Xuất phát từ mục đích khoa học là nhằm nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng, thực trạng của chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Ninh Bình từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cu
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
SƠN LA, NĂM 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
NGUYỄN THỊ MẾN
PHÂN TÍCH CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG
DÂN CƯ TỈNH NINH BÌNH
Chuyên ngành: Địa lí Kinh tế - Xã hội
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Giảng viên hướng dẫn: ThS Tòng Thị Quỳnh Hương
SƠN LA, NĂM 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình, ngoài sự nỗ lực của bản
thân em đã nhận được sự giúp đỡ, chỉ đạo tận tình của cô giáo - Thạc sỹ Tòng
Thị Quỳnh Hương Em còn nhận được sự giúp đỡ chu đáo, nhiệt tình của Ban Giám hiệu, phòng Quản lí khoa học, thư viện trường Đại học Tây Bắc, các thầy
cô trong khoa Sử - Địa, cùng các phòng ban chức năng khác của trường Đại học Tây Bắc Trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu thực tế em nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các đồng chí trong Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh, Sở y tế, Sở giáo dục, Cục thống kê tỉnh Ninh Bình
Đặc biệt để hoàn thành khóa luận này, em đã nhận được sự giúp đỡ động viên của gia đình và bạn bè
Từ lòng biết ơn sâu sắc của bản thân cho phép em gửi tới các thầy cô giáo, gia đình, bạn bè và những người đã giúp đỡ em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này lời cảm ơn chân thành nhất
Em xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Thị Mến
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
TCCN : Trung cấp chuyên nghiệp
Trang 5DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 1.1: Các giá trị biên của các thành phần 8
Bảng 1.2: Chuẩn nghèo Việt Nam thời kì 2001 - 2005 và thời kì 2006 - 2010 11
Bảng 2.1: Diện tích và sự phân chia hành chính tỉnh Ninh Bình(31/12/2012) 21
Bảng 2.2: Dân số trung bình phân theo khu vực và giới tính của tỉnh Ninh Bình thời kì 2000 - 2012 26
Bảng 2.3: Tỷ suất sinh, tử và gia tăng tự nhiên của tỉnh Ninh Bình thời kì 1995 - 2012 27
Bảng 2.4: Kết cấu dân tộc tỉnh Ninh Bình năm 2012 28
Bảng 2.5: Mật độ dân cư phân theo huyện, thị tỉnh Ninh Bình năm 2012 29
Bảng 2.6: GDP và cơ cấu tổng sản phẩm của tỉnh Ninh Bình theo thời kì 2009 -2012 (tính theo giá trị thực tế) 30
Bảng 3.1: Thu nhập bình quân đầu người theo huyện, thị tỉnh Ninh Bình (theo giá trị thực tế) 37
Bảng 3.2: Tỉ lệ nghèo chung của tỉnh Ninh Bình qua các năm 38
Bảng 3.3: Sản lượng lương thực có hạt, lương thực bình quân đầu người của tỉnh Ninh Bình 40
Bảng 3.4: Giá trị sản xuất nông nghiệp tỉnh Ninh Bình (giá thực tế) 40
Bảng 3.5 : Lương thực bình quân đầu người chia theo huyện, thị tỉnh Ninh Bình năm 2012 41
Bảng 3.6: Cơ sở khám, chữa bệnh của Ninh Bình 43
Bảng 3.7: Cơ cấu trình độ cán bộ y tế tỉnh Ninh Bình 43
Bảng 3.8 : Ngân sách tỉnh Ninh Bình chi cho y tế giai đoạn 2005 - 2012 44
Bảng 3.9: Chỉ số năm đi học trung bình và số năm đi học kỳ vọng 46
và phân theo huyện, thị tỉnh Ninh Bình năm 2012 46
Bảng 3.10: Số trường, số lớp, số giáo viên và số học sinh mẫu giáo 47
tỉnh Ninh Bình qua các năm 47
Bảng 3.11: Số học sinh, số giáo viên và số học sinh các cấp tỉnh Ninh Bình qua các năm 48
Trang 6Bảng 3.12: Giáo dục phổ thông phân theo huyện, thị năm học 2012 - 2013 49
Bảng 3.13: Số sinh viên tốt nghiệp qua các năm 50
Bảng 3.14: Tỷ lệ ngân sách địa phương chi cho Giáo dục và Đào tạo 50
Bảng 3.15: Tỉ lệ hộ sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh 51
Bảng 3.16: Các chỉ số phát triển con người phân theo huyện, thị của tỉnh Ninh Bình năm 2012 52
Trang 7DANH MỤC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ
Hình 1.1: Sơ đồ cấu trúc của HDI 10 Biểu đồ 3.1: Tổng sản phẩm GDP của tỉnh Ninh Bình (theo giá so sánh)…… 36 Biểu đồ 3.2: Tuổi thọ trung bình dân cư phân theo huyện, thị tỉnh Ninh bình năm 2012……….45
Biểu đồ 3.3: Chỉ số HDI phân theo huyện, thị tỉnh Ninh Bình năm 2012…… 53
Trang 8MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích, nhiệm vụ và giới hạn của đề tài 2
2.1 Mục đích 2
2.2 Nhiệm vụ 2
2.3 Giới hạn 2
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
4 Các quan điểm và phương pháp nghiên cứu 4
4.1 Các quan điểm nghiên cứu 4
4.2 Phương pháp nghiên cứu 5
5 Những đóng góp của đề tài 6
6 Cấu trúc của đề tài 6
PHẦN NỘI DUNG 7
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG DÂN CƯ 7
1.1 Cơ sở lý luận 7
1.1.1 Khái niệm 7
1.1.2 Các tiêu chí phản ánh chất lượng cuộc sống 8
1.1.2.1 Chỉ số phát con người (HDI) 8
1.1.2.2 Các tiêu chí phản ánh chất lượng cuộc sống dân cư trong nghiên cứu đề tài 10
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống dân cư 16
1.2 Cơ sở thực tiễn về chất lượng cuộc sống 16
CHƯƠNG 2: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG DÂN CƯ TỈNH NINH BÌNH 20
2.1 Vị trí – lãnh thổ 20
2.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 21
2.2.1 Địa hình 21
Trang 92.2.2 Khí hậu 22
2.2.3 Thủy văn 23
2.2.4 Đất đai 24
2.2.5 Tài nguyên sinh vật 24
2.2.6 Tài nguyên khoáng sản 24
2.3 Các nhân tố dân cư, kinh tế - xã hội 25
2.3.1 Số dân 25
2.3.2 Sự gia tăng dân số 26
2.3.3 Kết cấu dân số 27
2.3.4 Sự phân bố dân cư 28
2.4 Kinh tế 29
2.4.1 Khái quát chung 29
2.4.2 Hiện trạng kinh tế tỉnh Ninh Bình 30
2.4.3 Những nhân tố khác 33
2.4.3.1 Đường lối, chính sách 33
2.4.3.2 Cơ sở hạ tầng 33
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG DÂN CƯ TỈNH NINH BÌNH 35
3.1 Thực trạng chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Ninh Bình……… 35
3.1.1 Thực trạng các mặt cụ thể của chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Ninh Bình 35 3.1.1.1 Tổng thu nhập và thu nhập bình quân của tỉnh Ninh Bình 35
3.1.1.2 Lương thực và dinh dưỡng 39
3.1.1.3 Công tác chăm sóc sức khỏe, y tế 42
3.1.1.4 Giáo dục và đào tạo 45
3.1.1.5 Tình hình cung ứng, sử dụng điện nướ và các vấn đề xã hội khác 51
3.1.2 Đánh giá thực trạng chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Ninh Bình 52
3.1.3 Những hạn chế trong chất lượng cuộc sống dân cư 54
3.2 Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Ninh Bình 55
3.2.1 Những căn cứ xây dựng giải pháp 55
Trang 103.2.2 Những mục tiêu phát triển kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống dân
cư tỉnh Ninh Bình 55 3.2.2.1 Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2012- 2020 55 3.2.2.2 Những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống người dân tỉnh Ninh Bình 56
PHẦN KẾT LUẬN 64 TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Con người là vốn quý nhất, là mục tiêu phải hướng tới của mọi hoạt động kinh tế - xã hội của tất cả các quốc trên thế giới Sự phát triển con người đang trở thành tiêu chí ngày càng quan trọng trong việc xếp hạng các nước trên thế giới Các chỉ tiêu cơ bản phản ánh sự phát triển con người do cơ quan báo cáo phát triển con người của chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) đưa ra đều nhằm vào chất lượng cuộc sống dân cư Việc cải thiện nâng cao chất lượng cuộc sống con người đang trở thành mục tiêu quan trọng hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mọi quốc gia
Trên hành tinh của chúng ta, sự phát triển con người ở các quốc gia rất khác nhau và có sự phân hóa rõ rệt theo từng nhóm nước Trong khi một số nước phát triển phải lo đối phó với một số bệnh do thừa dinh dưỡng thì 1/3 nhân loại đang
phải sống rất nghèo khổ
Nhiệm vụ của chúng ta là làm sao rút ngắn được khoảng cách giàu,nghèo, tạo sự công bằng xã hội Biện pháp hữu hiệu nhất chính là nâng cao chất lượng cuộc sống cho mỗi người dân.Vậy chất lượng cược sống dân cư là gì? Đánh giá chất lượng cuộc sống theo những tiêu chí nào? Cần phải làm gì để nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư? Đó là vấn đề cấp bách hiện nay đòi hỏi phải giải quyết tất cả về mặt lí luận và thực tiễn cho mỗi quốc gia Vì tính cấp thiết của nó mà nhiều nhà khoa học của thế giới cũng như của Việt Nam đang quan tâm nghiên cứu vấn đề này
Ninh Bình là một tỉnh nhỏ thuộc đồng bằng sông Hồng, là nơi sinh sống của 914234 người dân với nhiều dân tộc anh em Trong những năm qua, Đảng
và Nhà nước, các cấp lãnh đạo tỉnh đã rất chú trọng đến việc nâng cao chất lượng cuộc sống cho mỗi người dân Nhưng do xuất phát điểm kinh tế của tỉnh thấp, phát triển chậm lại gặp nhiều khó khăn nên nhu cầu mọi mặt của nhân dân chưa được đảm bảo Đặc biệt là ở xã, thôn, bản vùng sâu vùng xa cuộc sống của dân cư rất nghèo nàn lạc hậu
Trang 12Xuất phát từ mục đích khoa học là nhằm nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng, thực trạng của chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Ninh Bình từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nơi đây nên
tôi chọn đề tài “Phân tích chất lƣợng cuộc sống dân cƣ tỉnh Ninh Bình” làm
khóa luận tốt nghiệp
2 Mục đích, nhiệm vụ và giới hạn của đề tài
2.1 Mục đích
Trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề lí luận và thực tiễn về dân số và chất lượng cuộc sống, đề tài tập trung vào việc phân tích thực trạng chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Ninh Bình, giải thích nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Ninh Bình
2.2 Nhiệm vụ
Để thực hiện các mục tiêu đề ra, đề tài có các nhiệm vụ sau:
- Đúc kết cơ sở lí luận và thực tiễn về chất lượng cuộc sống dân cư
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh
Ninh Bình
- Đánh giá thực trạng chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Ninh Bình
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư
tỉnh Ninh Bình
2.3 Giới hạn
- Về nội dung: Đề tài tập trung vào việc nghiên cứu các chỉ tiêu cơ bản đánh giá chất lượng cuộc sống dân cư như: Tổng thu nhập và thu nhập bình quân đầu người, lương thực và dinh dưỡng, y tế và chăm sóc sức khỏe, giáo dục
- đào tạo, tình hình sử dụng điện, nước sạch… Đồng thời vận dụng các chỉ tiêu trên vào nghiên cứu chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Ninh Bình
- Về thời gian: Đề tài nghiên cứu chất lượng cuộc sống dân cư của rỉnh Ninh Bình từ năm 2000 - 2012
- Về không gian: Đề tài nghiên cứu về chất lượng cuộc sống dân cư trong phạm vi tỉnh Ninh Bình, gồm 6 huyện, 1 thành phố và 1 thị xã
Trang 133 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong những năm gần đây, vấn đề chất lượng cuộc sống đã được các nhà khoa học trong và ngoài nước đặc biệt quan tâm nghiên cứu
- Trên thế giới: đã có nhiều nhà khoa học và các tổ chức nghiên cứu về chất
lượng cuộc sống Vào cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 của thế kỉ XX, nhà dân
số học người Ấn Độ (R.C Sharma) đề cập đến chất lượng cuộc sống trong tác
phẩm “Dân số, tài nguyên, môi trường và chất lượng cuộc sống” (Population,
resources, environment and quality of life), ông nghiên cứu mối tương tác giữa chất lượng cuộc sống dân cư với quá trình phát triển dân cư, phát triển kinh tế -
xã hội của mỗi quốc gia Theo ông năm 1990, UNDP đã đưa ra hệ thống các chỉ tiêu đánh giá về phát triển con người - HDI (Human Development Index) Hệ thống các chỉ tiêu này đã phản ánh cách tiếp cận mới, có tính hệ thống về phát triển con người, coi phát triển con người là sự mở rộng phạm vi lựa chọn của con người để đạt đến một cuộc sống trường thọ, khỏe mạnh, có ý nghĩa và xứng đáng với con người
- Ở Việt Nam: Đã có nhiều công trình nghiên cứu đến vấn đề này, có thể kể
đến các cuộc tổng điều tra về mức sống dân cư năm 1992-1993; 1997-1998; 2001-2004; 2007-2008… do Tổng cục thống kê, Bộ kế hoạch và đầu tư, Ngân hàng thế giới cùng với sự trợ giúp về tài chính của UNDP tiến hành khảo sát Mỗi cuộc tổng điều tra đều cho thấy rõ sự thay đổi mức sống dân cư Việt Nam theo thời gian và tiến bộ vượt bậc của nước ta trong việc giảm nghèo, nâng cao mức sống cho nhân dân Tuy nhiên những cuộc điều tra chỉ dừng lại ở việc khảo sát mức sống dân cư Việt Nam bằng những số liệu cụ thể mà chưa đi sâu phân tích đánh giá cụ thể chất lượng cuộc sống của một địa phương nào đó trên cả nước
Ngoài ra phải nói tới các công trình liên quan đến chất lượng cuộc sống được công bố như:
Tác giả Đỗ Thiên Kính với: “Phân hóa giàu nghèo và tác động của yếu tố
học vấn đến nâng cao mức sống cho người dân Việt Nam” (2003) Tác giả đã
đánh giá thực trạng về sự phân hóa giàu nghèo ở Việt Nam, cụ thể là giai đoạn
Trang 141993-1998 và tìm hiểu tác động của yếu tố học vấn đến mức sống của người dân Việt Nam
PGS.TS Đặng Quốc Bảo, TS Trương Thị Thúy Hằng với 2 công trình:
“Chỉ số phát triển kinh tế trong HDI, cách tiếp cận và một số kết quả nghiên
cứu” và “Chỉ số tuổi thọ trong HDI, một số vấn đề thực tiễn Việt Nam” (2005)
Hai tác giả tập trung nghiên cứu về chỉ số phát triển kinh tế và yếu tố tuổi thọ trong HDI, đưa ra những kinh nghiệm thực tiễn để tính toán đo đạc các chỉ số trên của một số địa phương trong nước và một số nước trên thế giới
Trong cuốn giáo trình “Dân số và phát triển” (2004), tác giả Tống Văn
Đường đã luận giải sự tồn tại mối quan hệ hai chiều giữa dân số và phát triển thông qua các chỉ số HDI và các chỉ tiêu đánh giá chất lượng cuộc sống dân cư
Đặc biệt phải kể đến công trình nghiên cứu “Diễn biến mức sống dân cư và
phân hóa giàu nghèo tại TP.Hồ Chí Minh” do nhóm tác giả của Viện kinh tế TP.Hồ
Chí Minh, đã tiến hành đi sâu phân tích một cách rất cụ thể về việc làm, thu nhập và chi tiêu của dân cư TP.Hồ Chí Minh, từ đó minh chứng cho sự phân hóa giàu nghèo ngày càng rõ nét ở TP.Hồ Chí Minh Đây được xem là công trình có tính chuyên sâu đầu tiên về phân tích chất lượng cuộc sống dân cư một địa phương cụ thể
Như vậy, có thể thấy rằng mảng đề tài chất lượng cuộc sống dân cư trong những năm qua đã được quan tâm nghiên cứu dưới nhiều phạm vi góc độ khác nhau Song việc tiếp cận một cách trực tiếp, tổng thể về chất lượng cuộc sống dân cư ở cấp tỉnh vẫn còn rất hạn chế Tuy vậy, những tác phẩm trên vẫn là những tư liệu tham khảo hữu ích cho đề tài nghiên cứu về chất lượng cuộc sống dân cư ở tỉnh Ninh Bình
4 Các quan điểm và phương pháp nghiên cứu
4.1 Các quan điểm nghiên cứu
4.1.1 Quan điểm hệ thống
Ninh Bình là một trong 63 tỉnh, thành phố của Việt Nam và thuộc vùng đồng bằng Sông Hồng Vì vậy, trong quá trình nghiên cứu chất lượng cuộc sống dân cư dân cư, cần đặt Ninh Bình trong một hệ thống lớn hơn là đồng bằng Sông Hồng và trong phạm vi cả nước Bản thân chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh
Trang 15Ninh Bình cũng có thể coi là một hệ thống bao gồm nhiều phân hệ có mối quan
hệ qua lại với nhau, nó là một hệ thống kinh tế - xã hội của mỗi địa phương
Do đó, quan điểm hệ thống này cần phải được vận dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài này
4.1.2 Quan điểm tổng hợp lãnh thổ
Các yếu tố về tự nhiên, dân số, hoạt động sản xuất… của từng khu vực, từng quận, huyện có bản sắc riêng.Vì vậy, khi nghiên cứu chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Ninh Bình phải tìm hiểu trên quan điểm tổng hợp lãnh thổ, qua đó làm rõ nguyên nhân của sự khác biệt để phân tích và đánh giá thực trạng đời sống người dân tỉnh Ninh Bình đúng đắn hơn.Mặt khác, cũng cần phải thấy được khả năng phát triển kinh tế của từng huyện, thị mà đề xuất những giải pháp nhằm phát triển kinh tế - xã hội một cách có hiệu quả trong thời kì tới vì nó gắn với chất lượng cuộc sống dân cư
4.1.3 Quan điểm lịch sử - viễn cảnh
Nếu quan điểm tổng hợp lãnh thổ nói lên tính không gian thì quan điểm lịch sử nói lên tính thời gian Gắn với thời gian của đối tượng nghiên cứu,quan điểm này giúp chúng ta biết được sự biến đổi chất lượng cuộc sống dân cư Trên cơ sở đó thấy được những nguyên nhân và dự đoán được xu hướng biến đổi để mà có những điều chỉnh và tác động tích cực nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư
4.1.4 Quan điểm sinh thái
Các yếu tố tự nhiên, môi trường có tác động mạnh mẽ đến chất lượng cuộc sống Vì vậy, khi nghiên cứu cần xem xét môi trường là một bộ phận của chất lượng cuộc sống Chất lượng cuộc sống cao thì môi trường được cải thiện và ngược lại Tài nguyên môi trường phản ánh chất lượng cuộc sống dân cư giữa các vùng
4.2 Phương pháp nghiên cứu
4.2.1 Phương pháp thu thập tài liệu
Các tài liệu bao gồm sách, báo cáo, tạp chí viết về hoặc liên quan tới chất lượng cuộc sống dân cư Đặc biệt là các số liệu thống kê được từ các cơ quan của tỉnh và Trung ương
Trang 164.2.2 Phương pháp thống kê toán học
Trên cơ sở các số liệu đã thu thập được, sử dụng công thức tính toán các chỉ
số cần thiết cho việc phân tích, đánh giá các nội dung của đề tài
4.2.3 Phương pháp so sánh và phân tích tổng hợp
Để phân tích và tìm ra cốt lõi của vấn đề, so sánh các kết quả với nhau theo yêu cầu nội dung của đề tài, tổng hợp rút ra những kết luận chính xác nhất về thực trạng chất lượng cuộc sống dân cư
4.2.4 Phương pháp biểu đồ
Những kết quả có được nếu phản ánh lên biểu đồ thì sẽ được thể hiện rõ rang
và chi tiết hơn, thông qua đó sẽ dễ dàng so sánh, phân tích mối liên hệ giữa các yếu
tố cấu thành chất lượng cuộc sống giữa các địa phương trong tỉnh Ninh Bình
5 Những đóng góp của đề tài
Đề tài được hoàn thành sẽ có một số đóng góp sau:
- Đề tài tổng hợp được những kiến thức lí luận và thực tiễn về chất lượng
cuộc sống dân cư, giúp cho người đọc biết được cơ bản về khái niệm và các tiêu chí đánh giá chất lượng cuộc sống dân cư
- Đề tài đã có những phân tích khá đầy đủ về chất lượng cuộc sống dân cư,
đưa ra được một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân tỉnh Ninh Bình Qua đó đề tài sẽ là tư liệu tham khảo hữu ích giúp chúng ta
có thêm hiểu biết về cuộc sống của người dân tỉnh Ninh Bình
- Khóa luận còn là tài liệu tham khảo cho giáo viên khi giảng dạy và liên hệ
thực tế về tỉnh Ninh Bình ở trường phổ thông
6 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và các phần phụ, khóa luận gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng cuộc sống
Ninh Bình
dân cư tỉnh Ninh Bình
Trang 17PHẦN NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG
CUỘC SỐNG DÂN CƯ 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái niệm
Chất lượng cuộc sống (Quality of life) là một khái niệm rộng, đã từng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau và được đo bằng nhiều tiêu chí khác nhau Chất lượng cuộc sống thường được lưu ý phân biệt với mức sống Mức sống là thước
đo về phúc lợi vật chất còn chất lượng cuộc sống là thước đo cả về phúc lợi vật chất và giá trị tinh thần
Theo R.C.Sharma, chất lượng cuộc sống thể hiện những đòi hỏi thỏa mãn nhu cầu vật chất và tình cảm của cá nhân, tập thể hay cộng đồng xã hội cũng như khả năng đáp ứng một cách bền vững và ổn định các nhu cầu cuộc sống của bản thân xã hội
Chất lượng cuộc sống là khái niệm thuộc phạm trù kinh tế - xã hội, nó phản ánh mối quan hệ giữa tự nhiên, môi trường và sự phát triển kinh tế với đời sống con người Tuy vậy khái niệm chất lượng cuộc sống không phải là bất biến Nó thay đổi theo thời gian, phụ thuộc vào quan điểm và tình hình cụ thể của mỗi nước, tùy thuộc vào chế độ xã hội, đẳng cấp và tôn giáo… Bởi vì nhu cầu và khả năng đáp ứng những nhu cầu cuộc sống không giống nhau ở mỗi quốc gia,dân tộc tôn giáo… Ngay trong cùng một nước thì theo thời gian quan điểm về chất lượng cuộc sống cũng có thể là khác nhau
Theo nhóm chuyên gia Liên hợp quốc, khi nghiên cứu và đánh giá chất lượng cuộc sống con người thì ngoài thu nhập và chi tiêu, chất lượng cuộc sống
“còn phải kể đến tuổi thọ bình quân, giáo dục và sự tăng lên của tài nguyên” Theo đó, có thể hiểu chất lượng cuộc sống bao gồm lối sống, mức sống và nếp sống Trong đó mức sống là chỉ tiêu quan trọng hàng đầu mang tính định lượng
rõ rệt và là “tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ sinh hoạt có khả năng thỏa mãn nhu cầu vật chất văn hóa của người dân tại một thời điểm phát triển kinh tế - xã hội của đất nước”
Trang 18Như vậy, có thể hiểu chất lượng cuộc sống là sự phản ánh, sự đáp ứng những nhu cầu của xã hội, trước hết là nhu cầu về vật chất cơ bản tối thiểu của con người Mức đáp ứng đó càng cao thì chất lượng cuộc sống càng cao Bên cạnh đó, chất lượng cuộc sống còn được gắn liền với môi trường và sự an toàn của môi trường Một cuộc sống sung túc là một cuộc sống được đảm bảo bởi những nguồn lực cần thiết như cơ sở hạ tầng hiện đại, các điều kiện vật chất và tinh thần đầy đủ Đồng thời, con người phải được sống trong một môi trường tự nhiên trong lành, bền vững, không bị ô nhiễm; một môi trường xã hội lành mạnh
và bình đẳng, không bị ảnh hưởng bởi các vấn đề xã hội
1.1.2 Các tiêu chí phản ánh chất lượng cuộc sống
1.1.2.1 Chỉ số phát con người (HDI)
Con người là vốn quý nhất, là mục tiêu hướng tới của mọi hoạt động kinh
tế - xã hội của mỗi quốc gia và thế giới Việc lựa chọn các tiêu chí phản ánh sự phát triển con người có ý nghĩa rất quan trọng Từ những năm 1990, Chương trình phát triển của Liên hiệp quốc (UNDP) đưa ra chỉ số phát triển con người HDI phản ánh các thành tựu phát triển con người trong ba lĩnh vực cơ bản:
Sức khỏe: Được đo bằng tuổi thọ trung bình (năm)
Học vấn: Được đo bằng số năm đi học trung bình (năm) và số năm đi học
kỳ vọng (năm)
Mức sống kinh tế: Được đo bằng tổng thu nhập quốc gia (GNI) bình quân đầu người hoặc GDP bình quân đầu người được điều chỉnh theo phương pháp sức mua tương đương (PPP), tính bằng đô la Mĩ (USD)
Bảng 1.1: Các giá trị biên của các thành phần
Trang 19
- Chỉ số tuổi thọ: L(A) L(min)
+ Nhóm HDI thấp, có giá trị từ 0,000 đến 0,487
+ Nhóm HDI trung bình, có giá trị từ 0,488 đến 0,676
+ Nhóm HDI cao, có giá trị từ 0,677 đến 0,788
+ Nhóm HDI rất cao, có giá trị từ 0,788 đến 1,000
Trang 20Hình 1.1: Sơ đồ cấu trúc của HDI
Chỉ số HDI cho thấy quốc gia nào có thu nhập cao, có chính sách giáo dục
và chăm sóc sức khỏe dân cư thích đáng thì vị trí HDI sẽ cao Một số nước có mức thu nhập cao, nhưng không quan tâm đầy đủ tới việc nâng cao dân trí và chăm sóc sức khỏe dân cư thì vị trí HDI sẽ giảm đi Một số quốc gia khác, trong
đó có Việt Nam tuy mức thu nhập thấp nhưng do chính sách của Nhà nước quan tâm đến y tế, giáo dục nên giá trị HDI tăng
HDI là một thước đo tương đối tổng hợp, vượt ra khỏi khía cạnh thuần túy
về sự phát triển Tuy vậy, HDI còn là một chỉ số đơn giản, chưa bao quát hết sự phong phú, nhiều mặt của sự phát triển con người, nó chỉ mới phản ánh gián tiếp
và chưa đầy đủ, còn bỏ qua một số khía cạnh liên quan đến chất lượng cuộc sống con người như: chính trị, văn hóa, môi trường…
1.1.2.2 Các tiêu chí phản ánh chất lượng cuộc sống dân cư trong nghiên cứu đề tài
Theo Liên hợp quốc (UN), các chỉ tiêu đánh giá cuộc sống bao gồm thu nhập quốc dân bình quân, thành tựu y tế và trình độ văn hóa giáo dục Và kết quá nghiên cứu theo các chỉ tiêu đó sẽ là chỉ số phát triển nhân bản
Như vậy, chỉ tiêu đánh giá chất lượng cuộc sống không chỉ là thu nhập và chỉ tiêu bình quân trong gia đình, mà còn bao hàm cả phần phúc lợi xã hội như y
tế, giáo dục và những lợi ích công cộng khác Theo đây, nếu mức gia đình có thu
Trang 21nhập giống nhau thì gia đình nào được sử dụng hoặc hưởng các phúc lợi xã hội nhiều hơn thì có chất lượng cuộc sống cao hơn Trên phạm vi lớn hơn, có nước
có mức thu nhập cao nhưng lại có chất lượng cuộc sống không cao, ngược lại có những nước có thu nhập thấp nhưng chỉ số HDI lại cao hơn (Việt Nam là một ví
dụ điển hình)
* Chỉ số GDP
- GDP và GDP bình quân đầu người
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là tổng sản lượng hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng cuối cùng mà một nền kinh tế tạo ra bởi cả dân sự và phi dân sự, không phân biệt do người trong nước hay người nước ngoài tạo ra GDP không bao gồm phần khấu hao vốn vật chất hay sự suy giảm và xuống cấp của tài nguyên thiên nhiên
GDP bình quân đầu người được tính bằng USD/người, ở Việt Nam được tính bằng USD/người hoặc bằng Việt Nam đồng/người Thông qua tiêu chí này chúng ta có thể đánh giá được trình độ kinh tế, mức sống của mỗi người dân trong từng nước hoặc so sánh giữa các địa phương
Thu nhập bình quân đầu người là một tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá mức sống của dân cư cụ thể là để xác định tỉ lệ đói nghèo.Vì thế, sự chênh lệch
về thu nhập là nguyên nhân dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội Đói
và nghèo là những khái niệm có thể lượng hóa được
Ở Việt Nam, Bộ Lao Động thương binh xã hội đưa ra mức chuẩn nghèo như sau:
Bảng 1.2: Chuẩn nghèo Việt Nam thời kì 2001 - 2005 và thời kì 2006 - 2010
Trang 22Theo chuẩn 2006 - 2010, tỷ lệ hộ nghèo cả nước có xu hướng giảm năm
2004 tỷ lệ hộ nghèo là 18,1% đến năm 2006 giảm xuống còn 15,5%, năm 2008
là 13,4% và đến năm 2010 tỷ lệ này chỉ còn 10,7% Vùng Trung du miền núi phía Bắc có tỷ lệ nghèo cao nhất cả nước (22,5%) Tiếp đến là hai vùng Tây Nguyên và vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ nghèo tương ứng là 17,1% và 16% Đông Nam Bộ là vùng có tỷ lệ nghèo thấp nhất, chỉ 1,3%
Muốn đánh giá chất lượng cuộc sống cần căn cứ vào mức sống , muốn đánh giá mức sống cần căn cứ vào thu nhập và thu nhập bình quân, trên cơ sở đó người ta đưa ra chỉ tiêu đói nghèo Đói và nghèo được định lượng theo các chỉ
số nhất định Mức nghèo liên quan đến thu nhập được gọi là nghèo thu nhập - nghèo tuyệt đối Theo khái niệm thời đó là mức chỉ tiêu cần thiết để đảm bảo một người có thể mua đủ lượng lương thực thực phẩm quy đổi tương đương
2100 - 2300 Calo/người/ngày
Như vậy, mức tiêu thụ cùng khả năng cung cấp lương thực và dinh dưỡng cũng là một chỉ tiêu phản ánh chất lượng cuộc sống dân cư
* Giáo dục và đào tạo
Là một trong những chỉ tiêu quan trọng phản ánh chất lượng cuộc sống dân
cư Trình độ học vấn cao là điều kiện để con người phát triển toàn diện đức - trí
- thể - mĩ… Từ đó, dễ dàng đáp ứng được xu thế phát triển của đất nước, của thời đại
Thường người ta đánh giá sự phát triển của giáo dục qua tỉ lệ ngân sách chỉ cho giáo dục, trình độ học vấn của dân cư; số năm đến trường; cơ sở trường, lớp
và phương tiện dạy học; số lượng, chất lượng giáo viên, số học sinh trên vạn dân, tỉ lệ học sinh đến trường so với tổng trẻ em ở độ tuổi đến trường; số học sinh trung bình của một lớp học… Trên thế giới, tình hình giáo dục cũng rất khác nhau giữa các nhóm nước có thu nhập khác nhau
Chỉ số về giáo dục được dùng làm thước đo trình độ dân trí làm nên chất lượng cuộc sống của dân cư bao gồm các chỉ tiêu về tỷ lệ người lớn biết chữ, trình độ văn hóa và tay nghề, số năm đến trường, tỷ lệ người mù chữ…
Trang 23- Trình độ văn hóa và tay nghề
Trình độ văn hóa hay trình độ học vấn nói lên khả năng tích lũy kiến thức của khối dân cư và được thể hiện qua các chỉ tiêu như tỷ lệ người lớn biết chữ, số người tốt nghiệp các cấp học từ thấp đến cao Trình độ tay nghề là trình độ chuyên môn kỹ thuật của lực lượng lao động chính trong khối dân cư được thể hiện qua các chỉ tiêu như tỷ lệ lực lượng lao động có trình độ chuyên môn (sơ cấp, công nhân kỹ thuật, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng,
cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ) trong tổng số lao động đang hoạt động trong các ngành kinh tế của đất nước
Trình độ văn hóa và trình độ tay nghề luôn có mối quan hệ khăng khít với nhau đồng thời có liên quan nhiều đến chỉ số thu nhập của từng quốc gia Các nước có nền kinh tế phát triển thì các chỉ số phản ánh về trình độ văn hóa và trình độ tay nghề trong khối dân cư thường rất cao, ngược lại ở các nước chậm phát triển thì các chỉ số này thường rất thấp
Hiện nay, trình độ văn hóa và tay nghề của lực lượng lao động đang có sự chuyển biến theo hướng tích cực, chất lượng cuộc sống của dân cư ngày càng được cải thiện, tỷ lệ người biết chữ và tốt nghiệp các cấp học theo hướng tăng dần các cấp học ngày càng cao Về trình độ chuyên môn kỹ thuật, số lao động có tay nghề ngày càng tăng và họ đang là những lực lượng lao động mang lại chất lượng hiệu quả cao trong các ngành kinh tế Tuy nhiên, ở các nước có nền kinh
tế đang phát triển việc sử dụng lao động không có tay nghề trong các ngành kinh
tế vẫn còn chiếm tỉ lệ cao
Giáo dục - Đào tạo nước ta trong những năm qua đã đạt được thành tích hết sức to lớn, khẳng định được truyền thống trí tuệ con người Việt Nam, phản ánh được sự quan tâm sâu sắc và đầu tư lớn của nhân dân ta Tuy nhiên, nền giáo
Trang 24dục nước ta còn nhiều yếu kém, nội dung chương trình giáo dục, đồng thời cần hoàn thiện đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lí
* Sức khỏe, y tế
Sức khỏe là vốn quý của con người, là yếu tố quan trọng đảm bảo hạnh phúc cho mỗi người Sức khỏe kém có thể ảnh hưởng trực tiếp đến cá nhân các mặt: kết quả học tập, khả năng tìm việc và thu nhập, khả năng chăm sóc con cái
và tham gia các hoạt động của cộng đồng
Ở mỗi nước, dân cư có sức khỏe tốt sẽ đảm bảo nguồn cung ứng lao động
có thể lực tốt cho xã hội Đây là một đầu vào của tăng trưởng kinh tế
Sức khỏe là một khái niệm khó xác định Tổ chức y tế thế giới (WHO) cho rằng: Đó là trạng thái thoải mái về thể chất và xã hội, nó không chỉ bó hẹp trong nghĩa là không có bệnh tật hay thương tật
Tổ chức WHO đưa ra các chỉ tiêu đánh giá tình hình phát triển y tế gồm đầu tư ngân sách cho y tế, chất lượng và số lượng bác sỹ, cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ cho việc khám chữa bệnh, tuổi thọ bình quân, tỉ suất tử vong (nói chung), tỉ suất tử trẻ em (nói riêng), tỉ lệ dân số mắc các loại bệnh…
Tình hình đảm bảo sức khỏe người dân ở mỗi quốc gia rất khác nhau, phụ thuộc vào điều kiện (môi trường) sống, mức thu nhập và sự phát triển dân số Các nước đang phát triển, do thu nhập thấp nên số người được hưởng các dịch
vụ y tế còn hạn chế… Các nước thu nhập cao, số lượng bác sỹ nhiều, chất lượng bác sỹ tốt, dịch vụ y tế đa dạng, trang thiết bị hiện đại, cơ sở hạ tầng y tế tốt… nên việc chăm sóc sức khỏe cho bộ phận dân cư tốt
Y tế và chăm sóc sức khỏe là những hoạt động có ảnh hưởng trực tiếp tới tỉ
lệ tử vong (có liên quan đến bệnh tật) của con người, từ đó ảnh hưởng đến tuổi thọ trung bình của dân cư
- Tuổi thọ bình quân: là một chỉ số quan trọng phản ánh trình độ phát triển
y tế của mỗi quốc gia Chỉ số tuổi thọ liên quan chặt chẽ tới hệ số tử vong, đặc biệt hệ số tử vong ở trẻ em Nước nào có tuổi thọ bình quân càng cao thì hệ số tử vong ở nước đó càng thấp và ngược lại Tỷ suất tử vong trẻ em (hiểu là tỷ suất trẻ em chết dưới 1 tuổi) phản ánh đầy đủ trình độ nuôi dưỡng và tình hình sức
Trang 25khỏe chung ở trẻ em ở lãnh thổ Số trẻ em dưới 1 tuổi càng nhiều, hệ số tử vong thô càng cao thì tuổi thọ bình quân thấp
Xu hướng chung hiện nay trên toàn thế giới là tỷ lệ trẻ em tử vong giảm dần Tuy vậy, tỷ suất này còn chênh lệch khá lớn giữa các nước Trên thế giới tuổi thọ bình quân của các nước phát triển (trung bình khoảng 80 tuổi) và các nước đang phát triển dao động từ khoảng 50 - 70 tuổi, cá biệt có một số nước Châu Phi tuổi thọ của dân cư thấp, trung bình chỉ 34 - 40 tuổi Do các nước đang phát triển dân số tăng nhanh, kinh tế chậm phát triển, thu nhập thấp và điều kiện chăm sóc y tế không được đảm bảo, vì vậy tuổi thọ bình quân của người dân thấp Ngược lại, các nước phát triển mức gia tăng dân số thấp thậm chí là âm, thu nhập cao và các điều kiện chăm sóc sức khỏe được đảm bảo… nên tuổi thọ của người dân cao
Trong nền kinh tế quốc dân, hệ thống y tế là một bộ phận của cơ sở hạ tầng xã hội Vì thế, phát triển hệ thống y tế là một yếu tố đảm bảo cho dân cư có cuộc sống dài lâu, khỏe mạnh, đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước, đây
là mục tiêu phát triển của bất kì nước nào
Ở Việt Nam, do những thành tựu về phát triển kinh tế, nên các chương trình quốc gia về xã hội đã được triển khai rộng rãi và có tác động sâu sắc tới cả nông thôn và thành thị Hầu hết các chỉ số về sức khỏe của nhân dân đã được cải thiện
Sau khi tìm hiểu về các chỉ số thành phần trong HDI bao gồm: chỉ số về thu nhập, chỉ số giáo dục và chỉ số tuổi thọ, ta có thể tính được chỉ số HDI - là chỉ số quan trọng để đáng giá chất lượng cuộc sống dân cư Các chỉ số này có mối quan hệ mật thiết và tác động qua lại với nhau Chỉ tiêu về lương thực và dinh dưỡng được đảm bảo đầy đủ là tiền đề cho việc đảm bảo sức khỏe tốt cho dân cư, nâng cao tuổi thọ, sức khỏe tốt sẽ tạo điều kiện cho việc nâng cao dân trí, từ đó góp phần làm tăng chỉ số HDI và ngược lại Nên khi nghiên cứu về chất lượng cuộc sống dân cư cần đánh giá một cách tổng thể tránh phiến diện, chủ quan dẫn đến những nhận định sai lầm và đưa ra những giải pháp không phù hợp Chính vì vậy, cần phân tích chính xác mối quan hệ giữa các bộ phận với
Trang 26nhau và xem xét kĩ lưỡng khi đưa ra những biện pháp cụ thể để nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân
* Những điều kiện về nhà ở, điện, nước và vệ sinh môi trường
Nhà ở, điện, nước sinh hoạt… là những nhu cầu không thể thiếu trong cuộc sống hằng ngày của mỗi người Nó phản ánh trình độ phát triển kinh tế - xã hội chất lượng cuộc sống dân cư của mỗi quốc gia
Ở các nước phát triển có mức thu nhập bình quân đầu người cao, tỷ suất gia tăng dân số thấp và ổn định, nên điều kiện đầu tư kinh phí đáp ứng nhu cầu về nhà ở điện nước sạch thuận lợi và ở mức cao Ngược lại, ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam, nền kinh tế còn phát triển chậm dân số tăng nhanh… là những khó khăn lớn đối với việc thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của nhân dân về nhà ở, điện nước sạch…
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống dân cư
Chất lượng cuộc sống dân cư chịu ảnh hưởng tổng hợp của rất nhiều nhân
tố, có thể chia thành 3 nhóm nhân tố chính như sau:
- Nhóm nhân tố vị trí địa lý
- Nhóm nhân tố tự nhiên bao gồm: đặc điểm địa chất địa hình; khí hậu;
thủy văn; các tài nguyên đất, sinh vật, khoáng sản…
- Nhóm nhân tố kinh tế - xã hội bao gồm: thực trạng phát triển các ngành
kinh tế; các đặc điểm dân số, lao động, việc làm; hệ thống cơ sở hạ tầng và các đường lối chính sách
Các nhân tố tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới chất lượng cuộc sống của người dân trên địa bàn Chúng có thể là tiền đề tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, từ đó nâng cao mức sống nhân dân góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống dân cư, nhưng những nhân tố trên cũng có thể trở thành lực cản cho sự phát triển kinh tế - xã hội làm hạn chế khả năng nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư
1.2 Cơ sở thực tiễn về chất lượng cuộc sống
* Ở Việt Nam
Cùng với sự phát triển chung của đất nước, chất lượng cuộc sống người
Trang 27dân cũng được cải thiện rõ rệt trên tất cả các lĩnh vực: thu nhập, giáo dục, y tế và các vấn đề xã hội khác
Kể từ năm 1990, chỉ số HDI ở Việt Nam theo cách tính của UNDP đã liên tục được cải thiện Năm 1992, chỉ số HDI đạt 0,539 (120/174) đến năm 2001 tăng lên 0,682 (101/162), năm 2006 đạt 0,709 (109/177), năm 2009 đạt 0,725 (116/182), năm 2011 đạt 0,728 (128/187) So với các nước trên thế giới Việt Nam xếp ở khoảng giữa của nhóm “mức độ phát triển con người trung bình” (từ
số 56 - 141)
Ở nước ta, do những thành tựu về phát triển kinh tế, nên các chương trình quốc gia về xã hội đã được triển khai rộng rãi và có tác động sâu sắc tới cả nông thôn và thành thị Hầu hết các chỉ số về sức khỏe của nhân dân đã được cải thiện Chính phủ đã có chủ trương bản và lâu dài là phát triển các dịch vụ y tế, đặc biệt là các dịch vụ khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe ban đầu Tuổi thọ trung bình cả nước đạt mức khá cao so với điều kiện kinh tế và mức sống hiện tại Tuổi thọ trung bình của cả nước tăng lên khá nhanh trong thời gian gần đây,
từ 65,3 tuổi năm 1989 lên 68,6 tuổi năm 1999 và 69 tuổi năm 2004 và 74,3 tuổi năm 2009, năm 2011 đạt 75,2 tuổi Nước ta là một nước có thu nhập thấp so với các nước ở trong khu vực và trên thế giới, tuy nhiên chỉ số tuổi thọ của nước ta cao hơn một số nước có cùng thu nhập và có xu hướng tăng lên
Việt Nam là một quốc gia có truyền thống lâu đời về giáo dục Truyền thống đó ngày nay càng được phát huy, điều này được phản ánh qua tỉ lệ người biết chữ và trình độ học vấn của người dân Trong thập kỉ qua, Việt Nam đã đạt được những tiến bộ đáng kể trong việc phổ cập giáo dục, đã thành lập được một mạng lưới toàn diện các cơ sở giáo dục trong cả nước và đặt nền móng cho việc phổ cập giáo dục cho bậc Tiểu học, THCS trong cả nước bằng việc mở trường tiểu học, THCS ở tất cả các xã Do vậy, nước ta đã có tỉ lệ người lớn biết chữ và
tỉ lệ nhập học cao so với GDP bình quân đầu người Tỉ lệ biết chữ ở người lớn là 90,3% từ 15 tuổi trở lên vượt xa các nước Lào, Campuchia Tuy nhiên, số năm
đi học bình quân ở nước ta lại thấp, mới đạt khoảng 6,3 năm
Trang 28Nhà ở và việc sử dụng điện, nước sạch là nhu cầu thiết thực trong đời sống đang phát triển Ở Việt Nam, trong thời gian qua các điều kiện về nhà ở, cấp nước sạch, điện sinh hoạt, vệ sinh môi trường đã được cải thiện đáng kể
* Ở vùng đồng bằng sông Hồng
Vùng đồng bằng sông Hồng là vùng có trình độ phát triển cao thứ hai của đất nước, do vậy chất lượng cuộc sống của người dân tương đối cao so với các vùng khác Trong những năm gần đây ngành kinh tế của vùng đã có nhiều chuyển biến tích cực, đời sống người dân ngày được nâng lên
Thu nhập bình quân đầu người của vùng là 18,96 triệu đồng (năm 2012) chỉ đứng sau vùng Đông Nam Bộ Vùng có HDI tương đối cao đạt 0,723 (năm 2011) thấp hơn so với HDI của cả nước đạt 0,728 (năm 2011), vùng đồng bằng sông Hồng là vùng có tỉ lệ hộ nghèo tương đối thấp, năm 2012 là 4,89% trong khi cả nước là 10,7% (theo chuẩn nghèo cũ),
Vùng đồng bằng sông Hồng có nguồn nhân lực lớn, trình độ dân trí cao, tập trung đội ngũ trí thức giỏi, nhân dân có truyền thống lao động cần cù và sáng tạo Vùng đã tập trung khoảng 26% số cán bộ có trình độ cao đẳng và đại học, 72% số cán bộ có trình độ trên đại học, 23,6% lực lượng lao động kỹ thuật của
cả nước Có gần 100 trường cao đẳng, đại học, 70 trường trung học chuyên nghiệp, 60 trường công nhân kỹ thuật và 40 trường dạy nghề; hàng trăm viện nghiên cứu chuyên ngành, trong đó có nhiều viện đầu ngành, hơn 20 bệnh viện đầu ngành, là một trong ba trung tâm y tế chuyên sâu của cả nước; 100% số tỉnh, thành phố đã hoàn thành phổ cập tiểu học và trung học cơ sở đúng độ tuổi quy định Thực tế cho thấy, vùng đồng bằng sông Hồng dẫn đầu các vùng trong cả nước về số lượng, chất lượng nguồn nhân lực và khả năng nghiên cứu triển khai khoa học, công nghệ, giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khỏe nhân dân
Như vậy trong những năm gần đây chất lượng cuộc sống của người dân Việt Nam và vùng đồng bằng sông Hồng đã có những chuyển biến tích cực, song vẫn còn khá chậm chưa theo kịp với sự phát triển của các quốc gia trong khu vực và trên thế giới
Trang 29Tóm lại chất lượng cuộc sống là sự phản ánh, sự đáp ứng nhu cầu của xã hội, trước hết là nhu cầu về vật chất cơ bản tối thiểu của con người Mức đáp ứng đó càng cao thì chất lượng cuộc sống càng cao Bên cạnh đó, chất lượng cuộc sống còn được phản ánh qua các tiêu chí như: Chỉ số phát triển con người (HDI), chỉ
số thu nhập, chỉ số giáo dục… đồng thời chất lượng cuộc sống còn được gắn liền với môi trường và sự an toàn của môi trường
Trang 30- Phía Bắc giáp Hòa Bình
- Phía Tây giáp Thanh Hóa
- Phía Đông và Đông Bắc giáp Nam Định và Hà Nam
- Phía Nam là vịnh Bắc Bộ
Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 1378,1km2, dân số (tính đến 31/12/2012) là
915945 người, chiếm 0,41% diện tích tự nhiên và khoảng 1,1% dân số cả nước Ninh Bình nằm án ngữ con đường giao thông huyết mạch (quốc lộ 1A), nối liền vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, trong đó có thủ đô Hà Nội với duyên hải miền Trung và Tây Nguyên, đặc biệt với thành phố Hồ Chí Minh và Đồng bằng sông Cửu Long Ninh Bình còn liên lạc trực tiếp và là cửa ngõ giao lưu của các tỉnh phía nam với vùng Tây Bắc giàu tiềm năng về tài nguyên nhưng thiếu nhân lực, thiếu vốn, thiếu kĩ thuật Đồng thời, Ninh Bình còn là tỉnh nằm trong vùng ảnh hưởng trực tiếp của tam giác tăng trưởng kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Hạ Long Đây chính là những yếu tố gắn bó chặt chẽ Ninh Bình với các vùng và các trung tâm khai thác trong cả nước, tạo điều kiện thuận lợi để Ninh Bình tiếp nhận kịp thời các thông tin, thành tựu khoa học kỹ thuật, tham gia vào quá trình phân công lao động vào quốc gia và hội nhập vào quá trình phát triển năng động của cả nước
Trang 31Bảng 2.1: Diện tích và sự phân chia hành chính tỉnh Ninh Bình
là cầu nối giao lưu kinh tế, văn hóa giữa 2 miền Nam và Bắc cũng như một phần giao lưu, trao đổi hàng hóa với Lào và Campuchia Tất cả những điều đó là cơ
sở quan trọng cho việc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và giúp cho Ninh Bình luôn có cơ hội nâng cao chất lượng cuộc sống người dân
2.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
2.2.1 Địa hình
Ninh Bình nằm trong vùng tiếp giáp giữa đồng bằng sông Hồng và giải đá trầm tích ở phía Tây, lại nằm trong vùng trũng của đồng bằng sông Hồng tiếp giáp biển Đông, nên có một địa hình đa dạng Địa hình có hướng nghiêng dần từ
Trang 32Tây Bắc xuống Đông Nam, đồng bằng chiếm phần lớn diện tích, còn vùng đồi núi chỉ chiếm 20% diện tích tự nhiên toàn tỉnh Địa hình Ninh Bình còn có thể chia ra 3 vùng khá rõ:
- Vùng đồi, nửa đồi núi với các dãy đá vôi, nhiều núi thạch sét, sa thạch,
đồi đất xen lẫn các thung lũng lòng chảo hẹp, đầm lầy, ruộng trũng ven núi, có tài nguyên khoáng sản, đặc biệt đá vôi, có nhiều tiềm năng phát triển công nghiệp vật liệu xây dựng, nhất là xi măng, đồng thời đây là nơi thích hợp với việc trồng cây ăn quả, cây công nghiệp và phát triển chăn nuôi Đặc biệt với dạng địa hình núi Cactơ - một dạng địa hình đặc trưng, độc đáo nhất của Ninh Bình, có ý nghĩa to lớn về giá trị kinh tế, đặc biệt đối với du lịch
- Vùng đồng bằng là một vùng đất đai màu mỡ, bãi biển ven sông, có nhiều
tiềm năng để phát triển nông nghiệp đáp ứng nhu cầu tại chỗ, và nông sản hàng hóa xuất khẩu
- Vùng ven biển và biển có nhiều điều kiện phát triển các cây trồng, vật
nuôi khai thác các nguồn lợi ven biển và ngoài khơi
2.2.2 Khí hậu
Ninh Bình cũng như các tỉnh khác của đồng bằng sông Hồng có khí hậu mang những đặc điểm của khí hậu nhiệt đới, gió mùa, có mùa đông lạnh nhưng còn nhiều ảnh hưởng của khí hậu ven biển, rừng núi; thời kì đầu của mùa đông tương đối khô, nửa cuối thì ẩm ướt; mùa hạ thì nóng ẩm, nhiều mưa, bão Thời tiết hằng năm chia thành 4 mùa khá rõ là xuân, hạ, thu, đông
Khí hậu Ninh Bình có sự thay đổi và khác biệt giữa 2 mùa trong năm: mùa
Trang 33Tóm lại, khí hậu Ninh Bình là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nhiều loại cây trồng, vật nuôi có nguồn gốc tự nhiên từ nhiều miền địa lý khác nhau: Nhiệt đới, á nhiệt đới, ôn đới, trên cơ sở đó có thể phát triển một nền nông nghiệp đa dạng Tuy vậy, trở ngại lớn nhất của khí hậu Ninh Bình đối với sản xuất là mùa mưa bão Vào mùa này thường xuyên xảy ra úng, lụt, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sản xuất nông nghiệp, giao thông vận tải và sinh hoạt của nhân dân, đặc biệt với vùng trũng Nho Quan, Gia Viễn, Hoa Lư
2.2.3 Thủy văn
, sông ngòi có lượng nước khá dồi dào, dòng chảy trung bình đạt 301l/s, độ dốc của sông nhỏ (2 - 5cm/km), các dòng uốn khúc quanh co Mạng lưới sông suối của tỉnh phân bố tương đối đều, gồm hàng chục con sông lớn nhỏ với tổng chiều dài khoảng 1000km Trong đó, sông Đáy và sông Hoàng Long là 2 con sông chính chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam rồi đổ ra biển, là đường giao thông quan trọng nhất, nối liền các vùng trong tỉnh với nhau và mở rộng giao lưu với các tỉnh xung quanh, đặc biệt với đồng bằng sông Hồng
Ngoài hệ thống sông, Ninh Bình còn có rất nhiều hồ đầm như: Đầm Cút (Gia Viễn), hồ Thường Sung, hồ Đồng Liêm (Nho Quan), hồ Đồng Thái, hồ Yên Thắng (Yên Mô) Các hồ này đều có cảnh quan đẹp, có tác dụng điều hòa tiểu khí hậu, thuận lợi cho đời sống dân cư, mang lại nhiều ý nghĩa về kinh tế, du lịch Một số đặc điểm khá độc đáo của thủy văn Ninh Bình có ý nghĩa quan trọng trong sinh hoạt và cho phát triển du lịch nghỉ dưỡng là các suối nước khoáng và các nguồn nước caxtơ Nước suối Kênh Gà nổi tiếng lâu nay có tác dụng chữa bệnh và dung làm nước giải khát Ngoài ra, các suối nước nóng Thường Sung (Cúc Phương), Kỳ Phú (Nho Quan) đều có ý nghĩa chữa bệnh và
du lịch Các nguồn nước caxtơ chảy từ trong hang ra cung cấp cho các con mương, ngòi lạch còn có ở hầu hết các chân núi Đặc biệt ở khu vực núi đá vôi Hoa Lư (Trường Yên, Tam Cốc…) chúng vừa là nguồn nước sạch, vừa tạo ra các cảnh quan kì thú cho du khách chiêm ngưỡng
Trang 342.2.4 Đất đai
* Các loại đất ở Ninh Bình
- Vùng đồng bằng ven biển có đất phù sa được bồi, đất phù sa không được bồi và đất phù sa glây, có tiềm năng lớn cho nuôi trồng thủy sản (nhất là tôm, cua xuất khẩu) và trồng cây công nghiệp (cói)
- Vùng đồng bằng úng trũng thuộc loại đất phù sa cũ, chua, nghèo lân, đạm, địa hình trũng thường xuyên ngập nước Đất đai vùng này có thể thích ứng cho thâm canh lúa, màu, cây công nghiệp ngắn ngày, cây ăn quả rau, đậu…sinh trưởng và phát triển tốt cho năng suất cao
- Vùng nửa đồi núi chủ yếu là đất feralitic hình thành tại chỗ trên những sản phẩm phong hóa của đá mẹ (đá vôi, diệp thạch và sa thạch) và một phần đất dốc
tụ quá trình đá ong hóa diễn ra mạnh
2.2.5 Tài nguyên sinh vật
Thảm thực vật tự nhiên nói chung còn lại rất ít, chủ yếu là các cây bụi lúp xúp Chỉ có vườn quốc gia Cúc Phương là nơi có địa hình đá vôi hiểm trở và lại được nhà nước quy hoạch bảo vệ từ lâu nên rừng còn phong phú Ngoài ra, ở một số nơi trên các sườn núi đá vôi có thảm thực vật thứ sinh nghèo ở ven biển thuộc huyện Kim Sơn có một ít rừng ngập mặn với cây sú vẹt thưa thớt
2.2.6 Tài nguyên khoáng sản
Do đặc điểm địa chất, kiến tạo, Ninh Bình có nhiều khoáng sản từ các khoáng sản làm nguyên liệu cho công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng như đá vôi, đất xét, than bùn… và các khoáng sản cho công nghiệp năng lượng và cho các ngành khác
- Ngoài ra, Ninh Bình còn có một số khoáng sản khác như: thủy ngân, pirit,
vàng, sắt, chì, kẽm… các tài nguyên khác như: cát xây dựng, sét gốm xứ, sét xi măng, gạch ngói trữ lượng nhỏ, phân bố rải giác ven vùng đồi thấp, ven thị xã Tam Điệp, Gia Viễn, Yên Mô
- Bên cạnh đó, Ninh Bình còn nằm gần các nguồn năng lượng của quốc gia
ở miền bắc như: bể than Quảng Ninh, nhiệt điện Phả Lại… giúp cho Ninh Bình
Trang 35thỏa mãn các nhu cầu về than, điện phục vụ cho phát triển sản xuất cũng như nhu cầu dân sinh
Như vậy, mặc dù diện tích tương đối nhỏ, điều kiện tự nhiên của Ninh Bình tạo nhiều lợi thế và cả những khó khăn cho việc phát triển kinh tế xã hội của tỉnh
Khí hậu Ninh Bình nhìn chung là dễ chịu và thính hợp với sức khỏe và đời sống của người dân, thuận lợi cho sản xuất, song cũng là một trong những nguyên nhân làm gia tăng những bệnh truyền nhiễm về mùa hè, cũng như các bệnh về đường hô hấp trong mùa đông
Ninh Bình còn có một nguồn khoáng sản phong phú, giàu có đặc biệt là đá vôi là cơ sở để phát triển các ngành công nghiệp, không những phục vụ cho nhu cầu của các ngành công nghiệp trong tỉnh mà còn cho đồng bằng sông Hồng và các vùng khác
Tuy nhiên, việc khai thác các tài nguyên này phải gắn liền với việc đảm bảo
vệ sinh môi trường, nếu không sẽ gây ra ô nhiễm môi trường ảnh hưởng tới sức khỏe và tuổi thọ người dân
2.3 Các nhân tố dân cƣ, kinh tế - xã hội
Trang 36
Bảng 2.2: Dân số trung bình phân theo khu vực và giới tính của
tỉnh Ninh Bình thời kì 2000 - 2012 Năm Tổng số Phân theo khu vực Phân theo giới tính
2.3.2 Sự gia tăng dân số
Dân số và phát triển dân số là yếu tố quan trọng, góp phần thúc đẩy sự phát triển nền sản xuất và tiến bộ xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái Nhưng sự phát triển dân số phải phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội, nếu không sẽ kìm hãm sự phát triển, phá hủy môi trường sinh thái và giảm sút mức sống dân cư Việc “tái sản xuất con người” phải phù hợp với “sản xuất vật chất” Chính vì vậy việc nghiên cứu sự tăng dân số tự nhiên có ý nghĩa rất lớn trong sự tác động qua lại giữa dân số và mức sống của mỗi địa phương quốc gia
Trang 37
Bảng 2.3: Tỷ suất sinh, tử và gia tăng tự nhiên của tỉnh Ninh Bình
oo (năm 1995) xuống còn 5, 61o
nhờ làm tốt công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình và mặt khác do đời sống nhân dân đã bắt đầu được cải thiện
2.3.3 Kết cấu dân số
* Kết cấu dân số theo độ tuổi và giới tính
Dân số Ninh Bình thuộc loại trẻ, điều đó thể hiện ở chỗ: So với tổng số dân, nhóm người dưới 15 tuổi chiếm tỷ trọng tương đối cao (33,6%) trong khi nhóm người từ 60 tuổi trở lên lại chiếm tỷ trọng thấp (9,8%) Như vậy, nhóm trong độ tuổi lao động là nhóm tuổi quan trọng nhất chiếm quá 1/2 số dân (56,5%) Do nhóm trước tuổi lao động còn chiếm tỉ lệ lớn (33,6%) và sự tăng lên của nhóm ngoài tuổi lao động (9,8%) nên tỷ lệ phụ thuộc càng cao Kết cấu dân số trẻ đó là nguồn lao động dồi dào Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế của tỉnh còn chậm phát triển, vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động còn gặp nhiều khó khăn
* Kết cấu dân tộc
So với một số tỉnh trong cả nước cũng như một số tỉnh trong vùng đồng bằng sông Hồng, số lượng các dân tộc sinh sống trên địa bàn tỉnh Ninh Bình ít hơn nhiều Người Kinh có tỷ lệ lớn nhất chiếm 97,87% dân số toàn tỉnh
Trang 38Bảng 2.4: Kết cấu dân tộc tỉnh Ninh Bình năm 2012
Tổng số Kinh Mường Tày Dân tộc khác
* Kết cấu xã hội
- Kết cấu dân số theo lao động
Kết cấu dân số theo lao động trong một chừng mực phản ánh nguồn lao động và số dân hoạt động kinh tế Ninh Bình có kết cấu dân số trẻ nên nguồn lao động dồi dào Tỷ lệ lao động trong khu vực I ở Ninh Bình chiếm tỷ lệ khá cao lên tới trên 80%, trong khi lao động trong khu vực II, III chiếm tỷ lệ thấp gần 20% Vì vậy, có thể thấy Ninh Bình vẫn là một tỉnh nông nghiệp, điều này đã tác động đến mức thu nhập và chất lượng cuộc sống của người dân địa phương Mặc dù tỉnh có vị trí thuận lợi, kết cấu hạ tầng tương đối tốt, lại có nguồn tài nguyên dồi dào, cơ sở tiểu thủ công lâu đời, nhưng các khu công nghiệp, xây dựng và dịch vụ mới chỉ thu hút được 18,53% dân số hoạt động kinh tế có việc làm thường xuyên
2.3.4 Sự phân bố dân cư
Năm 2012, toàn tỉnh có số dân là 915945 người, sinh sống trên một diện tích tự nhiên là 1378,1km2 Đây là tỉnh có mật độ dân số thưa nhất trong các tỉnh
và thành phố của vùng đồng bằng sông Hồng, thậm chí chỉ bằng 1/2 mật độ dân
số của tỉnh Hưng Yên và Thái Bình
Tuy nhiên, trong tỉnh vẫn có sự chênh lệch nhau về mật độ dân cư
Trang 39Bảng 2.5: Mật độ dân cƣ phân theo huyện, thị tỉnh Ninh Bình
(Nguồn: [2] )
Sự chênh lệch khá lớn về mật độ dân số quá lớn giữa các huyện thị gây nên nhiều khó khăn cho việc phân công, sắp xếp lao động, ảnh hưởng tới hoạt động kinh tế, văn hóa xã hội của tỉnh và tác động tới đời sống dân cư
2.4 Kinh tế
Đặc điểm nền kinh tế một mặt phản ánh kết quả lao động sáng tạo của con người, mặt khác phản ánh chất lượng cuộc sống dân cư Sự phát triển kinh tế là yếu tố cơ bản làm cơ sở để nâng cao mức sống và chất lượng cuộc sống con người Chính vì vậy, cần phải tìm hiểu những đặc điểm kinh tế - xã hội một địa phương khi đánh giá chất lượng cuộc sống dân cư nơi đó
2.4.1 Khái quát chung
Ninh Bình có xuất phát điểm kinh tế thấp, sản xuất nông - lâm nghiệp là chủ yếu Nền sản xuất hàng hóa đang trong quá trình hình thành và phát triển
Kể từ khi tái lập tỉnh, bộ mặt kinh tế có nhiều thay đổi trên cơ sở phát huy nội lực, tiếp tục đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, khai thác hợp lí các lợi thế
so sánh về rừng, khoáng sản, đất đai, lao động và các tiềm năng khác
Trang 40Tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm đạt mức khá cao Tăng trưởng kinh tế bình quân năm 2011 đạt 15,35% (cả nước 5,89%) Các ngành kinh tế đều có mức tăng trưởng khá cao Năm 2011 nhóm ngành nông - lâm - ngư nghiệp tăng 13,9%, công nghiệp và xây dựng tăng 46,35% và dịch vụ tăng 39,6%
Bảng 2.6: GDP và cơ cấu tổng sản phẩm của tỉnh Ninh Bình theo thời
kì 2009 - 2012 (tính theo giá trị thực tế)
Các ngành
Triệu đồng % Triệu đồng % Triệu đồng % Triệu đồng %
Nông, lâm, ngư
nghiệp 2679555 17,7 3292644 17,4 3391564 15,00 3975033 15,2 Công nghiệp –
xây dựng 7122504 47,2 8988642 47,6 11083809 49,01 12049468 46,1 Dịch vụ 5284620 35,0 6575726 34,8 8142258 35,99 10079104 38,6 GDP cả tỉnh 15086679 100 18857012 100 22617631 100 26103605 100
2.4.2 Hiện trạng kinh tế tỉnh Ninh Bình
* Nông, lâm, ngƣ nghiệp
Cho đến nay, nông nghiệp là ngành chiếm vị trí chủ đạo trong nền kinh tế toàn tỉnh Ngành này vẫn luôn phát triển và đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp lương thực - thực phẩm cho đời sống nhân dân và cải tạo môi trường sinh thái của tỉnh Sản xuất nông nghiệp có mức tăng trưởng khá Năm 2012, GDP của ngành này đạt 3975033 chiếm 15,2% GDP của tỉnh Nông nghiệp, nông thôn Ninh Bình sau hơn 20 năm phát triển đã vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, giành nhiều thành tựu quan trọng, phát triển khá toàn diện Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp đã tăng từ 842 tỷ đồng năm 1992 lên 1.905 tỷ