1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh bình phước

139 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 2,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

M ục tiêu của đề tài Vận dụng cơ sở lí luận và thực tiễn về chất lượng cuộc sống dân cư, đề tài nghiên cứu thực trạng chất lượng cuộc sống dân cư ở tỉnh Bình Phước nhằm đề xuất một số g

Trang 2

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS ĐÀM NGUYỄN THÙY DƯƠNG

Thành ph ố Hồ Chí Minh - 2015

Trang 3

Tôi xin cam đoan, luận văn tốt nghiệp có đề tài “Chất lượng cuộc sống dân cư

tỉnh Bình Phước” là kết quả nghiên cứu của riêng bản thân, không sao chép từ luận văn, luận án hay các bài báo của các tác giả khác Nội dung của luận văn có tham khảo

và sử dụng các tài liệu, số liệu, thông tin được thể hiện rõ qua các tác phẩm, bài báo cáo, tạp chí, quyết định,… hay các trang website qua danh mục tài liệu tham khảo của

luận văn

Tác gi ả luận văn

Trang 4

Trải qua một thời gian dài tìm tòi, học tập và nghiên cứu, đề tài luận văn “Chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Bình Phước” đã được hoàn thành Tôi xin bày tỏ lòng biết

ơn chân thành và sâu sắc nhất đến cô giáo hướng dẫn khoa học TS Đàm Nguyễn Thùy Dương Cô đã tận tình giúp đỡ, hỗ trợ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành

tốt luận văn Thạc sĩ của mình

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Quý Thầy Cô giảng dạy các bộ môn trong chương trình học Cao học suốt khoảng thời gian qua Thầy Cô đã tận tình dạy

dỗ, trang bị kiến thức, phương pháp cũng như các kĩ năng cần thiết trong quá trình nghiên cứu khoa học

Tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, phòng Sau đại học Đại học và khoa Địa lí trường Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi trong

thời gian học tập và hoàn thành luận văn

Tôi xin cảm ơn các sở ban ngành tỉnh Bình Phước đã giúp đỡ trong việc tìm

kiếm nguồn tài liệu, số liệu phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài luận văn

Xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, đặc biệt là cô Lê Thị Thu Ngân đã giúp đỡ, động viên tinh thần tôi trong quá trình hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 9/2015

Tác giả luận văn

Bùi Th ị Thu Hồng

Trang 5

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bản đồ

Danh mục các bảng

Danh mục các biểu đồ

M Ở ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 2

3 Phạm vi nghiên cứu 3

4 Lịch sử nghiên cứu đề tài 3

5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 5

6 Những đóng góp chính của đề tài 7

7 Cấu trúc đề tài 8

N ỘI DUNG 9

C HƯƠNG 1 CƠ S Ở LÍ LU ẬN VÀ TH ỰC TI ỄN V Ề CH ẤT LƯỢNG CU ỘC S ỐNG DÂN CƯ 9

1.1 Cơ sở lí luận về chất lượng cuộc sống 9

1.1.1 Quan niệm về chất lượng cuộc sống 9

1.1.2 Các tiêu chí phản ánh chất lượng cuộc sống dân cư 12

1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống dân cư 19

1.2 Thực tiễn về chất lượng cuộc sống dân cư Việt Nam và Đông Nam Bộ 23

1.2.1 Khái quát về chất lượng cuộc sống dân cư Việt Nam 23

1.2.2 Khái quát về chất lượng cuộc sống dân cư vùng Đông Nam Bộ 37

TI ỂU K ẾT CHƯƠNG 1 43

Trang 6

2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Bình Phước 45

2.1.1 Vị trí địa lí 45

2.1.2 Nhân tố tự nhiên 46

2.1.3 Nhân tố kinh tế - xã hội 53

2.2 Thực trạng chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Bình Phước 61

2.2.1 Về kinh tế 61

2.2.2 Về giáo dục 68

2.2.3 Về y tế, chăm sóc sức khỏe 77

2.2.4 Điều kiện sống của các hộ gia đình 86

2.3 Đánh giá tổng hợp về chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Bình Phước 93

2.4 Nguyên nhân của thực trạng chất lượng cuộc sống dân cư ở Bình Phước 95

2.4.1 Nguyên nhân chủ quan 95

2.4.2 Nguyên nhân khách quan 96

TI ỂU K ẾT CHƯƠNG 2 98

C HƯƠNG 3 GI ẢI PHÁP NH ẰM NÂNG CAO CH ẤT LƯỢNG CU ỘC S ỐNG DÂN CƯ T ỈNH BÌNH PHƯỚC 99

3.1 Căn cứ xây dựng định hướng 99

3.1.1 Bối cảnh quốc tế và khu vực ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Bình Phước 99

3.1.2 Bối cảnh trong nước ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Bình Phước 100

3.1.3 Kết quả nghiên cứu thực trạng chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Bình Phước giai đoạn 1999 - 2014 100

3.2 Định hướng phát triển các lĩnh vực có ảnh hưởng đến vấn đề nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Bình Phước 101

3.2.1 Về kinh tế 101

3.2.2 Về lĩnh vực xã hội 102

3.3 Một số giải pháp nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Bình Phước 107

Trang 7

3.3.3 Nhóm giải pháp về phát triển y tế và chăm sóc sức khỏe 114

3.3.4 Nhóm giải pháp nâng cao điều kiện và môi trường sống 115

3.3.5 Nhóm giải pháp nâng cao đời sống tinh thần 117

TI ỂU K ẾT CHƯƠNG 3 119

K ẾT LU ẬN 120

TÀI LI ỆU THAM KH ẢO 122

PH Ụ LỤC

Trang 8

1 BTB&DHMT Bắc Trung Bộ và Duyên hải Miền Trung

2 CLCS Chất lượng cuộc sống

3 ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long

4 ĐBSH Đồng bằng sông Hồng

5 GDP Tổng thu nhập quốc nội

6 HDI Chỉ số phát triển con người

7 TD&MNPB Trung du và Miền núi phía Bắc

8 THCS Trung học cơ sở

9 THPT Trung học phổ thông

10 UBND Ủy ban nhân dân

11 VNĐ Việt Nam đồng

Trang 9

Hình 2.2 Bản đồ giáo dục tỉnh Bình Phước năm 2013 76 Hình 2.3 Bản đồ y tế tỉnh Bình Phước năm 2013 85

Trang 10

Bảng 1.2 GDP và GDP bình quân đầu người ở Việt Nam giai đoạn 1999 - 2013 tính theo giá thực tế 24

Bảng 1.3 GDP bình quân đầu người phân theo các vùng của cả nước giai đoạn 2000 -

Bảng 1.7 Tỉ lệ người lớn biết chữ phân theo vùng kinh tế - xã hội, giới tính và thành

thị/nông thôn năm 2009 (%) 29

Bảng 1.8 Số lượng cơ sở y tế và cán bộ hoạt động trong ngành y tế nước ta giai đoạn

Bảng 2.5 Danh sách 12 xã có tỉ lệ hộ nghèo cao tỉnh Bình Phước năm 2013 67

Bảng 2.6 Số lượng trường, lớp học các cấp học trên địa bàn tỉnh Bình Phước giai đoạn

1999 - 2013 68

Trang 11

Bảng 2.8 Tỉ lệ học sinh/ 1 giáo viên phổ thông toàn tỉnh Bình Phước giai đoạn 1999 -

2013 72

Bảng 2.9 Ngân sách dành cho giáo dục tỉnh Bình Phước giai đoạn 1999 - 2013 74

Bảng 2.10 Một số chỉ tiêu thể hiện hệ thống cơ sở y tế tỉnh Bình Phước giai đoạn

Bảng 2.13 Số cán bộ ngành y tỉnh Bình Phước phân theo huyện, thị xã năm 2013 82

Bảng 2.14 Ngân sách dành cho y tế tỉnh Bình Phước giai đoạn 1999 - 2013 84

Bảng 2.15 Diện tích nhà ở bình quân đầu người tỉnh Bình Phước phân theo loại nhà, thành thị - nông thôn năm 2012 87

Bảng 2.16 Tình hình sử dụng điện lưới thắp sáng của tỉnh Bình Phước tính đến 31/3/2014 88

Trang 12

Biểu đồ 1.2 Tỉ lệ nhập học đúng tuổi bậc phổ thông giai đoạn 2006 – 2012 31

Biểu đồ 1.3 Tỉ lệ hộ sử dụng điện lưới phân theo vùng kinh tế - xã hội năm 2012 36

Biểu đồ 1.4 Tỉ lệ nhập học chung và tỉ lệ nhập học đúng tuổi các cấp vùng Đông Nam Bộ năm 2012 39

Biểu đồ 2.1 Thu nhập bình quân đầu người một tháng theo giá hiện hành 63

giai đoạn 2002 - 2012 63

Biểu đồ 2.2 Tỉ lệ hộ nghèo của cả nước, Đông Nam Bộ và Bình Phước giai đoạn 66

2004 - 2012 66

Biểu đồ 2.3 Tỉ lệ người lớn biết chữ cả nước, Đông Nam Bộ và các tỉnh, 70

thành phố lân cận năm 2009 70

Biểu đồ 2.4 Tỉ lệ học sinh Trung học phổ thông/ tổng số học sinh phân theo huyện, thị năm 2013 73

Biểu đồ 2.5 Tuổi thọ trung bình phân theo giới tính của cả nước, vùng Đông Nam Bộ và Bình Phước năm 2009 77

Biểu đồ 2.6 Diện tích nhà ở bình quân đầu người tỉnh Bình Phước giai đoạn 86

2004 - 2012 86

Trang 13

M Ở ĐẦU

1 Lí do ch ọn đề tài

Từ xưa đến nay, vấn đề tồn tại và phát triển của con người luôn là khía cạnh có

sức hấp dẫn và thu hút sự quan tâm đông đảo của các nhà lí luận cũng như các nhà

hoạt động chính trị - xã hội trên thế giới Ở Việt Nam, sau khi hòa bình được lập lại, kinh tế dần phát triển đến một mức ổn định thì chất lượng cuộc sống của con người ngày càng được quan tâm sâu sắc Nếu khi xưa, thời chiến tranh loạn lạc, con người

chỉ mong được ăn no mặc ấm, mong mỏi sự tồn tại giữa cái khắc nghiệt của súng đạn qua ngày Thì hôm nay, khi nền kinh tế đã phát triển ở một trình độ cao, phần lớn con người trên thế giới đã được đáp ứng đầy đủ các nhu cầu về lương thực thực phẩm, trang phục,… Tuy nhiên, sự cần thiết cho một cuộc sống tiện lợi và thoải mái, phù hợp

với sự phát triển kinh tế ngày càng cao nảy sinh mạnh mẽ các nhu cầu của con người cao hơn trước Không chỉ đơn thuần là ăn no mặc ấm, con người ngày này đòi hỏi bản thân phải được ăn ngon mặc đẹp, người trẻ được học hành đầy đủ, người già được chăm sóc tử tế, mọi người đều được sống trong một môi trường an ninh, sạch sẽ, Tuy nhiên, các nhu cầu trong cuộc sống và sự đáp ứng các nhu cầu ấy của con người ở mỗi khu vực là hoàn toàn khác nhau Nó tùy vào sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia trên thế giới và gây ra tình trạng kẻ thiếu người thừa, “kẻ ăn không hết, người lần không ra” Có thể nói, chất lượng cuộc sống dân cư có thể được xem là thước đo đánh giá trình độ phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia hay một khu vực nào đó trên

thế giới

Theo Pháp lệnh Dân số 06/2003/PL-UBTVQH11 vào ngày 09/01/2003 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Việt Nam quy định: “Nâng cao chất lượng dân số là chính sách cơ bản của Nhà nước trong sự nghiệp phát triển đất nước Nhà nước thực hiện chính sách nâng cao chất lượng dân số về thể chất, trí tuệ và tinh thần nhằm nâng cao chỉ số phát triển con người của Việt Nam lên mức tiên tiến của thế giới, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Có thể thấy, nhà nước đã và đang đặt sự quan tâm sâu sắc đến công tác nâng cao chất lượng cuộc sống của con người bên cạnh

sự phát triển kinh tế quốc gia

Trang 14

Bình Phước, vừa là một trong những tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, vừa là tỉnh nằm trong vùng Đông Nam Bộ - vùng có nền kinh tế - xã hội phát triển nhất Việt Nam Vì vậy, Bình Phước có những lợi thế nhất định trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội nói chung và nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư toàn tỉnh nói riêng Trong những năm gần đây, chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Bình Phước đã

có những cải thiện đáng kể về thu nhập, chất lượng giáo dục, y tế cũng như các điều

kiện sinh hoạt khác Tuy nhiên, so với các tỉnh, thành phố lân cận thuộc vùng Đông Nam Bộ nói riêng và Việt Nam nói chung, chất lượng cuộc sống dân cư ở Bình Phước

vẫn còn ở mức thấp, đặc biệt là vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa, vùng tập trung sinh

sống các dân tộc ít người Vì vậy, tôi đã chọn đề tài ”Chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Bình Phước” làm luận văn thạc sĩ nhằm sáng tỏ vấn đề trên

2 M ục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

2.1 M ục tiêu của đề tài

Vận dụng cơ sở lí luận và thực tiễn về chất lượng cuộc sống dân cư, đề tài nghiên cứu thực trạng chất lượng cuộc sống dân cư ở tỉnh Bình Phước nhằm đề xuất

một số giải pháp thiết thực nhằm nâng cao chất lượng của dân cư địa phương trong tương lai

2.2 Nhi ệm vụ nghiên cứu đề tài

Để đạt được những mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, luận văn cần tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau đây:

- Đúc kết cơ sở lí luận và thực tiễn về chất lượng cuộc sống dân cư

- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Bình Phước

- Phân tích thực trạng chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Bình Phước trong giai đoạn 1999 - 2014

- Xác định những hạn chế trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Bình Phước

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Bình Phước trong tương lai

Trang 15

3 Ph ạm vi nghiên cứu

3.1 V ề thời gian và không gian

Đề tài tập trung nghiên cứu về chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Bình Phước trong giai đoạn 1999 - 2014 Ngoài ra, luận văn còn so sánh chất lượng cuộc sống dân

cư của một số tỉnh, thành phố lân cận thuộc vùng Đông Nam Bộ trong cùng một thời điểm Đồng thời, luận văn cũng đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng

cuộc sống của dân cư trên địa bàn tỉnh Bình Phước, định hướng đến năm 2020

3.2 V ề nội dung

Chất lượng cuộc sống dân cư là một vấn đề khá rộng và không ngừng thay đổi theo thời gian, phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài Tuy nhiên, do điều kiện về thời gian thực hiện luận văn có hạn nên đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu vấn

đề trong một vài khía cạnh của chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Bình Phước Đề tài sẽ

thực hiện việc nghiên cứu vấn đề chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Bình Phước dựa trên một vài tiêu chí cơ bản như sau:

- Về kinh tế: GDP, GDP bình quân đầu người, thu nhập bình quân đầu người và

tỉ lệ hộ nghèo ở địa phương

- Về giáo dục: hệ thống cơ sở giáo dục, tỉ lệ người lớn biết chữ, tỉ lệ nhập học

tổng hợp, tỉ lệ học sinh/ 1 giáo viên, tỉ lệ học sinh trung học phổ thông/ tổng số học sinh và ngân sách dành cho giáo dục

- Về y tế: tuổi thọ trung bình, hệ thống cơ sở y tế, số cán bộ ngành y tế, tỉ lệ bác sĩ/1 vạn dân, hoạt động phòng chống dịch bệnh và ngân sách dành cho y tế

- Về điều kiện sống của các hộ gia đình: điều kiện nhà ở, điều kiện sử dụng điện

và nguồn nước hợp vệ sinh, vệ sinh môi trường, mức độ hưởng thụ văn hóa - tinh thần (thể dục - thể thao, các thiết bị phục vụ sinh hoạt, thư viện,…)

4 L ịch sử nghiên cứu đề tài

Chất lượng cuộc sống dân cư là một vấn đề được nhiều người quan tâm và nhiều quốc gia chú trọng cải thiện Trong lịch sử, trên thế giới đã có rất nhiều báo cáo, các bài viết hay các công trình khoa học trong và ngoài nước, nghiên cứu trực tiếp

hoặc gián tiếp có liên quan đến chất lượng cuộc sống dân cư như:

Trang 16

- “Dân số, tài nguyên, môi trường và chất lượng cuộc sống” (năm 1988) đã đề

cập đến vấn đề chất lượng cuộc sống con người bởi R.C Sharma – một nhà dân số học người Ấn Độ

- Năm 1990, sau khi đưa ra khái niệm HDI – chỉ số phát triển con người, các báo cáo về chỉ số phát triển con người trên thế giới nói chung và các quốc gia đã được phát hành hằng năm bởi Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) Các báo cáo này phản ánh chất lượng cuộc sống của con người tại các quốc gia theo từng năm và cho thấy sự phân hóa về chất lượng cuộc sống ở mội khu vực trên thế giới

- “Các chỉ số và chỉ tiêu phát triển con người” của tác giả Nguyễn Quán thực

hiện năm 1995

- “Một số vấn đề cơ bản về giáo dục dân số” do tác giả Hoàng Đức Nhuận (chủ biên) theo dự án VIE/94/P01

- Các cuộc “Khảo sát mức sống dân cư”, “Tổng điều tra Dân số và Nhà ở” và

“Điều tra Dân số và Nhà ở giữa kì” do Tổng cục Thống kê Trung ương và địa phương

tiến hành thực hiện qua các năm

- Các đề tài luận văn, luận án về chất lượng cuộc sống dân cư đã được các tác

giả thực hiện trong các năm về trước như: “Chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Bình Thuận – Hiện trạng và giải pháp” của Bùi Vũ Thanh Nhật (2008), “Chất lượng cuộc

sống dân cư tỉnh Đồng Nai – Hiện trạng và giải pháp” của Nguyễn Thị Linh (2012),

“Chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Hà Giang” của Đoàn Thu Thủy (2013), “Chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Nghệ An”, “Nghiên cứu chất lượng cuộc sống của dân cư

tỉnh Đăk Lăk”,…

Hiện nay, Bình Phước đã có nhiều bài nghiên cứu có liên quan đến chất lượng

cuộc sống dân cư như: “Đo đạc chỉ số phát triển con người của tỉnh Bình Phước giai đoạn (2001 - 2003)” do Ban tuyên giáo Tỉnh ủy thực hiện Năm 2014, tỉnh Bình Phước cũng đã tiến hành biên soạn tài liệu dạy, học Địa lí địa phương tỉnh Bình Phước và sách tham khảo Địa lí tỉnh Bình Phước Trong đó, thực trạng chất lượng cuộc sống dân

cư tỉnh Bình Phước đã được đề cập ở mức độ khái quát toàn tỉnh Ngoài ra, tỉnh còn có

một số bài báo liên quan đến vấn đề giảm sinh ở Bình Phước, một trong những khía

cạnh nhỏ liên quan đến chất lượng cuộc sống Tuy nhiên, tính đến thời điểm hiện tại,

Trang 17

Bình Phước vẫn chưa có đề tài khoa học nào nghiên cứu toàn diện về chất lượng cuộc

sống dân cư trên địa bàn tỉnh dưới góc độ địa lí địa phương

5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu

5.1 Quan điểm

5.1.1 Quan điểm hệ thống

Quan điểm hệ thống là một trong những quan điểm thường được sử dụng trong quá trình nghiên cứu địa lí học nói chung và địa lí kinh tế - xã hội nói riêng Quan điểm này được sử dụng để nghiên cứu bởi chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Bình Phước là vấn đề được xem xét trong một hệ thống lớn Chất lượng cuộc sống chịu ảnh hưởng của nhiều mối quan hệ có tác động qua lại lẫn nhau như kinh tế, giáo dục, xã

hội,… trong phạm vi địa phương Ngoài ra, vấn đề này còn chịu ảnh hưởng của nền kinh tế - xã hội vùng Đông Nam Bộ nói riêng và Việt Nam nói chung Đó là những

mối quan hệ cần thiết không thể bỏ qua trong quá trình tìm hiểu một vấn đề nào đó

5.1.2 Quan điểm tổng hợp – lãnh thổ

Đây là quan điểm truyền thống của ngành địa lí học, xem các địa phương, các

hiện tượng kinh tế - xã hội là một thể tổng hợp địa lí Chất lượng cuộc sống dân cư

tỉnh Bình Phước là một trong những đối tượng nghiên cứu của địa lí kinh tế - xã hội

Vấn đề này tập hợp nhiều yếu tố và phản ảnh nhiều khía cạnh của cuộc sống Tất cả đều phát triển theo một quy luật riêng nhất định nhưng không tồn tại một cách độc lập

mà giữa chúng luôn có mối quan hệ qua lại chặt chẽ với nhau, ảnh hưởng và chi phối

mạnh mẽ đến sự phát triển của nhau Vì vậy, vấn đề sẽ không được làm rõ nếu không đặt chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Bình Phước vào tổng thể về lãnh thổ tự nhiên, kinh tế - xã hội của vùng và của cả nước

5.1.3 Quan điểm lịch sử - viễn cảnh

Mọi sự vật hiện tượng địa lí đều có quá trình lịch sử hình thành và phát triển lâu dài Sự hình thành và phát triển trong quá khứ có ảnh hưởng đến hiện tại và tương lai

Chất lượng cuộc sống dân cư là một vấn đề phức tạp, có một quá trình phát triển lâu dài và biến đổi theo thời gian lẫn không gian Chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Bình Phước hiện tại là kết quả của quá trình phát triển lâu dài trong quá khứ, và cũng chính

là nền tảng, tiền đề cho sự phát triển trong tương lai Vì vậy, việc sử dụng quan điểm

Trang 18

này cho phép chúng ta có cái nhìn tổng quan về quá trình phát triển Từ đó, khi nhìn về

thực tại chúng ta có thể đánh giá vấn đề một cách thuyết phục và toàn diện hơn, luận văn có thể dự đoán tương lai một cách chính xác hơn

5.1.4 Quan điểm phát triển bền vững

Quan điểm phát triển bền vững có ý nghĩa đặc thù trong nghiên cứu địa lí địa phương, đặc biệt là vấn đề chất lượng cuộc sống Một cuộc sống dân cư có chất lượng

tốt là một cuộc sống có sự phát triển cân bằng giữa ba yếu tố: kinh tế - xã hội - môi trường Với mong muốn tìm ra hướng đi cho một cuộc sống dân cư của tỉnh Bình Phước chất lượng, ổn định và lâu dài, đề tài đã sử dụng quan điểm này để nghiên cứu

vấn đề như là một việc làm thiết yếu và có ý nghĩa nhất định trong quá trình nghiên

cứu vấn đề

5.2 Phương pháp nghiên cứu

5.2.1 Phương pháp khảo sát thực địa

Các số liệu thu thập được thông qua sách báo hay các kênh thông tin khác không thể diễn tả chính xác vấn đề cần được nghiên cứu Vì vậy, người nghiên cứu

cần có những chuyến khảo sát thực địa để khẳng định độ chính xác của số liệu và quan sát thực tế cuộc sống của người dân ở từng huyện, thị xã trong toàn tỉnh Từ đó, đề tài

mới đưa ra được những nhận định, kết luận chính xác dựa trên những số liệu thu thập

nhằm xây dựng hệ thống các giải pháp thiết thực cho người dân địa phương trong tương lai

5.2.2 Phương pháp thu thập tài liệu

Phương pháp thu thập tài liệu là một trong những phương pháp truyền thống và

cần thiết trong quá trình nghiên cứu một vấn đề địa lí kinh tế - xã hội Chất lượng cuộc

sống dân cư tỉnh Bình Phước là một vấn đề phức tạp, đa dạng và chịu ảnh hưởng của nhiều mối quan hệ Vì vậy, kết quả của việc thu thập tất cả các tài liệu có liên quan đến

vấn đề nghiên cứu từ cấp huyện, thị xã đến cấp tỉnh, vùng và cả nước giúp đề tài có cái nhìn từ tổng quát đến cụ thể của vấn đề Điều này giúp đề tài nghiên cứu có hệ thống

và toàn diện hơn Đề tài có thể thu thập nhiều nguồn tài liệu, số liệu đa dạng và khác nhau như: tài liệu từ các sở, ban ngành, cơ quan, nguồn tài liệu từ sách báo và internet

Trang 19

và từ các báo cáo thống kê định kì hàng tháng, hàng năm, niên giám thống kê,…có liên quan đến chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Bình Phước

cư tỉnh Bình Phước Từ đó, đề tài có thể đưa ra những giải pháp khắc phục và định hướng phát triển vấn đề một cách hiệu quả và thiết thực nhất

5.2.4 Phương pháp bản đồ

Phương pháp bản đồ là phương pháp truyền thống, đặc trưng cho địa lí học nói chung và địa lí kinh tế - xã hội nói riêng Các tài liệu và số liệu thu thập được không

thể hiện rõ về mặt không gian của vấn đề nghiên cứu Vì vậy, việc xem xét, nghiên

cứu và giải thích các vấn đề sẽ trở nên dễ dàng, trực quan hơn nếu chúng được thể hiện thông qua các bản đồ Một số vấn đề của chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Bình Phước

sẽ được thể hiện bằng bản đồ thông qua phần mềm Mapinfo

5.2.5 Phương pháp dự báo

Dựa trên quá trình nghiên cứu trong một thời gian dài, căn cứ vào điều kiện thuận lợi, khó khăn cũng như thực trạng về chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Bình Phước, luận văn có thể dự báo những xu hướng phát triển của vấn đề trong tương lai

Từ đó, luận văn có thể đưa ra những định hướng phát triển chất lượng cuộc sống của người dân tỉnh Bình Phước trong tương lai

6 Nh ững đóng góp chính của đề tài

- Kế thừa và cập nhật cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng cuộc sống dân cư

- Làm sáng tỏ các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của dân cư tỉnh Bình Phước

- Nghiên cứu thực trạng chất lượng cuộc sống của dân cư tỉnh Bình Phước theo các tiêu chí mà đề tài lựa chọn trong giai đoạn 1999 - 2014

Trang 20

- Đưa ra các định hướng phát triển cơ bản đến năm 2020 và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Bình Phước trong tương lai

7 C ấu trúc đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính

của luận văn được thể hiện trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về chất lượng cuộc sống dân cư

Chương 2: Thực trạng chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Bình Phước

Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Bình Phước

Trang 21

N ỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT

1.1 Cơ sở lí luận về chất lượng cuộc sống

1.1.1 Quan ni ệm về chất lượng cuộc sống

Chất lượng cuộc sống là một trong những cụm từ được xuất hiện ngày càng nhiều trong các bài báo nghiên cứu khoa học hiện nay Chất lượng cuộc sống là thuật

ngữ được sử dụng để đánh giá chung nhất về mức độ của cuộc sống của người dân trên

phạm vi của toàn xã hội của một đất nước Chất lượng cuộc sống thể hiện sự thoải mái

của con người cả về vật chất lẫn tinh thần Nói cách khác, chất lượng cuộc sống là thước đo về giá trị vật chất cũng như giá trị tinh thần của con người trong cuộc sống

mỗi ngày Có thể nói, chất lượng cuộc sống con người tỉ lệ thuận với sự phát triển kinh

tế của mỗi quốc gia trên thế giới Ngày nay, khi kinh tế càng phát triển thì việc nâng cao chất lượng cuộc sống của con người lại được nhà nước, xã hội và cộng đồng quốc

tế quan tâm hơn Vì vậy, đề tài về chất lượng cuộc sống trở nên sôi nổi khi các quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng luôn là vấn đề được mọi người đào sâu nghiên cứu và đưa ra nhiều phương hướng phát triển cũng như các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân

Có rất nhiều khái niệm gần giống với “chất lượng cuộc sống” về ý nghĩa như

mức sống hay chất lượng sống Tuy nhiên, hai khái niệm này chỉ thể hiện một phần

nhỏ trong khái niệm “chất lượng cuộc sống” Mức sống là thuật ngữ mà tiêu chí chủ

yếu khi nghiên cứu về cuộc sống là thu nhập Hay chất lượng sống cũng là một khái

niệm chỉ dùng các chỉ số sức khỏe của con người nghiên cứu Trong khi đó, chất lượng

cuộc sống là một thuật ngữ được sử dụng trong nhiều ngữ cảnh trên tất cả các lĩnh vực phát triển kinh tế, giáo dục, y tế, sức khỏe và thậm chí là chính trị ở một mức độ nhất định Chất lượng cuộc sống không chỉ nghiên cứu về thu nhập, công việc hay sự giàu nghèo trong cuộc sống của con người mà còn là môi trường xã hội và môi trường

sống, sức khỏe tinh thần, giáo dục và giải trí của con người hàng ngày

Trang 22

Chất lượng cuộc sống là một khái niệm động, phát triển từ thấp lên cao phụ thuộc vào sự phát triển của kinh tế, chính trị, văn hóa, truyền thống của mỗi dân tộc trong từng giai đoạn phát triển của hình thái xã hội của mỗi quốc gia Chất lượng cuộc

sống có quan hệ qua lại với nhiều yếu tố như nguồn tài nguyên thiên nhiên, sự phát triển dân số, văn hóa tôn giáo và trình độ phát triển kinh tế - xã hội,… của mỗi quốc gia trên thế giới

Như vậy, chất lượng cuộc sống thường được hiểu rất rộng, phản ánh sự đáp ứng

những nhu cầu tối thiểu của con người Mức độ đáp ứng cho nhu cầu của con người càng cao thì chất lượng cuộc sống càng cao

Theo Tổ chức Y tế thế giới (1994): “Chất lượng cuộc sống là nhận thức mà cá nhân có được trong đời sống của mình, trong bối cảnh văn hóa và hệ thống giá trị mà

cá nhân sống, trong mối tương tác với những mong muốn, những chuẩn mực và những

mối quan tâm Đó là một khái niệm rộng phụ thuộc vào hệ thống phức hợp của trạng thái sức khỏe thể chất, trạng thái tâm lí hay mức độ độc lập, những mối quan hệ xã hội

và môi trường sống của mỗi cá nhân.” Tổ chức này cũng đã đưa ra 3 nhóm tiêu chí

phản ánh chất lượng cuộc sống con người, đó là:

- Mức độ thoải mái về thể chất

- Mức độ thoải mái về tinh thần

- Mức độ thoải mái về xã hội

Trong tác phẩm nỗi tiếng của mình “Dân số, tài nguyên, môi trường và chất lượng cuộc sống” (1988), R.C Sharma đã định nghĩa: “Chất lượng cuộc sống là sự cảm giác được hài lòng (hạnh phúc hoặc thỏa mãn) với những nhân tố của cuộc sống, mà

những nhân tố được coi là quan trọng nhất đối với bản thân con người Thêm vào đó,

chất lượng là sự cảm giác của sự đầy đủ hay là sự trọn vẹn của cuộc sống”

Khái niệm “Chất lượng cuộc sống” cũng được William Bell đưa ra và mở rộng

một cách toàn diện và cụ thể hơn Ông đã gắn chất lượng cuộc sống của người dân với các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội,… Bởi ông cho rằng, tất cả các điều

kiện trên đều có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến chất lượng cuộc sống của người dân ở một quốc gia nào đó Ông đưa ra 12 đặc trưng thể hiện chất lượng cuộc sống như sau:

Trang 23

- An toàn thể chất cá nhân

- Sung túc về kinh tế

- Công bằng trong khuôn khổ pháp luật

- An ninh quốc gia được đảm bảo

- Bảo hiểm lúc già yếu và ốm đau

- Hạnh phúc về mặt tinh thần

- Sự tham gia của mỗi cá nhân vào đời sống xã hội

- Bình đẳng về giáo dục, y tế

- Chất lượng đời sống văn hóa

- Quyền tự do công dân

- Chất lượng môi trường kĩ thuật giao thông, nhà ở, thiết bị sinh hoạt, thiết bị giáo dục, y tế,…

- Chất lượng môi trường sống và khả năng chống ô nhiễm

Có thể thấy, trong tất cả các đặc trưng mà William Bill đưa ra, “an toàn” là nội

dụng đầu tiên mà ông cho rằng quan trọng trong việc đánh giá chất lượng cuộc sống

của con người Sự an toàn mà William Bell đề cập đến bao gồm sự an toàn cả về môi trường tự nhiên và môi trường xã hội mà con người đang tồn tại Vì vậy, cuộc sống

của con người thực sự tốt và đầy đủ là cuộc sống đáp ứng được các điều kiện vật chất cũng như tinh thần của con người

Thái Lan cũng đã xây dựng 37 chỉ tiêu phản ánh nội dung của chất lượng cuộc

sống như: ăn, mặc, nhà ở, môi trường sống, sức khỏe, giáo dục,… Từ đó, Thái Lan đưa ra tiêu chuẩn đánh giá chất lượng cuộc sống ở 3 cấp độ: yếu kém (1 sao), trung bình (2 sao) và khá (3 sao)

Như vậy, chất lượng cuộc sống là một khái niệm tổng hợp, có liên quan đến tất

cả mọi mặt của cuộc sống con người Chất lượng cuộc sống thể hiện sự thỏa mãn

những nhu cầu về vật chất cũng như tinh thần của con người, cộng đồng và toàn thể xã

hội Chất lượng cuộc sống của người dân là một trong những mục tiêu phấn đấu của

mỗi quốc gia nhằm đáp ứng sự phát triển bền vững của mọi quốc gia

Trang 24

1.1.2 Các tiêu chí ph ản ánh chất lượng cuộc sống dân cư

Chất lượng cuộc sống là một vấn đề rộng và phong phú, tương đối phức tạp

Vấn đề này thường không có một tiêu chí cụ thể nào mang tính chất tổng hợp để phân tích, so sánh và đo lường chất lượng cuộc sống của người dân ở một quốc gia nào đó

Chỉ số phát triển con người (HDI) là chỉ tiêu được Chương trình phát triển Liên

Hợp Quốc (UNDP) đưa ra vào năm 1990 nhằm đánh giá chất lượng cuộc sống của người dân trên bình diện quốc tế và quốc gia Chỉ tiêu này phản ánh sự phát triển của con người ở góc độ phát triển kinh tế - xã hội như: con người được sống thọ và khỏe

mạnh, được học hành, được ăn no mặc ấm,… Hiện nay, chỉ số phát triển con người là thước đo tổng quát về sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia Đồng thời, đây là công cụ so sánh về thành tựu phát triển con người và tiến bộ xã hội giữa các quốc gia trên thế giới trong cùng một thời điểm Ba chỉ tiêu cơ bản đánh giá chất lượng cuộc

sống con người bằng HDI như sau:

- Chỉ số về sức khỏe: thể hiện một cuộc sống lâu dài và mạnh khỏe của con người, được đo bằng tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh ra

- Chỉ số về giáo dục: thể hiện trình độ kiến thức của con người, được đo bằng

chỉ số năm học bình quân của số người từ 25 tuổi trở lên và chỉ số năm học hy vọng bình quân của trẻ em ở độ tuổi đi học

- Chỉ số về kinh tế: thể hiện mức sống của con người, được đo bằng GDP thực

tế bình quân đầu người tính theo sức mua tương đương (PPP)

Khi chất lượng cuộc sống của người dân tăng lên thì các chỉ số thành phần của HDI cũng tăng lên Các chỉ số về sức khỏe, giáo dục và kinh tế đều nhận giá trị từ 0 đến 1 Khi giá trị càng tiến gần về 1 thì đồng nghĩa với trình độ phát triển và xếp hạng

chất lượng cuộc sống của một quốc gia hay lãnh thổ càng cao (với 1 là thứ hạng cao

nhất) Ngược lại, chỉ số HDI càng dần về giá trị 0 thì chất lượng cuộc sống càng thấp

Đối với cấp độ phạm vi đánh giá là một trong những tỉnh của Việt Nam, Bình Phước còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình thống kê các chỉ số phản ánh chất lượng

cuộc sống dân cư địa phương Vì vậy, việc đánh giá chất lượng cuộc sống cấp tỉnh chỉ

dựa vào một số tiêu chí cơ bản như sau:

Trang 25

1.1.2.1 V ề kinh tế

Chỉ số về kinh tế phản ánh khả năng con người có thể đảm bảo cuộc sống của mình thông qua GDP, GDP bình quân đầu người, thu nhập bình quân đầu người của

hộ gia đình và tỉ lệ hộ nghèo của một địa phương nào đó

* GDP và GDP bình quân đầu người

Hiện nay, phần lớn các quốc gia trên thế giới đều sử dụng tiêu chí thu nhập bình quân đầu người là một trong những tiêu chí chính nhằm đánh giá chất lượng cuộc sống

của người dân GDP và GDP bình quân đầu người cũng phần nào phản ánh thu nhập bình quân đầu người của một địa phương nào đó

- GDP (tổng sản phẩm quốc nội) là tổng sản lượng hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng cuối cùng mà một nền kinh tế tạo ra không phân biệt người trong nước hay người nước ngoài làm ra trong một thời kì nhất định, thông thường là thời gian một năm GDP không bao gồm các khấu trừ với khoản khấu hao vốn vật chất hay sự suy giảm

xuống cấp của tài nguyên thiên nhiên

- GDP bình quân đầu người là chỉ tiêu phản ánh một cách tổng quan mức sống dân cư, là sự tương quan giữa GDP so với số dân trung bình ở cùng một thời điểm tính theo sức mua tương đương (PPP), có thể được tính bằng nội tệ (Việt Nam đồng) hoặc

bằng ngoại tệ (USD/người) để dễ dàng so sánh giữa các quốc gia với nhau Tiêu chí này được tính cho cả nước, cho từng vùng, từng khu vực và theo cấp tỉnh, thành phố

Vì vậy, thông qua GDP/người, chúng ta có thể đánh giá phần nào trình độ phát triển kinh tế cũng như chất lượng cuộc sống của người dân ở một địa phương nhất định Điều này đã được khẳng định bởi thực tế, hầu hết các tỉnh, thành phố có nền kinh tế phát triển đều đảm bảo một cuộc sống có chất lượng tốt về mọi mặt so với các địa phương còn kém phát triển

* Thu nh ập bình quân đầu người của hộ gia đình

- Thu nhập bình quân đầu người là số tiền và giá trị hiện vật mà người lao động

nhận được trong một thời gian nhất định được tính bằng Việt Nam đồng (thông thường

là một tháng hoặc một năm)

Trang 26

- Thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình là toàn bộ số tiền và giá trị

hiện vật mà hộ gia đình và các thành viên trong hộ gia đình nhận được trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm Các khoản thu này bao gồm:

+ Thu nhập từ tiền công, tiền lương

+ Thu nhập từ các hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản (đã trừ chi phí và thuế sản xuất)

+ Thu nhập từ sản xuất các ngành nghề (phi nông, lâm nghiệp, thủy sản) + Các nguồn thu nhập khác như biếu, lãi tiết kiệm,…

Các khoản thu không được tính vào thu nhập bao gồm tiền gửi tiết kiệm, thu

nợ, thu bán tài sản, vay nợ, tạm ứng và các khoản chuyển nhượng vốn,…

Thu nhập bình quân đầu người trong một tháng (theo công bố của Tổng cục

Thống kê quy định) được tính bằng cách chia tổng số thu nhập của hộ dân cư cho số nhân khẩu của hộ và chia cho 12 tháng

* Chu ẩn nghèo và tỉ lệ hộ nghèo

Ngày nay, do sự phát triển của nền kinh tế thế giới, quan điểm đói nghèo đã được hiểu rộng và sâu hơn qua nhiều cách tiếp cận khác nhau Có rất nhiều khái niệm

về đói nghèo được đưa ra thông qua các cuộc hội nghị, hội thảo nhưng nhìn chung, khái niệm đói nghèo được hiểu đơn giản như sau:

Đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư trong xã hội thiếu thốn những nhu

cầu cơ bản của con người Đây là những nhu cầu này được xã hội thừa nhận tùy vào

mức độ phát triển kinh tế và phong tục tập quán của người dân địa phương Nói cách khác, đói nghèo là tình trạng người dân sống dưới mức trung bình của cộng đồng xã

hội cả về mặt vật chất lẫn tinh thần Nhằm đánh giá mức độ nghèo của dân cư ở nước

ta, các nhà quản lý và nhà khoa học đã đưa ra tiêu chuẩn về chuẩn nghèo Chuẩn nghèo là mức thu nhập hoặc chi tiêu bình quân đầu người được dùng làm tiêu chuẩn để xác định người nghèo hoặc hộ nghèo Đây được xem là cơ sở cơ bản và quan trọng

nhất để xác định các hộ gia đình cần được đưa vào chương trình xóa đói giảm nghèo

của địa phương nói riêng và cả nước nói chung

Do trình độ phát triển kinh tế ngày càng cao kéo theo mức sống của người dân cũng tăng theo thời gian, vì vậy, chuẩn nghèo cũng có sự thay đổi nhất định phù hợp

Trang 27

với tình hình thực tế Tuy nhiên, do trình độ cũng như tốc độ phát triển kinh tế không đồng đều giữa vùng nông thôn và thành thị nên mức sống của người dân cũng có sự chênh lệch đáng kể Vì vậy, kể từ năm 2004 trở về sau, tiêu chuẩn chuẩn nghèo được

cụ thể hơn bằng cách phân chia thành hai vùng nông thôn và thành thị

B ảng 1.1 Chuẩn nghèo của Việt Nam giai đoạn 2002 – 2015 (nghìn VNĐ/tháng)

Ngu ồn: Chuẩn nghèo giai đoạn 2002 - 2015, Bộ Lao động, Thương binh Xã hội 2011

Như vậy, dựa vào chuẩn nghèo theo quy định của Nhà nước, những hộ gia đình

hoặc người có thu nhập bình quân đầu người thấp hơn hoặc bằng chuẩn nghèo thì được xem là hộ nghèo hoặc người nghèo của địa phương

Tỉ lệ hộ nghèo là phần trăm số hộ có mức thu nhập hoặc chi tiêu bình quân đầu người thấp hơn chuẩn nghèo Vì chuẩn nghèo có sự thay đổi theo từng giai đoạn nên tỉ

lệ hộ nghèo cũng có sự thay đổi tùy thuộc vào chuẩn nghèo của thời điểm đó

1.1.2.2 V ề giáo dục

Chỉ số về giáo dục cũng là một trong những thước đo đánh giá chất lượng cuộc

sống của người dân Bởi trình độ học vấn của người dân phản ánh khả năng tiếp cận và thích ứng với cuộc sống tiện nghi, hiện đại theo xu hướng phát triển chung của thế

giới Vì vậy, hiện nay, một số quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng

đã xem giáo dục là quốc sách hàng đầu trong phát triển đất nước Một số chỉ tiêu về giáo dục được làm thước đo trình độ dân trí đánh giá chất lượng cuộc sống như sau:

* T ỉ lệ người lớn biết chữ

Tỷ lệ người lớn biết chữ là tương quan giữa số người từ 15 tuổi trở lên biết đọc,

hiểu và biết viết thông thạo một đoạn văn ngắn về cuộc sống hằng ngày bằng chữ quốc

ngữ, chữ dân tộc hoặc chữ nước ngoài so với tổng số dân ở cùng một thời điểm

Trang 28

* T ỉ lệ học sinh/ 1 giáo viên

Tỉ lệ học sinh/ 1 giáo viên là tương quan giữa tổng số học sinh ở các cấp học

của bậc phổ thông đang đi học so với tổng số giáo viên đang giảng dạy ở bậc phổ thông trong cùng một thời điểm

* T ỉ lệ học sinh trung học phổ thông/ tổng số học sinh

Tỉ lệ học sinh trung học phổ thông/ tổng số học sinh là tương quan giữa số học sinh đang học ở cấp trung học phổ thông so với tổng số học sinh đang theo học các cấp

của bậc học phổ thông trong cùng một thời điểm

* Ngân sách dành cho giáo d ục

Ngân sách dành cho giáo dục là khoảng chi tiêu mà địa phương đầu tư cho phát triển giáo dục từ cơ sở vật chất đến các hoạt động được tổ chức mang ý nghĩa tinh thần cho học sinh Chỉ tiêu này cho thấy mức độ quan tâm và đầu tư cho giáo dục, đồng

thời phần nào phản ánh mức độ phát triển dân trí ở địa phương

1.1.2.3 V ề y tế, chăm sóc sức khỏe

Ngày nay, y tế đóng vai trò quan trọng trong công cuộc nâng cao chất lượng

cuộc sống của người dân bởi y tế đảm nhiệm công tác khám chữa bệnh, bảo vệ, chăm sóc sức khỏe của người dân Hệ thống y tế được mở rộng, chất lượng được nâng cao, các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ngày càng đa dạng và đáp ứng đầy đủ nhu cầu của người dân đã góp phần kéo dài tuổi thọ cũng như hạn chế các loại dịch bệnh, bệnh tật

mà con người không may mắc phải Người ta thường dùng các chỉ tiêu về tuổi thọ trung bình, số cán bộ y tế, số bệnh viện, trạm xá, giường bệnh/ 1 vạn dân hay nguồn ngân sách dành cho y tế,… để đánh giá khả năng chăm sóc sức khỏe cho người dân

của một địa phương

Trang 29

* Tu ổi thọ trung bình

Tuổi thọ trung bình (kì vọng sống) là số năm trung bình của một người có khả năng sống được khi mới sinh ra cho đến hết suốt cuộc đời Tuổi thọ trung bình của con người chịu tác động bởi nhiều yếu tố, trong đó tỉ lệ tử vong ở trẻ em càng cao thì tuổi

thọ trung bình của con người tại địa phương càng giảm Trong thời bình, tuổi thọ trung bình của con người thấp có thể do thu nhập thấp đã dẫn đến tình trạng nghèo đói, người dân không có cơ hội tiếp xúc với các dịch vụ y tế tốt, không được chăm sóc sức

khỏe tốt,…

* S ố cán bộ y tế/1 vạn dân, giường bệnh/ 1 vạn dân

Số cán bộ y tế hay số giường bệnh/ 1 vạn dân là tỷ lệ giữa số bác sĩ, y sĩ, y tá

hoặc số giường bệnh hiện có tham gia vào quá trình chăm sóc sức khỏe cho người dân

so với 1 vạn dân ở cùng một thời điểm

Ngoài ra, số bệnh viện, trạm y tế phục vụ cho công tác khám chữa bệnh cho người dân cũng được xem là một trong những tiêu chí đánh giá mức độ phục vụ cho người dân trong vấn đề khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe mỗi ngày

* Ngân sách dành cho y t ế

Ngân sách dành cho y tế là khoảng chi ngân sách địa phương cho các hoạt động

y tế cũng như nguồn vốn đầu tư nhằm xây dựng cơ sở vật chất, hạ tầng y tế phục vụ cho việc khám và chữa bệnh cho người dân ở địa phương Con số này càng lớn chứng

tỏ nhà nước đang đặt sự quan tâm lớn đến việc bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cho người dân nói riêng và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nói chung

1.1.2.4 Điều kiện sống của các hộ gia đình

Ngoài các chỉ tiêu về kinh tế, giáo dục, y tế có thể đánh giá chất lượng cuộc

sống của người dân, một số chỉ tiêu khác về điều kiện sống cũng góp phần đánh giá

chất lượng cuộc sống của một địa phương Các nhu cầu sinh hoạt hằng ngày của con người và khả năng đáp ứng các nhu cầu đó ngày càng cao cũng thể hiện một cuộc sống đang được cải thiện theo hướng tích cực Ở các địa phương có nền kinh tế phát triển, người dân có nhu cầu về điện, nước rất lớn và yêu cầu một không gian sống rộng rãi,

sạch sẽ, chất lượng dinh dưỡng đầy đủ mỗi ngày Và việc đáp ứng các nhu cầu thiết

yếu đó của người dân được các tỉnh, thành phố này thực hiện một cách dễ dàng và

Trang 30

thuận tiện Ngược lại, ở các địa phương kém phát triển, nhu cầu ăn uống đơn giản chỉ

để no và có nhà để ở cũng khó được các địa phương này đáp ứng Thực tế cho thấy, sự khác biệt về khả năng đáp ứng các nhu cầu thiết yếu cho người dân giữa các địa phương trong cả nước là rất lớn Bởi trình độ phát triển kinh tế - xã hội của giữa các địa phương là hoàn toàn khác nhau

* Điều kiện nhà ở

Diện tích nhà ở (không gian) và chất lượng nhà ở là hai khía cạnh để đánh giá điều kiện nhà ở của con người Diện tích nhà ở thường được thể hiện dưới hình thức mét vuông/người Chất lượng nhà ở thường được chia làm 4 loại: nhà kiên cố, nhà bán kiên cố, nhà thiếu kiên cố và nhà đơn sơ Điều kiện nhà ở tùy thuộc vào mức thu nhập

của mỗi gia đình và điều kiện tự nhiên ở mỗi vùng Đặc điểm về nhà ở có sự phân hóa sâu sắc giữa các hộ gia đình ở vùng nông thôn và thành thị trong cùng một địa phương

* Điều kiện sử dụng điện

Điện là một trong những thành phần không thể thiếu của cuộc sống hiện đại Nhu cầu, mức độ cũng như khả năng sử dụng điện cho thấy trình độ phát triển kinh tế -

xã hội của một quốc gia Điện không chỉ đóng vai trò quan trọng trong nền sản xuất kinh tế mà còn giúp cuộc sống của con người trở nên tiện lợi và hiện đại hơn Vì vậy, điều kiện sử dụng điện của người dân cũng là một trong những tiêu chí đánh giá chất lượng cuộc sống con người của một địa phương Các tiêu chí về điều kiện sử dụng điện thường được dùng để đánh giá chất lượng cuộc sống của con người ở một địa phương là: tỉ lệ các xã có điện, tỉ lệ số hộ dùng điện Cũng như điều kiện nhà ở, điều

kiện sử dụng điện cũng có sự khác biệt giữa các hộ gia đình và phân hóa giữa các hộ gia đình sống ở thành thị và nông thôn

* Điều kiện sử dụng nước sạch

Sử dụng nước sạch luôn là nhu cầu thiết yếu và cơ bản trong cuộc sống hằng ngày của con người Điều kiện sử dụng nước sạch cũng được xem là một trong những tiêu chí đánh giá chất lượng cuộc sống của người dân Ngày nay, nguồn nước đa phần

đã bị ô nhiễm và nguồn nước sạch ngày càng trở nên khan hiếm Trong khi đó, nhu

cầu sử dụng nguồn nước sạch của người dân càng tăng đã khiến cho các nhà quản lí luôn phải nỗ lực để tìm ra biện pháp nhằm đảm bảo nguồn nước sạch có thể cung cấp

Trang 31

cho người dân mỗi ngày Các tiêu chí về điều kiện sử dụng nước sạch thường được dùng để đánh giá chất lượng cuộc sống của con người là tỉ lệ người dân được sử dụng nước sạch (nước máy, nước ngầm, nước khai thác từ nguồn lộ thiên đã qua xử lí)

1.1.3 Các nhân t ố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống dân cư

1.1.3.1 Nhóm các nhân t ố tự nhiên

* V ị trí địa lí: Vị trí địa lí là một trong nhân tố quan trọng đối với sự phát triển kinh tế

- xã hội của một quốc gia Vị trí địa lí có ảnh hưởng đến khả năng mở rộng, trao đổi,

hợp tác phát triển về mọi mặt, đặc biệt là hợp tác phát triển kinh tế và xây dựng các

mối quan hệ song phương hay đa phương giữa các quốc gia trên toàn thế giới Do vậy,

vị trí địa lí cũng có những ảnh hưởng nhất định đến chất lượng cuộc sống dân cư của

một quốc gia Vị trí địa lí thuận lợi góp phần thúc đẩy sự giao lưu hợp tác và phát triển kinh tế, đặc biệt là các ngành công nghiệp thế mạnh, góp phần giải quyết việc làm, tạo nguồn thu nhập cho người lao động Từ đó, chất lượng cuộc sống của dân cư sinh sống ngày càng được nâng cao Ngoài ra, vị trí địa lí thuận lợi cũng góp phần thúc đẩy sự giao lưu văn hóa, các hoạt động có giá trị giải trí được liên kết tổ chức nhằm đáp ứng nhu cầu thoải mái về mặt tinh thần của người dân

* Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên: có ảnh hưởng đến khả năng tập

trung sinh sống và hoạt động sản xuất của người dân Môi trường sống tự nhiên cũng

có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống của dân cư Sự giàu có hay nghèo nàn

về tài nguyên thiên nhiên cũng như khả năng khai thác các nguồn tài nguyên đó là nền

tảng của sự phát triển kinh tế làm nguồn sống cho dân cư, đảm bảo một cuộc sống đầy

đủ và phát triển

Trong những năm gần đây, con người luôn phải đối mặt với các hiện tượng suy

giảm tài nguyên và biến đổi khí hậu, đe doạ đến nguồn thu nhập của người lao động nói riêng và công cuộc nâng cao chất lượng cuộc sống Việc khai thác các nguồn lợi

một cách quá mức như: thuỷ hải sản, lâm sản, khoáng sản,… đã khiến con người lâm vào tình trạng khó khăn trong việc kiếm sống từ các nguồn lợi tự nhiên Bởi các nguồn

lợi tự nhiên cần một thời gian rất dài để phục hồi, thậm chí một số tài nguyên không

thể phục hồi Song song đó, hiện tượng biến đổi khí hậu, sự thay đổi thời tiết một cách đột ngột đã khiến cho quá trình sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn, thu nhập

Trang 32

của người dân ngày càng bấp bênh hơn Theo dự báo, Việt Nam là một trong những nước chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu trong tương lai Nhiệt độ Trái Đất ngày càng cao có khả năng nhấn chìm các đồng bằng lớn ở nước ta – là những vựa lúa

trọng điểm của đất nước – làm đe doạ đến an ninh lương thực của quốc gia nói chung

và sự bấp bênh cuộc sống của hàng vạn người dân nói riêng

1.1.3.2 Nhóm các nhân t ố kinh tế - xã hội

* Dân s ố: Có rất nhiều khía cạnh của dân số ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của

dân cư ở một địa phương Quy mô dân số, chất lượng dân số, sự phân bố dân cư hay

sự gia tăng dân số đều có ảnh hưởng đến khả năng sản xuất, tốc độ phát triển kinh tế

và chất lượng cuộc sống của dân cư Trong sản xuất kinh tế, con người vừa đóng vai trò là lực lượng sản xuất và đồng thời cũng là bộ phận tiêu thụ các sản phẩm làm ra Số lượng, đặc biệt là chất lượng của lực lượng lao động càng cao thì khả năng tạo ra một

nền sản xuất hiệu quả và chất lượng càng tốt Từ đó, việc nâng cao chất lượng cuộc

sống dân cư trở nên dễ dàng hơn và ngược lại Có thể nói, con người vừa là đối tượng

để nâng cao chất lượng cuộc sống, vừa là nhân tố có ảnh hưởng rất lớn đến việc đảm

bảo một cuộc sống có chất lượng tốt

Một số nhân tố dân số ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của dân cư như sau:

- Quy mô dân số: có ảnh hưởng gián tiếp đến chất lượng cuộc sống của dân cư địa phương Dân số quá đông tạo áp lực đến khả năng đáp ứng các nhu cầu vật chất cũng như tinh thần thiết yếu cho con người như khám chữa bệnh, học tập, nhà ở, môi trường sống, công việc, Ngược lại, dân số quá ít gây ra sự khan hiếm nguồn nhân lực

phục vụ cho nền sản xuất xã hội Điều này đã ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ phát triển kinh tế và gián tiếp đến công cuộc nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư trong một địa phương

- Gia tăng dân số: gia tăng dân số trong phạm vi một địa phương bao gồm gia tăng dân số tự nhiên và gia tăng dân số cơ học Tốc độ gia tăng dân số, đặc biệt là gia tăng dân số tự nhiên của một địa phương có ảnh hưởng rất lớn đến việc nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư trong một giai đoạn nhất định Theo kết luận của các nhà nghiên cứu đưa ra, giả sử tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên vượt ngưỡng 3%/năm sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân

Trang 33

bởi lượng của cải làm ra, đặc biệt là lương thực thực phẩm không đủ để đáp ứng cho nhu cầu hàng ngày của người dân Tuy nhiên, nếu gia tăng dân số quá thấp sẽ dẫn đến tình trạng xã hội thiếu thốn lực lượng lao động phục vụ cho hoạt động sản xuất trong tương lai Tóm lại, tốc độ gia tăng dân số quá cao hoặc quá thấp đều gây ra những ảnh hưởng nhất định đến việc đảm bảo chất lượng cuộc sống dân cư của địa phương

- Di dân: là một trong những nhân tố góp phần vào tỉ lệ gia tăng dân số của một

quốc gia nói chung và địa phương nói riêng Di dân có tác động không nhỏ đến việc nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư, đặc biệt là di dân tự do Nhóm người di dân tự

do thường có thu nhập thấp, trình độ dân trí thấp, thiếu việc làm và không có kế hoạch

cư trú rõ ràng Vì vậy, di dân tự do đã và đang đặt ra những thách thức cần được giải quyết kịp thời đối với chính quyền địa phương trước khi thực hiện kế hoạch nâng cao

chất lượng cuộc sống dân cư nơi đó

- Cơ cấu dân số theo độ tuổi: dân số già hay trẻ đều có những ảnh hưởng nhất định đến việc nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư Địa phương có cơ cấu dân số già thường dẫn đến tình trạng thiếu nguồn nhân lực và nhu cầu về các dịch vụ chăm sóc người già, an sinh xã hội tăng nhanh sẽ trở thành gánh nặng của xã hội Ngược lại,

cơ cấu dân số trẻ làm nảy sinh hàng loạt các vấn đề xã hội khó giải quyết và gây ảnh hưởng nghiêm trọng hơn cơ cấu dân số già Tình trạng thiếu việc làm, dư thừa lao động, thu nhập thấp và bấp bênh, các điều kiện về chăm sóc sức khỏe, giáo dục đối với

trẻ em bị hạn chế, môi trường sống và không gian sống của con người bị thu hẹp, thiếu

an toàn, các tệ nạn xã hội xuất hiện ngày càng nhiều và diễn biến phức tạp,… Do đó,

chất lượng cuộc sống dân cư khó đạt được mức trung bình và việc nâng cao chất lượng

cuộc sống người dân là điều vô cùng khó khăn

- Phân bố dân cư: Sự phân bố dân cư không đồng đều gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển kinh tế nói chung và việc nâng cao chất lượng cuộc sống dân

cư nói riêng của hầu hết các quốc gia trên thế giới Chất lượng cuộc sống ở những khu

vực tập trung dân cư sinh sống đông đúc thường cao hơn so với những nơi dân cư thưa

thớt Bởi đó là nơi hội tụ tất cả các điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế, xã hội như: nguồn vốn đầu tư phát triển kinh tế lớn, các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe, giáo

dục, vui chơi giải trí đầy đủ, đa dạng và phong phú Ngược lại, những nơi thưa dân là

Trang 34

nơi có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, hẻo lánh, các dịch vụ y tế, giáo dục và các hoạt động vui chơi nhằm đảm bảo cho một cuộc sống có chất lượng hầu như không phát triển

* Dân t ộc: Đây là một trong những thành phần quan trọng tạo nên nền văn hóa độc

đáo của mỗi quốc gia trên thế giới Số lượng dân tộc, tập quán sản xuất, phát triển kinh

tế, các tập tục văn hóa,… của mỗi dân tộc có tác động đến quá trình nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư của quốc gia nói chung và địa phương nói riêng Phần lớn các dân tộc thiểu số thường có trình độ nhận thức và phát triển kinh tế thấp hơn các dân

tộc đa số Bên cạnh những văn hóa có giá trị cho xã hội, đồng bào các dân tộc thiểu số

vẫn tồn tại nhiều hủ tục lạc hậu có ảnh hưởng lớn đến việc nâng cao chất lượng cuộc

sống của người dân địa phương Họ thường sống trên những vùng đất cao, khó khăn trong việc đi lại, xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng và tuyên truyền các thông tin xã hội,

sức khỏe,… Vì vậy, trong cùng một địa phương, sự chênh lệch về chất lượng cuộc

sống dân cư giữa dân tộc đa số và dân tộc thiểu số rất lớn

* Trình độ phát triển kinh tế - xã hội: Đây là nhân tố tác động trực tiếp đến chất

lượng cuộc sống dân cư Trình độ phát triển kinh tế - xã hội phản ánh tình hình hoạt động sản xuất tạo ra của cải vật chất của con người và mức thu nhập của người dân ở

mỗi địa phương Trình độ phát triển kinh tế - xã hội càng cao, thu nhập ổn định thì con người có điều kiện tiếp xúc với nhiều loại hình dịch vụ y tế, giáo dục, các phúc lợi xã

hội và hoạt động vui chơi giải trí Từ đó, chất lượng cuộc sống của con người ngày càng cao Ngược lại, trình độ phát triển kinh tế - xã hội càng thấp dẫn đến thu nhập của người dân bấp bênh, việc tiếp xúc với các dịch vụ y tế, giáo dục, cơ hội sử dụng điện

và nước sạch trong sinh hoạt kéo theo chất lượng cuộc sống con người không được đảm bảo Thực tế cho thấy, những vùng đô thị thường có trình độ phát triển kinh tế -

xã hội cao hơn vùng nông thôn Vì vậy, chất lượng cuộc sống dân cư giữa hai vùng có

sự chênh lệch khá lớn Sự chênh lệch này thể hiện qua các chỉ số về thu nhập, giáo

dục, y tế, các dịch vụ mang giá trị tinh thần khác,…

* Ti ến bộ khoa học kĩ thuật và công nghệ: Được xem là một trong những nhân tố có

tác động gián tiếp đến việc nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư Bởi sự tiến bộ khoa

học kĩ thuật và công nghệ có tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh tế và quy mô của

Trang 35

nền kinh tế, phản ánh trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi địa phương Tiến bộ khoa học kĩ thuật và công nghệ góp phần sử dụng hợp lí nguồn tài nguyên thiên nhiên

và thúc đẩy quá trình sản xuất đạt hiệu quả cao hơn Đặc biệt, tiến bộ khoa học kĩ thuật

và công nghệ góp phần nâng cao khả năng chăm sóc sức khỏe của con người bằng cách tìm ra các thiết bị máy móc, thuốc men ngăn ngừa các dịch bệnh có nguy cơ lây lan nhanh, chữa được các căn bệnh hiểm nghèo, giảm tỉ lệ tử vong của con người,… Ngoài ra, tiến bộ khoa học kĩ thuật và công nghệ còn phát minh ra các sản phẩm thông minh góp phần làm cho cuộc sống con người ngày càng hiện đại và tiện lợi hơn

* Đường lối chính sách của nhà nước: Đây là một yếu tố quan trọng đối với các vấn

đề có ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống dân cư Các chính sách, đường lối đúng đắn, các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội được vạch ra theo từng thời kì, từng giai đoạn phát triển sao cho phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương cũng như cả nước Các chính sách thúc đẩy sự phát triển kinh tế (đầu tư vốn, hỗ trợ vốn, định hướng phát triển các ngành trọng điểm,…) góp phần đảm bảo sự ổn định về thu

nhập cho người dân thông qua khả năng giải quyết việc làm cho người lao động, giảm

tỉ lệ hộ nghèo của địa phương Bên cạnh đó, các chính sách về xã hội như đầu tư xây

dựng trường học, khuyến khích trẻ em đến trường, hỗ trợ các dịch vụ chăm sóc sức

khỏe cho người dân vùng sâu vùng xa,… góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân Các chính sách xây dựng cơ sở hạ tầng - kĩ thuật, chính sách mở cửa hội

nhập, mở rộng thị trường cũng góp phần tạo điều kiện cho người dân tiếp xúc với nền

sản xuất kinh tế hiện đại và đạt hiệu quả cao hơn

1.2 Th ực tiễn về chất lượng cuộc sống dân cư Việt Nam và Đông Nam Bộ

1.2.1 Khái quát v ề chất lượng cuộc sống dân cư Việt Nam

Sau 40 năm thống nhất đất nước và 30 năm đổi mới nền kinh tế, Việt Nam đã

có những bước tiến vượt bậc trong công cuộc nâng cao chất lượng cuộc sống của con người Việt Nam Theo báo cáo của Chương trình Phát triển của Liên Hợp Quốc (UNDP) về chỉ số phát triển con người Việt Nam, năm 2013, chỉ số HDI của Việt Nam

là 0,638 – nằm ở mức trung bình của thế giới, đứng 121/187 quốc gia Trong thời gian qua, Việt Nam đã có những cải thiện đáng kể về mọi mặt trong cuộc sống của người dân

Trang 36

1.2.1.1 V ề kinh tế

* GDP và GDP bình quân đầu người

Theo Tổng cục Thống kê trung ương, GDP và GDP/người tính theo giá thực tế

có sự tăng nhanh qua các năm trong giai đoạn 2000 – 2013

B ảng 1.2 GDP và GDP bình quân đầu người ở Việt Nam giai đoạn 1999 - 2013 tính theo giá th ực tế

GDP (nghìn tỉ đồng) 400,0 914,0 1.809,1 3.584,3 GDP/người (triệu đồng) 5,2 11,1 21,0 40,0

Ngu ồn: Tổng cục thống kê, Niên giám thống kê năm 2013

Bảng số liệu 1.2 cho thấy, GDP của Việt Nam tăng nhanh và liên tục qua các năm trong giai đoạn 1999 - 2013 Năm 1999, quy mô GDP cả nước đạt 400,0 nghìn tỉ đồng và đến năm 2013, con số này đạt 3.584,3 nghìn tỉ đồng, gấp 9,0 lần so với năm

1999 Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng GDP năm 2013 chỉ đạt 5,4%, thấp hơn so với các năm về trước (6,2% năm 2008, 6,8% năm 2010) Nguyên nhân là do chịu ảnh hưởng

của cuộc khủng hoảng và suy thoái nên nền kinh tế thế giới còn nhiều bất ổn và biến động phức tạp Trong thời gian này, Việt Nam đã tập trung thực hiện mục tiêu kiềm

chế lạm phát, ổn định kinh tế chung Vì vậy, với mức tăng trưởng GDP trong năm

2013 như trên được xem là hợp lí với tình hình kinh tế chung của thế giới

GDP bình quân đầu người cả nước cũng có xu hướng tăng nhanh và liên tục Năm 1999, GDP bình quân đầu người đạt 5,2 triệu đồng Đến năm 2013, con số này đạt mốc 40,0 triệu đồng, tăng 7,7 lần so với năm 1999 GDP bình quân đầu người tăng nhanh đang là động lực giúp các nhà lãnh đạo ngày càng thúc đẩy công tác nâng cao

chất lượng cuộc sống của người dân Mặc dù GDP bình quân đầu người tăng nhanh liên tục, nhưng con số này vẫn còn thấp so với các nước trong khu vực và đặc biệt, khoảng cách giữa các nước đang có sự thu hẹp một cách nhanh chóng Tính đến năm

2013, GDP bình quân đầu người của Việt Nam xếp thứ 7 tại Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á, chỉ cao hơn ba nước Campuchia, Lào, Myanmar và các nước này có xu hướng rút ngắn khoảng cách so với Việt Nam một cách nhanh chóng

Trang 37

Sự khác nhau về các điều kiện thuận lợi cũng như trình độ phát triển kinh tế

giữa các vùng dẫn đến mức GDP và GDP bình quân đầu người cũng có sự phân hóa

với mức độ chênh lệch khá lớn Điều này cũng phản ánh sự chênh lệch về chất lượng

cuộc sống của người dân ở mỗi vùng miền trong cả nước

B ảng 1.3 GDP bình quân đầu người phân theo các vùng của cả nước giai đoạn

Đồng bằng sông Cửu Long 4,4 8,4 21,3

Ngu ồn: Tập bài giảng chuyên đề Những vấn đề dân số dành cho cao học – PGS.TS Nguy ễn Minh Tuệ - 2012

Bảng số liệu 1.3 cho thấy, GDP bình quân đầu người tăng nhanh và liên tục qua các năm trong giai đoạn 2000 - 2010 Tất cả các vùng trong nước có xu hướng tăng

mạnh GDP bình quân đầu người, đặc biệt là Đông Nam Bộ Chỉ trong vòng 5 năm, GDP bình quân đầu người của Đông Nam Bộ tăng thêm 24 triệu đồng/người, đạt mức 50,8 triệu đồng/người (năm 2010), gấp gần 2 lần so với năm 2005 Đây cũng là vùng

có GDP/người cao nhất cả nước, gấp hơn 2,2 lần so với cả nước năm 2010 Điều này được lí giải dễ dàng bởi Đông Nam Bộ là vùng quy tụ đầy đủ các điều kiện thuận lợi

nhất cả về tự nhiên cũng như kinh tế - xã hội để phát triển kinh tế nhất cả nước Hầu

hết các vùng còn lại đều có GDP/người thấp hơn so với mức trung bình của cả nước Đặc biệt là vùng Tây Bắc, Đông Bắc và vùng Tây Nguyên có GDP/người ở mức rất

thấp của cả nước Đây thường là những vùng núi cao, chủ yếu tập trung các dân tộc ít

Trang 38

người sinh sống, các điều kiện tự nhiên cũng như kinh tế - xã hội còn gặp nhiều khó khăn chưa được giải quyết

* Thu nh ập bình quân đầu người của hộ gia đình

Nhờ công cuộc đổi mới đất nước và phát triển kinh tế theo xu hướng hội nhập,

mở cửa mà thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam không ngừng tăng lên qua các năm Năm 2013, thu nhập bình quân đầu người đạt 1.960 USD/người, tăng gấp 7,8 lần

so với năm 2000 là 251 USD/người

Tuy nhiên, thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam có sự phân hóa giữa thành thị - nông thôn và giữa các vùng miền trong cả nước

B ảng 1.4 Thu nhập bình quân đầu người/tháng của cả nước, thành thị và nông thôn giai đoạn 1999 - 2012 (nghìn đồng)

Cả nước 295 356,1 484,4 636,5 995,2 1.387,1 1.999,8 Thành thị 517 622,1 815,4 1.058,4 1.605,2 2.129,5 2.989,1 Nông thôn 225 275,1 378,1 505,7 762,2 1.070,4 1.579,4

Ngu ồn: Niên giám thống kê 2009, Kết quả khảo sát Mức sống dân cư năm 2010

Có thể thấy, thu nhập bình quân đầu người theo tháng của Việt Nam tăng liên

tục qua các năm trong giai đoạn 1999 - 2012 Năm 2012, thu nhập bình quân đầu người đạt 1.999,8 nghìn đồng/người/tháng, tăng gấp 6,8 lần so với năm 1999 Khu vực thành thị luôn có mức thu nhập bình quân đầu người cao gần gấp đôi mức trung bình

của cả nước Mặt khác, khu vực nông thôn luôn luôn ở mức thấp hơn mức thu nhập bình quân đầu người của cả nước Tuy nhiên, trong những năm gần đây, khoảng cách chênh lệch mức thu nhập giữa 2 khu vực có xu hướng giảm dần Cụ thể, năm 1999,

mức thu nhập bình quân của thành thị gấp 2,3 lần nông thôn Đến năm 2012, con số này chỉ còn lại 1,9 lần Đó là kết quả của quá trình nỗ lực thực hiện tốt các chính sách

ưu tiên đầu tư phát triển nông thôn, đô thị hóa nông thôn mà Việt Nam thực hiện trong

thời gian qua

Do sự phân hóa GDP và GDP giữa các vùng miền trong nước đã kéo theo sự chênh lệch thu nhập bình quân đầu người giữa các vùng kinh tế - xã hội của Việt Nam

Trang 39

B ảng 1.5 Thu nhập bình quân đầu người phân theo vùng kinh tế giai đoạn 1999

-2012 (nghìn đồng)

Cả nước 295,0 356,0 484,0 636,0 995,0 1387,1 1.999,8 Đồng bằng sông Hồng 223,3 353,1 488,2 653,3 1048,5 1567,8 2.337,1 Đông Bắc

173,8 268,8 379,9 511,2 768,0 1054,8 1.482,1 Tây Bắc 197,0 265,7 372,5 549,6 740,9 998,8

Bắc Trung Bộ 174,1 235,4 317,1 481,3 641,1 902,8 1.344,8 Duyên hải Nam Trung

Bộ 194,7 305,8 414,9 550,7 843,3 1162,1 1.698,4 Tây Nguyên 265,6 244,0 390,2 522,4 794,6 1087,9 1.643,3 Đông Nam Bộ 378,1 619,7 833,0 1.064,7 1.649,2 2.165,0 3.016,4 ĐBSCL 242,3 371,3 471,1 627,6 939,9 1247,2 1.796,7

Ngu ồn: Điều tra đời sống – kinh tế hộ gia đình 1999, Kết quả Khảo sát mức sống dân

cư 2012

Nhìn chung, mức thu nhập bình quân đầu người theo tháng của các vùng trong nước tăng dần qua các năm trong giai đoạn 1999 - 2012 Trong đó, Đông Nam Bộ là vùng có mức tăng cao nhất và luôn cao hơn mức trung bình của cả nước Ngoài ra, Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long cũng là 2 vùng có thu nhập bình quân đầu người cao của cả nước Các vùng còn lại hầu hết đều có mức thu nhập thấp

và thường thấp hơn trung bình của cả nước, đặc biệt là vùng Tây Bắc, Đông Bắc và

Bắc Trung Bộ

* T ỉ lệ hộ nghèo

Việt Nam là một trong những quốc gia đạt được những thành quả nổi bật trong công tác xóa đói giảm nghèo Theo báo cáo của Ủy ban thường vụ Quốc hội với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về kết quả thực hiện các chỉ tiêu về giảm nghèo,

Việt Nam đã đạt được những kết quả tích cực theo từng giai đoạn, cụ thể:

- Giai đoạn 2005 - 2010 (áp dụng chuẩn nghèo cũ): Tỉ lệ hộ nghèo của cả nước

đã giảm từ 22% (năm 2005) xuống còn 18,1% (năm 2006), 14,75% (năm 2007), 12,1% (năm 2008), 11,3% (năm 2009) và đến năm 2010, con số này chỉ còn 9,45%

Trang 40

- Giai đoạn 2011 - 2013 (áp dụng chuẩn nghèo mới): Tỉ lệ hộ nghèo của cả nước đã giảm từ 11,76% (năm 2011) và chỉ còn 9,6% (năm 2012) Năm 2013, con số này chỉ còn ở mức 7,8% với 1.797.889 hộ nghèo, giảm 1,8% so với năm 2012 Đây là

kết quả của việc thực hiện tốt các chính sách giảm nghèo trong Chương trình mục tiêu

quốc gia về giảm nghèo bền vững của nhà nước trong từng giai đoạn

B ảng 1.6 Tỉ lệ hộ nghèo phân theo vùng theo chuẩn nghèo mới của Chính phủ giai đoạn 2002 - 2013 (%)

Đồng bằng sông Hồng 22,4 8,8 8,3 4,9 3,6 Đông Bắc 38,4 25,0

29,4

17,4 14,8 Tây Bắc 68,0 49,0 28,6 25,9

Bắc Trung Bộ 43,9 29,1

20,4 15,0 12,2 Duyên hải Nam Trung Bộ 25,2 12,6 12,2 10,2 Tây Nguyên 51,8 28,6 22,2 15,0 12,6 Đông Nam Bộ 10,6 5,8 2,3 1,3 1,0 Đồng bằng sông Cửu Long 23,4 10,3 12,6 9,2 7,4

Ngu ồn: Báo cáo Giảm nghèo ở Việt Nam: Thành tựu và thách thức – Viện khoa học

Xã h ội Việt Nam

Bảng số liệu 1.6 cho thấy, tỉ lệ hộ nghèo chung của cả nước và ở mỗi vùng liên

tục giảm mạnh trong giai đoạn 2002 - 2013 Tỉ lệ hộ nghèo cũng có sự phân hóa sâu

sắc giữa các vùng trong nước Hầu hết các vùng trong nước đều có tỉ lệ hộ nghèo cao hơn mức trung bình của cả nước, trừ vùng Đông Nam Bộ (1,0%), Đồng bằng sông

Hồng (3,6%) và vùng Đồng bằng sông Cửu Long (7,4%) Vùng có tỉ lệ hộ nghèo cao

nhất trong giai đoạn này luôn thuộc về vùng Tây Bắc (25,9%), tiếp đến là vùng Đông

Bắc (14,8%) và Tây Nguyên (12,6%) Tuy nhiên, do thực hiện tốt chính sách xóa đói

giảm nghèo của cả nước, các vùng này đã có những chuyển biến tích cực trong việc

giảm dần cách biệt so với các vùng có tỉ lệ hộ nghèo thấp, đặc biệt là vùng Tây Bắc Nhìn chung, Đông Nam Bộ là vùng có tỉ lệ hộ nghèo thấp nhất cả nước trong giai đoạn

Ngày đăng: 01/01/2021, 18:40