1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bài giảng kinh tế tài nguyên thiên nhiên

72 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài Giảng Kinh Tế Tài Nguyên Thiên Nhiên 2
Người hướng dẫn Giảng Viên: Đào Văn Khiêm, Giảng Viên: Bùi Thị Thu Hòa
Trường học Trường Đại Học Thủy Lợi
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Bài giảng
Năm xuất bản 2015
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 2,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một hệ quả quan trọng của kết quả nghiên cứu của các nhà KTTNMT đối với mô hình tài nguyên có thể cạn kiệt này được thể hiện trong quy tắc có tên gọi là Quy tắc Hartwick phát biểu như s

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

BỘ MÔN KINH TẾ

BÀI GIẢNG KINH TẾ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN 2

Trang 2

BỘ MÔN KINH TẾ- KHOA KINH TẾ &QUẢN LÝ

BÀI GIẢNG

KINH TẾ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN 2

(LƯU HÀNH NỘI BỘ)

GIẢNG VIÊN: ĐÀO VĂN KHIÊM

BÙI THỊ THU HÒA

HÀ NỘI- 2015

Trang 3

1

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1 -VAI TRÒ VÀ SỰ LIÊN HỆ GIỮA KINH TẾ TNTN VÀ KINH TẾ TÀI

NGUYÊN NƯỚC 2

1 Khái niệm: Kinh tế TNTN và Kinh tế nguồn nước 2

2 Xây dựng bài toán Kinh tế tài nguyên thiên nhiên và Kinh tế tài nguyên nước 3

2.1 Mô hình bài toán Kinh tế tài nguyên thiên nhiên 3

2.2 Mô hình bài toán Kinh tế tài nguyên nước 12

CHƯƠNG 2 TÓM TẮT VỀ BÀI TOÁN KINH TẾ TÀI NGUYÊN NƯỚC 14

1.Các đặc tính thất bại thị trường của tài nguyên nước 14

2.Vấn đề hiệu quả và phân bổ tài nguyên nước 18

3.Vấn đề thể chế và chính sách 24

CHƯƠNG 3 ỨNG DỤNG MÔ HÌNH ĐIỀU KHIỂN TỐI ƯU VÀO BÀI TOÁN PHÂN BỔ CỦA KINH TẾ TÀI NGUYÊN NƯỚC, PHẠM VI LƯU VỰC 37

1.GIỚI THIỆU MÔ HÌNH ĐIỀU KHIỂN TỐI ƯU TRONG BÀI TOÁN PHÂN BỔ TÀI NGUYÊN NƯỚC 37

1.1.Mô tả bài toán tối ưu hóa động 37

1.2 Nguyên tắc cực đại Pontragin 38

1.3 Phát biểu bài toán 40

1.4.Ứng dụng mô hình điều khiển tối ưu trong bài toán phân bổ tài nguyên nước 49

2.XÂY DỰNG MÔ HÌNH BÀI TOÁN QUY HOẠCH VÀ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC 50

CHƯƠNG 4 – ỨNG DỤNG MÔ HÌNH PHÂN BỔ TỐI ƯU TÀI NGUYÊN NƯỚC CHO CÁC BÀI TOÁN KINH TẾ KHÁC NHAU TRONG LĨNH VỰC TÀI NGUYÊN NƯỚC 55

1 Thể chế 55

2 Đánh giá dự án, Phân tích chính sách 61

3 Định giá 62

MỘT SỐ CHƯƠNG TRÌNH PHÂN BỔ TÀI NGUYÊN NƯỚC 64

Trang 4

2

CHƯƠNG 1 VAI TRÒ VÀ SỰ LIÊN HỆ GIỮA KINH TẾ TNTN VÀ KINH TẾ TÀI NGUYÊN NƯỚC

1 Khái niệm: Kinh tế TNTN và Kinh tế nguồn nước

Trong khi kinh tế học tài nguyên thiên nhiên và môi trường như một chuyên ngành thực sự mới chỉ xuất hiện gần đây, mối quan tâm tới bản chất các vấn đề tài nguyên thiên nhiên và môi trường đã có nhiều tiền lệ từ rất lâu Hiển nhiên là, ví dụ, đó là mối quan tâm chính trong những bài viết của các nhà kinh tế cổ điển “cổ điển” gắn liền với nhiều nhà kinh tế

có những tác phẩm trong các thế kỷ mười tám và mười chín, giai đoạn cách mạng công nghiệp đang được tiến hành (ít nhất trong phần lớn Châu Âu và Bắc Mỹ) và năng suất nông nghiệp đã tăng một cách nhanh chóng Một chủ đề thường xuyên của các cuộc tranh luận kinh tế-chính trị là mối quan tâm tới những sắp đặt thể chế thích hợp cho phát triển thương mại và tăng trưởng

Theo định nghĩa từ-lâu-đời, “kinh tế học là ‘nghiên cứu phân bổ các tài nguyên khan hiếm’” (Russell và Wilkinson 1979, 1) Do vậy không có gì đáng ngạc nhiên rằng kinh tế được áp dụng với tần suất ngày càng tăng trong quản lý nước Một trong những lợi thế căn bản của kinh tế là nó được làm quen để đề cập những đánh-đổi (trade-offs) giữa các nhân tố khác nhau, như lương thực, đồng cỏ, nước sinh hoạt theo đường ống, cá, và điện, là những điều thường xuyên gặp phải trong khi làm quyết định về nước Quả thực, kinh tế học thực sự là những đánh-đổi như vậy.Thực là sai lầm nếu lẫn lộn kinh tế học với hạch toán (accounting), như những người chưa quen với kinh tế thường nghĩ vậy.Mặc dù các nguyên tắc hạch toán

là hữu ích cho quản lý các sổ sách kế toán của các cơ quan quản lý nước và các dự án, kinh

tế học vượt trội hạch toán trong hậu hết các khía cạnh làm-quyết định trong khi thỉnh thoảng

có sử dụng thông tin dựa-vào-hạch toán

Kinh tế học là hành động định hướng, tìm kiếm cách chỉ dẫn việc làm-quyết định trên nhiều mức phức tạp khác nhau.Kinh tế tài nguyên nước có tính chất chỉ dẫn mạnh.Nó không chỉ bằng lòng với việc chỉ mô tả các vấn đề nước từ một lợi thế kinh tế Điều này không phải nói rằng kinh tế học là có hiệu lực 100% trong những công việc này, hoặc nó

có thể hoàn thành những công việc này mà không cần trợ giúp từ các khoa học kỹ thuật và

xã hội Do vậy một trong những mục đích của cuốn tài liệu này là phân biệt quyền lực hợp

Trang 5

3

lệ của kinh tế học trong quản lý nước Như chúng tôi sẽ làm rõ các phương pháp kinh tế tài nguyên nước, độc giả sẽ đối mặt với các chủ đề tại đó công việc vẫn còn phải được thực hiện hoặc chỉ dẫn kinh tế còn yếu so với yêu cầu

Nước được sử dụng cho nhiều mục đích Nước phục vụ cho mục đích sinh hoạt, công nghiệp, du lịch, sinh thái, Nước để duy trì môi trường, và môi trường một cách tương tự

là sống còn cho hỗ trợ cho loài người Mặc dù hiểu biết của chúng ta vẫn còn chưa đầy đủ

về phạm vi mà sự phụ thuộc của loài người vào môi trường và vai trò của nước trong đó, chúng ta đã biết rằng nhiều điều đang bị đe dọa (at stake)

Khi đã nhiều nhu cầu sử dụng nước được do con người, chúng ta nên tiến hành như thế nào? Các cầu nước nào chúng ta cần nâng cao trong quy hoạch cho tương lai và những cầu nước nào chúng ta phải xem nhẹ?Ví dụ, các cầu nước môi trường có là quan trọng như được được sử dụng trực tiếp bởi con người trong các hoạt động sản xuất hoặc tiêu dùng?

Vị thế của kinh tế học đối với các câu hỏi như vậy là đơn giản: Nếu ai đó quan tâm đến

nước, nước cần được tính đếm Một cách hình thức hơn, kinh tế học là anthropocentrich

oặc coi-con-người-là-trung-tâm (human centered).(Tietenberg 2003, 20) Do vậy, các cầu môi trường đối với nước có địa vị bình đẳng với các cầu khác vì chúng đề xuất phát từ những ý muốn của con người Mặt khác, chỉ có những cầu nước được bảo trợ bởi con người mới được tính đếm trong kinh tế học

2 Xây dựng bài toán Kinh tế tài nguyên thiên nhiên và Kinh tế tài nguyên nước

2.1 Mô hình bài toán Kinh tế tài nguyên thiên nhiên

Chúng ta bắt đầu bằng cách chỉ ra mô hình được sử dụng trong chương này Nền kinh tế sản xuất ra một hàng hóa đơn Q, là hàng hóa có thể được tiêu dùng hoặc đầu tư Tiêu dùng làm tăng phúc lợi hiện thời, trong khi đầu tư làm tăng kho vốn, cho phép tiêu dùng nhiều hơn trong tương lai Đầu ra được tạo ra thông qua một hàm sản xuất sử dụng đầu vào tài nguyên không-tái tạo ‘hỗn hợp’ đơn R Bắt đầu bằng cách này, chỉ với một kiểu tài nguyên thiên nhiên, chúng ta làm loại bỏ bất kỳ tác động thay thế nào có thể có giữa các kiểu tài nguyên thiên nhiên khác nhau.Chúng ta sẽ xem xét các kết luận của chúng ta thay đổi như thế nào khi chúng ta đưa nhiều hơn một kiểu tài nguyên thiên nhiên vào hàm sản xuất

Trang 6

trong đó, A, và  0 Một dạng thay thế, được sử dụng rộng rãi trong phân tích thực nghiệm, là kiểu độ co giãn thay thế cố định (CES _ constant elasticity of substitution), là dạng bao gồm hộ các dạng hàm trong đó A,,, 0, ()1, và

Các đặc tính của một đường cạn kiệt tài nguyên tối ưu theo thời gian sẽ bị ảnh hưởng bởi việc liệu tài nguyên thiên nhiên có là ‘thiết yếu’ hay không Tính thiết yếu của một tài nguyên có thể có một vài nghĩa Thứ nhất, một tài nguyên có thể là thiết yếu đối với việc thải loại rác thải và cơ quan tái chế.Khi đã biết bản chất phổ biến của rác thải và mức độ của những thiệt hại mà rách thải có thể gây ra, các tài nguyên dường như là thiết yếu đối với các cơ quan tái chế Một tài nguyên cũng có thể là thiết yếu cho sự thỏa mãn tinh thần của còn người Con người dường như cần thiết sự tĩnh dưỡng và cảm thu vẻ đẹp có được

từ việc quan sát hoặc sống trong môi trường tự nhiên Thứ ba, một tài nguyên nào đó có thể là thiết yếu về mặt sinh thái theo nghĩa một số hoặc tất cả các hệ sinh thái thích hợp không thể tồn tại khi thiếu vắng nó

Trang 7

5

Trong chương này, chúng ta quan tâm tới nghĩa thứ tư: liệu một tài nguyên có là thiết yếu một cách trực tiếp cho sản xuất hay không Một số tài nguyên là thiết yếu một cách không nghi ngờ cho các sản phẩm cụ thể _ ví dụ, dầu thô là một nguyên liệu thô thiết yếu cho sản xuất xăng và paraphin Nhưng ở đây chúng ta khái niệm hóa các tài nguyên ở mức tổng hợp cao, khi làm việc với các lớp tổng quát như tài nguyên không-tái tạo và tài nguyên tái-tạo Một đầo vào sinh lợi được định nghĩa là thiết yếu nếu đầu ra là không bất cứ khi nào khối lượng của đầo vào đó bằng không, bất kể các khối lượng đầu vào khác là bao nhiêu Tức là R là thiết yếu nếu QQ(K,R0)0 đối với bất kỳ giá trị dương nào của K

Trong trường hợp hàm sản xuất CD, RK đều là thiết yếu, vì việc đặt bất kỳ đầu vào nào bằng không trong phương trình 14.2 đều tạo ra đầu ra Q = 0 Vấn đề không rõ ràng ngay lập tức với hàm CES Chúng ta phát biểu (nhưng không chứng minh) rằng nếu  0

thì không có đầu vào nào là thiết yếu, và nếu   0 thì tất cả các đầu vào đều là thiết yếu.Điều này thích hợp như thế nào với nghiên cứu của chúng ta về sử dụng tài nguyên theo thời gian? Nếu chúng ta muốn trả lời những câu hỏi về các thuộc tính dài-hạn của các

hệ thống kinh tế, tính thiết yếu của các tài nguyên không-tái tạo sẽ là quan trọng Vì, theo định nghĩa, các tài nguyên không-tái tạo tồn tại với những khối lượng hữu hạn, cho nên không thể sử dụng những khối lượng dương và cố định của những tài nguyên này trong những khoảng thời gian vô hạn Tuy nhiên, nếu một tài nguyên là thiết yếu, thì chúng ta biết rằng sản xuất chỉ có thể được thực hiện nếu một khối lượng dương nào đó của đầu vào này được sử dụng Điều này dường như đề xuất rằng sản xuất và tiêu dùng không thể được duy trì một cách vô hạn nếu tài nguyên không-tái tạo là một đầu vào cần thiết cho sản xuất

Mô hình bài toán

Điều đầu tiên chúng ta yêu cầu là hàm phúc lợi xã hội Ban đã biết cách thức tổng quát để

viết ra hàm phúc lợi xã hội (SWF) là:

trong đó U t, t 0 , ,T , là lợi ích tổng hợp trong giai đoạn t Chúng ta bây giờ giả thiết SWF

có dạng vị lợi Một SWF vị lợi xác định phúc lợi xã hội như một tổng có trọng số của các lợi ích của các cá nhân thích hợp Vì ở đây chúng ta quan tâm với phúc lợi giữa các khoảng

Trang 8

6

thời gian, chúng ta có thể giải thích một ‘cá nhân’ có nghĩa là sự tổng hợp của những người sống tại một thời điểm xác định, và do vậy nói tới lợi ích trong giai đoạn 0, trong giai đoạn

1, và vân vân Khi đó SWF giữa các khoảng thời gian vị lợi sẽ có dạng

Bây giờ giả sử chúng ta giả thiết lợi ích trong mỗi giai đoạn là một hàm lõm của mức tiêu dùng trong giai đoạn đó, sao cho U  t U(C t) cho tất cả các t, với U C  0 và U CC 0 Nhận xét rằng hàm lợi ích tự bản thân không phụ thuộc theo giá trị, do vậy mối quan hệ giữa tiêu dùng và lợi ích là như nhau trong tất cả các giai đoạn Bằng cách giải thích các trọng số trong phương trình 14.6 như các hệ số chiết khấu, liên quan tới tỷ lệ chiết khấu lợi ích xã hội  mà chúng ta lấy là cố định theo thời gian, hàm phúc lợi xã hội có thể được viết là:

Vì những lý do thuận tiện về mặt toán học, chúng ta chuyển từ ký hiệu thời gian-rời rạc sang ký hiệu thời gian-liên tục, và giả thiết khoảng thời gian thich showpj là vô hạn Điều

này dẫn tới trường hợp đặc biệt sau đây của SWF vị lợi:

Có hai ràng buộc phải được thỏa mãn bởi bất kỳ lời giải tối ưu nào Thứ nhất, toàn bộ kho tài nguyên phải được khoan hút và sử dụng tại cuối khoảng thời gian này (vì, sau đó, bất kỳ kho còn lại nào không có tác động lên phúc lợi xã hội) Khi đã biết điều này, cùng với sự kiện chúng ta đang xem xét một tài nguyên không-tái tạo mà đối với nó kho khởi đầu hữu hạn và cố định, tổng sử dụng tài nguyên theo thời gian bị ràng buộc phải bằng với

kho khởi đầu cố định Ký hiệu kho khởi đầu (tại t = 0) là S0 và tỷ lệ khoan hút và sử dụng

tài nguyên tại thời điểm t là R t, chúng ta có thể viết ràng buộc này là

Nhận xét rằng trong phương trình trên, vì chúng ta lấy tích phân trên toàn bộ khoảng

thời gian từ giai đoạn 0 tới bất kỳ điểm nào sau đó trong thời điểm t, caanf thieets phari sử

Trang 9

7

dụng một ký tự khác (ở đây là  ) để ký hiệu bất kỳ thời điểm nào trong dãy trong đó hàm được lấy tích phân Phương trình phát biểu rằng kho còn lại tại thời điểm t(S t) bằng với độ lớn của kho khởi đầu (S0) trừ đi khối lượng tài nguyên được khoan hút trong suốt khoảng

thời gian từ 0 tới t (được cho bởi thành phần tích phân bên vế phải của phương trình) Một

cách thức tương đương để viết ràng buộc kho tài nguyên này có được bằng cách đạo hàm phương trình 14.9 theo thời gian, ta nhận được:

dàng là: tỷ lệ cạn kiệt của kho S t bằng với tỷ lệ khoan hút kho tài nguyên R t

Ràng buộc thứ hai tới tối ưu hóa phúc lợi được rút ra từ đồng nhất thứ kế toán liên hệ tiêu dùng, đầu ra và thay đổi trong kho vốn của nền kinh tế Đầu ra được chia sẻ giữa hàng hóa tiêu dùng và hàng hóa vốn, và do vậy một phần của đầu ra của nền kinh tế không bị tiêu dùng tạo ra thay đổi kho vốn Viết đồng nhất thức này dưới dạng liên tục theo thời gian chúng ta có

Bây giờ chúng ta cần chỉ ra đầu ra Q được xác định như thế nào Đầu ra được sản xuất

ra thông qua hàm sản xuất liên quan tới hai đầu vào, vốn và tài nguyên không-tái tạo:Thay thế cho Q t trong phương trình, đồng nhất thức kế toán có thể được viết là

Bây giờ chúng ta đã sẵn sàng giải để tìm được phân bổ tối ưu về mặt xã hội giữa các khoảng thời gian của tài nguyên không-tái tạo Để làm điều này chúng ta cần giải một bài toán tối

ưu hóa có ràng buộc Mục tiêu là tối đa hàm phúc lợi xã hội của nền kinh tế tùy thuộc vào ràng buộc kho-luồng tài nguyên không-tái tạo và đồng nhất thức thu nhập quốc dân Tiến hành viết điều này bằng toán học, do vậy, chúng ta có bài toán sau đây:

Chọn các giá trị cho các biến lựa chọn C tR t với t , ,0  sao cho tối đa

tùy thuộc vào các ràng buộc

Trang 10

8

Dưới đây là chi tiết các dạng mô hình bài toán tài nguyên: cạn kiệt và tái tạo:

Bài toán tài nguyên cạn kiệt

Như đã nói ở trên, bài toán KTTNMT nói trên là bài toán xem xét khả năng thay thế (khả năng đánh đổi) giữa nhân tố sản xuất tài nguyên thiên nhiên có thể bị cạn kiệt với nhân tố sản xuất vốn Tuy nhiên, vốn là một khái niệm kinh tế truyền thống chỉ có thể được hiểu một cách đầy đủ thông qua quá trình hình thành và tích lũy vốn Và, quá trình này được nghiên cứu thông qua các mô hình hình thành và tích lũy vốn, trong đó kho vốn (K) được tính toán thông qua một luồng đầu tư (I) trong một khoảng thời gian dài-hạn Quá trình này được mô tả bởi một mô hình toán đơn giản nhất dưới dạng rời rạc và liên tục sau đây:

Bắt đầu từ mô hình hàm sản xuất nổi tiếng, chúng ta có quan hệ giữa Sản lượng (Q)

với Vốn (K ), Lao động (L), và Tài nguyên Thiên nhiên (R) là:

Khi đó, hệ số đánh giá khả năng đánh đổi giữa các nhân tố sản xuất, cụ thể là giữa

Vốn và Tài nguyên thiên nhiên là độ co giãn thay thế giữa K và R:

Trang 11

9

//

//

trong đó  là độ co giãn thay thế giữa K và R; Q K  Q/ K là sản phẩm cận biên của vốn,

Q R  Q/ R là sản phẩm cận biên của tài nguyên Đây chính là thước đo của sự thay thế giữa hai nhân tố sản xuất trên và tỷ lệ này sẽ được nghiên cứu và đánh giá trong các

trong đó W là phúc lợi xã hội, U là hàm tiện ích (utility function), C t là khối lượng tiêu dùng,  là hệ số chiết khấu, S t là dự trữ tài nguyên, R t là khối lượng tài nguyên được khai

thác tại năm t Để giải bài toán (1.6), chúng ta sử dụng Nguyên lý Cực đại của Pontragin

Kết quả điều kiện cần là như sau:

Trang 12

10

(1.7) trong đó H C là Haminton giá trị hiện tại, P t và giá kinh tế tài nguyên, t là giá kinh tế của vốn, còn các ký hiệu khác đã được nhắc tới từ trước

Hai điều kiện đầu trong (1.7) là các điều kiện hiệu quả tĩnh đã biết từ các chương trình kinh tế học cơ bản, còn hai điều kiện sau chính là hai điều kiện hiệu quả động, trong đó hành vi của giá tài nguyên và giá của vốn được thể hiện trong điều kiện thứ ba và thứ tư một cách tương ứng Từ các kết quả căn bản trong (1.7), các nhà kinh tế sẽ chỉ ra các kịch bản ứng xử cho các tình huống cụ thể của quá trình cạn kiệt tài nguyên của một số tài nguyên quan trọng như các nhiên liệu hóa thạch và một số tài nguyên khan hiếm khác Một hệ quả quan trọng của kết quả nghiên cứu của các nhà KTTNMT đối với mô hình tài nguyên có thể cạn kiệt này được thể hiện trong quy tắc có tên gọi là Quy tắc Hartwick

phát biểu như sau: để bảo đảm tiêu dùng không bị giảm xuống trong một khoảng thời gian

tương lai vô hạn, cần phải đầu tư tất cả lợi nhuận và tô kinh tế thuần túy từ các tài nguyên không tái tạo vào việc sản xuất ra vốn có thể tái tạo như máy móc, nhà xưởng, kiến thức của con người, … Tuy còn nhiều giả thiết ngầm phức tạp chưa được trình bày ở đây, nhưng

quy tắc này chứng tỏ một lời giải cho khả năng kéo dài tác động của các tài nguyên cạn kiệt để bảo đảm cho bài toán tiêu dùng vô hạn

Bài toán tài nguyên tái tạo

Sự băn khoăn của các nhà kinh tế tài nguyên thiên nhiên không chỉ dừng lại với các tài nguyên có thể cạn kiệt Việc mở rộng lĩnh vực nghiên cứu sang các tài nguyên có thể phục hồi hoặc tài nguyên tái tạo bắt nguồn từ sự kiện khai thác và sử dụng tài nguyên thiên

Trang 13

11

nhiên dẫn tới ô nhiễm môi trường, đặc biệt là ô nhiễm môi trường gắn liền với hiện tượng biến đổi khí hậu Trong một hoàn cảnh như vậy, các tài nguyên có khả năng phục hồi hoặc tái tạo cũng sẽ bị tác động dẫn tới hậu quả có thể hủy hoại các nguồn tài nguyên này Vấn đề này được trình bày dưới dạng mô hình toán học như sau:

Cực đại phiếm hàm mục tiêu:

với hai phương trình chuyển động là:

(1.9) Một số lưu ý cần được nhận xét ở đây là:

 Nếu tài nguyên là không-tái tạo, G S   0, và do vậy phương trình chuyển động thứ nhất trong (1.9) chuyển thành trường hợp riêng S t  R t

 Phương trình chuyển động thứ hai trong (1.9) bao gồm cả chi phí khoan hút tài nguyên

 Phương trình chuyển động thứ hai trong (1.9) bao gồm cả hàm sản xuất có dạng đã biết

Khi đó, theo Nguyên lý Cực đại Pontragin, chúng ta có:

(1.10) Vì trong trường hợp tài nguyên có thể phục hồi hay tái tạo, các tài nguyên thiên nhiên không bị cạn kiệt hoàn toàn trong các nền kinh tế Tuy nhiên, vấn đề bảo tồn để sao cho

Trang 14

12

các tài nguyên này không bị hủy hoại lại là một vấn đề quan trọng khác Vì vậy, các điều kiện cần, hay các kết quả của bài toán (1.8) dưới dạng (1.10) là những chỉ dẫn của các nhà KTTNMT để khai thác tài nguyên thiên nhiên có thể tái tạo một cách tối ưu Các nguyên tắc như vậy đã được áp dụng rộng rãi vào các trường hợp cụ thể và tạo ra các lĩnh vực kinh

tế tài nguyên môi trường chuyên ngành, ví dụ điển hình như kinh tế sinh thái, kinh tế đất đai, kinh tế lâm nghiệp, kinh tế đàn cá biển, kinh tế tài nguyên nước, … Trong nội dung báo cáo này, chúng tôi sẽ tập trung nhiều vào lĩnh vực Kinh tế Tài nguyên Nước và phần tiếp theo sẽ giới thiệu bài toán kinh tế tài nguyên nước một cách tổng quát

2.2 Mô hình bài toán Kinh tế tài nguyên nước

Ngày nay, tài nguyên nước ngày càng trở nên quan trọng hơn vì những lợi ích kinh tế nhiều hơn mà nó mang lại Nguồn tài nguyên tưởng như vô tận này đang được khuyến cáo là đang dần dần khan hiếm và cần được tiết kiệm tối đa Tầm quan trọng của tài nguyên nước đang được đánh giá đúng mức Bốn nguyên tắc Dublin (Ireland, 1992) được thảo luận và thống nhất trong hội nghị về nước và môi trường đã làm cơ sở nền tảng cho quản lý tổng hợp tài nguyên nước Những nguyên tắc này đã phản ánh sự thay đổi nhận thức của con người về tài nguyên nước Nội dung các nguyên tắc Dublin là:

Nguyên tắc 1: Nước ngọt là tài nguyên hữu hạn, không tài nguyên nào có thể thay thế được,

rất thiết yếu để duy trì cuộc sống, phát triển xã hội và môi trường

Nguyên tắc 2: Phát triển và bảo vệ tài nguyên nước phải dưạ trên phương pháp tiếp cận có

sự tham gia của tất cả các thành phần bao gồm cả những người sử dụng nước, người lập quy hoạch và người xây dựng chính sách ở tất cả các cấp

Nguyên tắc 3: Phụ nữ có vai trò trung tâm trong việc cung cấp, quản lý và bảo vệ nguồn

nước

Nguyên tắc 4: Nước có giá trị kinh tế trong mọi hình thức sử dụng và phải cần được xem

như một loại hàng hoá có lợi ích kinh tế

Trong các nguyên tắc trên thì nguyên tắc 4 là nguyên tắc đã làm thay đổi mạnh mẽ nhất đến nhận thức của con người về tài nguyên nước

Trang 15

13

Đối với bài toán phân bổ và quản lý tài nguyên nước cũng được dựa trên tiếp cận tối ưu hóa như bài toán kinh tế tài nguyên thiên nhiên nói chung, đã được đề cập ở trên, tức tối

đa lợi ích từ các mục đích sử dụng khác nhau Ngoài ra, với đặc thù ngành nước nên cần

có các điều kiện ràng buộc của hệ thống như:

 Ràng buộc dung tích trữ nước cực đại của hồ chứa: đó là ràng buộc bảo đảm dung

tích trữ nước tại cuối bất kỳ giai đoạn thứ i nào đó không vượt quá công xuất vận

hành tối đa của hồ chứa

 Ràng buộc dung tích tối thiểu của hồ chứa

 Ràng buộc dung tích cuối cùng của hồ chứa

 Lưu lượng tối thiểu cho sử dụng nước ngoài dòng chảy

 Ràng buộc cầu nước theo mùa

 Các ràng buộc khác

Trang 16

14

CHƯƠNG 2 TÓM TẮT VỀ BÀI TOÁN KINH TẾ TÀI NGUYÊN NƯỚC

1.Các đặc tính thất bại thị trường của tài nguyên nước

Kinh tế học đã biết đến một cơ chế giúp cho sự trao đổi diễn ra một cách hiệu quả nhất (theo tiêu chuẩn hiệu quả Pareto) là cơ chế thị trường cạnh tranh hoàn hảo, trong đó những người tiêu dùng là những người phán xét một cách chính xác nhất về giá trị của hàng hoá

và dịch vụ (đối với bản thân mình) (Lý thuyết Kinh tế học vi mô) Tuy nhiên, thực tế cho thấy, thị trường cạnh tranh hoàn hảo không phải là một cơ chế phổ biến vì nó chỉ chiếm khoảng 3% trong cơ cấu thị trường nói chung, bên cạnh cạnh tranh không hoàn hảo (75%)

và độc quyền (20%) Hơn nữa, còn nhiều lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực tài nguyên – môi trường nói chung và tài nguyên nước nói riêng chịu hậu quả trầm trọng của “thất bại thị trường”, là hậu quả của những đặc tính “không loại trừ” và “không cạn kiệt” Do vậy những tiêu chuẩn tối ưu của cạnh tranh không hoàn hảo không phải là một trường hợp phổ biến.Vậy vấn đề đặt ra là tại sao trong ngành tài nguyên môi trường nói chung và tài nguyên nước nói riêng lại xảy ra thất bại thị trường? Theo các nhà kinh tế học cho rằng nguyên nhân chính của thất bại thị trường trong ngành nước do những nguyên nhân cơ bản sau:

Hàng công cộng: Hàng công cộng (hoặc cái xấu công cộng) Đặc tính phân biệt đối với

hàng hóa công cộng và tư dụng là tính phi-cạnh tranh lẫn tính không-loại trừ là các thuộc tính kỹ thuật của hàng hóa

Hậu quả của vấn đề này là các lợi ích cận biên được phát biểu thấp đi bởi hầu hết mọi

người khi được hỏi về giá trị của họ, hiện tượng ăn không (free-riding) xuất hiện, và sẽ

không thu được đủ nguồn lực tài chính để đạt được mức hiệu quả trung tính của cung cấp hàng công cộng Do vậy, hàng hóa công cộng được sản xuất quá ít bởi một hệ thống thị trường, thậm chí khi những “thị trường” đó kết hợp giá cả cá nhân hóa và, một cách đối xứng, cái xấu công cộng được tạo ra quá nhiều.1

Phương án chính sách ban đầu cho quản lý hàng hóa công cộng là quay mặt với các thị trường Thông thường, khu vực công cộng làm các quyết định về mức sản xuất hàng hóa công cộng và viện dẫn tới đánh thuế như một công cụ để thu hồi chi phí Trong khi các

Trang 17

15

khía cạnh xác định của sản xuất có thể được hợp đồng với các doanh nghiệp tư nhân, việc làm-quyết định chủ yếu được thực hiện bởi chủ quyền công cộng

Ngoại ứng: Ngoại ứng (externality) xuất hiện khi hàm tiện ích hoặc hàm sản xuất của một

người-được-ủy-quyền-hành-động “thứ ba” có chứa các khoản mục (như là các hàng hóa được coi là tích cực hoặc tiêu cực) được chọn bởi một hoặc nhiều người-được-ủy-quyền-hành-động khác mà không lưu tâm tới phúc lợi của người-được-ủy-quyền-hành-động thứ

ba này (Baumol và Oates 1988, 17) Như được phát biểu một cách xúc tích nhưng chính xác bởi Myles “Một ngoại ứng thể hiện một sự liên kết giữa các người-được-ủy-quyền-hành-động kinh tế nằm bên ngoài hệ thống giá của nền kinh tế.Khi mức ngoại ứng được tạo ra không được kiểm soát một cách trực tiếp bởi giá cả, các định lý hiệu quả chuẩn tắc

về cân bằng thị trường không thể được áp dụng” (1995, 312)

Ô nhiễm là ví dụ nguyên mẫu (prototypical _ người đầu tiên, vật đầu tiên, mẫu đầu tiên) của một ngoại ứng, do vậy những vấn đề chất lượng nước thường được coi là các tình huống ngoại ứng.Vì các người-được-ủy-quyền-hành-động khác không phải chú ý tới ảnh hưởng của họ cho người-được-ủy-quyền-hành-động thứ ba, họ chọn mức không-hiệu quả

xã hội của hành động.Nếu khoản mục là “tốt”, được đặc tên là ngoại ứng tích cực, việc

xem xét phúc lợi của ủy-quyền-hành-động thứ ba sẽ dẫn những ủy-quyền-hành-động khác tới việc sản xuất nhiều hơn.2 Nếu khoản mục là “xấu”, được gọi

tên là ngoại ứng tiêu cực hoặc có hại (detrimental), việc xem xét phúc lợi của

người-được-ủy-quyền-hành-động thứ ba sẽ dẫn những người-được-người-được-ủy-quyền-hành-động tới sản xuất

nó ít hơn

Việc tham khảo (refering) tới người-được-ủy-quyền-hành-động bị ảnh hưởng như người-được-ủy-quyền-hành-động thứ ba trong định nghĩa này thừa nhận tình huống chung

trong đó các mặc cả thị trường được tiến hành giữa hai người-được-ủy-quyền-hành-động

tác động tới các bên thứ ba theo một cách thức không-hiệu quả về mặt kinh tế Do vậy,

thuật ngữ hiệu ứng bên-thứ-ba là tương tự với các ngoại ứng Các thất bại thị trường thuộc

kiểu này hiển nhiên liên quan tới nhiều người-được-ủy-quyền-hành-động của tất cả các

Trang 18

16

kiểu, và đó thường là trường hợp các khoản mục tác động tới các hành-động thứ ba được xác định một cách tập thể bởi nhiều người-được-ủy-quyền-hành-động thứ nhất và thứ hai.Ví dụ, trong vùng miền sản xuất-than có thể có nhiều mỏ than sản xuất than được bán cho những người sản xuất điện trong toàn đất nước.Nếu thực hành khai

người-được-ủy-quyền-mỏ tạo ra ô nhiễm nước ngầm tác động tới các hộ gia đình và doanh nghiệp trong vùng, thì

có nhiều bên thứ ba bị tác động

Có thể được nói rằng các ngoại ứng tạo thành “các thị trường bỏ quên” (missing markets),

là những điều cũng phục vụ để chỉ ra một dạng giải quyết ngoại ứng _ gán quyền sở hữu cho khoản mục đang xem xét (ví dụ, chất lượng nước ngầm) sao cho những người-được-ủy-quyền-hành-động khác có lý do “lưu tâm tới phúc lợi của người-được-ủy-quyền-hành-động thứ ba” (regard for the third agent’s welfare) Nguyên nhân sẽ là một tín hiệu giá mới Các công cụ chính sách khác (các thể chế) để hiệu chỉnh ngoại ứng bao gồm liên kết với người-được-ủy-quyền-hành-động thứ ba (nếu cả hai là các công ty), các động cơ khuyến khích kinh tế như tài trợ hoặc đánh thuế khoản mục độc lập, Tất cả những thiết bị chính

sách như vậy để nội hóa ngoại ứng bằng cách uốn nắn những lựa chọn của

người-được-ủy-quyền-hành-động thứ nhất và thứ hai với các lựa chọn mong muốn của xã hội Các đặc tính của ngoại ứng đang xét thường loại bỏ một hoặc nhiều tùy chọn chính sách này Tất cả các tùy chọn chính sách này, bao gồm sự tạo lập thị trường theo cách gán quyền sở

hữu, sẽ kèm theo các chi phí thông tin, được gọi là chi phí giao dịch Hơn nữa, chi phí giao

dịch của việc thiết lập và vận hành mỗi chính sách sẽ là đơn nhất (unique) cho chính sách được chọn.Một số hoặc thậm chí tất cả các tùy chọn chính sách có thể có chi phí giao dịch vượt quá giá trị hiệu chỉnh ngoại ứng Do vậy các chính sách xác định có thể có lợi thế tương đối so với những chính sách khác, và nếu các chi phí giao dịch là đủ lớn, lựa chọn tốt nhất có thể là không có bất kỳ chính sách nào cho ngoại ứng, là một điều có thể hình dung được (Griffin 1991)

Xử lý ngoại ứng này cho tới nay vẫn là khá trừu tượng, do vậy chúng ta hãy làm cho

nó hữu hình hơn (more tangible) với một vài ví dụ Các ví dụ sau đây gắn với một số trong nhiều ngoại ứng được cho là (arguably) tác động các dạng sở hữu tư nhân của quản lý nước

Trang 19

17

(Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia 1992, 5) Các ví dụ khác sẽ được quan sát khi chúng trở thành thích hợp trong những chương tiếp theo

Các ngoại ứng dòng hồi quy xuất hiện từ sự kiện nước không bị hủy hoại trong sử

dụng.Sau khi nước được sử dụng bởi một người-được-ủy-quyền-hành-động bất kỳ (một trang trại, một doanh nghiệp, hoặc một hộ gia đình), một phần nào đó của nước quay trở lại dòng chảy tự nhiên hoặc một chỗ chứa nào đó để trở thành khả dụng bởi những người-được-ủy-quyền-hành-động thứ ba

Độc quyền tự nhiên: Độc quyền tự nhiên (natural monopoly) là một sắp đặt sản xuất trong

đó hiệu quả kinh tế bị tổn thương, không được trợ giúp, bởi cạnh tranh thị trường Tổn thương là do chi phí sản xuất trung bình (AC) giảm một cách phổ biến (Chi phí trung bình của nước được cung cấp đơn giản là tổng chi phí chia cho khối lượng nước được cung cấp) Nói theo ngôn ngữ chất phác hơn (plainer laguage), sản lượng càng tăng thì chi phí đơn vị càng giảm Chi phí trung bình giảm thường xảy ra cho các nhà cung cấp nước.Như một hậu quả kỹ thuật, chi phí cận biên của việc cung cấp một đơn vị hàng hóa thêm vào luôn

hạ thấp chi phí trung bình Hai hàm ý quan trọng khi đó xuất hiện: chi phí sản xuất đơn vị

sẽ thấp nhất khi một người sản xuất đơn lẻ cung cấp cho tất cả những người tiêu dùng, và định giá chi phí-cận biên của hàng hóa không tạo ra đủ doanh thu để thu hồi toàn bộ chi phí của nhà sản xuất Cả hai hàm ý này cần phải được xét lại trong các chương sau

Khi một người-được-ủy-quyền-hành-động sản xuất đơn lẻ phục vụ toàn bộ những người tiêu dùng, một cơ chế thể chế để giới hạn quyền lực thị trường của người-được-ủy-quyền-hành-động là hữu ích Nếu một nhà cung cấp đơn lẻ được phép làm các quyết định không kiểm soát, sự theo đuổi lợi nhuận của anh ta sẽ dẫn anh ta sản xuất quá ít sao cho ảnh hưởng tới giá cả theo hướng tăng lên Các tùy chọn xã hội thông thường là hai-mặt (twofold).Hãng kinh doanh được vận hành hoặc như cơ quan điều hành công cộng phi-lợi nhuận hoặc như một công ty bị điều chỉnh-giá Lựa chọn này là một nỗi nan giải cổ điển Vận hành công cộng kiểu này không đối mặt với cạnh tranh và có thể không được truyền cảm hứng để theo đuổi các hoạt động tối thiểu-chi phí Mặt khác, công ty bị điều chỉnh có thể cố gắng tuyên bố quá cao chi phí của nó (trong đó giá bị điều chỉnh thường được dựa vào) và/hoặc bỏ qua các dự kiến chất lượng-của-dịch vụ hợp lý.Khi đã biết tỷ lệ bị điều

Trang 20

18

chỉnh thường sẽ dựa trên giao hoàn cho vốn được cho phép về mặt công cộng, các công ty

bị điều chỉnh có xu hướng sử dụng các chiến lược sản xuất không phải chi phí tối thiểu vì

họ đầu tư quá nhiều vào vốn

2.Vấn đề hiệu quả và phân bổ tài nguyên nước

Định hướng coi-con-người-là-trung-tâm (anthropocentric) của kinh tế học tài nguyên nước thu hẹp các mục tiêu sẵn có để chỉ dẫn cho việc làm-quyết định, nhưng các phương án thay thế nhau vẫn còn nhiều Cần phải có một mục tiêu cụ thể cho phân tích kinh tế Mục tiêu hữu ích một cách lý tưởng sẽ cần phải có phạm vi và quyền lực đủ để chỉ dẫn cho một dải rộng các quyết định liên quan-tới-nước

Các vấn đề nước mà xã hội đối mặt là vô số và biến thiên Ví dụ, khi phân chia các cung cấp nước giới hạn, chúng ta cân nhắc như thế nào lượng nước được sử dụng cho tưới (và sản lượng lương thực tạo thành của nó) đối lập với những sử dụng thay thế như vệ sinh hộ gia đình hoặc dòng chảy để duy trì môi trường sống của hệ sinh thái? Chúng ta sẽ lựa chọn như thế nào giữa việc mở rộng một sử dụng nước cụ thể hoặc mở rộng một thực hành bảo tồn-nước khi sử dụng nước cụ thể tiêu thụ tài nguyên nước và thực hành bảo tồn-nước tiêu thụ các tài nguyên khác? Chúng ta cần bơm hút bao nhiêu tài nguyên nước ngầm có thể cạn kiệt cho sử dụng trực tiếp và chúng ta cần để lại bao nhiêu nước trong tầng ngậm nước cho sử dụng của những người vừa mới sinh ra? Những vấn đề này gắn với các đánh-đổi (trade-offs) giữa những người khác nhau, giữa các sử dụng nước khác nhau một cách đáng

kể, giữa các tài nguyên nước và các tài nguyên khác, và giữa những người hôm nay và những người tương lai

Vì những vấn đề này nguyên bản là mang tính con người và ở quy mô lớn liên quan tới xã hội, mong muốn công cộng muốn chúng sẽ được giải quyết như thế nào? Thật không may, các đề xướng của các sử dụng nước cụ thể là ích kỷ so vậy họ tự nhiên sẽ lý luận, cũng như vận động hành lang hoặc bầu cử, nhân danh lợi ích của họ vis-à-vis (đối lập) với các lợi ích khác, và họ thậm chí sẽ đệ trình thông tin lệch lạc để nâng cao các mục tiêu riêng của

họ Tranh cãi công cộng về nước tạo ra các viễn cảnh khác nhau và những thỉnh cầu xúc động (emotive appeals), như đã được nhận xét trong chương trước Trên bề mặt của toàn

bộ sự ồn ào (noise) này, những người chuyên nghiệp trong ngành nước có thể tập hợp thông

Trang 21

19

tin hữu ích như thế nào, và chúng ta có thể sử dụng thông tin này như thế nào để tạo ra các quyết định thuận lợi cho xã hội về sử dụng nước? Các nhà kinh tế gạt bỏ ý tưởng có thể sắp hạng chính xác các sử dụng nước thay thế nhau.3Ví dụ, không thể nói rằng sử dụng nước sinh hoạt luôn là đáng mong muốn hơn (hoặc có giá trị hơn) so với tưới, hoặc ngược lại Những người giữ vai trò chủ đạo (protagonist) trong các cuộc tranh luận công cộng về nước có thể bảo trợ ý kiến nước nói chung là đáng mong muốn hơn trong một ngành này

so với một ngành khác, nhưng bằng chứng kinh tế không hỗ trợ suy nghĩ như vậy (Bất cứ khi nào vấn đề tài nguyên nước được cho thấy trắng đen rõ ràng, bạn có thể nghi ngờ rằng

Việc lựa chọn một mục tiêu là khó hơn nhiều vì mục tiêu phải thường gắn vào các trọng số tương đối cho những người khác nhau hoặc những nhóm người khác nhau Có những trọng

số như vậy rõ ràng là quan trọng, vì rất nhiều quyết định công cộng về nước (hoặc một tài nguyên hoặc vấn đề bất kỳ) liên quan tới những đánh-đổi về đề xuất phúc lợi của một người hoặc một nhóm như được so sánh với những người hoặc nhóm khác Điều này sẽ được thực hiện như thế nào còn phụ thuộc vào các trọng số tương đối

Các nhà kinh tế đã nghĩ ra hai mục tiêu xã hội chỉ dẫn thay thế lẫn nhau, và họ đề cập tới

vấn đề trọng số theo các cách khá khác nhau Cả hai liên quan tới hiệu quả phân bổvì vấn

đề đầu tiên là phân bổ các tài nguyên giới hạn như thế nào.Đầu tiên chúng ta sẽ chỉ ra một

Trang 22

20

cách thống nhất từ hiệu quả kinh tế trung tính vì nó lảng tránh (side-step) hoàn toàn vấn

đề đánh-trọng số bằng cách nhấn mạnh một dải các quyết định “tốt” Các nhà kinh tế nói

chung gọi khái niệm này là tối ưu Pareto Thứ hai chúng ta sẽ gọi hiệu quả kinh tế tổng

hợp, và nó thực hiện nhiệm vụ đánh trọng số bằng cách xử lý các giá trị được trải nghiệm

bởi những người khác nhau như thể chúng là tương xứng (commensurate) với nhau và sau

đó tối đa hóa tổng giá trị được cộng lại theo tất cả những người sử dụng nước Phân biệt hiệu quả kinh tế trung tính và tổng hợp tốt nhất được kết luận sau khi chúng ta đã phát triển đầy đủ các mục tiêu và các mong muốn của những người sử dụng nước cá nhân Không có

gì đáng ngạc nhiên khi mọi người có các mục tiêu cá nhân để tính toán khi theo đuổi các mục tiêu xã hội, vì xã hội là một tổng hợp của các cá nhân Để thiết lập chỗ đứng vữngs

chắn, chúng ta sẽ bắt đầu bằng việc khảo sát chi phí của cung cấp nước, và sau đó kiểm tra các cầu đối với nước được biểu diễn bởi mọi người và các doanh nghiệp Những vấn đề này sau đó có thể được kết hợp lại để thông báo cho chúng ta về việc nước có thể được phân bổ một cách hiệu quả như thế nào qua các nhóm cầu khác nhau của nó

Hiệu quả kinh tế (tổng hợp)

Sử dụng các khối đã được tập hợp lại cho tới nay, chúng ta có thể tiến hành điều tra phân

bổ tối ưu của nước từ viễn cảnh của một xã hội Chính sách công cộng và các dự án công

cộng cần được lựa chọn để thúc đẩy các mục tiêu xã hội, do vậy chúng ta cần cô lập các mục tiêu đó nếu chúng ta sắp đặt chính sách tốt và xây dựng cơ sở hạ tầng đáng mong muốn Vì xã hội là một sự tổng hợp của các cá nhân, sự tổng hợp là một chỗ tốt để bắt đầu

Để thực hiện bài toán phân bổ, một trong những điều quan trọng hàng đầu là việc xây dựng các hàm lợi ích cho từng mục đích sử dụng như nước tưới, sinh hoạt, công nghiệp, phát điện, du lịch, Việc ước lượng giá trị của các hàm lợi ích không giống nhau đối với các mục đích, do đó đòi hỏi các kỹ thuật tính toán giá trị cho từng mục đích đã được đề cập trong cơ sở lý thuyết về tính toán giá trị cho ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên và môi trường

Cầu sử dụng nước tưới

Để xây dựng cầu sử dụng nước tưới có nhiều phương pháp tính, tuy nhiên trong Đào Văn Khiêm và các cộng sự (2012), đã xây dựng hàm cầu nước tưới phù hợp với loại cây trồng

Trang 23

21

lúa điển hình Về cơ bản, các bước xây dựng hàm cầu nước tưới được thực hiện theo 3 bước cơ bản sau:

Bước 1: Xây dựng hàm cầu cho 1ha điển hình

Bước 2: Xây dựng hàm cầu cho toàn bộ khu tưới

Bước 3: Điều chỉnh theo thất thoát từ đầu mối tới khu tưới

Bước 4: Tách đường cầu tưới theo vụ mùa thành đường cầu tưới theo tháng

Bước 5: Điều chỉnh mưa hiệu quả

Sau khi đã xây dựng được đường cầu theo tháng tương ứng với đặc thù tăng trưởng của cây trồng, một nhiệm vụ quan trọng nữa để hoàn thành đường cầu nước tưới là hiệu chỉnh lượng mưa hiệu quả Lượng mưa hiệu quả được hiểu là lượng nước mưa còn trữ lại trong ruộng sau khi đã chảy tràn Lượng mưa hiệu quả được xem như là lượng nước sẵn có nên

sẽ không được tính để đưa vào hàm cầu sử dụng nước Chính vì vậy, cần phải tách lượng mưa hiệu quả ra khỏi phần tính cầu nước

Tính toán giá trị nước sinh hoạt

So với cầu nước tưới, việc xây dựng cầu nước sinh hoạt có phần rõ ràng hơn bởi có hệ thống đồng hồ và giá các gia đình thanh toán Tuy nhiên, việc xây dựng sẽ trở nên khó khăn khi ngoài nguồn cung cấp sử dụng nước sinh hoạt thông qua hệ thống đường ống dẫn thì nhiều hộ gia đình còn dùng nước từ các nguồn khác như nước giếng khoan, bể nước mưa cộng thêm với biểu giá nước sinh hoạt thường theo dạng bậc thang (giá theo block) nên các thông tin giá và lượng tiêu dùng chưa thực sự thể hiện hàm cầu nước sinh hoạt đô thị Việc xây dựng hàm cầu sử dụng nước cho mục đích sinh hoạt đô thị về nguyên tắc được xây dựng trên cơ sở điều tra, phỏng vấn các hộ gia đình sống thông qua phương pháp CVM để tìm hiểu ý muốn thanh toán cho các m3 nước khác nhau tương ứng với các mục đích (Đào Văn Khiêm, 2009), (Bùi Thị Thu Hòa, 2012) với cách xây dựng hàm cầu nước sinh hoạt dưới dạng hàm e mũ

Cầu sử dụng nước cho phát điện

Ccầu sử dụng nước cho mục đích phát điện khá phức tạp hơn so với các mục đích khác bởi tính giá trị của nước được thể hiện gián tiếp thông qua lượng điện sản xuất và tiêu thụ Cụ

Trang 24

22

thể mặc dù chúng ta có thể xây dựng hàm cầu sử dụng điện của các hộ gia đình nhưng chưa

đủ mà cần thể hiện quan hệ giữa sản lượng điện với khối lượng nước được phân bổ cho mục đích này thông qua công suất quay tuabin của nhà máy phát điện Rõ ràng, chúng ta xác định giá trị nước cho mục đích phát điện phải biểu diễn thông qua hai quan hệ là công

suất tạo ra điện và cầu sử dụng điện năng

Sản xuất thủy điện được dựa trên nguyên tắc sự chênh lệch cao trình cột nước được tính từ mặt nước đến cổng lấy nước chạy qua tua bin Hình trên mô phỏng quy trình sản xuất thủy điện từ nước Trước hết, để tính toán giá trị kinh tế của nước cho sản xuất điện cần tính toán hàm sản xuất điện Ta có hàm công suất nhà máy thủy điện là:

trong đó, P là năng lượng tính bằng watt, là hiệu quả của tuốc-bin (ví dụ 0.85), là mật độ của nước tính bằng kg trên m3 (xấp xỉ 1000kg/m3), Q là lưu lượng (m3/s), g là gia

tốc trọng trường (xấp xỉ 9.81m/s2), và h là chiều cao cột nước của nhà máy điện Tuy nhiên

sản lượng điện phụ thuộc chênh lệch cột nước, nên quan hệ này thể hiện hàm sản xuất của sản xuất điện (erf)

Khả năng của một máy điện để sản xuất năng lượng được thể hiện bằng hàm tỷ lệ năng lượng (erf):

)(

]/[MWh Mcm a1 b1S

Trong đó:

Trang 25

23

erf: là hàm tỷ lệ năng lượng

ŋ: hiệu quả tổng hợp của máy móc

a1, b1: là các tham số của mô hình tuyến tính

Từ đó, theo Laufer and Morel-Seytoux (1979) hàm lợi ích phát điện trong một khoảng thời gian được tính như sau:

TB i (triệu VNĐ) = erf( )×P(z)dz

Trong đó TBi là lợi ích điện tháng i

erf( ) là hàm tỷ lệ năng lượng

Tính toán giá trị nước cho du lịch

Tính giá trị của nước cho hoạt động du lịch không thể tính toán một cách trực tiếp bởi nó không được thể hiện rõ nét trên thị trường mà phải dùng các phương pháp gián tiếp thông qua phương pháp chi phí du lịch (TCM- Travel Cost Method) Mô hình lý thuyết của phương pháp này được thể hiện trước hết qua hàm thăm viếng của khách du lịch như dưới đây:

Vt = f( Ci, X1i, X2i, Xni) (6)

Trong đó: Vt là số cuộc thăm viếng đến từ nguồn thứ i hoặc bởi cá nhân i; Ci là chi phí của

một của một cuộc thăm viếng đến từ nguồn i hoặc bởi cá nhân i , và xác xuất là các biến

thích hợp khác Giả thiết cơ bản thứ hai là chi phí của cuộc thăm viếng bao gồm cả chi phí

du lịch T i , thay đổi theo i, và giá vào cửa P, cố định theo i và 𝑉𝑡

𝐶𝑖 < 0 Các thành phần chi phí này sẽ tác động trực tiếp đến quyết định du lịch Cụ thể, chúng ta sẽ có hàm du lịch cần ước lượng là:

Trang 26

tế và xã hội Chúng bao gồm cả các ràng buộc phi-chính thức (informal) (trừng phạt, cấm

kỵ [taboos], phong tục tập quán [customs], truyền thống, và các bộ quy tắc ứng xử [codes

of conduct]), và các quy tắc chính thức (formal) (hiến pháp, luật, quyền sở hữu)” (North

1991, 97; North là chủ nhân giải Nobel Kinh tế năm 1993 cho các đóng góp cho kinh tế

học thể chế) Bởi vậy, thể chế là các quy tắc phi-chính thức và chính thức định hình lên

“hệ thống các áp lực tương hỗ” (sysem of mutual coercion) theo đó con người quan hệ với nhau (Samuels 1972, 64) Nghĩ một cách khác, “các thể chế là các tập quan hệ có trật tự giữa mọi người, là những điều xác định quyền của họ, phơi bày với các quyền của những

Trang 27

Khi thiếu vắng thông tin đặc biệt hơn, sẽ khó lựa chọn một chế độ thể chế được ưa thích

cho quản lý X, nhưng có khả năng phân ra (lay out) bốn phương án thay thế căn bản Sắp

đặt thể chế khởi đầu được mô tả cho X là thể chế truy cập mở (open access).Tài nguyên

truy cập mở là một tài nguyên không có quy tắc thiết lập các điều kiện cho sử dụng nó.Bất

kỳ ai có thể sử dụng nó bao nhiêu mà họ muốn _ ‘ai đến trước, người đó được phục vụ trước (first come, first serve)’ mô tả tình huống này.Trong thế giới ngày nay, bạn sẽ không thể có thời gian để tìm được một ví dụ của tài nguyên truy cập mở hoàn toàn Trải qua hàng thiên niên kỷ trong đó con người đã khai thác vô số tài nguyên, chúng ta đã thiết lập và sửa chữa các quy tắc cho hầu như mọi thứ Không phải tất cả các quy tắc này được soạn thành luật (codify), nhưng thậm chí các phong tục và các thỏa thuận không chính thức tạo ra các thể chế Do vậy, nếu bạn dự tính sắp đặt tài nguyên và nghĩ nó có thể là một sắp đặt truy cập mở, bạn dường như không nhìn vào một cách đủ gần gũi Hãy đến thăm những người

sử dụng tài nguyên và bạn sẽ phát hiện ra các thể chế hướng dẫn

Cho dù hầu như không tồn tại các tài nguyên truy cập mở, đây là một khái niệm nền tảng (backdrop) hữu ích mà đối với nó các quy tắc khác được làm tương phản.Truy cập mở tạo thành một cực đoan _ hữu ích cho xác định điểm cuối của một dải các kiểu quy tắc Trong chuỗi lịch sử của các sự kiện, khi mọi người đã khám phá ra những sử dụng cho một tài nguyên mới, chúng ta đã từ bỏ truy cập mở cho tài nguyên đó và, một cách điển hình,

đã chấp nhận một dạng sử dụng được phép thứ hai: sở hữu chung (common property) Tài

nguyên sở hữu chung được sở hữu “chung nhau” và được quản lý phù hợp với các thể chế

xã hội được chấp nhận của “tài nguyên chung” (common) (Ciriacy-Wantrup và Bishop

Trang 28

26

1975) Những thể chế như vậy có thể cung cấp cho một chương trình quản lý phức tạp hoặc

để lại (leave) các quyết định quản lý cho nhóm tạo nên tài nguyên chung Ở đây, tài nguyên

chung (common) là toàn bộ những người hưởng các quyền tương tự nhau với truy cập tài

nguyên Các ví dụ được thừa nhận-rộng rãi của các tài nguyên sở hữu chung bao gồm đàn

cá biển, đất đai cho chăn nuôi súc vật được sử dụng cho trồng cỏ, bầu khí quyển, và nhiều sắp đặt tài nguyên nước Tùy thuộc vào các tình huống, tài nguyên chung có thể được bao gồm bất cứ những gì từ một nhóm ít người tới dân số toàn cầu

Các tài nguyên sở hữu chung có thể được phân biệt với các tài nguyên truy cập mở ở chỗ sở hữu chung áp dụng (embed) các điều kiện sử dụng và các quy tắc cho những ai có thể sử dụng tài nguyên Truy cập mở không đòi hỏi các ràng buộc như vậy

Truy cập mở hàm ý sự thiếu vắng của các quy tắc quản lý, và đã được dự tính sẽ thất

bại cho bất kỳ thứ gì mà chúng ta có thể gọi là một tài nguyên.Quyền sở hữu chung(common

property) hàm ý không có sự thiếu vắng quy tắc như vậy, mặc dù sẽ thường đúng là các

quy tắc quyền sở hữu chung đặc biệt đã bị lỗi thời và khó hòa hợp với mức khan hiếm hiện tại của tài nguyên Có nhiều vô số các kiểu thể chế quyền sở hữu chung có thể được triển khai, như ví dụ đánh bắt tôm hùm bắt đầu minh họa, và sẽ thường có khả năng thay thế các quy tắc quyền sở hữu chung lỗi thời (obsolete) bởi những quy tắc tốt hơn (Ostrom 1990) Trong bất kỳ trường hợp nào, ai đó không thể kết luận các thể chế xác định là phi-hiệu quả chỉ vì chúng tạo thành quyền sở hữu chung, như thành ngữ tấn thảm kịch ám chỉ (insinuate)

Tài nguyên sở hữu nhà nước (state property resource) là những tình huống trong đó

một tài nguyên được sở hữu một cách chính xác bởi chính phủ Trong áp dụng thông thường, một cơ quan của chính phủ sẽ thiết lập các quy tắc mà các người-được-ủy-quyền-hành-động phải tuân theo khi họ sử dụng tài nguyên này Trong các nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, là các nền kinh tế ngày càng hiếm gặp vì chúng hoạt động kém hơn tương đối so với các hệ thống khác, dạng sở hữu nhà nước được sử dụng nhiều.Trong trường hợp này, chính phủ thực hiện hầu hết việc làm-quyết định, chỉ ra mọi thứ phải được sử dụng như thế nào và với số lượng bao nhiêu Trong áp dụng ít nghiêm ngặt hơn, phổ biến cho nhiều quốc gia, sở hữu nhà nước cho phép nhà nước loại bỏ các kiểu sử dụng xác định và giới hạn bất kỳ sử dụng nào khi mà cơ quan kiểm soát còn sử dụng các thủ tục được chấp

Trang 29

27

nhận để thiết lập các quy tắc của nhà nước Các sử dụng được nhà-nước-chấp thuận có thể được thực hiện miễn phí, hoặc những người-được-ủy-quyền-hành-động có thể phải thanh toán phí.Sở hữu nhà nước có thể cùng tồn tại với các dạng sở hữu khác, như khi một bộ phận tài nguyên được nhà nước sở hữu Ví dụ, một phần nào đó của đất đai của xã hội có thể được sở hữu và quản lý bởi nhà nước (công viên, rừng, …) trong khi các phần khác được sở hữu tư nhân hoặc sở hữu chung Chính điều này cũng có thể đúng cho tài nguyên nước, và khả năng này sẽ được kiểm tra trong phần thứ hai của chương này

Phân loại thứ tư và cuối cùng của các dạng quy tắc là sở hữu tư nhân.Tài nguyên sở

hữu tư nhân được phân-chia giữa những người-được-ủy-quyền-hành-động cá nhân và có

thể được chuyển nhượng (transfer) bởi chủ sở hữu cho một người khác nào đó Trong chuỗi các sự kiện bình thường, một xã hội sẽ chỉ chấp nhận các thể chế sở hữu tư nhân cho một tài nguyên sau khi nó đã đã áp dụng các thể chế sở hữu chung hoặc nhà nước cho tài nguyên

và khan hiếm tăng cao dẫn tới dịch chuyển tới sở hữu tư nhân Trong đa số các trường hợp, dịch chuyển này có thể được miêu tả như một quá trình tiến hóa lịch sử, có lẽ cần tới hàng trăm năm, trong đó các thể chế sở hữu chung/nhà nước được phát triển để quản lý các tài nguyên mới, các thể chế sở hữu chung/nhà nước dần được cải tiến (refine) để xử lý với khan hiếm tăng lên-chưa-từng thấy, và tài nguyên cuối cùng được phân bổ (có lẽ qua các thành viên của sở hữu chung) như các quyền sở hữu tư nhân được xác định-tốt và có thể chuyển nhượng Bước cuối cùng trong quá trình này có thể không bao giờ xảy ra Hoặc nó

có thể là sản phẩm của các cơ chế khác nhau; có thể thông qua một chuỗi các quyết định tòa án, cân nhắc kỹ lưỡng giữa các thành viên của sở hữu chung hoặc bên trong chính phủ, các ứng dụng mở rộng của các truyền thống trước đó hoặc các quy tắc pháp luật, hoặc thậm chí bởi chiếm hữu cưỡng đoạt tài nguyên bởi những người-được-ủy-quyền-hành-động quốc nội hoặc ngoại lai với một truyền thống sở hữu tư nhân.4Hoặc chúng ta có thể hoàn toàn (altogether) bỏ qua các bước trung gian, và trực tiếp chấp nhận sở hữu tư nhân cho các tài nguyên mới.Theo truyền thống đối với sở hữu tư nhân, vẫn còn dễ có khả năng rằng các

Trang 30

sở hữu tư nhân như là đỉnh cao (pinnacle) của đổi mới thể chế

Nếu sở hữu tư nhân là thuận lợi như vậy, ai đó sẽ có ý thiên về (be inclined) câu hỏi, Tại sao phải làm rối (mess) lên với sở hữu chung hoặc nhà nước? Tại sao chúng ta không

phân phát các quyền sở hữu tư nhân cho tất cả các tài nguyên? Có ba nguyên nhân chung

tại sao chuyển đổi hoàn toàn sang sở hữu tư nhân có thể không khả thi hoặc không đáng mong muốn:

1 Thiết lập sở hữu tư nhân cho nước tự nhiên thay thế sở hữu nhóm hoặc nhà nước với một tập hợp các chủ sở hữu cá nhân và phân biệt, do vậy dường như là xuất hiện những vấn đề bình đẳng đối với phân-chia công bằng tài nguyên này Nếu nhóm người sử dụng

là lớn và chính sách thay đổi tới sở hữu tư nhân đòi hỏi sự đồng thuận rộng rãi, quán tính của việc cố gắng xoa dịu (placate) mọi người có thể là khó vượt qua Nếu một số thành viên của nhóm người sử dụng tin rằng họ sẽ mất quyền truy cập (nhận các quyền sở hữu ít hơn so với các mức sử dụng điển hình của họ), họ nói riêng và một xã hội thân ái (sympathetic) nói chung có thể không hỗ trợ dịch chuyển về phía quyền sở hữu tư nhân

2 Để hỗ trợ, sở hữu tư nhân là tốn kém hơn so với sở hữu chung Phân-chia khởi đầu có thể là đắt đỏ Sau đó trở đi, các hồ sơ phải được duy trì đối với quyền sở hữu và chuyển nhượng, và “các biên giới” phải được cưỡng chế Theo một cách nào đó, sử dụng cá nhân phải được đo lường để bảo đảm sẽ tuân thủ với quyền được mỗi người-được-ủy-quyền-hành-động nắm giữ Các tuyên bố mâu thuẫn sẽ phát sinh và yêu cầu giải quyết, thông thường bởi hệ thống tòa án (judicial system) Trong khi chính các lớp chi phí vận hành này

có thể xuất hiện trong các hệ thống sở hữu khác, bản chất sở hữu tư nhân tinh tế hơn có thể

Trang 31

29

được kết hợp với các chi phí lớn Trong những tình huống như những tình huống này, không phải luôn rõ ràng là các lợi ích tăng thêm của sở hữu tư nhân là hiệu quả để biện minh cho các chi phí lớn hơn

3 Có những tình huống kỹ thuật khiến cho các ngoại ứng và hàng hóa công cộng không

có đơn thuốc sửa chữa bởi sở hữu tư nhân Quả thực, những vấn đề này có thể bị làm trầm trọng thêm Nghiên cứu những vấn đề kỹ thuật này được trì hoãn tới khi chúng ta thiết lập những kỹ thuật nghiêm ngặt hơn đối với hiệu quả tương lai của một hệ thống thị trường (như chúng ta sẽ sớm thấy sau đây)

Học thuyết kinh tế về việc ai cần được ban cho các quyền sở hữu được bắt nguồn từ một đóng góp trọng tâm (centerpiece) của Ronald Coase, một chủ nhân khác của giải Nobel về kinh tế học Công trình của Coase trong “Vấn đề chi phí xã hội” (1960) đã được cô đọng

lại (abridge) thành Định lý Coase nổi tiếng hiện nay, thậm chí mặc dù bài báo nguyên bản

không có mô hình toán học và chứng minh Mặc dù có thể được mở rộng, tâm điểm của Định lý Coase là câu hỏi sau: Khi hiệu chỉnh một tình huống ngoại ứng bằng cách tạo lập quyền sở hữu (và các giao dịch kế tiếp liên quan tới các quyền mới), các quyền sở hữu được phân-chia như thế nào lúc khởi đầu có là quan trọng hay không? Câu trả lời đơn giản được cung cấp bởi các phiên bản đương đại của Định lý Coase là: Chúng ta nhận được hiệu quả kinh tế trung tính bất kể việc các quyền sở hữu mới được phân-chia như thế nào Các phân-chia khác nhau, được kéo theo bởi các giao dịch thị trường, đưa nền kinh tế tới các điểm khác nhau trên đường giới hạn tạo ra hiệu quả trung tính (nhớ lại Hình 2.16), mà tất

cả là hiệu quả theo nghĩa trung tính Tất cả đều không hiệu quả theo nghĩa tổng hợp, nhưng người ta cho rằng (arguably) điều này là mối quan tâm thứ cấp đối với những vấn đề như vậy 5Bởi vậy (to this extent), khi đó, phân-chia không quan trọng và quyết định có thể được giải quyết một cách hợp lý bởi các tiêu chuẩn xã hội khác, đặc biệt các ý tưởng xã

hội về công bằng trong phần chia quyền mới này

Để tìm hiểu các khẳng định này bằng ví dụ, hãy giả sử các nhà quản lý nước của Lưu vực Miền Tây Hoa kỳ phải đối mặt với một số khó khăn ngày càng tăng Một kịch bản

Trang 32

30

không may lại hay xảy ra được mô tả như sau Trong suốt thời gian quá khứ, nhiều người sản xuất nước khác nhau dọc theo con sông cùng tồn tại một cách hòa nhã, vì từng có nhiều nước cho tất cả mọi người Vì tăng trưởng dân số hiện nay, một số thành phố đã tăng khối lượng lấy nước của họ và một số thị trấn đang nỗ lực khởi xướng lấy các khối lượng nước mới vì những cung cấp nước ngầm của họ đã không còn “đủ” nữa Khung thể chế hiện tại

xử lý tất cả những người sử dụng, cũ và mới, như các thành viên của một cộng đồng chung,

và điều đó được dựa trên một tập các quy tắc nhấn mạnh “phân-chia công bằng” tại những thời điểm dư cầu (excess demand) (khi khối lượng cầu vượt quá khối lượng cung) Kiểu (wrinkle) mới nhất gần đây cho các nhà quản lý là dư cầu không còn là sự kiện ít xảy ra nữa _ nó xảy ra mỗi mùa hè như một hậu quả của cầu cao.Ý tưởng chia sẻ công bằng đã trở nên khó áp dụng vì mọi người có viễn cảnh ích kỷ về điều gì là công bằng Các vụ kiện pháp lý giữa những người sử dụng đã trở thành phổ biến, và chủ quyền nước lưu vực thường cũng được gọi tên theo các tòa án này Mọi người nói chuyện về nước là “cần thiết cho tiếp tục tăng trưởng kinh tế”, nhưng dường như không là đủ để xem xét vấn đề (go around) Cấu trúc thể chế của lưu vực đã kéo dài đến mức vượt quá tính hữu ích Hoặc sắp đặt quy tắc sở hữu chung cần được cập nhật hoặc bước quá độ (transition) tới hệ thống hỗn hợp tư nhân/cộng đồng cần được tiến hành

Một thể chế sở hữu chung tốt hơn sẽ là thành lập định giá nước kết hợp giá trị của nước tự nhiên Ý Một sự nâng cấp quyền sở hữu chung khác sẽ là giải quyết các giới hạn

sử dụng nước đặc biệt cho mỗi người sử dụng, sao cho tất cả các giới hạn này cộng lại sẽ nhỏ hơn lượng nước của dòng sông mỗi năm Tất nhiên, chúng ta cũng sẽ muốn phân-chia một lượng nào đó cho các dòng chảy giành cho hạ du nữa.Một vấn đề với cập nhật này là các giới hạn cá nhân sẽ phải được xem lại và xét lại sau một số năm Tăng trưởng tiếp diễn trong cầu và những người sử dụng mới sẽ đòi hỏi điều này

Đề xuất trên đây là khá gần với sở hữu tư nhân.Chỉ có một bước thêm vào là chuyển những giới hạn này thành các quyền có thể chuyển đổi được Một bước như vậy có lợi thế

là có khả năng đề cập đến tăng trưởng mới sắp xảy ra mà không có can thiệp Những người

sử dụng mới hoặc tăng thêm sẽ phải có được nước từ những người sở hữu nó, bằng cách mua hoặc thuê nó Tín hiệu giá mới phát sinh sẽ giúp tạo ra hiệu quả

Trang 33

31

Chúng ta hãy giả thiết các quyền có thể chuyển đổi (sở hữu tư nhân) là tiếp cận được chọn Các quyền này nên được phân-chia ban đầu như thế nào? Theo Định lý Coase, các quyền có thể được gán theo một cách bất kỳ Hiệu quả trung tính sẽ tạo ra như một hậu quả của các giao dịch giữa những người có quyền đối với lượng nước vượt quá khối lượng cầu của họ tại mức giá thị trường và những người có các quyền bên dưới mức khối lượng cầu của họ tại mức giá thị trường.Vì hai nhân tố chính, phân bổ hậu-thị trường (sau-trao đổi) của các quyền nước sẽ bị ảnh hưởng bởi phân phối khởi đầu.Hai vấn đề này xuất hiện một cách sít vào nhau (closely) bởi những phát biểu đương đại của Định lý Coase

 Việc mới được cấp (endowed) một quyền có giá trị mang đến cho chủ sở hữu một của cải tăng thêm Vì ý-muốn-thanh-toán (cầu) cho đa số hàng hóa bị tác động một cách tích cực bởi khả năng thanh toán (thu nhập và của cải), phân phối khởi đầu của quyền sở hữu nước có tiềm năng ảnh hưởng các hàm cầu đối với tất cả các hàng hóa, kể cả nước Do vậy, phân bổ hậu-thị trường các quyền về nước có thể bị tác động bởi cách thức chúng ta phân phối các quyền nước mới

 Bất kỳ hàng hóa nào có thể mua và bán một cách tốn kém (costly) do chi phí thông tin của giao dịch Những người mua và người bán phải tìm được nhau; họ phải khẳng định sự ủng hộ quyền sở hữu và tài chính; họ phải đo lường chất lượng và khối lượng của hàng hóa; và họ phải giải quyết các bảo hiểm về mặt pháp lý và cưỡng bức giao dịch của họ Những người mua và những người bán có thể lựa chọn thanh toán cho những người khác vì các dịch vụ này Đồng thời, những chi phí thông tin này (các chi phí giao dịch) sẽ ngăn chặn không cho xảy ra các trao đổi nhẽ ra là các trao đổi có lợi vì các lợi ích giao dịch phải vượt quá các chi phí giao dịch nếu thương vụ được xảy ra (Coase 1960, Mục 6) Sự kiện này cho thấy một thước đo nào đó của “quán tính” cho quyền sở hữu, sao cho “các phân

bổ quyền sở hữu sau-giao dịch (post-trade) sẽ có một sự giống nhau nào đó” cho phân-chia khởi đầu (Griffin 1991, 607)

Điểm thứ hai là đáng chú ý hơn đối với nước.Như một chất lỏng, nước không đặc biệt tuân thủ là “được khoanh lại _staked out” hoặc được rào lại Đo lường chính xác cũng là một vấn đề vì các dụng cụ đo không sẵn có hoặc chính xác 100 phần trăm và đáng tin cậy Nếu quá trình trao đổi phải được giám sát bởi công cộng để nắm bắt các ngoại ứng dòng

Trang 34

32

hồi quy, có những chi phí giao dịch thêm vào thì mới làm việc được Tất cả những gánh nặng này tăng thêm quán tính (sức ỷ?) của các quyền về nước Trong khi các nhà lập kế hoạch có thể được an nhàn bởi các kết quả của Định lý Coase _ khi nói rằng một trong những phân bổ hiệu quả trung tính sẽ xảy ra bất kể phân phối khởi đầu _ phân phối khởi đầu lại là quan trọng

Luật nước mặt

Các chính phủđã thiết lập các học thuyết luật nước cho quản lý nước mặt và nước ngầm Thậm chí mặc dù các nguồn nước mặt và nước ngầm thường được liên kết về mặt thủy văn, điều này là có thể hiểu được, cũng như thật không may, các thể chế của chúng được phát triển một cách khác nhau Sử dụng nước mặt đã có một bước nhảy lịch sử đáng kể vào (jump on) nước ngầm và thậm chí đã tạo ra một ảnh hưởng thực sự lớn lên các mẫu hình định cư của con người Do vậy, sự khan hiếm cần có cho phát triển thể chế lần đầu được xuất hiện cho nước mặt Các thể chế này được phát triển khi các xung đột được chọn ra (sorted out), do vậy bảng các quy tắc tạo thành có thể được sắp xếp bừa bãi (haphazard):

“Trên thực tế, phát triển luật nước thường xuất hiện trong một bầu không khí khủng hoảng trong đó việc giải quyết vấn đề tài nguyên nước thúc bách (pressing) nhưng được xác định hẹp đã là mục tiêu nguyên thủy Bởi vậy luật nước nói chung không bao gồm một chỉnh thể (body) các nguyên tắc pháp luật tổng hợp hoàn chỉnh cho quản lý tài nguyên, và các vấn đề phối hợp giữa các bộ luật khác nhau thường xuất hiện” (Cox 1982, 107) Phù hợp với các quan sát trước đây của chúng ta, các thể chế xưa nhất cho nước mặt có các dạng của sở hữu chung, và trong lịch sử tương đối gần đây một số chính phủ đã khuyến nghị một bước quá độ (transition) một phần tới sở hữu tư nhân Các bang của Hoa kỳ có một phạm vi rộng rãi đáng kể trong lựa chọn các học thuyết luật nước riêng của họ, do vậy sẽ không có gì đáng ngạc nhiên khi thấy hằng hà sa số học thuyết đã xuất hiện

Học thuyết ven sông (Riparian Doctrine): Sở hữu chung đối với nước mặt

Theo kinh nghiệm của Hoa kỳ, một hệ thống luật nước đặc sắc là học thuyết ven sông Học

thuyết này cũng phổ biến ở các quốc gia khác, kể cả những quốc gia của Khối thịnh vượng chung của Anh (Scott và Coustalin 1995) Về mặt lịch sử, chủ nghĩa ven sông (riparianism) chủ yếu được chấp nhận (adopted) ở các bang Miền Đông Hoa kỳ, nơi mà khan hiếm nước

Trang 35

 chỉ những người sống ven sông được quyền về mặt pháp lý sử dụng nước mặt;

 các quyền về nước này không được cố định về mặt khối lượng;

 mỗi sử dụng nước ven sông phải là “hợp lý” trong mối quan hệ với sử dụng nước của những người sống ven sông khác trong lưu vực

Các hệ thống cấp giấy phép Miền Đông: Sở hữu nhà nước về nước mặt

Không có gì ngạc nhiên khi thấy những vấn đề quản lý nước đã dần được bộc lộ trong các thẩm quyền ven sông Hệ thống quản lý sở hữu chung nằm trong học thuyết ven sông được xác định một cách quá lỏng lẻo bởi tính hợp lý, và các quyền xung đột nhau phải được cân bằng trên một cơ sở tốn kém và tùy thuộc tình huống Tiếp cận mềm này cho quản lý chỉ đáng mong muốn khi khan hiếm thấp và các xung đột là không thường xuyên

Trong khi các thể chế ven sông nhấn mạnh đến cách giải quyết của ngành tòa án, các cải cách quy hoạch và cấp phép đang được khởi xướng bởi các cơ quan lập pháp (legislatures).Hơn nữa, các trách nhiệm quản lý hành chính mới đang được tạo ra và gán cho các cơ quan Chúng là những chuyển hướng rõ ràng, và chúng phát tín hiệu một bước quá độ từ sở hữu chung tới sở hữu nhà nước Như được tương phản với chủ nghĩa ven sông, những thể chế này nghiệm ngặt hơn.Điều còn lại có thể được thấy là liệu các giấy phép này

có tiến hóa thành các quyền sở hữu có thể chuyển nhượng được hay không.Tức là, các bang có thể xử lý các giấy phép này một cách khả thi như là các dạng có thể chuyển nhượng của quyền sở hữu tư nhân hay không.Các hệ thống mới thường sử dụng “các giấy phép có kỳ hạn” (term permits), là các giấy phép có vòng đời hữu hạn (ví dụ là 10 năm) và cần phải được tiếp tục đổi mới.Các giấy phép có thời hạn không có tính chuyển nhượng như các quyền vĩnh cửu vì vòng đời ngắn ngủi của chúng giới hạn giá trị của chúng Bất kỳ loại sử dụng nước nào nói chung được kèm theo bởi các mức đầu tư cơ sở hạ tầng không nhỏ, do vậy tính an toàn bị cắt giảm của các giấy phép hạn chế khả năng thị trường và làm hao mòn (dull) động cơ khuyến khích của những người sử dụng thực hiện các đầu tư có liên quan

Trang 36

tiểu-34

Học thuyết chiếm hữu trước: Sở hữu tư nhân cho nước mặt

Ở phần đầu của chương này, chúng ta đã xem xét tiêu chuẩn lý tưởng tổng quát của quản

lý các tài nguyên của xã hội bằng cách phân phối các tài nguyên đó như là sở hữu tư nhân

và cho phép thương mại (trade).Có lẽ thể chế tích cực và rộng rãi nhất áp dụng cho tầm nhìn này là học thuyết chiếm hữu trước: Mức thâm niên, Lượng hóa, Khả năng chuyển nhượng

Như một kết quả của ý thức hệ hướng-thị trường, các nhà kinh tế nói một cách sôi nổi (glowingly) về học thuyết chiếm hữu trước.Đặc điểm đáng khen ngợi nhất là khả năng chuyển nhượng làm cho các chủ sở hữu nước nghĩ về giá trị của nước của họ đối với những người khác.Tức là, chính sách này phát tín hiệu về các chi phí cơ hội của nước cho mỗi chủ sở hữu nước Sẽ là không nhạy cảm với tư cách cá nhân nếu sử dụng nước cho vụ mùa giá trị-thấp tạo ra hai mươi đô la thu nhập một acre-foot trong khi ai đó khác đề nghị một trăm đô la Nếu không có khả năng chuyển đổi, sử dụng hai mươi đô la sẽ tiếp diễn và xã hội sẽ mất một cơ hội.Một đặc điểm thứ hai là mức độ thâm niên cung cấp một cơ chế thị trường cho các quyền về nước “chất lượng-cao hơn” (higher-quality) có được giá trị cao hơn.Các dao động bất thường về khí hậu suy ra cung cấp nước thay đổi hàng năm Một số người sử dụng nước gắn giá trị cao hơn cho các cung cấp nước an toàn hơn (ít bất định hơn) Các đô thị tự trị (municipacities) là một ví dụ nguyên thủy Với mỗi quyền về nước

“được đánh dấu” (tagged) về thâm niên chỉ ra sự an toàn tương đối trong những năm khô hạn, những người sử dụng nước có thể trao đổi để đạt được các quyền về nước làm cân bằng giá của các quyền về nước an toàn hơn so với giá trị mà sự an toàn này tạo ra cho người sử dụng này

Dưới dạng thuần túy của nó, học thuyết chiếm hữu trước không ràng buộc sử dụng nước vào đất đai ven sông Những người không sống ở ven sông có thể tìm cách sử dụng tài nguyên nước.Quả thực, điều này là một phần của động cơ để nghĩ ra khái niệm chiếm hữu trước bởi những người khai mỏ Miền Tây trong những năm 1800

Các cổ phần tương quan: Sở hữu tư nhân đối với nước mặt

Một cơ chế khác cho quản lý cung cấp nước mặt khả biến là sử dụng các cổ phần có thể

chuyển nhượng trong tài nguyên.Đây là dạng sở hữu tư nhân của các cổ phần tương quan

Ngày đăng: 10/04/2021, 10:45

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm