1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) đánh giá tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của ngân hàng thương mại cổ phần việt nam

137 35 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 137
Dung lượng 1,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

58 CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VÀ KẾT QUẢ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỢI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM ..... Xuất phát từ thực tiễn và

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

-

VŨ THỊ NGỌC HOA

ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỢI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN

VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng

Mã số: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS.TS Bùi Kim Yến

TP Hồ Chí Minh – Năm 2014

Trang 2

Tôi xin cam đoan luận văn “ Đánh giá tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam” là công trình của riêng tôi với sự hướng dẫn của cô PGS.TS Bùi Kim Yến

Các thông tin dữ liệu sử dụng trong luận văn là trung thực, các nội dung trích dẫn được ghi rõ nguồn gốc và các kết quả nghiên cứu trong luận văn này chưa được trình bày tại bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng, cũng như kết quả luận văn của mình

Tp.HCM, ngày … tháng … năm 2014 Học viên thực hiện

VŨ THỊ NGỌC HOA

Trang 3

Tôi xin cam đoan luận văn “ Đánh giá tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam” là công trình của riêng tôi với sự hướng dẫn của cô PGS.TS Bùi Kim Yến

Các thông tin dữ liệu sử dụng trong luận văn là trung thực, các nội dung trích dẫn được ghi rõ nguồn gốc và các kết quả nghiên cứu trong luận văn này chưa được trình bày tại bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng, cũng như kết quả luận văn của mình

Tp.HCM, ngày … tháng … năm 2014 Học viên thực hiện

VŨ THỊ NGỌC HOA

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ BIỂU ĐỒ

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Lý do ch ọn đề tài 1

2 M ục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 3

4.1 Phương pháp định tính 3

4.2 Phương pháp định lượng 3

5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu 3

6 H ạn chế của đề tài nghiên cứu 4

7 K ết cấu của luận văn 4

C HƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỢI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 6

1.1 Khái niệm lợi nhuận và khả năng sinh lợi của Ngân hàng thương mại 6

1.2 Các chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lợi của Ngân hàng thương mại 6

1.2.1Tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản bình quân (ROAA) 8

1.2.2 Tỷ lệ thu nhập trên tổng vốn chủ sở hữu bình quân (ROAE) 8

1.2.3 Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) 9

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của Ngân hàng thương mại 10

1.3.1Các nhân tố nội bộ của ngân hàng 10

1.3.1.1 Quy mô tài sản ngân hàng 10

1.3.1.2 Vốn chủ sở hữu 11

1.3.1.3 Quy mô tiền gửi khách hàng 12

Trang 5

1.3.1.6 Thuế 14

1.3.1.7 Chi phí hoạt động 15

1.3.1.8 Mức độ đa dạng hóa hoạt động kinh doanh 16

1.3.1.9 Năng suất lao động 16

1.3.2 Các nhân tố về ngành 17

1.3.2.1 Mức độ tập trung ngành 17

1.3.2.2 Sự phát triển ngành ngân hàng 18

1.3.2.3 Sự phát triển thị trường chứng khoán 18

1.3.3 Các nhân tố vĩ mô 19

1.3.3.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế 19

1.3.3.2 Tỷ lệ lạm phát 20

1.4 Tổng quan các nghiên cứu trước đây 21

1.4.1 Tổng quan các nghiên cứu trên thế giới 21

1.4.1.1 Nghiên cứu của Demirguc¸- Kunt và Huizinga (1999) 21

1.4.1.2 Nghiên cứu của Sehrish Gul và các cộng sự (2011) 23

1.4.1.3 Nghiên cứu của Yong Tan và Christos Floros (2012) 25

1.4.2 Tổng quan các nghiên cứu ở Việt Nam 27

1.4.2.1 Nghiên cứu của Nguyễn Việt Hùng (2008) 27

1.4.2.2 Nghiên cứu của Quang Thông (2012) 28

TÓM TẮT CHƯƠNG 1 30

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KHẢ NĂNG SINH LỢI VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỢI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM 31

2.1 Thực trạng khả năng sinh lợi của hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam 31

2.1.1 Quy mô ngành ngân hàng 31

2.1.2 Thực trạng khả năng sinh lợi của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam giai đoạn 2006 - 2013 32

Trang 6

2.2.1 Các nhân tố nội bộ ngân hàng 36

2.2.1.1 Quy mô tổng tài sản 36

2.2.1.2 Vốn chủ sở hữu 38

2.2.1.3 Rủi ro tín dụng 41

2.2.1.4 Mức độ đa dạng hóa hoạt động kinh doanh 45

2.2.2 Các nhân tố đặc trưng ngành 47

2.2.2.1 Mức độ tập trung ngành 47

2.2.2.2 Sự phát triển thị trường chứng khoán 49

2.2.3 Các nhân tố vĩ mô nền kinh tế 51

2.3 Đánh giá thực trạng khả năng sinh lợi của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam giai đoạn 2006 - 2013 53

2.3.1 Thành tựu 53

2.3.2 Những vấn đề hạn chế khả năng sinh lợi của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam và nguyên nhân của những hạn chế 55

2.3.2.1 Những vấn đề hạn chế khả năng sinh lợi của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam 55

2.3.2.2 Nguyên nhân của những hạn chế 56

TÓM TẮT CHƯƠNG 2 58

CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VÀ KẾT QUẢ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỢI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM 59

3.1 Giới thiệu mô hình hồi quy 59

3.1.1 Dữ liệu nghiên cứu 59

3.1.2 Các biến trong mô hình hồi quy 59

3.1.2.1 Biến phụ thuộc 59

3.1.2.2 Các biến độc lập 59

3.1.2.2.1 Nhóm biến độc lập về nội bộ ngân hàng 59

Trang 7

Rủi ro tín dụng (LLPTL) 61

Thanh khoản của ngân hàng (LAR) 61

Thuế (TOPBT) 62

Chi phí hoạt động (CIR) 62

Mức độ đa dạng hóa hoạt động kinh doanh (NIITA) 63

3.3.2 Các nhân tố về đặc trưng ngành 63

Mức độ tập trung ngành (CR) 63

Sự phát triển của thị trường chứng khoán (SMD) 64

3.1.2.2.3 Nhóm biến độc lập vĩ mô 64

Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GR) 64

Tỷ lệ lạm phát (IR) 65

3.1.3 Mô hình nghiên cứu 65

3.1.4 Giả thuyết nghiên cứu 67

3.2 Kết quả của mô hình 69

3.2.1 Thống kê mô tả các biến và ma trận hệ số tương quan 69

3.2.2 Kết quả phân tích hồi quy 72

3.3 Phân tích mô hình 79

3.3.1 Các nhân tố nội bộ ngân hàng 80

Quy mô tài sản (LTA) 80

Tỷ lệ vốn chủ sở hữu (ETA) 80

Rủi ro tín dụng (LLPTL) 81

Chi phí hoạt động (CIR) 81

Mức độ đa dạng hóa hoạt động kinh doanh 81

Khả năng thanh khoản ngân hàng (LAR) 82

Thuế (TOPBT) 82

3.3.2 Các nhân tố về đặc trưng ngành 82

Mức độ tập trung ngành (CR) 82

Trang 8

Tỷ lệ lạm phát (IR) 83

TÓM TẮT CHƯƠNG 3 83

CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO KHẢ NĂNG SINH LỢI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM 85

4.1 Một số giải pháp nâng cao khả năng sinh lợi của các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam 85

4.1.1 Giải pháp tăng vốn chủ sở hữu 85

4.1.2 Giải pháp tăng quy mô tài sản của ngân hàng 86

4.1.3 Giải pháp quản lý rủi ro tín dụng 87

4.1.4 Giải pháp đa dạng hóa hoạt động kinh doanh ngân hàng 88

4.1.5 Giải pháp quản lý hiệu quả chi phí 89

4.1.6 Giải pháp ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát 90

4.1.7 Giải pháp nâng cao mức độ tập trung của ngành ngân hàng 91

4.2 Một số giải pháp hỗ trợ từ Chính phủ và Ngân hàng Nhà Nước 92

4.2.1 Giải pháp hỗ trợ từ chính phủ 92

4.2.2 Giải pháp hỗ trợ từ NHNN 93

TÓM TẮT CHƯƠNG 4 94

KẾT LUẬN 95 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

I Tiếng Việt

II Tiếng Anh

PHỤ LỤC

Phụ lục 01: Danh sách các NHTMCP Việt Nam trong mẫu nghiên cứu

Phụ lục 02: Dữ liệu các biến sử dụng trong mô hình nghiên cứu

Phụ lục 03: Mô tả các biến sử dụng trong mô hình hồi quy

Phụ lục 04: Kết quả hồi quy OLS

Phụ lục 05: Kết quả kiểm định tự tương quan

Trang 9

Phụ lục 08: Kết quả hồi quy Random Effect

Phụ lục 09: Kết quả kiểm định Hausman

Phụ lục 10: Kết quả kiểm định phương sai thay đổi Phụ lục 11: Kết quả hồi quy Fixed Effect cluster Phụ lục 12: Kết quả hồi quy two step system GMM

Trang 10

Chữ viết tắt Nghĩa tiếng nước ngoài Nghĩa Tiếng Việt

BIDV Bank for Investment and

Development of Vietnam Joint Stock Commercial

Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam

Eximbank Ngân hàng TMCP Xuất nhập

khẩu Việt Nam FEM Fixed Effect Model Mô hình tác động cố định

GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội

GNP Gross National Product Tổng sản phẩm quốc gia

GMM Generalized method of moments Phương pháp moment tổng quát IMF International Monetary Fund Quỹ tiền tệ thế giới

NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần OLS Ordinary least squares Phương pháp bình phương nhỏ

nhất REM Random Effect Model Mô hình tác động ngẫu nhiên Sacombank Saigon Thuong Tin Commercial

Joint Stock Bank

Ngân hàng TMCP Sài Gòn thương tín

Vietcombank Ngân hàng TMCP Ngoại

thương Việt Nam

Trang 11

Việt Nam VAMC VietNam Asset Management

Company

Công ty TNHH MTV Quản lý tài sản các tổ chức tín dụng Việt Nam

WB World Bank Ngân hàng thế giới

WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại Thế giới

Trang 12

Trang

Bảng 1.1 Tổng hợp các nhân tố tác động đến khả năng sinh lợi của NHTM 29

Bảng 2.1 Số lượng NHTMCP giai đoạn 2006 - 2013 31

Bảng 2.2: ROAA và ROAE trung bình của các NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2006 – 2013 32

Bảng 2.3: Tổng tài sản trung bình của các NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2006 – 2013 37

Bảng 2.4 Tình hình dư nợ và rủi ro tín dụng của các NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2006 – 2013 42

Bảng 2.5 Tình hình cơ cấu thu nhập của các NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2006 – 2013 45

Bảng 2.6 Tốc độ tăng trưởng GDP và lạm phát Việt Nam giai đoạn 2006 – 2013 52

Bảng 3.1 Thống kê mô tả các biến 69

Bảng 3.2 Ma trận hệ số tương quan 72

Bảng 3.3 Kết quả hồi quy theo mô hình OLS 73

Bảng 3.4 Kiểm định VIF 74

Bảng 3.5 Kết quả ước lượng 2 bước two – step system GMM 78

Trang 13

Trang Biểu đồ 2.1 ROAA và ROAE trung bình của các NHTMCP Việt Nam giai đoạn

2006 – 2013 35

Biểu đồ 2.2 Tổng vốn chủ sở hữu trung bình của các NHTMCP Việt Nam giai đoạn

2006 – 2013 39

Biểu đồ 2.3 Tỷ lệ vốn chủ sở hữu/tổng tài sản trung bình của các NHTMCP Việt

Nam giai đoạn 2006 – 2013 39

Biểu đồ 2.4 Tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng và chi phí dự phòng rủi ro tín dụng

trung bình của các NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2006 – 2013 43

Biểu đồ 2.5 Tỷ lệ tập trung tổng tài sản của 3 NHTM lớn nhất giai đoạn 2006 –

Trang 14

L ỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do ch ọn đề tài

Lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam đóng một vai trò hết sức quan trọng trong

sự phát triển của hệ thống tài chính nói riêng và nền kinh tế nói chung Một mặt, huy động và phân bổ vốn phục vụ cho sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế, mặt khác thúc đẩy sự lưu thông hàng hóa thông qua các dịch vụ thanh toán của ngân hàng cũng như là công cụ để thực hiện các mục tiêu vĩ mô trong chính sách tiền tệ

của Ngân hàng Nhà nước Sức khỏe kinh tế của một quốc gia có liên quan chặt chẽ

với sự lành mạnh của hệ thống ngân hàng Một hệ thống ngân hàng yếu kém có thể

dẫn đến hiểm họa lớn đối với bất kỳ hệ thống tài chính nào Điều này đã được minh

chứng rõ ràng trong các cuộc khủng hoảng tài chính đã diễn ra trên thế giới Trong

cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997, không chỉ hệ thống ngân hàng của một số nước châu Á như: Thái Lan, Indonesia sụp đổ mà cả hệ thống tài chính của các nước này cũng phải chịu áp lực Hay gần đây là cuộc khủng hoảng tài chính năm

2008 mà nguồn gốc từ cuộc khủng hoảng các khoản vay thế chấp dưới chuẩn của

Mỹ là lời nhắc nhở chúng ta về vai trò quan trọng của một hệ thống ngân hàng lành

mạnh và hiệu quả Tuy nhiên trong thời gian gần đây, hệ thống ngân hàng lại đang

bộc lộ những hiện tượng méo mó, không lành mạnh như: tỷ lệ nợ xấu tăng cao tính đến cuối tháng 9/2013 tổng nợ xấu nội bảng của toàn hệ thống ngân hàng là 4.62% cao hơn con số 4.08% vào cuối năm 2012, lợi nhuận giảm không phanh, yếu kém

về quản trị và khả năng quản lý rủi ro; có tới 9 ngân hàng thuộc diện phải tái cấu trúc theo quy định của Ngân hàng Nhà Nước và còn vô số vụ việc vi phạm, lừa đảo trong hoạt động ngân hàng Trước tình hình đó, để đảm bảo an toàn cho hệ thống ngân hàng đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại

Việt Nam trong tương lai, chính phủ đã buộc phải thực hiện đề án tái cơ cấu toàn

diện hệ thống ngân hàng

Trang 15

Xuất phát từ thực tiễn và đòi hỏi cấp thiết trên tác giả đã tập trung nghiên

cứu đề tài “Đánh giá tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi

c ủa ngân hàng thương mại Việt Nam” với mong muốn đóng góp về phương diện

lý luận các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của các ngân hàng thương mại

Việt Nam và từ đó có những gợi ý giải pháp để có thể nâng cao khả năng sinh lợi

của ngân hàng thương mại, đóng góp vào sự phát triển của lĩnh vực ngân hàng tại

Việt Nam đặc biệt là trong giai đoạn nền kinh tế hết sức khó khăn và cạnh tranh

khốc liệt như hiện nay

2 M ục tiêu nghiên cứu

Nội dung nghiên cứu cốt lõi của luận văn là tập trung giả quyết ba mục tiêu chính như sau:

- Nghiên cứu tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của NHTMCP Việt Nam thông qua mô hình phân tích định lượng

- Luận văn sẽ đưa ra mô hình phản ánh các nhân tố có ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của các NHTMCP Việt Nam

- Gợi ý một số giải pháp phù hợp với thực tiễn tình hình nghiên cứu nhằm góp phần nâng cao khả năng sinh lợi của các NHTMCP Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của NHTMCP Việt Nam Trong luận văn này, tác giả không chỉ tập trung vào nhóm các nhân tố nội bộ của NH như: quy mô NH, cấu trúc vốn, mức độ đa dạng hóa hoạt động kinh doanh, chi phí hoạt động, rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản… mà còn xem xét đến nhóm các yếu tố của ngành như: mức độ tập trung ngành, sự phát triển

của TTCK cũng như các tác động của kinh tế vĩ mô như: tốc độ tăng trưởng kinh tế,

tỷ lệ lạm phát

Trang 16

Phạm vi của luận văn tập trung vào các NHTMCP trong hệ thống NHTM

Việt Nam Dữ liệu thu thập từ các báo cáo thường niên của 40 NHTMCP Việt Nam, các số liệu kinh tế vĩ mô của Tổng cục thống kê và WB từ năm 2004 đến 2013

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp định tính

Tác giả sử dụng phương pháp phân tích mô tả sử dụng các số liệu thống kê thông qua thu thập dữ liệu có sẵn, tiến hành lập bảng biểu, vẽ các đồ thị để dễ dàng

so sánh, phân tích và đánh giá về mặt trực quan mối quan hệ giữa các nhân tố nội

bộ, ngành, vĩ mô và khả năng sinh lợi của NH theo dãy số liệu thời gian trước khi

sử dụng kỹ thuật phân tích định lượng với dữ liệu bảng

4.2 Phương pháp định lượng

Nghiên cứu thực hiện nhằm ước lượng và nhận diện các nhân tố thông qua các giá trị độ tin cậy và mức ý nghĩa, kiểm định mô hình nghiên cứu, xác định mức

độ ảnh hưởng của các nhân tố đến khả năng sinh lợi của các NHTMCP Việt Nam,

và được thực hiện qua các giai đoạn:

- Thu thập dữ liệu thống kê qua các báo cáo của 40 NHTMCP Việt Nam, báo cáo của Tổng cục thống kê, WB giai đoạn 2004 – 2013

- Thiết lập mô hình nắm bắt tất cả các nhân tố về nội bộ NH, ngành và vĩ mô

lý ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của các NHTMCP Việt Nam

- Sau cùng, nghiên cứu dùng các phương pháp ước lượng OLS, Pooled OLS, FEM, REM, GMM và các kiểm định cần thiết được sử dụng trên phần mềm Stata

12 để lựa chọn mô hình phù hợp nhất khi đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố đến

khả năng sinh lợi của các NHTMCP Việt Nam từ 2004 – 2013

5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu

Trong luận văn này, tác giả đã tiến hành kiểm định các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của các NHTMCP Việt Nam một cách khá toàn diện so với

Trang 17

các nghiên cứu đã thực hiện Thứ nhất, luận văn đã thực hiện phân tích dữ liệu bảng không cân đối của 40 NHTMCP Việt Nam trong khoảng thời gian khá dài 10 năm

từ 2004 đến 2013, trong khi các nghiên cứu trước đây chỉ thực hiện với thời gian

ngắn chỉ khoảng 5 đến 7 năm với dữ liệu bảng cân bằng Thứ hai, một số biến là rất quan trọng trong sự phát triển của NH và hoạch định chính sách của chính phủ đó là

sự phát triển của TTCK và một biến khác đó là thuế Tuy nhiên, các biến này vẫn chưa được đưa vào các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi

của các NHTMCP Việt Nam Ngoài ra, luận văn này cũng đặc biệt đề cập tới lạm

phát, đây chính là nhân tố rất quan trọng đối với nền kinh tế của một quốc gia

6 H ạn chế của đề tài nghiên cứu

Trong luận văn chỉ mới đề cập tới tốc độ tăng trưởng kinh tế và tỷ lệ lạm phát như là một yếu tố vĩ mô và chỉ sử dụng một mô hình tuyến tính để đánh giá tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của NHTMCP Việt Nam Tuy nhiên, trong nhiều nghiên cứu ngoài lạm phát các tác giả khác còn xem xét đến các biến vĩ mô khác như: GDP, GNP, tỷ lệ thất nghiệp hay chênh lệch lãi suất… Do

đó, hướng nghiên cứu tiếp theo của luận văn sẽ tập trung nghiên cứu thêm các biến

vĩ mô khác để có thể đánh giá tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của NHTMCP Việt Nam một cách toàn diện nhất

7 K ết cấu của luận văn

Ngoài phần tóm tắt, chương mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục, phụ lục và tài liệu tham khảo; luận văn được bố cục theo 4 chương như sau:

- Chương 1 Tổng quan các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của ngân hàng thương mại

- Chương 2 Thực trạng khả năng sinh lợi và các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam

Trang 18

- Chương 3: Mô hình nghiên cứu thực nghiệm và kết quả tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam

- Chương 4 Giải pháp nâng cao khả năng sinh lợi của ngân hàng thương mại

cổ phần Việt Nam

Trang 19

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ

NĂNG SINH LỢI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 Khái ni ệm lợi nhuận và khả năng sinh lợi của Ngân hàng thương mại

doanh nghiệp kinh doanh hướng tới" Mỗi doanh nghiệp phải kiếm được đủ lợi nhuận để tồn tại và phát triển trong một thời gian dài Đây là chỉ số để phát triển kinh tế, cải thiện thu nhập quốc gia và nâng cao mức sống Không nghi ngờ gì, lợi nhuận là mục tiêu hợp pháp, nhưng không nên được nhấn mạnh quá mức Ban quản

lý nên cố gắng tối đa hóa lợi nhuận của công ty và đồng thời cũng phải luôn giữ ý nghĩ về sự giàu có, thịnh vượng của xã hội Do đó, lợi nhuận không chỉ là phần thưởng cho riêng chủ sở hữu mà cũng có liên quan với lợi ích của các đối tượng khác trong xã hội Lợi nhuận là thước đo không chỉ để đánh giá hiệu quả kinh tế mà còn bao gồm hiệu quả quản lý và các mục tiêu xã hội

Thuật ngữ khả năng sinh lợi bao gồm hai từ, cụ thể là “lợi nhuận” và “khả

năng” “Lợi nhuận” đại diện cho con số tuyệt đối và không thể đưa ra một ý tưởng

chính xác của tính đầy đủ, gia tăng hoặc sự thay đổi trong hoạt động kinh doanh Từ

"khả năng" phản ánh sức mạnh để kiếm được lợi nhuận từ các hoạt động kinh doanh

của một doanh nghiệp Ngoài ra, khả năng kinh doanh cũng hướng tới khả năng tài chính cũng như hiệu suất hoạt động của doanh nghiệp Weston và Brigham đã

khẳng định "khả năng sinh lợi là thặng dư ròng của một số lượng lớn các chính sách

và quyết định" Theo Harward và Upto "Khả năng sinh lợi là khả năng của một sự đầu tư để kiếm được lợi nhuận từ việc sử dụng các nguồn lực" Vì vậy, trên cơ sở này tác giả có thể định nghĩa như sau: "Khả năng sinh lợi là khả năng kiếm được lợi

Trang 20

Khả năng sinh lợi của NHTM là khả năng của một NH nhằm nâng cao thu

nhập của mình từ việc sử dụng tất cả các nguồn lực sẵn có Đây là chỉ số quan trọng

và đáng tin cậy nhất bởi đã làm nổi bật năng lực quản lý của các NH, miêu tả văn hóa làm việc, hiệu quả hoạt động của NH Khả năng sinh lợi là một khái niệm tương đối và khá hữu ích trong việc ra quyết định Đó là một kế hoạch bao gồm các bước được thực hiện để cải thiện lợi nhuận của các NH

Đôi khi, khái niệm "lợi nhuận" và "khả năng sinh lợi" được sử dụng thay thế cho nhau nhưng trong ý nghĩa thực tế chúng có sự khác biệt Lợi nhuận là thu nhập

dư còn lại sau khi đáp ứng tất cả chi phí sản xuất, chi phí quản lý Lợi nhuận là một con số tuyệt đối không thể hiện đầy đủ sự thay đổi trong hiệu quả từ hoạt động tài chính và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Điều này gây khó khăn và nhầm

lẫn trong trường hợp so sánh khi công ty có sự thay đổi trong quy mô đầu tư hay bán hàng Tuy nhiên, những vấn đề này được xử lý bằng cách liên hệ con số lợi nhuận tuyệt đối, hoặc với khối lượng bán hàng hoặc với mức độ đầu tư Một mối quan hệ định lượng đó thành lập dưới hình thức tỷ lệ hoặc tỷ lệ phần trăm và tỷ lệ

đó là khả năng sinh lời Như vậy, khả năng sinh lợi có thể được coi là một thuật ngữ tương đối đo lường lợi nhuận và mối quan hệ với các yếu tố nội sinh và ngoại sinh ảnh hưởng trực tiếp lợi nhuận

Nói tóm lại, lợi nhuận là lý do cho sự tồn tại tiếp tục của tất cả các tổ chức kinh doanh trong đó có các NHTM Do đó, khả năng sinh lợi và quy mô lợi nhuận được xem như là các chỉ số về hiệu quả trong việc triển khai các nguồn lực của các

NH Đặc biệt, trong phân tích khả năng sinh lợi các NH cần phải xem xét kết hợp cả

lợi nhuận đạt được sau một kỳ hoạt động và các nhân tố trực tiếp ảnh hưởng đến lợi nhuận của NH

1.2 Các ch ỉ tiêu đo lường khả năng sinh lợi của Ngân hàng thương mại

Khả năng sinh lợi của NHTM thông thường được đo lường bằng các chỉ tiêu sau đây:

Trang 21

1.2.1 T ỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản bình quân (ROAA)

Chỉ tiêu tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản bình quân là tỷ số thể hiện mối tương quan giữa khả năng sinh lợi và tài sản bình quân của NH ROAA là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công tác quản lý của NH, cho thấy khả năng chuyển tài sản của NH thành thu nhập ròng (Trần Huy Hoàng, 2011 Giáo trình Quản trị ngân hàng thương

mại Nhà xuất bản lao động xã hội, trang 295)

ROAA thể hiện bình quân cứ một đồng tài sản được sử dụng trong hoạt động kinh doanh sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận và được tính bằng công thức sau:

ROAA = 𝐿𝐿ợ𝑖𝑖 𝑛𝑛ℎ𝑢𝑢ậ𝑛𝑛 𝑟𝑟ò𝑛𝑛𝑛𝑛

𝑇𝑇ổ𝑛𝑛𝑛𝑛 𝑡𝑡à𝑖𝑖 𝑠𝑠ả𝑛𝑛 𝑏𝑏ì𝑛𝑛ℎ 𝑞𝑞𝑢𝑢â𝑛𝑛

ROAA phản ánh khả năng quản lý của việc sử dụng nguồn lực tài chính và nguồn lực đầu tư thực của NH để tạo ra lợi nhuận (theo Hassan và Bashir, 2003) Đối với bất kỳ NH nào, ROAA cũng phụ thuộc vào quyết định chính sách của NH cũng như các yếu tố không thể kiểm soát liên quan đến nền kinh tế và quy định của chính phủ ROAA là một tỷ lệ không bị bóp méo bởi yếu tố vốn chủ sở hữu cao Hơn nữa, ROAA đại diện tốt hơn trong việc đo lường khả năng của NH để tạo ra lợi nhuận dựa trên danh mục đầu tư tài sản Chính vì vậy, ROAA được sử dụng làm

biến phụ thuộc trong hầu hết các nghiên cứu phân tích khả năng sinh lợi của NHTM như: Hassan và Bashir (2003), Heffernan và Fu (2008), Yong Tan và Christos Floros (2012)… Kết quả của các nghiên cứu được thực hiện trước đây thể hiện mô hình hồi quy với ROAA đều ý nghĩa và ROAA phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố cả

nội sinh lẫn ngoại sinh như: quy mô NH, tỷ lệ vốn chủ sở hữu, tiền gửi khách hàng,

rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng, chi phí hoạt động, mức độ tập trung và sự phát triển của ngành NH, sự phát triển của TTCK, tăng trưởng kinh tế, lạm phát…

1.2.2 T ỷ lệ thu nhập trên tổng vốn chủ sở hữu bình quân (ROAE)

Tỷ lệ thu nhập trên tổng vốn chủ sở hữu bình quân đo lường tỷ lệ thu nhập cho các cổ đông của NH, thể hiện thu nhập mà các cổ đông nhận được từ bình quân

một đồng vốn đầu tư vào NH (Trần Huy Hoàng, 2011 Giáo trình Quản trị ngân hàng thương mại Nhà xuất bản lao động xã hội, trang 295) ROAE được tính bằng công thức sau:

Trang 22

ROAE = 𝐿𝐿ợ𝑖𝑖 𝑛𝑛ℎ𝑢𝑢ậ𝑛𝑛 𝑟𝑟ò𝑛𝑛𝑛𝑛

𝑇𝑇ổ𝑛𝑛𝑛𝑛 𝑣𝑣ố𝑛𝑛 𝑐𝑐ℎủ 𝑠𝑠ở ℎữ𝑢𝑢 𝑏𝑏ì𝑛𝑛ℎ 𝑞𝑞𝑢𝑢â𝑛𝑛

Tương tự như ROAA, ROAE cũng được sử dụng để đo lường khả năng sinh

lợi của NHTM như trong các nghiên cứu của IMF (2002), Goddard và các cộng sự (2004), Fu và Heffernan (2010)… và kết quả nghiên cứu cho thấy ROAE cũng phụ thuộc vào các yếu tố như: tài sản, tỷ lệ vốn chủ sở hữu, tiền gửi khách hàng, chi phí

hoạt động, tăng trưởng kinh tế, lạm phát…

Tuy nhiên, ROAE ít được sử dụng hơn so với ROAA Nguyên nhân là do trong kết quả của các nghiên cứu trước đây thì khả năng giải thích của ROAE thấp hơn so với ROAA Điều này phù hợp với đặc điểm hoạt động của NH khi mà NH dùng phần lớn nguồn vốn huy động cho các hoạt động kinh doanh của mình, còn tỷ

lệ vốn chủ sở hữu thì lại thấp Chính điều này làm cho dù NH có tỷ lệ ROAE cao thì cũng chưa thể khẳng định là ngân hàng đang kinh doanh tốt hay kém hiệu quả, mặc

dù vậy, ROAE vẫn được sử dụng trong đo lường khả năng sinh lợi của NH

1.2.3 T ỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM)

Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên đo lường khả năng sinh lợi của NH từ hai hoạt động kinh doanh truyền thống là huy động vốn và cấp tín dụng Đây là chỉ tiêu phản ánh khả năng tạo ra lợi nhuận của NH với vai trò là một trung gian tài chính NIM càng cao thì NH càng có nhiều lợi nhuận và được tính bằng công thức sau:

NIM = 𝑇𝑇ℎ𝑢𝑢 𝑛𝑛ℎậ𝑝𝑝 𝑙𝑙ã𝑖𝑖−𝐶𝐶ℎ𝑖𝑖 𝑝𝑝ℎí 𝑙𝑙ã𝑖𝑖

𝑇𝑇ổ𝑛𝑛𝑛𝑛 𝑡𝑡à𝑖𝑖 𝑠𝑠ả𝑛𝑛 𝑐𝑐ó sinh 𝑙𝑙ờ𝑖𝑖 𝑏𝑏ì𝑛𝑛ℎ 𝑞𝑞𝑢𝑢â𝑛𝑛

Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên được các chủ NH quan tâm, theo dõi vì giúp cho

NH dự báo trước khả năng sinh lãi của mình thông qua việc kiểm soát chặt chẽ tài

sản sinh lời và việc tìm kiếm những nguồn vốn có chi phí thấp nhất Bên cạnh ROAA, ROAE, NIM cũng được sử dụng làm biến phụ thuộc trong mô hình phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của NHTM như: Ben Naceur

và Goaied (2008), Heffernan và Fu (2010),Yong Tan và Christos Floros (2012)… tuy nhiên mức độ sử dụng có ít hơn so với 2 chỉ số thông dụng là ROAA và ROAE Điều này là do NIM được đo lường bằng chênh lệch giữa thu nhập lãi và chi phí lãi, chưa đề cập đến chi phí dự phòng rủi ro tín dụng Hơn nữa, trong thời gian gần đây

Trang 23

các NH đã đa dạng hóa hoạt động kinh doanh của mình, bên cạnh hoạt động cấp tín

dụng nhiều rủi ro NH còn thực hiện nhiều hoạt động phi lãi như: kinh doanh chứng khoán, góp vốn đầu tư, kinh doanh ngoại hối… Vì vậy, NIM có thể chưa phản ánh chính xác khả năng sinh lợi của các NH

1.3 Các nhân t ố ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của Ngân hàng thương

m ại

Lĩnh vực NH đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của hệ thống tài chính và nền kinh tế nói chung Do vậy, các vấn đề về tình trạng thiếu vốn, một số lượng lớn các khoản nợ xấu, lợi nhuận của ngành NH vẫn thấp cần được xử lý kịp

thời Giải pháp cho những vấn đề trên là cần có sự hiểu biết về các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của ngành NH Chính vì vậy, mà đã có rất nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới đã thực hiện về các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của NHTM Các nghiên cứu tập trung vào việc phân tích và đánh giá khả năng sinh lợi của NHTM ở nhóm các quốc gia phát triển, đang phát triển, các nền kinh tế mới nổi hoặc đôi khi chỉ tập trung vào phạm vi một quốc gia cụ thể Nhìn chung, qua các nghiên cứu đã được thực hiện các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của NHTM có thể chia thành ba nhóm: nhóm các nhân tố nội bộ của mỗi

NH, nhóm thứ hai là các yếu tố về ngành NH và cuối cùng là các yếu tố vĩ mô

1.3.1 Các nhân t ố nội bộ của ngân hàng

Đây là nhóm các nhân tố chịu sự ảnh hưởng chủ quan của các nhà quản lý

NH bao gồm: quy mô tài sản, vốn chủ sở hữu, quy mô tiền gửi của khách hàng, rủi

to tín dụng, khả năng thanh khoản, thuế, chi phí hoạt động, mức độ đa dạng hóa

hoạt động kinh doanh, năng suất lao động

Tài sản là giá trị tiền tệ của các tài sản mà NH có quyền sở hữu (bao gồm các quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt) một cách hợp pháp, chúng là kết quả của các hoạt động trước đó đang sử dụng cho những mục đích khác nhau mang lại thu

nhập cho NH, tính đến một thời điểm nhất định Ở một góc độ tiếp cận khác tài sản

Trang 24

là kết quả của việc sử dụng vốn của NH, là những tài sản được hình thành từ những nguồn vốn của NH trong quá trình hoạt động (Trần Huy Hoàng, 2011 Giáo trình

Quản trị ngân hàng thương mại Nhà xuất bản lao động xã hội, trang 121 – 122) Các thành phần của tài sản bao gồm: ngân quỹ, danh mục đầu tư (đầu tư chứng khoán), danh mục tín dụng và các tài sản có khác

Quy mô tài sản của NH là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của NHTM Có mối quan hệ tích cực giữa quy mô tài sản và khả năng sinh

lợi của NH, quy mô tài sản càng lớn thì khả năng sinh lời càng cao Điều này thể

hiện tính kinh tế theo quy mô, các NH có quy mô tài sản lớn sẽ có cơ hội thuận lợi hơn để gia tăng khả năng sinh lợi từ việc mở rộng kênh phân phối, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ cũng như hiệu quả do đòn bẩy cao hơn từ nguồn vốn tài chính (theo Akhavein, Berger và Humphrey, 1997; Sufian, 2009; Sufian và Kamarudin, 2012) Tuy nhiên, tác động tích cực của quy mô tài sản chỉ có một giới

hạn nhất định Khi tổng tài sản quá lớn vượt quá điểm hiệu quả về quy mô thì có thể

dẫn đến mối quan hệ tiêu cực giữa quy mô mô tài sản và khả năng sinh lợi Nguyên nhân là do việc quản trị khối tài sản có này đòi hỏi nguồn nhân lực có chuyên môn cao, tốn kém nhiều chi phí quản lý, điều hành đồng thời còn có thể dẫn đến sự quan liêu, hành chính Hơn nữa, nếu danh mục tài sản ngày càng đa dạng hóa với mục tiêu làm giảm rủi ro tín dụng thì khi đó sẽ kéo theo lợi nhuận NH cũng sẽ giảm theo (theo Yong Tan và Floros 2012; Ali Raza, Jawaid và Shafqat 2013) Do vậy, để có

thể tăng khả năng sinh lợi sinh lợi, giảm rủi ro, đồng thời đảm bảo khả năng thanh khoản các NH phải luôn quan tâm đến các danh mục tài sản đặc biệt là các tài sản sinh lời của NH, thực hiện chiến lược đa dạng hóa danh mục tài sản hợp lý, đảm

bảo danh mục tài sản có thể chuyển đổi một cách linh hoạt phù hợp với những biến động của môi trường kinh doanh

Vốn chủ sở hữu của NH là nguồn tiền thuộc sở hữu hợp pháp của các chủ sở

hữu NH trong một thời gian dài, chủ yếu bao gồm các khoản vốn NH được cấp

hoặc được đóng góp bởi những người chủ NH khi mới thành lập, cộng với những

Trang 25

khoản được trích lập, giữ lại từ lợi nhuận sau thuế Vốn chủ sở hữu cung cấp nguồn

lực cho NH, hoạt động trong thời gian mới bắt đầu khi chưa nhận được tiền gửi của khách hàng, giúp NH chống đỡ khi rủi ro phát sinh Vốn chủ sở hữu là nguồn vốn

ổn định và luôn tăng trưởng trong quá trình hoạt động của NH, tuy chỉ chiếm tỷ

trọng nhỏ trong nguồn vốn kinh doanh (thông thường từ 10% đến 15%) nhưng vốn

chủ sở hữu là yếu tố quyết định quy mô hoạt động của NH Đây còn là yếu tố để các

cơ quan quản lý dựa vào để xác định các tỷ lệ an toàn trong kinh doanh NH như:

giới hạn huy động vốn, giới hạn cho vay, giới hạn đầu tư vào tài sản cố định… Đo

đó, để giảm thiểu rủi ro và nguy cơ phá sản trong kinh doanh, các NH phải duy trì

sự ổn định và tăng trưởng hợp lý của vốn chủ sở hữu

Theo hầu hết các nghiên cứu đã thực hiện trước đây đều cho thấy vốn chủ sở

hữu có tác động tích cực đến khả năng sinh lợi của NHTM Cụ thể, trong nghiên

cứu của Bourke (1989), Berger (1995), Angbazo (1997), Demirguc - Kunt và Huizinga (1999), đều cho rằng một NH có tỷ lệ vốn chủ sở hữu cao thì sẽ gia tăng

khả năng sinh lợi của NH Đó là vì đã làm giảm chi phí kiệt quệ tài chính, chi phí phá sản vì vậy sẽ gia tăng khả năng sinh lợi của NH Một tỷ lệ vốn chủ sở hữu thấp

có thể đưa đến đòn bẩy và rủi ro cao, từ đó sẽ tăng chi phí vay mượn và làm giảm

khả năng sinh lợi Mối tương quan thuận này tiếp tục được thể hiện trong các nghiên cứu gần đây của Sufian (2009); Dietrich và Wanzenried (2009); Ali Raza, Jawaid và Shafqat (2013) Ngược lại với kết quả trên, những nghiên cứu của Yong Tan và Christos Floros (2012), Fadzlan Sufian và Kamarudin (2012) lại tìm ra mối quan hệ tiêu cực giữa vốn chủ sở hữu và khả năng sinh lợi, việc tăng vốn chủ sở

hữu không đồng thời với việc nâng cao khả năng sinh lợi của NH

Tiền gửi của khách hàng là những khoản ký thác của cá nhân, tổ chức kinh tế vào NH với mục địch được hưởng lợi tức hay được NH cung cấp những dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt Tiền gửi của khách hàng bao gồm tiền gửi không

kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn Quy mô tiền gửi/tổng tài sản càng lớn thì NH càng có nhiều vốn để tài trợ cho các hoạt động tín dụng, góp phần mang lại lợi nhuận cho

NH (theo Chu và Lim, 1998) Mặt khác, nếu NH có quy mô tiền gửi nhỏ, không đủ

Trang 26

nguồn vốn cho cấp tín dụng thì các NH phải huy động vốn trên thị trường liên ngân hàng với chi phí cao, điều này sẽ làm giảm khả năng sinh lợi của NH (theo Randhawa và Lim, 2005) Điều này cho thấy mối quan hệ thuận chiều giữa quy mô

tiền gửi của khách hàng và khả năng sinh lợi của NH Tuy nhiên, nếu quy mô tiền

gửi cao NH có thể gia tăng hoạt động tín dụng dẫn đến chất lượng tín dụng giảm khi

đó khả năng sinh lợi của NH sẽ giảm Hơn thế nữa, quy mô tiền gửi khác hàng gia tăng sẽ thu hút thêm nhiều đối thủ cạnh tranh Khi đó lợi nhuận cho các NH tham gia thị trường sẽ giảm Do vậy, tác động của quy mô tiền gửi khách hàng đến khả năng sinh lời có thể là tích cực nhưng cũng có thể là tiêu cực

lập dự phòng rủi ro tín dụng theo quy định, điều này làm tăng chi phí, từ đó giảm

lợi nhuận và khả năng sinh lợi của các NH Tuy nhiên cũng trong nghiên cứu của Yong Tan và Floros (2012) nhưng kiểm định với biến NIM thì kết quả lại tương đồng và nghiên cứu của Fadzlan and Kahazanah (2009) cho ra mối tương quan dương giữa rủi ro tín dụng và khả năng sinh lợi của NH

Thanh khoản là khả năng tiếp cận các tài sản hoặc nguồn vốn có thể dùng để chi trả với chi phí hợp lý ngay khi nhu cầu vốn phát sinh Rủi ro thanh khoản là loại

rủi ro xuất hiện trong trường hợp NH thiếu khả năng chi trả, không kịp chuyển đổi

kịp thời các loại tài sản ra tiền hoặc không có khả năng vay mượn để đáp ứng yêu

Trang 27

cầu của các hợp đồng thanh toán Một trong những nhiệm vụ quan trọng của bất kỳ

NH nào là bảo đảm khả năng thanh khoản đầy đủ

Những nghiên cứu gần đây chứng tỏ rằng hiện tượng thiếu hụt thanh khoản, thường là một trong những dấu hiệu đầu tiên cho thấy NH đang ở trong tình trạng khó khăn tài chính nghiêm trọng Hậu quả tiếp theo có thể làm NH mất dần các khoản tiền gửi cũ vì áp lực rút tiền ngày càng gia tăng, không thể thu hút thêm các khoản tiền gửi mới do thái độ dè dặt của công chúng đối với NH; một số NH thì ở trong tình thế cho vay hỗ trợ một cách miễn cưỡng vì phải huy động với lãi suất cao hơn lãi suất cho vay, càng làm suy giảm hơn nữa lợi nhuận cũng như khả năng sinh

lợi của NH (Trần Huy Hoàng, 2011 Giáo trình Quản trị ngân hàng thương mại Nhà xuất bản lao động xã hội, trang 232 – 233) Cụ thể, trong nghiên cứu của Molyneux và Thorton (1992), Fadzlan Sufian và Kamarudin (2012) khi nghiên cứu

với ROAA và ROAAE, Yong Tan và Floros (2012) khi kiểm định với ROAA; Ali Raza, Jawaid và Shafqat (2013) đều tìm ra mối tương quan nghịch giữa thanh khoản

và khả năng sinh lợi của NH Trái ngược với những quan điểm trên, Bourke (1989), Graham và Bordelean (2010) đã lập luận rằng lợi nhuận được cải thiện do các NH

nắm giữ một số tài sản lưu động, tuy nhiên đến một điểm mà tại đó giữ thêm nhiều tài sản có tính lỏng hơn nữa sẽ làm giảm lợi nhuận của NH bởi vì tài sản lưu động

có chi phí cơ hội cao hơn Điều này phù hợp với các nền kinh tế nhỏ, các nền kinh

tế mới nổi khi mà ở các quốc gia này tỷ lệ cho vay trên vốn huy động luôn ở mức cao Rủi ro thanh khoản ở các NH này tăng lên đồng thời kéo theo sự gia tăng của

lợi nhuận cũng như khả năng sinh lợi của NH Đây cũng là kết luận của Fadzlan Sufian và Kamarudin (2012), Yong Tan và Floros (2012) khi kiểm định với NIM

Thuế là một khoản thanh toán bắt buộc được đặt ra bởi nhà nước đối với cư dân của một nước Và số tiền thuế thu được dùng để tài trợ việc chi tiêu chính phủ cho các mục đích phát triển kinh tế - xã hội trong nước Các NH cũng phải chịu thuế trực tiếp thông qua thuế thu nhập doanh nghiệp và các loại thuế khác Thuế có tác động trực tiếp đến lợi nhuận của NH, một khoản chi trả cho các nghĩa vụ thuế

Trang 28

của NH càng cao sẽ dẫn đến phát sinh chi phí cao hơn, do đó sẽ làm giảm lợi nhuận Các nghiên cứu của Demirguc - Kunt và Huizinga (1999); Yong Tan và Floros (2012); Ali Raza, Jawaid và Shafqat (2013) đều cho cùng một kết quả đó là có một

mối quan hệ tiêu cực của thuế đối với khả năng sinh lợi của NH

Chi phí hoạt động là chi phí phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh

của NH bao gồm: chi nộp thuế (trừ thuế thu nhập doanh nghiệp); các khoản phí, lệ phí; chi lương, phụ cấp, trợ cấp cho nhân viên; chi về tài sản; chi hoạt động quản lý công cụ; chi nộp bảo hiểm tiền gửi khách hàng; chi dự phòng (không bao gồm dự phòng rủi ro tín dụng và dự phòng giảm giá chứng khoán) Trong các nghiên cứu trước đây có hai hướng tranh luận về tác động của chi phí hoạt động đến khả năng sinh lợi của NH Có quan điểm cho rằng việc giảm chi phí hoạt động, nâng cao hiệu

quả và do đó sẽ gia tăng lợi nhuận của các tổ chức tài chính Điều này đã chỉ ra mối quan hệ tiêu cực giữa chi phí hoạt động và khả năng sinh lợi của NH (theo Bourke ,1989; Jiang và cộng sự, 2003)

Ngược lại, theo kết quả nghiên cứu về khả năng sinh lợi của NH châu Âu được thực hiện bởi Molyneux và Thornton (1992) hay các nghiên cứu của Guru và

cộng sự (2002) về Malaysia, Naceur (2003) nghiên cứu trường hợp của NH Tunisia, Sufian và Kamarudin (2012), Yong Tan và Floros (2012), đều cho rằng chi phí hoạt động là nhân tố ảnh hưởng tích cực đến khả năng sinh lợi Họ lập luận rằng khi chi phí tiền lương, tiền thưởng chi trả cho người lao động tăng lên sẽ dẫn đến chi phí

hoạt động của NH cao hơn Tuy nhiên, điều này lại khuyến khích người lao động nâng cao năng suất lao động từ đó dẫn đến gia tăng lợi nhuận và khả năng sinh lợi

của NH Hơn nữa, Sathye (2001) đã lập luận rằng những nhà quản trị có trình độ cao và chuyên nghiệp có thể yêu cầu mức thu nhập cao hơn và do đó một mối quan

hệ tích cực giữa chi phí hoạt động với khả năng sinh lợi là điều tự nhiên Kết quả nghiên cứu của họ được ủng hộ bởi giả thuyết tiền lương hiệu quả, trong đó nêu

rằng tiền lương tăng thì năng suất lao động sẽ tăng

Trang 29

1.3.1.8 M ức độ đa dạng hóa hoạt động kinh doanh

Một yếu tố quyết định quan trọng gây ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của

NH là mức độ đa dạng hóa trong hoạt động kinh doanh NH Khi các NH đa dạng hơn các hoạt động kinh doanh của mình bên cạnh hai hoạt động truyền thống là huy động vốn và cấp tín dụng thì họ có thể tạo ra nguồn thu nhập cao hơn từ các hoạt động phi truyền thống bao gồm: thu nhập từ phí do cung cấp các dịch vụ thanh toán, thu hộ, bảo lãnh, thu nhập từ đầu tư chứng khoán, kinh doanh ngoại hối… Do đó làm giảm sự phụ thuộc vào thu nhập từ lãi mà nguồn thu nhập này rất dễ bị ảnh hưởng bởi những bất lợi của tình hình kinh tế vĩ mô NH càng thực hiện đa dạng hóa thì sẽ càng có thêm lợi nhuận từ các hoạt động phi truyền thống (theo Jiang và

cộng sự, 2003; Sufian và Habibullah ,2010; Sufian và Kamarudin ,2012 khi nghiên

cứu với ROAA và ROAE) Tuy nhiên, thu nhập phi lãi cũng gây tác động tiêu cực đến khả năng sinh lợi của các NH Gischer và Jutter (2001); Demirguc - Kunt và Huizinga (1999); Sufian và Kamarudin (2012) khi nghiên cứu với ROAA và ROAE; Yong Tan và Floros (2012); Ali Raza, Jawaid và Shafqat (2013) lập luận

rằng những thu nhập ngoài lãi từ hoạt động kinh doanh ngoại tệ, các công cụ phái sinh, cung cấp thẻ tín dụng quốc tế sẽ bị cạnh tranh rất khắc nghiệt từ các NHNNg hơn so với thu nhập từ lãi truyền thống, do đó sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng sinh lợi của NH

Năng suất lao động là chỉ tiêu đo lường hiệu quả sử dụng lao động, đặc trưng

bởi quan hệ so sánh giữa một chỉ tiêu đầu ra (kết quả sản xuất) với lao động để sản

xuất ra sản phẩm Năng suất lao động là một trong những yếu tố quan trọng tác động tới sức cạnh tranh, đặc biệt năng suất lao động lại phản ánh yếu tố chất lượng người lao động - yếu tố cốt lõi của sự phát triển trong sự cạnh tranh toàn cầu, sự phát triển của khoa học công nghệ và nền kinh tế tri thức hiện nay Bằng chứng thực nghiệm từ Athanasoglou và các cộng sự (2005) khi nghiên cứu các NH ở Hy Lạp, Yong Tan và Floros (2012) khi nghiên cứu trường hợp ở Trung Quốc đều cho thấy

có một mối quan hệ tích cực và có ý nghĩa giữa năng suất lao động và khả năng sinh

lợi của NH Điều này cho thấy năng suất lao động là một nhân tố quan trọng có tác

Trang 30

động tích cực đến khả năng sinh lợi của NH Năng suất lao động cao hơn sẽ tạo ra

sự tăng trưởng thu nhập và khả năng sinh lợi của NH Vì thế, để có thể gia tăng khả năng sinh lợi các NH luôn hướng đến mục tiêu nâng cao năng suất lao động thông qua các chiến lược khác nhau bao gồm: giữ ổn định lực lượng lao động, đảm bảo

chất lượng cao hơn của lao động mới được tuyển dụng, cắt giảm số nhân viên và tăng tổng sản lượng đầu ra thông qua tăng đầu tư vào các tài sản cố định kết hợp công nghệ mới

1.3.2 Các nhân t ố về ngành

Bên cạnh những nhân tố nội bộ phụ thuộc vào ý chí chủ quan của các nhà

quản trị thì các nhân tố về ngành cũng có sự tác động đến khả năng sinh lợi của NHTM Theo các nghiên cứu đã thực hiện trên thế giới đó là các yếu tố: mức độ tập trung ngành, sự phát triển của ngành NH, sự phát triển của TTCK

Các nhà kinh tế thường đánh giá mức độ tập trung ngành thông qua tỷ lệ tập trung thị phần của 3 hay 5 NH lớn nhất trong ngành nắm giữ (Concentration Ratio) hay thông qua giả thuyết Cấu trúc – thực thi – kết quả (SCP hypothesis) còn được

gọi là giả thuyết năng lực thị trường (Market Power hypothesis) Chỉ số này càng cao cho thấy mức độ tập trung thị phần vào các hãng lớn nhất càng lớn, đồng nghĩa

với việc ngành đó đang có mức độ tập trung cao Nếu chỉ có một số hãng lớn trong ngành nắm giữ phần lớn thị phần thì ngành sẽ trở nên độc quyền hơn, ít mang tính

cạnh tranh Ngược lại, tỷ lệ này thấp cho thấy ngành này có tính cạnh tranh cao, trong ngành có rất nhiều đối thủ nhưng không có đối thủ nào có thị phần đáng kể

Trong các nghiên cứu trước đây, Molyneux và Thorton (1992), Bourke (1989),Smirlock (1985),Staikouras và Wood (2003) đều cho thấy mức độ tập trung ngành có mối tác động tích cực Mức độ tập trung ngành càng cao thì tính độc quyền của các công ty trong ngành cũng càng cao; do đó làm tăng lợi nhuận biên

của NH Tuy nhiên cũng có những nghiên cứu cho kết quả hoàn toàn trái ngược Naceur (2003) đã cho thấy mối quan hệ tiêu cực giữa mức độ tập trung ngành và

Trang 31

khả năng sinh lợi của NH tại Tunisia Tương tự, Karasulu (2001) cho trường hợpHàn Quốc;Yong Tan và Floros (2012) khi nghiên cứu ở Trung Quốc cũng tìm thấy gia tăng mức độ tập trung ngành không nhất thiết đóng góp vào việc gia tăng khả năng sinh lợi của hệ thống NH

Sự phát triển ngành NH cho thấy hiệu quả của các NH đối với tăng trưởng kinh tế Tỷ lệ của tài sản NH so với GDP càng cao có thể dẫn đến nhu cầu cao đối

với dịch vụ ngân hàng, do đó thu hút nhiều đối thủ cạnh tranh tiềm năng tham gia

thị trường Khi thị trường trở nên cạnh tranh hơn, các NH nói chung có lợi nhuận biên nhỏ hơn và từ đó làm giảm khả năng sinh lợi (theo Demirguc - Kunt và Huizinga, 1999) Ngược lại cũng có quan điểm cho rằng các quốc gia có hệ thống tài chính kém phát triển có xu hướng ít hiệu quả và có hành vi cạnh tranh giá cả Trong thực tế, đối với các quốc gia có ngành NH phát triển có thể giúp nâng cao

hiệu quả của NHTM bằng việc áp dụng chiến lược khác nhau để duy trì lợi nhuận

của họ và hạn chế hành vi cạnh tranh chạy đua giá cả (theo Yong Tan và Floros, 2012; Ali Raza, Jawaid và Shafqat, 2013)

TTCK là một loại thị trường tài chính thực hiện chức năng huy động vốn đầu

tư cho nền kinh tế Tại các quốc gia có nền kinh tế thị trường, điều kiện tất yếu để phát triển kinh tế là phải hình thành một TTCK năng động và hiệu quả TTCK không những là một kênh huy động vốn hữu hiệu cho nền kinh tế mà còn là một công cụ hữu hiệu cho Chính phủ điều hành vĩ mô nền kinh tế TTCK sẽ trở nên lớn hơn, năng động và hiệu quả hơn khi các quốc gia trở nên giàu có Do đó, các nước đang phát triển thường có TTCK kém phát triển Một số các nghiên cứu của King

và Levine (1993), Demirguc - Kunt và Maksimovic (1998), Levine và Zervos (1998); Demirguc - Kunt và Huizinga (1999, 2001) đã chỉ ra rằng sự phát triển TTCK dẫn đến sự tăng trưởng cao hơn của doanh nghiệp, ngành và cả cấp độ của

một quốc gia Demirguc - Kunt và Maksimovic (1998) cho thấy rằng các công ty trong nước có TTCK năng động sẽ có sự tăng trưởng nhanh hơn dự đoán

Trang 32

Bằng chứng thực nghiệm từ các nghiên cứu của Demirguc - Kunt và Huizinga (1999), Bashir (2000), Yong Tan và Floros (2012) cho thấy rằng các NH

có cơ hội gia tăng khả năng sinh lợi ở các quốc gia có TTCK phát triển tốt Sự phát triển TTCK sẽ cải thiện tính sẵn có của vốn chủ sở hữu cho các công ty, giảm thiểu

rủi ro cho các khoản cho vay của họ, tăng cường năng lực cho vay của họ và cho phép họ được vốn hóa tốt hơn Mặt khác, khi TTCK phát triển sẽ nâng cao tính minh bạch của thông tin do được công bố một cách công khai Từ đó giúp cho các

NH dễ dàng hơn để đánh giá và giám sát rủi ro tín dụng liên quan đến họ, và điều này rất hữu ích cho các NH trong việc gia tăng dư nợ tín dụng đồng thời giảm rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các NH từ đó có thể dẫn đến gia tăng cho lợi nhuận Ngoài ra, các quy định và môi trường pháp lý mà làm cho TTCK phát triển có thể cũng có thể cải thiện chức năng của các NH

1.3.3 Các nhân t ố vĩ mô

Khả năng sinh lợi của NHTM không chỉ bị ảnh hưởng bởi những nhân tố nội

bộ phụ thuộc vào ý chí chủ quan của các nhà quản lý NH, các yếu tố đặc trưng cho lĩnh vực NH mà còn bị tác động bởi những nhân tố của nền kinh tế vĩ mô như: tốc

độ tăng trưởng kinh tế và lạm phát

Sự phát triển của nền kinh tế vĩ mô có sự ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh và khả năng sinh lợi của NHTM Bất kỳ một NH nào trong hoạt động kinh doanh đều chịu sự chi phối của tăng trưởng kinh tế Tốc độ tăng trưởng kinh tế thường được thể hiện qua sự gia tăng của GDP, GNP hay thu nhập bình quân đầu người trong một khoảng thời gian nhất định, thông thường là trong một năm Trong giai đoạn nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định, các doanh nghiệp có điều kiện kinh doanh thuận lợi hơn, khách hàng cá nhân có việc làm ổn định thì khả năng trả nợ sẽ cao hơn Điều này làm tăng chất lượng tín dụng cho khoản vay đã cấp Mặt khác, các nhu cầu về gửi tiền, thanh toán cũng như các dịch

vụ ngân hàng khác cũng gia tăng sẽ dẫn đến khả năng sinh lợi của NH được nâng cao Ngược lại, trong giai đoạn nền kinh tế suy thoái sẽ gây ra nhiều tổn thất cho

Trang 33

các NH do sự gia tăng các khoản nợ tín dụng tồn đọng cũng như dẫn đến sự thu hẹp

về nhu cầu đối với các dịch vụ tài chính, từ đó làm giảm khả năng sinh lợi của NHTM Đây cũng chính là kết quả trong các nghiên cứu thực nghiệm của Molyneux và Thornton (1992), Bourke (1989), Ben Naceur và Goaid (2005), Anathasoglou (2008), Dietrich và Wanzenried (2010), Syfari (2012) đều cho thấy

khả năng sinh lợi của NHTM chuyển động cùng chiều với tăng trưởng kinh tế

của các NH lại có sự tăng cao hơn thu nhập Hơn nữa, theo Hoggarth và cộng sự (1998) cũng kết luận rằng lạm phát cao và bất ngờ có thể gây ra khó khăn trong việc

lập kế hoạch và đàm phán các khoản cho vay

Như vậy, các kết quả tìm ra về mối tác động giữa lạm phát và khả năng sinh

lợi của NH rất khác nhau Lạm phát không nhất thiết chỉ có tác động tiêu cực đến

khả năng sinh lợi của NH như suy nghĩ thông thường của hầu hết mọi người Chừng nào các NH có khả năng dự báo lạm phát một cách chính xác, chủ động trong việc

Trang 34

hoạch định chiến lược kinh doanh hay có sự điều chỉnh một cách kịp thời về lãi suất thì lạm phát sẽ không còn là yếu tố tiêu cực nữa

1.4 T ổng quan các nghiên cứu trước đây

1.4.1 T ổng quan các nghiên cứu trên thế giới

Khả năng sinh lợi của NHTM thường được đo bằng khả năng sinh lợi trên

tổng tài sản (ROA), khả năng sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE) hay tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) và phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố cả bên trong lẫn bên ngoài Nhiều nghiên cứu đã cố gắng giải thích sự đóng góp c ủa một biến cụ thể vào hoạt động của các ngân hàng Cần lưu ý rằng tác giả thấy các kết quả nghiên cứu khác nhau thậm chí là mâu thuẫn Điều này chủ yếu là do các dữ liệu mà họ sử dụng khác nhau về không gian cũng như thời gian Một số tác giả trên thế giới đã nghiên cứu các dữ liệu về khả năng sinh lợi của các NHTM của một số quốc gia và khu vực,

chẳng hạn như nghiên cứu của Demirguc¸- Kunt và Huizinga (1999) về các nước trong khối OECD, nghiên cứu của Athanasoglou và các công sự (2005) cho trường

hợp của Hy Lạp, nghiên cứu Sehrish Gul và các cộng sự (2011) đối với trường hợp

NH ở Pakistan hay gần đây là nghiên cứu của Yong Tan và Christos Floros (2012) cho trường hợp ở Trung Quốc đã cho các kết quả rất khác nhau

Sau đây là tóm tắt về dữ liệu, phương pháp và kết quả của các nghiên cứu đã

thực hiện trên thế giới về khả năng sinh lợi của ngân hàng thương mại:

Nghiên cứu này có dữ liệu bao gồm các ngân hàng trong khối OECD và các nước phát triển với dữ liệu nghiên cứu trong giai đoạn 1990 – 1997 Các tác giả sử

dụng các biến độc lập là ROA, các biến phụ thuộc bao gồm 4 nhóm biến:

Nhóm 1 là nhóm các biến thể hiển đặc điểm của ngân hàng bao gồm: EQUITY/TA (vốn chủ sở hữu/tổng tài sản), LOAN/TA (tổng cho vay/tổng tài sản), NON – INTEREST EARNING ASSETS/TA (tổng tài sản không sinh lời/tổng tài

sản;

Nhóm 2 là nhóm các biến thể hiển các yếu tố vĩ mô bao gồm: GNP/đầu

người, tỷ lệ tăng trưởng GDP, tỷ lệ lạm phát, thuế suất

Trang 35

Nhóm 3 bao gồm các biến về cấu trúc tài chính là tổng tài sản của ngân hàng/GDP, tổng tín dụng khu vực tư nhân/GDP, tỷ lệ vốn hóa thị trường/GDP, tổng giá trị giao dịch chứng khoán nhân với giá trị trung bình của tỷ lệ chi phí hoạt động/tổng tài sản;

Nhóm biến cuối cùng là các nhân tố pháp lý bao gồm: quyền vổ đông (là chỉ

số quyền cổ đông lấy từ LaPorta, Lopez – de – Silanes, Shleifer and Vishny (1998)), quyền chủ nợ (là chỉ số của quyền chủ nợ lấy từ LaPorta, Lopez – de – Silanes, Shleifer and Vishny (1998)), chỉ số tuân thủ hợp đồng (được lấy từ /Businness Environmental Risk Intelligence (BREI)), thông luật (là biến giả, bằng 1 đối với các nước sử dụng thông luật và bằng 0 đối với các nước không sử dụng, lấy

từ LaPorta, Lopez – de – Silanes, Shleifer and Vishny (1998)), kiểm soát hoạt động ngân hàng (có giá trị từ 1 đến 4 với giá trị càng tăng chứng tỏ hoạt động kiểm soát

Các biến vĩ mô tác động không đáng kể ngoại trừ lạm phát có tác động tích

cực và đáng kể lên hoạt động ngân hàng Điều đó chứng tỏ ngân hàng tạo ra lợi nhuận cao hơn trong điều kiện lạm phát ROA bị tác động cùng chiều bởi thuế suất, trong trường hợp này là tỷ lệ thuế phải trả/lợi nhuận trước thuế của ngân hàng Điều này cho thấy các NH hoạt động trong môi trường thuế suất cao tạo ra lợi nhuận cao hơn để trả các khoản thuế

Bằng chứng thực nghiệm của nghiên cứu này cũng cho thấy các NH có khả năng sinh lợi cao hơn trong hệ thống tài chính kém phát triển Thị trường NH kém

Trang 36

phát triển có xu hướng sử dụng tài nguyên thiếu hiệu quả vả thiếu tính cạnh tranh nên khả năng sinh lợi tương đối cao Hệ thống NH phát triển hơn thì cạnh tranh

khốc liệt hơn, hiệu quả cao hơn và lợi nhuận thấp hơn

Các tác giả cũng thấy rằng trong hệ thống tài chính kém phát triển, sự phát triển của TTCK sẽ cải thiển khả năng sinh lợi của Nh Điều này phản ảnh sự tương

hổ giữa hệ thống NH và sự phát triển TTCK Cụ thể, phát triển TTCK và sự cải thiển khả năng có sẵn vốn tài trợ cho các công ty có thể làm tăng khả năng vay của

họ Hơn nữa, sự cung cấp thông tin tốt và dễ dàng hơn từ TTCK cho phép các NH đánh giá tốt hơn rủi ro tín dụng Điều này có thể dẫn đến sự gia tăng lợi nhuận và

khả năng sinh lợi cảu NH, tuy nhiên ở các cập độ cao hơn của sự phát triển TTCK các tác giả không còn quan sát được sự tương hỗ này

Nhìn chung, kết quả nghiên cứu của các tác giả cung cấp bằng chứng cho

thấy sự khác biệt trong mức độ phát triển của hệ thống NH và TTCK tác động đến chi phí tài trợ cho doanh nghiệp Thực sự, đối với các nước có hệ thống tài chính kém phát triển, phát triển tài chính cao hơn sẽ nâng cao hiệu quả của ngành NH, có

khả năng dẫn đến sự tăng trưởng cả ở cấp vi mô và ở cả tầm vĩ mô

Sehrish và các cộng sự nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh

lợi cảu 15 NHTM Pakistan trong khoảng thời gian từ năm 2005 - 2009 Trong bài nghiên cứu, các tác giả sử dụng biến phụ thuộc lần lượt là ROA, ROE, NIM và ROCE (lợi nhuận sau thuế trên vốn cổ phần thường của cố đông) Có bảy biến độc

lập trong mô hình là: tổng tài sản ngân hàng SIZE, tổng vốn chủ sở hữu/tổng tài sản CAPITAL, tổng dư nợ/tổng tài sản LOAN, tổng tiền gửi/tổng tài sản DEPOSIT, tốc

độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội GDP, chỉ số giá tiêu dùng CPI, vốn hóa thị trường MC

Dựa trên mô hình hồi quy với các biến nghiên cứu, các tác giả đã đưa ra bảy

giả thuyết nghiên cứu như sau:

H1: khả năng sinh lợi của NH có mối quan hệ với SIZE

H2: khả năng sinh lợi của NH có mối quan hệ với CAPITAL

Trang 37

H3: khả năng sinh lợi của NH có mối quan hệ với LOAN

H4: khả năng sinh lợi của NH có mối quan hệ với DEPOSIT

H5: khả năng sinh lợi của NH có mối quan hệ với GDP

H6: khả năng sinh lợi của NH có mối quan hệ với CPI

H7: khả năng sinh lợi của NH có mối quan hệ với MC

Kết quả nghiên cứu đối với ROA có hệ số R2 điều chỉnh bằng 54% cho thấy

có 54% biến độc lập giải thích cho biến phụ thuộc ROA, 46% biến độc lập không

giải thích được cho biến phụ thuộc ROA ROA có mối tương quan thuận với LOAN, DEPOSIT, GDP, CPI và có mối tương quan nghịch biến với SIZE Các biến CAPITAL, MC không có tương quan đối với ROA

Kết quả nghiên cứu đối với ROE có hệ số R2 điều chỉnh bằng 41.9% cho

thấy có 41.9% biến độc lập giải thích cho biến phụ thuộc ROA, 58.1% biến độc lập không giải thích được cho biến phụ thuộc ROE ROE có mối tương quan thuận với SIZE, DEPOSIT, GDP, CPI và có mối tương quan nghịch biến với CAPITAL, MC LOAN không có tương quan đối với ROE

Kết quả nghiên cứu đối với ROCE có hệ số R2 điều chỉnh bằng 48.5% cho

thấy có 48.5% biến độc lập giải thích cho biến phụ thuộc ROA, 51.5% biến độc lập không giải thích được cho biến phụ thuộc ROCE ROCE có mối tương quan thuận

với SIZE và có mối tương quan nghịch biến với CAPITAL, MC, LOAN Các biến , DEPOSIT, GDP, CPI không có tương quan đối với ROCE

Kết quả nghiên cứu đối với NIM có hệ số R2 điều chỉnh bằng 38.5% cho

thấy có 38.5% biến độc lập giải thích cho biến phụ thuộc ROA, 61.5% biến độc lập không giải thích được cho biến phụ thuộc NIM NIM có mối tương quan thuận với LOAN, CPI và có mối tương quan nghịch biến với CAPITAL, GDP Các biến , DEPOSIT, SIZE , MC không có tương quan đối với NIM

Như vậy, bài nghiên cứu của các tác giả cho thấy các yếu tố từ nội bộ ngân hàng như: vốn chủ sở hữu, tổng tài sản, dư nợ tín dụng, số dư tiền gửi đến các yếu tố

vĩ mô như: tốc độ tăng trưởng kinh tế, lạm phát, vốn hóa thị trường đều có ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của các NHTM Pakistan trong thời gian từ 2005 - 2009 Tuy nhiên các kết quả nghiên cứu lại không có sự nhất quán khi biến phụ thuộc lần

Trang 38

lượt là ROA, ROE, NIM và ROCE; một biến độc lập trong mô hình này có tương quan thuận chiều nhưng trong mô hình khác lại là tương quan nghịc chiều hay thậm chí là không có tương quan rõ ràng

Bài nghiên cứu của Yong Tan và Christos Floros (2012) thực hiện để kiểm định các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của 101 NHTM ở Trung Quốc trong giai đoạn 2003 – 2009 Đây là bài nghiên cứu đầu tiên kiểm định ba nhóm yếu

tố khác nhau ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của NH cụ thể là:

Nhóm yếu tố đầu tiên là các yếu tố liên quan đến nội bộ của NH như: quy

mô NH, rủi ro tín dụng, thanh khoản, thuế, tỷ lệ vốn chủ sở hữu, hiệu quả chi phí, các hoạt động phi truyền thống và năng suất lao động

Nhóm yếu tố thứ hai mô tả về cấu trúc ngành NH như: tỷ lệ tập trung, sự phát triển lĩnh vực NH và sự phát triển TTCK

Nhóm yếu tố thứ ba liên quan môi trường kinh tế vĩ mô mà trong đó hệ thống

NH hoạt động đang chịu ảnh hưởng đó là lạm phát

Trong bài nghiên cứu, hai tác giả đã thực hiện hồi quy mô hỉnh với biến phụ thuộc lần lượt là ROA và NIM Nghiên cứu này có sự khác biệt với các nghiên cứu

đã thực hiện trước đây vì trong hầu hết các nghiên cứu đã thực hiện đều sử dụng mô hình tác động cố định hoặc ngẫu nhiên, tuy nhiên trong nghiên cứu này hai tác giả

đã sử dụng phương pháp hồi quy với các biến công cụ GMM được sử dụng lần đầu tiên bởi Arellano và Bond (1991)

Kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy thuế có tương quan tiêu cực đến

khả năng sinh lợi của NH Trung Quốc Một nghĩa vụ ngày càng cao đối với các khoản thuế phải thanh toán của NH sẽ làm tăng chi phí phát sinh, do đó sẽ làm giảm

khả năng sinh lợi của NH

Trang 39

Yếu tố rủi ro tín dụng có mối tương quan tiêu cực đến khả năng sinh lợi của

NH bởi sự tích tụ của các khoản vay chưa thanh toán tăng sẽ làm giảm khả năng sinh lợi của NH

Yếu tố hiệu quả chi phí có ý nghĩa rất quan trọng và tương quan tích cực liên quan đến ROA Đây là một bằng chứng rằng các NH có khả năng để vượt qua các chi phí quản lý phát sinh trong hoạt động kinh doanh NH thì sẽ góp phần nâng cao khả năng sinh lợi

Mối quan hệ tiêu cực và có ý nghĩa giữa các hoạt động phi truyền thống và ROA ngụ ý rằng các NH nếu có một tỷ lệ thu nhập từ các hoạt động phi tín dụng

chẳng hạn như các dịch vụ thu phí thì có xu hướng khả năng sinh lợi của NH sẽ

thấp Kết quả nghiên cứu này là phù hợp cho các NH Trung Quốc bởi động lực chính cho các NH Trung Quốc phát triển các hoạt động phi truyền thống là để thu hút khách hàng mới hơn là tăng lợi nhuận, kết quả là lệ phí tính cho dịch vụ phi truyền thống là rất thấp do đó đã làm giảm khả năng sinh lợi của NH

Yếu tố năng suất lao động có tương quan tích cực đến khả năng sinh lợi của

NH Trung Quốc Kết quả này cho thấy rằng khi năng suất được nâng cao sẽ tạo ra ngày càng nhiều thu nhập góp phần nâng cao được khả năng sinh lợi của NH

Chuyển sang các yếu tố về ngành thì kết quả nghiên cứu cho thấy có một

mối quan hệ tiêu cực giữa mức độ tập trung và khả năng sinh lợi của NH Mặt khác,

một tỷ lệ ngày càng cao của tổng tài sản ngành NH so với GDP chỉ ra rằng nhu cầu

của khách hàng đối với các dịch vụ ngân hàng sẽ ngày càng tăng Hơn nữa, đối với điều kiện ở Trung Quốc việc thành lập một NH mới liên quan đến nhiều thủ tục rất

phức tạp và nghiêm ngặt và rất khó để cho một đối thủ cạnh tranh tiềm năng thâm

nhập thị trường, do đó sẽ góp phần nâng cao khả năng sinh lợi của NH

Yếu tố sự phát triển TTCK có tương quan tích cực đến khả năng sinh lợi của

NH bởi sẽ có sự gia tăng một số lượng lớn khách hàng cho các NH vì các NH ngày càng có nhiều thông tin hơn trong việc thẩm định cũng như giám sát các khoản vay

đã được cấp Do đó, điều này sẽ góp phần nâng cao khả năng sinh lợi của NH

Trang 40

Tóm lại trong bài nghiên cứu yếu tố về hiệu quả chi phí, các hoạt động phi truyền thống, sự phát triển ngành NH, sự phát triển TTCK và lạm phát đều có tác động đến khả năng sinh lợi của NH ở Trung Quốc, và các kết quả nghiên cứu đều

thể hiện sự thống nhất dù biến phụ thược là ROA hay Tuy nhiên vẫn xảy ra sự khác

biệt trong kết quả nghiên cứu khi biến phụ thuộc của mô hình là ROA hay NIM đối

với các yếu tố là: rủi ro tín dụng, thanh khoản, quy mô NH và năng suất lao động

Yếu tố rủi ro tín dụng có tương quan tiêu cực đến ROA nhưng lại có tác động tích

cực đến NIM, yếu tố thanh khoản và quy mô ngân hàng có tương quan đáng kể đối

với NIM nhưng với ROA thì không, trong khi đó yếu tố năng suất lao động chỉ có tương quan tích cực đến ROA, tuy nhiên lại không có tác động đến NIM

1.4.2 T ổng quan các nghiên cứu ở Việt Nam

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp phân tích định lượng gồm phân tích

hiệu quả biên và mô hình hồi quy Tobit với dữ liệu của 32 NHTMCP Việt Namt ừ

2001 – 2005 để đánh giá hiệu quả hoạt động và xem xét các nhân tố tác động đến

hiệu quả hoạt động của các NHTMCP Việt Nam

𝐷𝐷𝑗𝑗𝑖𝑖𝑡𝑡: là biến giả (loại hình ngân hàng)

𝑍𝑍𝑗𝑗𝑖𝑖𝑡𝑡: là các biến tổng chi phí/tổng doanh thu, tỷ lệ tiền gửi/cho vay, vốn chủ

sở hữu/tổng tài sản, thị phần tài sản được tính bằng tổng tài sản của từng ngân hàng/tổng tài sản của các ngân hàng, tỷ lệ vốn cho vay/tổng tài sản, nợ quá hạn/tổng

dư nợ cho vay, tỷ lệ tư bản hiện vật/tổng tài sản, tỷ lệ vốn (K)/lao động (L), tỷ lệ

giữa thu về lãi/tổng thu hoạt động

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tiền gửi/cho vay, tỷ lệ vốn cho vay/tổng tài

sản có tác động ngược chiều, biến quy mô, tỷ lệ vốn chủ sở hữu/tổng tài sản và thị

Ngày đăng: 31/12/2020, 06:46

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w