1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Toàn cảnh CNTT Việt nam 2003

28 452 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 490,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bản quyền thuộc Hội Tin học Tp HCM Các đơn vị và cá nhân khi trích dẫn báo cáo này phải chỉ rõ nguồn gốcPhiên bản 1.1a bổ sung thêm một số thông tin về: - Xếp hạng về Chính phủ điện tử -

Trang 1

Toàn cảnh CNTT

Việt nam 2003

IT Report Vietnam 2003

Version 1.1a (August 2003)

Hội Tin Học TP HCM, 79 Trương Định Q1

Điện thoại: 8222876, Fax: 8250053 Email: hca@hcm.vnn.vn

URL: www.hca.org.vn

Trang 2

Bản quyền thuộc Hội Tin học Tp HCM Các đơn vị và cá nhân khi trích dẫn báo cáo này phải chỉ rõ nguồn gốc

Phiên bản 1.1a bổ sung thêm một số thông tin về:

- Xếp hạng về Chính phủ điện tử

- So sánh dữ liệu viễn thông việt nam so với các châu lục

- Cập nhập dữ liệu về Internet Việt nam

- Bổ sung Canon vào danh sách đơn vị sản xuất phần cứng

- Một số chỉnh sửa nhỏ

Trang 3

Báo cáo Toàn cảnh CNTT Việt nam 2003 gồm 6 phần:

• CNTT thế giới 2003 và vị thế của CNTT Việt nam

• Chính sách CNTT

• Thị trường CNTT

• Công nghiệp CNTT

• Viễn thông - Internet Việt nam

• Đào tạo nhân lực CNTT

Ngoài ra còn có các phụ lục về giải thưởng CNTT 2003 và danh sách các đơn vị CNTT có chứng nhận chấtlượng ISO – CMM Đây là năm thứ 3 Hội Tin học Tp HCM thực hiện báo cáo thường niên này, dựa trên cácnguồn tài liệu tham khảo:

• Hội Tin học tp HCM - Báo cáo toàn cảnh CNTT VN 2001

• Hội Tin học tp HCM - Báo cáo toàn cảnh CNTT VN 2002

• Hội Tin học tp HCM - Số liệu điều tra thường niên 2000-2003

• PCWorld Việt nam - Số liệu điều tra thường niên các năm 2000-2003

• Tổng Cục Hải quan, 2000- 2003

• VNNIC, 2000-2003

• Sở Kế hoạch đầu tư HN, 2000-2003

• Sở Kế hoạch đầu tư Tp HCM, 2000-2003

• Văn phòng Ban Chỉ đạo Quốc gia về CNTT

• Vietnam Productivity Centre

• Những điều cần biết về tuyển sinh Đại học Cao đẳng 2000-2001, 2001-2002, 2002-2003, NXB Giáo dục

• IDC - Các báo cáo thường niên 2002-2003

• BSA - Các báo cáo thường niên 1994-2003

• ITU - Các số liệu thống kê 2000-2003

• World Ecomomic Forum - các báo cáo thường niên 2002-2003

• World Bank - các báo cáo thường niên 2002-2003

• Economist Intelligence Unit - các báo cáo thường niên 2002-2003

• NASDAQ - các báo cáo thường niên 2002-2003

• WEB Merger - các báo cáo thường niên 2002-2003

• Bộ Thương mại Mỹ

• Dataquest

• Gartner

• World Time

• Thông tin từ các hội nghị và triển lãm CNTT trong nước và quốc tế

• Thông tin từ một số công ty thành viên của hội

Hội Tin học tp HCM đặc biệt cảm ơn Văn phòng Ban Chỉ đạo Quốc gia về CNTT và Tạp chí PCWorld Việt nam

đã hỗ trợ một phần thông tin để xây dựng báo cáo này

Tháng 7/2003 Chủ tịch Hội Tin học Tp HCM Tiến sỹ Lê Trường Tùng 1

Trang 4

Phần 1 CNTT thế giới 2002 – 2003

và vị trí Việt nam trên bản đồ CNTT thế giới

1 Qua cơn bỉ cực tới hồi thái lai

IDC cho biết 2002 là năm u ám nhất của ngành CNTT thế giới Theo số liệu của Dataquest, chi tiêu

toàn cầu cho CNTT năm 2002 là 2.300 tỷ USD – so với con số 2.230 tỷ USD năm 2001 - chỉ tăng

2,3% trái ngược hẳn với mức độ tăng trưởng bình quân 12% trong 20 năm qua Tổng thống Bush trong

phát biểu tại Comdex Fall 2002 cũng thừa nhận rằng “CNTT không thể phục hồi nhanh như nền kinh

tế chung”.

Trong năm 2002 và đầu năm 2003, trên các phuơng tiện thông tin đại chúng liên tục đưa tin về việc sathải nhân viên của các công ty CNTT Viễn thông, trong đó có tên các công ty CNTT Viễn thông hàngđầu thế giới như Microsoft, IBM, Alcatel, HP, Erisson, AOL, Sun Microsystems, AMD, Sprint PCS,Micron, Sega, Phillips, Gateway, Applied Materials, AT&T Wireless, Computer Associates…

Tuy nhiên IDC cũng nhận định 2002 là năm kết thúc thời kỳ đen tối của ngành công nghệ cao này.Nhiều công ty và nhân vật tầm cỡ trong ngành CNTT cũng cho đánh giá tương tự GartnerSymposium/ITExpo 2002 - SBN Team tháng 10/2002 dự đoán chi tiêu toàn cầu cho CNTT năm 2003

sẽ tăng 7% so với 2002, và sự phục hồi chính thức của ngành này sẽ bắt đầu vào giữa năm 2003 (“A

recovery in the sector is take place until mid-2003”) Chủ tịch Craig Barrett của công ty Intel trong

European Technology Roundtable Exhibition (ETRE) (10/2002) còn cho đánh giá lạc quan hơn: sự

phục hồi sẽ bằt đầu ngay từ đầu năm 2003 (“I expect the crisis to end in the early part of '03”) Công

ty tư vấn Aberdeen cũng dùng dòng chữ “2002-2005: Timing to the Recovery”.

Điều này được minh chứng khá rõ qua nhiều chỉ tiêu đo được trong 12 tháng qua, chẳng hạn sựtăng/giảm giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán công nghệ cao NASDAQ cho 2 ngành Máy tính

và Viễn thông Giá trị của cổ phiếu cao đỉnh điểm vào quý 1/2000, sau đó bắt đầu thời kỳ suy thoáikéo dài gần 3 năm, tháng 10/2002 xuống đến “đáy vực” và từ đầu năm 2003 tăng dần lên

a Cổ phiếu ngành máy tính (Computer)

Computer 5 năm (1998-2003) Computer 1 năm (7/2002-7/2003)

Đáy vực – 10/2002

Trang 5

b Cổ phiếu ngành viễn thông

Telecommunications 1 năm (7/2002-7/2003) Telecommunications 5 năm (1998-2003)

Số liệu các công ty Dot.COM giải thể hoặc sát nhập với công ty khác cũng thể hiện rõ điều này Bắtđầu từ Q1/2002, số lượng các công ty DOT-COM giải thể hoặc sát nhập tăng dần, đạt đỉnh điểm 167công ty/quý vào quý 2/2001 và giảm dần, đến quý 1/2003 chỉ còn 8 công ty/quý

Internet Company Merged&Acquired and Shutdowns

Từ Q1/2000 đến nay Quarter Shutdowns

Shutdowns

Đáy vực – 10/2002

Trang 6

Cuộc khủng hoảng bắt đầu từ Q1 năm 2000, và được xem như chấm dứt vào cuối năm 2002 và bắt đầumột thời kỳ phát triển mới.

Công ty WEB Mergers đầu năm 2003 nhận định: “Chúng tôi tin tuởng rằng 36 tháng đau thương này

là thời gian chuẩn bị cho một làn sóng phát triển mới với tốc độ phát triển nhanh hơn”.

Một điều rất vui mừng là điều này cũng được phản ánh khá rõ nét tại thị trường CNTT Việt nam (xemphần Thị trường CNTT VN)

Chủ tịch IDG Patrick McGovern trong chuyến thăm VN tháng 10/2002 đã đưa ra lý thuyết về chu kỳ

13 năm của ngành CNTT: năm 2000 là lần khủng hoảng thứ 2 trong lịch sử ngành CNTT (lần thứ nhấtvào năm 1987 khi công nghiệp PC phát triển quá nhanh vượt quá sức mua của thị trường) Sau mỗi đợtkhủng hoảng, các công ty bé sẽ giải thể hoặc sát nhập, các công ty lớn sẽ tái tổ chức và xác định chuẩnmục mới, luật chơi mới Dự báo lần khủng hoảng tiếp theo sẽ diễn ra vào năm 2013-2014

SARS - Họa vô đơn chí…

Tuy nhiên không ai có thể lường trước được việc đại dịch SARS xảy ra trong quý 2/2003 Theo IDC,chỉ tính riêng khu vực châu Á, điều này có thể làm giảm chi tiêu cho CNTT trong năm 2003 tới 1 tỷUSD (từ 77.1 tỷ USD còn 76.1 tỷ), và tốc độ tăng trưởng năm 2003 chỉ còn 6.1% so với 7.6% dự kiếnđầu năm Tuy nhiên ảnh hưởng của SARS đối với ngành CNTT này không quá lớn như một số ngànhkhác (hàng không, du lịch…)

IT Spending US$ Billion, 2003

-25.0 -15.0 -5.0 5.0 15.0 25.0

Hong Kong China Singapore Malaysia Taiwan Korea

Previous forecast SARS updated forecast Change in forecast

Impact of SARS on IT Spending in Asia/Pacific (Excluding Japan)

Impact of SARS on IT Spending in Asia/Pacific (Excluding Japan)

2 Phần mềm mã nguồn mở

Đây là một vấn đề thời sự trong 12 tháng qua, thể hiện bằng Hội thảo quốc gia về phần mềm mãnguồn mở lần 2 được tổ chức tại Hà nội tháng 12/2003 và việc triển khai Xây dựng Kế hoạch Khungphát triển phần mềm mã nguồn mở tại Việt nam, đưa việc phát triển Phần mềm mã nguồn mở thànhmột trong các dự án phát triển CNTT trọng điểm tại Việt nam

Trong vòng một năm qua, cuộc chiến căng thẳng giữa Windows và Linux đã khơi mào trên khắp thếgiới, do ngày càng có nhiều tập đoàn và văn phòng chính phủ tại đây chuyển sang dùng phần mềmnguồn mở Linux trên máy tính và hệ thống mạng của mình Cú sốc lớn nhất giáng xuống đầuMicrosoft chính là sự kiện hãng SuSE của Đức giành được một bản hợp đồng chuyển đổi 14.000 PC

Trang 7

để bàn từ hệ điều hành Windows sang Linux cho chính quyền thành phố Munich hồi tháng 5/2003.Tuy nhiên tháng 6/2003 Microsoft thắng 3 gói thầu của chính phủ châu Âu (Frankfurt - Đức, Riga –Latvia và Tukku - Phần lan) sau khi cạnh tranh trực tiếp với hàng loạt công ty Linux khác nhau.

"Các sản phẩm phi thương mại nói chung và Linux nói riêng là một thách thức đối với chúng ta và

toàn bộ ngành công nghiệp phần mềm, đặc biệt là trong thời gian trước mắt", Steve Ballmer - Giám

đốc điều hành của Microsoft - viết tháng 6/2003 trong một bức thư gửi nhân viên Linux ngày càngđược nhiều doanh nghiệp sử dụng, nhất là từ năm 2001 khi một đối thủ nặng ký của Microsoft là IBMquyết định đầu tư 1 tỷ USD để cung cấp hệ điều hành nguồn mở cho khách hàng Tuy nhiên, theoBallmer, điểm yếu của phần mềm giá rẻ này là thiếu một đơn vị trung tâm để đầu tư phát triển tronglĩnh vực kỹ thuật, bảo mật, tương thích và quản lý

Một sự kiện cũng đáng lưu ý là việc Microsoft đầu tháng 1/2003 công bố đồng ý cung cấp mã nguồnWindows cho 60 tổ chức và quốc gia, trong đó có Nga (1/2003), NATO (1/2003), Đài loan (2/2003),Trung quốc (3/2003)

3 Việt nam ở đâu trên bản đồ CNTT thế giới

Trong báo cáo toàn cảnh CNTT Việt nam năm nay, Hội Tin học tp HCM sẽ cung cấp thứ hạng củaCNTT Việt nam so với các nước khác trên thế giới Các thứ hạng này do một số tổ chức quốc tế xếpthường niên, qua đó chúng ta có thể xem thứ bậc của CNTT VN và sự tăng giảm hàng năm

Chỉ số Xã hội thông tin (Information Society Index – ISI)

Chỉ số đánh giá mức độ phát triển Xã hội thông tin do IDC và World Time xếp hạng, dựa trên 23 yếu

tố liên quan đến 4 nhóm: hạ tầng Máy tính, hạ tầng Internet, hạ tầng thông tin và hạ tầng xã hội Danhsách 10 nước có nền công nghệ tiên tiến nhất thế giới công bố tháng 6/2003 lần lượt là Thuỵ Điển,Đan Mạch, Hà Lan, Na Uy, Phần Lan, New Zealand, Thuỵ Sĩ, Mỹ, Áo và Canada IDC cũng công bố

10 nước xếp cuối bảng gồm: Bulgary, Ai Cập, Romania, Thái Lan, Philippines, Thổ Nhĩ Kỳ, TrungQuốc, Ấn Độ, Indonesia và Việt Nam

Đây là năm đầu tiên Việt nam được xếp hạng ISI cùng với 53 nước khác và đứng ở cuối danh sách.Trong danh sách các năm 2001, 2002 có 55 nước nhưng chưa có tên Việt nam

Tỷ lệ vi phạm bản quyền phần mềm

Cũng trong tháng 6/2003, BSA (Business Software Alliance) cũng đưa ra bảng xếp hạng các nướctheo mức độ vi phạm bản quyền phần mềm Có 86 nước được tham gia xếp hạng, 10 nước có tỷ lệ viphạm bản quyền cao nhất là:

3 90 88 CIS khác (Other Commonwealth of Independent States - Khối

các nước thuộc Liên xô cũ, không tính Nga, Ukraine )

Trang 8

Tỷ lệ vi phạm bản quyền của Việt nam năm 2002 là 95%, tăng 1% so vớI năm 2001 và tiếp tục đứng ở

vị trí số 1 thế giới

Chỉ số sẵn sàng kết nối (Networked Readiness Index – NRI 2002-2003)

Năm 2003, Diễn đàn Kinh tế Thế giới (World Economic Forum) xếp hạng 82 nước trong báo cáoGlobal IT Report hàng năm (năm 2002 chỉ có 75 nước) Chỉ số này được đánh giá thông qua các chỉtiêu về Sử dụng Mạng (Network Use: mật độ sử dụng Internet, điện thoại di động) và Các yếu tố thểhiện khả năng (Enabling Factors: Khả năng truy cập, Chính sách, Xã hội mạng và Kinh tế mạng) Việtnam không nằm trong danh sách 10 quốc gia đứng cuối:

Trong năm 2002-2003, Việt nam đã vượt qua được 10 nước đứng trước mình năm 2001-2002 và xếp

thứ 71/82 với điểm số 2.96 (năm 2001-2002, Việt nam xếp hạng thứ 74/75 với điểm số 2.42).

Chỉ số sẵn sàng cho nền kinh tế điện tử (E-Readiness - EIU&IBM Index 2003)

Đây là xếp hạng của Economist Intelligence Unit (thuộc tạp chí The Economist – Anh), dựa trên cáctiêu chí về mức độ nối mạng, môi trường kinh doanh, mức độ tham gia của người tiêu dùng và doanhnghiệp, môi trường pháp lý và chính sách, cơ sở hạ tầng xã hội và văn hoá, các dịch vụ điện tử hỗ trợ

Trong danh sách E-Readiness công bố tháng 6/2003, Việt nam xếp hạng thứ 56 trong 60 nước (2.91

điểm) Đây cũng là vị trí của Việt nam trong danh sách năm 2002 (công bố tháng 7/2002), tuy nhiênđiểm số năm 2002 Việt nam cao hơn (2.96 điểm) Thứ hạng của Việt nam năm 2001 (công bố tháng5/2001) là 58/60 (2.76 điểm)

Mười nước đứng cuối danh sách 2003

Trang 9

Xếp hạng của Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU ranking)

ITU (International Telecommunication Uninon) hàng năm đều đưa ra đánh giá/xếp hạng 196 nước.

Đây là bảng đánh giá có số lượng nước tham gia đông nhất, qua từng chỉ tiêu về số lượng và mật độđường điện thoại, số điện thoại di động, số PC, số người dùng Internet

Xếp hạng của Việt nam trong số 196 nước như sau:

Số người sử dụng Internet / 10.000 dân N/A 156 133 126

Trong danh sách xếp hạng, có thể thấy so với mức độ phát triển trung bình của thế giới, về thứ hạngViệt nam có tiến bộ trong việc tăng số đường điện thoại và số người sử dụng Internet, trong khi đó thứhạng về số PC hầu như đứng yên tại chỗ, còn thứ hạng về số điện thoại di dộng bị giảm sút - để chomột số quốc gia khác qua mặt Tuy nhiên Việt nam nằm trên 50-70 nước khác

Xếp hạng về Chính phủ điện tử (E-Government Index)

Đây là chỉ số do Ban Kinh tế và Hành chính công của Liên hiệp Quốc (UNDPEPA - United NationsDivision for Public Economics and Public Administration) cùng Hiệp hội Hành chính công Mỹ(ASPA - American Society for Public Administration) tiến hành tháng 10/2001, dựa trên các chỉ số vềmức độ xuất hiện trực tuyến thông qua WEB, sự phát triển của hạ tầng viễn thông và các chỉ số cơ bản

về con người (Human Capital Capacity) Trong bảng xếp loại có 169 nước Đứng ở 3 vị trí đầu bảng là

Mỹ, Úc và New Zealand Điểm của Việt nam là 1.10/3.25, xếp thứ 90/169.

Nếu chia theo 4 nhóm điểm theo mức độ điểm cao thấp khác nhau (nhóm 1: Cao có 36 nước, nhóm 2:Trung bình có 26 nước, nhóm 3: Tối thiểu có 36 nước và nhóm 4: Kém có 35 nước) thì Việt nam

không nằm trong nhóm Kém mà được xếp ở nhóm 3 (đạt mức phát triển Chính phủ điện tử ở mức tối

thiểu) Nếu phân theo 5 mức phát triển của Chính phủ điện tử (mức 1 Seamless - Liền khối chưa cónước nào, mức 2 Transaction - Giao dịch có 17 nước, mức 3 Interactive - Giao tiếp có 55 nước, mức 4Enhanced - Nâng cao có 65 nước và mức 5: Emerging - Khởi điểm có 32 nước) thì Việt nam được xếp

ở mức 4, đã vượt qua mức Khởi điểm và đang ở mức Nâng cao.

Một chỉ số khác nữa về Chính phủ điện tử (E-Government Ranking) được World Markets ResearchCentre và Brown University (USA) tiến hành tháng 9/2001, chủ yếu đánh giá dựa mức độ hiện diện vànội dung các WEB Site của các cơ quan chính phủ Bảng xếp hạng được tiến hành cho 196 nước vớithang điểm 100 Đứng ở 3 vị trí đầu là Mỹ, Đài loan và Úc Trong bảng xếp hạng này, Việt nam được

32.8 điểm và ở vị trí rất phấn khởi: xếp hạng thứ hạng 53/196, tương đương với Philipine và cao hơn

Thái lan, Trung quốc

Các xếp hạng về Chính phủ điện tử dự kiến tiến hành 2 năm một lần, hiện nay mới chỉ có số liệu cholần xếp hạng đấu tiên nên không thể đánh giá được mức độ tăng trưởng

Đánh giá

Thứ hạng của Việt nam nói chung ở vị trí không phấn khởi, thậm chí là bất lợi (như vị trí về vi phạmbản quyền phần mềm) Nhưng một điều an ủi là dù sao chúng ta cũng có “tên tuổi” trên bản đồ CNTTthế giới, trong khi nhiều quốc gia khác thậm chí còn chưa có tên trong một số các danh sách này

Trang 10

Phần 2 Chính sách CNTT

1 Các chính sách trong năm

Kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước về CNTT

Trong thời gian 7/2002 - 7/2003, các chính sách quan trọng nhất tập trung vào việc hình thành, kiệntoàn các tổ chức quản lý về CNTT & Viễn thông:

+ Thành lập bộ Bưu chính viễn thông (7/2002), hoạt động của Bộ được cụ thể hoá bằng Nghị định số90/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu

tổ chức của Bộ

+ QĐ 176/2002/QĐ-TTg ngày 3/12/2002 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Ban Chỉ đạoChương trình hành động triển khai Chỉ thị số 58-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng vàphát triển CNTT trong sự nghiệp Công nghiệp hoá và hiện đại hoá giai đoạn 2001-2005 (Ban Chỉ đạo

58 - đến QĐ số 28/2003/QĐ – TTg ngày 20/2/2003 được gọi là Ban Chỉ đạo quốc gia về CNTT)Lần đầu tiên bộ máy quản lý nhà nước về CNTT được hình thành, với cơ cấu mạch lạc, mạnh mẽ vớiđội hình gồm 3 cục, 4 vụ và 1 viện: cục Bưu chính Viễn thông các khu vực 1, 2, 3, Viện Chiến lược,

Vụ Kế hoạch – Tài chính, Vụ Khoa học Công nghệ (chịu trách nhiệm về ứng dụng CNTT), Vụ Côngnghiệp CNTT và Vụ Viễn thông

Viễn thông – Internet

+ Tiếp tục lộ trình giảm giá Internet bằng hàng loạt các quyết định của Bộ Bưu chính viễn thông tháng3/2002 (các quyết định từ số 53 đến 58/QĐ-BCVT ngày 20/3/2003), trong đó có quyết định số56/2003/QĐ-BBCVT ngày 20/3/2003 của Bộ trưởng Bộ Bưu chính, Viễn thông về Ban hành cướcdịch vụ truy nhập Internet qua mạng điện thoại công cộng (PSTN) thay thế Quyết định 480/2002/QĐ-TCBĐ ngày 13/6/2002 (đây là Quyết định thay thế cho QĐ 480/2002/QĐ-TCBĐ ngày 13/6/2002 củaTổng cục Bưu Điện về việc ban hành cước dịch vụ truy nhập Internet gián tiếp qua mạng điện thoạicông cộng (PSTN ) – cũng thay thế QĐ 519/2001/QĐ-TCBĐ ngày 28/6/2001 của Tổng cục Bưu điện)+ Cho phép triển khai các dịch vụ mới: điện thoại PC to Phone và Internet tốc độ cao ADSL, xSDL-WAN, CDMA (các quyết định ký trong 2 ngày 18/6 và 26/6/2003)

+ Từng bước xoá bỏ độc quyền viễn thông, cho phép nhiều doanh nghiệp tham gia cung ứng dịch vụviễn thông: cấp phép cho một số đơn vị kinh doanh dịch vụ viễn thông, dịch vụ kết nối Internet, dịch

vụ điện thoại đường dài trong nước và quốc tế sử dụng giao thức IP

Ứng dụng CNTT

Cuối cùng sau nhiều tranh cãi vấn đề Unicode & chữ Việt đã có kết luận: Thông tư BKHCN ngày 15/11/2002 của Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn triển khai Quyết định số72/20002/QĐ-TTg ngày 10/06/2002 của Thủ tướng Chính Phủ về việc thống nhất dùng bộ mã các ký

07/2002/TT-tự chữ Việt theo tiêu chuẩn TCVN 6909:2001 trong trao đổi thông tin điện tử giữa các tổ chức củaĐảng và Nhà nước

Ngày 10/10/2002, Bộ VHTT đã ký quyết định số 27/2002/QĐ-BVHTT ban hành Quy chế quản lý vàcấp phép cung cấp thông tin, thiết lập trang thông tin điện tử trên Internet Đây là một thông tư gây

Trang 11

khá nhiều tranh cãi Quyết định này được các doanh nghiệp đánh giá là không phù hợp khi quy địnhquá chặt chẽ việc thiết lập WEB Site và đưa thông tin lên Internet.

128) và phần cứng (QĐ 19/2001 đưa máy tính vào danh sách sản phẩm Công nghiệp trọng điểm)

- Năm 2001-2002 là năm xây dựng các kế hoạch đến 2005, thể hiện bằng 3 quyết định quan trọng:

QĐ 112/2001/QĐ – TTg phê duyệt phê Đề án Tin học hóa Quản lý hành chính nhà nước giai đoạn

2001 – 2005, Quyết định 33/2002/QĐ- TTg ngày 08/02/2002 của Thủ Tướng phê duyệt kế hoạchphát triển Internet VN giai đoạn 2001 – 2005 và Quyết định số 95/2002/QĐ-TTg ngày 17/7/2002của Thủ tướng chính phủ Phê duyệt Kế hoạch tổng thể về ứng dụng và phát triển CNTT ở ViệtNam đến năm 2005

- Năm 2002-2003 xây dựng các bộ máy và tổ chức thực hiện.

Năm 2003- 2004 là thời kỳ cho những quyết định quan trọng nào?

Trang 12

Phần 3 Thị trường CNTT Việt nam

1 Nhận định chung

2002 là năm phát triển tốt của thị trường CNTT Việt nam, lần đầu tiên đạt ngưỡng 400 triệu USD,tăng gấp 2 lần so với năm 1998 Tốc độ tăng trưởng năm qua là 17.6% - đây là tốc độ tăng trưởng khácao so với con số 13% của năm trước, tuy nhiên vẫn chưa đạt được mức tăng trưởng mạnh như cácnăm trước đó Để tăng thêm 100 triệu USD cho thị trường CNTT (từ 300 triệu lên 400 triệu) cần tới 2năm, trong khi trước đó tăng (1998-2000) từ 200 triệu lên 300 triệu cũng chỉ cần có 2 năm

Thị trường CNTT Việt nam qua các năm (ĐV: triệu USD)

1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002

T hi tr uong C NT T VN (tr ieu USD)

Năm công ty CNTT cung ứng sản phẩm/dịch vụ CNTT hàng đầu cho thị trường Việt nam trong năm

2002 có doanh số 150 triệu USD - chiếm 37.5% sản phẩm, dịch vụ cho thị trường CNTT VN, trong đócông ty đứng đầu (FPT) cung ứng 24%

2 Thị trường phần cứng

Kim ngạch nhập khẩu thiết bị tin học năm 2002 là 277 triệu USD, tăng 20% so với năm 2001 (con số

tăng trưởng năm 2001 là 12.7%) Con số này cộng thêm nhập không chính ngạch, giá trị gia tăng và20% phần mềm - dịch vụ sẽ thành con số tổng thị trường

Doanh số trong năm 2002 tập trung chủ yếu vào 6 tháng cuối năm (6 tháng đầu năm 2002 so với cùng

kỳ 6 tháng đầu năm 2001 chỉ tăng 8%, trong khi đó 6 tháng cuối năm 2002 so với 6 tháng cuối năm

2001 tăng tới 31%)

Quý 1 năm 2003 hứa hẹn nhiều với kim ngạch nhập khẩu là 105 triệu USD - lần đầu tiên vượt doanh

số nhập khẩu 100 triệu USD /quý - lại ngay trong quý 1, tăng 78% so với Q1 năm 2002 và tăng 98%

so với quý 1 năm 2001 Nếu SARS không ảnh hưởng nhiều thì có thể dự báo doanh số thị trườngCNTT sẽ vượt ngưỡng 500 triệu USD trong năm 2003

Trang 13

Kim ngạch nhập các quý trong năm 2000-2003 (ĐV: triệu USD)

Kim ngach nhap khau 2000-2003

(tr ieu USD)

Singapore vẫn là nguồn cung cấp sản phẩm CNTT nhiều nhất cho Việt nam Trong 3 năm 2000, 2001,

2002, Nhật và Đài loan chia vị trí thứ 2 và thứ 3 Nếu như năm 2000, Trung quốc đứng ở vị trí thứ 8thì sang năm 2001 lên vị trí thứ 5, năm 2002 chuyển sang vị trí thứ 6, Q1 năm 2003 lại trở lại vị trí thứ

5, chỉ đứng sau một số nước “đại gia” là Singapore, Nhật, Đài loan, Malaysia, Mỹ, Hồng kong Hiệntại rất khó đánh giá về tương lai của hàng nhập Trung quốc, giá trị trên dưới 20 triệu USD hàng chínhngạch nhập từ Trung quốc về VN hàng năm không phải là lớn (chưa tính hàng nhập lậu) Tại thịtrường Mỹ, trong các năm 1999 – 2002, Trung quốc đã từng bước vươn từ vị trí quốc gia nhập khẩuhàng CNTT vào Mỹ đứng thứ 5 (năm 1999) lên thứ 4 (năm 2000), thứ 2 (năm 2001) và giữ vị trí số 1trong năm 2002 với doanh số nhập vào Mỹ là 9.2 tỷ USD trên tổng số 50.5 tỷ USD nhập vào Mỹ hàngnăm (năm 2002 Mỹ xuất khẩu 16.8 tỷ USD) Việc thị phần nhập khẩu của Trung quốc vào Việt nam

có lẽ phụ thuộc vào chính sách của Trung quốc có muốn chiếm thị trường Việt nam hay không màthôi

10 nước có kim ngạch nhập khẩu vào VN lớn nhất 2000-2003 (ĐV: triệu USD)

T

Trang 14

6 Mỹ 10,4 HongKong 12,7 Trung quốc 18,6 Mỹ 5.1

Trong năm 2002, số máy tính nhập nguyên chiếc vào Việt nam là 50,5 ngàn chiếc, chỉ tăng khôngđáng kể (2%) so với năm 2001, điều này chứng tỏ máy tính lắp ráp tại Việt nam chiếm thị phần ngàycàng lớn - từ 75 - 80% năm 2001 lên gần 90% trong năm 2002 (có thể ước lượng số máy tính lắp ráptại Việt nam trong năm 2002 tương đương với số màn hình tiêu thụ trong năm Năm 2002 số màn hìnhnhập là 350.000 chiếc – tăng hơn 108.000 màn hình so với năm 2001, cũng trong thời gian này,Samsung VINA bán ra thị trường gần 100.000 chiếc nữa)

Tình hình nhập lậu vẫn lớn, thể hiện qua sự không tương xứng giữa các linh kiện thiết bị nhập về,chẳng hạn màn hình nhập là 350 ngàn trong khi ổ đĩa cứng chỉ có 80 ngàn chiếc Nhập lậu nhiều nhấttập trung vào các linh kiện nhỏ, ổ cứng và ổ CD các loại

Thị trường phần mềm và dịch vụ năm 2002 là 75 triệu USD, chiếm 18.75% trong tổng số 400 triệu

USD thị trường CNTT, thấp hơn tỷ lệ trên 20% năm 2001 Tỷ lệ này thấp so với thế giới và chứng tỏvẫn mất cân đối giữa đầu tư cho phần cứng và phần mềm /dịch vụ; tỷ lệ vi phạm bản quyền phần mềmvẫn cao

4 Khách hàng nhà nước

Việc triển khai Chưong trình 112 đã thúc đẩy mảng thị trường CNTT trong các cơ quan quản lý nhànước phát triển mạnh Theo nguồn số liệu tập hợp từ 51 đầu mối quản lý nhà nước tại các tỉnh thành /

bộ ngành chính, chi phí cho CNTT trong năm 2001 là 64 triệu USD, trong năm 2002 là 97 triệu USD

Chi tiêu CNTT của 29 tỉnh thành và 22 bộ ngành (ĐV: triệu USD)

Nếu ước lượng mức chi tiêu cho CNTT của tất cả các cơ quan quản lý nhà nước gấp 1.5 lần tổng trên

thì có thể ước lượng mảng thị trường CNTT cho các cơ quan nhà nước năm 2001 là 95 triệu USD, năm 2002 là 145 triệu USD, chiếm 23% thị trường CNTT VN năm 2001 và 29% thị trường CNTT năm 2002 Nhà nước thực sự đã trở thành khách hàng CNTT lớn, tuy nhiên tỷ lệ phần mềm-dịch

vụ vẫn chiếm tỷ lệ nhỏ chưa cân đối

Chi tiêu CNTT của các cơ quan nhà nước (ước tính, ĐV: triệu USD)

Ngày đăng: 27/08/2016, 10:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w