Trong năm 2006, cả kim ngạch nhập khẩu và kim ngạch xuất khẩu CNTT Việt nam đều giữ được ngưỡng trên 1 tỷ USD, nhưng tốc độ tăng trưởng giảm sút đáng kể so với năm trước, vừa do ảnh hưởn
Trang 1
Toàn cảnh CNTT Việt nam
Vietnam ICT Outlook
2007
Phiên bản 1.1 (7/2007)
Trang 2Báo cáo Toàn cảnh CNTT Việt nam 2007 của Hội Tin học TP HCM gồm các phần:
• Mở đầu
• Vị thế của CNTT Việt nam trên bản đồ CNTT thế giới
• Bức tranh CNTT Việt nam 2006-2007
Đây là năm thứ 7 Hội Tin học Tp HCM thực hiện báo cáo thường niên này dựa trên các nguồn tài liệu:
• Hội Tin học Tp HCM - Báo cáo toàn cảnh CNTT Việt nam 2001 - 2006
• Hội Tin học Tp HCM - Số liệu điều tra thường niên 2001-2007
• PCWorld Việt nam - Số liệu điều tra thường niên các năm 2001-2007
• Tổng Cục Hải quan, 2001- 2007
• VNNIC, 2001-2007
• Những điều cần biết về tuyển sinh Đại học Cao đẳng 2000-2007, NXB Giáo dục
• IDC - Các báo cáo thường niên 2002-2007
• BSA - Các báo cáo thường niên 1994-2007
• ITU - Các số liệu thống kê 2001-2007, các báo cáo thường niên 2005-2007
• World Ecomomic Forum - các báo cáo thường niên 2002-2007
• World Bank - Các báo cáo thường niên 2002-2007
• Economist Intelligence Unit - các báo cáo thường niên 2002-2007
• NASDAQ - Các báo cáo thường niên 2002-2007
• Gartner Dataquest & Forrester Research – IT Spending Report 2006
• Thông tin từ các hội nghị và triển lãm CNTT trong nước và quốc tế
• Thông tin từ các công ty thành viên của hội
• Và các nguồn tài liệu khác…
Trong bối cảnh công tác thống kê số liệu liên quan đến CNTT còn nhiều bất cập hiện nay, cùng những hạn chế nhất định về nguồn số liệu – chúng tôi cố gắng phản ánh đầy đủ nhất bức tranh CNTT Việt nam trong năm qua Các nhận định đưa ra có thể mang tính chủ quan của nhóm tác giả Rất mong được
sự góp ý và trao đổi của cộng đồng CNTT những ai có quan tâm
Tháng 7/2007 Chủ tịch Hội Tin học Tp HCM
Lê Trường Tùng 1
1 E-Mail: tunglt@fpt.com.vn
Trang 41 Mở đầu
Năm 2006, thị trường CNTT toàn cầu vẫn tăng trưởng ổn định với tốc độ 8% - ngang với tốc độ tăng trưởng của năm trước đó (theo số liệu của Forrester Research – con số đưa ra của IDC thấp hơn – khỏang 6.3%) Điều này cũng khẳng định dự báo về tốc độ tăng trưởng CNTT cao trong 4 năm 2005-
2008 của chu kỳ tăng trưởng 8 năm vẫn tiếp tục được hiện thực hóa Số liệu dự báo của nhiều tập đòan
tư vấn đều cho rằng sau năm 2008 CNTT sẽ sang một chu kỳ phát triển mới và tốc độ tăng trưởng sẽ giảm
Trong năm 2006, cả kim ngạch nhập khẩu và kim ngạch xuất khẩu CNTT Việt nam đều giữ được ngưỡng trên 1 tỷ USD, nhưng tốc độ tăng trưởng giảm sút đáng kể so với năm trước, vừa do ảnh hưởng của thị trường trong nước – đặc biệt là phần cứng – tăng không cao, một phần là có thay đổi trong kim ngạch xuất khẩu CNTT của các công ty lớn Xuất nhập khẩu phần mềm/dịch vụ đều đạt được tốc độ phát triển cao, nhưng chỉ chiếm một phần nhỏ trong xuất/nhập khẩu CNTT
Năm 2006 cũng là năm đầu tiên thị trường CNTT (không tính dịch vụ viễn thông) vượt ngưỡng 1 tỷ USD Dù thị trường phần mềm chính phủ giảm sút, thị trường phần mềm/dịch vụ vẫn tăng cao nhờ vào đóng góp của các dịch vụ nội dung số
Trong năm qua không có tăng trưởng đột biến trong ngành công nghiệp phần cứng nội địa Ngành công nghiệp phần mềm/dịch vụ đạt doanh số 360 triệu USD, và nếu vẫn giữ được nhịp điệu phát triển trong thời gian qua thì mục tiêu 500 triệu USD cho ngành công nghiệp phần mềm Việt nam sẽ đạt được trong năm 2007
Trong 12 tháng qua, Việt nam thêm được 4 triệu người dùng Internet, tốc độ tăng trưởng số người dùng chỉ đạt con số 25%, bằng 1/3 so với tốc độ tăng trưởng 12 tháng trước đó Với trên 16 triệu người sử dụng, Việt nam đúng thứ 17 thế giới về số người dùng, nhưng nếu tính theo tỷ lệ dân số dùng Internet thì vẫn ớ thứ hạng gần 100 chưa đáng để phấn khởi Cũng trong 12 tháng qua, dung lượng truy cập quốc tế tăng 50%, số kết nối Internet băng rộng cũng tăng hơn 2 lần: từ 310 ngàn lên 753 ngàn Đây là các chỉ tiêu tăng trưởng ấn tượng
Trong lĩnh vực đào tạo nhân lực CNTT, nhiều tiền đề đã được thiết lập, trong đó Luât Giáo dục mới, thực thi Quy chế đại học tư thục và các thay đổi cần phải nhanh chóng thực hiện khi Việt nam chính thức trở thành thành viên của WTO… Khoảng cách giữa nhu cầu của ngành CNTT và khả năng đáp ứng của hệ thống đào tạo vẫn đang là vấn đề lớn
Trong các năm 2006-2007, Luật CNTT được và các nghị định hướng dẫn thực hiện Luật CNTT đã được ban hành Các chương trình phát triển Công nghiệp phần mềm, Công nghiệp nội dung được phê duyệt , và đặc biệt là lần đầu tiên tất cả các khu vực trọng điểm đều có quy họach về CNTT riêng cho khu vực mình Việt nam gia nhập WTO, thực thi các điều khoản của Hiệp định CNTT (ITA- miễn thuế nhập khẩu các sản phẩm CNTT-TT) – những việc này cũng đang được tiến hành khẩn trương để tham gia tòan diện vào sân chơi CNTT tòan cầu - một sân chơi bắt buộc, hứa hẹn mang lại nhiều lợi ích nhưng cũng không ít thách thức
Trong năm qua, vị trí của Việt nam trên bản đồ CNTT thế giới sáng sủa hơn, nhiều thứ hạng được cải thiện Tuy nhiên khi sự phát triển của CNTT gắn chặt với sự phát triển kinh tế của từng quốc gia và nhiều yếu tố liên quan đến chất lượng tăng trưởng được bổ sung thêm vào để đánh giá thì Việt nam đang đứng trước không ít thách thức trong cố gắng cải thiện đáng kể vị thế CNTT của quốc gia trên bản đồ tòan cầu
Trang 52 Việt nam trên bản đồ CNTT thế giới
- bức tranh sáng sủa hơn
Trong 5 năm trở lại đây, ngày càng có nhiều tổ chức quốc tế xếp hạng các quốc gia hàng năm
về các tiêu chí liên quan đến CNTT - Viễn thông Các bảng xếp hạng quan trọng thuộc về ITU (International Telecommunication Union), Ngân hàng Thế giới, Diễn dàn Kinh tế Thế giới (World Economic Forum - WEF), các tổ chức của Liên hiệp quốc (United Nation) như UNDP, UNCTAD, UNPAN và các tổ chức tư vấn như IDC, BSA… Sau một năm, sự thay đổi nhanh chóng của CNTT-TT khiến trong phương thức xếp hạng có nhiều thay đổi, nhiều chỉ tiêu xếp hạng mới được bổ sung, còn trong các chỉ tiêu cũ thì các tiêu chí đánh giá cũng có những thay đổi nhất định Nói chung các thứ hạng của Việt nam không có các thay đổi lớn, nhưng bức tranh chung trở nên sáng sủa hơn
Trang 6
2.1 Chỉ số Nền kinh tế Tri thức (Knowledge Economy Index – KEI và Knowledge Index - KI): Innovation + Education + ICT, tăng 14 bậc
Bản đồ Kinh tế Tri thức (Nguồn: World Bank, 2007)
Trong xu thế “phẳng hóa” và dịch chuyển sang nền kinh tế tri thức, cùng với việc Việt nam chính thức trở thành thành viên của WTO, việc đánh giá và xếp lọai các quốc gia theo tiêu chuẩn hàm lượng tri thức quốc gia và độ chín của nền kinh tế tri thức được chú trọng Viện Ngân hàng Thế giới (Word Bank Institute – WBI) đưa ra 2 chỉ số lọai này: chỉ số tri thức (KI – Knowledge Index) và chi số Kinh tế Tri thức (Knowledge Economy Index – KEI) Chỉ số KI
dựa trên 3 yếu tố: Mức độ đổi mới (innovation), Hệ thống giáo dục và CNTT – xem đây là 3
yếu tố quan trọng đặc trưng cho Tri thức, còn chỉ số KEI thì bổ sung thêm một yếu tố nữa là
các ưu đãi thu hút đầu tư, nhằm “đánh giá các yếu tố liên quan đến về môi trường sử dụng tri
thức để phát triển kinh tế” Trong số 132 quốc gia được xếp hạng công bố tháng 4/2007, Việt
nam được xếp thứ 99/132 về KEI, thứ 95/132 về KI – đều tăng 14 hạng so với năm trước đó
Điểm KI của Việt nam là 2.82, còn điểm KEI là 2.69, xếp trong đội hình các quốc gia nhóm 2
từ dưới lên (điểm tối đa là 10, nhóm 1 có điểm từ 0 đến 2)
Xếp hạng theo KEI
Trang 7Xếp hạng theo KI
2.2 Chỉ số Cơ hội CNTT – ICT Opportunity Index (ICT-OI): tăng 5 bậc
Đây là chỉ tiêu do ITU (International Telecommunication Union) kết hợp 2 chỉ số trước đây là Digital Access Index (ITU) và Digital Divice Index (của Orbicom - mạng thông tin của UNESCO) Chỉ tiêu này được ITU thực hiện và công bố vào tháng 2/2007, được xem là chỉ số
đo mức độ phát triển xã hội thông tin của từng quốc gia thay thế cho chỉ số xã hội thông tin
(Information Society Index) do IDC và Word Times thực hiện trước đây Chỉ tiêu ICT
Opportunity Index – ICT-OI được tính cho 183 quốc gia và chia làm 4 nhóm: High (ICT-OI từ
249 điểm trở lên) gồm 29 nước – trong đó có 6 nước châu Á là Nhật bản, Hàn quốc, Singapore
và Hồng kông, Đài loan, Macao (thuộc Trung quốc), Upper (150 đến 248 điểm) gồm 28 nước,
Medium (68 đến 148 điểm) gồm 63 nước và Low (dưới 68 điểm) gồm 63 nước Việt nam được
76.66 điểm, xếp thứ 111/183, gần cuối nhóm Medium, tăng 5 bậc và 11 điểm so với xếp hạng
tương tự năm trước đó
Trang 8Chỉ số này tính tóan dựa trên các yếu tố chính liên quan đến Mật độ thông tin (gồm hạ tầng mạng và giáo dục đào tạo) và Sử dụng thông tin (các số liệu liên quan đến mật độ máy tính, số người dùng Internet, số gia đình có TV, số người kết nối mạng băng thông rộng và dung lượng
thông tin thực tế chuyển qua mạng) Chỉ số này được công bố trong báo cáo Measuring the
Information Society 2007, sau đó công bố lại trong World Information Report 2007
2.3 Chỉ số cơ hội số – Digital Opportunity Index (DOI): tụt 3 bậc và chưa đạt điểm trung bình
Chỉ số này do ITU công bố tháng 5/2007, khác chỉ số ICT-OI là không tính đến giáo dục, mà chỉ dựa trên các chỉ tiêu phát triển CNTT và viễn thông Chỉ tiêu này năm 2007 được xếp cho
181 nước, Việt nam xếp hạng thứ 126/181 với điểm số là 0.29 - chưa đạt được điểm số trung
bình thế giới là 0.40 So với lần xếp hạng trước đó (thứ hạng 123), Việt nam tụt 3 bậc dù tăng
được 0.1 điểm (0.28 lên 0.29) ITU cũng công bố bản đồ thế giới và từng khu vực trong đó màu sắc từng quốc gia phản ánh độ lớn/nhỏ của chỉ số này Đậm màu nhất (cao nhất) là khu vực Bắc Mỹ, Tây, Âu, Nhật bản và Australia
Bản đồ DOI-2006, càng đậm màu thứ hạng càng cao
Trang 9Bản đồ DOI khu vực châu Á – Thái bình dương
Trang 102.4 Chỉ số sẵn sàng kết nối (Networked Readiness Index – NRI 2006-2007): tụt hạng thêm 7 bậc
Theo định nghĩa của World Economic Forum (WEF), NRI là ''mức độ chuẩn bị của một nước hay cộng đồng để tham gia và hưởng lợi từ các phát triển của CNTT” Chỉ số này do WEF
công bố trong Global Information Technology Report hàng năm và được tính từ ba yếu tố: môi
trường điều phối và kinh tế vĩ mô cho CNTT, sự sẵn sàng của cá nhân, doanh nghiệp và chính phủ cho việc sử dụng và thụ hưởng CNTT, và mức độ sử dụng CNTT Năm 2002 trong xếp hạng chỉ có 75 nước, năm 2003 có 82 nước, năm 2004 có 102 nước, năm 2005 có 104 nước, năm 2006 có 115 nước và năm 2007 lên đến 122 nước
Tiêu chí tính NRI
Năm 2007, WEF bổ sung thêm một số tiêu chí con để đánh giá được chính xác hơn
Các tiêu chí con được bổ sung
Môi trường - Thị trường - Xuất khẩu công nghệ cao
- Mức độ tự do báo chí Môi trường – Chính trị/Pháp luật - Số thủ tục hành chính cần thiết để một hợp đồng
có hiệu lực
- Thời gian cần thiết đề một hợp đồng có hiệu lực Môi trường – hạ tầng - Chất lượng các viện nghiên cứu
- Tỷ lệ nhập học đại học Sẵn sàng – cá nhân - Giá cước đăng ký băng thông rộng
- Giá cước truy cập băng thông rộng
- Giá sử dụng điện thọai di động
Trang 11Sẵn sàng – doanh nghiệp Giá trị Nhập khẩu máy tính, thiết bị viễn thông và các dịch
vụ khác
Ứng dụng – cá nhân Số người sử dụng Internet băng rộng
Ứng dụng – chính phủ Hiệu quả sử dụng CNTT trong chính phủ
Trong xếp hạng 2007 được công bố trong Global Information Technology Report 2006-2007
tháng 3/2007, Mỹ từ vị trí dẫn dầu xuống thứ 7 dành chỗ cho Đan mạch Một số nước trong
khu vực châu Á - Thái bình dương vẫn có vị tốt, trong đó Hồng kông, Đài loan, Nhật bản,
Australia và Hàn quốc giữ vị trí thứ 12, 13, 14, 15 và 19 Ấn độ và Trung quốc bị tụt hạng (Ấn
độ: tụt 4 hạng, Trung quốc: tụt 9 hạng)
Countries Score 2006 Rank 2006-2007 Rank 2005-2006 Evolution
Xếp hạng NRI của Việt nam năm 2006-2007 là 82/122, tụt thêm 7 bậc so với năm 2006
(75/115) Một trong các nguyên nhân tụt hạng của Việt nam là bị đánh giá không cao trong đa
số các tiêu chí bổ sung thêm Trong bảng xếp hạng, có một nước mới được bổ sung (Barbados)
và xếp hạng 40, một số nước năm trước xếp sau Việt nam nhưng năm nay xếp thứ hạng tốt hơn
(Macedonia, Algeria, Guatemala, Peru, Marocco, Ucraine, Serbia, Dominican) – cũng có 2
nước (Pakistan, Namibia) năm ngóai hơn Việt nam nhưng năm nay xếp sau Việt nam
Trong báo cáo của WEF cũng xếp nhóm các nước dựa trên GDP đầu người, gồm 5 nhóm: dưới
2000 USD, 2000-3000 USD, 3000-9000 USD, 9000-17000 USD và trên 17000 USD Các
nước nhóm thấp (dưới 2000 USD) nói chung thứ hạng NRI không cao Qua đó có thể thấy có
sự liên quan mật thiết giữa mức đô phát trểin kinh tế và NRI, với mức độ phát trểin kinh tế
thấp, khó có thể có thứ hạng NRI cao được Việt nam là một trong 44 nước thuộc nhóm này
thấp (GDP/đầu người< 2000 USD), trong nhóm này chỉ có một quốc gia có xếp hạng NRI trên
50 là Ấn độ (44)
Trang 12Các chỉ tiêu 2007 của Việt nam và so với 2006
2006-2007
Điểm/xếp hạng 2005-2006
-0.60/81 -0.52/75 -0.52/73 -0.75/92
1
4
6
6 Mức độ sẵn sàng
- Cá nhân
- Doanh nghiệp
- Chính phủ
3.96/76 4.54/76 3.79/76 3.55/65
-0.43/76 -0.42/85 -0.62/82 -0.27/68
0
9
6
3 Mức độ sử dụng
- Cá nhân
- Doanh nghiệp
- Chính phủ
3.15/84 1.28/92 4.33/80 3.85/72
-0.39/68 -0.83/91 -0.39/74 -0.06/47
2005-2006 -0.47 75/115 2006-2007 3.40 82/122
Nguồn: WEF, 2002-2007
2.5 Chỉ số sẵn sàng cho nền kinh tế điện tử (E-Readiness – EIU Index 2007): tăng 1 bậc
Đây là xếp hạng hàng năm của Economist Intelligence Unit (thuộc tạp chí The Economist – Anh) phối hợp với IBM Institute for Business Value Năm nay, các tiêu chí đánh giá được thay đổi cho phù hợp với xu thế phát triển công nghệ cùng với việc bổ sung thêm các yêu tố “phi công nghệ” – được đánh giá là đóng vai trò ngày càng quan trọng trong việc triển khai các ứng dụng CNTT-TT Tiêu chí về cơ sở hạ tầng được bổ sung thêm yếu tố phương thức kết nối, trong đó nhấn mạnh vai trò của kết nối băng rộng, đồng thời đánh giá sự cam kết của chính phủ trong việc triển khai thẻ nhận dạng số (digital indentity card) Với tiêu chí về sự chấp nhận dịch vụ điện tử của doanh nghiệp và cá nhân thì ngòai thương mại điện tử thông thường được
bổ sung thêm các dịch vụ của chính phủ Năm 2007 bổ sung thêm tiêu chí về chính sách và tầm nhìn của chính phủ - xem đây là một trong các yếu tố quan trọng trong việc phát triển CNTT Các tiêu chí khác liên quan đến môi trường kinh doanh, các điều kiện văn hóa - xã hội, môi trường pháp lý không có thay đổi lớn
Trang 13Năm 2007, chỉ số của các nước đều tăng và khoảng cách số (digital divide) giữa các quốc gia
đã thu hẹp lại hơn (khỏang cách giữa quốc gia tốt nhất và kém nhất từ 6.08 điểm giảm xuống 5.80 điểm) Yêu cầu về kết nối mạng không chỉ giới hạn ở việc kết nối được hay không mà cần phải quan tâm đến chất lượng kết nối: tốc độ, độ an tòan, tính tiện lợi Kết nối băng thông rộng
đã trở nên phổ biến
Trong báo cáo The 2007 e-readiness Ranking công bố tháng 4/2007, Việt nam xếp hạng thứ 65
trong tổng số 69 nước – tăng 1 bậc so với năm trước (3.73 điểm – tăng so với điểm 3.12 của
năm 2006) Vị trí của Việt nam trong danh sách năm 2003 và 2002 là 56/60, 2004 là 60/65,
2005 là 61/65 và 2006 là 66/68
Về tiêu chí về chính sách và tầm nhìn của chính phủ, Việt nam được xếp hạng 58/69
10 nước đứng đầu và cuối danh sách 2007
Việt nam trong xếp hạng của EIU qua các năm