HỒ CHÍ MINH *************** CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT NGÔ HẢI THANH ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA TÍN DỤNG TỪ NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN AGRIBANK TỚI MỨC SỐNG
Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
***************
CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT
NGÔ HẢI THANH
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA TÍN DỤNG TỪ NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN (AGRIBANK) TỚI MỨC SỐNG HỘ GIA ĐÌNH Ở NÔNG THÔN VIỆT NAM
Trang 2
MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN I LỜI CẢM ƠN II TÓM TẮT III DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT IV DANH MỤC CÁC BẢNG V CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG 1
1.1 Bối cảnh và vấn đề chính sách 1
1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
1.4 Kết cấu đề tài 4
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT 5
2.1 Vai trò của vốn và tín dụng trong phát triển nông nghiệp nông thôn 5
2.1.1 Vai trò của vốn trong phát triển nông nghiệp 5
2.1.2 Mối quan hệ giữa vốn và tín dụng 7
2.1.3 Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với việc phát triển nông nghiệp và gia tăng mức sống hộ gia đình ở nông thôn 7
2.2 Chính sách tín dụng nông thôn của Agribank 9
2.2.1 Giới thiệu về Agribank 9
2.2.2 Các chương trình tín dụng và cơ chế vận hành 10
2.3 Các nghiên cứu trước 11
Trang 3
2.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới mức sống hộ gia đình 13
2.4.1 Nhóm nhân tố liên quan đến đặc trưng của chủ hộ 13
2.4.2 Nhóm nhân tố liên quan đến đặc trưng của hộ gia đình 14
2.4.3 Nhóm nhân tố liên quan đến đặc trưng của cộng đồng và vùng địa lý 16
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ MÔ HÌNH ƯỚC LƯỢNG 18
3.1 Phương pháp khác biệt trong khác biệt (DID) 18
3.2 Kết hợp phương pháp khác biệt trong khác biệt và hồi quy OLS 19
3.3 Định nghĩa biến trong mô hình 21
3.4 Mô tả dữ liệu 23
3.5 Chiến lược xây dựng mô hình 25
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 26
4.1 Tác động của tín dụng Agribank tới thu nhập hộ gia đình ở nông thôn 26
4.2 Tác động của tín dụng Agribank tới chi tiêu của hộ gia đình ở nông thôn 30
4.3 Nguyên nhân tín dụng từ Agribank chưa có tác động tới mức sống hộ gia đình 34 CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH 37
5.1 Những kết luận chính 37
5.2 Gợi ý chính sách 38
5.3 Hạn chế của nghiên cứu 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO 42
PHỤ LỤC 45
Trang 4i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu do cá nhân tôi thực hiện Các dữ liệu sử dụng trong luận văn được trích dẫn nguồn đầy đủ và chính xác trong phạm vi hiểu biết của tôi Luận văn không nhất thiết phản ánh quan điểm của Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh hay của Chương trình giảng dạy Kinh tế Fulbright
Ngô Hải Thanh
Trang 5Ngô Hải Thanh
Trang 6iii
TÓM TẮT
Sử dụng phương pháp hồi quy OLS kết hợp DID (khác biệt trong khác biệt) và dựa trên bộ
số liệu điều tra mức sống hộ gia đình VHLSS các năm 2006 và 2008, đề tài tiến hành đánh giá tác động của tín dụng từ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) tới mức sống các hộ gia đình ở khu vực nông thôn
Kết quả nghiên cứu chưa tìm thấy ảnh hưởng tích cực của tín dụng Agribank tới thu nhập cũng như chi tiêu của các hộ gia đình trong giai đoạn 2006-2008 Điều này được giải thích bởi đặc điểm rủi ro cao và khả năng thu hồi chậm của đồng vốn sử dụng trong sản xuất nông nghiệp Mặt khác, đa số các khoản vay đều có giá trị thấp và thời hạn vay ngắn nên mức sống của hộ chưa thể cải thiện ngay được Tuy nhiên, bên cạnh đó, nghiên cứu đã chứng minh được một số nhân tố có tác động mạnh tới mức sống hộ gia đình như: tình trạng nghèo, quy mô hộ, tỷ lệ phụ thuộc trong hộ, trình độ giáo dục chủ hộ, số lao động phi nông nghiệp…
Trên cơ sở đó, tác giả đã đưa ra một số đề xuất như: thực hiện có hiệu quả các chương trình trợ cấp cho người nghèo ở nông thôn; tổ chức các lớp học bổ túc, truyền đạt kỹ năng làm nông nghiệp cho người lao động; khuyến khích và thực hiện các biện pháp cưỡng chế nếu cần thiết để trẻ em được đến trường học tập; tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thức cho người dân về vấn đề kế hoạch hóa gia đình; phát triển thị trường lao động, đa dạng hóa việc làm nhằm nâng cao mức sống hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam Về phía các ngân hàng, cần có những chính sách hỗ trợ sản xuất kinh doanh đi kèm khi cho hộ gia đình vay vốn để bảo đảm khoản vay được đầu tư có hiệu quả Đối với riêng Agribank, cần tăng cường hỗ trợ và đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn để không những đưa dịch
vụ ngân hàng đến với người dân vùng quê nhanh chóng hơn, hiệu quả hơn, mà qua đó còn gián tiếp góp phần nâng cao mức sống cho họ
Trang 7GDP (Gross Domestic Product) : Tổng sản phẩm quốc nội
ICOR (Incremental Capital -
Output Rate)
: Hệ số gia tăng vốn – sản lượng (đầu ra)
OLS (Ordinary Least Squares) : Hồi quy tuyến tính bình phương nhỏ nhất
VHLSS (Vietnam Household
Living Standards Surveys)
: Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam
VLSS (Vietnam Living
Standards Surveys)
: Khảo sát mức sống dân cư Việt Nam
Trang 8Bảng 4.5: Thống kê lý do vay vốn với các giá trị vay khác nhau từ Agribank của các hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam trong năm 2006 36
Trang 99121 xã, khoảng 9,6 triệu ha đất nông nghiệp và 14,7 triệu ha đất lâm nghiệp (Tổng cục thống kê, 2009) Vì vậy, nông nghiệp và nông thôn Việt Nam có vai trò, vị trí hết sức quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước
Nông nghiệp là một trong những ngành sản xuất vật chất quan trọng nhất ở nước ta Hơn nữa, vai trò của nông nghiệp lại càng đặc biệt quan trọng, bởi đây là nơi sản xuất ra những sản phẩm thiết yếu như lương thực, thực phẩm cho đời sống con người mà không có một ngành nào khác có thể thay thế được Bên cạnh đó, nông nghiệp cung cấp nguyên liệu cho các ngành kinh tế khác trong nền kinh tế quốc dân như các ngành công nghiệp dệt, da giày, chế biến… và phục vụ cho xuất khẩu
Nông nghiệp và nông thôn là nơi cung cấp nguồn nhân lực dồi dào cho đất nước và là thị trường rộng lớn để tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ của các ngành kinh tế khác Với gần 60 triệu dân sống ở khu vực nông thôn, tuy mức thu nhập của nông dân còn thấp, song đây vẫn là một thị trường đầy hấp dẫn để các ngành công nghiệp, thương mại và dịch vụ tiếp cận bán sản phẩm của mình và thu mua nguyên liệu từ khu vực nông nghiệp sản xuất, từ
đó thúc đẩy nhau cùng phát triển Bên cạnh đó, nông thôn là địa bàn có nhiều tài nguyên đất đai khoáng sản nên có ảnh hưởng to lớn đến môi trường sinh thái và việc sử dụng hiệu quả các tiềm năng Nơi đây còn tập trung khoảng 60 dân tộc khác nhau sinh sống, gồm nhiều tầng lớp, thành phần khác nhau Mỗi sự biến động tích cực hay tiêu cực đều có tác động mạnh đến tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước
Vì vậy, việc ổn định và phát triển nông nghiệp, nâng cao thu nhập và mức sống người dân vùng nông thôn sẽ góp phần ổn định tình hình kinh tế, chính trị của đất nước Để làm được điều này, vốn đầu tư đáp ứng nhu cầu phát triển sản xuất là một nhân tố vô cùng quan trọng Chính vì vậy, nhiều cơ chế, chính sách đã được Chính phủ ban hành; trong đó đặc biệt
là các chính sách tín dụng ngân hàng như: Quyết định 67/1999/QĐ-TTg ban hành ngày 30/03/1999; Quyết định 148/QĐ-TTg ban hành ngày 07/07/1999; Nghị định 41/2010/NĐ-CP
Trang 10Là một trong những ngân hàng thương mại Nhà nước, được ra đời để phục vụ nông nghiệp , nông thôn và cũng trưởng thành đi lên từ đây, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) luôn duy trì nguồn vốn gần 70%/tổng
dư nợ đầu tư cho lĩnh vực này Chỉ riêng năm 2010, Agribank bổ sung trên 42.000 tỷ đồng cho vay phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn2 Điều đó càng khẳng định rằng Agribank là tổ chức tín dụng hàng đầu ở khu vực tam nông trong việc cho các hộ nông vay vốn phát triển sản xuất Cụ thể, hiện nay, Agribank thực hiện cho vay đối với các cá nhân,
hộ gia đình, hợp tác xã, doanh nghiệp kinh doanh trên địa bàn nhằm phát triển các ngành nghề ở nông thôn Ngoài ra, Agribank còn cho vay tiêu dùng nhằm nâng cao đời sống nhân dân ở vùng nông thôn
Đã có khá nhiều nghiên cứu đánh giá tác động của tín dụng hay tài chính vi mô tới mức sống hộ gia đình, đặc biệt là các hộ nghèo ở nông thôn, được thực hiện ở nhiều quốc gia trên thế giới, ở nhiều thời điểm khác nhau Bangladesh là quốc gia có nhiều nghiên cứu được thực hiện như: Pitt và Khandker (1998), Morduch (1998), Khandker (2005), Mahjabeen (2008) Các nghiên cứu tương tự cũng được tiến hành ở các quốc gia khác như: Kondo và đ.t.g (2007) với nghiên cứu ở Philippin, Arun và đ.t.g (2006) với nghiên cứu ở Ấn Độ, nghiên cứu ở Amhara phía bắc Ethiopia của Gobezie và Garber (2007) Ở Việt Nam, một số nghiên cứu đánh giá tác động của tín dụng cũng được thực hiện như:
“Đánh giá tác động của tín dụng đối với giảm nghèo ở nông thôn Việt Nam” của Phan Thị Nữ (2010); “Tác động của tín dụng chính thức đối với hộ gia đình ở đồng bằng sông
1 Agribank (2010), “Chính sách tín dụng ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn: Bơm vốn
mạnh và rộng hơn vào khu vực tam nông”, Agribank Bình Định, truy cập ngày 1/5/2011 tại địa chỉ:
http://www.agribankbinhdinh.com.vn/chitiet.asp?ID=262&loai=TT
2 Viết Chung (2011), “Agribank lớn mạnh cùng ngành Ngân hàng Việt Nam”, Agribank, truy cập ngày
25/5/2011 tại địa chỉ: lo%CC%81n-ma%CC%A3nh-cu%CC%80ng-nga%CC%80nh-ngan-ha%CC%80ng-vie%CC%A3t-nam.aspx
Trang 11http://www.vbard.com/31/820/tin-tuc/hoat-dong-agribank/2011/05/3350/agribank-3
Cửu Long” của Nguyễn Thanh Bình (2010) Kết quả của các nghiên cứu này chưa có sự đồng nhất trong việc xác định tác động của tín dụng tới mức sống các hộ gia đình, nó tùy thuộc vào đặc điểm dữ liệu mỗi quốc gia, mỗi thời điểm khác nhau
Agribank là ngân hàng thương mại Nhà nước lớn nhất Việt Nam cả về nguồn vốn, tài sản, mạng lưới hoạt động và số lượng khách hàng Tính đến 31/12/2010, Agribank có tổng tài sản trên 524.000 tỷ đồng ; tổng nguồn vốn đạt 474.941 tỷ đồng; tổng dư nợ cho vay nền kinh tế đạt 414.755 tỷ đồng; trên 2.300 chi nhánh và phòng giao dịch p hủ rộng khắp toàn quốc3
Hơn nữa, đây là ngân hàng chủ lực trong việc cung cấp tín dụng cho các hộ gia đình
ở nông thôn Việt Nam để phát triển sản xuất, nâng cao đời sống và qua đó góp phần xây dựng kinh tế địa phương Vì vậy, việc đánh giá tác động tín dụng từ ngân hàng này tới mức sống của người dân vùng nông thôn là vô cùng cần thiết Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một nghiên cứu đánh giá tác động tín dụng từ Agribank đối với mức sống của các hộ gia đình ở nông thôn đã vay vốn để xem thực sự đời sống của họ có được cải thiện hơn trước hay không? Vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài “Đánh giá tác động của tín dụng từ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tới mức sống các hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam” làm luận văn tốt nghiệp
1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là đánh giá tác động của các khoản tín dụng từ Agribank tới mức sống các hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam Trên cơ sở đó, đưa ra những kiến nghị để cải thiện chính sách tín dụng nông thôn nói chung và của Agribank nói riêng nhằm nâng cao đời sống các hộ gia đình ở khu vực nông thôn
Với mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài tập trung trả lời hai câu hỏi:
- Việc vay tín dụng từ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) có giúp các hộ gia đình cải thiện mức sống hay không?
- Những kiến nghị nào được đưa ra nhằm nâng cao mức sống của các hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam?
3 Viết Chung (2011), “Agribank lớn mạnh cùng ngành Ngân hàng Việt Nam”, Agribank, truy cập ngày
25/5/2011 tại địa chỉ: lo%CC%81n-ma%CC%A3nh-cu%CC%80ng-nga%CC%80nh-ngan-ha%CC%80ng-vie%CC%A3t-nam.aspx
Trang 12http://www.vbard.com/31/820/tin-tuc/hoat-dong-agribank/2011/05/3350/agribank-4
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tác động tín dụng từ Agribank tới mức sống của các hộ gia đình vay vốn ngân hàng này để nâng cao thu nhập, cải thiện cuộc sống
Phạm vi nghiên cứu: đề tài chọn vùng nông thôn Việt Nam để nghiên cứu với số liệu sử dụng từ hai cuộc điều tra mức sống hộ gia đình VHLSS các năm 2006 và 2008
1.4 Kết cấu đề tài
Đề tài được chia làm 5 chương Chương 1: Giới thiệu chung; trình bày bối cảnh, vấn đề nghiên cứu và đưa ra câu hỏi chính sách cần phải trả lời Chương 2: Tổng quan cơ sở lý thuyết; tập trung làm rõ các lý thuyết về vai trò của vốn, tín dụng đối với phát triển nông nghiệp, nâng cao mức sống người dân nông thôn; tóm lược những kết quả chính của các nghiên cứu trước để xác định các nhân tố có ảnh hưởng tới mức sống hộ gia đình, đặc biệt
là các gia đình ở sống ở khu vực nông thôn Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và mô hình ước lượng; trình bày phương pháp cụ thể mà đề tài sử dụng để tiến hành đánh giá tác động của tín dụng từ Agribank tới mức sống hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam, chiến lược
mà tác giả sẽ sử dụng để tìm ra mô hình ước lượng tốt nhất Chương 4: Kết quả nghiên cứu Dựa trên khung phân tích đã trình bày ở hai chương trước, chương này tác giả tiến hành phân tích, làm rõ những kết quả của nghiên cứu Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách Phần này tóm lược những kết quả chính của luận văn và đưa ra những gợi ý chính sách từ thực tế vấn đề nghiên cứu
Trang 135
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Vai trò của vốn và tín dụng trong phát triển nông nghiệp nông thôn
2.1.1 Vai trò của vốn trong phát triển nông nghiệp
Todaro và Smith (2009) đã đề cập đến vai trò của vốn trong việc phát triển nông nghiệp Các tác giả đã chia sự phát triển của nông nghiệp ra làm ba giai đoạn lớn Giai đoạn đầu tiên là giai đoạn có sản lượng và năng suất thấp, chủ yếu là hình thức tự cung tự cấp với nhân tố chính là đất đai và lao động, vốn được đầu tư ít Do đó, người nông dân có thu nhập thấp và không ổn định Giai đoạn thứ hai được gọi là giai đoạn đa dạng và hỗn hợp nông nghiệp, sản lượng và năng suất lao động được nâng cao, một phần nhỏ sản phẩm được sử dụng cho tiêu dùng, còn một phần đáng kể được bán cho các khu vực thương mại Trong giai đoạn này, vốn được đầu tư nhiều hơn, đồng thời nguồn lao động dư thừa ở vùng nông thôn được sử dụng tốt và hiệu quả hơn, thu nhập của người lao động gia tăng ở mức trung bình nhưng có độ ổn định cao Giai đoạn thứ ba là chuyên môn hóa, đại diện bởi các trang trại hiện đại có năng suất cao Việc tạo vốn, áp dụng tiến bộ công nghệ, nghiên cứu khoa học và triển khai đóng vai trò vô cùng quan trọng Nhờ đó, đời sống người dân được cải thiện với mức thu nhập cao nhưng độ ổn định ở mức trung bình do sự biến động giá cả hàng hóa
Khi nghiên cứu đầu vào của quá trình sản xuất, các nhà kinh tế học hiện đại đã khẳng định vốn là “chìa khóa” của tăng trưởng và phát triển kinh tế Theo Perkins (2006), vai trò của vốn đối với tăng trưởng kinh tế của một đơn vị kinh tế bất kỳ (công ty, ngành công nghiệp, nông nghiệp, hay toàn bộ nền kinh tế) được lượng hóa thông qua mô hình Harrod – Domar với một hàm sản xuất đơn giản: g = s/k
Trong đó: g là tỷ lệ tăng trưởng của sản lượng đầu ra
s là tỷ lệ tiết kiệm so với sản lượng đầu ra
k là hệ số gia tăng vốn – sản lượng đầu ra (hệ số ICOR) Hệ số k cho biết để
có thêm một đồng sản phẩm đầu ra (giá trị tăng thêm) cần phải đầu tư k đồng vốn
Mô hình Harrod – Domar khẳng định: tốc độ tăng trưởng kinh tế tỷ lệ thuận với tỷ lệ tiết kiệm (đầu tư) và tỷ lệ nghịch với hệ số ICOR Do đó, để tăng trưởng, nền kinh tế cần phải tiết kiệm để đầu tư một tỷ lệ nhất định so với GDP Hay nói rõ hơn, nền kinh tế có khả
Trang 146
năng tiết kiệm, đầu tư càng lớn càng đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhất là hiệu suất của đầu tư (mức sản lượng tăng thêm thu được từ một đơn vị đầu tư tăng thêm), được tính bằng 1/k, tức là bằng nghịch đảo của tỷ lệ gia tăng vốn – đầu ra Trên thực tế, k không phải không đổi mà luôn
có xu hướng tăng lên, nghĩa là đầu tư có xu hướng ngày càng tốn vốn hơn trong điều kiện khoa học và công nghệ bùng nổ và phát triển mạnh mẽ như hiện nay Vì vậy, để giữ cho tốc độ tăng trưởng kinh tế cao cần phải đảm bảo sao cho hệ số ICOR tăng chậm, trong khi vẫn tiếp tục gia tăng tiết kiệm để đầu tư Trong trường hợp tiết kiệm không đủ bù đắp đầu
tư, có thể bổ sung sự thiếu hụt vốn bằng việc thu hút vốn từ bên ngoài
Cũng giống như bất kỳ ngành sản xuất vật chất nào, sự gia tăng nhanh tiết kiệm để đầu tư phát triển nông nghiệp sẽ làm tăng năng lực sản xuất, thúc đẩy gia tăng năng suất, sản lượng và nâng cao chất lượng nông phẩm hàng hóa Đồng thời, sản xuất nông nghiệp có hiệu quả càng tạo ra khả năng thu hút các nguồn lực khác (tài nguyên thiên nhiên, lao động, khoa học – công nghệ…) tham gia vào phát triển nông nghiệp, gắn với thị trường Nhờ đó, đời sống người nông dân sẽ ngày càng khấm khá hơn, mức sống của họ cũng ngày càng được cải thiện nhanh chóng
Tác động của vốn đối với tăng trưởng sản lượng trong nền kinh tế nói chung và trong nông nghiệp nông thôn nói riêng còn được thể hiện thông qua hàm sản xuất dạng Cobb-Douglas: Y=ALαKβ (Mankiw, 2002) Trong đó: Y là sản lượng đầu ra; L là lao động; K là lượng vốn; A là tổng các nhân tố sản xuất; α và β là các hệ số co giãn theo sản lượng của lao động
và vốn
o Nếu α + β = 1 thì hàm sản xuất có lợi tức không đổi theo quy mô, nghĩa là nếu vốn
và lao động tăng theo một tỷ lệ bao nhiêu thì sản lượng của ngành hay nền kinh tế cũng tăng theo cùng tỷ lệ bấy nhiêu
o Nếu α + β < 1 thì hàm sản xuất có lợi tức giảm dần theo quy mô, tức là mức sản lượng gia tăng với tỷ lệ thấp hơn tỷ lệ tăng vốn và lao động
o Nếu α + β > 1 thì hàm sản xuất có lợi tức tăng dần theo quy mô, nghĩa là tỷ lệ gia tăng sản lượng đầu ra cao hơn tỷ lệ gia tăng vốn và lao động đầu vào
Như vậy, vốn là một trong những yếu tố có vai trò quan trọng, ảnh hưởng tới mức độ gia tăng sản lượng đầu ra trong nền kinh tế nói chung và trong khu vực nông nghiệp nói riêng
Trang 157
Để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng và phát triển nông nghiệp, đồng thời nâng cao mức sống cho người dân vùng nông thôn, cần phải tăng cường đầu tư vốn cho khu vực này
2.1.2 Mối quan hệ giữa vốn và tín dụng
Đinh Phi Hổ (2008) trong cuốn “Kinh tế học nông nghiệp bền vững” đã xác định vốn trong nông nghiệp được hình thành chủ yếu từ các nguồn sau:
Thứ nhất là vốn tích lũy từ bản thân khu vực nông nghiệp Đây là vốn tự có, do nông dân tiết kiệm được và sử dụng đầu tư vào tái sản xuất mở rộng Mức độ tích lũy vốn thường được đánh giá bởi tỷ lệ tiết kiệm so với thu nhập hoặc tỷ lệ tiết kiệm so với GDP
Thứ hai là vốn đầu tư của ngân sách - vốn đầu tư cho nông nghiệp từ nguồn ngân sách của Nhà nước Vốn này được dùng vào khai hoang và xây dựng vùng kinh tế mới, nông trường quốc doanh, trạm, trại kỹ thuật nông nghiệp, thủy lợi, nghiên cứu khoa học, chương trình giải quyết việc làm ở nông thôn
Thứ ba là vốn từ tín dụng nông thôn, vốn đầu tư cho nông nghiệp của nông hộ, trang trại
và các doanh nghiệp nông nghiệp vay từ hệ thống định chế tài chính nông thôn thuộc khu vực chính thức và phi chính thức
Thứ tư là vốn nước ngoài, bao gồm hai nguồn chủ yếu là vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài
và đầu tư trực tiếp nước ngoài
Như vậy, vốn tín dụng là một trong bốn cấu thành nguồn vốn quan trọng để phát triển nông nghiệp Qua đó, có tác động tới mức sống của các hộ gia đình ở vùng nông thôn Tuy nhiên, vốn tín dụng nông thôn gồm có hai loại là tín dụng chính thức (tín dụng ngân hàng)
và tín dụng phi chính thức, trong đó tín dụng ngân hàng là nguồn tín dụng chính được sử dụng ở nông thôn hiện nay
2.1.3 Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với việc phát triển nông nghiệp và gia tăng mức sống hộ gia đình ở nông thôn
Xét dưới hình thức chủ yếu của tín dụng là loại hình cho vay thì tín dụng ngân hàng có vai trò hết sức to lớn đối với sự phát triển nông nghiệp và kinh tế hộ ở nông thôn Theo Nguyễn Bích Đào (2008), tín dụng ngân hàng có những vai trò sau:
Thứ nhất, tín dụng góp phần hình thành và phát triển thị trường tài chính nông thôn Hoạt động tín dụng là “cầu nối” trung gian giữa những người cần vốn và những người cung ứng
Trang 16Thứ hai, tín dụng ngân hàng góp phần tận dụng mọi tiềm năng to lớn ở nông thôn Tiềm năng về phát triển ở nông thôn nước ta là rất lớn, đây là khu vực tập trung đại đa số tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là đất đai cũng như nguồn lực lao động dồi dào của đất nước Nếu được đầu tư vốn một cách hiệu quả, người dân nơi đây sẽ có điều kiện khai thác tiềm năng tại chỗ, giải phóng sức lao động, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội, ngày càng mở rộng và phát triển thị trường ở nông thôn
Thứ ba, tín dụng góp phần xây dựng kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện cho người nông dân tiếp thu công nghệ mới vào sản xuất kinh doanh Vốn tín dụng của ngân hàng tham gia vào quá trình sản xuất thông qua hình thức đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho nông nghiệp và nông thôn như: đường sá, cầu cống, công trình thủy lợi, mạng lưới điện, thông tin, nước sạch, bệnh viện, trường học, chợ… Đây là những cơ sở hạ tầng phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp cho quá trình sản xuất, góp phần nâng cao đời sống của người dân vùng quê và giảm sự chênh lệch mức sống giữa thành thị và nông thôn
Thứ tư, tín dụng tạo điều kiện phát triển ngành nghề truyền thống, ngành nghề mới, góp phần giải quyết việc làm cho người lao động trong nông thôn Thông qua hoạt động đầu tư xây dựng cơ sở vật chất phục vụ sản xuất, một lượng lớn lao động dư thừa ở nông thôn đã được giải quyết việc làm Tuy nhiên, khi nền kinh tế ngày càng phát triển, sự cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt, sẽ có những doanh nghiệp, hộ gia đình và cá nhân làm ăn kém hiệu quả, rời khỏi nông nghiệp và chuyển sang nghề khác như: tiểu thủ công nghiệp, các nghề truyền thống Do đó, các ngành nghề này sẽ được phát triển và lại tiếp tục thu hút lao động Qua đó, góp phần nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống người dân
Thứ năm, tín dụng góp phần đảm bảo hiệu quả xã hội, nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho người nông dân Hoạt động tín dụng phát triển góp phần hạn chế đáng kể tình trạng
Trang 179
cho vay nặng lãi đã tồn tại khá lâu đời ở nông thôn Vì vậy, người dân sẽ thực sự được hưởng thụ thành quả của mình sau một thời gian dài lao động sản xuất Mặt khác, vốn tín dụng của ngân hàng còn được cung ứng cho mọi đối tượng thiếu vốn, không phân biệt giàu nghèo Do đó, đời sống mọi tầng lớp dân cư được nâng cao và thúc đẩy nông thôn ngày càng phát triển
Tóm lại, tín dụng ngân hàng góp phần quan trọng trong việc hình thành và phát triển thị
trường tài chính ở nông thôn; xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn phục vụ sản xuất, tạo công
ăn việc làm, tận dụng và phát huy hiệu quả mọi tiềm năng to lớn nơi đây Qua đó, góp phần cải thiện và nâng cao đời sống không chỉ vật chất mà cả tinh thần cho người dân vùng nông thôn Trong bốn ngân hàng thương mại lớn ở Việt Nam thì Agribank là một ngân hàng hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn, đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển nông nghiệp và đời sống người dân khu vực nông thôn ở nước ta
2.2 Chính sách tín dụng nông thôn của Agribank
2.2.1 Giới thiệu về Agribank
Agribank có tiền thân là Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam, được thành lập theo quyết định số 400/CT ngày 14/11/1990 của chủ tịch hội đồng Bộ trưởng Đây là một ngân hàng thương mại Nhà nước, hoạt động trong lĩnh vực Nông – Lâm – Diêm nghiệp Từ năm
1994, Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam hoạt động theo mô hình tổng công ty Đến năm
1996, được sự ủy quyền của Chính phủ, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ra quyết định 280/QĐ-NHNN thành lập lại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribbank)
Thị trường kinh doanh chủ yếu của Agribank gắn với lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, nông thôn và nông dân Do đó, hộ sản xuất nông nghiệp đã trở thành đối tượng cho vay chính của ngân hàng này Đồng thời, Agribank làm nhiệm vụ tiếp nhận vốn tài trợ ủy thác đầu tư của các tổ chức trong và ngoài nước cho phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn Hiện nay, Agribank là ngân hàng thương mại Nhà nước lớn nhất cả nước về quy mô nguồn vốn, tài sản cũng như mạng lưới hoạt động rộng khắp; giữ vai trò chủ lực trên thị trường tài chính ở khu vực nông thôn Với những thành tựu đã đạt được trong quá trình phát triển,
Trang 18hạ tầng ở nông thôn; (4) cho vay chế biến, tiêu thụ các sản phẩm nông, lâm, thủy sản và muối; (5) cho vay để kinh doanh các sản phẩm, dịch vụ phục vụ nông, lâm, diêm nghiệp và thủy sản; (6) cho vay phục vụ sản xuất công nghiệp, thương mại và cung ứng các dịch vụ phi nông nghiệp trên địa bàn nông thôn; (7) cho vay tiêu dùng nhằm nâng cao đời sống nhân dân ở nông thôn; (8) cho vay theo các chương trình kinh tế của Chính phủ
Agribank sẽ xem xét cho các đối tượng khách hàng là các cá nhân hoặc hộ gia đình vay trên cơ sở có đảm bảo hoặc không đảm bảo Với cơ chế vay có đảm bảo, tài sản đảm bảo
có thể là động sản hoặc bất động sản như: quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà, tài sản gắn liền với đất; sổ tiết kiệm, kỳ phiếu, trái phiếu, các loại giấy tờ có giá khác; vàng, bạc,
đá quý; và các tài sản khác theo quy định của pháp luật
Ngoài ra, Agribank có thể cho vay không có bảo đảm với mức vốn một hộ gia đình có thể vay tối đa là 20 triệu Tuy nhiên, sau khi Nghị định 41 ra đời (năm 2010), mức vốn cho vay
đã tăng lên tối đa 50 triệu đối với đối tượng là cá nhân, hộ sản xuất nông, lâm, ngư, diêm nghiệp; tối đa 200 triệu đối với hộ kinh doanh, sản xuất ngành nghề hoặc làm dịch vụ phục
vụ nông nghiệp, nông thôn Các đối tượng trên phải nộp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; hoặc được UBND cấp xã xác nhận chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
và đất không có tranh chấp
Dựa trên nhu cầu, các cá nhân và hộ gia đình đi vay sẽ lựa chọn phương thức cũng như thời hạn vay; với mức lãi suất do Chính phủ quy định, theo cơ chế tín dụng thương mại hiện hành hay theo thỏa thuận tùy từng đối tượng cụ thể
4 Nguyễn Hoàng, “Agribank – Những cột mốc và chặng đường lịch sử”, Agribank, truy cập ngày 1/5/2011 tại
địa chỉ: http://www.agribank.com.vn/101/784/gioi-thieu/lich-su.aspx
Trang 19Mahjabeen (2008) tiến hành xem xét các tác động của tài chính vi mô ở Bangladesh đến chi tiêu và phúc lợi của các hộ gia đình bằng cách so sánh hai mô hình, đó là mô hình cơ bản chỉ có các ngân hàng thương mại truyền thống và mở rộng mô hình với các ngân hàng thương mại kết hợp tài chính vi mô Những phát hiện chính của nghiên cứu này là tài chính
vi mô có tác dụng nâng cao thu nhập, tăng tiêu dùng tất cả các hàng hóa của tất cả các hộ gia đình, tạo ra việc làm, giảm bất bình đẳng thu nhập và tăng cường an sinh xã hội Điều này có nghĩa tài chính vi mô là một chiến lược phát triển hiệu quả và có ý nghĩa quan trọng trong chính sách xoá đói giảm nghèo, phân phối thu nhập và đạt được các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDGs)
Bangladesh là quốc gia có nhiều nghiên cứu về đánh giá tác động của tài chính vi mô tới mức sống các hộ gia đình và giảm nghèo được thực hiện Pitt và Khandker (1998) sử dụng
bộ dữ liệu được khảo sát ở quốc gia này năm 1991-1992 để đo lường tác động của tín dụng
vi mô đến đời sống hộ gia đình Họ kết luận rằng tín dụng vi mô làm tăng chi tiêu của các
hộ gia đình, đặc biệt là các khoản vay đối với phụ nữ Bằng phương pháp nghiên cứu tương
tự, Khandker (2005) với bộ dữ liệu được khảo sát lại năm 1999 đã đánh giá tác động biên của tín dụng tới chi tiêu bình quân đầu người hộ, chi tiêu lương thực bình quân đầu người
hộ, chi tiêu hàng phi lương thực bình quân đầu người hộ Trong đó, các yếu tố ảnh hưởng là: giới, tuổi, trình độ giáo dục của chủ hộ, diện tích đất sở hữu, giá trị khoản vay, cơ sở hạ tầng địa phương để phản ánh sự thay đổi điều kiện kinh tế địa phương Kết quả cho thấy tiếp cận tài chính vi mô không chỉ góp phần xóa đói giảm nghèo đối với người tham gia, đặc biệt là với nữ giới mà tổng thể, nó còn góp phần xóa đói giảm nghèo cho nền kinh tế địa phương, cụ thể là ở cấp thôn Tuy nhiên, Morduch (1998) sử dụng lại bộ dữ liệu Bangladesh 1991-1992 để tiến hành ước lượng với phương pháp khác biệt trong khác biệt nhưng không tìm thấy tác động của tín dụng vi mô tới mức sống của các hộ gia đình Một nghiên cứu gần đây của Kondo và các đ.t.g (2007) đã sử dụng phương pháp hồi quy
Trang 2012
OLS kết hợp phương pháp khác biệt trong khác biệt (DID) để đánh giá tác động của tài chính vi mô tới các hộ gia đình ở nông thôn Philippin Nghiên cứu này tiến hành xem xét tác động của tín dụng tới các nhóm vấn đề của hộ như: phúc lợi, các giao dịch tài chính quan trọng khác của hộ, kinh doanh và việc làm, tài sản của hộ, đầu tư vốn nhân lực (giáo dục và sức khỏe) và tỷ lệ giảm đói trong tiêu dùng thực phẩm với các biến giải thích được
sử dụng như: tuổi, giới tính, trình độ của chủ hộ, quy mô hộ, số năm sống tại địa phương, diện tích nhà… Trong đó, các tác giả đánh giá tác động của tín dụng tới phúc lợi (đại diện cho mức sống) của hộ gia đình thông qua các biến: thu nhập bình quân đầu người, chi tiêu dùng bình quân đầu người, tiết kiệm bình quân đầu người và chi tiêu dùng thực phẩm bình quân đầu người Kết quả ước lượng cho thấy tín dụng có tác động tích cực tới mức sống của các hộ gia đình ở vùng nông thôn Phillipin Cụ thể, phân tích cho thấy ở mức ý nghĩa 10%, những hộ có vay vốn có thu nhập bình quân đầu người cao hơn những hộ không vay
là 5.222P; chi tiêu dùng bình quân đầu người của hộ có vay vốn cũng cao hơn những hộ không vay là 4.136P; chi tiêu dùng thực phẩm bình quân đầu người cao hơn 1.333P nhưng tác động của tín dụng tới tiết kiệm bình quân đầu người không có ý nghĩa về mặt thống kê Nghiên cứu của Arun và các đ.t.g (2006) ở Ấn Độ cho thấy vai trò tích cực của tài chính vi
mô đối với giảm nghèo không chỉ ở nông thôn mà còn ở cả các đô thị của quốc gia này Các tác giả cho thấy rằng trong khi các hộ gia đình ở nông thôn cần phải vay tín dụng cho mục đích sản xuất để giảm đói nghèo thì các hộ gia đình ở đô thị chỉ cần truy cập tài chính
vi mô là đủ để giảm bớt đói nghèo Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng hàm logit để xác định các nhân tố có tác động tới giảm nghèo hộ gia đình Bên cạnh tín dụng vi mô, kết quả ước lượng đã chỉ ra tuổi, giới tính chủ hộ, quy mô hộ, tỷ lệ phụ thuộc, khu vực sinh sống đều là những nhân tố quan trọng có ý nghĩa không thể bỏ qua Tuy nhiên, một nghiên cứu khác của Banerjee và các đ.t.g (2009) thực hiện ở Hyderabad – thành phố lớn thứ 5 của Ấn
Độ, nơi tài chính vi mô phát triển nhanh nhất lại cho thấy rằng tín dụng không tác động tới mức sống thông qua chi tiêu của các hộ gia đình
Hai tác giả Gobezie và Garber (2007), với nghiên cứu về tác động của tín dụng vi mô ở Amhara phía bắc Ethiopia cũng cho kết luận rằng tài chính vi mô có tác dụng tích cực tới đời sống, khả năng giảm nghèo của các hộ gia đình sống tại khu vực này Bằng phương pháp hồi quy OLS, nghiên cứu đã xác định những nhân tố có ảnh hưởng tới mức sống các
hộ gia đình giống như nhiều nghiên cứu khác là: tuổi, giới tính, trình độ giáo dục, tình
Trang 21Như vậy, các nghiên cứu được thực hiện ở các quốc gia khác nhau, vào những thời điểm khác nhau, với các bộ dữ liệu khác nhau cho những kết quả khác nhau Hay nói cách khác, tác động của tín dụng vi mô tới mức sống người dân là không rõ ràng, nó tùy thuộc vào đặc điểm dữ liệu mỗi quốc gia, thời điểm tiến hành nghiên cứu Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu đều thống nhất và chỉ ra rằng các yếu tố như: tuổi tác, giới tính, trình độ của chủ hộ; tình trạng nghèo, việc làm phi nông nghiệp, diện tích đất sở hữu, yếu tố dân tộc, vùng miền sinh sống là những nhân tố có ảnh hưởng tới mức sống của các hộ gia đình
2.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới mức sống hộ gia đình
Mức sống của hộ gia đình được phản ánh trên nhiều khía cạnh như: thu nhập, chi tiêu đời sống (bao gồm cả hàng lương thực và phi lương thực), những phúc lợi mà hộ đó được hưởng thông qua mức độ tiếp cận với các dịch vụ cơ bản (y tế, giáo dục, nước sạch)… Bằng chứng
từ các nghiên cứu thực nghiệm được thực hiện ở nhiều quốc gia trên thế giới đã chỉ ra rằng
có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến mức sống của các hộ gia đình, đặc biệt là những hộ sống ở vùng nông thôn Về cơ bản, có thể chia các nhân tố ảnh hưởng này ra làm ba nhóm chính:
2.4.1 Nhóm nhân tố liên quan đến đặc trưng của chủ hộ
Chủ hộ là người có ảnh hưởng lớn tới các quyết định được đưa ra trong hộ Điều đó sẽ tác động không nhỏ tới mức sống của tất cả các thành viên trong hộ, đặc biệt là các gia đình sống ở vùng nông thôn
Tuổi chủ hộ thể hiện kinh nghiệm trong lao động sản xuất Nó được kỳ vọng sẽ mang lại
Trang 2214
nhiều thu nhập hơn người lao động cũng như hộ gia đình đó khi tuổi của người chủ gia đình càng cao Các nghiên cứu của Arun, Imai và Sinha (2006); Gobezie và Garber (2007) đều chỉ ra rằng tuổi của chủ hộ có mối quan hệ đồng biến với thu nhập, mức sống của hộ gia đình
Giới tính của chủ hộ Có nhiều quan điểm khác nhau về ảnh hưởng tới mức sống hộ gia
đình khi chủ hộ là nam và khi chủ hộ là nữ Nghiên cứu tại Ethiopia của Arun và các cộng
sự cho thấy nam giới là chủ hộ thì mức sống gia đình đó cao hơn nhưng kết quả nghiên cứu tại Philippin của Kondo cùng các đ.t.g (2007) lại chỉ ra rằng thu nhập và chi tiêu bình quân đầu người của hộ gia đình cao hơn khi chủ hộ là nữ giới
Trình độ học vấn của chủ hộ có ảnh hưởng quan trọng tới khả năng thu nhập và chi tiêu
của cả hộ Trình độ học vấn càng cao, khả năng lao động, áp dụng kỹ thuật vào sản xuất càng tốt, qua đó nâng cao thu nhập của cá nhân và hộ Thực tế các nghiên cứu tại các quốc gia có đặc điểm tương đồng với Việt Nam như Ấn Độ, Philippin đều cho thấy trình độ giáo dục của chủ hộ cũng như các lao động trong hộ đều có ảnh hưởng tích cực tới mức sống gia đình Mặt khác, theo ước lượng suất sinh lợi của việc đi học ở Việt Nam của Nguyễn Xuân Thành (2006), một năm đi học phổ thông tăng thêm sẽ góp phần tăng thu nhập cá nhân thêm 11,43% Điều đó cho thấy vai trò quan trọng của trình độ giáo dục đối với việc nâng cao mức sống dân cư
2.4.2 Nhóm nhân tố liên quan đến đặc trưng của hộ gia đình
Quy mô hộ (số nhân khẩu trong hộ) có tác động tiêu cực tới mức sống của hộ gia đình
Báo cáo Phát triển Việt Nam 2004 “Nghèo” đã chỉ ra rằng những hộ gia đình càng đông người thì thu nhập và chi tiêu bình quân đầu người càng thấp Bên cạnh đó, Verner (2005) trong một nghiên cứu tại Mexico cũng cho thấy quy mô và thu nhập, mức sống của hộ có mối quan hệ tỷ lệ nghịch
Tỷ lệ người phụ thuộc là số người ăn theo trên một lao động trong hộ Trong đó, những
người ăn theo gồm có 2 nhóm, người quá tuổi lao động không có lương hưu (trên 55 tuổi đối với nữ, trên 60 tuổi đối với nam) và trẻ em dưới 15 tuổi Các chuyên gia kinh tế phát triển đều nhất trí rằng tỷ lệ phụ thuộc là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới mức sống các
hộ gia đình, đặc biệt ở vùng nông thôn – nơi có số người phụ thuộc cao Tỷ lệ này càng cao thì phúc lợi mà bình quân mỗi người trong hộ nhận được càng thấp Điều này đã được
Trang 2315
chứng minh trong nghiên cứu của Arun và các cộng sự (2006) tại Ấn Độ
Số lao động có việc làm phi nông nghiệp Việc làm phi nông nghiệp có ảnh hưởng lớn tới
mức sống chung của hộ Nghiên cứu của Verner (2005) tại Mexico đã chỉ ra rằng những hộ
gia đình có người làm việc trong lĩnh vực phi nông nghiệp hay làm việc làm hưởng lương
sẽ có mức sống cao hơn những hộ chỉ làm nông nghiệp Do đó, việc làm phi nông nghiệp cũng là một yếu tố có tác động tới mức sống của hộ gia đình
Số năm hộ sống tại địa phương Đây cũng là một trong những yếu tố có ảnh hưởng tới
mức sống của hộ gia đình, đặc biệt là những hộ có vay tín dụng ngân hàng để phục vụ hoạt động sản xuất Theo nghiên cứu của Kondo và các cộng sự (2007) tại Philippin, hộ gia đình sinh sống tại địa phương càng lâu thì thu nhập cũng như chi tiêu bình quân đầu người của hộ càng cao bấy nhiêu Nói cách khác, giữa số năm hộ sống tại địa phương và mức sống của hộ có mối quan hệ đồng biến
Diện tích đất sở hữu Người dân sống ở nông thôn nên thu nhập chủ yếu phụ thuộc vào
sản xuất nông nghiệp Vì vậy, đất đai là một yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến thu nhập
và chi tiêu của các hộ Việc sở hữu nhiều đất đai có thể giúp hộ gia tăng sản xuất, đa dạng hóa loại cây trồng và vật nuôi, qua đó cải thiện mức sống tốt hơn Điều này đã được khẳng định trong nghiên cứu của Đinh Phi Hổ và Chiv Vann Di (2010) tại Kampong Cham, Campuchia, đó là việc sở hữu diện tích đất đai có ảnh hưởng đồng biến tới mức thu nhập của các hộ gia đình ở nông thôn
Dân tộc là yếu tố có tác động tới mức sống của các hộ gia đình ở nông thôn Nghiên cứu
của Hoàng Văn Kình, Bob Baulch và các tác giả (2001) đã chỉ ra rằng yếu tố dân tộc có ảnh hưởng tới mức sống của người dân, những người dân tộc Kinh và Hoa thường có mức thu nhập cũng như chi tiêu cao hơn so với những dân tộc khác, đặc biệt là các hộ dân tộc Hoa Nguyên nhân là do đa số người dân tộc thiểu số ở Việt Nam sống ở vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, nơi mà cơ sở hạ tầng kém phát triển; cơ hội được học hành đến nơi đến chốn không cao nên mức sống thấp hơn
Nghèo cũng là một yếu tố ảnh hưởng tới mức sống hộ gia đình Điều này cũng đã được
khẳng định trong nghiên cứu của Nguyễn Thanh Bình (2010) Những gia đình được xếp vào nhóm hộ nghèo, đặc biệt là những hộ sống ở khu vực nông thôn rất dễ rơi vào vòng xoáy của đói nghèo, đó là thu nhập thấp, ít có cơ hội tiếp cận với lương thực và nước sạch, nguy cơ mắc bệnh cao, dẫn tới suy giảm khả năng lao động và bị kiệt quệ về kinh tế Khi
Trang 2416
đó, nguồn tín dụng vay được sẽ là tia sáng giúp họ có thể phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập và thoát nghèo
Tiếp cận tín dụng Đây là một nhân tố vô cùng quan trọng, quyết định khả năng thu nhập
và chi tiêu của hộ gia đình, đặc biệt đối với các hộ nghèo Đa số các nghiên cứu đều nhất trí với khẳng định cho rằng tín dụng vi mô có tác động tích cực đối với việc nâng cao thu nhập, xóa đói giảm nghèo, đồng thời cải thiện an sinh xã hội cho các hộ gia đình Arun và các cộng sự (2006) trong một nghiên cứu tại Ấn Độ đã chỉ ra rằng trong khi các hộ gia đình
ở thành thị chỉ cần truy cập tín dụng vi mô thì các hộ gia đình ở nông thôn cần phải vay tín dụng cho mục đích sản xuất thì mới có thể cải thiện cuộc sống, giảm đói nghèo
2.4.3 Nhóm nhân tố liên quan đến đặc trưng của cộng đồng và vùng địa lý
Vùng miền sinh sống có ảnh hưởng không nhỏ tới mức sống của hộ Nghiên cứu về mức
sống của hộ gia đình thông qua chi tiêu của Vũ Triều Minh (1999) cho thấy các hộ ở miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long có mức sống cao hơn so với các vùng khác Bên cạnh đó, theo Báo cáo phát triển Việt Nam năm 2004, những hộ gia đình sống ở vùng sâu, vùng xa có mức chi tiêu đầu người thấp hơn những hộ ở đồng bằng và thành thị
Việc tiếp cận thị trường là một yếu tố vô cùng quan trọng có tác động tới mức sống của
người dân, đặc biệt là những gia đình sống ở vùng nông thôn Theo nghiên cứu của Hoàng Văn Kình, Bob Baulch (2001) về các yếu tố quyết định thu nhập từ lao động, được thực hiện với hai bộ dữ liệu khảo sát mức sống dân cư Việt Nam VLSS93 và VLSS98 cho thấy
những hộ gia đình sống ở khu vực mà cơ sở hạ tầng tốt, giao thông thuận lợi, có đường ô tô qua thôn, họp chợ thường xuyên hay có nghề thủ công thì thu nhập cao hơn những hộ khác
Bởi hệ thống giao thông tốt sẽ hỗ trợ người dân rất nhiều trong việc lưu thông và trao đổi lao động cũng như hàng hóa với các vùng khác Bên cạnh đó, việc chợ được họp thường xuyên sẽ tăng khả năng bán sản phẩm của các nông hộ Ngoài ra, nghề thủ công địa phương phát triển sẽ góp phần làm tăng khả năng tìm được việc làm phi nông nghiệp cho người dân – đây là yếu tố quan trọng giúp họ nâng cao thu nhập và cải thiện mức sống của
cá nhân cũng như hộ gia đình
Tóm lại, các nhân tố có ảnh hưởng tới mức sống của các hộ gia đình ở nông thôn được thể
hiện ở sơ đồ sau:
Trang 25Quy mô
Tỷ lệ phụ thuộc
Số năm sống tại địa phương
Dân tộc Nghèo
Tiếp cận tín dụng
Số lao động phi nông nghiệp
Diện tích đất
sở hữu
Vùng miền sinh sống
Có đường ô tô qua thôn
Chợ họp thường xuyên
Có nghề thủ công
Trang 2618
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ MÔ HÌNH ƯỚC LƯỢNG
3.1 Phương pháp khác biệt trong khác biệt (DID)
DID là phương pháp được sử dụng khá phổ biến trong nghiên cứu để đánh giá tác động của một chính sách cụ thể Trong đó, các đối tượng phân tích được chia thành hai nhóm, một nhóm được áp dụng chính sách (hay còn gọi là nhóm tham gia), nhóm còn lại không được
áp dụng chính sách (nhóm đối chứng) Để tiến hành phân tích, ta sử dụng các biến giả sau:
D: phản ánh nhóm quan sát, D=0: hộ quan sát thuộc nhóm đối chứng, D=1: hộ quan sát thuộc nhóm tham gia
T: phản ánh thời điểm quan sát, T=0 là trước khi có chính sách, T=1 là sau khi có chính sách
Để biết được tác động chính xác của một chính sách khi áp dụng, cần phải so sánh kết quả đầu ra Y (thu nhập hoặc chi tiêu…) của hai nhóm quan sát ở thời điểm trước và sau khi có chính sách Vì vậy, ta có:
Vào thời điểm trước khi có chính sách (T=0), kết quả đầu ra của nhóm đối chứng (D=0) là Y00 và kết quả đầu ra của nhóm tham gia (D=1) là Y10 Do đó, chênh lệch kết quả đầu ra giữa hai nhóm này trước khi có chính sách là Y10-Y00
Sau khi áp dụng chính sách mới (T=1), kết quả đầu ra của nhóm đối chứng (D=0)
là Y01 và kết quả đầu ra của nhóm tham gia (D=1) là Y11 Chênh lệch kết quả đầu ra giữa hai nhóm này sau khi có chính sách là Y11-Y01
Như vậy, tác động thực sự của chính sách được áp dụng là: (Y11-Y01) – (Y10-Y00), được thể hiện trên đồ thị dưới đây:
Nguồn: Nguyễn Xuân Thành (2006), Phân tích tác động chính sách công: Phương pháp ước lượng
khác biệt trong khác biệt, Tài liệu học tập FETP
Trang 2719
Để thực hiện đánh giá tác động của một chính sách, trước khi áp dụng, cần tiến hành thu thập thông tin về kết quả đầu ra (Y) của cả hai nhóm Sau đó, áp dụng chính sách mới lên nhóm tham gia và không áp dụng chính sách đối với nhóm đối chứng Sau một thời gian áp dụng chính sách, tiếp tục thu thập thông tin về kết quả đầu ra của hai nhóm này và tiến hành so sánh sự khác biệt trước và sau khi có chính sách Với mỗi nhóm quan sát sẽ có sự biến thiên nhất định trong kết quả đầu ra, do đó nếu sự biến thiên kết quả đầu ra giữa hai nhóm này có sự khác biệt thì sự khác biệt đó chính là tác động của chính sách
Tuy nhiên, một giả định quan trọng của phương pháp DID là hai nhóm tham gia và đối chứng phải có đặc điểm tương tự nhau vào thời điểm trước khi áp dụng chính sách để đảm bảo kết quả đầu ra của hai nhóm này sẽ có xu hướng biến thiên giống nhau theo thời gian nếu như không có chính sách; qua đó có được sự đánh giá chính xác tác động của chính sách áp dụng
3.2 Kết hợp phương pháp khác biệt trong khác biệt và hồi quy OLS
Để đánh giá tác động của tín dụng từ Agribank đến mức sống của các hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam, đề tài sử dụng phương pháp khác biệt trong khác biệt (DID) với hai nhóm
hộ gia đình được lựa chọn phù hợp với giả định của phương pháp này Trong đó, nhóm tham gia bao gồm những hộ gia đình sống ở vùng nông thôn đều được điều tra trong VHLSS 2006 và VHLSS 2008, đồng thời là những hộ trả lời có vay vốn Agribank vào năm
2006 trong VHLSS 2006 Nhóm đối chứng là những hộ gia đình sống ở vùng nông thôn nhưng không tham gia vay vốn Agribank (hay bất cứ nguồn nào) trong cả hai cuộc điều tra nói trên
Tuy nhiên, mức sống của các hộ gia đình ở nông thôn là hàm đa biến, phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác, bên cạnh yếu tố tín dụng Chính vì vậy, đánh giá tác động của tín dụng đối với mức sống hộ gia đình sẽ chính xác hơn khi sử dụng thêm các yếu tố này làm biến kiểm soát Do vậy, đề tài kết hợp sử dụng phương pháp hồi qui OLS và DID để đánh giá tác động của tín dụng từ Agribank tới mức sống hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam
Mô hình kinh tế lượng được áp dụng là: Yit = β +β D+β T+β D*T+β Z +0 1 2 3 4 it ε it
Trong đó: Yit: là chỉ tiêu phản ánh mức sống của hộ i tại thời điểm t
D=1: Hộ khảo sát thuộc nhóm tham gia
D=0: Hộ khảo sát thuộc nhóm đối chứng
Trang 2820
T=1: Hộ khảo sát trong năm 2008
T=0: Hộ khảo sát trong năm 2006
D*T: Biến tương tác của hai biến giả D và T
Zit: là các biến kiểm soát, bao gồm các nhóm biến phản ánh đặc trưng của chủ hộ, đặc trưng của hộ gia đình và đặc trưng của cộng đồng và vùng địa lý đối với hộ i tại thời điểm t
Tiến hành hồi quy OLS, ta có ước lượng mức sống của các hộ gia đình như sau:
Với D=0 và T=0, mức sống của hộ thuộc nhóm đối chứng vào năm 2006 là:
E(Y00) = β +β Z0 4 itVới D=1 và T=0, mức sống của hộ thuộc nhóm tham gia vào năm 2006 là:
E(Y10)=β +β +β Z0 1 4 it
Sự khác biệt mức sống giữa hai nhóm hộ vào năm 2006 là: E(Y10) – E(Y00) =β 1
Với D=0, T=1, mức sống của hộ thuộc nhóm đối chứng, năm 2008 là:
E(Y01) = β +β +β Z0 2 4 itVới D=1, T=1, mức sống của hộ thuộc nhóm tham gia vào năm 2008 là:
E(Y11)= β +β +β +β +β Z0 1 2 3 4 it
Sự khác biệt mức sống giữa hai nhóm hộ vào năm 2008 là: E(Y11)–E(Y01)=β +β1 3
Do đó, tác động của tín dụng từ Agribank lên mức sống của các hộ là:
DID = [E(Y11)–E(Y01 )] – [E(Y10) – E(Y00)] = β 3Như vậy, việc kết hợp phương pháp hồi quy OLS và DID sẽ cho chúng ta biết tín dụng từ Agribank có tác động tích cực tới mức sống của các hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam hay không và nếu có thì mức độ tác động là như thế nào Qua đó, chúng ta sẽ có những can thiệp nhất định nhằm nâng cao mức sống cho người dân vùng nông thôn
Trang 29Do đó, bên cạnh thu nhập, một thước đo khác được sử dụng là chi tiêu bình quân quân đầu người Chi tiêu ít bị khai thấp hơn thu nhập và tương đối ổn định qua các năm, do đó phản ánh mức sống tốt hơn
Căn cứ vào cơ sở lý thuyết và dựa trên kết quả nghiên cứu của Kondo và đ.t.g (2007) tại Philippin, nghiên cứu của Khandker (2005) ở Bangladesh, đề tài sử dụng ba biến phụ thuộc là: thu nhập bình quân đầu người (INCOME), chi tiêu đời sống bình quân đầu người (EXPEND) và chi lương thực bình quân đầu người (FOOD) để đại diện cho mức sống hộ gia đình Các chỉ tiêu này đều là những chỉ tiêu thực, đã được tiến hành khử lạm phát để có
sự đánh giá chính xác trong việc xem xét mức sống của người dân vùng nông thôn
3.3.2 Các biến độc lập
Dựa trên khung phân tích đã trình bày ở trên, tác giả dự kiến sẽ đưa vào mô hình hồi quy các biến độc lập sau:
Bảng 3.1: Các biến độc lập dự kiến đưa vào mô hình hồi quy
tính
Dấu kỳ vọng
CREDIT
Biến dummy về nhóm hộ, =1 nếu hộ thuộc nhóm tham gia (có vay vốn Agribank), =0 nếu hộ thuộc nhóm đối chứng (không vay vốn)
+
T
Biến dummy về thời điểm khảo sát, =1 nếu khảo sát
T*CREDIT
Biến tương tác giữa nhóm hộ và thời điểm khảo sát, hệ
số ước lượng của biến này thể hiện tác động của tín dụng từ Agribank tới mức sống các hộ ở nông thôn
+
Trang 3022
SEX Giới tính của chủ hộ, =1 nếu là nam, =0 nếu là nữ +/-
NORTH
Biến dummy về vùng miền, =1 nếu hộ thuộc miền Bắc,
SOUTH
Biến dummy về vùng miền, =1 nếu hộ thuộc miền Nam,
=1 nếu là tốt nghiệp tiểu học, =0 nếu là trình độ khác +
=1 nếu là tốt nghiệp THCS, =0 nếu là trình độ khác +
HIGHSCHOOL
Biến dummy về trình độ giáo dục cao nhất của chủ hộ,
=1 nếu là tốt nghiệp THPT, =0 nếu là trình độ khác +
COLLEGE
Biến dummy về trình độ giáo dục cao nhất của chủ hộ,
=1 nếu tốt nghiệp từ cao đẳng trở lên, =0 nếu là trình độ khác
+
họp thường xuyên, =0 nếu chợ không họp thường xuyên +
CAREER
Biến dummy về nghề thủ công, =1 nếu hộ sống ở vùng
có nghề thủ công, =0 nếu hộ sống ở vùng không có nghề thủ công
+
Trang 31Để tiến hành đánh giá tác động của tín dụng từ Agribank tới mức sống hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam, đề tài sử dụng 249 hộ gia đình ở trên làm nhóm tham gia Dựa trên kết quả thống kê mô tả các đặc trưng của nhóm tham gia (chi tiết Phụ lục 1), trong số 1194 hộ không vay vốn trong cả hai năm, đề tài chọn ra được 245 hộ làm nhóm đối chứng, có các đặc điểm tương tự với nhóm tham gia về thu nhập, chi tiêu, tuổi tác, giới tính, đất đai sở hữu, dân tộc, vùng miền sinh sống Điều này sẽ bảo đảm thỏa mãn giả định quan trọng của phương pháp DID là mức sống của hai nhóm có xu hướng vận động giống nhau nếu không có sự tham gia vay vốn, từ đó ta sẽ đánh giá chính xác được tác động của tín dụng
từ Agribank tới mức sống của hộ
Thống kê mô tả cho thấy có sự khác biệt về các chỉ tiêu, đặc biệt thu nhập, chi tiêu đời sống và chi lương thực bình quân đầu người giữa các nhóm hộ trong năm 2006 Tuy nhiên,
để có thể kết luận thật sự có khác biệt giữa hai nhóm hay không, cần phải thực hiện kiểm định với giả thuyết:
H0: không có sự khác biệt giữa 2 nhóm (Giá trị trungbìnhtg=Giá trị trung bìnhdc)
H1: có sự khác biệt giữa 2 nhóm (Giá trị trungbìnhtg≠Giá trị trungbìnhdc)
Kết quả cho thấy, ở mức ý nghĩa thống kê 5%, không thể bác bỏ giả thuyết cho rằng không
có sự khác biệt giữa nhóm tham gia và nhóm đối chứng Hay nói cách khác, ở thời điểm năm 2006, hai nhóm này có các đặc điểm khá tương đồng nhau, thể hiện chi tiết ở bảng dưới đây:
Trang 3224
Bảng 3.2: Thống kê mô tả các biến sử dụng và kiểm định sự khác biệt giữa nhóm
tham gia và nhóm đối chứng năm 2006
Chỉ tiêu
T-test* Giá trị
trung bình
Độ lệch chuẩn
Số quan sát
Giá trị trung bình
Độ lệch chuẩn
Số quan sát
Trang 3325
3.5 Chiến lược xây dựng mô hình
Để xác định được mô hình ước lượng phù hợp, đề tài tiến hành xây dựng theo chiến lược như sau:
Thứ nhất, hồi quy mô hình cơ bản (sử dụng các biến giải thích: CREDIT, T và T*CREDIT) để xác định xem khi không có tác động của các yếu tố khác, tín dụng từ Agribank có tác động tới mức sống hộ gia đình ở nông thôn theo thời gian hay không
Thứ hai, tiến hành xây dựng mô hình mở rộng (có sự tác động của các yếu tố khác ngoài tín dụng) theo phương pháp “top-down approach”, từ tổng quát đến đơn giản Cụ thể: Bước 1: Dựa trên khung lý thuyết và các nghiên cứu trước, bằng hồi quy tuyến tính với tất
cả các biến liên quan đã liệt kê ở trên, đưa ra mô hình tổng quát ban đầu
Bước 2: Đánh giá sự phù hợp của mô hình căn cứ vào tiêu chuẩn P-value, R2
và R2 điều chỉnh; loại bỏ các biến không có ý nghĩa thống kê ra khỏi mô hình; đồng thời sử dụng kiểm định Test trong Stata để lựa chọn mô hình “tốt nhất”
Bước 3: Kiểm tra và khắc phục sự vi phạm những giả định cần thiết trong hồi quy tuyến tính như đa cộng tuyến, phương sai sai số thay đổi