm trên đường bàng

 $1

 $2

 I2

Trang 26

quan cao nhất (xa nhất so với gốc tọa độ của đồ thị) có thể, nhưng bị giới hạn bởi thu nhập, hiểu

biết, và nhiều ràng buộc kinh tế thích hợp khác

Giả sử cho trước tất cả các cơ hội cơ bản, cá nhân này chọn điểm A trên Hình 3.1 vì chúng

không thể đạt được tổng phúc lợi cao hơn Lựa chọn này, giữa những thứ khác, là một thể hiện của

các mong muốn của cá nhân này cho việc sử dụng tiền năm nay đối chọi với năm sau Có một sự

đánh-đổi cần phải được làm, và đó là một đánh-đổi tâm lý liên quan tới ưa thích riêng của một

người Theo định nghĩa, tỷ lệ ưa thích thời gian cá nhân của người này, d, là âm của độ dốc của

đường tiếp xúc (đường rời nét) với đường bàng quan, được đo lường tại điểm A, trừ đi 1 Tức là,

d = – độ dốc – 1 Đại diện của tỷ lệ ưa thích thời gian này là hữu ích vì nó chỉ ra tỷ lệ này phụ

thuộc như thế nào vào lựa chọn Các dịch chuyển tới các điểm bàng quan theo phía phải và xuống

dưới điểm A hạ thấp tỷ lệ ưa thích thời gian được hàm ý của người này Các dịch chuyển sang trái

và lựa chọn ao hơn làm tăng tỷ lệ ưa thích thời gian của người này Hình 3.1 thể hiện rằng tỷ lệ ưa

thích thời gian của một người không là một tham số cố định Nó là một hậu quả của các tùy chọn

và ưa thích của một người Khi các tùy chọn và ưa thích này thay đổi, một người có thể tạo ra các

quyết định khác nhau và tiết lội một tỷ lệ ưa thích thời gian khác

3.3.Giá trị thời gian của tiền

Các thị trường tài chính có thể có một tác động khủng khiếp lên tỷ lệ ưa thích thời gian của một

người Sự tồn tại của các thị trường tài chính có nghĩa là những người khác nhau có một cơ chế để

Trang 27

tạo ra những cơ hội win-win từ các tỷ lệ ưa thích thời gian khác nhau của họ Điều này được thực

hiện bằng cách giao dịch truy cập tới của cải hiện tại và tương lai _ là điều mà chúng ta gọi là vay

và cho vay Giả sử cá nhân được đại diện trên Hình 3.1 có thể vay hoặc cho vay tiện với một tỷ lệ

lãi suất nhỏ hơn tỷ lệ ưa thích thời gian của họ Người này khi đó có thể chuyển đổi điểm A thành

bất kỳ tổ hợp nào trên đường đậm-nét đi qua điểm A Các hậu quả này có hai-mặt, với

mặt thứ hai quan trọng hơn nhiều:

1 Người này sẽ vay tiền để đạt được tổng phúc lợi cao hơn tại điểm B (Nếu tỷ lệ thị trường lớn

hơn tỷ lệ ưa thích thời gian, người này sẽ cải thiện tổng phúc lợi của họ bằng cách cho vay)

2 Tỷ lệ ưa thích thời gian cá nhân mới của cá nhân này sẽ là giống hệt như tỷ lệ lãi suất thị trường

Hậu quả 2 sẽ không được giải thích như có nghĩa là các tỷ lệ lãi suất thị trường xác định các tỷ lệ

ưa thích thời gian cá nhân Có một cách khác để đi vòng

3.4.Giá trị thời gian xã hội của tiền là gì?

• Thị trường tài chính tác động mạnh đến tỷ lệ ưa thích thời gian của cá nhân

• Sự tồn tại của các thị trường tài chính có nghĩa là những người khác nhau có một cơ chế để

tạo ra những cơ hội win-win từ các tỷ lệ ưa thích thời gian khác nhau của họ thông qua vay và

cho vay

• Tỷ lệ lãi suất thị trường (tỷ lệ chiết khấu) thực chất là giá _ giá cho thuê (lease) tiền _ cân

bằng khối lượng của cải được cung cấp bởi những người cho vay với khối lượng được yêu cầu

bởi những người đi vay

3.5.Cải thiện động và hiệu quả động

Khi đã thiết lập chỉ dẫn cho lựa chọn tỷ lệ chiết khấu, (cuối cùng) có thể cho là chúng ta bây giờ

biết cân nhắc các lợi ích ròng tách biệt về mặt thời gian:

 NBs (các lợi ích ròng _ Net Benefits) có được trong cùng một giai đoạn sẽ được đánh trọng số

bằng nhau như được làm trong hiệu quả tổng hợp tĩnh

 NBs thu được trong các giai đoạn khác nhau sẽ được đánh trọng số theo tỷ lệ chiết khấu và số

lượng các giai đoạn tách biệt sử dụng sự hỗn hợp Một cách phù hợp, quyết định có thuộc tính của

hiệu quả động (dynamic efficiency) nếu nó tối đa hóa giá trị hiện thời ròng Một quyết định tạo

thành một cải thiện động học (dynamic improvement) nếu nó làm tăng giá trị hiện thời ròng trên

các mức cơ bản (baseline) Giá trị hiện thời ròng (net present value) là tổng, trên toàn tầm quy

$ ,$1 2

Trang 28

hoạch được chọn, của tất cả các lợi ích ròng của một hành động và được chiết khấu về các thành

phần giá trị hiện tại:

trong đó

t là chỉ số giai đoạn thời gian (nói chung là tính theo năm),

T là tầm quy hoạch (chúng ta nhìn xa tới đâu),

là các lợi ích ròng trong giai đoạn t, và

D là tỷ lệ chiết khấu

Trong số những thứ khác, công thức này sao chép lại tính toán được thực hiện trong Bảng 3.1 cho

vòi hoa sen bảo-tồn-nước Ở đó chúng ta đã thấy đầu tư vòi hoa sen đã không đưa một cải thiện

động học vì NPV của nó nhỏ hơn không Các tính toán như vậy về mặt phương pháp luận là đơn

giản và tiến hành như sau: một thay đổi được đề xuất, một lịch trình (schedule) của NBs được

thành lập cho thay đổi này, NPV được tính bằng cách sử dụng (3.1), và thay đổi này được thấy là

một cải thiện động chỉ nếu như NPV > 0

Để phân tích hiệu quả động, NPV phải phụ thuộc hàm vào biến quyết định cần được làm tối ưu

Trong tình huống chung nhất của chúng ta, NPV phụ thuộc hàm vào một tập các biến quyết định

liên tục, mỗi giai đoạn một biến Nếu biến quyết định được ký hiệu là và véc tơ x là tập các

quyết định, , thì hiệu quả động x là véc tơ lời giải của bài toán sau:

Kiểu bài toán này nói chung được thấy trong kinh tế học tài nguyên nước, mặc dù sắp đặt bài toán

cũng có thể là phức tạp hơn, sao cho khi có các quyết định kép cho mỗi giai đoạn thay vì chỉ một

quyết định Các ví dụ không phức tạp bao gồm lượng nước ngầm cần phải bơm trong mỗi giai

đoạn, khối lượng nước được xả từ một hồ chứa, và lượng nước để áp dụng mỗi tuần cho mùa vụ

tăng trưởng Nói chung, thêm vào hàm mục tiêu được nắm bắt bởi (3.2), cũng sẽ là các ràng buộc

vật lý tạo ra các lợi ích ròng trong các giai đoạn sau được liên hệ với các quyết định được thực

hiện trước đó Đây là bản chất của vấn đề động _ các quyết định được đưa ra ngày hôm nay tác

động các kết quả đạt được ngày hôm nay và những kết quả cần đạt được sau này

Trang 29

Thậm chí mặc dù cấu trúc (3.2) là tính toán giá trị tối ưu hóa cho mỗi phần tử của x, đó

thường là trường hợp là chúng ta chỉ thực hiện các quyết định được yêu cầu cho giai đoạn hiện tại

Khi tới thời điểm thực hiện quyết định của giai đoạn tiếp theo, chúng ta có thể giải bài toán chống

lại sử dụng thông tin cập nhật Mỗi thời điểm mà chúng ta làm vậy, tuy nhiên, chúng ta sẽ xem xét

tác động của các quyết định trực tiếp lên lợi ích ròng tương lai

3.6.Các độ đo khác

Tâm điểm của nhà kinh tế lên NPV trong việc rọi sáng cho chỉ dẫn cho làm-quyết định động có

đôi chút khác biệt với chỉ dẫn được gặp trong kinh tế kỹ thuật và kinh tế kinh doanh, trong đó tỷ

lệ giao hoàn nội (internal rate of return) nói chung được nhấn mạnh Một số tổ chức chính phủ

khác có cấu trúc tương tự cho tỷ lệ lợi ích-chi phí thay vì NPV Các nhà phân tích liên bang, là

những người đánh giá các dự án cung cấp nước ở Hoa kỳ được tập trung vào tính toán các lợi ích

được-chuyển-đổi-theo-năm và chi phí được-chuyển-đổi-theo-năm (annualized) Các thước đo

khác nhau này liên hệ như thế nào, và trong những trường hợp nào thước đo này có thể được ưa

thích hơn thước đo khác?

Tỷ lệ giao hoàn nội (IRR _ Internal Return Rate) là tỷ lệ chiết khấu để làm cho NPV của

một đề xuất bằng không:

Tính toán này có thể được thực hiện không cần lựa chọn trước tỷ lệ chiết khấu được áp dụng _ một

lợi thế thời gian _ nhưng một chính sách hoặc dự án được đề xuất chỉ có thể được xét đoán là một

cải thiện động nếu IRR lớn hơn một tỷ lệ ngưỡng đã chọn Do vậy, một tỷ lệ chiết khấu ngưỡng

cá nhân, liên hợp, hoặc xã hội có thể áp dụng là cần phải được áp dụng tiêu chuẩn này, thậm chí

mặc dù không tỷ lệ nào cần được tính toán

3.7.NPV đối chọi với những thứ khác

• Mục đích: CBA là tính BCR, nhưng NPV, IRR, hoặc ANB là kết quả CBA

• Nhà kinh tế ưa thích NPV hơn IRR vì NPV không yêu cầu tính toán nghiệm đa thức, và có

những tình huống trong đó IRR tạo ra lời khuyên sai lầm khi so sánh các dự án thay thế nhau

• NPV >0 chưa chắc khả thi, cần các giao hoàn cho các quỹ sẵn có có thể được tối đa hóa

• BCR cho chúng ta các lợi ích trên một đơn vị chi phí

• ANB tương đương về mặt chức năng với NPV

Trang 30

• Nên NPV trong sử dụng cho các vấn đề của cả cải thiện động học lẫn hiệu quả động học, nó

là công cụ căn bản của kinh tế học tài nguyên nước

3.8.Hiệu quả/Cải thiện động là trung tính hay tổng hợp

Bản chất cộng tính của NPV đề xuất nó và các chuẩn đo có liên quan là tương tự với hiệu quả kinh

tế tổng hợp Đề xuất này là đúng Hiệu quả động học là tiếp cận tổng hợp để kết hợp các tác động

kinh tế tách-biệt-theo-thời gian Trong khi hiệu quả kinh tế tĩnh của tiếp cận tổng hợp (aggregate

variety) cân nhắc các tiêu dùng bởi giá và thu nhập, và lần lượt cộng chúng lại (Chương 2), hiệu

quả động học thực hiện tương tự với hiệu quả tĩnh bên trong một giai đoạn thời gian đơn lẻ, nhưng

nó cân nhắc việc sử dụng chiết khấu khi các lợi ích ròng xảy ra trong các giai đoạn khác nhau

Việc cân nhắc (xác định trọng số _ weighting) ảnh hưởng một cách đáng kể đến các kết quả đạt

được, và chính vì nguyên nhân này các nhà kinh tế hăng hãi tranh cãi về lựa chọn tỷ lệ chiết khấu

Khi đã biết hiệu quả kinh tế trung tính tránh việc tổng hợp đối với tất cả các

người-được-ủy-quyền-hành-động và do vậy nhấn mạnh một dải các kết cục hiệu quả thay vì chỉ một, sẽ là lý thú

để hỏi, liệu có một sổ tay hướng dẫn (companion) động học cho hiệu quả kinh tế trung tính Một

tiêu chuẩn như vậy cho đến này (as yet) không được phổ biến (popularize) trong phương pháp luận

kinh tế Có thể cho là, một phiên bản trung tính của hiệu quả động học sẽ vận hành mà không có

chiết khấu nào và sẽ báo cáo các tác động kinh tế mà không có sự tổng hợp Sự độc lập với chiết

khấu sẽ làm cho nó được ứng dụng tốt nhất cho những vấn đề tầm quy hoạch dài hạn liên quan tới

các vấn đề đa-thế hệ Thay vì làm một chính sách hoặc khuyến cáo dự án trên cơ sở của NPV, nhà

phân tích sẽ ước lượng quyết định sẽ tác động tới các lợi ích ròng như thế nào trong các giai đoạn

thời gian khác nhau, và báo cáo những ước lượng đó mà không cần cộng hoặc chiết khấu Một tùy

chọn như vậy có thể là hấp dẫn cho các chính sách và dự án có các hàm ý dài-hạn Như được nhận

xét trước đây, các vấn đề liên-thế hệ có thể làm tăng những hoài nghi về ứng dụng đạo đức của

chiết khấu Khi điều này xảy ra, nó có thể là tốt nhất để báo cacso các tác động như một bảng hoặc

mô tả chỉ số thời gian

3.9.Hiệu quả động: Biểu diễn đồ thị hai-giai đoạn

Trong khi tính toán NPV là rõ ràng khi kiểm tra xem liệu chúng ta có một cải thiện động học hay

không, phân tích hiệu quả động học là phức tạp hơn Điều đó không hoàn toàn đáng ngạc nhiên vì

trong hiệu quả động học, chúng ta tìm kiếm cải thiện động học cuối cùng Để đánh giá tốt hơn tình

huống, sẽ là đáng giá để ứng dụng một thiết bị củng cố _ mô hình hai-giai đoạn Mô hình này sử

dụng cùng một hệ thống ba-trục được sử dụng cho Hình 2.11 trong chương trước Vì ccuj này giới

Trang 31

hạn chúng ta vào hai giai đoạn, và những vấn đề thế giới-thực liên quan tới nhiều giai đoạn tương

lai, mục tiêu nguyên thủy là xây dựng sự hiểu biết Nó cũng là thiết bị hữu ích cho việc thâm nhập

những phức tạp của phân tích động khi nói với các khách hàng và các nhóm làm-quyết định

Giả sử có một nhiệm vụ quy hoạch phân bổ cung nước giới hạn giữa những người sử dụng

trong hai giai đoạn liên tiếp Vì nguồn nước là có thể cạn kiệt, bất kể lượng nước nào được sử dụng

trong giai đoạn 0 sẽ không sẵn có trong giai đoạn 1 Giả sử chúng ta đã thực hiện phân tích cần

thiết để xác định MNB trong mỗi giai đoạn Nói cách khác, MNB và MNB đã được biết Một

mở rộng đơn giản của Hình 2.11 là đặt cả hai đường con lên một đồ thị, định hướng đồ thị thứ hai

theo gốc tọa độ bên phải như trên Hình 3.3 Độ dài của trục đáy là khối lượng nước sẵn có Để tính

tới chiết khấu, MNB được xoay bằng cách chia nó cho Đường cong nhận được là giá trị

hiện thời của MNB

Phân bổ hiệu quả động học của nước giữa hai giai đoạn được cho bởi giao điểm của MNB

và MNB Trên hình vẽ, điều này xảy ra tại , là điều nói cho chúng ta phân bổ lượng

nước sẵn có như thế nào giữa hai giai đoạn, Khi biết phân bổ đó, chúng ta sau đó sẽ sử dụng các

phương pháp tĩnh học của Chương 2 để xác định lượng nước của mỗi giai đoạn cần được phân

chia như thế nào giữa những người sử dụng khác nhau tích cực trong mỗi giai đoạn

Trang 32

Chương 4: Các thể chế xã hội

Phần I: Kinh tế học thể chế

4.1 Các dạng quyền sở hữu

• Tài nguyên truy cập mở:

– không có quy tắc thiết lập các điều kiện sử dụng

– Bất kỳ ai có thể sử dụng nó bao nhiêu mà họ muốn _ ‘ai đến trước, người đó

được phục vụ trước (first come, first serve)’

– Truy cập mở không áp dụng các điều kiện sử dụng và và các quy tắc cho những ai có thể

sử dụng tài nguyên

– Do không có các quy tắc quản lý, => các tài nguyên sử dụng không hiệu quả

• Tài nguyên sở hữu chung

– sở hữu “chung nhau” và được quản lý phù hợp với các thể chế xã hội được chấp

nhận của – Toàn bộ mọi người hưởng các quyền tương tự nhau với truy cập tài nguyên (vd

– chính phủ thực hiện hầu hết việc làm-quyết định

• Tài nguyên sở hữu tư nhân:

– được phân-chia giữa những người-được-ủy-quyền-hành-động cá nhân và có thể được

chuyển nhượng (transfer) bởi chủ sở hữu cho một người khác nào đó

– khả năng trao đổi giải thoát (unlock) các tài nguyên khỏi sử dụng được thiết lập của

chúng và các mẫu hình phát triển

– là nền móng của hoạt động thị trường thông qua giá (giá là các tín hiệu truyền đạt giá trị

tương đối => khiến cho hành vi sản xuất và tiêu dùng có xu hướng trở thành hòa hợp với các mức khan hiếm thực tế)

– nhiều nhà kinh tế nhìn nhận sở hữu tư nhân như là đỉnh cao của đổi mới thể chế

=> Vì sao không sở hữu tư nhân cho tất cả các tài nguyên?

• 3 nguyên nhân giải thích việc chuyển đổi hoàn toàn sang SHTN có thể không khả thi:

Trang 33

– Vấn đề bình đẳng và phân chia công bằng

– Chi phí lớn

– Nhiều tình huống ngoại ứng và hàng hóa công cộng được sửa chữa bởi sở hữu tư nhân

• Lựa chọn?:

– Để giữa sở hữu chung, sở hữu nhà nước, và sở hữu tư nhân theo những tỷ lệ nhất định

4.2 Bàn tay vô hình và Định lý thứ nhất của Kinh tế Phúc lợi

• Ý tưởng: Hình thành thị trường nước

• Cơ sở: Lý thuyết Bàn tay vô hình – Adam Smith => Hiệu quả kinh tế trung tính, hay là tối ưu

Pareto là tâm điểm của sự theo đuổi này

• Các hành động tối đa hóa lợi nhuận cá nhân của họ hoặc của các cơ quan quản lý, các doanh

nghiệp và mọi người đưa nền kinh tế tới một điểm hiệu quả kinh tế trung tính.=>“Định lý

Thứ nhất của Kinh tế học Phúc lợi”:

– Hữu ích khi đề cập nhiều vấn đề phân bổ của xã hội, tức “hãy là tất cả những gì nó có

thể là” (be all ít can be) dựa vào hệ thống thị trường

– Bằng cách mở rộng, tất cả những gì chúng ta cần làm là ấn định các quyền sở hữu cho

các tài nguyên có vấn đề và “để cho thị trường tự làm việc”

4.3.Thất bại thị trường

Hàng công cộng: Hàng công cộng (hoặc cái xấu công cộng) (Public good [or bad]) là một hàng

hóa có hai thuộc tính _ phi-cạnh tranh và không-loại trừ (Myles 1995) Tính phi-cạnh tranh đã

được thảo luận trong Chương 2, tại đó chúng ta đã chỉ ra rằng cầu được tổng hợp một cách rất khác

biệt cho các hàng hóa phi-cạnh tranh Cả tính phi-cạnh tranh lẫn tính không-loại trừ là các thuộc

tính kỹ thuật của hàng hóa

 Một hàng hóa/cái xấu là phi-cạnh tranh (non-rival _ dùng-chung?) nếu “tiêu dùng” nó bởi

một quyền-hành-động không làm giảm khối lượng sẵn có cho các

người-được-ủy-quyền-hành-động khác

 Một hàng hóa/cái xấu là không-loại trừ nếu nó là quá tốn kém để loại trừ một ai đó khỏi việc

tiêu dùng hàng hóa này

Nhận xét rằng hàng hóa công cộng không được định nghĩa là hàng hóa được sở hữu công

cộng; quyền sở hữu là không thích hợp ở đây Một thứ nào đó là một hàng hóa công cộng hay

Trang 34

Ngoại ứng: Ngoại ứng (externality) xuất hiện khi hàm tiện ích hoặc hàm sản xuất của một

người-được-ủy-quyền-hành-động “thứ ba” có chứa các khoản mục (như là các hàng hóa được coi là tích

cực hoặc tiêu cực) được chọn bởi một hoặc nhiều người-được-ủy-quyền-hành-động khác mà không

lưu tâm tới phúc lợi của người-được-ủy-quyền-hành-động thứ ba này (Baumol và Oates 1988, 17)

Như được phát biểu một cách xúc tích nhưng chính xác bởi Myles “Một ngoại ứng thể hiện một

sự liên kết giữa các người-được-ủy-quyền-hành-động kinh tế nằm bên ngoài hệ thống giá của nền

kinh tế Khi mức ngoại ứng được tạo ra không được kiểm soát một cách trực tiếp bởi giá cả, các

định lý hiệu quả chuẩn tắc về cân bằng thị trường không thể được áp dụng” (1995, 312)

Ô nhiễm là ví dụ nguyên mẫu (prototypical _ người đầu tiên, vật đầu tiên, mẫu đầu tiên) của

một ngoại ứng, do vậy những vấn đề chất lượng nước thường được coi là các tình huống ngoại

ứng Vì các người-được-ủy-quyền-hành-động khác không phải chú ý tới ảnh hưởng của họ cho

người-được-ủy-quyền-hành-động thứ ba, họ chọn mức không-hiệu quả xã hội của hành động Nếu

khoản mục là “tốt”, được đặc tên là ngoại ứng tích cực, việc xem xét phúc lợi của

người-được-ủy-quyền-hành-động thứ ba sẽ dẫn những người-được-ủy-người-được-ủy-quyền-hành-động khác tới việc sản xuất

nhiều hơn Nếu khoản mục là “xấu”, được gọi tên là ngoại ứng tiêu cực hoặc có hại (detrimental),

việc xem xét phúc lợi của quyền-hành-động thứ ba sẽ dẫn những

người-được-ủy-quyền-hành-động tới sản xuất nó ít hơn

Các ngoại ứng dòng hồi quy xuất hiện từ sự kiện nước không bị hủy hoại trong sử dụng Sau

khi nước được sử dụng bởi một người-được-ủy-quyền-hành-động bất kỳ (một trang trại, một doanh

nghiệp, hoặc một hộ gia đình), một phần nào đó của nước quay trở lại dòng chảy tự nhiên hoặc

một chỗ chứa nào đó để trở thành khả dụng bởi những người-được-ủy-quyền-hành-động thứ ba

Việc xem xét các dòng hồi quy trong Chương 2 tạo ra điều kiện tối ưu có thể tổng quát hóa (phương

trình [2.33]) cho thấy các điều kiện cho hiệu quả kinh tế bị tác động như thế nào khi có mặt các

dòng hồi quy:

Thật không may, những người-được-ủy-quyền-hành-động tư nhân không theo đuổi điều kiện

này trong các hoạt động của họ vì họ có xu hướng bỏ qua các tác động của hành vi của họ tới các

dòng hồi quy Họ không rút ra được các lợi ích hoặc chi phí cá nhân từ dòng hồi quy của riêng họ,

do vậy họ không được khuyến khích kiểm soát dòng hồi quy vì lợi ích của các

người-được-ủy-quyền-hành-động nằm ở phía hạ du

Trang 35

Độc quyền tự nhiên: Độc quyền tự nhiên (natural monopoly) là một sắp đặt sản xuất trong đó

hiệu quả kinh tế bị tổn thương, không được trợ giúp, bởi cạnh tranh thị trường Tổn thương là do

chi phí sản xuất trung bình (AC) giảm một cách phổ biến (Chi phí trung bình của nước được cung

cấp đơn giản là tổng chi phí chia cho khối lượng nước được cung cấp) Nói theo ngôn ngữ chất

phác hơn (plainer laguage), sản lượng càng tăng thì chi phí đơn vị càng giảm Chi phí trung bình

giảm thường xảy ra cho các nhà cung cấp nước Như một hậu quả kỹ thuật, chi phí cận biên của

việc cung cấp một đơn vị hàng hóa thêm vào luôn hạ thấp chi phí trung bình Hai hàm ý quan trọng

khi đó xuất hiện: chi phí sản xuất đơn vị sẽ thấp nhất khi một người sản xuất đơn lẻ cung cấp cho

tất cả những người tiêu dùng, và định giá chi phí-cận biên của hàng hóa không tạo ra đủ doanh thu

để thu hồi toàn bộ chi phí của nhà sản xuất Cả hai hàm ý này cần phải được xét lại trong các

chương sau

Quá-chiết khấu (overdiscounting): Khi những người-được-ủy-quyền-hành-động được khuyến

khích về mặt tư nhân để thực hiện các quyết định động học về quyền sở hữu mà họ kiểm soát, họ

sử dụng các tỷ lệ chiết khấu tư nhân gán trọng số nhỏ hơn cho tương lai so với tỷ lệ được chỉ ra

bởi tỷ lệ chiết khấu xã hội

Phần II: Các thể chế pháp luật

• Luật nước

Khi đã đạt tới một viễn cảnh kinh tế về lựa chọn thể chế, bây giờ có thể kiểm tra các quy tắc xã

hội cụ thể hơn sẵn có cho quản lý nước Luật nước là một lĩnh vực nghiên cứu hấp dẫn với vô số

biến thể và sắc thái, do vậy cần thiết phải giới hạn sự chú ý ở đây vào những vấn đề quan trọng

nhất Điều tốt nhất là học luật nước từ những chương trình chỉ dẫn chuyên môn hóa cũng như tài

liệu tham khảo nhấn mạnh chủ đề này, do vậy sẽ là đủ cho các mục đích của chúng ta ở đây nếu

nhấn mạnh các thể chế chính và các lời giải thích kinh tế đúng đắn của chúng Quả thực, chính lời

giải kinh tế bây giờ bắt phải có khảo sát này

Kinh tế học tài nguyên nước nhận thức luật nước như là việc thiết lập các quy tắc theo đó

những người-được-ủy-quyền-hành-động có thể hành động với nước Hành vi này có thể bao gồm

giao dịch các quyền sở hữu nước nếu luật cho phép điều đó Trong thực hành thông thường, các

bộ tạo khung (framers) của luật nước không hoàn toàn đánh giá cao giá trị (appreciate) của quá

trình thị trường cho tái phân bổ Những nhà thiết kế pháp luật đôi khi nghĩ rằng một phân-chia

nước thích hợp có thể được nhận biết và sau đó ứng dụng nó một cách cứng rắn (rigidly) Tùy

Trang 36

khó chịu (discomforting) để “chắp vá _ tinker” các quy tắc, thay đổi chúng nhiều hơn so với cần

thiết về mặt xã hội Hai bài học được đưa ra từ viễn cảnh kinh tế là giao dịch tư nhân là chiến thuật

hữu ích (và tự động) về mặt xã hội để quản lý khan hiếm, và bảo đảm quyền về nước là đáng mong

muốn nếu chúng ta khuyến khích những người sử dụng nước đầu tư và bảo tồn một cách có hiệu

quả Các ví dụ của những điểm này sẽ phát sinh trong các mục tiếp theo

• Luật nước mặt:

(1) Luật ven sông:

– chỉ những người sống ven sông được quyền về mặt pháp lý sử dụng nước mặt;

– các quyền về nước này không được cố định về mặt khối lượng;

– mỗi sử dụng nước ven sông phải là “hợp lý” trong mối quan hệ với sử dụng nước

của những người sống ven sông khác trong lưu vực

Hạn chế: không quy định khối lượng nước được bao nhiêu => điểm nhấn của luật là không

làm hại ai khi lấy nước

(2) Luật sở hữu tài sản chung: nước coi là tài sản chung

(3) Chiếm hữu trước

(4) Gần đây, bộ luật nước thay đổi nhiều

- Phân chia khối lượng nước: lấy theo thời điểm nào, khối lượng bao nhiêu, có thể dưới

dạng giấy phép sử dụng nước => phân phối theo thời gian

- Có thể chuyển nhượng => tạo điều kiện thị trường

Học thuyết ven sông (Riparian Doctrine): Sở hữu chung đối với nước mặt

• chỉ những người sống ven sông được quyền về mặt pháp lý sử dụng nước mặt;

• các quyền về nước này không được cố định về mặt khối lượng;

• mỗi sử dụng nước ven sông phải là “hợp lý” trong mối quan hệ với sử dụng nước của những

người sống ven sông khác trong lưu vực

• Vì quyền ven sông không chỉ ra khối lượng nước có liên quan, các viễn cảnh đạt được hiệu

quả thông qua Định lý Thứ nhất bị loại bỏ

Các hệ thống cấp giấy phép Miền Đông: Sở hữu nhà nước về nước mặt

• Hệ thống quản lý sở hữu chung nằm trong học thuyết ven sông lỏng lẻo bởi tính hợp lý, và

các quyền xung đột nhau phải được cân bằng trên một cơ sở tốn kém và tùy thuộc tình

huống

Trang 37

• Nhiều tiểu-bang ven sông cũng đã ban hành những yêu cầu rằng những người sử dụng

nước phải có giấy phép sử dụng nước

• Những giấy phép này tạo ra thông tin quy hoạch như khối lượng và tính thời vụ của việc

lấy nước Các yêu cầu giấy phép cũng là các bước tiến hóa trong tái-hình thành chủ nghĩa

ven sông

• Từ sở hữu chung tới sở hữu nhà nước, tương phản với chủ nghĩa ven sông, những thể chế

này nghiệm ngặt hơn

• Các giấy phép có thời hạn không có tính chuyển nhượng

Học thuyết chiếm hữu trước (Prior Appropriations Doctrine): Sở hữu tư nhân cho nước mặt

• Hệ thống pháp lý dựa trên nguyên tắc đạo đức “ai đến trước, người ấy có quyền”

• Đặc điểm:

• Mức thâm niên

• Lượng hóa :Các quyền về nước này được biểu diễn một cách định lượng

• Khả năng chuyển nhượng (Transferability) Các quyền có thể được bán một cách

độc lập với bất kỳ đất đai nào trên đó nước được sử dụng

=> học thuyết chiếm hữu trước không ràng buộc sử dụng nước vào đất đai ven sông

Các cổ phần tương quan: Sở hữu tư nhân đối với nước mặt

• sử dụng các cổ phần có thể chuyển nhượng trong tài nguyên=> Đây là dạng sở hữu tư nhân

của các cổ phần tương quan

• một số lượng cố định các cổ phần được phân bổ cho những người sử dụng, và các chủ sở

hữu của mỗi cổ phần nhận được một tỷ phần nước sẵn có

• Các cổ phần này là có thể chuyển nhượng được

• hiệu quả kinh tế có thể được cải thiện bằng cách thiết kế đúng đắn các hệ thống cổ phần

tương quan

• Luật nước ngầm

– Quyền sở hữu tuyệt đối: QSH chung yếu với nước ngầm

o Gắn với sở hữu đất đai nằm trên tầng nước ngậm được bơm tùy ý

o quyền sở hữu tuyệt đối không thiết lập quyền sở hữu tư nhân đối với nước ngầm

o Dễ dẫn đến sở hữu truy cập mở nếu không có ràng buộc => động cơ bảo tồn kém

Trang 38

o tính hợp lý cho nước ngầm là ít liên quan hơn tới sử dụng của các thành viên khác

của khu vực chung

o Tương phản với SH tuyệt đối

o học thuyết sử dụng hợp lý là một cải thiện động so với sở hữu tuyệt đối

– Quyền sở hữu tương quan: Sở hữu chung đối với nước ngầm

o là sự siết chặt luật nước ngầm, tương đối so với sở hữu tuyệt đối và sử dụng hợp

o nguyên tắc này ở đây là khu vực-chung được tạo thành từ những chủ sở hữu đất

nằm phía trên có các cổ phần công bằng được chia theo tỷ lệ giữa những người sử dụng

o Về khía cạnh cạn kiệt: tiếp cận các quyền tương quan là xác định xem “công suất

an toàn” (safe yield) của một tầng ngậm nước và giới hạn tổng khối lượng bơm hút hàng năm vào khối lượng đó

– Học thuyết chiếm hữu trước: Sở hữu tư nhân không đầy đủ đối với nước ngầm:

o gồm các nguyên tắc như lượng hóa quyền về nước, khái niệm thâm niên, và khả

năng chuyển nhượng;

o Khó khăn về cạn kiệt => ảnh hưởng đến hiệu quả động

o Nếu các ý tưởng chiếm hữu trước được áp dụng triệt để=> những người nắm giữ

quyền ít thâm niên cần đóng các giếng khoan của họ lại trong khoảng thời gian các giai đoạn tái-nạp thấp

o Về mặt vận hành, hành động này cần một ước lượng về mặt quản lý hành chính

của lượng tái-nạp và một tuyên bố hình thức về những người nắm giữ quyền nào

có thể bơm hút

– Quyền sở hữu nhà nước với nước ngầm

– Gây ra thiệt hại kinh tế do các chủ sở hữu khác nhau cùng chung tầng nước ngầm => ảnh

hưởng dự trữ => tạo ngoại ứng

Trang 39

Chương 5: Phân tích chính sách

5.1.Hai dạng phân tích chính sách: Lý thuyết và thực nghiệm

Lợi thế rõ ràng của phân tích chính sách lý thuyết là khả năng nhận được tư vấn nhanh chóng

về chính sách, chỉ bằng cách sử dụng hiểu biết sâu sắc về kinh tế hòa hợp với hoàn cảnh chung

Không yêu cầu hoặc chỉ yêu cầu ít số liệu, và không phải thực hiện lập trình hoặc nghiền ngẫm

các con số Trong những trường hợp như vậy, những cải thiện chính sách không nhất thiết bị còng

tay (handcuff) vào phí tổn và trì trệ thời gian như khi sử dụng phân tích định lượng Nâng cao thể

chế có thể được tăng tốc

Có nhiều trường hợp trong đó phân tích chính sách lý thuyết sẽ không có đủ sắc sảo để đưa

ra một khuyến cáo rõ ràng Khi đã biết rằng tất cả các chính sách được kèm theo bởi cả những lợi

ích và thiệt hại kinh tế, lý thuyết của chúng ta có thể không có đủ sức mạnh để biết liệu các lợi ích

có vượt quá thiệt hại hay không Trong những trường hợp khác khi mà lý thuyết là bắt buộc

(resolute), những người làm quyết định có thể không được thuyết phục cho tới khi họ có thể thấy

phân tích “Hãy chỉ cho tôi các phân tích” (show-me analysis) nào đó có chứa các con số và “các

sự kiện” Ở đây phân tích chính sách thực nghiệm có thể được tiến hành Trong khi phân tích chính

sách lý thuyết có thể được tiến hành mà không cần thực nghiệm, điều ngược lại là không đúng (in

reverse) Chủ nghĩa thực nghiệm đòi hỏi một căn cứ lý thuyết đúng đắn

5.2.Phân tích chính sách thực nghiệm

 Khi cho tiêu chuẩn hiệu quả tối đa hóa lợi ích ròng, một thay đổi chính sách tốt là thay đổi

đề nghị các lợi ích xã hội vượt quá các chi phí xã hội

 Tiếp cận thực nghiệm cho phân tích chính sách là ước lượng và so sánh giá trị bằng tiền

của các lợi ích mới so với chi phí mới tương lai

 Kiểm định đền bù giả tưởng: cho những người bị thiệt hại (khi chính sách được phê chuẩn

và thực hiện,vẫn có người bị thiệt hại _ đền bù là giả tưởng _ nhưng lợi ích ròng tổng hợp

về mặt xã hội sẽ được nâng cao

o Tính toán thay đổi tổng lợi ích ròng của các bên bị ảnh hưởng

o Chính sách cải thiện-hiệu quả xảy ra khiMột chính sách cải thiện-hiệu quả xảy ra

khi  NB 0 

Trang 40

Những thay đổi chính sách tác động tới mọi người hoặc các doanh nghiệp sẽ thay đổi các lợi

ích ròng nhận được bởi những người-được-ủy-quyền-hành-động này thông qua ít nhất một trong

bốn cơ chế nguyên thủy: phân phối giá (price rationing), phân phối khối lượng, dịch chuyển cầu,

hoặc dịch chuyển cung Các mục sắp tới sẽ lần lượt làm việc với mỗi một trong những kiểu chính

sách này Trong thế giới thực, một số cơ chế này có thể xảy ra trong một trạng thái hòa hợp (in

unison), sao cho khi một dịch chuyển cung yêu cầu giá cả tăng lên để bù đắp các chi phí mới Bằng

cách nhấn mạnh các phần tử của các tổ hợp chính sách như vậy, sẽ có khả năng gỡ rỗi các tác động

khác nhau lên các nhóm bị tác động

Hình 5.1 trình bày các tình huống ban đầu, trước chính sách cho một nhóm những người tiêu

dùng nước Nhóm này có thể bao gồm các hộ gia đình, các ngành, hoặc bất kỳ tổ hợp nào của

những người-được-ủy-quyền-hành-động sử dụng-nước Trong khi cũng có thể có cầu đối với nước

tự nhiên trong một con sông, chúng ta hãy cho rằng MB(w) là cầu tập thể của nhóm đối với nước

bán lẻ được cung cấp bởi cơ quan quản lý nước Cơ quan quản lý này đo lường các dẫn dòng nước

và giá p trên một đơn vị nước Để phản ứng lại, nhóm người tiêu dùng chọn 0 w đơn vị nước 0

Tổng lợi ích nhận được bởi những người sử dụng nước khi đó là diện tích bên dưới đường cầu của

họ, diện tích A + B Tổng doanh thu nhận được bởi cơ quan quản lý là p nhân với 0 w hoặc diện 0

tích B Các lợi ích ròng nhận được bởi những người sử dụng là diện tích A Với sắp đặt

trước-chính sách tại chỗ này, chúng ta có thể bắt đầu đánh giá các hành động trước-chính sách thay thế lẫn

nhau Tuy nhiên, đầu tiên, một số thuật ngữ hữu ích sẽ là thích hợp

5.3.Đo lường thặng du người tiêu dùng và nhà sản xuất

Ngày đăng: 07/01/2021, 11:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm