1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm thơ quang dũng

95 265 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xem cảm hứng đất nước, quê hương với cảm hứng khát vọng lên đường là biện chứng của tư duy hành động, nhà nghiên cứu đã đưa ra một đánh giá khái quát về nguồn thi cảm này trong thơ Quan

Trang 1

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Nguy ễn Trí Thanh

ĐẶC ĐIỂM THƠ QUANG DŨNG

LU ẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Trang 3

M ỤC LỤC

M ỤC LỤC 3

M Ở ĐẦU 5

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Giới hạn đề tài 6

2.1 M ục đích nghiên cứu 6

2.2 Đối tượng nghiên cứu 6

3 Lịch sử vấn đề 7

3.1 M ở đầu 7

3.2 Các hướng tiếp cận thơ Quang Dũng 9

3.2.1 Hướng tiếp cận đi vào giới thiệu cảm nhận, đánh giá chung về thơ Quang Dũng d ựa trên cuộc đời và con người của nhà thơ 9

3.2.2 Hướng tiếp cận đi vào phân tích thẩm bình một số tác phẩm cụ thể 12

3.3 Nh ận định chung 14

4 Phương pháp nghiên cứu 15

4.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp 15

4.2 Phương pháp thống kê phân loại 15

4.3 Phương pháp miêu tả, so sánh đối chiếu 15

4.4 Phương pháp hệ thống 15

5 Một số đóng góp của luận văn 15

6 Kết cấu của luận văn 16

CHƯƠNG 1: CUỘC ĐỜI, QUÁ TRÌNH SÁNG TÁC VÀ NGUỒN THI CẢM TRONG THƠ QUANG DŨNG 17

Trang 4

1.1 Cuộc đời và quá trình sáng tác 17

1.1.1 Cu ộc đời 17

1.1.2 Quá trình sáng tác 22

1.2 Nguồn thi cảm trong thơ Quang Dũng 24

1.2.1 Ngu ồn thơ viết về quê hương đất nước 24

1.2.2 Cảm hứng khát vọng lên đường 29

CHƯƠNG 2: HÌNH TƯỢNG THƠ TRONG THƠ QUANG DŨNG 34

2.1 Hình tượng thơ 34

2.2 Hình tưọng thơ trong thơ Quang Dũng 35

2.2.1 Hình tượng quê hương 36

2.2.2 Hình tượng người lính 50

CHƯƠNG 3: NGÔN NGỮ THƠ VÀ THỂ THƠ TRONG THƠ QUANG DŨNG 64

3.1 Ngôn ng ữ thơ trong thơ Quang Dũng 64

3.1.1 Nghệ thuật dùng từ dân dã, từ chỉ địa danh 65

3.1.2 Nghệ thuật sử dụng từ láy và điệp hình ảnh 71

3.2 Th ể thơ trong thơ Quang Dũng 76

3.2.1 Thơ tự do 76

3.2.2 Thơ bảy tiếng 81

3.2.3 Th ể thơ năm tiếng 86

K ẾT LUẬN 89

TÀI LI ỆU THAM KHẢO 91

Trang 5

M Ở ĐẦU

1.1 Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ để bảo vệ nền độc lập đã điểm vào trang sử hào hùng của dân tộc những vết son chói lọi, ghi dấu thời kỳ đau thương nhưng vô cùng anh dũng của nhân dân ta Ba mươi năm chưa hẳn đã là khoảng thời gian dài so với lịch

sử bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước Song nó cũng đủ để dân tộc ta làm nên những "chấn

động địa cầu", cũng đủ để bộc lộ hết vẻ đẹp tâm hồn và lòng dũng cảm của con người Việt

Nam Chiến tranh cũng đã kết thúc bằng ngần ấy thời gian nhưng dư âm của nó vẫn đọng lại trên từng trang thơ Trong khoảng thời gian ba mươi năm đó, nền thơ ca Việt Nam đã gặt hái được nhiều thành tựu vô cùng rực rỡ Thơ ca đã thực sự trở thành sức mạnh tinh thần góp phần làm nên thắng lợi vẻ vang của dân tộc ta Có thể nói, chưa bao giờ nền văn học nước nhà lại xuất hiện một đội ngũ nhà thơ đông đảo và nhiều thế hệ như ở thời kỳ này Bên cạnh lớp nhà thơ thành danh từ trước Cách mạng như: Tố Hữu, Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính, Tế Hanh, một thế hệ nhà thơ xuất hiện ngay từ hồi đầu cuộc kháng chiến chống Pháp và đã nhanh chóng khẳng định mình trên diễn đàn thi ca như: Hoàng Cầm, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông, Chính Hữu, Hồng Nguyên, Hoàng Lộc, Trần Hữu Thung, Minh Huệ, Trong số đó không thể không kể đến nhà thơ Quang Dũng

1.2 Bên cạnh những đóng góp đáng kể trong lĩnh vực văn xuôi, Quang Dũng xuất hiện trong nền văn học hiện đại dân tộc với tư cách là một nhà thơ bằng một hồn thơ độc đáo, riêng biệt Trải qua hơn nửa thế kỷ với biết bao thăng trầm và đầy thử thách, Quang Dũng vẫn giữ một vị trí quan trọng trong tiến trình văn học Việt Nam nói chung và thơ ca hiện đại của dân tộc nói riêng Thơ ông đã phản ánh một chặng đường lịch sử đau thương mà hào hùng của dân

tộc trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại Thơ ông đã để lại ấn tượng tốt đẹp và niềm say mê trong lòng người yêu thơ qua nhiều thế hệ mặc dù trong một thời gian dài bị nghi kị, quy chụp Tác phẩm của ông từ lâu đã được đưa vào giảng dạy ở nhà trường phổ thông là một minh chứng hùng hồn cho điều đó Nghiên cứu về: "Đặc điểm thơ Quang Dũng'' sẽ góp phần khẳng định tài năng của ông trong lĩnh vực thơ ca, làm sống lại một tâm hồn chân thực, hồn hậu mà hào hoa, lãng mạn - một tâm hồn tiêu biểu cho một thế hệ trưởng thành trong bão táp của cách mạng tháng Tám và được tôi rèn, thử thách qua hai cuộc kháng chiến

Trang 6

1.3 Quang Dũng là nhà thơ trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống Pháp cùng với những gương mặt tiêu biểu như: Nguyễn Đình Thi, Chính Hữu, Hồng Nguyên, Hoàng Trung Thông, Hoàng cầm, Hoàng Lộc, Hữu Loan, Ông đã góp vào nền thơ ca hiện đại một tiếng nói khá riêng biệt bằng chất thơ hào hoa, lãng mạn của một nghệ sĩ đa tài Thơ Quang Dũng ra đời

đã sớm nhận được sự quan tâm, cổ vũ của độc giả Nhất là kể từ khi bài thơ "Tây Tiến" xuất

hiện

Tuy vậy, việc nghiên cứu thơ Quang Dũng trong nhiều năm qua còn rất ít ỏi và tản mạn Thiết nghĩ, đối với một hồn thơ như Quang Dũng cần tiếp tục được nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống Từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: "Đặc điểm thơ Quang Dũng" trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những công trình nghiên cứu của những người đi trước với mong muốn làm rõ hơn vị trí và những đóng góp nhất định của ông trong dòng chảy của nền thơ ca Việt Nam hiện đại Đồng thời góp một phần hữu ích và thiết thực trong việc giảng dạy thơ Quang Dũng trong nhà trường phổ thông

2.1 Mục đích nghiên cứu

Đặt Quang Dũng trong tiến trình thơ ca Việt Nam hiện đại, từ việc khảo sát, nghiên cứu văn bản thơ có kết hợp với các yếu tố thời đại, thân thế, hoàn cảnh cá nhân nhà thơ, chúng tôi hướng tới xác định đặc điếm thơ Quang Dũng và khẳng định những đóng góp của ông cho nền văn học nói chung và thơ ca Việt Nam hiện đại nói riêng

Để làm rõ điều này, chúng tôi liên hệ, so sánh với một số nhà thơ cùng thế hệ với ông như: Nguyễn Đình Thi, Chính Hữu, Hoàng Cầm, Hoàng Trung Thông, Hồng Nguyên, Hoàng Lộc, ở một số vấn đề cụ thể như: hình tượng quê hương, đất nước; hình tượng người lính; ngôn ngữ thơ

Là một nghệ sĩ đa tài, Quang Dũng đã đóng góp cho nền văn học nghệ thuật nước nhà trên nhiều lĩnh vực: văn, thơ, nhạc, họa Ở lĩnh vực nào, ông cũng gặt hái được những thành công đáng kể Nhưng, thơ ca mới chính là mảnh đất màu mỡ nhất để ông thoa sức gieo trồng và gặt hái những hạt giống tâm hồn Và chỉ ở thơ ông, người đọc mới nhận dạng rõ nhất con người

Trang 7

nhà thơ Quang Dũng - một tâm hồn chân thực, hồn hậu mang nhiều ước mơ khát vọng, lắm suy

tư, trăn trở nhưng cũng rất bay bổng, phiêu lãng "Quang Dũng ỉa một nghệ sĩ đa tài Ông làm thơ, viết văn, vẽ tranh và soạn nhạc Ở lĩnh vực nào cũng có những thành ụni đáng kể, nhưng noi bật hơn cả vẫn là thơ" [48, tr.622] Ở luận văn này, chúng tôi chủ yếu nghiên cứu Quang

Dũng với tư cách một nhà thơ

Sự nghiệp sáng tác thơ của Quang Dũng trải dài qua ba giai đoạn của nền văn học hiện

đại dân tộc Trước 1945, Quang Dũng xuất hiện trên thi đàn với một số bài thơ như: "Chiêu Quân", "Cố Quận" Sau 1975, Quang Dũng vẫn tiếp tục sáng tác, trong đó tiêu biểu nhất là bài thơ: "Nhớ một bóng núi"

Còn lại, sự nghiệp thơ ca của ông chủ yếu được sáng tác trong ba mươi năm chiến tranh

và được tuyển chọn lại trong tập "Mây đầu ô" xuất bản năm 1986, với chỉ vẻn vẹn hai mươi hai

bài thơ Một tập thơ riêng mà cho tận đến những năm cuối đời, người bạn thân đứng ra in ông mới có được Ông chẳng bao giờ có ý thức vun vén, tạo dựng cho mình một sự nghiệp Vì thế thơ ông cứ vương vãi khắp nơi trên những chặng đường phiêu lãng, qua những chuyến đi của ông Có thể nói, số lượng thơ của Quang Dũng không nhiều Tính hết thảy cũng chỉ chưa đầy năm chục bài nhưng ông đã góp vào nền thơ ca hiện đại nước nhà một tiếng nói riêng biệt, độc đáo Đánh giá về sự nghiệp thơ ca của Quang Dũng, nhà nghiên cứu văn học Văn Giá viết:

"Bây gi ờ thì áng mây trắng Xứ Đoài Quang Dũng vẫn cứ lãng đãng ngang trời, phủ một bóng

cứu Nguyễn Xuân Nam viết: "Nền thơ mới của chúng ta cần nhiều nhà thơ tốt và khác nhau

Quang Dũng không phải là người viết nhiều, in nhiều Nhưng với "Mây đầu ô" anh đã đưa đến cho chúng ta phần tắt đẹp nhất của tâm hồn mình, của cá tính sáng tạo của mình" [74, tr.439]

Ở luận văn này, chúng tôi chủ yếu đề cập đến những tác phẩm thơ được Quang Dũng sáng tác trong hai cuộc kháng chiến, được in trong các tập: "Bài thơ sông Hồng" (1956), "Rừng biển quê

hương" (1957), "Mậy đầu ô" (1986)

3.1 M ở đầu

Nhớ lại đời thơ Quang Dũng, nhà thơ Trần Lê Văn viết trong lời giới thiệu "Tuyển tập

Quang Dũng" xuất bản 1999: "Trước Tây Tiến, Quang Dũng đã làm thơ Trong những bài thơ

Trang 8

đầu tay của anh, có bài có thể coi như tiếng dạo đàn ( ) Tuy nhiên, đến "Tây Tiến", Quang Dũng mới bắt đầu khẳng định được minh, bắt đầu bộc lộ sự hĩnh thành một phong cách thơ, một diện mạo thơ" [69, tr.23]

Quang Dũng đến với thơ rất sớm Ông gia nhập làng thơ với bài thơ "Chiêu Quân'' được

viết năm 1937, khi mới mười sáu tuổi Nhưng Quang Dũng chỉ thực sự được khẳng định và nổi tiếng với bài thơ "Tây Tiến" (1948) Ngay từ khi mới ra đời, bài thơ "Tây tiến" đã gây một tiếng vang lớn Nó làm say mê độc giả trong và ngoài quân đội, nó thu hút sự chú ý của giới nghiên cứu, song chẳng bao lâu bài thơ bị cấm lưu hành Và cùng số phận với bài thơ, nhà thơ Quang Dũng cũng ít được nhắc đến Trong khoảng vài chục năm trở lại đây, kể từ khi đổi mới, trên diễn đàn văn học xuất hiện nhiều bài nghiên cứu, phê bình của các nhà nghiên cứu, các nhà thơ, nhà văn và bạn bè của Quang Dũng viết về ông Đánh giá về sự nghiệp thơ Quang Dũng, nhà nghiên cứu văn học Văn Giá viết: '''Không thể nói là đã có một sự nghiệp bề thế, số lượng văn

phẩm thì cũng thường thường, ấy thế mà Quang Dũng cứ có một chỗ đứng chắc nịch trong nền thơ ca hiện đại” [22, tr.7]

Trong phạm vi giới hạn của luận văn, chúng tôi sẽ lần lượt điểm qua một số công trình nghiên cứu, phê bình về thơ Quang Dũng có liên quan đến đề tài nghiên cứu Trên cơ sở đó, chúng tôi đưa ra các ý kiến đánh giá về đặc điểm nội dung và nghệ thuật thơ Quang Dũng Từ

đó, giúp chúng tôi có cái nhìn toàn diện về đặc điểm thơ ông

Tính đến nay, thơ Quang Dũng được tìm hiểu và nghiên cứu trên nhiều phương diện với mức độ đậm nhạt khác nhau Nhìn chung, giới nghiên cứu tiếp cận thơ ông theo hai hướng Hướng thứ nhất, đi vào giới thiệu, cảm nhận, đánh giá chung về thơ Quang Dũng dựa trên cuộc đời và con người nhà thơ Hướng thứ hai, đi vào phân tích, thẩm bình một số bài thơ cụ thể để làm tư liệu trong nhà trường Để hình dung cụ thể, trong phần lịch sử vấn đề, chúng tôi đi vào trình bày các hướng tiếp cận thơ Quang Dũng, và từ đó có một cách đánh giá đúng đắn, hợp lý

về đặc điểm thơ Quang Dũng và những đóng góp của ông đối với nền thơ ca hiện đại

Trang 9

3.2 Các hướng tiếp cận thơ Quang Dũng

3.2.1 Hướng tiếp cận đi vào giới thiệu cảm nhận, đánh giá chung về thơ Quang Dũng dựa trên cuộc đời và con người của nhà thơ

Theo hướng này có các bài nghiên cứu, giới thiệu của các nhà nghiên cứu, các nhà thơ, nhà văn và bạn bè thân thiết với Quang Dũng như: Trần Lê Văn, Ngô Quân Miện, Hoàng Như Mai, Mai Hương, Thanh Châu, Nguyễn Xuân Nam, Phong Lê, Đỗ Lai Thúy, Văn Giá, Hoài Việt, Lữ Giang, Lê Bảo, Vân Long, Nhìn chung, các bài viết từ nhiều hướng cảm nhận đánh giá khác nhau, các tác giả đã giới thiệu cùng người đọc những ấn tượng chung về thơ Quang

Dũng trên hai phương diện nội dung và nghệ thuật Trong bài viết "Về Quang Dũng", nhà thơ

Trần Lê Văn, người bạn thân thiết gắn bó với Quang Dũng, đã giới thiệu khá đầy đủ về nhà thơ

từ tiểu sử, gia cảnh, đặc điểm con người cho đến sự nghiệp sáng tạo nghệ thuật của ông Sau

khi đánh giá đỉnh cao "Tây Tiến" trong sự nghiệp thơ ca Quang Dũng, Trần Lê Văn đi vào phân

tích bài thơ gắn với hoàn cảnh ra đời của nó Trên cơ sở đó, ông khẳng định giá trị và những

đóng góp lớn lao của "Tây Tiến" Tiếp theo, Trần Lê Văn giới thiệu một số bài thơ mà ông tâm đắc như: "Những làng đi qua", "Lính râu ria", "Bất Bạt đêm giao quân'' và "Mây đầu ô" Từ

đó, ông nêu ra một số đặc điểm về nội dung và nghệ thuật của thơ Quang Dũng và một lần nữa phủ nhận những ý kiến một thời cho rằng thơ Quang Dũng là loại thơ "lãng mạn tiểu tư sản",

thơ "lính cậu", "mang tư tưởng buồn rớt"

vào làng thơ cách mạng; dù có cơn gió lãng mạn ruối theo thì cũng là gió thuận, gió mạnh, gió đẩy cánh buồm Cái lãng mạn ấy - trong phần tốt đẹp của nó - dễ gặp, dễ hoa nhập với lãng mạn cách mạng [69, tr.32-33] Đây là một tư liệu quý, rất đáng quan tâm Nó giúp cho người

viết luận văn này có cái nhìn tương đối hoàn chỉnh khi đi vào nghiên cứu, tiếp cận thơ Quang Dũng từ góc độ bản thể

Ngô Quân Miện khi bàn về tập "Mây đầu ô" có những nhận xét rất tinh tế: "Quang Dũng

là một tâm hồn thơ đa cảm, thơ anh đầy cảm xúc, đầy tình cảm, nó là thứ thơ mà người ta gọi

viết: "Thơ Quang Dũng đi vào tâm hồn người đọc khá hồn nhiên và thâm sâu'' [71, tr.12] Cùng chia sẻ với đánh giá này của Ngô Quân Miện, Nguyễn Xuân Nam, trên tuần báo Văn nghệ, số

Trang 10

33, ngày 16-8-1986 đã viết: "Quang Dũng làm thơ hồn nhiên quá Anh chỉ biết viết cái mình

viết này, Nguyễn Xuân Nam giới thiệu đến người đọc tập "Mây đầu ô" Và khi đánh giá tập

thơ, ông viết: "Quang Dũng không viết những câu chung chung, thường viết những câu thơ nhi ều chi tiết cụ thể quan sát được Nhiều chi tiết nổi rõ lên với màu sắc, âm thanh, mùi vị"

[74, tr.435] Hay khi bàn về cảm hứng trong tập thơ này, Nguyễn Xuân Nam viết: "Thơ Quang

Dũng làm phong phú thêm bộ sưu tập những vẻ đẹp của làng quê mà Nguyễn Nhược Pháp, Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ từng có đóng góp" [74, tr.437]

Tâm đắc với chất lãng mạn của hồn thơ Quang Dũng, trong bài viết: "Sau mười năm: đọc

l ại Mây đầu ô", nhà thơ Vân Long có một nhận xét khá tinh tế: "Cái gì hoành tráng, bi tráng, xanh thẳm, ngút ngàn mới là vòm trời của cánh bay Quang Dũng" [44, tr.48] Để làm cơ sở

cho đánh giá đó, Vân Long đã phân tích một số bài thơ như: Tây Tiến, Những làng đi qua, Bất Bạt đêm giao quân, Đường trăng, Từ đó, nhà thơ xem "Mây đầu ô" là một "dãy núi nhấp

nhô" với những đỉnh cao như Tây Tiến, Mắt người Sơn Tây, Và, ông cho rằng tập thơ đã đánh

dấu một bước chuyển của thi pháp thơ Việt Nam

Trân trọng với một tính cách chân thành và một hồn thơ lãng mạn, Văn Giá cho rằng:

"Quang Dũng: Áng mây trắng xứ Đoài" Quang Dũng sinh ra để làm một kiếp mây "Hình ảnh

mây đã ám vào số phận thi ca này như một định mệnh, như một phán quyết của thượng giới vô hình không thể cưỡng lại được ngay từ hồi mới bước vào nghiệp thơ kia" [22, tr.3] Hay ở một

chỗ khác ông lại viết: "Suốt một hành trình hồn thơ Quang Dũng, mây đã trở thành một ám

ảnh bền bỉ với nhiều biến hóa" [22, tr.4] Để nhấn mạnh ý tưởng đó, một lần nữa Văn Giá lại

gọi Quang Dũng là “Áng mây trắng mang hình thi sĩ” ông viết:

Thì ra vẫn là một đám mây mang hĩnh tráng sĩ phiêu bồng vào trận mạc Cả lớp người trí

của nhà thơ đều là những đám mây mang hình tráng sĩ Áng mây Quang Dũng hòa lẫn trong đội hình ấy [22, tr.4]

Rồi, áng mây ấy đã sà xuống cõi nhân gian với một tấm lòng yêu mến, mê say cuộc sống:

"Ông vẫn làm một áng mây ôm ấp tình yêu, ấp iu khung cảnh đời thường" [22, tr.7] Cùng chia

sẻ với quan điểm này, Mai Hương nhận xét: “Có người làm thơ lấy cái chân làm gốc, lại có

Trang 11

người trọng sự tài hoa Ở Quang Dũng là sự kết hợp tuyệt vời giữa vẻ đẹp chân chất, dân dã

v ới tài hoa tinh tế” [72, tr.22] Đỗ Lai Thúy cũng gọi Quang Dũng là "Mây trắng xứ Đoài" Ở

bài viết này, ông đi sâu tìm hiểu chất lãng mạn thấm đẫm trong con người thơ Quang Dũng:

"Nghĩa là thơ ông vẫn ánh lên trong ánh sáng của mỹ học thơ mới" [64, tr.49] Cùng nhất trí với ý kiến này, Nguyễn Đăng Mạnh trong bài “Quang Dũng, người thơ” đã viết: "Thơ Quang

Dũng có những bài thật hay Cảm hứng lãng mạn cuốn bốc dào dạt'' [47, tr.l16] Nhìn chung,

các ý kiến trên là những gợi ý rất thiết thực và bổ ích cho chúng tôi khi đi sâu nghiên cứu đặc điểm thơ Quang Dũng

Một trong những bài viết khá công phu thể hiện cái nhìn tương đối toàn diện về cuộc đời

và sự nghiệp của Quang Dũng đó là bài viết của Lê Bảo Ở phần đầu bài viết, Lê Bảo đã đưa ra một nhận xét khái quát về sự nghiệp sáng tác của Quang Dũng:

Quang Dũng tự thể hiện tài năng của mình trên nhiều thể loại: vẽ tranh, soạn nhạc, viết truyện, làm thơ Riêng văn chương: viết truyện nhiều, ghi chép bằng văn xuôi nhiều, còn thơ lại

ít Thế nhưng giá trị văn chương lại không tỉ lệ thuận với số lượng, bởi thế cái còn lại của Quang Dũng lại chính là thơ [4, tr.7]

Từ nhận định chung đó, Lê Bảo đã đi sâu tìm hiểu thơ Quang Dũng trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật Bàn về nội dung thơ Quang Dũng, Lê Bảo cho rằng: “Thơ Quang

Dũng hội tụ được hai dòng thi cảm Đất nước, quê hương cùng với khát vọng lên đường là cốt cách của một hồn thơ, một đời thơ ấy” [4, tr.7] Nhận định này đã được nhà phê bình khai triển

ở hai nội dung: Đất nước, quê hương và khát vọng lên đường Đánh giá về nguồn thi cảm quê

hương đất nước, Lê Bảo nhận xét: "Quê hương, với Quang Dũng, đã là một gắn bó, một nâng

đỡ diệu kì, giúp một đời thơ vững bước Quê hương với thi sĩ không chỉ là một tĩnh yêu, mà còn

là niềm tin'' [4, tr.9] Xem cảm hứng đất nước, quê hương với cảm hứng khát vọng lên đường là

biện chứng của tư duy hành động, nhà nghiên cứu đã đưa ra một đánh giá khái quát về nguồn thi cảm này trong thơ Quang Dũng: ''Khao khát lên đường với hào khí và lòng tự nguyện,

không phải người lính không nghĩ đến hy sinh Nhưng có hành động nào cao quý hơn hành động xả thân cho lý tưởng'' [4, tr.19] về mặt nghệ thuật, Lê Bảo đã đi sâu khai thác cách xây

dụng hình ảnh, ngôn từ, giọng điệu và, ông có một nhận xét thật xác đáng: "Thơ Quang Dũng

k ết hợp được cốt cách cổ điển, hiện đại với sự cách tân, nghĩa là vừa kế thừa, vừa đổi mới" [4,

Trang 12

tr.23] Nhìn chung, bài viết của Lê Bảo đã thể hiện một cái nhìn khá sâu sắc và toàn diện về thơ Quang Dũng Đây là chuyên luận rất bổ ích và thiết thực đối với chúng tôi khi thực hiện đề tài này

3.2.2 Hướng tiếp cận đi vào phân tích thẩm bình một số tác phẩm cụ thể

Theo hướng tiếp cận này, có một số bài viết của các nhà văn, nhà nghiên cứu được đăng tải trên các báo, tạp chí hay trên các tờ đặc san tiêu biểu là các bài của: Hà Minh Đức, Trần Đăng Xuyên, Nguyễn Đăng Mạnh, Vũ Quần Phương, Phong Lan, Trần Lê Văn, Nhìn chung, các bài viết chủ yếu tập trung vào phân tích, thẩm bình bài thơ “Tây Tiến” và có đề cập đến vài

bài thơ khác như: Mắt người Sơn Tây, Mây đầu ô, Lính râu ria, Những làng đi qua, Không đề,

Có lẽ điều đó cũng dễ hiểu vì “Tây Tiến” chính là hồn thơ Quang Dũng Khi nhận xét về

“Tây Tiến”, nhà thơ Trần Lê Văn viết: "Quang Dũng vào làng thơ cách mạng với bài thơ “Tây Tiến” Như có một mối duyên gì ràng buộc, bài thơ ấy gắn bó với người làm ra nó đến mức nói đến Quang Dũng là người ta nhớ đến "Tây Tiến" và ngược lại" [69, tr.19]

Cùng chia sẻ với suy nghĩ đó của Trần Lê Văn, nhà nghiên cứu Phong Lan trên Tạp chí

văn học, số 3 - 1990 cũng viết: "Quang Dũng như một nhà thơ là nhờ riêng một bài thơ Tây Tiến ấy được sáng tác cách đây bốn mươi hai năm Một bài thơ có sức sống lâu dài như thế kể cũng lạ lùng và đáng cho nhiều nhà thơ ao ước.'' [71, tr.19] Đây là một nhận xét tuy có hơi

quá lời nhưng là một đánh giá cao đối với "Tây Tiến" Ở một chỗ khác, khi đánh giá về giá trị nội dung của bài thơ này, Phong Lan viết: "Có thể nói Tây Tiến - đó chính là một tượng đài

bằng thơ bất tử mà nhà thơ Quang Dũng với tất cả tấm chân tình đã dựng nên để tưởng niệm những người chiến sĩ vô danh đã hy sinh vì nước" [71, tr.24]

Trong bài viết "Quang Dũng và Tây Tiến", Trần Lê Văn nói rất rõ về hoàn cảnh ra đời của

bài thơ và khẳng định: "Bài thơ Tây Tiến nảy sinh trong những năm tháng không thể nào quên,

từ một môi trường sổng chiến đấu cũng không thể nào quên" [71, tr.11] Sau khi đánh giá về

cái bi và cái hùng của bài thơ, Trần Lê Văn nhận định: “Bài thơ Tây Tiến có phảng phất những

nét bu ồn, những nét đau, nhưng đó là cái buồn đau bi tráng chứ không bi lụy” [71, tr.l4]

Trang 13

Cùng chia sẻ với suy nghĩ này, Trần Đăng Xuyên đi sâu phân tích hai đặc điểm nổi bật của bài thơ "Tây Tiến" là cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng Ông cho rằng: "Tây Tiến

không hề che dấu cái bi Nhưng bi mà không lụy Cái bi thể hiện bằng một giọng điệu, âm hưởng, màu sắc tráng lệ, hào hùng Chất lãng mạn hòa hợp với chất bi tráng, tạo nên vẻ đẹp độc đáo của bài thơ" [4, tr.38] Hay ở một chỗ khác, khi đi sâu phân tích hình tượng người lính

và đoàn binh Tây Tiến, Trần Đăng Xuyên viết:

Quang Dũng đã chọn lọc, đã tinh lọc những nét tiêu biểu nhất của những người lính Tây

quân Cái bi và cái hùng là hai chất liệu chủ yếu của bức tượng đài, chúng hòa quyện, xâm nhập vào nhau, nương tựa, nâng đỡ nhau, tạo nên vẻ đẹp bi tráng - cái thần thái chung của cả bức tượng đài [4, tr.43]

Xen lẫn những đánh giá về nội dung, nhà nghiên cứu cũng đưa ra những nhận xét rất sâu sắc về nghệ thuật trên nhiều phương diện từ cách dùng từ đến nhạc điệu của bài thơ: “Hơn đâu

hết, trong đoạn thơ này, chất thơ và chất nhạc hòa quyện với nhau đến mức khó mà tách biệt”

[4, tr.42] Viết về bài thơ “Tây Tiến”, Hà Minh Đức cũng có những suy nghĩ rất gần gũi với Trần Đăng Xuyên:

Tây Tiến là một sáng tác thơ có giá trị về tư tưởng và nghệ thuật Bài thơ được viết ra với những màu sắc thẩm mỹ phong phú Có cái đẹp hùng tráng của núi rừng hiểm trở, và vẻ đẹp bình dị nên thơ của cuộc sống nơi bản làng quê hương, có cảm hứng mạnh mẽ hòa hợp với chất trữ tình nhẹ nhàng mềm mại trong thơ Đặc biệt Tây Tiến là bài thơ giàu nhạc điệu, nhạc điệu của cuộc sống và nhạc điệu của tâm hồn [4, tr.35]

Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đã đi sâu phân tích bài thơ “Tây Tiến” đồng thời đánh giá cao giá trị và những đóng góp của bài thơ, xem đây là một hiện tượng độc đáo, là một trong những đỉnh cao của thơ ca chống Pháp nói riêng và thơ ca hiện đại nói chung Đây cũng là những cứ liệu quan trọng giúp chúng tôi có cái nhìn sâu sắc hơn về cảm hứng trong thơ Quang Dũng cũng như hình tượng và nghệ thuật thể hiện trong thơ ông

Trang 14

3.3 Nhận định chung

Nhà thơ xứ Đoài - Áng mây trắng trên đỉnh núi Ba Vì đã bay xa Nhưng, trên bầu trời văn học đương đại vẫn lãng đãng một “Áng mây mang hình thi sĩ” Áng mây ấy in dấu một thời khó khăn, gian khổ mà hào hùng của dân tộc Áng mây ấy không quên mang theo vào cõi vĩnh hằng một hồn thơ, một nghiệp thơ lắm vinh quang nhưng cũng nhiều hệ lũy Từ hơn nữa thế kỉ nay, cùng tồn tại với những vần thơ Quang Dũng, đã xuất hiện nhiều bài nghiên cứu, phê bình tìm hiểu thơ ông trên nhiều phương diện Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã đi vào phân tích, lý giải và đánh giá thơ Quang Dũng trên hai phương diện nội dung và nghệ thuật, từ đó giới thiệu cùng người đọc một hồn thơ tài hoa, độc đáo, đồng thời khẳng định những đóng góp của Quang Dũng trong tiến trình thơ ca hiện đại

Qua tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy các công trình nghiên cứu dù với nhiều hướng tiếp cận khác nhau nhưng đều có chung một số nhận xét, đánh giá tương đối thống nhất về thơ Quang Dũng như sau:

- Quang Dũng là một hồn thơ dân dã, hồn nhiên, chân thành với một tấm lòng yêu mến, say mê cuộc sống

- Thơ Quang Dũng là sự hội tụ của hai dòng thi cảm: đất nước, quê hương và khát vọng lên đường với một chất thơ giàu âm nhạc và hội họa

- Thơ Quang Dũng là sự kết hợp của một ngòi bút tài hoa và một tâm hồn lãng mạn Với những bài thơ nhuần nhuyễn giữa cảnh và tình, bút pháp hàm súc cô đọng, có nhiều sức gợi cảm, Quang Dũng là một gương mặt khá tiêu biểu của thơ ca trong ba mươi năm kháng chiến

"Ông là m ột nhà thơ được mến mộ với vẻ đẹp và tính cách sáng tạo độc đáo của một cây bút

chiều sâu nhân bản" [48, tr.622]

Những bài viết trên đây của các nhà nghiên cứu, phê bình đã nhìn nhận thơ Quang Dũng

từ nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, chưa có một chuyên luận nào khảo sát một cách toàn diện về đặc điểm thơ Quang Dũng Vì vậy, nghiên cứu một cách hệ thống thơ ca Quang Dũng trong dòng chảy của thơ ca Việt Nam hiện đại vẫn còn là đề tài mới lạ, hấp dẫn đối với nhiều nhà nghiên cửu, phê bình văn học cũng như những người quan tâm, yêu thích thơ ông

Trang 15

4 Phương pháp nghiên cứu

Ở luận văn này, chúng tôi sử dụng và kết họp các phương pháp nghiên cứu sau đây:

4.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp

Để thực hiện đề tài nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng các thao tác phân tích các hình ảnh nổi bật, cấu trúc ngôn ngữ, các tín hiệu thẩm mỹ để làm rõ nội dung thông báo của thơ Quang Dũng Từ đó, chúng tôi rút ra những đặc điểm thơ Quang Dũng

4.2 Phương pháp thống kê phân loại

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi chủ yếu đi vào khảo sát các bài thơ được Quang Dũng sáng tác trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc Từ đó, chúng tôi thống kê tần số xuất hiện của những hình ảnh thơ tiêu biểu, nổi bật, các hiện tượng ngôn ngữ cần nghiên cứu Trên

cơ sở đó phân ra những ngưồn cảm hứng chính trong thơ Quang Dũng

4.3 Phương pháp miêu tả, so sánh đối chiếu

Trên cơ sở thống kê phân loại, chúng tôi đi sâu miêu tả các nguồn thi cảm, những hình tượng thơ nổi bật trong thế giới thơ Quang Dũng Đồng thời, chúng tôi đối chiếu nghệ thuật thể hiện trong thơ Quang Dũng với một số nhà thơ cùng thời với ông

4.4 Phương pháp hệ thống

Mọi yếu tố đều tồn tại trong một hệ thống, bất cứ hệ thống nào cũng bao hàm trong nó

những yếu tố cụ thể Việc nghiên cứu đặc điểm thơ Quang Dũng cũng vậy, chúng tôi đặt thơ ca Quang Dũng trong dòng chảy của thơ ca hiện đại để đánh giá nét riêng biệt, độc đáo và những đóng góp của ông trong tiến trình thơ ca hiện đại dân tộc Để làm được điều này chúng tôi đi vào khảo sát, phân tích những yếu tố về nội dung và cách thức thể hiện của toàn bộ thơ ca Quang Dũng theo những hệ thống

Quang Dũng là cây bút có một vị trí quan trọng trong nền thơ ca VỊệt Nam hiện đại So với một số nhà thơ cùng thời, số lượng tác phẩm thơ của Quang Dũng không lớn nhưng chất lượng và sự ảnh hưởng của nó thì lại không hề nhỏ Đã có một số công trình viết về sự nghiệp thơ ca Quang Dũng nhưng còn ở góc độ riêng lẻ, tản mạn chưa có một chuyên luận nào nghiên

Trang 16

cứu toàn bộ thơ ông một cách hệ thống Trên cơ sở tiếp nhận và phát huy những thành tựu nghiên cứu của những người đi trước, cùng với việc đặt sự nghiệp thơ ca Quang Dũng trong mối quan hệ với thơ ca hiện đại, luận văn của chúng tôi nhằm xác định một cách hệ thống đặc điểm thơ Quang Dũng Chọn đề tài này, chúng tôi có nguyện vọng được đóng góp:

- Nêu lên những đặc điểm của thơ ca Quang Dũng

- Làm rõ những giá trị thơ Quang Dũng trên hai phương diện nội dung và nghệ thuật

- Góp một phần nhỏ vào việc giảng dạy thơ Quang Dũng trong nhà trường tốt hơn

Ngoài phần dẫn nhập và kết luận, luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Cuộc đời, quá trình sáng tác và nguồn thi cảm trong thơ Quang Dũng

Chương 2: Hình tượng thơ trong thơ Quang Dũng

Chương 3: Ngôn ngữ thơ và thể thơ trong thơ Quang Dũng

Trang 17

CHƯƠNG 1: CUỘC ĐỜI, QUÁ TRÌNH SÁNG TÁC VÀ NGUỒN THI

C ẢM TRONG THƠ QUANG DŨNG

1.1.1 Cuộc đời

Cách đây đúng tám mươi lăm năm, vào cái năm Tân Dậu (1921), cậu bé Bùi Đình Dậu (Diệm) cất tiếng khóc chào đời tại làng Phượng Trì, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây Xuất thân trong một gia đình khá giả vừa sản xuất nông nghiệp vừa buôn bán nhỏ cho nên Quang Dũng có những năm tháng tuổi thơ khá sung túc, được học hành cẩn thận Bố đẻ của ông là cụ Bùi Đình Khuê, một người có chữ nghĩa đã từng làm quan trong tổng Phùng nhưng tính tình rất khảng khái, độ lượng và hào hoa, phóng khoáng Mặc dù có chút chức sắc nhưng ông rất ghét nghề nha lại Mẹ của Quang Dũng - bà Trần Thị Hợi là người vừa đảm đang việc đồng áng lại vừa giỏi buôn bán Bà giàu lòng nhân hậu, thường giúp đỡ cưu mang những người nghèo khó,

cơ nhỡ Hai tính cách của hai cụ thân sinh đã thấm vào dòng máu Quang Dũng Ông thừa hưởng tính cách hào hoa phóng khoáng của bố và tấm lòng nhân hậu, nặng nghĩa tình của mẹ Làng Phượng Trì, trong làng, ngoài phố, nửa tỉnh, nửa quê Người dân ở đây làm ruộng cũng giỏi buôn bán cũng sành Nhưng dù giỏi giang, chăm chỉ đến đâu thì cuộc sống vẫn nghèo khó bởi đất đai cằn cỗi, bởi đất chật người đông Thế nhưng cái nghèo, cái khó không thể làm cho mảnh đất này xơ xác, tiêu điều, càng không thể làm cho con người nơi đây cằn cỗi Ngược lại, người dân xứ Đoài với tâm hồn phóng khoáng, lạc quan, họ luôn tìm thấy vẻ đẹp nên thơ của quê hương mình, họ không chỉ sống với ngô khoai dâu mía mà trong đời sống có cả "Vầng

trăng ru tiếng sáo", có "Mây trắng xưa nay về tụ họp", và nơi đây "Phảng phất khí Phong Châu"

Người Đại Phùng nổi tiếng với tài nói khoác để gây cười Có lẽ giữa cuộc sống nghèo khó

đó họ tìm đến tiếng cười rộn rã để quên đi những vất vả, nhọc nhằn và cả những túng thiếu Tuy nghèo khó nhưng con người xứ Đoài rất hào hoa, đam mê du hí Mùa xuân vùng đất này diễn ra nhiều lễ hội như: lễ hội chùa Thầy, lễ hội chùa Tây Phương và biết bao trò chơi dân gian khác như hội vật, đánh đu và hội cờ người Thời trước, bố Quang Dũng đã từng nuôi cả

Trang 18

đội quân cờ trong nhà Theo Trần Lê Văn, người đã sưu tập và tuyển chọn "Tuyển tập Quang Dũng" thì: "Lúc Quang Dũng còn bé, phố huyện Đan Phượng đã có bãi chiếu xi nê câm, đáng nhớ nhất là phim của vua hề Sáclô, lại cả một rạp tuồng do hai ông cả Ý và hai Niệm mở ra để mua vui cho bà con trong vùng" [71, tr.13]

Tất cả những yếu tố đó đã thấm sâu vào tâm hồn Quang Dũng Có thể nói, cảnh vật xứ Đoài, không khí xứ Đoài và cái chất Sơn Tây đã ngấm vào dòng máu nhà thơ Những yếu tố đó không những ảnh hưởng lớn đến tính cách, tâm hồn nhà thơ mà nó đã trở thành nguồn cảm hứng thi ca bất tận cho Quang Dũng Đặc biệt hơn là những yếu tố đó đã hình thành nên đặc

điểm thơ Quang Dũng Bởi vậy, người đọc thật có lý khi gọi ông là nhà thơ xứ Đoài hay "Áng mây tr ắng xứ Đoài"

Quang Dũng sinh ra và lớn lên trong thời kì bão táp cách mạng Thuở nhỏ ông học ở trường làng sau đó theo học người cậu ruột làm giáo học tại ngã ba Thá rồi học sư phạm ở Hà Nội Sớm xa mẹ cha, xa mái nhà và xứ Đoài yêu dấu để sống cuộc đời tự lập, thỏa chí giang

hồ Vì vậy sau khi tốt nghiệp trường sư phạm, Quang Dũng không theo nghề dạy học mà đi đánh đàn, kéo nhị cho một gánh hát, nay đây mai đó, bôn ba khắp các phố phường Hà Nội Sinh ra giữa thời loạn lạc, là một thanh niên giàu lòng yêu quê hương đất nước, có chí khí, Quang Dũng khát khao cống hiến tuổi trẻ cho cách mạng Ở cái tuổi mười chín đôi mươi, cái tuổi mà "tim đang dào dạt máu" và "hồn quay trong gió bão", Quang Dũng đã tìm và giao du với những thanh niên có tinh thần yêu nước Họ cùng nhau đọc những tờ báo tiến bộ, những cuốn sách hay, mong muốn tìm cho mình một "mặt trời chân lí"

Lòng khát khao những chân trời xa lạ, bản tính phiêu lãng, giang hồ đã hối thúc Quang Dũng rời Hà Nội ngao du lên Yên Bái Nơi đây mối tình đầu đẹp đẽ giữa anh với cô gái vườn

ổi nẩy nở Nhưng mối tình tha thiết đó cũng không giữ chân được cái máu xê dịch của ông Để rồi sau hơn hai chục năm gặp lại người yêu năm xưa nhà thơ ngậm ngùi, thương cảm:

Bỏ em anh đi Đường hai mươi năm Dài bao chia ly

(Không đề)

Trang 19

Ở thời kì mà những người thanh niên yêu nước như Quang Dũng đang "Bâng khuâng đi

lòng khát khao làm cách mạng kết hợp với dòng máu giang hồ đã đưa bước chân ông sang tận Trung Quốc, rồi gặp Quốc dân đảng, tưởng đâu là tổ chức cách mạng, sống với họ một thời gian rồi lại ữở về nước Hào khí của thời đại bão táp cách mạng đã gây chấn động mạnh mẽ trong tâm hồn Quang Dũng nói riêng và thế hệ thanh niên lúc bấy giờ nói chung Cùng với toàn dân, đặc biệt là cùng với những người trong lứa tuổi thanh xuân như mình, Quang Dũng đã dấn thân vào cuộc Ông hòa mình vào dòng thác cách mạng với tất cả men say của người dân mất nước đang khát khao độc lập, tự do, và cả tấm lòng say đắm cái đẹp của người nghệ sĩ sống có

lý tưởng Chính hào khí sục sôi của thời đại đã tạo nên một tư thế đẹp đẽ, hùng tráng và lãng mạn trong thơ Quang Dũng

Cách mạng tháng Tám thành công đã mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc ta, kỷ nguyên độc lập tự do, nhân dân ta được làm chủ đất nước, làm chủ cuộc đời Những chàng trai có học như Quang Dũng sẽ thoả sức đem tài năng, trí tuệ của mình để xây dựng đất nước Nào ngờ, thực dân Pháp trở lại xâm lược Hưởng ứng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ Tịch, đầu năm 1947, Quang Dũng xếp bút nghiên, từ giã vợ con gia nhập đoàn binh Tây Tiến với một tinh thần phơi phới "Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh" Ra đi trong tư thế hừng hực của một dân tộc anh hùng chưa bao giờ chịu khuất phục:

Thôi nhé mi ền xuôi!

Thôi tạm biệt

Ta đi Ngõ Gạch – tườmg đang đục

(Những làng đi qua) Thế là người con trai xứ Đoài trở thành "Áng mây mang hình chiến sĩ" phiêu bồng giữa

trận mạc Mấy năm trời gắn bó với núi rừng Tây Bắc hùng vĩ, hiểm trở, Quang Dũng cũng như những người lính trẻ Tây Tiến đã chịu biết bao thiếu thốn, gian khổ, hy sinh Nhưng nào có hề

Trang 20

gì, họ ngắm nhìn cuộc đời hồn nhiên, giản dị, họ xem cái chết nhẹ tựa lông hồng Bởi, họ ý thức một cách sâu sắc về vận mệnh dân tộc, vì họ cũng đã từng trải qua quãng đời nô lệ

Ở giữa nơi sự sống và cái chết kề cận, gian khổ, thiếu thốn và bệnh tật vây hãm, những chàng trai Tây Tiến vẫn cứ lãng mạn, hào hoa Sau những trận đánh căng thẳng là những đêm liên hoan văn nghệ ấm áp tình quân dân, nghĩa đồng đội:

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa Kìa em xiêm áo tự bao giờ Khèn lên man điệu nàng e ấp Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

(Tây Tiến) Lính Tây Tiến phần đông là thanh niên Hà Thành với đủ các thành phần: trí thức có, lao động chân tay cũng có Họ sống với nhau rất vui vẻ và nghĩa tình bởi họ là những người đồng chí Họ cùng chung một lý tưởng là độc lập dân tộc Giữa chiến trường gian khổ của cuộc kháng chiến chống Pháp, người đại đội trưởng Quang Dũng với cây kiếm Nhật bên hông luôn toát lên cái vẻ đẹp tài tử, hào hoa của người Hà Thành Nghỉ lại ở một bản làng dọc đường hành quân hay những phút rảnh rỗi sau mỗi trận đánh, Quang Dũng lại trổ tài mua vui cho mọi người Ông ngâm thơ, thổi sáo, đánh đàn và vẽ tranh Hơn lúc nào hết sự tài hoa kết họp với

chất kẻ Phùng được thế hiện một cách sâu sắc ở con người Quang Dũng như ở cái thời khắc

này "Nh ững ai quen Quang Dũng đều biết anh là một người vui tính, giỏi hài hước, một thứ hài hước thông minh và đôn hậu Anh đến đâu là vui đấy, chuyên trò rôm rả, tiếng cười trong

tr ẻo ấm áp nổi lên, người lớn trẻ con đều khoái" [71, tr.36]

Sau hai năm gắn bó với đoàn binh Tây Tiến, biết bao kỷ niệm vui buồn đọng lại trong ký

ức người đại đội trưởng Quang Dũng Cuối năm 1948, ông chuyển sang đơn vị khác, về làm trưởng tiểu ban tuyên huấn của trung đoàn 52, rồi làm trưởng đoàn văn nghệ liên khu III Rời

xa đon vị cũ chưa bao lâu, về dự hội nghị toàn quân tại làng Phù Lưu Chanh, kỉ niệm một thời thiếu thốn, gian khổ mà hào hùng áp về, ông viết bài thơ "Tây Tiến"

Quang Dũng là người có năng khiếu hội họa, đi đến đâu, trong ba lô của ông, bên cạnh cây bút sắt để ghi chép, làm thơ, viết truyện là cây bút lông để vẽ tranh Cái tài vẽ tranh này đã

Trang 21

giúp cho Quang Dũng rất nhiều khi làm thơ Chính vì vậy đến với thơ ông, người đọc có cảm nhận như mình đang ngắm một bức tranh màu nước với những chi tiết cụ thể, với sự hài hòa của màu sắc, nghe được âm thanh và ngửi thấy mùi vị Đây là bức tranh được ông ghi lại trên những chặng đường công tác:

Buồn nhớ thương ai lòng hiu hiu?

Quạnh quẽ sắn nương rờn nắng ấm Ngõ trúc người ơi! Tịch mịch chiều

(Thu)

Là một con người phóng khoáng, đôn hậu, chân thành, ngay thẳng, không ham danh lợi, Quang Dũng sống tuềnh toàng, không hề bon chen Điều này đã in đậm trong thơ ông Quang Dũng chỉ làm thơ theo cảm hứng, chỉ viết những điều mình thích, tâm đắc

Quang Dũng lớn lên khi trào lưu văn học lãng mạn đang diễn ra một cách mạnh mẽ Là một thanh niên có học, ông sớm tiếp thu những tinh hoa của trào lưu văn học mới này Lại được kế thừa dòng máu lãng mạn của con người Sơn Tây, của những lớp đàn anh như Tản Đà, Quang Dũng rất mê nhân vật Dũng của Nhất Linh Ông yêu thơ Nguyễn Nhược Pháp, Nguyễn Bính, Đoàn Văn Cừ Dòng máu giang hồ nay được nuôi dưỡng bởi văn chương lãng mạn đã tạo nên cái dung mạo cá nhân, cái phong cách văn chương của Quang Dũng Cũng chính cái chất lãng mạn tiểu tư sản của con người Quang Dũng đã in đậm vào thơ ông mà một thời ông

đã phải chịu lao đao, lận đận Bước vào cuộc kháng chiến cái gì cũng cần mạch lạc, đơn giản, người ta tránh nói đến tình yêu, nỗi buồn, cái chết và những lạc thú cá nhân Song, vì cái bản tính chân thật, ngay thẳng cuộc sống diễn ra như thế nào thì nói vậy, viết vậy Vì vậy, những

câu thơ như: "Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm" (Tây Tiến), hay: "Khi anh đã về xa/ Chị dọn hàng đi ngủ/ Chép miệng trong hơi chăn/ Chị buồn chi không rõ" (Lính râu ria), một thời bị

phê phán mạnh mẽ

Tháng 8 năm 1951, người đại đội trưởng Tây Tiến năm xưa xuất ngũ Tuy rời quân đội

nhưng "Áng mây trắng xứ Đoài" luôn có mặt cùng những đoàn dân công thồ gạo ra chiến

Trang 22

trường, mang đạn lên tiền tuyến Ông vẫn cùng với các đơn vị bộ đội hành quân, chiến đấu Dấu chân ông in đậm trên nhiều vùng đất mà con đường Mười Hai đi qua

Sau hòa bình (1954), ông chuyển về hội nhà văn, làm công tác biên tập văn nghệ ở các báo và ở nhà xuất bản Những năm tháng sống giữa Hà Nội, ông luôn khao khát những chân trời xa lạ, muốn tắm mình trong không gian rộng lớn của rừng, của biển, không chấp nhận cuộc sống chật chội nơi phố hẹp

Năm 1978, Quang Dũng nghỉ hưu và ông mất ngày 13 tháng 10 năm 1988 sau mấy năm trời bị tai biến

Giờ đây nhà thơ xứ Đoài không còn nữa, áng mây trắng từ đỉnh núi Ba Vì kia đã vĩnh viễn bay về chốn bồng lai Không biết ở nơi hư vô kia, áng mây trắng xứ Đoài có bồng bềnh, phiêu bạt khắp rộng dài đất nước? Chỉ biết một điều, trên bầu trời văn học Việt Nam hiện đại vẫn sáng mãi một vầng trăng thi ca của người thi sĩ xứ Đoài

1.1.2 Quá trình sáng tác

Quang Dũng là một nghệ sĩ đa tài, ông sáng tác nhiều thể loại: thơ, văn, nhạc, tranh Ở lĩnh vực nào, ông cũng để lại dấu ấn cá nhân rất rõ nét về âm nhạc, nhắc đến Quang Dũng là

người yêu nhạc nhớ tới "Ba Vì mờ cao", Một bài hát đã lắng sâu trong tâm hồn của lớp thanh

niên từng giã nhà đi kháng Pháp Ở lĩnh vực hội hoạ, Quang Dũng là tác giả của nhiều bức tranh, chủ yếu là tranh lụa vẽ phong cảnh Về văn chương, ông là tác giả của nhiều bài thơ nổi tiếng như: Tây Tiến, Mắt người Sơn Tây, Những làng đi qua, Đường trăng và nhiều tập truyện kí Viết khá nhiều nhưng ông chẳng bao giờ có ý thức vun vén, tạo dựng cho mình một

sự nghiệp Ông chẳng chuyên tâm đến việc xuất bản, in ấn và lưu giữ Vì thế, các sáng tác của ông cứ vương vãi, bị thất lạc Các sáng tác còn lại của Quang Dũng chủ yếu được lưu giữ qua bạn bè, qua kí ức của người đọc Gần nửa thế kỉ lao động nghệ thuật, Quang Dũng vẫn chỉ là chủ nhân của một gia tài không mấy lớn lao so với những nhà văn cùng trang lứa, cùng thời với

ông Đó là ba tập thơ và năm tập truyện kí về thơ có '''Bài thơ Sông Hồng" (1956), "Rừng biển quê hương'' (in chung với Trần Lê Văn - 1957), "Mây đầu ô" (1986) Còn văn xuôi có "Mùa hoa g ạo" (1950), "Đường lên Châu Thuận" (1964), "Rừng về xuôi" (1968), "Nhà đồi" (1970),

"Một chặng đường Cao Bắc" (1983)

Trang 23

Quang Dũng đến với thơ từ rất sớm Trước cách mạng tháng Tám, ông xuất hiện trên thi

đàn lúc mười sáu tuổi với bài thơ "Chiêu quân'' (1937) Cảm hứng của bài thơ bắt nguồn từ một

sự kiện lịch sử của Trung Hoa: Nàng Chiêu Quân bị cống Hồ Với thể thơ thất ngôn cổ điển, nhịp điệu trầm lắng, giọng thơ nghẹn ngào, bài thơ thể hiện niềm cảm thông, lòng xót xa đối với nàng Chiêu Quân Ngay từ bài thơ đầu tay người đọc đã thấy xuất hiện ở Quang Dũng một hồn thơ đằm thắm mà tinh tế, hồn hậu mà tài hoa mang một chiều sâu nhân bản Sau đó ít lâu,

năm 1940, Quang Dũng cho ra mắt bài thơ "Cố quận" Bằng âm hưởng cổ điển, bài thơ thể

hiện một tâm hồn gắn bó tha thiết với nơi chôn nhau cắt rốn, nặng lòng với quê hương xứ sở Nhìn chung trước cách mạng tháng Tám, Quang Dũng sáng tác chưa nhiều và người đọc cũng

ít biết đến tên tuổi ông

Sau cách mạng tháng Tám, Quang Dũng gia nhập làng thơ cách mạng với bài thơ "Tây

Tiến'' (1948) Bài thơ được ông viết sau một thời gian xa rời đoàn binh Tây Tiến Ngay từ khi

mới ra đời, bài thơ đã làm say mê độc giả trong và ngoài quân đội Bài thơ là đỉnh cao của thơ

ca chống Pháp Bài thơ được nhà xuất bản vệ quốc quân Liên khu III in lần đầu tiên vào năm

1949 với nhan đề "Nhớ Tây Tiến" Đến năm 1957, khi đưa vào tập ''Rừng biển quê hương",

Quang Dũng đã bỏ đi chữ nhớ Bài thơ mang tên “Tây Tiến” từ đó "Tây Tiến" là bài thơ tiêu

biểu nhất của đời thơ Quang Dũng

Sau "Tây Ti ến", Quang Dũng tiếp tục viết nhiều thơ về người lính như: Những làng đi qua, Quán nước, Nhớ, Lính râu ria, Đường trăng, Đường 12 Nhìn chung, các bài thơ viết về

người lính của Quang Dũng có sự giao lưu, hòa nhập giữa yếu tố hiện thực khắc nghiệt với tâm hồn lãng mạn, giữa vẻ đẹp chân chất dân dã với tài hoa tinh tế Những bài thơ này đã góp vào nền thơ ca kháng chiến một diện mạo, một phong cách độc đáo Quang Dũng là người lính cầm bút, ông hiểu biết sâu sắc về cuộc sống và tâm hồn người lính Vì vậy, những bài thơ viết về người lính của ông rất chân thật được người đọc yêu mến

Bên cạnh mảng thơ viết về người lính, Quang Dũng có một số bài thơ viết về quê hương

xứ Đoài, về những vùng đất mà ông từng gắn bó, về những con người mà ông từng gặp gỡ Tiêu biểu cho mảng thơ này là các bài như: Mắt người Sơn Tây, Thu, Những cô hàng xén, Ba

ìón Bác, Mái nhà đêm Bạch Hạc, Nhớ một bóng núi “Quang Dũng dành những dòng cảm động nhất viết về quê hương, đất nước đặc biệt là xứ Đoài mà ông luôn khắc khoải thương

Trang 24

nhớ” [48, tr.622] Với những bài thơ đằm thắm, hồn hậu này, Quang Dũng đã góp vào thơ Việt Nam "nh ững bức tranh quê" chân tài

Thơ tình cũng là mảng khá thành công trong sự nghiệp thơ ca Quang Dũng Tuy viết về

đề tài này không nhiều (2 bài có tên “Không đề” và 1 bài có tên "Vườn ổi") song những bài thơ

này đã để lại trong tâm hồn người đọc ấn tượng khó phai Tình thực, cảm xúc thực và những rung động tinh tế tạo nên sắc thái riêng của thơ tình Quang Dũng

Sau 1975, Quang Dũng cũng tiếp tục đi nhiều, viết nhiều nhưng các sáng tác của ông chủ yếu là thể loại bút kí Ở lĩnh vực thơ, tiêu biểu là bài “Nhớ một bóng núi” vẫn một tấm lòng hồn hậu, tha thiết với quê hương xứ Đoài yêu dấu

Năm 1986, nhà xuất bản “Tác phẩm mới” cho ra mắt tập thơ "Mây đầu ô" do Trần Lê Văn

sưu tầm và tuyển chọn Tập thơ được tuyển lại từ 46 bài thơ của đời thơ Quang Dũng Với 22

bài thơ, "Mây đầu ô" đã đem đến cho người đọc phần tốt đẹp nhất của tâm hồn và cá tính sáng

tạo của Quang Dũng Trong số 22 bài thơ đó có 8 bài viết trong kháng chiến chống Pháp và 14 bài viết sau 1954 So với các nhà thơ cùng thời số lượng thơ ca của Quang Dũng thật khiêm tốn song nhắc đến những nhà thơ tiêu biểu trong hai cuộc kháng chiến người đọc không thể không nhắc đến ông

1.2.1 Nguồn thơ viết về quê hương đất nước

Quê hương, đất nước là một trong những nguồn cảm hứng chủ đạo của thơ ca Điều này,

nó như một lẽ hiển nhiên Bởi ai sinh ra mà chẳng có một miền quê, ai lớn lên mà chẳng gắn bó với một dòng sông, ngọn núi, lũy tre, rặng dừa Quê hương là dòng sữa ngọt ngào nuôi dưỡng tâm hồn con người, nhất là đối với người nghệ sĩ Trong tâm linh của người phương Đông nói chung và người Việt Nam nói riêng, quê hương là nơi chôn nhau cắt rốn, là máu thịt của mỗi người Con người có thể đi nhiều nơi, sống nhiều chỗ, gắn bó với nhiều vùng đất khác nhau nhưng trong đáy sâu tâm hồn vẫn luôn chất chứa một nỗi nhớ, niềm thương tha thiết đối với quê hương mình Chẳng thế mà những câu ca dao quen thuộc nhất, đọng lại trong kí ức của con người biết bao đời nay là những dòng viết về quê hương, xứ sở thân yêu:

Anh đi anh nhớ quê nhà

Trang 25

Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương

Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao

Từ xưa đến nay, làng quê Việt Nam đi vào thơ như một nét đẹp văn hóa Chúng ta có cả một kho tàng ca dao - dân ca rất phong phú về quê hương đất nước Và, chúng ta còn có một nền văn học viết với những cây bút đặc sắc khi viết về đề tài này Từ Nguyễn Trãi (1380 - 1442), Thái Thuận (1441 - ?), Lê Thánh Tông (1460 - 1497), Nguyễn Khuyến (1835 -1909) đến những nhà thơ của phong trào thơ mới như Nguyễn Bính, Đoàn Văn Cừ, Anh Thơ, Nguyễn Nhược Pháp rồi cả một thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến như Hoàng Cầm, Nguyễn Đình Thi, Quang Dũng, Giang Nam, Lê Anh Xuân

Hòa vào dòng chảy của thơ ca trong hai cuộc kháng chiến, Quang Dũng - nhà thơ xứ Đoài được nhiều thế hệ độc giả yêu mến với tư cách là thi sĩ có nhiều sáng tác thành công về quê

hương, đất nước: "Thơ Quang Dũng làm phong phú thêm bộ sưu tập những vẻ đẹp của làng quê mà Nguyễn Nhược Pháp, Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ từng đóng góp" [74,

tr.436] Phần lớn thơ Quang Dũng đều chứa đựng hình bóng quê hương, đất nước lúc là những địa danh cụ thể, lúc là những kí ức sâu lắng Cũng như nhiều nhà thơ khác, quê hương là một thứ ánh sáng diệu kì, là nguồn năng lượng vô tận đã chắp cánh cho những vần thơ Quang Dũng

lan toa, lung linh Đánh giá về nguồn thi cảm này trong tập "Mây đầu ô", nhà nghiên cứu

Nguyễn Xuân Nam viết: "Điều đầu tiên mà ta quý "Mây đầu ô" là ở mảng chất liệu quê hương

mà nhà thơ đã tắm mình trong thơ" [4, tr.8]

Có thể nói lòng yêu nước trong thơ Quang Dũng được khơi nguồn từ tiếng gọi quê hương Song chắt lọc được cái hồn quê, tạo được một không khí quê hương từ những cảnh vật bình dị

để nó trở thành thơ và đi vào lòng người thì quả là điều không dễ Bởi thế giới nghệ thuật thơ là thế giới tâm linh của tác giả, "Là nghệ thuật bên trong của tâm hồn" Thơ là một thể loại văn học đặc thù Tư duy hình tượng trong thơ cũng có những nét đặc thù riêng Nhà thơ tư duy bằng tâm hồn tràn đầy tình cảm, cảm xúc: "Tình cảm trong thơ là nhân tố trực tiếp xây dựng

đồng Bương Cấn, núi Sài Sơn, đỉnh Ba Vì, dòng sông Đáy, vầng trăng, tiếng sáo cứ trở đi trở lại trong thơ Quang Dũng Một trong những nguồn thi cảm chính làm nên giá trị thơ Quang

Trang 26

Dũng là chất liệu quê hương, mặc dù ông như áng mây phiêu bạt khắp nơi, ông mê những chân trời xanh thẳm, thích những không gian thoáng đãng, thích xê dịch, giang hồ Nhưng dù trôi dạt, phiêu lãng nơi đâu "Áng mây trắng xứ Đoài'' này không bao giờ phai mờ hình ảnh quê

hương Quang Dũng đã lắng hồn mình trong thổ ngơi vùng đất Sơn Tây để nghe "Vầng trăng

ru ti ếng sáo", để suy tư nhớ con "Sông Đáy chậm nguồn qua Phủ Quốc", và hít thở hương vị

Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì

(Mắt người Tây Sơn) Sơn Tây là vùng bán sơn địa, đất nghèo dưỡng chất lại chứa nhiều chất sắt nên khi trời giông tố thì bao nhiêu sấm sét hầu như đổ dồn về nơi đây Có phải vì thế mà con người Sơn Tây cứng cỏi, thô mộc Sơn Tây là vùng trước núi, nơi đây là cái nôi của người Việt cổ, nơi đây

đã hình thành nên những cộng đồng làng xóm đầu tiên Và từ nơi đây họ đặt bước chân khai phá vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng Rồi cũng từ đó họ đi khắp nơi đến những vùng đất xa xôi mới lạ nhưng trong tâm hồn họ luôn in đậm hình ảnh của vùng đất chôn nhau cắt rốn Chính điều kiện sinh sống đã tạo nên cho con người Sơn Tây tính cách phóng khoáng, phiêu lãng Phải chăng những thế hệ con cháu của họ như Tản Đà, Quang Dũng cũng kế thừa cái dòng máu giang hồ và sự hoài niệm quê hương?

Sơn Tây là đồi đất đá ong khô hạn, không hơi nước bốc lên, bầu trời cao xanh và những đám mây trắng như tuyết lãng đãng trên đỉnh Ba Vì, thỉnh thoảng lại sà xuống núi Thầy gợi lên một vẻ đẹp nên thơ Đến với vùng đất xứ Đoài, chúng ta bắt gặp ở đây những khu làng nhiều cây cổ thụ Trong làng, thỉnh thoảng có những giếng nước khơi trong mát, ngọt lành như tâm hồn người dân xứ Đoài Tất cả như gợi lên không gian sinh hoạt của người Việt cổ Bởi thế người Sơn Tây dù lưu lạc nơi đâu, những cảnh vật đó, cái không khí đó luôn âm ỉ trong trái tim

Trang 27

họ Chỉ chực một yếu tố nào đó gợi nhớ là tâm hồn của họ tràn ngập nỗi nhớ, niềm thương Chẳng thế mà khi xa cách quê hương nhìn ánh trăng sáng vờn trên ngọn cau, nghe tiếng ếch nhái rộn rã bờ ao, lòng Quang Dũng dâng lên niềm hoài niệm quê hương:

Trăng sáng sân vờn đôi bóng cau

Gió mát long lanh vầng Bắc Đẩu Tiết hè ếch nhái rộn bờ ao

Có hơi rượu cụ già

Ấm trong hơi mùa xuân

(Nhớ về mẹ) Hay vào một trưa hè, ở nơi đất khách quê người nhìn dòng sông, nhìn sân thóc chói chang nắng lửa, nhà thơ cảm thấy mình đang hít thở không khí xứ Đoài, ngửi thấy mùi ngai ngái rất đặc trưng của quê nhà:

B ờ tre gió đánh lả mềm Thoảng say mùi nái bên thềm ai giăng

(Trưa hè) Tuổi thơ Quang Dũng gắn bó với căn nhà gác rộng rãi, thoáng mất Ban đêm hễ mở cửa

sổ là ánh trăng tràn vào và những cơn gió từ cánh đồng Bương Cấn nhè nhẹ thổi tới mang theo

Trang 28

tiếng sáo diều Ban ngày cũng qua khung cửa sổ ấy, nhà thơ thu vào mắt mình biết bao cảnh vật quen thuộc của xứ Đoài thân yêu Nào là màu xanh bạt ngàn của bãi mía nương dâu, nào là cánh đồng lúa đang độ chín vàng, rồi núi Sài Sơn soi mình xuống dòng sông Đáy hiền hòa và

xa xa là ngọn Ba Vì mờ cao Tất cả những hình ảnh ấy của quê hương đã ăn sâu vào tiềm thức Quang Dũng Rồi nó bám riết lấy ông, nó cùng hành trình với ông trên những chặng đường phiêu lãng Dù ở nơi đâu lên rừng hay xuống phố, không khí và cảnh vật xứ Đoài cứ đầy ắp trong tâm hồn Quang Dũng:

Diều khuya trầm bổng giọng quê hương Đất đá ong trong lòng giếng mát

Ôi Sài Sơn, Sài Sơn yêu thương

(Nhớ một bóng núi) Sơn Tây - vùng đất lắm sông nhiều núi, sông rộng núi cao, sơn thủy hữu tình Nơi đây còn lưu giữ những sinh hoạt văn hóa của người Việt cổ Đỉnh Ba Vì gắn liền với truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh Tản Viên là vị thần đứng đầu tứ bất tử Núi Thầy còn lưu giữ dấu tích đầu tiên của Phật giáo Con sông Lô cuồn cuộn, con sông Đà dữ dội, con sông Thao "nao nức sóng dồi" và con sông Đáy hiền hòa tất cả tụ họp tạo nên vẻ đẹp vừa hùng vĩ, vừa thơ mộng của vùng đất Sơn Tây Vẻ đẹp đó của quê hương cứ hiện lên trong nỗi nhớ nhà thơ như một truyền thuyết:

Ở đây phảng phất khí Phong Châu Đám cưới Sơn Tinh về bến nào?

(Ba Vì đón Bác) Quê hương trong nỗi nhớ nhà thơ không chỉ có niềm hoài niệm, nhớ thương khắc khoải

mà còn có cả lòng tự hào:

Ở đây đất nước gấm hoa sao!

Sông Đà đo nước vào sông Thao

Trang 29

(Ba Vì đón Bác) Sinh ra, lớn lên và trưởng thành gần trọn thế kỷ XX, một thế kỷ đầy biến động, Quang Dũng cũng như biết bao người con của những vùng quê khác nhau, từng chứng kiến sự thay đổi dữ dội của quê hương trong hai cuộc kháng chiến Vì vậy ngòi bút của ông đã tái hiện một cách sinh động hình ảnh quê hương ở những lúc thanh bình cũng như trong những giờ phút trọng đại Nhưng dù bất cứ ở thời điểm nào, người đọc cũng nhận thấy niềm yêu mến thiết tha,

sự gắn bó máu thịt của nhà thơ đối với xứ Đoài yêu dấu "Có một quê hương như thế, có một

năng lượng để tự thản phát sáng" [4, tr.11]

Hưởng ứng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ chủ tịch, cả dân tộc bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp Trong đoàn quân ra trận thời ấy có cả lớp trí thức trẻ Cũng như bao bạn bè cùng trang lứa, Quang Dũng xếp bút nghiên, cầm súng lên đường ra trận theo tiếng gọi của quê hương Họ ngắm cuộc đời hồn nhiên, giản dị chẳng hề tính toán Họ ra trận với một tinh thần tự giác chẳng cần so bì hơn thiệt Bước vào cuộc kháng chiến, họ nhìn chiến tranh như một nơi sa trường đầy hùng khí Họ sẵn sàng dấn thân mặc dù vẫn biết rằng con đường phía trước đầy khó khăn, gian khổ và cạ cái chết đang chờ đợi họ Nhưng lí tưởng cách mạng, lòng yêu quê hương đất nước và tuổi trẻ đã truyền cho các chàng trai ngày ấy chất men say Khao khát lên đường với hào khí và lòng tự nguyện, Quang Dũng thể hiện ý chí khảng khái của lớp trai trẻ quyết tâm ra đi để bảo vệ sự vẹn toàn của non sông đất nước:

Đường lên thắm một chia phôi

Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy

(Tây Tiến) Không một chút bâng khuâng, không một ma lực nào níu kéo, những chàng trai Tây Tiến

ra đi như một sự hối thúc nghiêm trang và phảng phất tinh thần của Kinh Kha nhập Tần thuở

Trang 30

nào Ra đi là không hẹn ngày về Có thể một đi không bao giờ trở lại Bởi họ ý thức con đường phía trước đầy gian nguy thử thách Nhưng họ rất quyết tâm:

Ruộng nương anh gửi bạn thân cày Gian nhà không mặc kệ gió lung lay

(Đồng chí - Chính Hữu) Những người lính chống Pháp sẵn sàng bỏ lại sau lưng tất cả Họ xác định rõ ràng sứ mệnh thiêng liêng của mình là "Chí nhớn chưa về bàn tay không" (Thâm Tâm) Họ đã thề với lòng mình và với núi sông, đất nước chưa sạch bóng quân thù sẽ chưa trở về Nếu có hy sinh linh hồn của những người lính trẻ vẫn cùng hành quân, chiến đấu với đồng đội, với đoàn binh Lời thề ấy của những người lính trẻ hồi đầu kháng Pháp nhắc người đọc nhớ về tinh thần anh

dũng của người nghĩa sĩ cần Giuộc năm nào: "Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia" (Nguyễn Đình Chiếu)

Khao khát lên đường, không phải người lính không có những bâng khuâng, lưu luyến Nhưng chính sự gắn bó, niềm yêu mến tha thiết đối với quê hương là động lực mạnh mẽ thôi thúc họ lên đường

Thôi chào Hà Nội lửa ngang trời

Ta đi Ngõ g ạch - tường vôi đục

Thôi nhé miền xuôi thôi tạm biệt

(Những làng đi qua) Trong thơ Quang Dũng, tư thế của người lính ra trận vừa có cái đẹp, cái say như trong thơ Phạm Tiến Duật: "Đường ra trận mùa này đẹp lắm", lại vừa mang âm hưởng trang nghiêm cổ

kính như trong thơ Tố Hữu: "Bỗng nghe trống giục ba hồi gọi quân" Có nghĩa là, cái tư thế

Trang 31

của người lính lên đường, cái không khí của những buổi tòng quân vừa nô nức, hùng tráng vừa đẹp đẽ, thơ mộng:

Trống tập trung Vang vọng bãi Lương Tuyền

Bến Mộc trăng lên

(Bất Bạt đêm giao quân) Và:

Lớp này lớp khác người sang hết

Có cuộc ra đi nào mà chẳng chia ly, nhất là đối với người lính Song họ biết chấp nhận

chia ly để rồi sum họp Tuy không lưu luyến, bịn rịn như những cuộc chia ly trong "Tống biệt hành" của Thâm Tâm hay như trong "Đất nước" của Nguyễn Đình Thi Nhưng trong những

vần thơ "lên đường" của Quang Dũng không chỉ có cái khí thế hừng hực của tuổi trẻ mà còn có

cả ánh mắt thoáng buồn của những đôi lứa phải xa nhau:

Cu ộc đời Dẫu là nơi cầu thang nhỏ hẹp Cũng có người vừa tiễn người yêu

(Đường chiều thứ bảy)

Trang 32

Tuổi trẻ khao khát lên đường, dấn thân sẵn sàng chấp nhận gian khổ hy sinh đã đành

Bước vào tuổi năm mươi, cái tuổi "tri thiên mệnh'' nhưng ông thấy mình còn sức trẻ, cái máu

giang hồ, niềm khao khát phiêu lãng vẫn không hề vơi cạn Thời gian trôi chảy, con người phải chấp nhận những qui luật của tạo hoá song trong tâm hồn Quang Dũng cái qui luật khắc nghiệt kia lại không tìm đến được Ông vẫn luôn khao khát những chân trời xa lạ Ông không chấp nhận không gian chật chội nơi phố hẹp đầu ô:

Mây ở đầu ô mây lang thang

Góc phố phường Mây ở đầu ô

(Mây đầu ô) Nhìn hình bóng những chàng trai tuổi hai mươi, nhà thơ quí mến và lòng khao khát của tuổi trẻ lại dâng lên trong tâm hồn ông Quang Dũng ao ước hóa thân hòa nhập vào trong đoàn người trẻ tuổi đó để được tung tăng, bay nhảy giữa rộng dài đất nước:

Ca nước đập vỏ bình toong Khăn mặt thấm mồ hôi

B ụi đỏ Bụi vàng

(Mây đầu ô) Một con người "Mê xanh thẳm như cánh chim trời" như Quang Dũng chẳng bao giờ chịu cầm tù trong nhàn hạ, quẩn quanh nơi phố nhỏ Cả cuộc đời ông là một cuộc hành trình Đi với Quang Dũng không phải chỉ để thoả cái chí giang hồ mà đi là để tìm hiểu về con người và cuộc sống Đi để gợi nguồn cảm hứng cho thơ ca Nhà thơ đã từng nói với lòng mình: "Anh chửa

dừng chân, đầu trắng tóc Vẫn không trang sách đợi hiên nhàn" Quang Dũng hăm hở, mải

Trang 33

miết đi, như có một ma lực lôi kéo Thời kì kháng chiến chống Pháp, trên khắp các nẻo đường

từ Đông Bắc đến Tây Bắc, từ Liên khu III đến Liên khu IV đều in dấu chân ông Máy bay bắn phá ban ngày thì ông đi ban đêm Trong những năm chống Mĩ, Quang Dũng cùng với gia đình

đi sơ tán ở vùng đồi núi phía Bắc Mặc dù cuộc sống nơi tản cư vô cùng khó khăn, thiếu thốn nhưng ông vẫn say sưa đi Với cái ba lô trên lưng ông đi khắp núi rừng Việt Bắc Ông đi với hợp tác xã nông nghiệp, với công trường, nông trường Ông đi để thỏa lòng yêu mến vô bờ với con người, cuộc sống và đất nước Ông đi để mở rộng hiểu biết mọi mặt ở các vùng dân cư,

để thu thập tài liệu và tìm cảm hứng sáng tác Ông đi để thưởng thức vẻ đẹp của cảnh, của người, cái ngon của món ăn thức uống dân dã trên mọi miền quê Và, có lẽ ông đi để trả cái nợ sông núi, nợ sinh thành "Chính vì vậy mà ở Quang Dũng - ở thơ ca, nơi tâm hon và lẽ sắng kết

tinh thường trực một khao khát: khao khát lên đường"[4, tr.20]

Trang 34

CHƯƠNG 2: HÌNH TƯỢNG THƠ TRONG THƠ QUANG DŨNG

2.1 Hình tượng thơ

Thơ nói riêng và văn học nói chung là một loại hình nghệ thuật bên cạnh các loại hình nghệ thuật khác như: âm nhạc, hội họa, điêu khắc, Tư duy nghệ thuật là tư duy hình tượng Hình tượng nghệ thuật là tiêu điểm sáng tạo của nhà văn, làm cho văn bản ngôn từ trở thành tác phẩm văn chương Hình tượng nghệ thuật là bức tranh sinh động về cuộc sống được xây dựng bằng những chất liệu khác nhau Mỗi bộ môn nghệ thuật đều phản ánh cuộc sống bằng những hình tượng riêng của nó Tư duy hình tượng là đặc trưng của tư duy nghệ thuật Tư duy hình tượng đòi hỏi sự khái quát nhưng không làm mất đi cái cụ thể, trực quan sinh động Đó là quá trình hình tượng hóa, điển hình hóa khách quan theo quan niệm chủ quan Văn học dùng chất liệu ngôn từ để xây dựng hình tượng nghệ thuật “Hình tượng văn học nghệ thuật là bức tranh

sinh động nhất của cuộc sổng được xây dựng bằng ngôn từ thông qua trí tưởng tượng, sự sáng tạo và cách đánh giá của người nghệ sĩ” [16, tr.125]

Tác phẩm văn học là một chỉnh thể thẩm mỹ Thế giới nghệ thuật mà nhà văn sáng tạo ra trong tác phẩm là hiện thực cuộc sống rộng lớn Trong thế giới nghệ thuật ấy, có một số hình tượng quen thuộc cứ trở đi trở lại như một ám ảnh đối với người nghệ sĩ Những hình tượng ấy

"càng có tính phổ biến bao nhiêu, càng có ý nghĩa tư tưởng sâu sắc và cơ bản bấy nhiêu" [49,

tr.16]

Thơ là một thể loại của văn học Thơ cũng là một phương tiện nhận thức thực tại, nhưng

là một phương tiện độc đáo và kỳ diệu Thơ chiếm lĩnh thực tại bằng sự mở rộng tâm hồn ra ngoại giới và lắng nghe cái âm vang của thế giới bên ngoài vào chính lòng mình Vì vậy, hình

tượng thơ cũng là hình tượng văn học, song nó mang tính đặc thù “Hình tượng thơ là một bức tranh sinh động và tương đối hoàn chỉnh về cuộc sống được xây dựng bằng một hệ thống các đơn vị ngôn ngữ có tính chất vần, điệu với trí tưởng tượng sáng tạo và cách đảnh giá của nhà nghệ sĩ” [16, tr 127] Hình tượng thơ vừa là công cụ tư duy của nhà thơ vừa là mục đích của

thơ Hình tượng thơ là sự thống nhất giữa chủ thể sáng tạo và khách thể thẩm mỹ được thể hiện trong mối liên hệ hữu cơ, toàn vẹn của những yếu tố ngôn ngữ như âm thanh, vần, điệu được nhà thơ sử dụng Hình tượng thơ được hình thành từ những hình ảnh Những hình ảnh được lặp

đi, lặp lại ở những trạng huống, những góc độ khác nhau tạo ra cho người đọc những ấn tượng

Trang 35

sâu sắc, đầy đủ về một hiện tượng, một cảnh tượng, một sự vật nào đó, nó sẽ trở thành hình tượng Hình ảnh mang tính khái quát, điển hình và nó được đặt đúng vào văn cảnh mà nó tồn tại thì nó sẽ trở thành hình tượng

Trong thơ những kết họp bất ngờ thường tạo ra những hình tượng thơ mới mẻ, độc đáo và hấp dẫn Khi nói về hình tượng quê hương đất nước Việt Nam trong đau thương và căm thù, Nguyễn Đình Thi đã thể hiện sự kết hợp bất ngờ:

Ôi những cánh đồng quê chảy máu Dây thép gai đâm nát trời chiều

(Đất nước) Hình tượng thơ bao giờ cũng mang dấu ấn chủ quan của người nghệ sĩ Chính vì thế, mỗi nhà thơ có một thế giới hình tượng riêng và một phong cách riêng Cùng viết về quê hương đất nước trong những năm chống Pháp nhưng hình tượng quê hương đất nước trong thơ Nguyễn Đình Thi khác với hình tượng quê hương đất nước trong thơ Hoàng Cầm, Quang Dũng Cũng viết về người lính song, hình tượng người lính trong thơ Quang Dũng khác với hình tượng người lính trong thơ Chính Hữu, Hữu Loan

cách tổ chức những câu thơ, đoạn thơ để phản ánh đổi tượng với những rung động tình cảm và cách đánh giá của nhà nghệ sĩ theo cách riêng của họ" [16, tr.138]

Mỗi thời kì văn học, mỗi khuynh hướng sáng tác đều có một số hình tượng nổi bật Nếu thơ cổ điển thường xây dựng hình tượng người quân tử theo quan niệm Nho gia thì thơ cuối thế

kỉ XIX để lại hình tượng người dân yêu nước xả thân vì nghĩa lớn Và, đến với thơ ca cách mạng chúng ta bắt gặp nhiều hình tượng mới mẻ như hình tượng quê hương đất nước, hình tượng nhân dân, hình tượng người lính, hình tượng lãnh tụ

2.2 Hình tưọng thơ trong thơ Quang Dũng

Cách mạng tháng Tám đã mang đến cho thơ ca những cảm hứng sáng tạo mới mẻ Cảm hứng lãng mạn cách mạng là cảm hứng chủ đạo của văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 Cảm hứng này được biểu hiện qua các hình tượng trung tâm của thời đại Cũng như các nhà thơ hiện đại khác, Quang Dũng đã phản ánh một cách chân thực nhịp sống sôi nổi khẩn trương của

Trang 36

dân tộc trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại vào thơ mình Đọc thơ Quang Dũng, người đọc nhận thấy chất liệu hiện thực cứ ào ạt ùa vào thơ ông một cách tự nhiên Song, Quang Dũng không phải là người sao chép, mô phỏng lại hiện thực cuộc sống Giữa bao nhiêu sự kiện của cuộc sống kháng chiến, thơ Quang Dũng vẫn không bị chìm đi trong việc kể lể các sự kiện mà luôn tìm thấy ý nghĩa của sự khái quát "Thơ Quang Dũng có một sự giao lưu, hòa nhập lẫn nhau

giữa những yếu tổ hiện thực khắc nghiệt với một tâm hồn lãng mạn Yếu tố hiện thực ấy đã tràn vào tâm h ồn lãng mạn của nhà thơ làm biến đổi chất lãng mạn đó" [45, tr.49] Cái tạo nên sức

sống lâu bền trong thơ Quang Dũng chính là ở tính cụ thể và chân xác Ông quan niệm thơ là sản phẩm mang sắc thái riêng và cụ thể của những gì mà nhà thơ đã sống, đã trải nghiệm và quan sát, ghi nhận "Người đọc luôn muốn đòi hỏi một cái gì khác trong tiếng nói của thơ chứ

xếp thành điệu'' (Mấy ý nghĩ về thơ Quang Dũng - Báo thơ số 19, 20 - 2005)

Hòa vào dòng chảy của thơ ca hiện đại, thơ Quang Dũng đã phản ánh một cách sâu sắc những hình tượng trung tâm của thời đại Trong số những hình tượng trung tâm đó nổi bật nhất

là hình tượng quê hương và hình tượng người lính

2.2.1 Hình tượng quê hương

Hình tượng quê hương đất nước là một trong những hình tượng quen thuộc và phổ biến

nhất của thơ ca từ xưa đến nay, nhất là thơ ca trong hai cuộc kháng chiến Viết về hình tượng quê hương mỗi nhà thơ có một cách cảm nhận và thế hiện riêng nhưng tất cả đều chứa đựng lòng yêu mến, niềm tự hào, sự gắn bó máu thịt và cả niềm nhớ thương trong đau đớn, xót xa khi quê hương bị giặc chiếm đóng tàn phá Chính sự đa dạng đó đã tạo nên một bản hòa tấu với những giai điệu ngọt ngào, sâu lắng về quê hương đất nước

Cũng như phần lớn các nhà thơ hiện đại, viết về quê hương, ngòi bút Quang Dũng không miêu tả một cách trực tiếp Hình ảnh quê hương xứ Đoài yêu dấu cứ hiện lên trong tâm tưởng nhà thơ qua nỗi nhớ thương da diết Cảnh trí, con người xứ Đoài cứ trở đi trở lại như một ám

ảnh trong hồn thơ Quang Dũng trên khắp các nẻo đường rong ruổi "Dù sớm phải xa quê, giã nhà đi kháng chiến, nhưng trên suốt nẻo đường chỉnh chiến, đi đâu, đến đâu và làm gì, con người bình dị ấy vẫn luôn hướng về quê hương'' [28, tr.40] Có lẽ vì vậy mà trong suốt một đời

thơ với gần năm chục bài thì Quang Dũng đã dành nguồn thi cảm cho quê hương hơn phân nửa

Trang 37

đời thơ ấy Hình ảnh quê hương hiện lên trong thơ Quang Dũng như một niềm hoài niệm không nguôi, không dứt với mây núi, sông ngòi, ruộng đồng, vầng trăng, tiếng sáo của xứ Đoài thân yêu Có nghĩa là thơ Quang Dũng đầy ắp không gian của vùng đất Sơn Tây Trong khoảng một trăm địa danh được nhắc đến trong các bài thơ thì đã có khoảng hai phần ba là địa danh của xứ Đoài Bảy lần Quang Dũng nhắc đến Ba Vì, sáu lần nhắc đến Sài Sơn và cũng ngần ấy lần nhắc đến con sông Đáy Năm lần nhớ về Phủ Quốc và rất nhiều lần nói đến Sơn Tây, xứ Đoài, Tam Đảo, Ba Vì, Bất Bạt, Bương cấn Mỗi địa danh của quê hương, với Quang Dũng không chỉ là tên đất, tên làng, tên sông, tên núi mà nó đã trở thành những mảnh tâm hồn của nhà thơ Cũng như thơ Tố Hữu, thơ Quang Dũng có rất nhiều địa danh Bởi, hễ cứ đi đến đâu là ông gắn bó với nơi đó, nhớ thương về đó Nhưng nhiều nhất vẫn là địa danh của vùng đất xứ Đoài yêu dấu Nào là Ba Vì, Sài Sơn, sông Đáy, Bương Cấn; nào là Phủ Quốc, Bất Bạt, Tích Giang, Vật Lại Nhà thơ có tài chuyển hoa những địa danh bình thường, quê kiểng như mọi vùng quê khác thành những tên thơ Ông đã gọi tên cái hồn quê từ những địa danh của quê hương Cái không gian xứ Đoài nghèo khó mà nhân hậu dưới ngòi bút Quang Dũng đã trở thành một không gian tình tứ, thơ mộng và lưu luyến vô cùng Phải có một tấm lòng yêu mến gắn bó với quê hương, một tâm hồn tinh tế, nhạy cảm nhà thơ mới có thể nhào nặn những chất liệu thô ráp của đời sống, những địa danh mộc mạc thành chất liệu thi ca

Nếu trong thơ Tố Hữu, phần lớn các địa danh được nhà thơ liệt kê gắn liền với những chiến công vang dội của dân tộc như: Mường Thanh, Hồng Cúm, Him Lam, Việt Bắc, An Khê, đèo De, núi Hồng hoặc tự hào về vẻ giàu đẹp của đất nước như: Phấn Mễ, Cao Bằng, Thái Bình, Hà Giang, Nam Định, Hà Đông, Nga Sơn, Bát Tràng Thì với Quang Dũng, ông nói nhiều đến những địa danh của quê hương Qua đó, nhà thơ thể hiện niềm gắn bó, sự hoài niệm sâu lắng về mảnh đất cha ông Hình ảnh ngọn Ba Vì sừng sững luôn khắc khoải trong lòng người đi xa Có lẽ vì vậy khi xa quê, để đo độ xa của khoảng cách, độ dài của thời gian nhà thơ thường hướng về khung trời xứ Đoài, về đỉnh Ba Vì:

Cách biệt bao ngày quê Bất Bạt

(Mắt người Sơn Tây)

Trang 38

Trong quan niệm của người phương Đông cứ mỗi chiều đến nhìn dòng sông phủ đầy

sương khói, lòng người khách tha hương dâng lên nỗi nhớ quê nhà "Nhật mộ hương quan hà xứ thị/ Yên ba giang thượng sử nhân sầu" (Thôi Hiệu) Với Quang Dũng dù không khói, không

sóng, không sông, không nước và cũng không là lúc hoàng hôn nhưng tâm hồn nhà thơ vẫn tràn ngập nỗi nhớ quê Bởi khung trời xứ Đoài, không gian xứ Đoài luôn tồn tại một Ba Vì như một yếu tố không thể thiếu vắng Đang ở trong không gian và thời gian hiện tại tha hương, nhà

thơ nhớ về "chiều xanh" về "bóng Ba Vì", cái thời gian và không gian đặc trưng của quê hương

xứ Đoài bằng một tâm trạng ngậm ngùi nuối tiếc Ngọn Ba Vì quanh năm thức với mây trắng

xứ Đoài để nghe vầng trăng ru tiếng sáo luôn hiện về trong tâm tưởng nhà thơ như một miền cổ tích của tuổi thơ ấu:

Ba Vì t ảng trán xanh Thức với mây Đoài trắng xóa

(Bất Bạt đêm giao quân) Vùng đất Sơn Tây lắm sông, nhiều núi, Quang Dũng sống gắn bó với núi với sông từ nhỏ

Vì vậy, dù ở đâu hình ảnh con sông Đáy và ngọn Sài Sơn cứ hiện về trong kí ức nhà thơ với một niềm nhớ mong khắc khoải:

Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn

Về núi Sài Sơn ngó lúa vàng Sông Đáy chậm nguồn qua phủ Quốc Sáo diều khuya khoắt thổi đêm trăng

(Mắt người Sơn Tây)

Ở đâu trên đồng đất Việt Nam chẳng có lúa vàng và có lẽ ở vùng quê nào cũng có tiếng sáo diều Thế nhưng nỗi khát khao cháy bỏng của nhà thơ là được ngó lúa vàng đồng Bương Cấn, được nghe tiếng sáo diều quê hương trong những đêm trăng khuya khoắt Con sông Đáy, phủ Quốc Oai, núi Sài Sơn không còn là cảnh trí quê hương mà nó đã trở thành một dải tâm hồn của nhà thơ Những hình ảnh ấy cứ trở đi trở lại trong nhiều bài thơ Hễ đặt bút viết về quê hương, bên tai nhà thơ lại văng vẳng tiếng sáo diều đêm trăng và trước mắt ông là hình ảnh con

Trang 39

sông Đáy hiền hòa, ngọn Ba Vì mây trắng bao phủ, núi Sài Sơn soi mình xuống ruộng đồng Bương Cấn Tiếng sáo diều hay giọng quê hương trầm bổng Vầng trăng ru tiếng sáo hay tiếng sáo gọi vầng trăng mà êm đềm tình tứ đến vậy? Có thể nói, viết về quê hương, Quang Dũng đã đắm mình trong cái hồn quê để cảm nhận bằng trực giác toàn thân: nhìn, nghe và cảm thấu:

Diều khuya trầm bổng giọng quê hương Đất đá ong trong lòng giếng mát

Ôi Sài Sơn, Sài Sơn yêu thương

(Nhớ một bóng núi)

Ai xa quê mà chẳng nhớ chẳng thương, nhưng để diễn tả được cái hồn quê hương sâu sắc

và tinh tế như vậy thì thật là hiếm Có thi sĩ nào mà quê hương không là nơi xuất phát Nhưng

từ chỗ có một quê hương trong lòng đến có một quê hương mang hồn vía, tạo một không khí quê hương như Quang Dũng thì thật là đặc sắc Ở một nơi xa xôi nhớ về quê hương nhà thơ cảm thấu được cái hồn quê từ âm thanh êm đềm, từ giọng ru trầm bổng của tiếng sáo và từ sự trong mát ngon ngọt của nước giếng đá ong:

hương Việt Nam với những nét đặc sắc riêng không lẫn, góp cho thơ Việt Nam những bức tranh quê đằm thắm xúc động lòng người Trong tình yêu quê hương đất nước mênh mang ấy,

hương anh nơi anh từng sống gắn bỏ suốt tuổi thơ [28, tr.40]

Nhớ về quê hương, nhà thơ không chỉ nhớ về những địa danh cảnh trí xứ Đoài mà hình ảnh những con người yêu dấu của quê hương cứ hiện lên trong tâm hồn ông như một tiêu điểm Bởi ở đó, không chỉ vầng trăng, tiếng sáo, sông Đáy, Phủ Quốc mà hòa vào vẻ đẹp thơ mộng của vùng đất Sơn Tây, gắn với những địa danh của vùng đất xứ Đoài là hình ảnh con người bình dị, mộc mạc đã làm nên vẻ đẹp của quê hương:

Các cô hàng xén ngày xưa Gương tròn bỏ túi

Trang 40

Tóc giắt hoa nhài

(Những cô hàng xén) Hình ảnh cô hàng xén xứ Đoài ngày xưa trở về trong kí ức nhà thơ với vẻ đẹp kín đáo, dân dã “Gương tròn bỏ túi/ Tóc giắt hoa nhài” Nhưng có lẽ điều làm cho nỗi nhớ của nhà thơ

trở nên da diết chính là nét đẹp của tâm hồn nữ tính của các cô hàng xén

Cũng viết về những cô hàng xén, những con người lam lũ, tần tảo, chịu thương, chịu khó

"nuôi mẹ nuôi em" Song, nếu như Hoàng Cầm chủ yếu ca ngợi vẻ đẹp duyên dáng của cô hàng

xén Kinh Bắc "Những cô hàng xén răng đen / Cười như mùa thu tỏa nắng'' thì Quang Dũng không chỉ ca ngợi vẻ đẹp bên ngoài mà ông còn trân trọng với vẻ đẹp tâm hồn - những tâm hồn nhạy cảm, sáng ngời nhân văn của những cô hàng xén xứ Đoài Nhà thơ đã cảm nhận được bên trong vẻ đẹp đằm thắm của những cô gái quê là tâm hồn đa sầu, đa cảm của họ

Là một nhà thơ chiến sĩ như bao bạn bè cùng trang lứa lúc bấy giờ, Quang Dũng dấn thân vào cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc với tất cả tấm lòng say mê của tuổi trẻ Trên khắp các nẻo đường hành quân chiến đấu đầy gian khổ, hy sinh, nhà thơ đã ghi lại một cách chân thật những miền quê mà mình đã đi qua, những con người mà mình đã gặp gỡ trong khói lửa chiến tranh bằng những dòng thơ đầy căm hận, xót xa:

Có nhũng làng trung đoàn đi qua Máu đông ỉn giày đinh giặc Nền tro, gạch sém, ngách buồng ai Chiếc tã đầu giường đang chảy dở

(Những làng đi qua) Chứng kiến cảnh tang tóc, ly loạn của người dân mất nước trên khắp các nẻo đường hành quân, lòng nhà thơ lại trào dâng nỗi nhớ thương da diết, sự lo âu quặn thắt đối với xứ Đoài yêu dấu:

Từ độ thu về hoang bóng giặc Điêu tàn ôi lại nổi điêu tàn

Ngày đăng: 02/01/2021, 11:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w