1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tín ngưỡng phật giáo và thế giới nghệ thuật trong văn tế thập loại chúng sinh của nguyễn du

101 90 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 801,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý do chọn đề tài Văn tế thập loại chúng sinh là một kiệt tác có một không hai trong văn học trung đại, nhưng tác phẩm này hình như chưa nhận được nhiều sự ưu ái của các nhà nghiên cứu

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHXH&NV TP HỒ CHÍ MINH

٭٭٭٭٭٭٭٭٭٭٭٭٭٭٭٭٭٭٭٭٭٭٭٭٭

PHAN THỊ LOAN

TÍN NGƯỠNG PHẬT GIÁO VÀ THẾ GIỚI

NGHỆ THUẬT TRONG VĂN TẾ THẬP

LOẠI CHÚNG SINH CỦA NGUYỄN DU

LUẬN VĂN THẠC SỸ NGỮ VĂN

TP HỒ CHÍ MINH – 2014

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHXH&NV TP HỒ CHÍ MINH

٭٭٭٭٭٭٭٭٭٭٭٭٭٭٭٭٭٭٭٭٭٭٭٭٭

PHAN THỊ LOAN

TÍN NGƯỠNG PHẬT GIÁO VÀ THẾ GIỚI

NGHỆ THUẬT TRONG VĂN TẾ THẬP

LOẠI CHÚNG SINH CỦA NGUYỄN DU

CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM

MÃ SỐ: 0305010814

LUẬN VĂN THẠC SỸ NGỮ VĂN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS.TS LÊ GIANG

TP HỒ CHÍ MINH - 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác

Học viên thực hiện Luận văn

Phan Thị Loan

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Thầy Lê Giang – giáo viên hướng dẫn - đã động viên, khích lệ tinh thần cũng như đã tận tình chỉ dẫn cho tôi trong quá trình làm luận văn

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến quý Thầy, Cô trong khoa Văn học và ngôn ngữ đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành Luận văn này

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã giúp đỡ cho tôi để tôi có thể hoàn thành tốt luận văn của mình

Học viên

Phan Thị Loan

Trang 5

MỤC LỤC

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1

3 Lịch sử vấn đề 2

4 Phương pháp nghiên cứu 6

5 Cấu trúc luận văn 7

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 8

Chương 1: Văn bản Văn tế thập loại chúng sinh 1.1 Nguyễn Du và sự ra đời văn bản Văn tế thập loại chúng sinh 9

1.2 Lịch sử nghiên cứu và công bố văn bản Văn tế thập loại chúng sinh 15 Chương 2: Tín ngưỡng Phật giáo trong Văn tế thập loại chúng sinh 2.1 Tín ngưỡng Phật giáo 43

2.2 Quan niệm của Phật giáo trong Văn tế thập loại chúng sinh 51

2.3 Một số bài văn tế cô hồ thời cổ: Thập giới cô hồn quốc ngữ văn của Lê Thánh Tông 64

Chương 3: Thế giới nghệ thuật trong Văn tế thập loại chúng sinh 3.1 Thế giới nhân vật 72

3.2 Không – thời gian nghệ thuật trong Văn tế thập loại chúng sinh 83

Kết luận 89

Danh mục tài liệu tham khảo 91

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Văn tế thập loại chúng sinh là một kiệt tác có một không hai trong

văn học trung đại, nhưng tác phẩm này hình như chưa nhận được nhiều sự ưu

ái của các nhà nghiên cứu đương thời Họ chủ yếu tập trung vào nghiên cứu

đại thi phẩm Truyện Kiều mà quên đi Văn tế thập loại chúng sinh

Những công trình nghiên cứu về Văn tế thập loại chúng sinh còn chung chung, hầu như chưa có một công trình nào nghiên cứu về Tín ngưỡng

Phật giáo và thế giới nghệ thuật trong Văn tế thập loại chúng sinh Đồng thời

nghiên cứu về “Tín ngưỡng Phật giáo và thế giới nghệ thuật” là việc nghiên cứu rất cần thiết và quan trọng để chúng ta có một cái nhìn đúng đắn và về nội dung của tác phẩm cũng như tư tưởng của tác giả Nguyễn Du trong hoàn cảnh

xã hội Việt Nam đương thời

2 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Văn tế thập loại chúng sinh là một tác phẩm thấm đẫm tư tưởng Phật

giáo, đồng thời cũng là một bài văn tế mang đậm giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc Sự hòa quyện giữa Phật và Văn, giữa Đạo và Đời và tác dụng của nó trong đời sống con người, cũng như tầm vĩ đại của tư tưởng

Nguyễn Du là vấn đề mà luận văn hướng tới Bởi vì âm vang của tác phẩm

như vượt khỏi xứ Phật, lan khắp cõi trần ai thấm thật sâu vào buồng tim nhân ái của hàng vạn con người

Đối tượng khoa học luận văn nghiên cứu là : “Tín ngưỡng Phật giáo và

thế giới nghệ thuật trong Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du trong

mối tương quan với Phật giáo

Trang 7

Phạm vi khảo sát chủ yếu căn cứ trên cơ sở những ý kiến của các nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi chỉ tập trung khai thác thêm những vấn đề liên

quan đến “Tín ngưỡng Phật giáo và thế giới nghệ thuật trong Văn tế thập loại

chúng sinh

Phạm vi tư liệu: Văn bản Văn tế thập loại chúng sinh, ngoài bản chính

của cụ Lê Thước, đến ngày nay có rất nhiều dị bản Cho nên, trong luận văn này, chúng tôi chọn bản của cụ Lê Thước được giáo sư Hoàng Xuân Hãn

nghiên cứu trong công trình “Lễ Vu Lan và Văn tế thập loại chúng sinh của

Nguyễn Du” An tiêm xuất bản, 1995 làm bản trụ, kết hợp với sự tham khảo và

lựa chọn những câu thơ hay của các dị bản

3 Lịch sử vấn đề

Văn tế thập loại chúng sinh là một tác phẩm đặc sắc nhưng chưa được

nghiên cứu nhiều như Truyện Kiều Tác phẩm được nghiên cứu trong một số

công trình của các nhà nghiên cứu như Thanh Lãng, Phạm Thế Ngũ, Thạch Trung Giả, Xuân Diệu, Đặng Thị Hảo, Lê Thước…

Thanh Lãng trong Văn chương chữ Nôm [37], đã nhận xét: “Thực là

một áng văn kiệt tác: giọng não nùng thảm thiết nhưng hùng mạnh vô cùng

Ba cái đặc sắc trong Chiêu Hồn ca là: Nguyễn Du co một sức tưởng tượng

ghê ghớm, như chưa từng một thi sĩ nào có Dưới sức tưởng tượng sáng tạo

đó, các cô hồn được hiện hình rầy rụa dưới “gió mưa sấm sét đùng đùng” Mỗi tiếng, mỗi câu đều là những bầy yêu quái đang giằn vật, rên la gầm thét

Biệt tài vẽ hệt những bức tranh xã hội Tất cả những cô hồn đó hợp lại làm thành xã hội Việt Nam đời Nguyễn Du Rồi dưới những câu văn réo rắt

ấy, Nguyễn Du đã dấu một triết lý sâu xa của đạo Phật: thuyết nhân quả, luân hồi, giải thoát….”

Trang 8

Thạch Trung giả trong Văn học phân tích toàn thư [22], cho rằng:

“Kinh Chiêu Hồn tả thế giới của người chết, nhưng nó chỉ là phản ánh thế giới của người sống, đó là hình ảnh thời Lê mạt, mà cũng vì thế nên mặc dầu thê thảm ghê rợn như Kinh Chiêu Hồn vẫn không quái đản như những tác phẩm EdgarPoe, nó còn nhân loại tính vì nó tả tình cảnh nhân loại qua những bóng ma, nó cảm lòng ta chứ nó không muốn cho thần kinh phải thác loạn”[22,tr333]

Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, (tập 2)

[50] , nhận xét: “Bài này cũng là dịp cho ta thấy nơi Nguyễn Du một khiếu tưởng tượng phi thường hòa với một tình đồng cảm thật là bao la Bao trường hợp chết chóc, bao nhiêu cảnh ngộ thương vong, tác giả phác họa ra, khêu gợi lên với những tiết lâm ly thảm thiết Cảnh loạn lạc…nhất là bệnh dịch, phu phen, mất mùa, đói khổ, người chết như ra là một ám ảnh tai ách thường xuyên ở đời Lê mạt Chính những thảm cảnh ấy đã là nguồn văn nguồn ý nung nấu thành Chiêu hồn ca Nó khiến ta có thể xác định một lần nữa:

Nguyễn Du là thi sĩ muôn đời của Thống khổ và Tình thương”.[50,tr382] .

Cùng ý kiến với Phạm Thế Ngũ là Xuân Diệu trong bài viết Đọc Văn

Chiêu hồn, trong cuốn Các nhà thơ cổ điển Việt Nam [11] : “ Trong nền thơ

Việt Nam ta từ trước, có một tác phẩm rất độc đáo về đề tài, hầu như là duy nhất, nói đến những người chết, nói đến cái chết dưới trăm tình thế, chưa có bài thơ nào mà tập trung nói đến những hồn người chết như vậy-và thực chất

lại là sự ôm trùm rộng rãi những người sống-đó là Văn Chiêu hồn…

Kiếp sinh ra thế, biết là tại đâu

Ở thời đại ấy Nguyễn Du không biết tại sao mà xã hội khổ đến thế Bây giờ ta không trách Nguyễn Du về sự mù mờ ấy, (bởi) Nguyễn Du kêu gào ở trong bóng tối, cũng là phát hiện bóng tối cho ta: đó là một bản tố cáo gắt gao về đói rét, tật bệnh, chiến tranh phong kiến giành giật đất đai, mưu ma

Trang 9

chước quỉ của bọn quan lớn, về thân phận người đàn bà, về số phận người bình dân do sự phong phú của đề tài, mà cả xã hội người diễu qua trước mắt ta Còn trái tim lớn của Nguyễn Du một tấm lòng chứa được bấy nhiêu tình thương nhân loại! Tình thương ấy có xô bồ , lẫn lộn như đối với vài kẻ thuộc giai cấp bên trên; nhưng phần lớn, căn bản là dành cho những người bị cực khổ, oan ức, đói rét, đau đớn từ những người bị bọn vua quan bắt lính, đến người mắc oan ở tù rạc thân, đến người hành khất “cũng một kiếp người” từ người đẻ non đến em bé chết yểu, từ người đứt dây rơi xuống giếng chết đến người bị cọp ăn ”[11,tr144]

Nguyễn Lộc trong bài viết Văn chiêu hồn – một bản tổng kết, trích trong cuốn Nguyễn Du về tác gia tác phẩm do Trịnh Bá Dĩnh, Nguyễn Hữu

Sơn, Vũ Thanh tuyển chọn và giới thiệu [12], cùng quan điểm với các nhà nghiên cứu trên: “Thực ra cái cõi âm mà Nguyễn Du dựng lên có vẻ rùng rợn, ma quái trong Văn chiêu hồn cũng chỉ là sự khúc xạ qua một lăng kính duy tâm, hay nói đúng hơn, chỉ là cái bóng, cái hình lộn ngược của cõi dương,

của cuộc đời này mà thôi.” Và ông cũng khẳng định “Trong Văn chiêu hồn,

cảm hứng đã lấn át đề tài, để làm nên giá trị của tác phẩm Phải nói đó là thành tựu chính của Nguyễn Du trong tác phẩm này”[12,tr138]

Đinh Hùng trong bài viết Người thơ thuần túy Nguyễn Du trong Văn tế

thập loại chúng sinh trong cuốn “Nguyễn Du về tác giả -tác phẩm” do Trịnh

Bá Dĩnh, Nguyễn Hữu Sơn, Vũ Thanh tuyển chọn và giới thiệu [12], đã đề

cao Văn chiêu hồn như là viên ngọc quý và ông cũng cho rằng : “Hơn cả một

nhà khoa học, tác giả chiêu hồn đã để lại cho chúng ta một công trình khám phá kỳ tuyệt Thi sĩ đem lại cho chúng ta tất cả dư hưởng gần gũi của cõi U huyền vô hình vô ảnh, làm cho thân mật thêm cái Thế giới bên kia huyền bí hơn cả muôn triệu vì sao lạ”[12,tr156]

Trang 10

Nguyễn Thạch Giang và Trương Chính, Nguyễn Du- cuộc đời và tác

phẩm [20],cũng cho rằng: Văn Chiêu hồn thập loại chúng sinh là tấm gương

phản chiếu tất cả kinh nghiệm bản thân của tác giả suốt thời kỳ Lê mạt – Nguyên sơ, là thời kỳ loạn ly đã diễn ra trong xã hội ta tất cả những cảnh thê thảm mà tác giả đã cực tả trong văn Chiêu hồn thập loại chúng sinh một cách sinh động và chân thực Và, qua đây, Nguyễn Du cũng muốn làm sang tỏ thêm tín ngưỡng tôn giáo của ông”[20,tr571]

Nguyễn Phạm Hùng Trên hành trình văn học trung đại [29], nhấn mạnh

rằng: “Tác phẩm trình bày trực tiếp nhất tư tưởng Phật giáo của Nguyễn Du

là bài Văn tế thập loại chúng sinh Đây là bài văn tế đặc biệt trong kho tàng

văn tế của Việt Nam, nó được Nguyễn Du làm ra để khóc các cô hồn nhân ngày lễ “xá tội vong nhân” rằm tháng bảy hàng năm.[29,tr85]

Về nghệ thuật thể hiện, trong cuốn Từ điển Văn học (bộ mới) [67] , có

nhận xét: “Tuy là một bài văn khấn tế, hình thức mang tính chất tôn giáo trong văn học Việt Nam, nhưng tác phẩm không sử dụng hình thức văn tế

biền ngẫu thường thấy, cũng không viết bằng văn xuôi như Thập giới cô hồn

quốc ngữ văn của vua Lê Thánh Tông, mà chọn thể loại song thất lục bát

khiến vần điệu linh hoạt, truyền cảm, có tác dụng khơi dậy lòng trắc ẩn từ phía người đọc, người nghe Nếu bài văn của vua Lê nặng nề giáo huấn răn đe thì tác phẩm của Nguyễn Du tràn ngập tình yêu thương, thông cảm Ngoài một vài phương ngữ và điển tích nhà Phật ít quen thuộc không đáng kể, nói chung bài văn dễ hiểu, dễ cảm thụ bởi giọng thơ cuộn chảy theo những biến tấu bất ngờ của nhịp câu song thất Tác phẩm còn được đánh giá là tác phẩm song thất lục bát duy nhất sử dụng dày đặc và rất độc đáo thủ pháp tiểu đối…”

Trang 11

Đa số các nhà nghiên cứu đều cho rằng, Văn tế thập loại chúng sinh là

một tác phẩm xuất sắc, có một không hai trong lịch sử văn học trung đại Những công trình nghiên cứu trên hầu như chỉ nêu lên một cách khái quát về nội dung của tác phẩm và tư tưởng của tác giả Nguyễn Du Cho nên, luận văn muốn đi vào những vấn đề cụ thể , sâu xa hơn nhằm làm nổi bật lên mối quan hệ: giữa Đạo và Đời, giữa nội dung của tác phẩm và tư tưởng của tác giả Từ

đó làm nổi bật lên tư tưởng của Nguyễn Du thông qua kiệt tác này

4 Phương pháp nghiên cứu:

Triển khai đề tài “Tín ngưỡng Phật giáo và Thế giới nghệ thuật trong

Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du”, chúng tôi đã vận dụng những

phương pháp chủ yếu sau đây:

Phương pháp cấu trúc – hệ thống: là phương pháp tìm ra những yếu tố

cấu thành tác phẩm

Phương pháp phân tích – tổng hợp: phương pháp này đi giúp chúng tôi

tiếp cận và khảo sát trực tiếp văn bản

Phương pháp so sánh – đối chiếu: là phương pháplàm nổi bật lên sự

giống và khác nhau giữa bản chính và các dị bản, đồng thời thấy được nét

riêng của Văn tế thập loại chúng sinh với các tác phẩm khác

Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Tìm hiểu mối lien hệ giữa văn

học và văn hóa, để có cơ sở đánh giá khách quan tác dụng của văn học trong việc phản ánh văn hóa dân tộc

Những phương pháp này sẽ được chúng tôi vận dụng một cách linh hoạt trong quá trình nghiên cứu

Trang 12

5 Cấu trúc luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, thư mục tham khảo, nội dung luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Văn bản “Văn tế thập loại chúng sinh”

1.1 Nguyễn Du và sự ra đời văn bản “Văn tế thập loại chúng sinh”

1.1.1 Hoàn cảnh xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ X I X

1.1.2 Hoàn cảnh nhà thơ

1.1.2.1 Nguyễn Du – một cuộc đời đầy sóng gió và đắng cay

1.1.2.2 Nguyễn Du – một “tín đồ” của đạo Phật

1.2 Lịch sử nghiên cứu và công bố văn bản “Văn tế thập loại chúng sinh” 1.2.1 Lịch sử nghiên cứu:

1.2.2 Những văn bản “Văn tế thập loại chúng sinh” đã được công bố

2.1.1 Truyền thuyết về Lễ Vu Lan

2.1.2 Cách cúng cô hồn trong khoa nghi Phật giáo

2.2 Quan niệm của Phật giáo trong Văn tế thập loại chúng sinh

2.2.1 Thuyết nghiệp báo luân hồi

2.2.2 Vô thường

2.2.3 Con đường giải thoát

2.3 Một số bài văn tế cô hồn thời cổ: Thập giới cô hồn quốc ngữ văn của Lê

Thánh Tông

Tiểu kết

Chương 3: Thế giới nghệ thuật trong Văn tế thập loại ch úng sinh

Trang 13

3.1 Thế giới nhân vật:

3.1.1 Những kẻ gây thù chuốc oán

3.1.2 Những kẻ quý tộc, tham vọng phú quý

3.1.3 Những kẻ nghèo khổ, bất hạnh

3.2 Không – thời gian nghệ thuật trong Văn tế thập loại chúng sinh

3.2.1 Không – thời gian tâm linh

3.2.2 Không - thời gian đối lập, đứt gãy

3.2.3 Không – thời gian lưu đày

Tiểu kết

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du là một kiệt tác có một

không hai trong văn học trung đại Tác phẩm mang đậm màu sắc Phật giáo

và là đỉnh cao về tư tưởng nghệ thuật Chính vì thế, luận văn đi vào nghiên cứu tín ngưỡng Phật giáo và thế giới nghệ thuật trong tác phẩm là cần thiết, nhằm góp phần làm nổi bật lên giá trị của tác phẩm

Kết quả của luận văn một mặt khẳng định tín ngưỡng Phật giáo trong tác phẩm có vai trò tích cực đối với nhận thức của con người, mặt khác làm toát lên nét tiêu biểu trong sáng tạo văn tế của Nguyễn Du trong văn học trung đại cũng như tầm tư tưởng của ông Từ đó, luận văn góp phần nhìn nhận quá trình vân động của lịch sử văn tế từ góc độ văn hóa nghệ thuật

Hy vọng kết quả của luận văn cũng có tác dụng góp phần phục vụ công việc giảng dạy, học tập văn tế của Nguyễn Du trong nhà trường hiện nay

Trang 14

Chương 1

VĂN BẢN “VĂN TẾ THẬP LOẠI CHÚNG SINH”

1.1 Nguyễn Du và sự ra đời văn bản “Văn tế thập loại chúng sinh”:

Văn tế thập loại chúng sinh, về thời điểm sáng tác và lý do ra đời của

tác phẩm này là một câu hỏi lớn mà cho đến nay vẫn chưa có lời giải đáp chính xác Chỉ biết rằng, bài văn tế này được lưu truyền và sử dụng trong các

lễ trai đàn chẩn tế tại các chùa, nhất là trong “tiết tháng bảy” vào ngày rằm

Cứ mỗi năm đến rằm tháng bảy, nhân dân và các chùa trên khắp đất nước ta lại tổ chức lễ hội Vu Lan để báo hiếu cha mẹ và “ Xá tội vong nhân ” cho “ thập loại chúng sinh ”

Trong văn bản do Đàm Quang Thiện hiệu chú có dẫn lại ý của ông Trần Thanh Mại trên “Đông Dương tuần báo” năm 1939, rằng Nguyễn Du trước tác bài này sau một mùa dịch khủng khiếp làm hằng triệu người chết, khiến khắp non sông đất nước âm khí nặng nề, và ở khắp các chùa, người ta đều lập đàn giải thoát để cầu siêu cho hàng triệu linh hồn Và ông cũng trích dẫn lại ý của nhà học giả Phan Văn Hùm đăng trên “Đông Dương tuần báo” : Học giả họ Phan cho rằng Nguyễn Du đã viết bài này vì ông thành tâm tín ngưỡng Phật giáo, phái Tiểu thừa Giáo sư Phạm Văn Diêu thì cho rằng:

“Chiêu hồn này phải là bức tranh phản chiếu tất cả kinh nghiệm bản thân của tác giả suốt thời kỳ Lê-mạt, Nguyễn-sơ, là thời kỳ loạn ly, trong ấy đã diễn ra thực sự trong xã hội ta, tất cả những cảnh thê thảm mà tác giả đã cực tả trong ánh văn bất hủ” Nhà nghiên cứu Đàm Quang Thiện cũng cho rằng, Nguyễn

Du đã sáng tác bản văn trước khi sáng tác Truyện Kiều rất lâu và ông cũng

đồng tình với những ý kiến trên“…chúng tôi tin rằng quan niệm của giáo sư Phạm Văn Diêu rất đúng: nhưng, kinh nghiệm sống của Nguyễn Du về thời loạn ly, cũng có thể đã được tác giả lợi dụng để làm sáng tỏ thêm tín ngưỡng

Trang 15

tôn giáo như học giả Phan Văn Hùm đã quan niệm; và cũng có thể , đúng như nhà văn Trần Thanh Mại đã quan niệm, nhân một mùa dịch khủng khiếp khiến non nửa dân số đã bị Quan Ôn ‘bắt lính”; khắp nước tiếng chuông chùa làm lễ cầu siêu ngân dài như tiếng vọng của âm ty mà tác giả hàng ngay đi dự các lễ cầu siêu ấy, không được nghe một bài “Chiêu hồn” nào khả dĩ cảm động được lòng người mới viết ra ánh văn tuyệt tác này để người ta đọc tại

các chùa khi làm lễ cầu siêu cho thập loại chung sinh” [54,tr65] Nhà nghiên

cứu Mai Hạnh cũng đưa ra ý kiến tương đồng: “Cái xã hội trong bài thơ

Chiêu hồn hay là cái thảm trạng mà con người phải chịu đựng trong những

điều kiện lịch sử nhất định ấy phản ánh cái xã hội nước ta ở thời kỳ Lê mạt – Nguyễn sơ, là thời kỳ mà thi sĩ Nguyễn Du sống” [49,tr597] Giáo sư Hoàng Xuân Hãn cho biết bản nôm thứ hai chép bài văn tế là một bản chép tay trong

đó có lẫn những thi văn khác “Theo tôi nhớ, những thi văn ấy cho biết người làm quê ở Quảng Bình Có thể rằng sự này có liên quan với sự Nguyễn Du từng làm cai bạ ở Quảng Bình trong bốn năm (1809 – 1812) Thời gian này và

năm soạn bài Văn tế thập loại chúng sinh có liên hệ gì không? Hiện nay

chúng ta không có cách gì phỏng đoán được ?” [27,tr33]

1.1.1 Hoàn cảnh xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX:

Nguyễn Du sống vào thời Lê mạt – Nguyễn sơ Đây là thời kỳ xã hội đang trải qua những biến động trầm trọng “Chiến thắng hiển hách của nông dân khởi nghĩa, rồi sự phục thù của những thế lực phản động; sức vang dội của những yêu cầu tự do và công lý, rồi việc lập lại một trật tự bảo hoàng vào bậc nhất…Tất cả những trái ngược đó khiến cho không khí thời đại càng thêm phức tạp với những màu sắc phấn khởi và tuyệt vọng, lạc quan và bi quan, lẫn lộn Nguyễn Du vừa chứng kiến tấn thảm kịch tự chôn mình của một Lý Trần Quán, thì tiếp theo đã phải ngơ ngác trước cái phong thái ung dung đi theo

“tân triều” của Ngô Thì Nhậm; trong khi ông đang xót xa tủi nhục cho tình

Trang 16

cảnh “sẩy đàn tan nghé” của tập đoàn phong kiến Lê – Trịnh, thì đồng thời cũng được nghe vọng đến tiếng sấm chiến công của Nguyễn Huệ phá tan hai mươi vạn giặc ngoại xâm; và rồi cũng chính giữa lúc nhà thơ chưa kịp làm quan với sự có mặt của những con người “cờ đào áo vải” trong cương vị những chủ nhân xã hội, thì ông lại đã sửng sốt nhìn thấy tấn bi kịch đổ vỡ của triều đại Tây Sơn mà thấp thoáng phía sau là cái mưu đồ phục quốc của Gia Long” Chứng kiến một thời kỳ giằng co quyết liệt về chính trị, tôn ti trật tự

bị đảo lộn, thuần phong mỹ tục bị mất dần, tầng lớp phong kiến quý tộc mà quyền lợi gắn liền với một triều đại cũng gặp nhiều bước gian truân chìm nổi,

và nhân dân là những nạn nhân trực tiếp của những biến cố đầy kịch tính đó Nguyễn Du cảm thấy đau đớn,“choáng váng” và mất phương hướng, mất chỗ bám víu Và tất cả những nỗi đau thương, u uất như thế dồn lại, về con người,

về cuộc đời, về các triều đại kế tiếp nhau, đã hình thành nên trong nhân sinh quan của ông một ý thức thường trực, một cảm hứng bi thiết về sự mong manh của đời người, kiếp người…

Như vây, một đời sống khổ cực vất vưởng không biết có ngày mai, một

xã hội đặc biệt “rối nát” bi thảm chưa từng có trong lịch sử nước ta là nguồn gốc xã hội và là những nhiên liệu thực tế của cuộc sống xã hội dội vào trong

tác phẩm Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du

1.1.2 Hoàn cảnh của nhà thơ:

1.1.2.1: Nguyễn Du – một cuộc đời đầy sóng gió và đắng cay:

Nguyễn Du – một con người tài hoa, dòng dõi trâm anh, tư chất thông minh nhưng cuộc đời của ông lại chịu nhiều thăng trầm và đau khổ Mồ côi cha mẹ từ nhỏ, sống nhờ người anh, lớn lên thi đỗ, vừa mới ra làm một chức quan nhỏ, Nguyễn Du đã phải trải qua cuộc đời chìm nổi, phiêu bạt gần như

có một không hai trong tiểu sử các nhà văn quá khứ của nước ta

Phong trần chịu đã ê chề…

Trang 17

Nửa đời nếm trải đủ mùi đắng cay

Không chỉ là chuyện anh hùng mạt vận, chí lớn không thành, mà còn là

chuyện cơm áo và đủ thứ cơ cực ở đời Trong thơ chữ Hán, Nguyễn Du nhiều

lần tự ví mình với ngọn cỏ bồng lìa gốc, tơi bời trước gió (Đoạn bồng nhất

phiến tây phong cấp) Còn thê thảm hơn khi : Hết ăn nhờ ở miền sông, lại

đến miền biển, Đói rét không ngờ phải để cho người thương… Cái nghèo vẫn

luôn bám vúi lấy nhà thơ: “ Suốt ngày bếp không đỏ lửa” ( Tảo đầu chung

nhật vô yên khổ), “ Mới rét mà đã thấy khổ vì không áo” (Tảo hàn dĩ giác vô

y khổ) Nguyễn Du lại hay ốm đau, mới trên dưới ba mươi tuổi mà đầu đã

bạc trắng: “Ba tháng xuân ốm liên miên, nghèo không có thuốc” (Tam xuân

tích bệnh bần vô dược), “Người tráng sĩ bạc đầu rồi, buồn trông trời” (Tráng

sĩ bạch đầu bi hướng thiên) Tố Như tiên sinh đã nếm đủ mùi cơ hàn, bệnh tật

suốt mười năm lưu lạc ở đất Bắc và trong bảy năm ẩn ở quê nhà Và cũng

chính trong thời gian này, Nguyễn Du có dịp sống gần dân, sống trong dân và

như dân giúp ông hiểu và thông cảm với những nỗi khổ nhục của nhân dân

“Không trải qua quãng đời gian nan đau xót, không phải vật lộn với bao nhiêu

thiếu thốn nhọc nhằn, thì một người thuộc giai cấp quý tộc như Nguyễn Du

khó mà có thể có một sự hiểu biết về cuộc sống và về con người, khó mà có

một tấm lòng đau đời, thương người, một năng lực cảm xúc và thông cảm kì

lạ, cũng như cái sự căm giận mãnh liệt kia” [31,tr91] Như vậy, chính những

thiếu thốn khổ cực, những lưu lạc tha phương mà thiên tài thi ca trong con

người Tố Như bừng tỉnh và tỏa sáng “người cùng thì thơ hay” Những kiếp

người đọa đọa trong Truyện Kiều, những cảnh đời nheo nhóc trong Văn tế

thập loại chúng sinh hay đời sống cay cực trong thơ chữ Hán đã được tiên

sinh cảm thông và thương xót:

Trải qua một cuộc bể dâu Những điều trông thấy mà đau đớn lòng

Trang 18

1.1.2.2 Nguyễn Du – một “tín đồ” của Phật giáo:

Chúng tôi gọi Nguyễn Du là một “tín đồ” bởi mặc dù không phải là một chân tu Phật pháp thực sự, nhưng cảm quan Phật giáo đã in sâu trong tâm khảm ông Nếu nói không quá thì hầu như các sáng tác của ông đều thấm đẫm tinh thần Phật giáo

Theo ông Nguyễn Thạch Giang: Nguyễn Du đã chịu ảnh hưởng của đạo Phật ngay từ khi còn là “cậu ấm” của gia tộc họ Nguyễn Chiều chiều âm vang của tiếng chuông chùa,của lời kinh tiếng gõ đã làm ấm lòng cậu thiếu niên sống gần chùa Sau này, chính Nguyễn Du cũng đã thừa nhận mình tầng đọc Kinh Kim Cang hàng ngàn lần Trong bài: “Lương Chiêu Minh thái tử phân kinh thạch đài”, ông đã trình bày một cách khái quát và rất cơ bản những nhận thức của mình đối với toàn bộ giáo lý nhà Phật, chứng tỏ ông đã thấm nhuần kinh thi nhà Phật một cách sâu sắc :

Ta đọc kinh Kim Cương hơn nghìn lần

Ý sâu phần nhiều không hiểu rõ Khi đến được đài đá phân kinh này Mới biết “kinh không chữ” mới thật chân Kinh Nguyễn Du từng trăn trở nhiều về Phật Pháp, về Thiền lý, nhưng như ông nói, chỉ khi đứng dưới đài kinh của Thái tử Chiêu Minh, ông mới giác ngộ được chân lý, chỉ khi chứng kiến qua hoàn cảnh, tình huống cụ thể, ông mới thực sự giác ngộ được lời dạy của kinh Kim Cương: “ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm” ( chớ có trụ vào một cái gì mà sinh ra tâm mình)

Chứng kiến tình trạng bế tắc và những khủng hoảng trầm trọng của xã hội phong kiến đương thời, những nỗi khổ cực đày đọa ghê gớm mà con người phải chịu đựng trong giai đoạn xã hội đó cùng với những thăng trầm cay đắng của chính cuộc đời mình, Nguyễn Du đã tìm đến đạo Phật và tìm thấy nguyên nhân của sự khổ đau, của sự vô thường nơi con người và cuộc

Trang 19

đời (tương tự như giai đoạn khổ đế rồi tập đế của nhà Phật), cùng con đường giải thoát cho “chúng sinh” thoát khỏi bể khổ trầm luân Nhà Nghiên cứu Mai Quốc Liên cũng cho rằng: “Trong cái bể khổ ấy, Nguyễn Du tìm đến đạo Phật như là để nguôi quên, như là để ràng rịt lại những đau thương Cũng như những trí thức lớn của nước ta thời xưa, từ Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Nguyễn Trãi, Ngô Thì Nhậm…, Nguyễn Du không thõa mãn với đạo Nho, mà tìm đến với cả Phật giáo để tìm một lối thoát trong tình cảm, trong nhận thức” và ông khẳng định “ … nếu nói rằng, Nguyễn Du chỉ mượn chuyện Phật giáo để làm cái cớ để nói lên lòng thương của mình qua bài Văn Chiêu hồn, e rằng chưa hẳn đúng, Nguyễn Du có một tình cảm nồng hậu, một niềm tin ở Phật giáo; trong cái bể khổ mênh mông của nhân loại, Nguyễn Du

đi tìm một lối thoát không có tính hiện thực, nhưng biết bao chân thành”[42,tr161]

Bên cạnh đó, Nguyễn Du là người học Nho, hiểu đạo Lão, điêu luyện trong cả chữ Nôm và chữ Hán, từng sống cuộc đời phong lưu công tử, thích nghe hát dân ca… giúp ông tiếp cận được nhiều nguồn văn hóa dân gian phong phú Tất cả làm nền cho sự hình thành nhiều tác phẩm giàu tính nhân đạo, đượm vẻ triết lý nhưng cũng rất mộc mạc đơn sơ mang đậm màu sắc dân

gian, mà Văn tế thập loại chúng sinh là một minh chứng rõ ràng nhất

Mặc dù không xác định được chính xác thời điểm Văn tế thập loại

chúng sinh ra đời nhưng những điều mà Tố Như tiên sinh muốn gửi gắm

trong tác phẩm đã giúp chúng ta cảm nhận được lý do và hoàn cảnh thúc đẩy

nhà thơ viết nên Văn tế thập loại chúng sinh Đó là nỗi cảm thương trước bao

nhiêu sự thay đổi tang thương, bao nhiêu cái chết tức tưởi của một xã hội loạn lạc, giặc giã nhiễu nhương, tranh quyền, đoạt lợi xảy ra khắp nơi khiến trăm

họ phải lầm than Đó cũng chính là nỗi day dứt, niềm trăn trở của một nhà thơ nhân đạo chủ nghĩa, nhìn thấy con người chìm trong bể khổ trầm luân,

Trang 20

ông đau đớn muốn tìm đường giải thoát cho họ Nhưng do hạn chế của thời đại, Nguyễn Du chỉ biết dựa vào đạo Phật để giải thoát cho chúng sinh và mong muốn một xã hội bình đẳng trên tinh thần từ bi, bác ái Do đó, việc tìm đến với Phật giáo, thấm nhuần tư tưởng của đạo giác ngộ, chứng nghiệm được

ít nhiều nguyên căn, cội nguồn của lẽ sống đã là chất liệu thiết cần để viết bài

“Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh” Một tài năng kiệt xuất, một vốn sống phong phú, một tâm hồn tràn ngập yêu thương với “trăm họ” kết hợp với một “tín

đồ” của Phật pháp đã tạo nên một Văn tế thập loại chúng sinh bất hủ và rất

“bình dân”

1.2 Lịch sử nghiên cứu và công bố văn bản Văn tế thập loại chúng sinh

1.2.1 Lịch sử nghiên cứu:

1.2.1.1.Giai đoạn từ khi văn bản ra đời đến năm 1945:

- Theo nghiên cứu của các nhà học giả, văn bản Văn tế thập loại chúng

sinh chỉ còn lại hai bản đáng tin cậy : một bản do nhà sư Chính Đại (Bắc

Ninh) sưu tập, hiệu đính và khắc ván năm 1895; một bản do cụ Lê Thước phát hiện ở chùa Diệc (Nghệ An) và thực hiện phiên âm ra chữ quốc ngữ được in trong sách ‘Truyện cụ Nguyễn Du”, in tại nhà in Mạc Đình – Tư ở Hà Nội, năm 1924

Bản của nhà sư Chính Đại, theo nghiên cứu của giáo sư Hoàng Xuân Hãn có sự biến đổi rất nhiều so với nguyên tác: bản này đã thêm 16 vế tại hai nơi, lại bỏ 4 vế của nguyên thoại (161-164), và trong các vế hầu hết đều bị đổi

- Năm 1926, trong Văn đàn bảo giám của nhóm Trần Trung Viên, lần

đầu tiên in tại báo Trung Bắc Tân- văn, có in một bản bằng chữ quốc ngữ với

nhan đề: Bài chiêu hồn Bản này chỉ có 182 câu thơ Theo giáo sư Hoàng

Xuân Hãn thì bản của nhóm Trần Trung Viên là bản “ dung hòa” giữa bản

Trang 21

Chính Đại và bản của cụ Lê Thước và ông cũng đem ra những dẫn chúng chứng minh cho sự dung hòa đó trong nghiên cứu của mình

1.2.1.2 Giai đoạn từ 1945 đến nay:

- Năm 1965, Đàm Quang Thiện hiệu đính và chú giải văn bản Văn tế

thập loại chúng sinh, Nam Chi Tùng Thư xuất bản Về nhan đề, ông Đàm

Quang Thiện cho biết: “Nhan đè bài thơ này, có nơi là “Chiêu hồn”; có nơi là

“Văn tế thập loại chúng sinh”; chúng tôi ghép hai nhan đề với nhau, để nhan

đề có đầy đủ ý nghĩa của mỗi nhan đề riêng biệt: Chiêu hồn Thập Loại Chúng Sinh; chúng tôi lại viết “Thập Loại Chúng Sinh” bằng chữ hoa, vì danh từ này

đã thành như danh từ riêng để trỏ toàn thể những người “bất đắc kỳ tử” mà không được ai thờ cúng” Về bố cục, theo ông Đàm Quang Thiện, bài “Chiêu hồn Thập Loại Chúng Sinh” gồm ba phần rõ rệt:

Phần I: - Từ dương thế đến âm phủ, gồm ba đoạn:

(1- 8) Cảnh đầu thu trên dương thế;

(9-16) Cảnh cô hồn dưới âm phủ;

(17-20) Kêu gọi Thập Loại Chúng Sinh dự đàn giải thoát

Phần II: Chiêu hồn Thập Loại Chúng Sinh, gồm 16 đoạn:

Trang 22

(117-120) Những kẻ “hành khất ngược xuôi”

(121-124) Những kẻ “mắc đoàn tù rặc”

(125-128) Những kẻ “hữu sinh vô dưỡng”

(129-136) Những kẻ “bất đắc kỳ tử” bằng nhiều cách khác nhau (137-148) Cô hồn lạc lõng ở khắp mọi nơi;

(149-156) Gọi các cô hồn đang sống một cách rất thảm thương “lại mà nghe kinh”

Phần III: Khuyên các cô hồn nên nhờ Phật giải oan cứu khổ cho, gồm hai đoạn:

(157-168) Phép Phật mầu nhiệm: các cô hồn hãy lại đàn giải thoát mà nghe kinh;

(159-184) Kêu gọi các cô hồn hãy tin tưởng vào phép Phật mầu nhiệm

và giải thoát cho họ

- Năm 1977, trên tạp chí Văn học số 2, đăng bài viết của giáo sư Hoàng

Xuân Hãn với tựa đề: Lễ Vu Lan với Văn tế cô hồn Năm giáp tuất 1995, An Tiêm xuất bản lần thứ nhất tại Paris với tựa đề: Văn tế thập loại chúng sinh

của Nguyễn Du, chú thích, hiệu đính Hoàng Xuân Hãn Trong nghiên cứu của

mình, ông Hoàng Xuân Hãn đã so sánh cụ thể và chi tiết về sự khác nhau giữa bản Chính Đại, bản của cụ Lê Thước và bản của nhóm Trần Trung Viên Ông cho rằng: Bản của cụ Lê Thước là bản đáng tin cậy và gần với nguyên tác nhất, tuy có một số chỗ nhầm lẫn quan trọng Bản Chính Đại là bản xưa nhất nhưng đã được Tăng Chính Đại đính chính Bản của nhóm Trần Trung Viên

là sự dung hòa giữa bản Chính Đại và bản cụ Lê Thước Từ sự nhận định đó, giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã dựa vào bản của cụ Lê Thước để hiệu đính và

chú giải Về bố cụa, ông chia văn bản Văn tế thập loại chúng sinh thành bốn

phần:

Phần I: Dựng đàn giải thoát (1-20)

Trang 23

Phần II: Thập loại chúng sinh (21-136)

Vua chú bị giết (21-32)

Qúi-nữ liều thân (33-44)

Tể- thần thất thế (45-56)

Đại tướng bại trận (57-68)

Ham giàu chết đường (69-80)

Ham danh chết quán (81-92)

Buôn bán chết xa (93-100)

Binh lính chết trận (101-108)

Kĩ nữ cô đơn (109-116)

Chết bởi nghèo nàn tai họa (117-136)

Phần III: Cảnh lang thang cực khổ của cô hồn (137-156)

Phần IV: Cầu Phật giải oan cô hồn và mời cô hồn hưởng lễ 184)

Chiêu hồn thập loại chúng sinh, Mai Quốc Liên hiệu đính và chú giải

trong cuốn Nguyễn Du toàn tập, Nxb Văn học, Trung tâm nghiên cứu Quốc

học, 1996 Trong nghiên cứu của mình ông lấy bản của ông Hoàng Xuân Hãn làm căn cứ, đồng thời tham khảo các bản khác nhằm đưa ra “một văn bản đích thực Nguyễn Du nhất”

Trong Tổng hợp văn học Việt Nam, tập 13, tái bản, nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000 và Hợp tuyển văn học trung đại Việt Nam (thế kỷ X-

XIX), tập 3, nhà xuất bản giáo dục in bản Văn tế thập loại chúng sinh theo bản

của cụ Lê Thước Theo các nhà nghiên cứu thì khi in bản này: “chúng tôi lược

bỏ phần khảo dị và chỉnh lý lại toàn bộ các chú thích” Về bố cục, hai bản này chi làm bốn phần: Cảnh chiều thu tháng bảy (20 câu), cảnh ngộ mười loại cô hồn (116 câu), Cảnh đời thê lương của các cô hồn (20 câu), Lời nguyện cầu cho các cô hồn siêu sinh tịnh độ (28 câu)

Trang 24

Nguyễn Thạch Giang, Trương Chính biên khảo và chú giải trong cuốn:

Nguyễn Du- cuộc đời và tác phẩm, Nxb Văn hóa thông tin, Hà nội, 2001 và Tinh Tuyển văn học Việt Nam, tập 5, quyển 2, văn học thế kỷ XVIII, Nxb

Khoa học xã hội, với nhan đề: Chiêu hồn thập loại chúng sinh ( theo bản Đàm

Quang Thiện) Trong nghiên cứu của mình, hai ông đã “lấy bản Trần Trung Viên làm nền, so sánh với các bản khác, hiệu đính một đôi chỗ thật cần thiết”

Về bố cục, hai ông chia theo ba phần như bản Đàm Quang Thiện

1.2.2.Những văn bản Văn tế thập loại chúng sinh đã được công bố:

1.2.2.1 Về nhan đề:

Văn bản Văn tế thập loại chúng sinh đã tồn tại nhiều tên gọi khác

nhau:

- Văn tế thập loại chúng sinh: bản Lê Thước, bản Hoàng Xuân Hãn,

bản văn hóa, bản hợp tuyển, bản Tổng hợp văn học Việt Nam

- Bài chiêu hồn: bản Trần Trung Viên

- Văn chiêu hồn (Văn tế thập loại chúng sinh): bản Văn học

- Chiêu hồn thập loại chúng sinh: bản Đàm Quang Thiện, bản Mai

Quốc Liên, bản Nguyễn Thạch Giang và Trương Chính

Như vậy , văn bản Văn tế thập loại chúng sinh có hai bản chính là bản

của sư Chính Đại và bản của cụ Lê Thước phiên âm từ bản chùa Diệc Từ hai bản trên, các nhà nghiên cứu đã khảo đính thành những dị bản: bản Trần Trung Viên, bản Hoàng Xuân Hãn, bản Mai Quốc Liên, bản Đàm Quang Thiện, bản Văn hóa, bản Hợp tuyển, bản Văn học, bản tinh tuyển, bản tổng tập, bản Nguyễn Thạch Giang, Trương Chính…

1.2.2.2 So sánh các văn bản Văn tế thập loại chúng sinh đã được công bố:

Trong những văn bản trên , chúng tôi chọn ra năm văn bản sau để so sánh: bản Lê Thước, bản Trần Trung Viên, Hoàng Xuân Hãn, Đàm Quang

Trang 25

Thiện và Mai Quốc Liên Lý do để chúng tôi chọn năm bản trên đó là: ngoài

bản chính của Lê Thước, các bản còn lại có sự khảo đính tỉ mỉ và sáng tạo Để

cho tiện việc nhận diện, chúng tôi đặt kí hiệu cho các bản so sánh như sau:

- Bản của Lê Thước: LT

- Bản của Trần Trung Viên: TTV

- Bản của Đàm Quang Thiện: ĐQT

- Bản của Hoàng Xuân Hãn: HXH

-Bản của Mai Quốc Liên: MQL

Trong năm văn bản trên, chúng tôi lấy bản của Lê Thước làm bản chính

để so sánh với các bản còn lại.( Chúng tôi lấy bản của cụ Lê Thước trong

công trình nghiên cứu: Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du, chú thích,

hiệu đính Hoàng Xuân Hãn An tiêm xuất bản, Paris 1995

Cảnh chiều thu dựng đàn giải thoát

Tiết tháng bảy mưa dầm dồi dọt

Gió heo may lạnh ngắt xương khô

Não người thay bấy chiều thu

Ngàn lau khóm bạc, giếng ngô rụng dòng

Đường bạch dương bóng chiều man mác

Ngọn đường lê lác đác mưa sa

Lòng nào lòng chẳng thiết tha

Cõi dương còn thế, nữa là cõi âm

Trong trường dạ tối tăm trời đất

Xót khôn thiêng phảng phất u minh

Thương thay Thập loại chúng sinh

Phách đơn hồn chiếc lênh dênh quê người

Trang 26

Hương khói đã không nơi nương tựa

Phận bồ côi lần lửa đêm đen

Còn chi ai khá ai hèn

Còn chi mà nói kẻ hiền người ngu

Tiết đầu thu, dựng đàn giải thoát

Nước tĩnh bình rưới hạt dương chi

Muôn nhờ Phật lực từ bi

Giải oan cứu khổ hồn về Tây phương

1 Dồi dọt Bản TTV giống bản HXH: xùi-xụt; bản MQL giống bản ĐQT;

sùi sụt ( theo MQL: sùi sụt: “giọng miền Bắc đọc xùi xụt Mưa dầm sùi sụt: mưa lâu như khóc dầm dề, mừng tủi”)

2 Gió heo may Bản HXH: lọt hơi sương; các bản TTV, MQL, ĐQT giống

nhau: toát hơi may *Ngắt Bản TTV: lẽo; các bản HXH, ĐQT, MQL giống

nhau: buốt

3 Bấy Bản TTV giống bản ĐQT: buổi; bản HXH giống bản MQL: bấy

4 Ngàn lau khóm bạc, lá ngô dòng vàng Bản HXH: ngàn lau khảm bạc

giếng ngô rụng vàng ( theo ông HXH: khảm bạc “xem màu trắng như khảm bạc vì đến thu bông lau trắng) ; bản TTV: ngàn lau nhuộm bạc, lá ngô rụng vàng; bản ĐQT: hoa lau nhuốm bạc, lá ngô rụng vàng( theo ĐQT: “ đừng lầm nhuốm, là mới bắt đầu ngả màu bạc (trắng) với nhuộm, là hoàn toàn bạc rồi.; bản MQL: ngàn lau nhuốm bạc, lá ngô rụng vàng( MQL cho rằng: “HXH đọc

đúng tự dạng nôm ở bản chùa Diệc…Tôi chọn nhuốm theo bản Đàm Quang

Thiện”)

Trang 27

6 Ngọn Bản HXH giống bản LT; bản ĐQT giống bản MQL: dặm; bản

TTV: dịp; *Mưa sa Bản HXH giống bản LT; bản TTV, ĐQT, MQL giống

nhau: sương sa

8 Thế Các bản HXH, MQL, ĐQT giống bản LT; bản TTV: có

10 Xót khôn thiêng Bản HXH giống bản LT (theo ông HXH: “thường các

cô hồn phải quanh uẩn ở chốn u minh, tức chỗ đen tối”) ; bản TTV giống bản MQL: có khôn thiêng (theo ông MQL:Tôi cho là thông: các cô hồn thập loại chúng sinh có khôn thiêng lảng vảng ở chốn u minh”); bản ĐQT: cô hồn thường ( cô hồn lẻ loi, không người thờ phụng)

13 Khói Bản HXH giống bản LT khói; các bản TTV, ĐQT, MQLgiống

nhau: lửa

14 Phận bồ -côi Bản HXH giống bản LT; bản TTV, MQL, ĐQT giống

nhau: hồn mồ côi *Đêm đen Bản HXH, MQL giống bản LT; bản TTV: mấy

năm; bản ĐQT: bấy niên (theo ông ĐQT: bấy niên là biết mấy năm, “vì vần

“hèn” ở dưới nên tác giả dung tiếng “niên” thay cho tiếng “năm”)

17 Dựng Bản HXH giống bản LT; bản MQL TTV, ĐQT giống nhau: lập

18 Bình Bản HXH, MQL giống bản LT (theo ông HXH: Tĩnh bình là bình

nước trong); bản TTV, ĐQT giống nhau: đàn.(Theo ông ĐQT: đàn là “cái đài

Những kẻ quyền cao chức trọng chết vì thất cơ lỡ vận

Nào những kẻ tính đường yêu hạnh

Chí những chăm cướp gánh non sông

Nói chi đang thủa tranh hùng

Trang 28

Tưởng khi thế khuất vận cùng mà đau

Bỗng phút đâu lò bay ngói lở

Khôn đem mình làm dứa thất phu

Lớn giàu sang, nặng oán thù

Máu tươi lai láng, xương khô đã rồi

Đoàn vô tự lạc loài nheo nhóc

Quỷ không đầu van khóc đêm mưa

Đã hay thành bại là cơ

Mà u hồn biết bao giờ cho tan

Nào những kẻ màn lan trướng huệ

Những cậy mình cung Quế Hằng nga Một phen thay đổi sơn hà

Tấm thân miếng lá biết là làm sao

Trên lầu cao, dưới dòng nước chảy

Phận đã đành tram gãy bình rơi

Khi sao đông đúc vui cười

Mà khi nhắm mắt không người nhặt xương

Thảm thiết nhẽ không hương không khói Hồn ngẩn ngơ đầu suối ngàn sim

Thương thay thân yếu tay mềm

Càng năm càng héo,càng đêm càng rầu

Trang 29

Nào những kẻ mão cao áo rộng

Ngòi bút son thác sống ở tay

Kinh luân chất một túi đầy

Đã đêm Quản Cát, lại ngày Y Chu

Thịnh mãn lắm oán thù càng lắm

Trăm loài ma mồ nấm chung quanh Nghìn vàng khôn đổi được mình

Lầu ca viện xướng tan tành còn đâu

Kẻ thân thích vắng sau vắng trước

Biết lấy ai bát nước nén hương

Cô hồn thất thểu dọc ngang

Mạng oan khôn nhẽ tím đường hóa sinh

Nào những kẻ bài binh bố trận

Đem mình vào cướp ấn nguyên nhung Gió mưa thét giọng đùng đùng

Phơi thân trăm họ làm công một người

Khi thất thế cung rơi tên lạc

Bãi sa trường thịt nát máu trôi

Bơ vơ góc bể chân trời

Tấm thân miếng lá biết vùi vào đâu

Trời thăm thẳm mưa rầm gió thét

Khí âm vân mù mịt trước sau

Trang 30

Năm năm sương nắng dãi dầu

Còn đâu tế -tự, còn đâu chưng thường

21 Nào những Bản HXH, MQL giống bản LT; bản TTV, ĐQT giống nhau:

cũng có * Yêu hãnh Bản TTV giống bản LT; bản HXH: kiểu hạnh (kiểu

hạnh là “ngấp nghé địa vị quá cao sức mình, cũng nói là yêu hạnh”); ĐQT: kiêu hãnh (kiêu hãnh là “tự cho là có tài cao mà khinh người”); MQL: kiểu hãnh (kiểu hãnh là họa may)

22 Chăm cướp Bản HXH giống bản MQL: lăm cướp; bản TTV giống bản

ĐQT: lăm cất ( theo ông ĐQT: lăm nghĩa là sắp sửa, cất là “đưa từ mặt đất lên vai, để mang đi bằng đòn gánh đặt trên vai: mang lấy công việc nặng nề của nước nhà”)

23 Đang thủa thị hùng Bản HXH giống bản LT (theo ông HXH, Thị hùng

“là cậy thế mình mạnh Ý nói không cần kể lại sự sung sướng khi còn mạnh thế”; bản TTV giống bản ĐQT: những buổi tranh hùng (theo ông ĐQT, Tranh hùng là “tranh với người khác xem ai hơn ai, ai hùng hơn ai, ai anh hùng hơn ai”); bản MQL; đang thủa tranh hùng

25 Lò bay ngói lở Bản HXH giống bản MQL: tro bay ngói giở (theo ông

HXH: “trỏ sự đảo chính quyền dữ dội làm ngôi quí tan tành, như tro bị gió tung, nhói bị gió bốc lên một cái thì cái sau cũng bị bốc”, ông MQL: “theo HXH vừa thông dụng nghĩa vừa đảm bảo tiểu đối chặt chẽ”); bản TTV mưa

sa ngói lở; bản ĐQT; mái sa ngói lở ( theo ông ĐQT: là “mái nhà sụp xuống, ngói lợp nhà rã rời ra, thế là cả tòa nhà, bỗng chốc sụp đổ, mà mình kjoong ngờ trước được; tượng trưng cho sự tiêu hủy sự nghiệp của người anh hùng thế khuất vận cùng, sự tiêu hủy xẩy ra bất ngờ và trong khoảng khắc”)

26 Thất phu Bản HXH, ĐQT, MQL giống bản LT; bản TTV; sất phu

Trang 31

27 Lớn Bản HXH, MQL, ĐQT giống nhau: cả; bản TTV: giàu sang càng

32 U hồn Bản HXH, ĐQT giống bản LT ( theo ông HXH, U hồn là hồn bị

giam trong tối); bản TTV: cô hồn; bản MQL; oan hồn;

33 Nào những kẻ Bản HXH, MQL giống bản LT; bản ĐQT giống bản

TTV: cũng có kẻ * Màn lan Bản HXH, ĐQT, MQL giống bản LT; bản

TTV: màn toan

34 Hằng Nga Bản HXH, MQL giống bản LT; bản TTV giống bản ĐQT:

phòng hoa

36 Tấm thân miếng lá Bản HXH: tấm thân mảnh lá; bản MQL, TTV, MQL

giống nhau: mảnh thân chiếc lá *Làm sao Bản HXH, MQL giống bản LT;

bản TTV giống bản ĐQT: về đâu

37 Trên….dưới Bản TTV, ĐQT giống bản LT (theo ông ĐQT: “có người

nhảy từ trên lầu cao xuống đất mà quyên sinh; có người gieo mình xuống dưới dòng nước chảy mà tự tử”); bản HXH giống bản MQL: lên…xuống (theo ông HXH: “lên lầu nhảy xuống, xuống nước để trầm mình”)

41 Thảm thiết Bản HXH, MQL giống bản LT; bản TTV giống bản ĐQT:

đau đớn

42 Hồn Bản HXH, MQL, ĐQT giống bản LT; bản TTV: luống *Ngẩn ngơ

Bản TTV, ĐQT, MQL giống bản LT; bản HXH: vẩn vơ *Đầu suối ngàn

Trang 32

sim Bản HXH giống bản MQL: bãi cói ngàn sim; bản TTV: trong cõi rừng

sim; bản ĐQT: dòng suối ngàn sim

43 Thân yếu Bản HXH, TTV, MQL, ĐQT giống nhau: chân yếu

44 Càng đêm càng rầu Bản HXH giống bản MQL: càng đêm càng dàu; bản

TTV giống bản ĐQT: một đêm một dài

45 Nào Bản HXH, MQL giống bản LT; bản TTV giống bản ĐQT: kìa *

Mão cao áo rộng Bản HXH giống bản LT (theo ông HXH: “Ý nói những

quan to”); bản TTV giống bản MQL: mũ cao áo rộng; bản ĐQT: lân đài phụng các (theo ông ĐQT: là “lầu lân gác phượng, lâu cao có vẽ trên tường hình lân hình phượng, cho đẹp cho sang Những người rượng cột của quốc gia, được Vua vẽ cho hình treo trong lầu lân gác phượng để biểu dương, công đức Nghĩa rộng: những người cầm quyền chính quốc gia, có thế lực trên mọi người”)

47 Chất Bản HXH, MQL giống bản LT (; bản TTV giống bản ĐQT: găm

(theo ông ĐQT: găm là “cho vào túi, lấy ghim gài lại cho khỏi rớt ra ngoài; giữ cẩn thận, kín đáo; một túi đầy: có rất nhiều kinh nghiệm, hoặc tài riêng

trong người”) *Túi Bản TTV, MQL, ĐQT giống bản LT; bản HXH: xải (xải

là cái dãy để mang hành lý.Ý là có nhiều kế hoạch quản lý việc nước)

50 Mồ nấm Bản TTV, ĐQT giống bản LT; bản HXH giống bản MQL: xắm

nắm (theo ông HXH, xắm nắm “nghĩa là ngấp nghé, chực sẵn Ý là những hồn kẻ thù chực kẻ ấy chết để báo oán”; ông MQL nhận xét: “phát hiện trên của ông HXH làm trong lại, sống lại một câu thơ thiên tài Nguyễn Du, là một trong những phát hiện hay và giá trị nhất của khoa văn bản Việt Nam”)

51 Khôn đổi Bản TTV, ĐQT giống bản LT; bản HXH giống bản MQL:

khôn chuộc

Trang 33

52 Lầu ca viện xướng Bản HXH, MQL giống bản LT (theo ông HXH: “trỏ

chổ tiêu khiển của các quí giả”); bản TTV: lầu cao viện hát; bản ĐQT: lân đài phượng các (như chú thích câu 35)

55 Thất thểu Bản TTV, MQL ,ĐQT giống bản LT; bản HXH: thất thưởng

56 Mạng oan Bản HXH, TTV, MQL, ĐQT giống nhau: nặng oan

57 Nào Bản HXH, MQL giống bản LT; bản TTV giống bản ĐQT: kìa;

58 Đem mình vào cướp Bản MQL giống bản LT 9 MQL cho rằng “đem

mình vào cướp ấn… mô tả cái tham vọng, tham vọng đến mức đem cả thân mình đổi lấp, cướp lấy ấn, để rồi phơi thây trăm họ làm công một người” và câu thơ của HXH ‘văn từ non, vô sắc thái”); bản HXH: vâng mệnh sai lĩnh (bản HXH theo bản Chính đại “có đổi chữ lệnh ra chữ mệnh…vào cướp ấn không đúng với một tướng của triều đình”); bản TTV giống ĐQT: đổi mình vào lấy (ĐQT chú thích: “đổi mình vào: chịu đựng những sự nguy hiểm đến tính mệnh mình, xông pha nơi chiến trận, để lập công, với mục đích được làm nguyên nhung”)

59 Thét giọng Bản HXH, MQL; thét rống (theo ông HXH bản LT đọc lầm

nôm, thét rống “ý là tả tiếng trống chiêng hò hét khi giáp trận”; ông ĐQT cũng cho rằng: “ thét rống đầy hình tượng, đi với gió mưa thành một bút pháp

“lưỡng long song phụng”, hơn là sấm sét, không cấu thành được bút pháp ấy,

vả lại chữ mòn, sáo Thét rống mới là nguyên tác của Nguyễn Du”); TTV, ĐQT: sấm sét (theo ông ĐQT : “gió- mưa, sấm- sét: tượng trưng cho cảnh sung nổ đạnbay nơi chiến trường”)

60 Phơi thân Bản HXH: phơi thây; bản TTV, MQL, ĐQT giống nhau: dãi

thây

61 Cung rơi tên lạc Bản HXH giống bản LT (theo HXH: “Ý là khi thất thế,

tìm cung tên để tự vệ thì đã mất, cho nên bị giết”); bản TTV, MQL, ĐQT giống nhau: tên rơi đạn lạc (Ý là bị chết bởi “tên rơi đạn lạc”)

Trang 34

63 Bơ vơ… chân trời Bản HXH, MQL giống bản LT; bản TTV, ĐQT

giống nhau: mênh mông…bên trời

64 Tấm thân miếng lá biết vùi vào đâu Bản HXH: nắm xương vô chủ biết

vùi vào đâu; bản TTV: nắm xương vô chủ biết nơi chốn nào; bản ĐQT: nắm xương vô chủ biết rơi chốn nào; bản MQL: nắm xương vô chủ biết vùi nơi nao

65 Trời thăm thẳm Bản HXH, TTV, MQL giống nhau: trời xâm xẩm; bản

ĐQT: khi xâm xẩm *Mưa rầm Bản HXH, TTV, MQL, ĐQT giống nhau:

mưa gào

66 Khí âm vân Bản HXH giống bản MQL: khí âm ngưng (theo ông HXH:

“Ý là mù lạnh đọng”; bản TTV giống bản ĐQT: khí âm huyền (theo ĐQT:

“khí âm huyền cũng như âm khí, là bản chất vô hình của những người đã chết”)

67 Năm năm sương nắng dãi dầu Bản HXH giống bản LT; bản TTV

giống bản ĐQT: ngàn mây nội cỏ rầu rầu; bản MQL: năm năm xương trắng dãi dầu

68 Còn đâu tế tự, còn đâu chưng thường Bản HXH giống bản LT; bản

TTV, ĐQT, MQL giống nhau: nào đâu điếu tế, nào đâu chưng thường

Những kẻ chết vì tham vọng phú quý

Cũng có kẻ tính đường trí phú

Làm tội mình nhịn ngủ bớt ăn

Ruột rà không kẻ chí thân

Dầu làm nên nữa, dành phần cho ai

Khi nằm xuống không người nhắn nhủ

Của phù vân giàu có như không

Tuy rằng bạc chảy tiền ròng

Trang 35

Khi đi mang được một đồng nào đi

Khóc ma mướn thương gì hang xóm

Hòm gỗ đa, bó đóm đưa đêm

Ngẩn ngơ nội Lộc đồng chiêm

Tàn hương dọt nước biết tìm vào đâu

Cũng có kẻ muốn cầu chữ quí

Đem thân vào thành thị lân la

Mấy thu lìa của lìa nhà

Văn chương đã chắc đâu mà trí thân

Dọc hàng quán phải tuần mưa nắng

Vợ con nào nuôi nấng kiêng khem

Vội vàng liệm sấp chon nghêng

Anh em: thiên hạ, láng giềng: người dâng

Bóng tang – tử xa chừng hương khúc

Bãi sa trường kẻ dọc người ngang

Cô hồn nhờ gửi tha hương

Gió trăng heo hắt,khói hương lạnh lùng

70 Làm tội mình nhịn ngủ bớt ăn Bản HXH giống bản LT; bản TTV:

mình làm mình nhịn ngủ kém ăn; bản MQL giống bản ĐQT: mình làm mình nhịn ngủ quên ăn

74 Giàu có Bản HXH: dẫu có; bản TTV: có cũng, bản MQL giống bản

ĐQT: dù có

Trang 36

79 Ngẩn ngơ Bản TTV, ĐQT, MQL giống bản LT;bản HXH: thẩn thơ *

Nội Lộc Bản HXH, MQL: nội rộc ( theo ông HXH: “Nội rộc nghĩa là cánh

đồng trũng nước, cũng như đồng chiêm”; bản ĐQT: nội dộc (nội dộc là cánh đồng cao (tiếng cổ) và đồng chiêm: cánh đồng thấp, để cấy lúa vụ thứ hai…); bản TTV: trong quãng

80 Tàn hương dọt nước HXH, TTV: tàn hương dọt nước; MQL: nén hương

giọt nước; ĐQT: tuần hương dọt nước

81 Muốn Bản HXH giống bản LT; bản TTV, MQL, ĐQT giống nhau: rắp

82 Đem thân Bản HXH, MQL: giấn thân; bản TTV, ĐQT: dấn mình * Lân

la Bản ĐQT, TTV, MQL giống bản LT;bản HXH: bôn ba

86 Kiêng khem Bản TTV giống bản LT; bản HXH, ĐQT, MQL giống

nhau: khem –kiêng

89 Tang tử Bản HXH giống bản LT; bản TTV, MQL, ĐQT giống nhau:

phần tử *Sa chừng HXH, ĐQT, MQL: xa chừng; bản TTV: xa trừng

*Hương khúc.Bản HXH, TTV, MQL giống bản LT; bản ĐQT: thân tộc

90 Sa trường HXH: sa-ma; ĐQT, MQL, TTV: tha ma

92 Khói Bản HXH, MQL giống bản LT; bản ĐQT, TTV: lửa

Những kẻ chết bởi hoàn cảnh mưu sinh, nghèo đói

Lại có kẻ vào sông ra bể

Cánh buồm thưa chạy xế gió đông

Gặp cơn giông tố giữa dòng

Đem thân vùi rập vào lòng kình nghê

Lại có kẻ đi về buôn bán

Đòn gánh tre chèn –đắn hai vai

Gặp cơn mưa gió, trở trời

Hồn đường sá,biết lạc loài vào đâu

Trang 37

Lại có kẻ mắc vào ngũ lính

Bỏ cửa nhà đi gánh việc quan

Nước khe cơm ống gian nan

Dãi dầu muôn dặm, lầm than một đời

Trong chiến trận xem người như rác Thân đã đành đạn lạc tên rơi

Lơ thơ ngọn lửa ma trơi

Tiếng oan văng vẳng,tối trời càng thương

Lại có kẻ lỡ làng một kiếp

Liều tuổi xuân bán nguyệt buôn hoa Ngẩn ngơ khi trở về già

Ai chồng con nấy, biết là cậy ai

Sống đã chịu một đời phiền não

Thác lại nhờ bát cháo lá đa

Đau đớn thay phận đàn bà

Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu

Lại có kẻ nằm cầu gối đất

Dõi những ngày mưa nắng ngược xuôi Thương thay cũng một kiếp người

Sống nhờ hang xứ, thác vùi đường quan

Lại có kẻ mắc oan tù rạc

Trang 38

Gửi thân vào chiếu lác một manh

Gói xương chon lấp góc thành

Kiếp nào khỏi được oan tình ấy đi

Lại như đứa tiểu nhi nhỏ bé

Lỗi trời sinh lìa mẹ lìa cha

Lấy ai bồng bế vào ra

Ư – ư tiếng khóc xót xa nỗi lòng

Cũng có kẻ đắm sông chìm bể

Cũng có người sẩy củi ngã cây

Có người gieo giếng đứt dây

Người trôi nước lụt, ngây lây cháy thành

Người thì mắc sơn-tinh-thủy- quái

Người thì lăm răng hổ ngà voi

Có người có đẻ không nuôi

Có người sa sẩy, mệnh người gian phi

93 Lại Bản HXH giống bản LT; bản TTV, ĐQT, MQL giống nhau: cũng

94 Cánh buồm thưa Bản MQL giống bản LT; bản HXH: cánh buồm dơi;

bản ĐQT, TTV: cánh buồm mây

96 Vùi rập Bản HXH giống bản LT; bản TTV, ĐQT: chôn rấp; bản MQL:

vùi rấp

97 Lại Bản HXH giống bản LT: bản TTV, MQL, ĐQT giống nhau: cũng

98 Chèn đắn Bản HXH giống bản LT; bản TTV, MQL, ĐQT giống nhau:

chin dạn

Trang 39

99 Mưa nắng khí trơi Bản HXH: mưa gió trở trời; bản TTV, MQL, ĐQT

giống nhau: mưa nắng giữa trời

100 Hồn đường sá, biết lạc loài vào đâu Bản HXH giống bản LT; bản

TTV, MQL, ĐQT giống nhau: hồn đường phách sá lạc loài nơi nao

101 Lại Bản HXH giống bản LT; bản TTV, ĐQT, MQL giống nhau: cũng

*Ngũ lính Bản HXH giống bản LT; bản TTV, ĐQT, MQL giống nhau: khóa

lính

102 Đi gánh Bản HXH giống bản LT; bản TTV, MQL: gồng gánh; bản

ĐQT; gồng ghính

103 Nước khe cơm ống Bản MQL giống bản LT (theo ông MQL: cơm ống:

cơm thổi trong ống tre, nước uống là nước khe suối); bản HXH: nước bầu cơm ống (nước uống phải mang theo trong bầu, cơm thổi dung ống tre tươi làm nồi); bản ĐQT giống bản TTV: nước khe cơm vắt

104 Muôn dặm Bản HXH, MQL giống bản LT; bản ĐQT giống bản TTV:

nghìn dặm

105 Trong chiến trận xem người như rác Bản HXH, MQL giống bản LT;

bản ĐQT giống bản TTV: buổi chiến trận mạng người như rác

106 Thân Bản HXH giống LT; bản MQL, ĐQT giống bản TTV: phận * Đành HXH hiệu đính: dành (dình đọc đành hoặ dành cũng được Ý là thân

người lính không khỏi tên đạn); bản MQL, ĐQT, TTV giống bản LT

107 Lơ thơ Các bản HXH, TTV, ĐQT, MQL: lập lòe

109 Lại Bản HXH, MQL giống LT; bản ĐQT giống bản TTV; cũng (giống bản Chính đại) *Lỡ làng Các bản HXH, ĐQT, MQL giống bản LT; bản TTV: nhỡ nhàng * Kiếp bản HXH, MQL theo bản Chính đại: tiết ( theo

HXH tiết ở đây là trinh tiết; theo MQL tiết hợp vần trọn vẹn với nguyệt, vả lại nói người đàn bà kỹ nữ, thất tiết)); bản TTV, ĐQT giống bản LT

Trang 40

110 Liều tuổi xuân bán nguyệt buôn hoa Bản HXH giống bản LT; bản

ĐQT giống bản TTV: liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa; bản MQL kết hợp giữa hai bản: liều tuổi xanh bán nguyệt buôn hoa

112 Ai chồng con nấy Bản HXH, MQL giống bản LT; bản ĐQT giống bản

TTV: ai chồng con tá

117 Lại Bản HXH giống bản LT; bản ĐQT, MQL giống bản TTV: cũng

118 Dõi những ngày Bản HXH giống bản LT; bản TTV: rõi tháng ngày; bản MQL giống bản ĐQT: dõi tháng ngày * Mưa nắng Các bản HXH,

TTV, MQL, ĐQT giống nhau: hành khất

121 Lại Bản HXH giống bản LT Các bản TTV, MQL, ĐQT, HT: cũng * Mắc oan Bản HXH, MQL, HT giống bản LT; bản ĐQT giống bản TTV:

125 Lại như đứa….nhỏ bé Bản HXH: lại như đứa…tấm bé; bản TTV: kìa

những đứa…tấm bé; bản ĐQT giống bản MQL: kìa những kẻ…tấm bé

126 Lỗi trời sinh Các bản HXH, MQL, TTV : lỗi giờ sinh

Ngày đăng: 04/05/2021, 07:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2000), Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb Hội nhà văn, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2000
2. Đào Duy Anh (1958), Khảo luận về “Truyện Thúy Kiều”. NXB Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo luận về “Truyện Thúy Kiều
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: NXB Văn hóa
Năm: 1958
3. Đào Duy Anh (2005), Nghiên cứu văn hóa và ngữ văn, Nxb GD, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu văn hóa và ngữ văn
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2005
4. Toan Ánh (2005), Nếp cũ tín ngưỡng Việt Nam, quyển thượng, Nxb Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nếp cũ tín ngưỡng Việt Nam
Tác giả: Toan Ánh
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2005
5. Toan Ánh (2004), Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua tết – lễ- hội hè, Nxb TPHCM: Văn nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua tết – lễ- hội hè
Tác giả: Toan Ánh
Nhà XB: Nxb TPHCM: Văn nghệ
Năm: 2004
6. Phan Kế Bính (2006), Việt Nam phong tục, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2006
7. Lê Nguyên Cẩn (2007) Tiếp nhận Truyện Kiều từ góc nhìn văn hóa, Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp nhận Truyện Kiều từ góc nhìn văn hóa
Nhà XB: Nxb GD
8. Chân dung Nguyễn Du (1971). Nhiều tác giả. Nxb. Nam Sơn – Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chân dung Nguyễn Du
Tác giả: Chân dung Nguyễn Du
Nhà XB: Nxb. Nam Sơn – Sài Gòn
Năm: 1971
9. Nguyễn Đổng Chi (1970), Việt Nam cổ văn học sử. Phú Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam cổ văn học sử
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi
Năm: 1970
10. Hà Như Chi(2000), Việt Nam thi văn giảng luận, Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam thi văn giảng luận
Tác giả: Hà Như Chi
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2000
11. Xuân Diệu (1988), Các nhà thơ cổ điển Việt Nam. Nxb. Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhà thơ cổ điển Việt Nam
Tác giả: Xuân Diệu
Nhà XB: Nxb. Văn học
Năm: 1988
12. Trịnh Bá Dĩnh, Nguyễn Hữu Sơn, Vũ Thanh (1998). Nguyễn Du về tác giả và tác phẩm, Nxb giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Du về tác giả và tác phẩm
Tác giả: Trịnh Bá Dĩnh, Nguyễn Hữu Sơn, Vũ Thanh
Nhà XB: Nxb giáo dục
Năm: 1998
13. Đỗ Đức Dục (1989), Về chủ nghĩa hiện thực thời đại Nguyễn Du. Nxb. Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về chủ nghĩa hiện thực thời đại Nguyễn Du
Tác giả: Đỗ Đức Dục
Nhà XB: Nxb. Văn hóa
Năm: 1989
14. Lê Chí Dũng (1999), Thử nhìn lại con sông văn học Việt Nam, một số vấn đề văn học Việt Nam, Nxb Van học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử nhìn lại con sông văn học Việt Nam, một số vấn đề văn học Việt Nam
Tác giả: Lê Chí Dũng
Nhà XB: Nxb Van học
Năm: 1999
15. Nguyễn Đăng Duy (2002), Văn hóa tâm linh, Nxb Văn hóa thong tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa tâm linh
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: Nxb Văn hóa thong tin
Năm: 2002
16. Nguyễn Đăng Duy (2001), Các hình thái tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam, Nxb Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các hình thái tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: Nxb Thông tin
Năm: 2001
17. Nguyễn Đăng Duy (1998), Nho gióa với văn hóa Việt Nam, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho gióa với văn hóa Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 1998
18. Nguyễn Đăng Duy (1999), Phật giáo với văn hóa Việt Nam, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Phật giáo với văn hóa Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 1999
19. , Nguyễn Đăng Duy (2001), Đạo giáo với văn hóa Việt Nam, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo giáo với văn hóa Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2001
20. Nguyễn Thạch Giang, Trương Chính biên khảo và chí giải (2001). Nguyễn Du – cuộc đời và tác phẩm. Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Du – cuộc đời và tác phẩm
Tác giả: Nguyễn Thạch Giang, Trương Chính biên khảo và chí giải
Nhà XB: Nxb. Văn hóa Thông tin
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm