Mô hình nghiên cứu xem xét tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng trong mối tương quan với các nhân tố bên trong và bên ngoài ngân hàng, cụ thể là quy mô, tỷ lệ t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆTNAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH
Thành phố Hồ Chí Minh năm 2018
Trang 3Tóm tắt luận văn
Bài nghiên cứu mong muốn giúp các ngân hàng TMCP Việt Nam gia tăng hiệu quả hoạt động thông qua tác động đến cấu trúc vốn, đồng thời tìm ra phương án tăng vốn hợp lý để đảm bảo đáp ứng các yêu cầu về vốn theo quy định của pháp luật và chuẩn mực quốc tế Mô hình nghiên cứu xem xét tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng trong mối tương quan với các nhân tố bên trong và bên ngoài ngân hàng, cụ thể là quy mô, tỷ lệ tiền gửi, tỷ lệ cho vay, mức độ tập trung thị trường, tốc độ tăng trưởng GDP và lạm phát lên tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu và
tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản của ngân hàng
Sử dụng số liệu của 24 ngân hàng TMCP Việt Nam giai đoạn 2008 – 2017, áp dụng phương pháp ước lượng các ảnh hưởng ngẫu nhiên (REM) và GMM (Generalized Methods of Moments), bài nghiên cứu tìm thấy cấu trúc vốn có tác động cùng chiều đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng Ngoài ra, bài nghiên cứu cũng tìm thấy mối quan hệ cùng chiều giữa quy mô với hiệu quả hoạt động của ngân hàng, trong khi tỷ lệ tiền gửi có tác động ngược chiều Bài nghiên cứu kết luận các ngân hàng nên lựa chọn tăng vốn chủ sở hữu để nâng cao hiệu quả hoạt động, đồng thời nâng cao năng lực tài chính
Trang 4Lời cam đoan
Luận văn này chưa từng được trình nộp để lấy học vị thạc sĩ tại bất cứ một trường đại học nào Luận văn này là công trình nghiên cứu riêng của tác giả, kết quả nghiên cứu là trung thực, trong đó không có các nội dung đã được công bố trước đây hoặc các nội dung do người khác thực hiện ngoại trừ các trích dẫn được dẫn nguồn đầy đủ trong luận văn
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, em xin chân thành cảm ơn TS Lê Hồ An Châu, giảng viên hướng dẫn
đã tận tình giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện luận văn Em xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô trường Đại Học Ngân Hàng TP Hồ Chí Minh, nhờ những kiến thức được truyền đạt từ các thầy cô trong quá trình đào tạo, em mới có thể thực hiện luận văn này
Con xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình vì đã luôn là điểm tựa vững chắc và đã tạo điều kiện tốt nhất để con có thể hoàn thiện luận văn này
Xin gửi lời cảm ơn đến những người bạn đã đồng hành cùng tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn đến những đồng nghiệp đã ủng hộ và cổ vũ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Trang 6MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Tính cấp thiết của đề tài 2
1.3 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 4
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
1.5 Phương pháp nghiên cứu 5
1.5 Đóng góp của nghiên cứu 5
1.6 Cấu trúc luận văn 6
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC VỐN ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG 7
2.1 Cơ sở lý thuyết về tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng 7
2.1.1 Hiệu quả hoạt động của ngân hàng 7
2.1.1.1 Khái niệm 7
2.1.1.2 Đo lường hiệu quả hoạt động của ngân hàng 8
2.1.2 Cấu trúc vốn và tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng 11
2.1.2.1 Cấu trúc vốn 11
2.1.2.2 Các lý thuyết về cấu trúc vốn doanh nghiệp 12
2.1.2.3 Các lý thuyết về cấu trúc vốn ngân hàng 15
2.1.3 Tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng 17
2.2 Tổng quan các nghiên cứu trước 20
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
3.1 Cơ sở dữ liệu 27
3.2 Mô hình nghiên cứu 27
3.3 Phương pháp nghiên cứu 32
Trang 7CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35
4.1 Thống kê mô tả các biến nghiên cứu 35
4.2 Kết quả nghiên cứu 37
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 49
5.1 Kết luận 49
5.2 Hàm ý chính sách 50
5.3 Hạn chế của đề tài và gợi ý hướng nghiên cứu trong tương lai 52
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
PHỤ LỤC 62
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
2SLS : Phương pháp bình phương nhỏ nhất 2 giai đoạn
CAP : Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng nguồn vốn
CAR : Tỷ lệ an toàn vốn
D-GMM : Difference Generalized Methods of Moments
DEPOSIT : Tỷ lệ tiền gửi
ECB : Ngân hàng Trung Ương Châu Âu
EVA : Giá trị kinh tế gia tăng
FED : Cục Dự Trữ Liên Bang Mỹ
FEM : Fixed Effects Model – Mô hình các ảnh hưởng cố định GDP : Tổng sản phẩm quốc nội
GDPG : Tốc độ tăng trưởng GDP
GMM : Generalized Methods of Moments
LOAN : Tỷ lệ cho vay
NHNN : Ngân hàng nhà nước
NHTM : Ngân hàng thương mại
NIM : Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên
ROA : Tỷ suất sinh lợi trên tài sản
ROE : Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu
REM : Random Effects Model – Mô hình các ảnh hưởng ngẫu nhiên S-GMM : System Generalized Methods of Moments
RISK : Rủi ro ngân hàng
SIZE : Quy mô ngân hàng
TCTD : Tổ chức tín dụng
TMCP : Thương mại cổ phần
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Tổng hợp kết quả của các nghiên cứu thực nghiệm 24
Bảng 3.1: Mô tả các biến được sử dụng trong mô hình 31
Bảng 4.1: Thống kê mô tả các biến 35
Bảng 4.2: Ma trận tương quan giữa các biến trong mô hình 36
Bảng 4.3: Kết quả hồi quy mô hình FEM và REM cho ROE và ROA 37
Bảng 4.4: Kết quả kiểm định Hausman với ROE 38
Bảng 4.5: Kết quả kiểm định Hausman với ROA 39
Bảng 4.6: Kết quả kiểm tra tính đa cộng tuyến 41
Bảng 4.7: Kết quả kiểm tra tự tương quan đối với mô hình có biến phụ thuộc là ROE 41 Bảng 4.8: Kết quả kiểm tra tự tương quan đối với mô hình có biến phụ thuộc là ROA41 Bảng 4.9: Kết quả kiểm định phương sai sai số thay đổi cho mô hình với biến phụ thuộc ROE 42
Bảng 4.10: Kết quả kiểm định phương sai sai số thay đổi cho mô hình với biến phụ thuộc ROA 42
Bảng 4.11: Kết quả hồi quy theo mô hình GMM 43
Bảng 4.12: Giá trị trung bình của cấu trúc vốn ngân hàng qua các năm 45
Trang 10CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1.1 Đặt vấn đề
Ngân hàng đang là những chủ thể tài chính đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, góp phần không nhỏ vào quá trình hội nhập và phát triển của đất nước Một hệ thống ngân hàng hoạt động thông suốt và hiệu quả sẽ giúp nền kinh tế phát triển bền vững Ngược lại, một ngân hàng yếu kém, nguy
cơ thua lỗ, phá sản sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến hệ thống ngân hàng, từ đó ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, các ngân hàng đang phải đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt không chỉ đến từ các ngân hàng trong nước mà còn đến từ các ngân hàng nước ngoài Chính vì vậy, các ngân hàng cần phải nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh mới có thể tồn tại và phát triển bền vững, đồng thời việc nghiên cứu để tìm ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng là cần thiết trong giai đoạn hiện nay
Hiện có rất nhiều nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng, bao gồm các nhân tố bên trong như quy mô, cấu trúc vốn, mức độ thanh khoản, rủi ro tín dụng, … và các nhân tố bên ngoài, bao gồm các nhân tố đặc trưng ngành và các nhân
tố kinh tế vĩ mô, như mức độ tập trung thị trường, tăng trưởng GDP, lạm phát, … (Athanasoglou, 2008) Trong những yếu tố nêu trên, cấu trúc vốn của ngân hàng được xem là một yếu tố quan trọng và có tác động trực tiếp đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng Một cấu trúc vốn bất hợp lý sẽ dẫn tới kết quả kinh doanh kém hiệu quả của ngân hàng, từ đó có thể gây ảnh hưởng xấu đến toàn hệ thống ngân hàng
và sự bất ổn của nền kinh tế Chính vì vậy, một cấu trúc vốn an toàn, hiệu quả, phù hợp với tình hình thực tế của các ngân hàng được xem là một trong những yếu tố quan trọng để nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng
Tác động của cấu trúc vốn lên hiệu quả hoạt động của ngân hàng hiện tồn tại nhiều quan điểm trái chiều Berger và Patti (2006) cho rằng cấu trúc vốn có tác động
Trang 11ngược chiều đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng, trong khi Bandt và cộng sự (2014) ủng hộ quan điểm cấu trúc vốn có tác động cùng chiều lên hiệu quả hoạt động của ngân hàng Hoffmann (2010) lại tìm thấy mối quan hệ không đơn điệu giữa cấu trúc vốn với hiệu quả hoạt động của ngân hàng, cụ thể tồn tại một ngưỡng tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng nguồn vốn, mà nếu dưới mức ngưỡng này, cấu trúc vốn có tác động ngược chiều đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng và ngược lại, nếu trên mức ngưỡng này, cấu trúc vốn có tác động cùng chiều Tại Việt Nam, Trịnh Quốc Trung và Nguyễn Văn Sang (2013) tìm thấy cấu trúc vốn có tác động cùng chiều đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng, trong khi Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2015) cho rằng tồn tại mối quan hệ ngược chiều giữa hai nhân tố trên Việc nghiên cứu trên cùng đối tượng là các ngân hàng TMCP Việt Nam nhưng lại cho kết quả khác nhau đòi hỏi thêm nghiên cứu
bổ sung nhằm kiểm định lại tác động của cấu trúc vốn lên hiệu quả hoạt động của ngân hàng
1.2 Tính cấp thiết của đề tài
Từ năm 2011 cho tới nay, nhằm thực hiện thành công mục tiêu tái cấu trúc nền kinh tế, Chính phủ đã phê duyệt Đề án tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh giai đoạn 2011 – 2020 và ba chương trình tái cơ cấu quan trọng là cơ cấu lại đầu
tư công, doanh nghiệp nhà nước và hệ thống TCTD Tiếp nối thành công của Đề án
“Cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011 – 2015”, Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016 – 2020” được phê duyệt với mục tiêu tiếp tục cơ cấu lại hệ thống các TCTD, xử lý căn bản, triệt để nợ xấu, lành mạnh hóa tài chính, nâng cao năng lực quản trị của các TCTD theo quy định của pháp luật và phù hợp với thông lệ quốc tế, củng cố nền tảng để tăng hiệu quả, mở rộng quy mô và phạm
vi hoạt động, nâng cao năng lực cạnh tranh Để thực hiện các mục tiêu trên, Đề án đã đưa ra các giải pháp chung bao gồm: hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, cơ chế, chính sách
về tiền tệ và hoạt động ngân hàng; nâng cao năng lực tài chính, chuyển đổi mô hình
Trang 12kinh doanh, quản trị, điều hành của TCTD; tăng cường đổi mới công tác thanh tra, giám sát ngân hàng và đưa ra các giải pháp hỗ trợ
Trong đó, để nâng cao năng lực tài chính, các TCTD cần phải tăng vốn và cải thiện chất lượng nguồn vốn tự có để đảm bảo mức vốn điều lệ không thấp hơn mức vốn pháp định theo quy định của pháp luật và đáp ứng đầy đủ tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu theo quy định của pháp luật và chuẩn mực quốc tế Theo đó, các TCTD phải xây dựng và triển khai lộ trình tăng vốn tự có từ các nguồn: Phát hành cổ phiếu bổ sung, tăng vốn góp từ các cổ đông chiến lược trong và ngoài nước; Tăng vốn từ nguồn cổ tức hàng năm hoặc từ nguồn thặng dư phát hành, lợi nhuận để lại; Phát hành trái phiếu chuyển đổi, công cụ nợ dài hạn để tạo dựng nguồn vốn ổn định; Một số TCTD có uy tín lớn có thể lựa chọn giải pháp niêm yết cổ phiếu trên thị trường quốc tế Mục tiêu đến cuối năm 2020 các NHTM phải đảm bảo mức vốn tự có theo chuẩn mực vốn Basel
II (theo phương pháp tiêu chuẩn)
Thời gian qua, các ngân hàng tăng vốn bằng nhiều cách như phát hành cổ phiếu cho các nhà đầu tư nước ngoài và trong nước, chủ động giữ lại lợi nhuận, phát hành trái phiếu hoặc tìm kiếm nguồn vốn tài trợ từ các định chế tài chính quốc tế Phát hành
cổ phần thường là lựa chọn của nhiều ngân hàng trong quá khứ như Vietcombank (bán
cổ phần cho Mizuho Corporate Bank năm 2012), Vietinbank (bán cổ phần cho Bank of Tokyo Mitsubishi UFJ, Ltd năm 2013), BIDV (phát hành cổ phần bổ sung cho cổ đông hiện hữu năm 2013) Tuy nhiên, vài năm trở lại đây, các ngân hàng đang có xu hướng gọi vốn bằng phát hành trái phiếu như VietinBank (chào bán trái phiếu năm
2017, 2018), HD Bank (phát hành trái phiếu năm 2018) hoặc tìm đến nguồn vốn tài trợ
từ các định chế tài chính nước ngoài (TPBank vay từ IFC – International Finance Corporation, năm 2018) Tuy nhiên, việc tăng vốn như vậy có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng hay không? Liệu các NHTMCP nên tăng vốn bằng phát hành trái phiếu (nợ) hay cổ phiếu (vốn cổ phần) để gia tăng hiệu quả hoạt động?
Trang 13Chính vì vậy, bài nghiên cứu “Tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng TMCP Việt Nam” là cần thiết trong bối cảnh các ngân hàng phải
đáp ứng chuẩn mực vốn Basel II trên lộ trình tái cấu trúc TCTD do Chính Phủ đề ra
1.3 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Bài nghiên cứu nhằm mục tiêu kiểm định tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng TMCP Việt Nam, từ đó đưa ra những gợi ý chính sách giúp các ngân hàng lựa chọn phương án tăng vốn hợp lý nhằm gia tăng hiệu quả hoạt động trên cơ sở các ngân hàng phải nâng cao năng lực tài chính nhằm đáp ứng yêu cầu về vốn theo quy định của pháp luật và chuẩn mực quốc tế Mục tiêu cụ thể như sau:
- Nghiên cứu tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng TMCP Việt Nam
- Lựa chọn phương án tăng vốn hợp lý cho các ngân hàng
Để đạt được mục tiêu nêu trên, bài nghiên cứu sẽ làm rõ câu hỏi sau đây:
- Cấu trúc vốn có tác động đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng TMCP Việt Nam hay không? Nếu có, mức độ và chiều hướng tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng TMCP tại Việt Nam như thế nào?
- Trên cơ sở đó, ngân hàng TMCP Việt Nam nên lựa chọn phương án tăng vốn như thế nào để gia tăng hiệu quả hoạt động, đồng thời đáp ứng các yêu cầu về vốn theo quy định của pháp luật và chuẩn mực quốc tế
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Bài viết nghiên cứu tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng TMCP Việt Nam
Bài nghiên cứu dựa trên số liệu từ báo cáo tài chính của 24 ngân hàng TMCP Việt Nam trong thời gian 2008-2017
Trang 141.5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng dựa trên số liệu thứ cấp thu thập từ báo cáo tài chính của 24 ngân hàng TMCP Việt Nam trong giai đoạn 2008 –
2017 Với dữ liệu dạng bảng, phương pháp ước lượng được sử dụng nhiều hơn là mô hình các ảnh hưởng cố định FEM và mô hình các ảnh hưởng ngẫu nhiên REM Sau đó, nghiên cứu sử dụng kiểm định Hausman để đánh giá mô hình FEM hay REM là phù hợp hơn và rút ra kết luận
Tuy nhiên, một nhược điểm của dữ liệu bảng với số cá thể quan sát lớn trong chuỗi thời gian ngắn thường phát sinh hiện tượng phương sai thay đổi và tồn tại vấn đề nội sinh trong mô hình Chính vì vậy, bài nghiên cứu tiến hành kiểm định các khuyết tật của mô hình, sau đó sử dụng mô hình GMM để khắc phục hiện tượng nội sinh và phương sai thay đổi, từ đó phân tích chiều hướng tác động của các nhân tố
1.5 Đóng góp của nghiên cứu
Với đề tài “Tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng TMCP Việt Nam”, tác giả kỳ vọng bài nghiên cứu mang lại những ý nghĩa như sau:
Thứ nhất, tác động của cấu trúc vốn lên hiệu quả hoạt động của ngân hàng hiện
tại còn nhiều quan điểm trái chiều, cụ thể là cấu trúc vốn có tác động cùng chiều, ngược chiều hoặc không đơn điệu lên hiệu quả hoạt động của ngân hàng Bài nghiên cứu mong muốn góp một phần nhỏ vào nghiên cứu thực nghiệm về tác động của cấu trúc vốn lên hiệu quả hoạt động của ngân hàng TMCP Việt Nam để củng cố các quan điểm trên
Thứ hai, mô hình nghiên cứu có tính đến tác động của các nhân tố bên ngoài
gồm nhân tố ngành, nhân tố kinh tế vĩ mô như mức độ tập trung thị trường, tốc độ tăng trưởng GDP, lạm phát, … bên cạnh các nhân tố bên trong ngân hàng như cấu trúc vốn, quy mô, rủi ro, … trong mối quan hệ với hiệu quả hoạt động của ngân hàng trong khi các bài nghiên cứu khác tại Việt Nam không sử dụng đầy đủ ba loại nhân tố trên Điều
Trang 15này góp phần phản ánh đầy đủ hơn tác động của cấu trúc vốn và các nhân tố khác lên hiệu quả hoạt động của ngân hàng
Thứ ba, bài nghiên cứu đưa ra các giải pháp và kiến nghị giúp các ngân hàng
TMCP Việt Nam lựa chọn phương án tăng vốn phù hợp nhằm nâng cao năng lực tài chính nhưng vẫn đảm bảo gia tăng hiệu quả hoạt động
1.6 Cấu trúc luận văn
Luận văn có kết cấu gồm 5 chương:
Chương 1: Giới thiệu đề tài
Chương 2: Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách
Trang 16CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC VỐN ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT
ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG
Chương 2 giới thiệu cơ sở lý thuyết về tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng bằng cách lần lượt trình bày các khái niệm, cách thức đo lường hiệu quả hoạt động của ngân hàng, cấu trúc vốn và đi sâu vào phân tích tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng Chương này cũng giới thiệu một số lý thuyết về cấu trúc vốn ngân hàng trước khi đưa ra các bằng chứng thực nghiệm về tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động ngân hàng
2.1 Cơ sở lý thuyết về tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng
2.1.1 Hiệu quả hoạt động của ngân hàng
2.1.1.1 Khái niệm
Hiệu quả là một phạm trù được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực như kinh tế,
kỹ thuật, xã hội Có rất nhiều quan điểm về hiệu quả dựa trên các góc nhìn khác nhau Theo Farrell (1957), hiệu quả thể hiện mối tương quan giữa các biến số đầu ra thu được so với các biến số đầu vào đã được sử dụng để tạo ra những đầu ra đó, còn Daft (2008) cho rằng, hiệu quả là việc sử dụng tối thiểu các nguồn lực, bao gồm nguyên liệu, tài chính và con người để sản xuất được sản lượng đầu ra mong muốn
Vì ngân hàng là một chủ thể kinh doanh tương đối đặc biệt, nên tồn tại một số cách tiếp cận khác nhau về hoạt động của ngân hàng khi đánh giá hiệu quả kinh doanh Các cách tiếp cận đó là: cách tiếp cận “sản xuất”, cách tiếp cận “trung gian tài chính”, cách tiếp cận “hướng về lợi nhuận” và cách tiếp cận “giá trị tăng thêm” (Sufian, 2011)
Cách tiếp cận “sản xuất” đưa ra bởi Benston (1965) được coi là cách tiếp cận truyền thống khi ngân hàng được coi là một chủ thể tạo ra các dịch vụ cho người gửi tiền hay nói cách khác, hoạt động của ngân hàng nhằm biến đổi các khoản tiền gửi
Trang 17thành cách khoản cho vay Theo quan điểm này, đầu vào của quá trình sản xuất là nhân viên ngân hàng và các tài sản hữu hình trong khi đầu ra là các khoản cho vay Cách tiếp cận này dường như bỏ qua một hoạt động quan trọng của ngân hàng là hoạt động đầu tư (Berger và Humphrey, 1997)
Ngược lại, cách tiếp cận “trung gian” lại cho rằng ngân hàng đóng vai trò trung gian giữa người cho vay và người đi vay Chính vì vậy, đầu ra của hoạt động ngân hàng chính là tổng số tiền cho vay và các khoản đầu tư chứng khoán trong khi đầu vào của quá trình đó là các khoản tiền gửi, nguồn nhân lực và các khoản tài sản hữu hình (Sealey và Lindley, 1997) Cách tiếp cận “trung gian tài chính” còn được phát triển thành cách tiếp cận “giá trị gia tăng”, trong đó, các khoản như tiền gửi và cho vay đều được coi là đầu ra vì các khoản mục này có ý nghĩa tạo ra giá trị tăng thêm
Cách tiếp cận “hướng về lợi nhuận” thì cho rằng ngân hàng cũng như một thực thể kinh doanh với mục tiêu cuối cùng là tạo ra thu nhập từ các khoản chi phí đã bỏ ra cho hoạt động kinh doanh đó (Drake và cộng sự, 2006) Vì vậy, đầu ra của hoạt động ngân hàng chính là tổng thu nhập (thu nhập từ lãi và ngoài lãi) và đầu vào là tổng chi phí (chi phí lãi và chi phí ngoài lãi)
Trong bài nghiên cứu này, tác giả lựa chọn cách tiếp cận hiệu quả hoạt động của ngân hàng là “hướng về lợi nhuận”, tức hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng được đánh giá bằng cách so sánh lợi nhuận mà ngân hàng thu được với chi phí mà ngân hàng đã bỏ ra trong một khoảng thời gian nhất định
2.1.1.2 Đo lường hiệu quả hoạt động của ngân hàng
Có rất nhiều phương pháp khác nhau để đo lường hiệu quả hoạt động của ngân hàng Những phương pháp này có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau Nguyễn Việt Hùng (2008) cho rằng có 2 phương pháp chủ yếu được dùng để đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng: (i) Phương pháp truyền thống, dựa trên các chỉ số tài chính bằng cách phân tích báo cáo tài chính của ngân hàng và (ii) Phương pháp phân tích hiệu quả biên thông qua tiếp cận tham số và phi tham số
Trang 18Các chỉ số tài chính là công cụ được sử dụng phổ biến nhất trong đánh giá, phân tích và phản ánh hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Mỗi chỉ số cho biết mối quan hệ giữa hai biến số tài chính, qua đó cho phép phân tích và so sánh giữa các chi nhánh, giữa các ngân hàng và phân tích xu hướng biến động của các biến số này theo thời gian Tuỳ theo mục đích sử dụng mà mỗi nhà nghiên cứu, nhà đầu tư, nhà quản trị ngân hàng lựa chọn các chỉ số khác nhau Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) (2010) đã phân loại ra 3 nhóm chỉ số chính thường được sử dụng để đo lường hiệu quả hoạt động của ngân hàng như sau:
(i) Nhóm chỉ số phản ánh khả năng sinh lời – Phản ánh tính hiệu quả của
một đồng vốn kinh doanh – bao gồm tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA), tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE), chỉ số chi phí trên thu nhập (Cost to income ratio – C/I), tỷ lệ thu nhập lãi thuần (NIM), …
(ii) Nhóm chỉ số đo lường hiệu quả kinh tế – Mức lợi nhuận kinh tế thật sự
mà một ngân hàng nào đó có thể tạo ra thông qua sự gia tăng về giá trị Hai chỉ số chủ yếu được sử dụng là giá trị kinh tế gia tăng (EVA – Economic Value Added) và tỷ suất sinh lợi có điều chỉnh rủi ro RAROC (risk – adjusted return on capital)
(iii) Nhóm chỉ số đo lường giá trị thị trường – Cách thức thị trường vốn đánh
giá hoạt động của ngân hàng, bao gồm tỷ số giá thị trường trên thu nhập P/E earning ratio), tỷ số giá sổ sách trên thu nhập P/B (price-to-book value), hoán đổi rủi ro tín dụng CDS (Credit default swap)
(price-Bên cạnh cách tiếp cận truyền thống thông qua các chỉ số tài chính, phương pháp phân tích hiệu quả biên cũng được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng để đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng Phương pháp này tính toán chỉ số hiệu quả tương đối dựa trên việc so sánh khoảng cách của các đơn vị (ngân hàng) với một đơn vị thực hiện hoạt động tốt nhất trên biên Phương pháp phân tích hiệu quả biên có thể được chia làm hai nhóm là cách tiếp cận tham số và cách tiếp cận phi tham số Cách tiếp cận tham số (hay phương pháp phân tích biên ngẫu nhiên SFA - Stochastic Frontier
Trang 19Analysis) đòi hỏi phải chỉ định một dạng hàm cụ thể đối với đường biên hiệu quả, và
có chỉ định của phân phối phi hiệu quả hoặc sai số ngẫu nhiên Cách tiếp cận phi tham
số (hay phương pháp phân tích bao dữ liệu DEA – Data Envelopment Analysis) không đòi hỏi các ràng buộc về hình dáng của đường biên thực hiện tốt nhất, cũng như không đòi hỏi các ràng buộc về phân phối của các nhân tố phi hiệu quả trong số liệu như cách tiếp cận tham số, trừ ràng buộc của các chỉ số hiệu quả phải nằm giữa 0 và 1, và giả sử không có sai số ngẫu nhiên hoặc sai số phép đo trong số liệu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, bài nghiên cứu sử dụng phương pháp đo lường hiệu quả hoạt động của ngân hàng dựa trên các chỉ số tài chính Sở dĩ lựa chọn phương pháp này vì đây là phương pháp truyền thống, việc đo lường hiệu quả hoạt động của ngân hàng khá đơn giản, dễ thực hiện trong điều kiện hạn chế về thời gian và nguồn số liệu Hơn nữa, chỉ số tài chính luôn là một công cụ phân tích quan trọng khi chủ sở hữu của ngân hàng cũng như khách hàng tiềm năng luôn sử dụng nó để so sánh
và đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng Các nhà quản trị của ngân hàng cũng đặc biệt chú ý đến giá trị của các chỉ số tài chính nếu mong muốn xây dựng hình ảnh tích cực và được nhìn nhận tích cực bởi công chúng
Theo Trujillo – Ponce (2013), tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) được xem
là tỷ số quan trọng nhất để đo lường hiệu quả hoạt động của ngân hàng Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE) cũng là chỉ số thường xuyên được sử dụng để đo lường hiệu quả hoạt động của công ty Vì vậy, bài nghiên cứu sử dụng ROA và ROE làm thước đo đại diện cho hiệu quả hoạt động của ngân hàng
Tỷ suất sinh lợi trên tài sản (ROA - Return on Asset), đo lường một đồng tài sản của ngân hàng tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận ROA là một chỉ tiêu chủ yếu phản ánh tính hiệu quả quản lý Nó chỉ ra khả năng của hội đồng quản trị trong quá trình chuyển tài sản của ngân hàng thành thu nhập ròng Nếu mức ROA thấp có thể là kết quả của một chính sách đầu tư hay cho vay không hiệu quả hoặc có thể chi phí hoạt động của ngân hàng cao quá mức Ngược lại, mức ROA cao thường phản ánh kết quả
Trang 20hoạt động hữu hiệu, ngân hàng có cơ cấu tài sản hợp lý, có sự điều động linh hoạt giữa các hạng mục trên tài sản trước những biến động của nền kinh tế
Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE - Return on Equity), đo lường một đồng vốn bỏ ra và tích luỹ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận ROE là một chỉ tiêu đo lường tỷ lệ thu nhập cho các cổ đông của ngân hàng Nó thể hiện thu nhập mà các cổ đông nhận được từ việc đầu tư vào ngân hàng (tức là chấp nhận rủi ro để hy vọng có được thu nhập hợp lý) Chỉ tiêu này cũng được sử dụng khá phổ biến trong phân tích hiệu quả hoạt động nhằm phản ánh hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu
2.1.2 Cấu trúc vốn và tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng
2.1.2.1 Cấu trúc vốn
Cấu trúc vốn được định nghĩa là sự kết hợp của nợ ngắn hạn thường xuyên, nợ dài hạn, cổ phần ưu đãi, và cổ phần thường được sử dụng để tài trợ cho quyết định đầu
tư của doanh nghiệp Cấu trúc vốn tối ưu xảy ra ở điểm mà tại đó tối thiểu hoá chi phí
sử dụng vốn, tối thiểu hoá rủi ro và tối đa hoá giá trị doanh nghiệp (Trần Ngọc Thơ, 2007)
Khác với những tổ chức phi tài chính khác, ngân hàng là doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực đặc biệt là tiền tệ nên cấu trúc vốn của ngân hàng bị ảnh hưởng bởi nhiều điều kiện đặc trưng riêng, như mạng lưới an toàn của chính phủ và các yêu cầu về vốn
Mạng lưới an toàn của chính phủ là một hệ thống bảo vệ cho các khách hàng của ngân hàng, trong đó có bảo hiểm tiền gửi Ngân hàng có chức năng đặc biệt là tạo thanh khoản thông qua việc cung cấp các hợp đồng tiền gửi và vì người gửi tiền có thể rút tiền bất cứ lúc nào, khi sự không chắc chắn tăng lên có thể dẫn đến việc rút tiền ồ ạt
từ ngân hàng Với sự bảo hiểm tiền gửi của chính phủ, người gửi tiền không có động
cơ để tháo chạy khỏi ngân hàng (Diamond và Dybvig, 1983) Tuy nhiên, chính vì sự
Trang 21bảo hiểm tiền gửi từ chính phủ, một số ngân hàng có thể có động cơ chấp nhận rủi ro nhiều hơn và sử dụng ít vốn hơn Để phòng ngừa nguy cơ đạo đức, cần phải tăng cường giám sát ngân hàng và gia tăng các quy định về vốn buộc các ngân hàng phải nắm giữ nhiều vốn hơn
Nghiên cứu của Gropp và Heider (2010) cho thấy ngân hàng có tỷ lệ đòn bẩy tài chính cao Các ngân hàng lớn có đòn bẩy trung bình vào khoảng 93% giá trị sổ sách và chỉ hơn 87% giá trị thị trường Đối với những doanh nghiệp phi tài chính bình thường,
tỷ lệ này lần lượt là 24% và 23% Ngoài ra, theo Berlin (2011), ngân hàng nắm giữ nhiều vốn hơn so với mức vốn tối thiểu theo quy định
Một số chỉ tiêu phổ biến được sử dụng để phản ánh cấu trúc vốn của ngân hàng
thương mại như tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng nguồn vốn (cho biết mức độ tự tài trợ cho nguồn vốn của ngân hàng bằng vốn chủ sở hữu), tỷ lệ nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu (đòn bẩy tài chính – cho biết mức độ đảm bảo cho các khoản nợ phải trả bằng vốn
chủ sở hữu của ngân hàng) Trong giới hạn bài nghiên cứu này, tác giả lựa chọn tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng nguồn vốn làm đại diện cho cấu trúc vốn của ngân hàng để đánh giá tác động của cấu trúc vốn lên hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng TMCP Việt Nam
2.1.2.2 Các lý thuyết về cấu trúc vốn doanh nghiệp
Modigliani & Miller
Trong các lý thuyết về cấu trúc vốn thì công trình nghiên cứu của Modigliani & Miller (1958) (sau đây gọi tắt là M&M) có đóng góp rất quan trọng, được xem là nền tảng tư duy hiện đại về cấu trúc vốn M&M (1958) giả định, trong điều kiện thị trường hoàn hảo, tức không có chi phí phá sản, thuế, không có rào cản xâm nhập thị trường, thông tin cân xứng và không có bảo hiểm tiền gửi thì cấu trúc vốn độc lập với giá trị doanh nghiệp Năm 1963, Modigliani & Miller tiếp tục mở rộng nghiên cứu năm 1958
và có tính đến tác động của thuế Theo đó, khi có sự hiện diện của thuế thu nhập doanh
Trang 22nghiệp, lãi vay sẽ được khấu trừ trước khi tính thuế nên sử dụng vốn vay sẽ đem lại lợi ích từ tấm chắn thuế Vì vậy, sử dụng nợ trong cấu trúc vốn sẽ làm tăng giá trị doanh nghiệp Tuy nhiên, vì Modigliani & Miller đưa ra các giả định quá chặt chẽ về thị trường hoàn hảo, khó có thể áp dụng lý thuyết M&M vào thực tế Các cuộc tranh luận
về lý thuyết M&M đã dẫn đến sự phát triển của các lý thuyết sau này
Lý thuyết đánh đổi
Lý thuyết đánh đổi được nghiên cứu bởi Myers (1977) và Myers (1984), cho rằng một công ty sẽ đánh đổi lợi ích từ việc sử dụng nợ (lợi ích từ tấm chắn thuế của lãi vay) với chi phí sử dụng nợ (chi phí kiệt quệ tài chính) khi lựa chọn tỷ lệ nợ và vốn
cổ phần để tài trợ cho các hoạt động của mình Theo đó, khi tỷ lệ nợ tăng làm tăng lợi ích tấm chắn thuế, nhưng đồng thời làm tăng chi phí kiệt quệ tài chính Khi hiện giá lợi ích từ tấm chắn thuế không cao hơn hiện giá chi phí kiệt quệ tài chính thì việc vay nợ không mang lại lợi ích cho doanh nghiệp Như vậy, các doanh nghiệp thường kết hợp
nợ vay và vốn cổ phần trong cơ cấu nguồn vốn
Lý thuyết trật tự phân hạng
Lý thuyết trật tự phân hạng được nghiên cứu bởi Myers và Majluf (1984), dựa trên kết quả của việc thông tin bất cân xứng, rằng các nhà quản lý hiểu rõ hơn về tiềm năng, rủi ro và các giá trị của công ty mình hơn là các nhà đầu tư bên ngoài Thông tin bất cân xứng tác động đến lựa chọn giữa tài trợ nội bộ và tài trợ từ bên ngoài, và giữa phát hành mới chứng khoán nợ và chứng khoán vốn cổ phần Điều này đưa đến một trật tự phân hạng, theo đó đầu tư sẽ được tài trợ trước tiên bằng vốn nội bộ, chủ yếu là lợi nhuận tái đầu tư, rồi mới đến phát hành nợ mới, và cuối cùng mới đến phát hành vốn cổ phần mới
Lý thuyết trật tự phân hạng giải thích tại sao các doanh nghiệp có khả năng sinh lợi nhất thường vay ít hơn – không phải vì họ có các tỷ lệ nợ mục tiêu thấp mà vì họ không cần nguồn tài trợ từ bên ngoài Ngược lại, các doanh nghiệp có khả năng sinh
Trang 23lợi ít hơn lại phát hành nợ vì họ không có đủ nguồn vốn nội bộ cho chương trình đầu tư vốn và vì tài trợ nợ đứng đầu trong trật tự phân hạng của tài trợ từ bên ngoài Như vậy,
lý thuyết này còn giải thích mối tương quan nghịch giữa khả năng sinh lợi và đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp
Lý thuyết chi phí đại diện
Chi phí đại diện là chi phí phát sinh khi xảy ra sự thiếu đồng thuận giữa mục đích của nhà quản lý và chủ sở hữu công ty và vấn đề bất cân xứng thông tin Các cổ đông luôn mong muốn tối đa hoá giá trị công ty, trong khi nhà quản lý lại có những lợi ích cá nhân riêng biệt, nên thay vì thực hiện các quyết định đem lại lợi ích cho cổ đông, nhà quản lý lại thực hiện các hoạt động nhằm trục lợi cá nhân Chi phí đại diện xuất hiện khi các nhà quản trị không cố gắng thực hiện nhiệm vụ tối đa hoá giá trị công ty
và các cổ đông phải bỏ chi phí để kiểm soát, hạn chế các hành vi không mong muốn từ nhà quản lý
Lý thuyết đại diện cho thấy, việc lựa chọn cấu trúc vốn có thể giúp giảm thiểu các chi phí đại diện này Theo giả thuyết của chi phí đại diện, đòn bẩy cao hay tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên nguồn vốn thấp sẽ làm giảm chi phí đại diện của vốn cổ phần từ bên ngoài và gia tăng giá trị doanh nghiệp bằng cách bắt buộc và khuyến khích nhà quản lý hành xử vì lợi ích của cổ đông (Jensen và Meckling,1976) Tuy nhiên, khi đòn bẩy trở nên tương đối cao, việc tăng đòn bẩy sẽ xuất hiện các vấn đề về đại diện của nợ vay bên ngoài – bao gồm chi phí phá sản hoặc kiệt quệ tài chính dự kiến cao hơn – phát sinh từ xung đột giữa chủ nợ và cổ đông Ở mức đòn bẩy thấp, việc tăng đòn bẩy
sẽ tạo ra những khuyến khích tích cực cho các nhà quản lý và giảm tổng chi phí đại diện của vốn cổ phần
Trang 242.1.2.3 Các lý thuyết về cấu trúc vốn ngân hàng
Vì mô hình kinh doanh và đặc điểm về cấu trúc vốn của ngân hàng khác với các doanh nghiệp phi tài chính nên cần cân nhắc việc áp dụng lý thuyết về cấu trúc vốn của các doanh nghiệp phi tài chính lên cấu trúc vốn ngân hàng
Miller (1995) cho rằng mệnh đề M&M vẫn có thể mở rộng cho các ngân hàng, ngay cả khi tồn tại sự không hoàn hảo của thị trường Tuy nhiên, điều làm cho ngân hàng trở nên đặc biệt là sự đảm bảo trả nợ của chính phủ sẽ ảnh hưởng đến chi phí vốn của ngân hàng Berger và cộng sự (1995) xác nhận rằng, cấu trúc vốn của các tổ chức tài chính, tương tự các doanh nghiệp thông thường, được xác định bởi loại bỏ dần những giả định về thị trường hoàn hảo của M&M Những khiếm khuyết của thị trường được xem xét trong việc xác định cấu trúc vốn tối ưu của các tổ chức kinh tế bao gồm thuế, chi phí kiệt quệ tài chính, thông tin bất cân xứng, chi phí giao dịch và mạng lưới
an toàn của chính phủ Theo Berger và cộng sự (1995), ngân hàng khác với các doanh nghiệp khác ở hai khía cạnh ảnh hưởng đến cấu trúc vốn ngân hàng: (i) mạng lưới an toàn của chính phủ sẽ bảo vệ sự ổn định của hệ thống tài chính và có khả năng giảm vốn ngân hàng vì nó bảo vệ chủ nợ của ngân hàng khỏi các tình thế bất lợi từ việc chấp nhận rủi ro của ngân hàng và do đó có xu hướng giảm yêu cầu về vốn của thị trường; (ii) các yêu cầu về vốn pháp định nhằm tăng vốn của các ngân hàng Nếu mạng lưới an toàn của chính phủ làm giảm chi phí kiệt quệ tài chính dự kiến đối với ngân hàng, thì theo lý thuyết đánh đổi, họ sẽ có khuynh hướng sử dụng đòn bẩy nhiều hơn so với các doanh nghiệp phi tài chính khác Cần có những quy định về vốn để buộc các ngân hàng phải nắm giữ nhiều vốn hơn
Với việc nới lỏng giả định về thông tin bất cân xứng trong mệnh đề M&M, một
số giả thuyết mới xuất hiện Việc các ngân hàng nắm giữ thông tin cá nhân về các khách hàng vay sẽ tạo ra vấn đề thông tin bất cân xứng giữa ngân hàng và thị trường vốn Các nhà quản lý ngân hàng sau đó có nhiều thông tin hơn thị trường vốn về thu nhập và triển vọng trong tương lai Leland và Pyle (1977) đưa ra giả thuyết tín hiệu,
Trang 25rằng khi thị trường vốn đánh giá hoạt động của các nhà quản lý, tỷ lệ vốn chủ sở hữu tăng sẽ làm tăng trạng thái cân bằng tín hiệu, trong đó tỷ lệ vốn cao hơn có thể có nghĩa
là thông tin cá nhân có giá trị và hiệu quả hoạt động dự kiến sẽ tốt hơn trong tương lai
Vấn đề với thông tin bất cân xứng cũng dẫn đến xung đột giữa các cổ đông và chủ nợ, vì họ có những mối quan tâm khác nhau Các quyết định dẫn tới việc tối đa hoá quyền lợi tổng thể không thể dẫn tới việc tối đa hoá quyền lợi của một mình cổ đông Khi xuất hiện rủi ro, các cổ đông có thể có động cơ lợi dụng chủ nợ nhằm thay đổi tài sản Họ có thể nắm giữ các tài sản rủi ro hơn và rồi đổi lấy những tài sản an toàn hơn nếu chủ nợ không có đủ thông tin để phản ứng, điều này tạo ra rủi ro đạo đức Nếu ngân hàng gần phá sản, các cổ đông có thể từ chối các khoản đầu tư giá trị vì chủ nợ sẽ
là những người thụ hưởng duy nhất bởi một động thái như vậy Các vấn đề về “chiếm đoạt” giá trị của chủ nợ là rõ ràng vì nợ có thời gian đáo hạn dài và khó chuyển đổi trong ngắn hạn Thời gian đáo hạn càng dài, các cổ đông càng mong muốn chiếm đoạt giá trị của chủ nợ trước khi các chủ nợ phản ứng bằng cách tăng lãi suất hoặc rút tiền Việc tăng tỷ lệ vốn của các ngân hàng có thể đảm bảo cho các chủ nợ về sự an toàn Bằng cách này, các vấn đề đại diện sẽ khuyến khích các cổ đông tăng tỷ lệ vốn chủ sở hữu bất kể quy định để đảm bảo sự an toàn về tiền cho chủ nợ (Berger và cộng sự, 1995)
Các lý thuyết về cấu trúc vốn ngân hàng đã phát triển đáng kể trong thời gian qua Diamond và Rajan (2000) xây dựng mô hình cấu trúc vốn ngân hàng trong trường hợp các ngân hàng chỉ sử dụng tiền gửi để tài trợ cho các dự án của họ Vì tiền gửi của ngân hàng là không chắc chắn vì có thể rút ra bất cứ lúc nào theo yêu cầu, những tình huống bất lợi xảy ra có thể dẫn đến việc tháo chạy khỏi ngân hàng Khi đó, việc sử dụng vốn bên ngoài có thể đóng vai trò giúp giảm biến động tiền gửi và cho phép các ngân hàng tránh được tình trạng kiệt quệ tài chính Tuy nhiên, một tỷ lệ vốn cao hơn có nghĩa là nhu cầu tiền gửi giảm và do đó tạo thanh khoản ít hơn
Trang 26Admati và cộng sự (2013) lập luận rằng, khi các ngân hàng nắm giữ nhiều vốn chủ sở hữu hơn, phần bù rủi ro sẽ giảm do đó giảm lợi tức yêu cầu trên vốn chủ sở hữu
và từ đó giảm chi phí ngân hàng Theo quan điểm của họ, các ngân hàng có vốn cao hơn sẽ phải đối mặt với sự biến chất ít hơn của các quyết định cho vay và cải thiện hiệu quả hoạt động
Thakor (2014) khi xem xét các lý luận và nghiên cứu thực nghiệm về cấu trúc vốn ngân hàng cho rằng tỷ lệ vốn chủ sở hữu cao hơn gắn với việc cho vay nhiều hơn, tạo thanh khoản nhiều hơn, giá trị ngân hàng cao hơn và xác suất tồn tại qua các cuộc khủng hoảng cao hơn, trong khi tỷ lệ vốn chủ sở hữu thấp dẫn đến rủi ro hệ thống cao hơn và xác suất phải nhận cứu trợ từ chính phủ cao hơn, điều này có thể gia tăng nợ chính phủ, làm nổ ra khủng hoảng nợ công Bài nghiên cứu đề xuất rằng các tổ chức tài chính cần được yêu cầu nắm giữ nhiều vốn hơn
2.1.3 Tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng
Như đã nói ở trên, tác động của cấu trúc vốn lên hiệu quả hoạt động của ngân hàng hiện tại đã được nhiều tác giả trên thế giới và trong nước nghiên cứu và đưa ra các quan điểm trái chiều
Quan điểm thứ nhất: Cấu trúc vốn có tác động cùng chiều đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng
Berger (1995) cho rằng có hai hướng giải thích cho mối quan hệ cùng chiều giữa cấu trúc vốn với lợi nhuận của ngân hàng Hướng giải thích thứ nhất dựa trên giả thuyết chi phí phá sản kỳ vọng (expected bankruptcy costs hypothesis) Theo đó, khi ngân hàng có tỷ lệ nợ vay cao và vượt quá mức sử dụng nợ vay tối ưu thì sẽ làm tăng chi phí phá sản kỳ vọng do các yếu tố bên ngoài gây ra Khi đó, ngân hàng sẽ phải tăng
tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng nguồn vốn để làm giảm chi phí phá sản do việc sử dụng
nợ quá nhiều Từ đó lợi nhuận cũng như hiệu quả kinh doanh của ngân hàng sẽ tăng lên Hướng giải thích thứ hai dựa trên giả thuyết tín hiệu (signaling hypothesis) Khi
Trang 27loại bỏ giả định thông tin cân xứng của lý thuyết M&M, các nhà quản lý được cho là
có thông tin riêng về dòng tiền của ngân hàng trong tương lai Các nhà quản lý có thể báo hiệu thông tin này thông qua các quyết định cấu trúc vốn (Myers và Majluf, 1984) Kết quả là, một trạng thái cân bằng tín hiệu tồn tại trong các ngân hàng có kỳ vọng hoạt động hiệu quả hơn trong tương lai sẽ có tỷ lệ vốn chủ sở hữu cao hơn Những thông tin nội bộ có thể tồn tại ở nhiều dạng và chủ yếu thể hiện kỳ vọng của các nhà quản lý về doanh thu, chi phí hoặc rủi ro trong tương lai tốt hơn là những người bên ngoài ngân hàng
Ngoài ra, theo Bandt và cộng sự (2014), ngân hàng có tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng nguồn vốn càng lớn thì càng tăng nguy cơ tổn thất nếu việc quản lý không chặt chẽ và hiệu quả Vì cổ đông là những người phải chịu rủi ro tổn thất nhiều hơn, họ sẽ yêu cầu cao hơn trong việc giám sát hoạt động của ngân hàng Chính vì vậy, khi tỷ lệ vốn chủ sở hữu tăng sẽ làm lợi nhuận của ngân hàng tăng lên thông qua kênh giám sát
Quan điểm thứ hai: Cấu trúc vốn có tác động ngược chiều đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng
Như đã nói ở trên, ở mức đòn bẩy thấp, việc gia tăng đòn bẩy có thể làm giảm chi phí đại diện của vốn cổ phần từ bên ngoài và gia tăng giá trị doanh nghiệp Berger
và Patti (2006) đã tiến hành kiểm tra và kết luận rằng lý thuyết chi phí đại diện vẫn áp dụng được trong lĩnh vực ngân hàng Điều này có thể lý giải tác động ngược chiều của
cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng
Ngoài ra, theo Hart và Moore (1995), nợ vay buộc lãnh đạo ngân hàng phải đưa
ra những quyết định hiệu quả để hoàn trả được gốc và lãi Ngoài ra, nợ vay cũng có những lợi thế nhất định so với vốn chủ sở hữu về đối xứng thông tin Nhà quản lý doanh nghiệp khi đi vay luôn phải tiết lộ thông tin về phát triển doanh nghiệp cho những nhà đầu tư bên ngoài như một cách đảm bảo cho sự tin tưởng của nhà đầu tư về khả năng trả nợ sau này Tuy nhiên, nợ vay của ngân hàng khác với nợ vay của doanh
Trang 28nghiệp vì phần lớn nợ phải trả của ngân hàng đến từ huy động trong dân cư và tổ chức kinh tế - những người không có động lực hoặc chuyên môn để giám sát ngân hàng (Dewatripont và Tirole, 1994) Khác biệt này dường như là một thuận lợi đối với ngân hàng
Quan điểm thứ ba: Cấu trúc vốn có mối quan hệ không đơn điệu đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng
Giải thích cho quan điểm gia tăng tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng nguồn vốn có tác động không đơn điệu đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng, có thể dựa trên lý thuyết chi phí đại diện đã đưa ra ở trên Như đã chỉ ra bởi Jensen và Meckling (1976), hiệu quả của đòn bẩy trên tổng chi phí đại diện dự kiến sẽ không đơn điệu Vì vậy, ở mức thấp của đòn bẩy (tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng nguồn vốn cao), tăng nợ sẽ khuyến khích người quản lý giảm chi phí đại diện của nợ, và do đó tăng lợi nhuận Tuy nhiên, tại một số điểm mà sự phá sản và kiệt quệ tài chính dễ xảy ra hơn, các chi phí phá sản và chi phí đại diện không đối xứng áp đảo chi phí vốn chủ sở hữu, do đó tăng thêm đòn bẩy (tỷ lệ vốn chủ sở hữu thấp hơn) dẫn đến tổng chi phí đại diện cao hơn và lợi nhuận thấp hơn
Ngoài ra, Berger và Patti (2006) lý giải mối quan hệ không đơn điệu giữa cấu trúc vốn với hiệu quả hoạt động của ngân hàng dựa trên tác động ngược lại giữa hiệu quả hoạt động đến cấu trúc vốn của ngân hàng dựa trên hai giả thuyết Giả thuyết rủi ro – hiệu quả (efficiency - risk hypothesis) và giả thuyết giá trị nhượng quyền (franchise - value hypothesis) Giả thuyết rủi ro - hiệu quả phát biểu rằng những công ty hoạt động hiệu quả (tức là có tỷ suất sinh lời cao) sẽ chọn tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng nguồn vốn thấp, vì lợi nhuận kỳ vọng cao hơn từ hiệu quả lợi nhuận cao hơn có thể thay thế vốn cổ phần một mức độ nào đó trong việc bảo vệ ngân hàng khỏi những bất lợi và rủi
ro vỡ nợ (Athanasoglou và cộng sự, 2008) Trong khi đó, giả thuyết giá trị nhượng quyền cho rằng những công ty có hiệu quả kinh doanh cao sẽ có xu hướng chọn tỷ lệ
Trang 29vốn chủ sở hữu trên tổng nguồn vốn cao để bảo vệ thu nhập cao đến từ hiệu quả lợi nhuận trong tương lai
2.2 Tổng quan các nghiên cứu trước
Tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng đã được nhiều tác giả trên thế giới nghiên cứu và đưa ra các kết luận khác nhau
Athanasoglou và cộng sự (2008) nghiên cứu về các nhân tố tác động đến lợi nhuận của ngân hàng, sử dụng dữ liệu của các ngân hàng Hy Lạp giai đoạn 1985 –
2001 và áp dụng các mô hình hồi quy FEM, REM và GMM Trong bài nghiên cứu, tác giả sử dụng biến phụ thuộc là tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) và tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE), trong khi biến độc lập là các nhân tố nội tại của ngân hàng như cấu trúc vốn, rủi ro tín dụng, quy mô, …; các nhân tố ngành như hình thức sở hữu (tư nhân, nhà nước), mức độ tập trung thị trường; các nhân tố kinh tế vĩ mô như lạm phát kỳ vọng, chu kỳ kinh doanh Kết quả thực nghiệm cho thấy cấu trúc vốn có tác động cùng chiều với lợi nhuận ngân hàng, cụ thể là khi tăng tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản thì lợi nhuận của ngân hàng tăng
Bandt và cộng sự (2014) nghiên cứu tác động của cấu trúc vốn đến lợi nhuận của ngân hàng, sử dụng mẫu quan sát gồm 17 ngân hàng ở Pháp giai đoạn 1993 –
2012, áp dụng mô hình FEM với biến phụ thuộc là tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE) và các biến độc lập gồm cấu trúc vốn ngân hàng, mức độ đa dạng hoá tài sản, tỷ
lệ tiền gửi, thị phần tín dụng, rủi ro danh mục, tỷ số thanh khoản Bài nghiên cứu cho thấy cấu trúc vốn có quan hệ cùng chiều với lợi nhuận của ngân hàng, cụ thể là khi tăng tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản sẽ làm cho tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu tăng
Nanceur và Goaied (2008) trong bài nghiên cứu các nhân tố tác động đến lãi cận biên và lợi nhuận của ngân hàng, sử dụng dữ liệu là các ngân hàng ở Thổ Nhĩ Kỳ giai đoạn 1980 – 2000 Bài nghiên cứu sử dụng mô hình FEM và REM, với các biến phụ
Trang 30thuộc là tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) và tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) của ngân hàng, biến độc lập bao gồm biến bên trong ngân hàng như cấu trúc vốn, tỷ lệ cho vay, quy mô, … và biến bên ngoài ngân hàng như tốc độ tăng trưởng GDP thực bình quân đầu người, mức độ tập trung của ngân hàng, loại hình sở hữu, … Bài nghiên cứu cho thấy cấu trúc vốn (cụ thể là tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản) có tác động dương đến lợi nhuận của ngân hàng
Berger và Patti (2006) khi nghiên cứu tác động của cấu trúc vốn lên hiệu quả hoạt động của ngân hàng có tính đến tác động ngược lại của hiệu quả hoạt động đến cấu trúc vốn của ngân hàng Các tác giả sử dụng khả năng sinh lời như chỉ số đo lường hiệu quả hoạt động của ngân hàng, kiểm tra thuyết chi phí đại diện trong lĩnh vực ngân hàng có tính đến cấu trúc sở hữu, các nhân tố bên trong (quy mô, cấu trúc vốn, …) và bên ngoài ngân hàng (mức độ tập trung thị trường, quy định khác) Sử dụng mẫu nghiên cứu gồm 7.320 quan sát từ các ngân hàng Mỹ giai đoạn 1990 – 1995, áp dụng
mô hình bình phương bé nhất (OLS) và bình phương bé nhất hai giai đoạn (2SLS), bài nghiên cứu cho thấy cấu trúc vốn có tác động ngược chiều đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng, cụ thể khi tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản giảm 1% thì ROE tăng 6% Phát hiện này phù hợp với lý thuyết chi phí đại diện, kết quả có ý nghĩa về mặt thống kê và kinh tế
Trujillo – Ponce (2013) trong bài nghiên cứu các nhân tố tác động đến lợi nhuận của ngân hàng, sử dụng dữ liệu là các ngân hàng Tây Ban Nha giai đoạn 1999 – 2009 Bài nghiên cứu sử dụng mô hình S-GMM với các biến phụ thuộc là tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) và tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE), biến độc lập gồm cấu trúc vốn, tỷ lệ cho vay, quy mô ngân hàng, chất lượng tài sản, tỷ lệ dự phòng tín dụng trên tổng nợ, Bài nghiên cứu tìm thấy mối quan hệ cùng chiều giữa cấu trúc vốn với tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản nhưng lại thấy mối quan hệ ngược chiều giữa cấu trúc vốn với tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu của ngân hàng
Trang 31Dietrich và Wanzenried (2011) xem xét các nhân tố tác động đến lợi nhuận của ngân hàng (cụ thể là tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản bình quân (ROAA) và tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần bình quân (ROAE)), với mẫu nghiên cứu là 453 ngân hàng ở Thuỵ
Sỹ trong giai đoạn 1999 – 2008, chia làm hai giai đoạn trước khủng hoảng và trong khủng hoảng 2007 – 2008 Bài nghiên cứu áp dụng mô hình GMM với biến độc lập là các biến bên trong ngân hàng gồm cấu trúc vốn, tỷ lệ chi phí trên thu nhập, chất lượng tín dụng, tốc độ tăng trưởng tiền gửi, quy mô ngân hàng, … và các biến bên ngoài ngân hàng như tốc độ tăng trưởng GDP thực, thuế suất, … Kết quả nghiên cứu cho thấy cấu trúc vốn có tác động cùng chiều lên tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản bình quân nhưng lại tác động ngược chiều lên tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu bình quân
Hoffmann (2010) khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa cấu trúc vốn với hiệu quả hoạt động của ngân hàng, đã sử dụng mẫu quan sát là các ngân hàng ở Mỹ giai đoạn
1995 – 2007, áp dụng mô hình GMM với biến phụ thuộc là tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu của ngân hàng (ROE) và biến độc lập bao gồm cấu trúc vốn, quy mô, mức
độ tập trung thị trường, khả năng cho vay của ngân hàng, chi phí lãi vay, chứng khoán đầu tư, rủi ro ngân hàng, lãi suất chiết khấu, chỉ số NASDAQ ngân hàng và danh tiếng ngân hàng Kết quả thu được cho thấy một mối quan hệ không đơn điệu giữa cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động của ngân hàng, cụ thể là khi tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản của ngân hàng tăng lên đến ngưỡng 41,35% thì mối quan hệ giữa cấu trúc vốn
và lợi nhuận của ngân hàng là ngược chiều, tuy nhiên khi vượt qua ngưỡng này, mối quan hệ này là cùng chiều Như đã nói ở trên, Hoffmann (2010) giải thích mối quan hệ này dựa trên hai giả thuyết: Giả thuyết rủi ro – hiệu quả và giả thuyết giá trị nhượng quyền
Al – Kayed và cộng sự (2014) trong bài nghiên cứu về mối quan hệ giữa cấu trúc vốn với hiệu quả hoạt động của các ngân hàng Hồi giáo, sử dụng mẫu quan sát là
85 ngân hàng Hồi giáo tại 19 quốc gia, giai đoạn 2003 – 2008 Bài nghiên cứu áp dụng
mô hình 2SLS, với biến phụ thuộc gồm tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần (ROE), tỷ suất
Trang 32sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROA), tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) và lợi nhuận trước thuế/tổng tài sản và biến độc lập gồm cấu trúc vốn, tỷ lệ cho vay, quy mô, chi phí
cố định/tổng tài sản, tốc độ tăng trưởng kinh tế, lạm phát, chỉ số vốn hoá thị trường, thuế, mức độ tập trung thị trường, thị phần ngân hàng, … Tương tự Hoffmann (2010), bài nghiên cứu tìm ra mối quan hệ không đơn điệu giữa cấu trúc vốn với hiệu quả hoạt động của ngân hàng, cụ thể là khi tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản của ngân hàng thấp hơn 37,41% thì tác động của cấu trúc vốn lên ROE của ngân hàng là ngược chiều, nhưng khi tỷ lệ này vượt 37,41% thì mối quan hệ trên là cùng chiều
Tại Việt Nam, một số nghiên cứu đã được thực hiện nhằm đo lường tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng TMCP như sau:
Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2014) khi nghiên cứu về các yếu tố tác động đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam đã sử dụng số liệu thu thập từ báo cáo tài chính của 22 NHTM Việt Nam giai đoạn 2007 – 2013 Bài nghiên cứu áp dụng phương pháp S-GMM, với biến phụ thuộc là tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) và tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE) và biến độc lập là cấu trúc vốn (tỷ lệ vốn chủ sở hữu/tổng tài sản), tỷ lệ cho vay/tổng tài sản, chất lượng tài sản (tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ), cấu trúc tài trợ (tỷ lệ tiền gửi khách hàng/tổng nợ phải trả), hiệu quả hoạt động (tỷ lệ chi phí hoạt động trên thu nhập hoạt động), quy mô, đa dạng hoá thu nhập, tăng trưởng kinh tế và lạm phát Kết quả nghiên cứu cho thấy cấu trúc vốn có mối tương quan nghịch đối với khả năng sinh lời của ngân hàng
Trịnh Quốc Trung và Nguyễn Văn Sang (2013) nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam, sử dụng mô hình hồi quy Tobit dựa trên số liệu của 39 ngân hàng TMCP Việt Nam giai đoạn 2005 – 2012 Trong bài nghiên cứu này, các tác giả lựa chọn các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng bao gồm cấu trúc vốn (tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản), loại hình ngân hàng, tổng chi phí trên tổng doanh thu, tỷ lệ tiền gửi trên số tiền cho vay, thị phần ngân hàng, tỷ lệ vốn cho vay so với tổng tài sản trong khi sử dụng tỷ suất sinh lợi
Trang 33trên tổng tài sản (ROA) và tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE) làm biến đại diện cho hiệu quả hoạt động của ngân hàng Kết quả nghiên cứu cho thấy, cấu trúc vốn
có ảnh hưởng tích cực lên ROA nhưng lại ảnh hưởng tiêu cực lên ROE Các tác giả kết luận rằng, tỷ lệ vốn hoá càng cao thì lợi nhuận trên tổng tài sản càng cao, nhưng lại làm lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu giảm
Bảng 2.1: Tổng hợp kết quả của các nghiên cứu thực nghiệm
2001
FEM, REM, GMM
+ (ROA) + (ROE)
1999 – 2009
- (ROE)
Trang 342007
GMM
-/+
Tồn tại ngưỡng 41,35% của tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng nguồn vốn, vượt qua ngưỡng
đó thì chiều hướng tác động sẽ thay đổi
2008
2SLS
-/+
Tồn tại ngưỡng 37,41% của tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng nguồn vốn, vượt qua ngưỡng
đó thì chiều hướng tác động sẽ thay đổi
2012
Hồi quy Tobit
+ (ROA)
- (ROE)
Trang 35Kết luận chương 2
Chương 2 đã giới thiệu tổng quan một số lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm
về tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng Việc tồn tại nhiều quan điểm trái chiều về tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng đòi hỏi nghiên cứu thực nghiệm để tìm ra câu trả lời tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng TMCP Việt Nam là như thế nào Mô hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu về tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng sẽ được giới thiệu ở chương sau
Trang 36CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương này sẽ giới thiệu lần lượt về cơ sở dữ liệu, mô hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu nhằm tìm ra tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng
3.1 Cơ sở dữ liệu
Dữ liệu nghiên cứu là dữ liệu dạng bảng (panel data), với số liệu được thu thập
từ báo cáo tài chính có kiểm toán của 24 ngân hàng TMCP tại Việt Nam giai đoạn
2008 – 2017, tương ứng với 240 quan sát
Theo Hoffmann (2010), việc sử dụng dữ liệu bảng là công cụ thích hợp nhất khi mẫu quan sát là sự kết hợp giữa dữ liệu chéo và dữ liệu chuỗi thời gian Trong trường hợp này, lợi thế của việc sử dụng dữ liệu bảng là khắc phục được các đặc điểm không thể kiểm soát, liên tục và không đồng nhất của từng ngân hàng được đưa vào mẫu Ngoài ra, dữ liệu bảng có chứa nhiều thông tin hữu ích hơn, tính biến thiên nhiều hơn,
ít hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến hơn, nhiều bậc tự do hơn và hiệu quả cao hơn trong các ước tính Hơn nữa, dữ liệu bảng làm tăng kích thước mẫu (số lượng quan sát), từ đó tăng độ chính xác của các ước lượng và vì vậy kết quả có ý nghĩa thống kê cao hơn (Al-Kayed và cộng sự, 2014) Cuối cùng, Arellano và Bover (2005) cho rằng việc phân tích dữ liệu bảng sẽ tốt hơn trong việc xác định và đo lường các ảnh hưởng không thể quan sát được so với phân tích dữ liệu chéo hoặc dữ liệu chuỗi thời gian
3.2 Mô hình nghiên cứu
Để nghiên cứu tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng, bài nghiên cứu kế thừa mô hình nghiên cứu của Hoffmann (2010), tuy nhiên có vận dụng linh hoạt cho các ngân hàng TMCP tại Việt Nam Mô hình nghiên cứu cụ thể như sau:
ROE it = f(CAP it , X it , Z t ) + e it ROA it = f(CAP it , X it , Z t ) + e it
Trang 37Trong đó, biến phụ thuộc là hiệu quả hoạt động của ngân hàng, đại diện bởi tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE) và tỷ suất sinh lợi trên tài sản (ROA) của ngân hàng i trong năm t Biến phụ thuộc được xác định từ tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng nguồn vốn (CAP) của ngân hàng i trong năm t, các biến độc lập khác (Xit, Zt), và eit là sai số ngẫu nhiên
Kế thừa các nghiên cứu trước, tác giả sử dụng Xit là tập hợp các biến bên trong ngân hàng có khả năng tác động đến hiệu quả hoạt động ngân hàng, bao gồm: quy mô ngân hàng (SIZE), tỷ lệ cho vay (LOAN), tỷ lệ tiền gửi (DEPOSIT), rủi ro của ngân hàng (RISK), kết hợp với tập hợp biến bên ngoài ngân hàng Zt, bao gồm mức độ tập trung thị trường đo lường bởi chỉ số Herfindahl (HHI), tốc độ tăng trưởng GDP (GDPG) và tỷ lệ lạm phát (INF)
Quy mô ngân hàng là nhân tố được hầu hết các nhà nghiên cứu đưa vào mô hình để xem xét tác động đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng Tuy nhiên, tác động của quy mô lên hiệu quả hoạt động của ngân hàng vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm trái chiều Short (1979), Athanasoglou và cộng sự (2006) đều tìm thấy mối quan hệ đồng biến giữa quy mô và lợi nhuận ngân hàng Berger và Humphrey (1998) cũng đưa ra bằng chứng rằng các ngân hàng lớn hiệu quả hơn ngân hàng nhỏ Tuy nhiên, Naceur
và Goaied (2008) lại tìm thấy mối quan hệ ngược chiều giữa quy mô với khả năng sinh lời của ngân hàng Vì các ngân hàng TMCP Việt Nam có quy mô vừa và nhỏ, bài nghiên cứu kỳ vọng quy mô có tác động cùng chiều đến hiệu quả hoạt động của ngân
hàng Trong bài nghiên cứu này, biến quy mô ngân hàng (SIZE) được đo lường bằng
logarit tự nhiên của tổng tài sản của ngân hàng
Nhiều nghiên cứu tìm thấy mối quan hệ đồng biến giữa tỷ lệ cho vay và lợi nhuận ngân hàng (Hassan và Bashir, 2003; Sufian, 2011) Demirguc –Kunt và Huizinga (2000) cho rằng các khoản vay được trả lãi đầy đủ sẽ làm tăng thu nhập lãi ròng Vì các khoản cho vay của ngân hàng là rủi ro, nó được kỳ vọng sẽ sinh lời cao hơn các tài sản khác, tức là các khoản cho vay được kỳ vọng có tác động cùng chiều
Trang 38đến lợi nhuận (Bourke, 1989) Thu nhập từ lãi vay luôn đóng góp một phần không nhỏ vào lợi nhuận của các ngân hàng Việt Nam, vì vậy, tỷ lệ cho vay được kỳ vọng có mối quan hệ cùng chiều với hiệu quả hoạt động của ngân hàng Trong bài nghiên cứu này,
biến tỷ lệ cho vay (LOAN) được tính bằng tỷ lệ tổng dư nợ cho vay trên tổng tài sản
của ngân hàng
Tiền gửi khách hàng là nguồn tài trợ vốn chính của ngân hàng Một ngân hàng huy động được nhiều tiền gửi và tiền gửi đó được cho vay các khoản vay an toàn, ngân hàng sẽ gia tăng lợi nhuận Chính vì vậy, tiền gửi khách hàng có mối quan hệ đồng biến với hiệu quả hoạt động của ngân hàng (Lee và Hsieh, 2013; Gul và cộng sự, 2011) Tuy nhiên, theo Berger (1995) và Berger và Patti (2006), nhu cầu tiền gửi đại diện cho các cơ hội của thị trường nhưng lại là lý do chính dẫn đến các vấn đề về đại diện do bảo hiểm tiền gửi được đưa ra bởi chính phủ, làm tăng chi phí đại diện của các khoản nợ bên ngoài Chính vì vậy, có thể tồn tại một mối quan hệ ngược chiều giữa tỷ
lệ tiền gửi với hiệu quả hoạt động của ngân hàng Kết quả nghiên cứu của Hoffmann (2010) cho thấy một mối tương quan âm giữa tỷ lệ tiền gửi với hiệu quả hoạt động của
ngân hàng Trong bài nghiên cứu này, tỷ lệ tiền gửi (DEPOSIT) được tính bằng tỷ lệ
tổng tiền gửi của khách hàng trên tổng tài sản, được kỳ vọng có tác động cùng chiều đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng
Hiệu quả kinh doanh của ngân hàng cũng chịu sự tác động của rủi ro ngân hàng Tarig và cộng sự (2014) cho rằng rủi ro ngân hàng chủ yếu đến từ rủi ro thanh khoản
và rủi ro tín dụng Theo Berger và Bouwman (2013), các ngân hàng có thanh khoản nhiều hơn có xác suất chịu đựng tình trạng kiệt quệ tài chính thấp hơn, dẫn đến rủi ro phá sản cao hơn Duca và McLaughlin (1999) kết luận rằng tăng rủi ro tín dụng sẽ làm giảm lợi nhuận ngân hàng Bessis (2011) cho rằng rủi ro tín dụng là rất quan trọng vì khi một số khách hàng lớn của ngân hàng bị vỡ nợ sẽ gia tăng khả năng thua lỗ của
ngân hàng, từ đó dẫn tới phá sản Trong bài nghiên cứu này, rủi ro ngân hàng (RISK)
được đo lường bởi mô hình Z-score = (ROA + Vốn chủ sở hữu/tổng tài sản)/σROA
Trang 39(Boyd & Graham, 1986; Nguyễn Thanh Dương, 2013) Rủi ro ngân hàng được kỳ vọng có tác động ngược chiều lên hiệu quả hoạt động của ngân hàng
Mức độ tập trung thị trường xác định hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thông qua việc thể hiện sức mạnh thị trường của ngân hàng đó Giả thuyết sức mạnh thị trường cho rằng, sức mạnh thị trường tăng lên sẽ mang lại lợi nhuận độc quyền, các công ty có thị phần lớn và các sản phẩm thực sự khác biệt có thể thực hiện sức mạnh thị trường và kiếm được lợi nhuận không cạnh tranh (Berger, 1995) Giả thuyết cấu trúc – hiệu quả cũng ủng hộ mối quan hệ đồng biến giữa mức độ tập trung thị trường với lợi nhuận ngân hàng khi cho rằng tăng hiệu quả quản lý và quy mô sẽ dẫn đến mức
độ tập trung cao hơn, đồng thời chi phí hoạt động thấp hơn, dẫn tới lợi nhuận cao hơn Bourke (1989), Smirlock (1985), Hoffmann (2010) đều tìm thấy tác động cùng chiều của mức độ tập trung thị trường đến lợi nhuận ngân hàng Trong bài nghiên cứu này,
tác giả sử dụng chỉ số Herfindahl-Hirschman (HHI) đại diện cho mức độ tập trung thị
trường, đo lường bằng tổng bình phương thị phần các ngân hàng trong hệ thống Mức
độ tập trung thị trường được kỳ vọng có tác động cùng chiều lên hiệu quả hoạt động của ngân hàng
Để đại diện cho môi trường kinh tế vĩ mô, tác giả lựa chọn tốc độ tăng trưởng tổng tài sản quốc nội (GDPG) và tỷ lệ lạm phát (INF)
Tăng trưởng GDP được xem như một yếu tố kiểm soát các tác động đầu ra theo chu kỳ, trong đó các điều kiện kinh tế vĩ mô thuận lợi được kỳ vọng sẽ có tác động tích cực đến lợi nhuận của ngân hàng Khi tăng trưởng GDP chậm lại, chẳng hạn như trong thời kỳ suy thoái, chất lượng tín dụng sẽ xấu đi, số lượng các khoản vay có chất lượng xấu sẽ mặc định tăng lên, do đó lợi nhuận của ngân hàng giảm (Flamini và cộng sự, 2009) Hassan và Bashir (2005) và Gul và cộng sự (2011) đều tìm thấy mối quan hệ đồng biến giữa tốc độ tăng trưởng GDP và tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản của ngân
hàng Trong bài nghiên cứu này, tốc độ tăng trưởng GDP (GDPG) được kỳ vọng có
tác động cùng chiều lên hiệu quả hoạt động của ngân hàng