Chương trình phát triển của Liên hiệp quốc đưa ra các chỉ tiêu cơ bản phản ánh sự phát triển con người đều nhằm vào chất lượng cuộc sống dân cư.. Theo báo cáo phát triển con người của Li
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Linh
CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG DÂN CƯ TỈNH ĐỒNG NAI HIỆN TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Linh
CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG DÂN CƯ TỈNH ĐỒNG NAI HIỆN TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Chuyên ngành : Địa lý học (trừ Địa lý tự nhiên)
Mã số : 60 31 95
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS ĐÀM NGUYỄN THÙY DƯƠNG
Thành phố Hồ Chí Minh - 2012
Trang 3Lời cảm ơn
Sau một thời gian dài học tập, nghiên cứu đề tài luận văn “Chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Đồng Nai: Hiện trạng và giải pháp” của tác giả được hồn thành Tác giả xin bày tỏ lịng cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến:
TS Đàm Nguyễn Thùy Dương đã hết lịng giúp đỡ, động viên, hướng dẫn tận tình để tác giả cĩ thể hồn thành luận văn Thạc sĩ của mình
Quý thầy cơ phụ trách các mơn học của khoa Địa lý, và các trường đại học khác
đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Ban giám hiệu nhà trường, Phịng Khoa học cơng nghệ và Sau đại học đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả học tập, nghiên cứu và hồn thành luận văn tốt nghiệp
Các cơ quan ban ngành tỉnh Đồng Nai đã giúp đỡ tác giả trong quá trình tìm tư liệu làm luận văn
Gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, đặc biệt là anh Nguyễn Mạnh Linh và Thạc sĩ Hồng Thị Thúy Nga đã động viên, giúp đỡ tác giả hồn thành luận văn tốt nghiệp này
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 9/2012
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Linh
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cám ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình
Danh mục các biểu đồ
MỞ ĐẦU 1
Ch ương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG DÂN CƯ 12
1.1 Cơ sở lý luận về chất lượng cuộc sống 12
1.1.1 Quan niệm về chất lượng cuộc sống 12
1.1.2 Các tiêu chí phản ánh chất lượng cuộc sống dân cư ……… … 15
1.1.3 Chỉ số GDP ……… 20
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống dân cư ……… 31
1.2 Thực tiễn về chất lượng cuộc sống dân cư trên thế giới và Việt Nam 32
1.2.1 Trên thế giới ……….32
1.2.2 Khái quát về chất lượng cuộc sống dân cư Việt Nam ……….37
Chương 2: HIỆN TRẠNG CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG DÂN CƯ TỈNH ĐỒNG NAI 48
2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Đồng Nai 48
2.1.1 Vị trí địa lý ……… 48
2.1.2 Nhân tố tự nhiên ……… 49
2.1.3 Nhân tố kinh tế xã hội 54
2.2 Hiện trạng chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Đồng Nai 69
2.2.1 Vấn đề lao động, việc làm, thu nhập và chi tiêu 71
2.2.2 Vấn đề lương thực và dinh dưỡng ……… 75
2.2.3 Tiêu chí về giáo dục……… 78
2.2.4 Vấn đề y tế và chăm sóc sức khỏe ……….83
2.2.5 Điều kiện sống của các hộ gia đình ……… 92
2.2.6 Mức hưởng thụ văn hóa, tinh thần ……… 95
Trang 52.2.7 Vấn đề môi trường sống ……… 99
2.3 Đánh giá tổng hợp về chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Đồng Nai 100
2.4 Nguyên nhân của thực trạng chất lượng cuộc sống dân cư ở Đồng Nai 103
2.4.1 Nguyên nhân từ phía các yếu tố mang tính cá nhân ……….103
2.4.2 Nguyên nhân từ phía xã hội ………104
Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG DÂN CƯ TỈNH ĐỒNG NAI 106
3.1 Căn cứ xây dựng định hướng 106
3.1.1 Bối cảnh khu vực và trong nước ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Đồng Nai 106
3.1.2 Kết quả nghiên cứu hiện trạng chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Đồng Nai giai đoạn 1999 – 2010 107
3.2 Các mục tiêu phát triển xã hội 107
3.2.1 Mục tiêu về tăng trưởng kinh tế ……… 107
3.2.2 Mục tiêu về tiến bộ xã hội và xóa đói giảm nghèo ……… 109
3.3 Định hướng phát triển các lĩnh vực xã hội với vấn đề nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư tỉnh Đồng Nai 109
3.3.1 Về giáo dục đào tạo ……… 109
3.3.2.Y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân ……… 111
3.3.3 Dân số, lao động, việc làm và xóa đói giảm nghèo ……… 112
3.3.4 Phát triển văn hóa thông tin, thể dục thể thao ………114
3.4 Một số giải pháp nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Đồng Nai 114
3.4.1 Nhóm giải pháp về tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo ………114
3.4.2 Nhóm giải pháp đảm bảo nhu cầu lương thực và dinh dưỡng ……… 115
3.4.3 Nhóm giải pháp về phát triển y tế và chăm sóc sức khỏe ……… 115
3.4.4 Nhóm giải pháp về giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực ……… 118
3.4.5 Nhóm giải pháp nâng cao điều kiện và môi trường sống ……… 122
3.4.6 Nhóm giải pháp nâng cao đời sống tinh thần và an ninh xã hội ………123
3.4.7 Các giải pháp khác ……….124
KẾT LUẬN 125
TÀI LIỆU THAM KHẢO 127
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
2
GDP Gross Domestic Product:
Tổng thu nhập quốc nội
3
HDI Human Developmet Index:
Chỉ số phát triển con người
4
HDR Human Developmet Report:
Báo cáo phát triển con người
5
PPP Purchasing Power Parity:
Phương pháp sức mua tương đương
9
UNDP United Nations Development Programme:
Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc
10
HPI Human Poverty Index:
Chỉ số nghèo đói tổng hợp
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
2 Bảng 1.2 Bảng xếp hạng một số quốc gia về HDI năm 2010 19
3 Bảng 1.3 Các nước có thu nhập như nhau nhưng có sự khác nhau về
Bảng 1.8 Tuổi thọ và điều kiện dinh dưỡng tính trung bình 1
người/ngày của 2 nhóm nước thu nhập cao nhất và thấp nhất thế giới
năm 2007
35
9 Bảng 1.9 Mức tiêu thụ điện năng bình quân đầu người thế giới 2004 36
10 Bảng 1.10 GDP và GDP/người ở Việt Nam giai đoạn 1999 – 2009 37
11 Bảng 1.11 GDP/người và chênh lệch GDP/người các vùng giai đoạn
12 Bảng 1.12 So sánh GDP bình quân đầu người theo PPP của Việt Nam
13 Bảng 1.13 Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn mới của chính phủ 2006 – 2010 39
14 Bảng 1.14 Tỉ lệ (%) biết chữ từ 15 tuổi trở lên biết đọc biết viết theo
Trang 815 1.15 HDI của Việt Nam giai đoạn 1999 – 2009 46
16 Bảng 2.1 Diện tích, dân số, mật độ dân số của các đơn vị hành chính
18 Bảng 2.3 Diện tích các loại rừng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai 2005 53
19 Bảng 2.4 Tỉ suất sinh thô, tử thô và gia tăng tự nhiên của Đồng Nai
23 Bảng 2.8 Lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế phân theo
cấp quản lý và phân theo thành phần kinh tế 2004 – 2010 71
24 Bảng 2.9 Tổng thu nhập và thu nhập bình quân đầu người tỉnh Đồng
25 Bảng 2.10 Bảng thu nhập bình quân đầu người/tháng phân theo các
27 Bảng 2.12 Lương thực bình quân đầu người của các địa phương trong
28 Bảng 2.13 Số trường, lớp, giáo viên, học sinh Đồng Nai 2006 -2010 88
29 Bảng 2.14 Số học sinh mẫu giáo của tỉnh Đồng Nai qua các năm học 79
30 Bảng 2.15 Số giáo viên, học sinh và tỷ lệ HS THPT/số HS trên địa bàn
Trang 931 Bảng 2.16 Ngân sách đầu tư cho giáo dục tỉnh Đồng Nai 83
32 Bảng 2.17 Số cơ sở y tế, giường bệnh và cán bộ y tế tỉnh Đồng Nai
33 Bảng 2.18 Các bệnh mắc cao nhất của tỉnh Đồng Nai năm 2010 88
34 Bảng 2.19 Ngân sách đầu tư cho y tế tỉnh Đồng Nai 2006-2010 88
35 Bảng 2.20 Số bác sĩ, số bác sĩ/10.000 dân, số giường bệnh/10.000 dân
36 Bảng 2.21 Tỉ lệ hộ sử dụng điện sinh hoạt phân theo thành thị, nông
37 Bảng 2.22 Số máy điện thoại cố định phân theo các địa phương trên
38 Bảng 2.23 Số thuê bao internet trên địa bàn tỉnh Đồng Nai giai đoạn
39 Bảng 2.24 Số thư viện, số sách và số lượng người được thư viện phục
40 Bảng 2.25 HDI Đồng Nai và một số địa phương trong cả nước 102
Trang 11DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
1 Biểu đồ 2.1 Cơ cấu dân số theo giới tính phân theo đơn vị hành chính
3 Biểu đồ 2.3 Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành của Đồng Nai 63
4 Biểu đồ 2.4 Thu nhập bình quân đầu người một tháng theo giá thực tế
5 Biểu đồ 2.5 Sản lượng lương thực và bình quân lương thực đầu người
8 Biểu đồ 2.8 Số lượng cán bộ y tế tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2006 - 2010 86
9 Biểu đồ 2.9 Tuổi thọ trung bình tỉnh Đồng Nai 1999 - 2009 90
10 Biểu đồ 2.10 Tỉ lệ số người sử dụng nước hợp vệ sinh Đồng Nai 2010 94
11 Biểu đồ 2.12 Chỉ tiêu bảo vệ môi trường tỉnh Đồng Nai qua các năm 100
12 Biểu đồ 3.1 Cơ cấu kinh tế tỉnh Đồng Nai năm 2015 và 2020 108
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Con người là vốn quý nhất, là chủ nhân của thế giới, là động lực để phát triển
xã hội và cũng là mục tiêu để mọi hoạt động kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia cũng như cả thế giới hướng tới Việc nâng cao chất lượng cuộc sống (CLCS) của con người
đã và đang là mối quan tâm đặc biệt của hầu hết các nước Chương trình phát triển của Liên hiệp quốc đưa ra các chỉ tiêu cơ bản phản ánh sự phát triển con người đều nhằm vào chất lượng cuộc sống dân cư Vậy làm thế nào để nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân và tạo điều kiện để mọi người đều được sống trong tình thương và trách nhiệm? Đó là những vấn đề mà thực tiễn đang đặt ra đòi hỏi phải giải quyết Mỗi quốc gia đều phải xây dựng chương trình nâng cao chất lượng cuộc sống người dân trên cơ
sở khoa học và thực tiễn nhất định
CLCS dân cư phản ảnh trình độ phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia ở các lĩnh vực kinh tế văn hóa và phúc lợi xã hội Đồng thời, CLCS dân cư và tăng trưởng kinh tế - xã hội có mối quan hệ khắng khít, chặt chẽ với nhau CLCS dân cư vừa là động lực thúc đẩy tăng trưởng vừa là thước đo trình độ văn minh và sự phát triển nhiều mặt của một quốc gia Chính vì vậy, nhiều quốc gia trên thế giới không ngừng thực hiện các chính sách phát triển toàn diện về kinh tế - xã hội để nâng cao CLCS dân cư, nhằm khẳng định vị trí của mình trên trường quốc tế
Dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại nền kinh tế phát triển nhanh vượt bậc, nhiều quốc gia đạt được tỉ lệ tăng trưởng thần kỳ và đời sống nhân dân đang được nâng cao rõ rệt Bên cạnh đó, xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đối với sự phân hóa giàu nghèo giữa các nước trở thành một chủ
đề tranh cãi quan trọng trên thế giới Theo báo cáo phát triển con người của Liên Hiệp Quốc, sự phân hóa giàu nghèo trên thế giới đang ở mức khó có thể chấp nhận: 20% dân số thế giới thuộc nhóm giàu nhất chiếm giữ 86% GDP toàn thế giới, trong khi đó 20% thuộc nhóm nước nghèo nhất chỉ có 1%; tài sản của 3 nhà tỉ phú giàu nhất thế giới còn hơn cả GDP của các nước nghèo nhất với số dân hơn 600 triệu người cộng lại Trên thực tế, trong khi một số nước có nền kinh tế phát triển có chất lượng cuộc sống
Trang 13dân cư rất cao thì một bộ phận dân cư còn lại đang có nguy cơ bị suy giảm và luôn luôn đối mặt với cảnh đói nghèo
Ngay từ những ngày đầu xây dựng đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Đảng
và Nhà nước ta đã quan tâm đến việc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (năm 1991) đã khẳng
định: “Mục tiêu của chính sách xã hội thống nhất với mục tiêu phát triển kinh tế, đều
nhằm phát huy sức mạnh của nhân tố con người và vì con người Kết hợp hài hòa giữa
sự phát triển kinh tế và sự phát triển xã hội; giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần của nhân dân ” Vì vậy, CLCS dân cư trong những năm gần đây đã tăng lên
đáng kể, thể hiện qua các chỉ tiêu về CLCS dân cư
Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, chúng ta đã đạt được một số thành tựu trong công cuộc xóa đói, giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống cộng đồng Tuy nhiên: “Cho đến nay, xét theo các quan điểm lý thuyết và chỉ số phát triển kinh tế - xã hội khác nhau, nông nghiệp - nông thôn Việt Nam đều có đặc điểm chung
là nghèo và kém phát triển Việt Nam thuộc nhóm nước (trên dưới 50 nước) nghèo và
kém phát triển nhất thế giới Trong nhóm nước dưới đáy của phân tầng xã hội loài người toàn cầu, xét về chỉ số nghèo thì Việt Nam đứng ở khoảng giữa nhóm nước nghèo, còn xét về chỉ số phát triển tổng hợp kinh tế - xã hội thì Việt Nam ở gần về phía đỉnh phân tầng, nghĩa là gần về phía nhóm nước trung bình thế giới”
Đồng Nai là một tỉnh nằm trong vùng kinh tế Đông Nam Bộ và là hạt nhân quan trọng của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, là địa bàn năng động, có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và thị trường tiêu thụ rộng lớn Nền kinh tế của tỉnh trong những năm qua có nhiều chuyển biến rõ nét trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, nâng cao mức sống của người dân Cùng với quá trình hội nhập kinh tế của đất nước trong khu vực và thế giới, nền kinh tế Đồng Nai có bước chuyển mình đi lên, cuộc sống dân cư ngày càng được nâng cao về mọi mặt Song nếu so sánh với các địa phương khác trong cả nước và với các nước khác trong khu vực thì mức sống của người dân tỉnh Đồng Nai thì ở mức vừa, nhất là ở một số xã, huyện vùng sâu, vùng xa cuộc sống dân cư còn quá thấp Do đó, nghiên cứu thực trạng CLCS của dân cư và tìm
Trang 14ra các giải pháp nâng cao CLCS đối với địa phương là vấn đề cấp bách được đặt ra Với ý nghĩa đó, em mong muốn góp phần làm sáng tỏ thêm cơ sở lí luận và thực tiễn
về vấn đề CLCS ở tỉnh Đồng Nai nên đã quyết định chọn đề tài “Chất lượng cuộc
sống của dân cư tỉnh Đồng Nai – Hiện trạng và giải pháp” để làm đề tài nghiên cứu
cho luận văn tốt nghiệp của mình
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
2.1 Mục tiêu của đề tài
Đề tài vận dụng cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng cuộc sống dân cư để nghiên cứu thực trạng chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Đồng Nai và đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư tỉnh Đồng Nai từ nay đến
2020
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên, đề tài có những nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lí luận và thực tiễn về chất lượng cuộc sống
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Đồng Nai
- Phân tích thực trạng chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Đồng Nai thời kì 1999 -
3.1 Về thời gian và không gian
Luận văn tập trung nghiên cứu chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Đồng Nai, ngoài ra, đề tài còn mở rộng so sánh với một số địa phương lân cận giai đoạn 1999 -
2010 và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư trên địa bàn nghiên cứu đến năm 2020
Trang 153.2 Về nội dung
Chất lượng cuộc sống là vấn đề phức tạp đa dạng và thường xuyên thay đổi nhưng thời gian thực hiện đề tài có hạn, điều kiện làm việc còn hạn chế nên đề tài nghiên cứu giới hạn chất lượng cuộc sống trên cơ sở khảo sát, điều tra các tiêu chí cơ bản phản ánh CLCS của dân cư tỉnh Đồng Nai: chỉ số thu nhập bình quân đầu người, chỉ số về dinh dưỡng, chỉ số về giáo dục, chỉ số về y tế và chăm sóc sức khỏe và các
tiêu chí phản ánh điều kiện sống (nhà ở, điện nước, vệ sinh môi trường…)
Trọng tâm của luận văn là nghiên cứu, đánh giá hiện trạng CLCS, đề xuất các giải pháp phù hợp với định hướng phát triển kinh tế xã hội của tỉnh trên cơ sở số liệu thống kê từ 1999 – 2010
4 Lịch sử nghiên cứu đề tài
- Trên thế giới: đã có nhiều nhà khoa học và các tổ chức nghiên cứu về CLCS Vào cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 của thế kỉ XX, một nhà dân số học người Ấn
Độ (R.C Sharma) đề cập đến CLCS trong tác phẩm “Dân số, tài nguyên, môi trường
và chất lượng cuộc sống” (Population, resources, environment and quality of life),
nghiên cứu mối tương tác giữa chất lượng cuộc sống dân cư với quá trình phát triển dân cư, phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia Theo ông, chất lượng cuộc sống là
sự đáp ứng đầy đủ về các yếu tố vật chất và tinh thần cho người dân
Năm 1990, UNDP (Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc) đã đưa ra hệ
thống các chỉ tiêu đánh giá về phát triển con người - HDI (Human Development Index)
dựa trên những chỉ tiêu cơ bản về thu nhập, sức khỏe, tri thức và được coi là 3 mặt cơ bản phản ánh chất lượng cuộc sống Hệ thống các chỉ tiêu này đã phản ánh cách tiếp
cận mới, có tính hệ thống hơn, đã coi “phát triển con người là sự mở rộng phạm vi lựa
chọn của con người để đạt đến một cuộc sống trường thọ, khỏe mạnh, có ý nghĩa và xứng đáng với con người Điều này bao hàm hai khía cạnh chính là mở rộng các cơ hội lựa chọn và nâng cao năng lực lựa chọn của con người nhằm hưởng thụ một cuộc sống hạnh phúc, bền vững.”
Trang 16Nghiên cứu CLCS dân cư có vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước và ngày càng được chú trọng hơn trong giai đoạn hiện nay khi Việt Nam được xem là “Ngôi sao sáng” trong việc thực hiện các tiến bộ xã hội Chính tầm quan trọng đó mà từ trước đến nay, mức sống dân cư đã được Tổng cục Thống kê, Ủy ban Kế hoạch Nhà nước (nay là Bộ Kế hoạch và Đầu tư), Ngân hàng thế giới cùng với sự trợ giúp của UNDP tiến hành điều tra khảo sát qua 4 cuộc Tổng điều tra mức sống dân cư Việt Nam qua các năm 1992 – 1993, 1997 – 1998, 2001 – 2004,
2007 – 2008 Các cuộc điều tra này cung cấp những thông tin về thu nhập, chi tiêu và các tiêu chí khác về mức sống của các hộ gia đình Việt Nam qua các năm 1993, 1998,
2004, 2008 Mỗi cuộc điều tra sẽ thấy rõ sự thay đổi mức sống của dân cư Việt Nam qua các năm, sự tiến bộ vượt bậc của Việt Nam trong việc giảm nghèo và nâng cao mức sống Những số liệu này chứng tỏ tính hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách của các cơ quan phát triển của chính phủ trong nước và quốc tế Tuy nhiên, các cuộc tổng điều tra này chỉ dừng lại trong việc khảo sát mức sống dân cư Việt Nam bằng những số liệu cụ thể, chưa đi sâu phân tích mức sống một địa phương nào trong cả nước
- Ở Việt Nam, từ những năm cuối thế kỷ XX đã có nhiều công trình liên quan
đến CLCS đã được công bố: “Các chỉ số và chỉ tiêu phát triển con người” của Nguyễn
Quán (1995), “Điều tra mức sống dân cư Việt Nam 1992 – 1993”, ““Điều tra mức sống dân cư Việt Nam 1997 – 1998”, “Mức sống trong thời kỳ bùng nổ kinh tế Việt Nam, 2001”, “ Phân hóa giàu nghèo và tác động của yếu tố học vấn đến nâng cao mức sống cho người dân Việt Nam” (2003) của tập thể các tác giả Đỗ Thiên Kính, Phùng
Đức Tùng, Hồ Sĩ Cúc, Nguyễn Bùi Linh, Bùi Thái Quyên, Hoàng Văn Kình, Lê Thị Thanh Loan, Nguyễn Phong Các công trình này đã phân tích các vấn đề có liên quan đến CLCS dân cư như: thu nhập của người dân, trình độ dân trí, chất lượng y tế, giáo dục và thông qua đó đã khẳng định về sự cải thiện CLCS của các hộ gia đình Việt Nam theo thời gian
Trang 17Công trình nghiên cứu: “Báo cáo phát triển con người Việt Nam 2001 - Đổi
mới và sự nghiệp phát triển con người” của tập thể hơn 30 nhà khoa học do Trung tâm
Khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia (nay là Viện Khoa học xã hội) thực hiện đã tổng quan toàn bộ sự phát triển con người năm 2001, trong đó quan tâm đến HDI theo vùng và tỉnh, thành phố
Trong cuốn: “Con người và phát triển con người” (NXB Giáo dục 2007) của
PGS.TS Hồ Sĩ Quý, Viện Thông tin KHXH – Viện KHXH Việt Nam với những nghiên cứu mang tính triết học chuyên sâu đã cập nhật những tri thức mới nhất của thế giới về con người, phát triển con người, trong đó có CLCS con người
Đến những năm gần đây, một số nhà nghiên cứu đã bắt đầu có sự quan tâm, tìm
hiểu đối với mức sống, CLCS dân cư của địa phương Đó là: “Diễn biến mức sống dân
cư, phân hóa giàu nghèo và các giải pháp xóa đói giảm nghèo trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế Việt Nam nhìn từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh” (2001) của
PGS.TS Nguyễn Thị Cành, tác giả này đã trình bày và đi sâu phân tích cụ thể và chi tiết về việc làm, thu nhập và chi tiêu của dân cư Thành phố Hồ Chí Minh, từ đó minh chứng cho sự phân hóa giàu nghèo ngày càng rõ ở đô thị phát triển nhất Việt Nam Đây có thể xem công trình có ý nghĩa chiến lược đầu tiên về phân tích thực trạng mức sống dân cư ở một địa phương
Các công trình nghiên cứu đáng chú ý khác là: “Chỉ số phát triển kinh tế trong
HDI, cách tiếp cận và một số kết qủa nghiên cứu” (2005), của PGS.TS Đặng Quốc
Bảo, TS Trương Thị Thúy Hằng, “Phân hóa giàu nghèo và tác động của yếu tố học
vấn đến mức sống cho người dân Việt Nam” (2003) của tác giả Đỗ Thiên Kính Đây là
những công trình quan trọng được các tác giả tổng hợp từ nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc nhiều chuyên ngành khác nhau về lĩnh vực phát triển con người ở Việt Nam
Bên cạnh cách tiếp cận mức sống dân cư chủ yếu dựa trên cách đánh giá thu nhập bình quân đầu người, trong bối cảnh phát triển kinh tế xã hội, một hướng nghiên cứu
Trang 18và cách tiếp cận khác được đặt ra là xem xét sự thỏa mãn về nhu cầu của cuộc sống
con người Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ “Chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Bình Thuận
– Thực trạng và giải pháp” của Bùi Vũ Thanh Nhật, luận văn tốt nghiệp thạc sĩ “ Giải pháp nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư huyện Ninh Phước” của Phan Thị Xuân
Hằng đã đề cập đến cách tiếp cận này Trong luận văn này, các tác giả đã tìm hiểu, nghiên cứu mối quan hệ biện chứng trong sự phát triển kinh tế xã hội của các địa phương này Cùng với những giá trị tích cực đạt được, đề tài cũng chỉ ra những tồn tại cần giải quyết để ngày càng cải thiện CLCS dân cư Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra
những kiến nghị và các giải pháp nhằm nâng cao CLCS dân cư
- Tại tỉnh Đồng Nai có công trình nghiên cứu của sinh viên khoa Địa lý về:
“Dân số và tác động của dân số đến sự phát triển kinh tế xã hội tỉnh Đồng Nai”,
(2002), “Tác động của dân nhập cư đến sự phát triển kinh tế xã hội Đồng Nai”,
(2006) Luận văn Thạc sỹ: “Sử dụng lao động tỉnh Đồng Nai” (2003) của Phạm Thị
Bình, Đào Thị Dung với Khóa luận tốt nghiệp: “Mức sống dân cư tỉnh Đồng Nai”,
(2005)
Như vậy, đã cho thấy sự quan tâm ở tầm vĩ mô của Nhà nước về các khía cạnh khác nhau có liên quan đến CLCS của dân cư trong thời gian qua, được nghiên cứu ở nhiều phạm vi và góc độ khác nhau Tuy nhiên, việc tiếp cận một cách trực tiếp, tổng thể chất lượng cuộc sống dân cư của tỉnh Đồng Nai trên quan điểm nhân văn thì còn
hạn chế Xuất phát từ thực đó đặc biệt, một mặt cho phép đề tài “Chất lượng cuộc
sống dân cư tỉnh Đồng Nai: Hiện trạng và giải pháp” kế thừa những thành quả công
trình trước đó, đồng thời cũng là cơ hội cho luận văn tiếp tục đưa ra các ý kiến, kết quả nghiên cứu để bổ sung thêm vào lĩnh vực nghiên cứu đời sống dân cư dưới cái nhìn địa
lý kinh tế xã hội
5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
5.1 Quan điểm nghiên cứu
5.1.1 Quan điểm hệ thống
Trang 19CLCS của dân cư ở từng tỉnh, thành phố trong mỗi quốc gia cần phải được đặt trong mối quan hệ cụ thể với toàn bộ hệ thống lãnh thổ quốc gia Đó là cơ sở đầu tiên giúp cho việc tiếp cận và phân tích vấn đề một cách có hệ thống Vì vậy, việc nghiên cứu chất lượng cuộc sống của dân cư tỉnh Đồng Nai phải được đặt trong mối liên hệ với vùng Đông Nam Bộ và cả nước Bản thân CLCS của dân cư tỉnh Đồng Nai cũng là một hệ thống bao gồm nhiều yếu tố có mối quan hệ qua lại
5.1.2 Quan điểm tổng hợp - lãnh thổ
CLCS không chỉ là cuộc sống vật chất mà còn tập hợp nhiều yếu tố như dân trí, văn hóa, giáo dục Do vậy, nghiên cứu chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Đồng Nai cần phải dựa trên phân tích, đánh giá tổng hợp của nhiều yếu tố liên quan
Các yếu tố về tự nhiên và kinh tế xã hội của từng khu vực, từng huyện, quận có bản sắc riêng Vì vậy, nghiên cứu CLCS của dân cư tỉnh Đồng Nai phải tìm hiểu trên quan điểm tổng hợp - lãnh thổ, qua đó làm rõ nguyên nhân của sự khác biệt để phân tích và đánh giá thực trạng của người dân ở tỉnh Đồng Nai đúng đắn hơn Mặt khác, cũng cần phải thấy được khả năng phát triển kinh tế của từng huyện, thành phố mà đề xuất những phương hướng, giải pháp nhằm phát triển kinh tế xã hội một cách có hiệu quả trong thời kì tới vì nó gắn liền với CLCS của dân cư
5.1.3 Quan điểm sinh thái - phát triển bền vững
Môi trường sống và CLCS của dân cư có mối quan hệ mật thiết và hữu cơ với nhau Môi trường sống có ảnh hưởng trực tiếp đến CLCS của dân cư, đặc biệt là sức khỏe và tuổi thọ của người dân Vì vậy, khi nghiên cứu chúng ta cần xem môi trường như là một bộ phận của CLCS dân cư
Sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người phải đảm bảo sự phát triển bền vững của môi trường sinh thái Việc nghiên cứu và đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao CLCS phải dựa trên quan điểm phát triển bền vững mới đảm bảo tính ổn định lâu dài Vì vậy, mối quan hệ giữa tự nhiên và sự phát triển xã hội là vấn đề cần giải quyết của bất kì một đề tài nghiên cứu nào
Trang 205.1.4 Quan điểm lịch sử - viễn cảnh
Bản thân chất lượng cuộc sống mang tính lịch sử, chất lượng cuộc sống dân cư được phân tích trong hoàn cảnh cụ thể ở tỉnh Đồng Nai và qua những giai đoạn phát triển cụ thể Quan điểm lịch sử nhằm phát hiện sự biến đổi theo thời gian của các chỉ tiêu về CLCS, giải thích nguyên nhân biến động hiện tại và tương lai
5.2 Phương pháp nghiên cứu
5.2.1 Phương pháp phân tích - tổng hợp
Đây là phương pháp quan trọng, xuyên suốt cả quá trình nghiên cứu đề tài, phương pháp được sử dụng để hệ thống lại các tri thức về bức tranh chung của đối tượng và khách thể nghiên cứu Quá trình làm đề tài cần tiến hành thu thập, phân tích
và tổng hợp tài liệu, số liệu thống kê của các cơ quan, qua sách, báo, tạp chí, các nghiên cứu đã được công bố của các cơ quan, ban ngành của tỉnh
5.2.4 Phương pháp thực địa
Thực địa là phương pháp nền tảng của Địa lý học, là phương pháp quan trọng của những người nghiên cứu Địa lý, tư liệu thu được bằng phương pháp thực địa là nguồn tư liệu tốt nhất dành cho tác giả muốn tìm kiếm vấn đề theo quan điểm toàn diện về văn hóa và tình trạng sinh sống của con người Trong quá trình nghiên cứu thực địa, ghi chép là thông tin không thể thiếu, là công việc bắt buộc của người nghiên cứu để phân tích, xử lí thông tin một cách chính xác hơn và làm cơ sở minh chứng cho
Trang 21những lập luận sau này Kết quả điều tra là một trong những căn cứ để xây dựng các giải pháp
5.2.5 Phương pháp thu thập tài liệu
Nghiên cứu chất lượng cuộc sống trong một thời gian dài là vấn đề phức tạp và mang tính đa chiều, liên quan đến nhiều khía cạnh Vì vậy, tất cả các số liệu thống kê
về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội từ cấp huyện đến cấp tỉnh Đồng Nai đều là những dữ liệu phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài Để phục vụ cho việc nghiên cứu đạt hiệu quả cao thì các số liệu cần được hệ thống hóa khoa học để tránh những thiếu sót sau này
Nguồn dữ liệu được thu thập bao gồm từ nhiều nguồn khác nhau: Niên giám thống kê, số liệu qua các tài liệu báo cáo và các sổ sách lưu trữ tại các cơ quan, thống
kê qua các số liệu khảo sát từ thực địa…
- Kế thừa, bổ sung và cập nhật cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng cuộc sống dân
Trang 227 Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1 Cơ sở và thực tiễn về chất lượng cuộc sống dân cư
Chương 2 Hiện trạng chất lượng cuộc sống của dân cư tỉnh Đồng Nai
Chương 3 Các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư tỉnh Đồng Nai
Trang 23Ch ương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG DÂN CƯ
1.1 Cơ sở lý luận về chất lượng cuộc sống
1.1.1 Quan niệm về chất lượng cuộc sống
Chất lượng
Nâng cao CLCS dân cư là mục tiêu phấn đấu của thế giới nói chung cũng như các quốc gia, các vùng nói riêng, đặc biệt là những vùng nghèo khó trên thế giới Trong thực tế người ta quen nói chất lượng có nghĩa: tuyệt vời của sản phẩm hay dịch
vụ Có thể chấp nhận hiểu chất lượng có nghĩa là có ích trong cuộc sống con người, sự thỏa mãn nhu cầu của cuộc sống cong ngưởi
Chất lượng cuộc sống
Mỗi giai cấp và tầng lớp trong xã hội có một quan điểm riêng về CLCS, nó bao hàm nhiều khía cạnh khác nhau và các khía cạnh của CLCS đều rất quan trọng Tuy nhiên, một số xã hội nhấn mạnh vào khía cạnh này nhiều hơn khía cạnh khác Chẳng hạn như ở xã hội theo chủ nghĩa Duy vật sẽ nói rằng kinh tế là quan trọng nhất, ngược lại xã hội hiện đại có thể nhấn mạnh hơn về khía cạnh chính trị, văn hóa, tinh thần Chính vì lí do đó, niềm tin và giá trị của cá nhân ảnh hưởng tới định nghĩa của một xã hội về CLCS
CLCS là sự phản ánh, đáp ứng các nhu cầu của xã hội và thực sự khó tiếp cận vì
nó phụ thuộc vào giá trị, cơ sở văn hóa của mỗi quốc gia, thời gian nghiên cứu cũng làm cho các quan niệm về CLCS trở nên đa dạng
Chất lượng cuộc sống (Quality of life) là một khái niệm rộng, đã từng được hiểu
theo nhiều nghĩa khác nhau và được đo bằng nhiều tiêu chí khác nhau Và nó được hiểu là sự thỏa mãn một số nhu cầu cơ bản của con người, thể hiện qua 2 mặt: lối sống
và mức sống
Mức sống là trình độ sinh hoạt vật chất của con người phản ánh trình độ đạt được về mặt sản xuất và là phương tiện để đánh giá CLCS
Trang 24 Lối sống là một phạm trù xã hội học khái quát toàn bộ hoạt động sống của các dân tộc, giai cấp, nhóm xã hội, các cá nhân trong những điều kiện của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định và biểu hiện trên các lĩnh vực của đời sống (trong lao động, hưởng thụ, trong quan hệ, giữa người với người trong sinh hoạt tinh thần và văn hóa)
Vậy, mức sống nằm trong chất lượng cuộc sống, mức sống là thước đo về phúc lợi vật chất còn chất lượng cuộc sống là thước đo cả về phúc lợi vật chất và giá trị tinh thần
Trong các tác phẩm của C.Mác hay của các nhà kinh tế chính trị cổ điển khác như A.Smith, D.Ricardo, R.Malthus, J.S.Mill đã có tư tưởng mở rộng và đề cao các giá trị về CLCS của con người CLCS như là mục đích trong việc tạo điều kiện thuận lợi giúp con người có một cuộc sống vật chất và tinh thần phong phú
Theo R.C.Sharma thì CLCS là một khái niệm phức tạp, nó đòi hỏi sự thỏa mãn cộng đồng chung xã hội, cũng như những khả năng đáp ứng được nhu cầu cơ bản của
chính bản thân xã hội Trong tác phẩm nổi tiếng “Dân số, tài nguyên, môi trường và
chất lượng cuộc sống”, ông đã định nghĩa: “Chất lượng cuộc sống là sự cảm giác được
hài lòng (hạnh phúc hoặc thỏa mãn) với những nhân tố của cuộc sống, mà những nhân
tố đó được coi là quan trọng nhất đối với bản thân một con người Thêm vào đó, chất lượng là sự cảm giác được hài lòng với những gì mà con người có được Nó như là cảm giác của sự đầy đủ hay là sự trọn vẹn của cuộc sống” Theo R.C.Sharma thì mức sống của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng xã hội được coi là yếu tố quan trọng để tạo ra CLCS
Trong xã hội hiện đại, khái niệm chất lượng cuộc sống thường được đồng nhất
với khái niệm thoải mái tối ưu Trong đó, mối quan tâm chính của việc nâng cao chất
lượng cuộc sống là tạo ra một trạng thái thoải mái về vật chất và tinh thần, là tăng cường thời gian nghỉ ngơi Sự tối ưu hóa mức độ thoải mái được thể hiện trong sự đa dạng hóa các sản phẩm tiêu dùng mà mỗi cộng đồng xã hội, mỗi gia đình hay mỗi cá nhân có được
Nội dung khái niệm CLCS đã được Wiliam Bell mở rộng toàn diện hơn Theo ông, CLCS thể hiện ở 12 đặc trưng:
Trang 25(1) An toàn thể chất cá nhân
(2) Sung túc về kinh tế
(3) Công bằng trong khuôn khổ pháp luật
(4) An ninh quốc gia được đảm bảo
(5) Bảo hiểm lúc già yếu và ốm đau
(6) Hạnh phúc về mặt tinh thần
(7) Sự tham gia của mỗi cá nhân vào đời sống xã hội
(8) Bình đẳng về giáo dục, y tế
(9) Chất lượng đời sống văn hóa
(10) Quyền tự do công dân
(11) Chất lượng môi trường kỹ thuật
(12) Chất lượng môi trường sống và khả năng chống ô nhiễm
Trong đó, ông nhấn mạnh nội dung “An toàn” và đã khẳng định CLCS được đặc trưng bằng sự an toàn trong một môi trường tự nhiên trong lành và môi trường xã hội lành mạnh Một cuộc sống sung túc là cuộc sống được đảm bảo bởi những nguồn lực cần thiết cho nhu cầu của con người Đồng thời con người phải được sống trong môi trường tự nhiên trong lành, không bị ô nhiễm, môi trường xã hội lành mạnh và bình đẳng, không bị ảnh hưởng bởi các tệ nạn xã hội Vì vậy, CLCS là đặc trưng cơ bản về một xã hội văn minh có trình độ phát triển cao về mọi mặt
Để định lượng khái niệm CLCS, ở Thái Lan đã xây dựng 37 chỉ tiêu phản ánh các nội dung cốt lõi của CLCS là ăn, mặc, nhà ở và môi trường, sức khỏe, giáo dục và thông tin, an toàn, việc làm Từ đó, đưa ra tiêu chuẩn đánh giá chất lượng cuộc sống theo 3 mức: yếu kém (1 sao), trung bình (2 sao) và khá (3 sao)
Một khái niệm mang tính chất đơn giản hơn nhằm đánh giá CLCS là vấn đề
phát triển con người Theo UNDP, “phát triển con người” là quá trình nâng cao năng
lực cho các cộng đồng và cá nhân, sự gia tăng cơ hội cho mọi người để có thể tiếp cận với các điều kiện sống, học tập tốt hơn Phát triển con người phải đảm bảo tính bền vững, bình đẳng và nâng cao vị thế của nó Vấn đề phát triển con người được cải thiện
Trang 26sẽ là điều kiện cho con người cải thiện cuộc sống của mình và tạo ra sự kết hợp các nguồn vật chất và nguồn vốn con người có hiệu quả hơn
Như vậy, có thể hiểu chất lượng cuộc sống là sự phản ánh, sự đáp ứng những nhu cầu của xã hội, trước hết là nhu cầu về vật chất cơ bản tối thiểu của con người Mức đáp ứng đó càng cao thì CLCS càng cao Bên cạnh đó, CLCS còn được gắn liền với môi trường và sự an toàn của môi trường Một cuộc sống sung túc là một cuộc sống được đảm bảo bởi những nguồn lực cần thiết như cơ sở hạ tầng hiện đại, các điều kiện vật chất và tinh thần đầy đủ Đồng thời, con người phải được sống trong một môi trường tự nhiên trong lành, bền vững, không bị ô nhiễm; một môi trường xã hội lành mạnh và bình đẳng, không bị ảnh hưởng bởi các vấn nạn xã hội
Từ những phân tích trên, có thể quan niệm về chất lượng cuộc sống như sau:
“ CLCS là một chỉ số tổng hợp thể hiện về trí tuệ, tinh thần và vật chất của con người,
là mục tiêu phấn đấu nhằm đáp ứng sự phát triển bền vững của mọi quốc gia CLCS càng cao thì con người càng có nhiều khả năng lựa chọn trong việc phát triển cá nhân
và trong hưởng thụ các giá trị vật chất và tinh thần mà xã hội đã tạo ra”
1.1 2 Các tiêu chí phản ánh chất lượng cuộc sống dân cư
CLCS dân cư là vấn đề tương đối phức tạp, khó có một chỉ tiêu cụ thể nào mang tính tổng hợp để đo lường và so sánh Trong khuôn khổ của đề tài, dựa vào một số tiêu chí: thu nhập bình quân đầu người, giáo dục, y tế và điều kiện sống của con người
1.1.2.1 HDI – một tiêu chí tổng hợp phản ánh chất lượng cuộc sống
Con người là vốn quý nhất, là mục tiêu phải hướng tới của mọi hoạt động kinh
tế - xã hội của mỗi quốc gia và thế giới Việc lựa chọn các tiêu chí phản ánh sự phát triển con người có ý nghĩa rất quan trọng Trước đây người ta thường dựa vào tiêu chí GDP/người hoặc GNI/người để phân chia thành các nhóm nước giàu và nghèo Tuy nhiên, thực tế cho rằng, không phải bất cứ nước nào có thu nhập cao thì trình độ dân trí đều cao, chú ý đến vấn đề chăm sóc sức khỏe và phúc lợi xã hội của con người Ngược lại, nhiều quốc gia thu nhập bình quân đầu người chỉ ở mức trung bình, thấp, đời sống vật chất còn nhiều khó khăn nhưng lại quan tâm đến mục tiêu giáo dục, y tế
Trang 27và chăm sóc sức khỏe cho người dân Từ những năm 1990, Chương trình Phát triển
của Liên hiệp quốc (UNDP) đưa ra chỉ số phát triển con người HDI (Human
Development Index), Chỉ số nghèo khổ cho con người ở các nước đang phát triển (HPI), Chỉ số phát triển giới (GDI) Trong khuôn khổ đề tài này cho rằng chỉ số HDI là tổng hợp và phù hợp nhất để đánh giá CLCS dân cư tỉnh Đồng Nai Còn đối với chỉ số nghèo khổ cũng đề cập một cách khái quát thể thấy được các khía cạnh của chất lượng cuộc sống con người
HDI là thước đo tổng hợp về sự phát triển của con người, phản ánh mức độ đạt được những khát vọng chung của họ Đó là có sức khỏe dồi dào, có tri thức và mức thu nhập cao Chỉ số HDI đo thành tựu của mỗi quốc gia trên ba lĩnh vực cơ bản:
Một cuộc sống dài lâu và mạnh khỏe được đo bằng tuổi thọ trung bình dự kiến
từ lúc sinh
Kiến thức của dân cư được đo bằng tỉ lệ người biết chữ (với trọng số 2/3) và tỉ
lệ nhập học các cấp (tiểu học, THCS, THPT và Đại học với trọng số 1/3), cụ thể là:
+ Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là tổng sản lượng và dịch vụ tiêu dùng cuối cùng mà một nền kinh tế tạo ra bên trong một quốc gia, trong một thời kỳ nhất định, thường là một năm
Trang 28+ Phương pháp sức mua tương đương (PPP) do Liên Hợp Quốc đưa ra cho phép có sự so sánh chuẩn về giá trị thực tế giữa các quốc gia Tại mức giá PPP, 1 USD
có sức mua đối với GDP trong nước ngang bằng USD đó
Như vậy, chỉ tiêu GDP điều chỉnh theo PPP tính bằng USD phản ánh đúng hơn kết quả sản xuất hàng hóa và dịch vụ của từng quốc gia và được so sánh trên cùng một mặt bằng là sức mua tương đương GDP và PPP bình quân đầu người được tính bằng tổng sản phẩm quốc nội và GDP được chuyển đổi theo phương pháp sức mua của một quốc gia chia cho tổng số dân cư ở một thời kỳ nhất định, đơn vị tính là USD/người
Hình 1.1 Chỉ số phát triển con người
Ng uồn: Nguyễn Minh Tuệ (chủ biên) (2007), Địa lí kinh tế xã hội đại cương, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm - Hà Nội.
Để tính được giá trị HDI, trước hết cần tính ba chỉ số thành phần: tuổi thọ, kiến thức và thu nhập Quy tắc chung để tính các chỉ số thành phần này là sử dụng các giá trị tối thiểu và tối đa cho từng chỉ số theo công thức sau:
GDP thực tế bình quân đầu
người (PPPUSD)
Chỉ số tuổi thọ (I 1 )
Chỉ số giáo dục (I 2 ) Chỉ số GDP
(I 3 )
Chỉ số phát triển con người (HDI)
Giá trị thực – Giá trị tối thiểu Giá trị tối đa – Giá trị tối thiểu
Trang 29Các giá trị biên (tối đa – max và tối thiểu – min) của tuổi thọ, kiến thức và GDP/ người thực tế theo PPP cho tất cả các nước – là giá trị quốc tế
Bảng 1.1 Các giá trị quốc tế để tính chỉ số HDI
Bảng 1.2 Bảng xếp hạng một số quốc gia về HDI năm 2010 (trong 169 quốc gia)
Quốc gia Xếp hạng HDI GDP/người (PPP) Tuổi thọ trung bình (năm) biết chữ (%) Tỉ lệ người HDI
Trang 30không quan tâm đầy đủ tới việc nâng cao dân trí và chăm sóc sức khỏe người dân thì
vị trí HDI sẽ giảm
Một số quốc gia khác có mức thu nhập thấp nhưng chính phủ quan tâm đến y
tế, giáo dục nên giá trị HDI tăng lên
Bảng 1.3 Các nước có thu nhập như nhau nhưng có sự khác nhau về HDI
Nhóm HDI thấp, có giá trị từ 0,000 đến 0,499
Nhóm HDI trung bình, có giá trị từ 0,500 đến 0,799
Nhóm HDI cao, có giá trị từ 0,800 tới 1,000
Trong số 169 quốc gia cung cấp số liệu để xây dựng HDI năm 2010, 42 quốc gia xếp hạng rất cao, 43 quốc gia xếp hạng HDI cao, 42 quốc gia xếp hạng HDI trung bình, 42 quốc gia xếp hạng HDI thấp, trong đó Việt Nam xếp hạng 113 với giá trị 0,728
Trang 31Bảng 1.4 So sánh mức thu nhập và chỉ số HDI giữa các quốc gia năm 2010
1.1 2.2 Chỉ số thu nhập bình quân đầu người
Thu nhập là một phương tiện rất quan trọng để mở rộng sự lựa chọn của con người và được sử dụng trong chỉ số HDI như một yếu tố phản ánh mức sống đầy đủ Thu nhập có tầm quan trọng nhất định trong việc quyết định khả năng con người sử dụng các nguồn lực cần thiết để tiếp cận được với nhu cầu thiết yếu của con người và mang đến nhiều lựa chọn hơn
GDP và GDP bình quân đầu người
Trang 32Hầu hết các quốc gia trên thế giới hiện nay đều lựa chọn tiêu chí thu nhập bình quân theo đầu người (GDP/người hay GNI/người hoặc GNP/người) là tiêu chí chính
để đánh giá chất lượng cuộc sống dân cư
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là tổng sản lượng hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng cuối cùng mà một nền kinh tế tạo ra bên trong một quốc gia, không phân biệt người trong nước hay người nước ngoài làm ra ở một thời kỳ nhất định, thường là một năm
GDP là một trong 3 chỉ số đánh giá phát triển nhân bản HDI (cùng với y tế và giáo dục) Tổng sản phẩm trong nước thể hiện số lượng nguồn của cải làm ra ở bên trong quốc gia, thể hiện sự phồn vinh và khả năng phát triển kinh tế
Vậy, GNI = GDP + nguồn thu từ nước ngoài – nguồn thu nhập phải chuyển cho người nước ngoài (Thu nhập từ nước ngoài do có vốn đầu tư ra nước ngoài, nguồn thu
do người lao động từ nước ngoài gửi về, thu nhập phải chuyển cho người nước ngoài
do vốn đầu tư của họ trong nước) Do đó, GNI là thước đo tổng hợp lớn của thu nhập quốc dân GNI chỉ rõ sở hữu và hưởng thụ được nguồn của cải làm ra
GNI và GDP bình quân đầu người được tính bằng GNI và GDP chia cho tổng dân số của quốc gia đó ở cùng thời điểm Việc tính GNI/người và GDP/người có ý nghĩa rất lớn, thông qua chỉ tiêu này có thể đánh giá khả năng và trình độ phát triển kinh tế và mức sống của người dân ở từng nước
Trên thế giới, ngoài GDP và GDP/người của mỗi nước được quy đổi sang USD quốc tế, Liên Hợp Quốc còn đưa ra phương pháp tính thu nhập của dân cư theo sức mua tương đương (PPP) Tỉ giá này cho phép so sánh về chuẩn mực giá thực tế giữa các nước, vì CLCS của dân cư ở các nước không chỉ khác biệt do ảnh hưởng đơn thuần của giá trị thu nhập theo đầu người mà còn sẽ bị chi phối lại do giá cả sinh hoạt của mỗi quốc gia, mỗi vùng khác nhau
GDP bình quân đầu người được tính bằng USD/người, ở Việt Nam được tính bằng USD/người hoặc bằng Việt Nam đồng/người Thông qua tiêu chí này chúng ta có thể đánh giá được trình độ kinh tế, mức sống của mỗi người dân trong từng nước hoặc
so sánh giữa các địa phương
Trang 33GDP có tương quan chặt chẽ với các chỉ tiêu về CLCS, vì GDP lớn sẽ dẫn đến mức sống cao hơn, giữa những nước giàu và nước nghèo có GDP bình quân đầu người chênh lệch rất lớn
Bảng 1.5 Xếp hạng chênh lệch GDP giữa các nước giàu và nước nghèo 2010
Quốc gia GDP thực tế đầu người (USD) Tuổi thọ trung bình (năm) Tỷ lệ biết chữ của người trưởng thành (%)
Nguồn HDR năm 2010 – Báo cáo phát triển thế giới năm 2010
Bảng số liệu trên cho thấy 10 nước đông dân nhất thế giới xếp theo thứ hạng GDP bình quân theo đầu, những con số này chỉ ra một xu hướng rằng: ở các giàu như Hoa Kỳ, Nhật Bản, tuổi thọ trung bình trên 80 tuổi, tỷ lệ người biết chữ là 99%, ở các nước nghèo như Pakistan, Banglades, tuổi thọ trung bình của người dân chỉ trên 60 tuổi, và chỉ có trên 50% dân số biết chữ Như vậy có thể khẳng định, GDP của một quốc gia có liên quan chặt chẽ với mức sống của người dân nước đó
Thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình
Thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình là toàn bộ tiền và hiện vật mà
hộ và thành viên của hộ nhận được trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm), bao gồm:
- Thu từ tiền công, tiền lương
- Thu từ sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản (đã trừ chi phí và thuế sản xuất)
- Thu từ sản xuất ngành nghề
- Thu khác
Trang 34 Chỉ số nghèo đói
Nghèo là tình trạng thiếu thốn ở nhiều phương diện, thiếu thốn về thu nhập, về
cơ hội, về tài sản vật chất, thể chất cũng như tinh thần gây cản trở cho sự phát triển một cách đầy đủ mọi tiềm năng của con người
Nghèo đói là một khái niệm đã được sử dụng từ rất lâu trên thế giới để chỉ mức sống của một nhóm dân cư, một cộng đồng, một nhóm quốc gia so với mức sống của cộng đồng hay các quốc gia khác
Nghèo đói là không có khả năng đảm bảo được sức khỏe và cuộc sống, không
có khả năng có thể tiếp cận đến các nguồn tri thức, thu nhập thấp không được đảm bảo các nhu cầu tối thiểu của cuộc sống như sử dụng nước sạch, không được tiếp cận dịch
vụ khám chữa bệnh, không được đảm bảo mức dinh dưỡng Theo quan niệm trên, để
đo lường một cách tổng hợp tình trạng đói nghèo hiện nay người ta sử dụng chỉ số
nghèo đói tổng hợp HPI (Human Poverty Index) Chỉ số HPI được phân thành hai loại:
HPI-2 dùng cho các nước công nghiệp hóa và HPI-1 dùng cho các nước đang phát triển Chỉ số HPI-1 được tính dựa vào ba thước đo cơ bản là:
- Tính dễ tổn thương dẫn đến cái chết ở độ tuổi tương đối trẻ được đo bằng xác suất không thọ quá 40 tuổi (P1)
- Sự bị loại trừ ra khỏi thế giới của những người biết chữ và có khả năng giao tiếp, được đo bằng tỉ lệ người lớn mù chữ (P2)
- Sự thiếu khả năng tiếp cận với những thành quả kinh tế chung (P3) được đo lường bằng ba biến số: tỉ lệ người dân không có khả năng tiếp cận với nguồn nước sạch (P31), tỉ số người dân không có khả năng tiếp cận với các dịch vụ y tế (P32) và tỉ
lệ trẻ em dưới 5 tuổi thiếu cân và suy dinh dưỡng (P33) Giá trị biến P3 được tính là:
3
33 32
31
3
P P
P HPI
Về cơ bản, đói nghèo được xác định trong mối tương quan xã hội Có hai dạng đói nghèo: nghèo về thu nhập (nghèo tuyệt đối) và nghèo về con người (nghèo tương
Trang 35đối) Nghèo về con người được xác định bằng mức thu nhập để chi hàng hóa, dịch vụ theo mức nghèo lương thực, thực phẩm và cả những chi tiêu cho các nhu cầu thiết yếu ngoài lương thực, thực phẩm
Chuẩn nghèo tương đối đề cập đến sự thiếu hụt của cá nhân (hộ gia đình) so với mức sống trung bình đạt được Chuẩn này cũng không có sự thống nhất giữa các quốc gia Nhìn chung trên thế giới các nước phát triển xác định chuẩn nghèo dựa trên 1/2 thu nhập bình quân còn các nước đang phát triển là 1/3 thu nhập bình quân
Chuẩn nghèo tuyệt đối tức là chuẩn nghèo 1-2 USD/ngày/người Chuẩn nghèo quốc tế do Liên hiệp quốc công bố và quy định 2 USD/ngày/người cho các nước phát triển, 1 USD/ngày/người cho các nước đang phát triển Tuy nhiên, hiện nay nhiều nước đang phát triển cũng nâng dần chuẩn lên 2 USD/ngày/người
Việc tồn tại đồng thời hai chuẩn nghèo với phương pháp tiếp cận và nội dung tính toán khác nhau dẫn đến có sự khác biệt lớn về tỉ lệ đói nghèo trong một quốc gia
Vì vậy, việc xây dựng chuẩn nghèo mới là có tính cấp thiết cần được thực hiện Bộ LĐ-TB-XH, Tổng cục thống kê và các cơ quan liên quan đã nghiên cứu đưa ra chuẩn nghèo thống nhất cho cả nước Tỉ lệ hộ nghèo được tính theo thu nhập bình quân 1 người 1 tháng của hộ gia đình
Bảng 1.6 Chuẩn nghèo của Việt Nam giai đoạn 2002 – 2015 (VNĐ/tháng)
Nguồn: Chuẩn nghèo giai đoạn 2002 – 2015, Bộ lao động thương binh xã hội 2011
Những hộ có mức thu nhập bình quân đầu người thấp hơn hoặc bằng chuẩn nghèo được xác định là hộ nghèo
Trang 36Tỉ lệ hộ nghèo: là phần trăm số hộ có mức thu nhập/chi tiêu bình quân theo đầu người thấp hơn chuẩn nghèo
1.1.2 3 Chỉ số về giáo dục
Giáo dục
Là một trong những chỉ số cơ bản nói lên CLCS, trình độ học vấn củ mỗi nước phản ánh mức độ phát triển của quốc gia và mức độ hưởng thụ dịch vụ giáo dục của dân cư Trình độ học vấn cao là điều kiện rất quan trọng để con người phát triển toàn diện, dễ thích ứng với điều kiện phát triển của xã hội và khoa học kỹ thuật Do đó, ngày nay trên thế giới, nhiều quốc gia trên thế giới đã coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, là một trong những nhiệm vụ trọng tâm để nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân
Chỉ số về giáo dục được dùng làm thước đo trình độ dân trí làm nên CLCS của dân cư bao gồm các chỉ tiêu về tỷ lệ người lớn biết chữ, trình độ văn hóa và tay nghề,
số năm đến trường, tỷ lệ người mù chữ
Trình độ văn hóa và tay nghề
Trình độ văn hóa hay trình độ học vấn nói lên khả năng tích lũy kiến thức của khối dân cư và được thể hiện qua các chỉ tiêu như tỷ lệ người lớn biết chữ, số người tốt nghiệp các cấp học từ thấp đến cao Trình độ tay nghề là trình độ chuyên môn kỹ thuật của lực lượng lao động chính trong khối dân cư được thể hiện qua các chỉ tiêu như tỷ
lệ lực lượng lao động có trình độ chuyên môn (sơ cấp, công nhân kỹ thuật, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ) trong tổng số lao động đang hoạt động trong các ngành kinh tế của đất nước
Trang 37Trình độ văn hóa và trình độ tay nghề luôn có mối quan hệ khăng khít với nhau đồng thời có liên quan nhiều đến chỉ số thu nhập của từng quốc gia Các nước có nền kinh tế phát triển thì các chỉ số phản ánh về trình độ văn hóa và trình độ tay nghề trong khối dân cư thường rất cao, ngược lại ở các nước chậm phát triển thì các chỉ số này thường rất thấp
Hiện nay, trình độ văn hóa và tay nghề của lực lượng lao động đang có sự chuyển biến theo hướng tích cực, chất lượng cuộc sống của dân cư ngày càng được cải thiện, tỷ lệ người biết chữ và tốt nghiệp các cấp học theo hướng tăng dần các cấp học ngày càng cao Về trình độ chuyên môn kỹ thuật, số lao động có tay nghề ngày càng tăng và họ đang là những lực lượng lao động mang lại chất lượng hiệu quả cao trong các ngành kinh tế Tuy nhiên, ở các nước có nền kinh tế đang phát triển việc sử dụng lao động không có tay nghề trong các ngành kinh tế vẫn còn chiếm tỷ lệ cao
Hiện nay, ở các quốc gia đang phát triển tình hình này đang có sự chuyển biến theo hướng tích cực, CLCS của dân cư ngày càng được cải thiện, tỉ lệ người biết chữ
và tốt nghiệp các cấp học theo hướng tăng dần các cấp học theo hướng tăng dần các cấp học từ thấp ngày càng cao Trên thế giới hiện nay còn 21,4% số dân từ 15 tuổi trở lên không biết chữ, tỷ lệ này ở các nước đang phát triển là 23,3%, trong đó ở các nước phát triển chỉ có 2,1%, số dân không biết chữ đặc biệt cao ở một số nước Châu Á và Châu Phi
Số năm đến trường
Cùng với chỉ số tỷ lệ người lớn biết chữ thì số năm đến trường cũng là một chỉ số quan trọng để đánh giá chất lượng học vấn của dân cư ở mỗi quốc gia Số năm đến trường là số năm bình quân đã được học ở trường của những người từ 15 tuổi trở lên
Tiêu chí số năm đến trường có liên quan nhiều đến chỉ số thu nhập ở mỗi quốc gia Các nước có thu nhập thấp thường có số năm đi học thấp (trung bình 3-4 năm, thậm chí ở Châu Phi có một số nước chỉ có số năm đi học trung bình là 1,6 năm) Các nước có thu nhập trung bình có số năm đi học trung bình thường là 5,3 năm Các nước
có thu nhập cao chỉ số này rất cao, thường là 10,6 năm (Bắc Mỹ: 12,4 năm, Châu Âu: 11,1 năm ) Nhìn chung, ở hầu hết các nước đều có số năm đi học của nam giới
Trang 38thường cao hơn nữ giới Chỉ số số năm đến trường là một trong các chỉ số phản ánh trung thực CLCS của từng nước
1.1.2.4 Chỉ số tuổi thọ
Sức khỏe là vốn quý và là một yếu tố quan trọng đảm bảo hạnh phúc cho mỗi con người Sức khỏe toàn dân là điều kiện cần thiết để thực hiện các mục tiêu phát triển của mỗi quốc gia, là tương lai của dân tộc Sức khỏe là yếu tố cơ bản của chất lượng cuộc sống dân cư Sức khỏe vừa là mục đích, vừa là điều kiện của sự phát triển Việc chăm sóc tốt sức khỏe sẽ làm tăng nguồn nhân lực về mặt số lượng nhờ kéo dài tuổi thọ Các quốc gia trên toàn thế giới không chỉ quan tâm về mặt số lượng mà còn chú ý đến chất lượng dân số, chất lượng nòi giống, trong đó có mục tiêu nâng cao thể lực cho con người
Để đánh giá trạng thái sức khỏe và mức độ bảo đảm y tế cho dân cư của một quốc gia, người ta thường sử dụng các tiêu chí như tỉ lệ người chết, tuổi thọ bình quân, tình trạng dinh dưỡng, tỉ lệ người có bệnh, số bác sĩ, y tá - y sĩ trên 1 vạn dân, số giường bệnh trên 1 vạn dân, ngân sách đầu tư cho y tế (% GDP và bình quân đầu người)
Tuổi thọ bình quân: Là số năm trung bình của một người có khả năng sống
được Chỉ số tuổi thọ bình quân có liên quan chặt chẽ với tỉ lệ tử vong, đặc biệt là tử vong ở trẻ em Các phương pháp tính tuổi thọ trung bình:
- Phương pháp lập bảng sống và tính tuổi thọ trung bình dựa trên số liệu về người chết và dân số chia theo độ tuổi (tỉ suất chết đặc trưng theo độ tuổi)
- Phương pháp hệ số sống giữa hai cuộc điều tra (sử dụng dân số chia theo độ tuổi của hai cuộc Tổng điều tra dân số)
- Phương pháp ước lượng qua số liệu về tỉ suất chết của trẻ sơ sinh và bảng sống mẫu Mức độ chính xác của tuổi thọ tính theo phương pháp này phụ thuộc vào mức độ chính xác của tỉ suất chết của trẻ sơ sinh và phải chọn được bảng sống mẫu phù hợp Tuy nhiên, do số trẻ chết dưới 1 tuổi và số trẻ sinh trong năm thường dễ thu thập nên tỉ suất chết của trẻ sơ sinh có thể xác định tương đối chính xác Vì vậy,
Trang 39phương pháp này được các nước đang phát triển có trình độ thống kê yếu sử dụng một cách phổ biến
Nhìn chung, khi thu nhập bình quân theo đầu người càng cao thì tuổi thọ trung bình càng tăng Trong những năm gần đây tuổi thọ đã tăng cao ở một số nước, nhưng đặc biệt lại giảm mạnh ở một số nước mà nguyên nhân không chỉ do mức thu nhập thấp mà còn do ảnh hưởng nặng nề bởi các bệnh tật gây tử vong, trong đó nơi ảnh hưởng nặng nề nhất vẫn là các quốc gia đang phát triển, đặc biệt là các quốc gia ở châu Phi
Các dịch vụ y tế: Các dịch vụ y tế có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con
người và CLCS Các dịch vụ y tế làm tăng chất lượng của nguồn nhân lực cả trong hiện tại lẫn tương lai Các tiêu chí phản ánh mức độ được đáp ứng về dịch vụ y tế như:
số bệnh viện, trạm xá, số giường bệnh, số cán bộ y tế/10.000 dân
1.1.2.5 Các tiêu chí khác
Lương thực và dinh dưỡng
Nhu cầu về lương thực là nhu cầu thiết yếu trong đời sống con người, nhu cầu đó thể hiện ở hai mặt: số lượng và chất lượng thay đổi theo độ tuổi, giới tính, mức độ lao động… Lương thực – thực phẩm cùng với chế độ ăn uống theo khẩu phần vá cơ cấu bữa ăn là những yếu tố cơ bản tạo nên dinh dưỡng để cung cấp cho cơ thê người (prôtêin, gluxit, lipit, vitamin, khoáng chất) Nếu khẩu phần ăn thiếu một vài chất này coi như không đủ chất lượng, trong đó quan trọng nhất là thành phần prôtêin (đạm)
Và có thể nói đạm là một tiêu chí quan trọng nói lên mức sống của hộ gia đình, một cộng đồng, quốc gia
Theo tiêu chí trên thì mức sống của nhân dân ở các khu vực trên thế giới có sự khác biệt rất lớn do phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: trình độ sản xuất của xã hội, năng lực lao động của con người trong xã hội, quy mô gia đình và sự phát triển của dân số
Ở các nước đang phát triển, việc cung cấp lương thực, thực phẩm chủ yếu dựa vào khai thác tự nhiên đất đai (trồng trọt và chăn nuôi) Và có đến 88% lương thực thực phẩm từ trồng trọt, 10% từ chăn nuôi và 2% từ thủy sản, cuộc sống của 70% dân
Trang 40số thế giới phụ thuộc 10 – 11% diện tích bề mặt đất Hiện nay, ở các nước đang phát triển có đến 60% gia đình thiếu ăn triền miên, có ít nhất 1 tỷ người trên Trái đất đang
bị nạn đói đe dọa ở các nước châu Phi
Trong quá trình sống và lao động, cơ thể con người phải thường xuyên tiêu hao năng lượng Năng lượng tiêu hao của con người do thức ăn cung cấp nhằm tái sản xuất sức lao động, người ta quy ước dùng đơn vị calo để đo nhu cầu năng lượng cơ thể Số calo tiêu dùng hằng ngày cho một người được coi là chỉ số tốt nhất về trình độ cung ứng các nhu cầu thiết yếu
Chính vì có sự cách biệt trong thu nhập giữa các nhóm nước dẫn đến khoảng cách rất lớn về nhu cầu dinh dưỡng cũng như các khía cạnh khác của con người nhất là ảnh hưởng tới tuổi thọ trung bình của người dân
Điều kiện sử dụng điện sinh hoạt: Vấn đề sử dụng điện trong sinh hoạt cũng
là yếu tố quan trọng phản ánh CLCS của dân cư Điều kiện sử dụng điện được phản ánh qua các tiêu chí: tỉ lệ số hộ dùng điện, số KWh tiêu thụ tính bình quân đầu người/tháng
Nhu cầu và khả năng sử dụng điện phản ánh trình độ phát triển kinh tế xã hội và mức sống của người dân ở mỗi quốc gia Theo đánh giá của UNDP, mặc dù hiện nay
đã bước sang đầu thế kỷ XXI, nhưng điều kiện sống của các nước đang phát triển bị tụt hậu so với các nước công nghiệp phát triển trên thế giới về nhiều mặt
Cùng với yếu tố lương thực – dnh dưỡng, điều kiện sử dụng nước sạch, tình hình sử dụng điện cũng có sự phân hóa giữa các nước Các nước đang phát triển và chậm phát triển mức tiêu thụ điện năng bình quân theo đầu người thấp hơn nhiều so với các nước có nền kinh tế phát triển
Sử dụng nước sạch: Sử dụng nước sạch luôn là nhu cầu cơ bản và cấp thiết
của con người Đây là yếu tố quan trọng để xem xét CLCS của dân cư
Tiêu chuẩn để xem xét điều kiện sử dụng nước sạch của dân cư là tỉ lệ người dân được sử dụng nguồn nước sạch (nước máy, nước ngầm, nước khai thác từ nguồn
lộ thiên đã qua xử lí )