1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

c trị với QLXH 123doc

33 29 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 99,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhà nước có vai trò vô cùng quan trọng đối với kinh tế là quản lý nhà nước về kinh tế. Quản lý nhà nước về kinh tế chính là sự tác động của hệ thống quản lý hay chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý, nhằm hướng sự vận hành theo các mục tiêu đã đặt ra. -Quản lý nhà nước là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước do các cơ quan nhà nước thực hiện nhằm xác lập một trật tự ổn định, phát triển xã hội theo những mục tiêu mà tầng lớp cầm quyền theo đuổi. Bao gồm toàn bộ hoạt động của cả bộ máy nhà nước từ lập pháp, hành pháp đến tư pháp vận hành như một thực thể thống nhất. Chấp hành, điều hành, quản lý hành chính do cơ quan hành pháp thực hiện đảm bảo bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước.

Trang 1

Đề tài: VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG QUẢN LÝ KINH TẾ

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết

2 Tình nghiên cứu liên quan

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5 Phương pháp nghiên cứu

NỘI DUNG2.1: Làm rõ một số khái niệm của vấn đề nghiên cứu

2.2: Quan điểm của Đảng , chính sách PL của NN về vấn đề nghiên cứu

2.3 Nhà nước với quản lý kinh tế

2.4 Chính trị với quản lý kinh tế ở việt nam hiện nay và định hướng phát triển

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết

Nhà nước có vai trò vô cùng quan trọng đối với kinh tế là quản lý nhà nước về kinh

tế Quản lý nhà nước về kinh tế chính là sự tác động của hệ thống quản lý hay chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý, nhằm hướng sự vận hành theo các mục tiêu đã đặt ra Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam đã có những bước phát triển tích cực Tốc độ tang trưởng GDP năm 2019 ước đạt 6,8% mặc dù thấp hơn mức tăng trưởng 7,08% của năm 2018 nhưng hoàn thành mục tiêu ở mức cao theo nghị quyết Quốc hội đưa ra( Quốc hội đặt mục tiêu là từ 6,6-6,8%)

2 Tình hình nghiên cứu liên quan.

Tốc độ tăng trưởng Kinh tế của Việt Nam năm 2019 không chỉ cao mà chất lượng tăng trưởng tiếp tục được cải thiện năng suất lao động đạt khá, mô hình tăng

trưởng chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm dần sự phụ thuộc vào khai thác khoáng sản và tăng trưởng tín dụng, từng bước chuyển sang dựa vào khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo

Tốc độ tăng trưởng kinh tế 5 tháng đầu năm của nước ta hiện nay, toàn bộ hệ thốngchinh trị, Chính phủ và thủ tướng Chính phủ đặt ưu tiên hàng đầu là dập dịch và chống dịch, hy sinh lợi ích kinh tế để đảm bảo tính mạng và sức khỏe của người dân thì nền kinh tế nước ta tiếp tục duy trì tăng trưởng, không rơi vào tình trạng tăng trưởng âm cho thấy hiệu quả trong chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ , thủ tướng Chính phủ cùng với sự vào cuộc của các cấp, các ngành để đẩy lùi dịch bệnh, duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.

Trang 3

Làm rõ hơn vai trò của nhà nước trong lĩnh vực kinh tế, các vấn đề liên quan, các chỉ thị, quyết định của Nhà nước, Chính phủ Những quan điểm, đường lối của Đảng ta về kinh tế qua các kỳ đại hội.

Giúp cho các đọc giả hiểu hơn về thực trạng kinh tế của nước ta, hướng đi cách giải quyết của Đảng và Nhà nước trong việc phát triểm kinh tế, đưa nước ta sớm trở thanh nước Công nghiệp

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

Đối tượng nghiên cứu là các chủ thể của quan hệ chính trị, các mối quan hệ giữa Nhà nước với nền kinh tế, các quy luật hoạt động giữa các lĩnh vực kinh tế với nhau

Phạm vi nghiên cứu trong nhà nước, trong xã hội của nhà nước ta từ đó tìm ra các quy luật giúp nhà nước có vai trò quan trọng hơn so với nền kinh tế

5 Phương pháp nghiên cứu.

- Phương pháp kinh tế

- Vận dụng tổng hợp các phương pháp quản lý kinh tế của nhà nước

- Nghệ thuật quản lý kinh tế của Nhà Nước.

Trang 4

NỘI DUNG

2.1 Làm rõ một số khái niệm của vấn đề nghiên cứu

- Quản lý nhà nước là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước do các cơquan nhà nước thực hiện nhằm xác lập một trật tự ổn định, phát triển xãhội theo những mục tiêu mà tầng lớp cầm quyền theo đuổi Bao gồm toàn

bộ hoạt động của cả bộ máy nhà nước từ lập pháp, hành pháp đến tư phápvận hành như một thực thể thống nhất Chấp hành, điều hành, quản lýhành chính do cơ quan hành pháp thực hiện đảm bảo bằng sức mạnhcưỡng chế của Nhà nước

- Kinh tế là tổng hòa các mối quan hệ tương tác lẫn nhau của con người và

xã hội - liên quan trực tiếp đến việc sản xuất, trao đổi, phân phối, tiêudùng các loại sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, nhằm thỏa mãn nhu cầungày càng cao của con người trong một xã hội với một nguồn lực có giớihạn

- Quản lý nhà nước về kinh tế là sự quản lý của Nhà nước đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân bằng quyền lực Nhà nước thông qua cơ chế quản lý kinh tế nhằm đảm bảo tốc độ tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế quốc dân Nhà nước với tư cách là tổng thể các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp

2.2 Quan điểm của Đảng , chính sách PL của NN về vấn đề nghiên cứu 2.2.1 Quá trình hình thành và đường lối phát triển kinh tế.

- Thời kỳ trước đổi mới

Trang 5

Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ngày 30/4/1975, cả nước độc lập thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam từ đây có một sự thay đổi lớn: đất nước thoát khỏi thời kỳ vừa kháng chiến vừa kiến quốc Nhiệm vụ chính lúc này là khôi phục, ổn định xây dựng và phát triển đất nước trong điều kiện hòa bình Tình hình đó đã đặt ra một yêu cầu là cần phải có những chủ trương, chính sách, biện pháp phù hợp với tình hình mới của đất nước để thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển Trên thực tế, các chủ trương, chính sách, biện pháp của Đảng ở một

số mặt trong thời kỳ này chưa đáp ứng được những yêu cầu đặt ra, đặc biệt là những chủ trương, đường lối trong lĩnh vực kinh tế (những vấn đề liên quan đến lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất)

Sau khi giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước, nước ta bước vào thời

kỳ khôi phục kinh tế Đảng nhận thấy rõ những khó khăn của nền kinh tế đất nước:

cơ sở vật chất kỹ thuật còn yếu kém; năng suất lao động thấp, sản xuất chưa đảm bảo nhu cầu đời sống và tích luỹ, Đảng cũng vạch ra những nguyên nhân sâu xa của tình hình trên là nền kinh tế nước ta là sản xuất nhỏ; công tác tổ chức và quản

lý kinh tế có nhiều hạn chế, Nhưng những điểm bất hợp lý trong quan hệ sở hữu Đảng lại chưa chỉ ra Ở miền Bắc, Đảng chủ trương củng cố và hoàn thiện chế độ công hữu về tư liệu sản xuất dưới hai hình thức toàn dân và tập thể Ở miền Nam, Đảng chủ trương tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các thành phần kinh tế Chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các thành phần kinh tế ở đây là: sử dụng, hạn chế và cải tạo công nghiệp tư bản tư doanh chủ yếu bằng hình thức công

tư hợp doanh; chủ trương hợp tác hoá nông nghiệp; cải tạo thủ công nghiệp bằng con đường hợp tác hoá là chủ yếu; cải tạo thương nghiệp nhỏ chủ yếu bằng cách chuyển dần sang sản xuất

Tại Đại hội IV, Đảng đặc biệt quan tâm tới việc hoàn thiện hệ thống quản lý kinh

tế, nhằm vào những vấn đề quan trọng nhất là tổ chức lại nền sản xuất xã hội chủ

Trang 6

nghĩa trong phạm vi cả nước "Tổ chức lại tất cả các ngành sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, trong cả nước theo hướng sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, xoá bỏ tình trạng phân tán, cục bộ, hình thành những ngành kinh tế -

kỹ thuật thống nhất và phát triển trên phạm vi cả nước " Đồng thời với việc tổ chức lại nền sản xuất, Đảng chủ trương cải tiến phương thức quản lý kinh tế, lấy kếhoạch hoá làm chính Kế hoạch hoá trên cơ sở đề cao trách nhiệm và phát huy tính sáng tạo của các ngành, các địa phương và các cơ sở Trong quản lý kinh tế, Đảng cũng đã nhấn mạnh tới việc phải coi trọng quy luật giá trị; phải thực hiện chế độ hạch toán kinh tế; sử dụng tốt thị trường; Nếu so sánh với công tác quản lý kinh

tế được đề ra tại Đại hội III, thì tới Đại hội IV lần này công tác này đã có những bước chuyển biến nhất định, nhất là khâu kế hoạch hoá Kế hoạch hoá không còn được nhấn mạnh là "pháp lệnh" như tại Đại hội III, mà đã chú ý hơn tới tính sáng tạo của các ngành, các địa phương và các cơ sở

Trong kế hoạch phát triển kinh tế được đề ra tại Đại hội IV, Đảng đã có sự chuyển hướng tương đối phù hợp với điều kiện nước ta Từ chủ trương ưu tiên phát

triển công nghiệp nặng được đề ra tại Đại hội III, tới Đại hội IV Đảng đặt ra nhiệm

vụ tập trung cao độ lực lượng cả nước, của các ngành, các cấp, tạo ra một bước phát triển vượt bậc về nông nghiệp Sự chuyển hướng này có ý nghĩa rất lớn đối với việc giải quyết tình trạng thiếu lương thực, khai thác một cách triệt để hơn các nguồn lực trong nước, đồng thời sẽ tạo ra được những điều kiện và tiền đề cần thiếtcho những bước đi tiếp theo

Trong những năm cuối thập kỷ 70 của thế kỷ XX, đất nước ta lại phải đương đầu với 2 cuộc xung đột ở biên giới phía Bắc và cuộc xung đột biên giới phía Tây Nam Tình hình đó ảnh hưởng không nhỏ tới công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế

ở nước ta Nền kinh tế đất nước vốn đã gặp rất nhiều khó khăn nay lại phải đương đầu với những kẻ thù mới khiến tình hình ngày càng trở nên nghiêm trọng Kết quảthực hiện kế hoạch kinh tế trong 5 năm (1976-1980) chưa thu hẹp được những mất

Trang 7

cân đối nghiêm trọng của nền kinh tế quốc dân Sản xuất phát triển chậm trong khi

số dân tăng nhanh Thu nhập quốc dân chưa đảm bảo được tiêu dùng xã hội, lương thực và các hàng tiêu dùng đều thiếu

Trước sự yếu kém của nền kinh tế đất nước, tại Đại hội V năm 1982, Đảng đã có nhiều chủ trương mới cả trong chiến lược phát triển kinh tế và cải tạo quan hệ sản xuất Từ Đại hội III năm 1960, Đảng luôn khẳng định công nghiệp hoá là nhiệm vụtrung tâm của thời kỳ quá độ Đến Đại hội V này, điều mới và quan trọng là Đảng

đã xác định cụ thể nội dung và hình thức công nghiệp hóa trong chặng đường đầu tiên Đó là "tập trung phát triển mạnh mẽ nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, đưa nông nghiệp một bước lên xã hội chủ nghĩa "

Gắn liền với việc đẩy mạnh phát triển nông nghiệp, tại Đại hội V, Đảng chủ trươngtiếp tục đẩy mạnh hợp tác hoá nông nghiệp ở Nam bộ, từng bước phát huy tác dụng của hợp tác hoá đối với việc đưa nông nghiệp lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa và xây dựng nông thôn mới

Tới hội nghị Trung ương tháng 7-1984, những kết quả tốt đẹp do áp dụng chính sách khoán sản phẩm trong nông nghiệp đã được Đảng rút kinh nghiệm và cho phép áp dụng vào trong sản xuất công nghiệp, với khuyến khích bằng vật chất trong tìm kiếm nguyên vật liệu sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và sử dụng lợi nhuận thu được từ sản phẩm ngoài kế hoạch cũng như cho phép giám đốc được quyết định về vấn đề lực lượng lao động của doanh nghiệp Với những điều chỉnh này đã bước đầu tạo được tính độc lập tự chủ của các doanh nghiệp nhà nước, do đó đã góp phần làm tăng năng suất và chất lượng sản phẩm Nhưng lúc này kế hoạch sản xuất, lãi suất, phần nộp ngân sách, mức lương và đầu tư của doanh nghiệp vẫn theo

kế hoạch nhà nước, vì vậy mà sự giải phóng sức sản xuất của các doanh nghiệp vẫnhạn chế Tình hình đó đã đặt ra yêu cầu là cần phải mau chóng có những chủ

trương, biện pháp hữu hiệu hơn có tác dụng giải phóng sức lao động mạnh mẽ, đặcbiệt là cần phải tự do hoá quá trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và tài chính doanh

Trang 8

nghiệp, để thực hiện được điều đó thì cần thiết phải thay đổi cơ chế quản lý của Nhà nước.

Tuy ở Đại hội V này Đảng đã có một số điều chỉnh tương đối hợp lý, nhưng nhìn chung những điều chỉnh đó so với yêu cầu của thực tế vẫn còn một khoảng cách khá xa, nhiều điểm bất hợp lý vẫn còn tồn tại trong đường lối kinh tế của đảng, quátrình cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa vẫn tiếp tục được tiến hành theo hướng mà Đại hội IV đã đề ra Đảng chủ trương: đối với công nghiệp tư bản tư doanh vừa sử dụng vừa cải tạo dưới hình thức công

tư hợp doanh hoặc các hình thức khác, đối với tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp

và các ngành dịch vụ, tuỳ theo đặc điểm của từng ngành, nghề mà tổ chức các hìnhthức làm ăn tập thể hay kinh doanh cá thể Như vậy, trong một thời gian nhất định, ở miền Bắc nước ta có 3 thành phần kinh tế (quốc doanh, tập thể và cá thể), ởmiền Nam có 5 thành phần kinh tế (quốc doanh, tập thể, công tư hợp doanh, cá thể

và tư bản tư nhân)

Trong thời gian thực hiện kế hoạch 5 năm 1981-1985, một số ngành và nhiều địa phương đã tiến hành những cuộc thử nghiệm, tìm tòi về cách làm ăn mới này nhằmkhai thác khả năng tiềm tàng của nền kinh tế phát triển sản xuất, cải tiến lưu thông,phân phối, đáp ứng nhu cầu của đời sống nhân dân Song, cho tới năm 1986 cơ chếtập trung quan liêu bao cấp về căn bản chưa bị xoá bỏ Cơ chế mới chưa được thiếtlập đồng bộ Nhiều chính sách, cơ chế đã lỗi thời chưa được thay đổi, một số thể chế quản lý mới còn chắp vá, không ăn khớp, thậm chí trái ngược nhau

Tuy vậy, với chủ trương đổi mới cơ chế quản lý này, Đảng đã đề ra được một phương hướng quản lý mới có tính khả thi, thể hiện một sự chuyển biến đúng hướng trong quan hệ sản xuất nói chung và trong việc tổ chức và quản lý sản xuất nói riêng Đây tiếp tục là một khâu đột phá mới để tiến tới sự đổi mới toàn diện và sâu sắc về kinh tế-xã hội

Trang 9

Trong lĩnh vực phân phối sản phẩm lao động, những chủ trương của Đảng tại Đại hội V tiếp tục là một sự báo hiệu để tiến tới một sự đổi mới toàn diện nền kinh tế

xã hội Chủ trương của Đảng về chế độ phân phối tại Đại hội lần này đang loại trừ dần hình thức phân phối bình quân bằng việc "áp dụng nguyên tắc phân phối theo lao động, gắn chặt tiền lương với năng suất lao động, mở rộng đúng đắn lương khoán, lương sản phẩm và tiền thưởng, đi đôi với cung ứng theo định lượng những mặt hàng thiết yếu mà Nhà nước quy định"

Tuy những chủ trương mới trong phân phối đã thể hiện sự quan tâm đúng mức đến lợi ích cá nhân người lao động, đề cao ý thức trách nhiệm và kỷ luật của người lao động, nhưng do cơ chế hành chính quan liêu bao cấp vẫn chưa thực sự được xóa

bỏ, quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa mắc nhiều sai lầm, dẫn đến tình hình phân phối ở nước ta trong thời kỳ này vẫn chưa được cải thiện, thậm chí trầm trọng hơn trước, 'suốt 5 năm qua (1981-1985), lĩnh vực phân phối lưu thông luôn căng thẳng

- Sau thời kỳ đổi mới

Trên tinh thần đó, và xuất phát từ tình hình thực tiễn đất nước, tại Đại hội VI Đảng

đã đề ra chủ trương thực hiện đường lối đổi mới đất nước, trước hết là đổi mới tư duy Đổi mới tư duy không có nghĩa là phủ nhận những thành tựu lý luận đã đạt

Trang 10

được, phủ nhận những quy luật phổ biến của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, phủ nhận đường lối đúng đắn đã được xác định, trái lại, chính là bổ sung và phát triển những thành tựu ấy".

Đảng nhận thấy rõ nguyên nhân kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất trong thời gian qua (trước Đại hội VI) là do những sai lầm, thiếu sót trong việc bố trí cơ cấu kinh tế, tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa và trong cơ chế quản lý kinh

tế Chính vì vậy mà tư tưởng chỉ đạo của kế hoạch và các chính sách kinh tế đề ra lần này là nhằm giải phóng mọi năng lực sản xuất hiện có, khai thác mọi khả năng tiềm tàng của đất nước và sử dụng có hiệu quả sự giúp đỡ quốc tế để phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất đi đôi với xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa

Tại Đại hội VII năm 1991, Đảng chủ trương tiếp tục đổi mới toàn diện và đồng bộ, đưa công cuộc đổi mới đi vào chiều sâu với bước đi vững chắc Trong lĩnh vực quan hệ sản xuất, Đảng chủ trương tiếp tục xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần và đổi mới quản lý kinh tế Phát huy thế mạnh của các thành phần kinh

tế, vừa cạnh tranh, vừa hợp tác, bổ sung cho nhau trong nền kinh tế quốc dân.Những điều chỉnh của Đảng về quan hệ sản xuất tại Đại hội VI đã tạo ra những hệ quả tất yếu của nó, đó là một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo

cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đã dần hình thành Sự hình thành nền kinh tế đó ở nước ta trước hết là do sự đổi mới các quan hệ sở hữu Nếu như trước đây (trước Đại Hội VI), nền kinh tế nước ta chủ yếu là sở hữu toàn dân và tập thể thì hiện nay ngoài 2 hình thức sở hữu đó còn tồn tại nhiều thành phần sở hữu khác Những năm trước thời kỳ đổi mới, Đảng ta luôn nhấn mạnh bảo đảm sự phù hợp giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất nhưng lại không chủ trương xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, không chủ trương đa dạng hoá các loại hình sở hữu, không chấp nhận cơ chế thị trường dẫn đến tình trạng lực lượng sản xuất bị kìm hãm không phát triển được, sản xuất trì trệ, nền kinh tế sa

Trang 11

sút Với chủ trương thực hiện đường lối đổi mới đất nước được đề ra tại Đại hội

VI, quan niệm của Đảng ta về quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất có sự thay đổi Điều này đã được một số nhà nghiên cứu chỉ rõ: "trong quan niệm hiện nay của chúng ta về chủ nghĩa xã hội

đã chứa đựng những tư tưởng đổi mới về quy luật của sự phù hợp khách quan giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Cái có ý nghĩa quyết định trong quy luật này là trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Do vậy,trong sự phù hợp với trình độ phát trển của lực lượng sản xuất, sự tồn tại của các thành phần sở hữu đa dạng ở một nền kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa là hoàn toàn có cơ sở"

So với 5 năm đầu tiên thực hiện đường lối đổi mới, giai đoạn 1991 - 1996 này Đảng và Nhà nước ta đã có những đổi mới đi vào chiều sâu của quan hệ sản xuất Nhờ đó, nền sản xuất nước ta đã có một quan hệ sản xuất tương đối phù hợp, do đólực lượng sản xuất được giải toả, tháo gỡ khỏi nhiều lực cản để phát triển

Trong giai đoạn 1991 - 1995, nền kinh tế nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quantrọng Tình trạng đình đốn trong sản xuất, rối ren trong lưu thông được khắc phục Kinh tế tăng trưởng nhanh, nhịp độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân hàng năm thời kỳ 1991 - 1995 đạt 8,2%, lạm phát bị đẩy lùi từ 774,7% năm

1986 còn 67,1% năm 1991, 12,7% năm 1995 Lương thực không những đủ ăn mà còn xuất khẩu được 2 triệu tấn gạo mỗi năm Nhiều công trình thuộc kết cấu hạ tầng và cơ sở công nghiệp trọng yếu được xây dựng, tạo thêm sức mạnh vật chất

và thế cân đối mới cho sự phát triển Đời sống vật chất của đại bộ phận nhân dân được cải thiện Trình độ dân trí và mức hưởng thụ văn hoá của nân dân khá hơn trước ổn định chính trị - xã hội được giữ vững Nhiệm vụ đề ra cho 5 năm 1991 -

1995 đã hoàn thành về cơ bản Nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng và kéo dài hơn 15 năm

Trang 12

Sau 10 năm thực hiện đường lối đổi mới, lực lượng sản xuất ở nước ta đã có nhữngbước phát triển mạnh mẽ, nền kinh tế - xã hội không ngừng được ổn định và phát triển Từ thực tiễn đó, tại Đại hội VIII năm 1996, Đảng ta nhận định: nước ta đã chuyển sang thời kỳ phát triển mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đây là một nhận định cực kỳ quan trọng, có ý nghĩa chỉ đạo đối với việc đề ra phương hướng, nhiệm vụ sắp tới.

Sau 15 năm thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế nước ta có bước phát triển mới về lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và hội nhập kinh tế quốc tế, thành công bước đầu trong việc chuyển sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, khắc phục một bước tình trạng nước nghèo và kém phát triển, tạo thêm điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Tuy nhiên, trình độ phát triển của nước ta còn thua kém nhiều so với một số nước xung quanh và nguy cơ tụt hậu ngày càng xa hơn vẫn là thách thức Hoàn cảnh đó đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân ta phải tiếp tục nỗ lực phấn đấu để thúc đẩy nền kinh

tế nước ta phát triển mạnh mẽ hơn nữa Tại Đại IX năm 2001, Đảng ta thể hiện rõ quyết tâm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hìnhthành về cơ bản, vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao

Tại Đại hội Đảng IX, Đảng tiếp tục chủ trương đổi mới sâu rộng cơ chế quản lý kinh tế, phát huy những yếu tố tích cực của cơ chế thị trường, triệt để xoá bỏ bao cấp trong kinh doanh, tăng cường vai trò quản lý và điều tiết vĩ mô của nhà nước

Để nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế, Đảng đặc biệt chútrọng tới việc hoàn thiện các công cụ quản lý vĩ mô, nhất là đối với kinh tế Nhà nước, Đảng nhấn mạnh việc phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước trong

Trang 13

nền kinh tế quốc dân, coi đó là động lực vật chất quan trọng và là công cụ để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế Đảng đưa ra giải pháp: "thực hiện tốt chủ trương cổ phần hoá và đa dạng hoá sở hữu đối với những doanh nghiệp nhànước không cần 100% vốn; giao, bán, khoán, cho thuê, Các doanh nghiệp loại nhỏ Nhà nước không cần nắm giữ, sáp nhập, giải thể, cho phá sản những doanh nghiệp hoạt động không có hiệu quả và không thực hiện tốt các biện pháp trên" Đây là một giải pháp quan trọng, hữu hiệu để nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước, tăng cường huy động vốn tiềm tàng trong dân cư đầu tư vào doanh nghiệp, tập trung được đầu tư của Nhà nước vào các lĩnh vực then chốt, mũi nhọn, thúc đẩy và huy động các nguồn đầu tư trong nước Thực hiện giải pháp này cũng có nghĩa là cần phải tích cực chuyển giao, chuyển đổi một số công nghệ sản xuất và dịch vụ cho các thành phần kinh tế khác

2.2.2 Phương hướng phát triển của Đảng.

Trong suốt những năm qua, bên cạnh những thành tựu to lớn mà Đảng đạt được thì ta không thể không nhắc đến thành tựu về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

- Thứ nhất: Đảng đề ra đường lối, chủ trương phát triển kinh tế đúng đắn

và lãnh đạo thực hiện thành công đường lối, chủ trương đó

Để lãnh đạo cách mạng nói chung, lãnh đạo kinh tế nói riêng, trước hết Đảng trau dồi và không ngừng phát triển tư duy lý luận khoa học, đủ sức thuyết phục không chỉ trong nội bộ Đảng mà còn với quần chúng nhân dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng Tư duy lý luận khoa học làtiền đề, cơ sở để xây dựng đường lối, chính sách đúng Đường lối và chiến lược kinh tế của Đảng được hình thành trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn cách mạng

Trang 14

Việt Nam, tiếp thu tinh hoa trí tuệ và kinh nghiệm quý báu của các nước trên thế giới, nhất là những nước phát triển Tại Đại hội VI, Đảng ta xác định: “Đảng phải đổi mới về nhiều mặt: đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế”(1) Do đó, với vai trò lãnh đạo kinh tế của đảng cầm quyền,

sứ mệnh chính trị đầu tiên của Đảng phải là xây dựng tư duy lý luận khoahọc về chủ nghĩa xã hội, mà trung tâm là phát triển kinh tế trong thời kỳ đổi mới

- Thứ 2: Đảng lãnh đạo thông qua việc sử dụng phương thức kiểm kê,

kiểm soát các hoạt động kinh tế để đánh giá đúng thực trạng kinh tế và công tác tổ chức cán bộ, từ đó đưa ra giải pháp đúng

Đảng lãnh đạo bằng việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong bộmáy nhà nước và đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cho cả nền kinh

tế, đặc biệt là phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo chủ chốt trên lĩnh vực kinh tế Đảng giới thiệu những đảng viên ưu tú có năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo của hệ thống chính trị, tăng cường trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu Điều đó cũng có nghĩa là Đảng phải có biện pháp xử lý, đề xuất bãi nhiệm những đảng viên là cán bộ giữ trọng trách của cơ quan nhà nước nếu không thựchiện đúng đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tham nhũng, lãng phí

- Thứ 3: Đảng lãnh đạo kinh tế thông qua các tổ chức đảng và đảng viên

hoạt động trong các cơ quan nhà nước và các tổ chức kinh tế

Để lãnh đạo kinh tế, Đảng tiến hành xây dựng các tổ chức đảng và phát triển đội ngũ đảng viên hoạt động trong các cơ quan nhà nước, các đơn vị sản xuất và các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế Tùy theo tính chất của các thành phần kinh tế, Đảng quy định chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức cơ sở đảng hoạt động trong thành phần kinh tế

đó Các tổ chức đảng và đảng viên trực tiếp quán triệt và triển khai thực

Trang 15

hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, tiến hành công tác chính trị, tư tưởng đối với quần chúng trong doanh nghiệp và cơ quan Bằng trí tuệ, sức mạnh đoàn kết của tổ chức đảng, sự gương mẫu của đội ngũ đảng viên, các tổ chức đảng lãnh đạo các tổ chức quần chúng chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, chống tham nhũng, lãng phí và vi phạm các quy định của Đảng.

- Thứ 4: Đảng lãnh đạo tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện, tăng

cường kiểm tra, giám sát, nhằm thực hiện thắng lợi đường lối, chính sáchcủa Đảng về kinh tế

Công tác tuyên truyền của Đảng có tầm quan trọng to lớn trong lãnh đạo xây dựng, phát triển nền kinh tế quốc gia Một mặt, Đảng lãnh đạo nhân dân tham gia xây dựng đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, kiểm tra, giám sát, phản biện xã hội trực tiếp hoặc gián tiếp qua các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội, làm cho đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước thực sự xuất phát từ nhân dân, phục vụ lợi ích chính đáng của nhân dân Mặt khác, thông qua công tác tuyên truyền, Đảng vận động, thuyết phục để nhân dân hiểu rõ lợi ích của việc thực hiện chủ trương của Đảng và tích cực hưởng ứng thực hiện thắng lợi chủ trương đó

Đảng lãnh đạo các tổ chức quần chúng nhân dân, các cơ quan báo chí,văn học nghệ thuật hướng vào việc biểu dương, khích lệ những người tốt,việc tốt trong các hoạt động kinh tế, những doanh nhân giỏi, có nhiều đóng góp cho xã hội Đồng thời phát hiện, phê phán những tiêu cực phát sinh, nhất là tệ tham nhũng, lãng phí, những hành vi phi nhân tính trong sản xuất, kinh doanh, những lệch lạc trong hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 16

2.3 Nhà nước với quản lý kinh tế.

2.3.1 Vai trò của nhà nước với quản lý kinh tế :

Khẳng định trước hết bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước của dân, dodân và vì nhân dân Để quản lý kinh tế, Nhà nước đóng vai trò chủ thể quản lý, làmcho nền kinh tế tăng trưởng, đi đôi với giải quyết tốt các vấn đề xã hội, tạo điềukiện để nhân dân sống và làm ăn theo pháp luật;

- Về mặt Nhà nước, thì Nhà nước là cơ quan thực thi quyền lực của nhân dân,

bảo vệ lợi ích của quốc gia, chủ sở hữu những tư liệu sản xuất chủ yếu; vậnhành nền kinh tế bằng cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theođịnh hướng XHCN ; Nền kinh tế thị trường ở nước ta còn sơ khai, cho nênvai trò của Nhà nước rất nặng nề và quan trọng:

+ Nhà nước phải tạo điều kiện thúc đẩy thị trường ra đời phù hợp với xuhướng thời đại, đồng thời phải điều tiết thị trường để nền kinh tế ổn định & pháttriển

+ Nhà nước phải kiên quyết đấu tranh khắc phục, hạn chế tối đa nhữngkhuynh hướng: phân hóa giàu nghèo quá mức và tâm lý sùng bái đồng tiền, vìđồng tiền mà chà đạp lên nhân phẩm, đạo đức… đồng thời hạn chế và khắc phụckhuyết điểm, yếu kém của bộ máy Nhà nước

+ Nhà nước phải vận hành nền kinh tế bằng cơ chế quản lý mới, địnhhướng XHCN phù hợp với bản chất của Nhà nước ta

+ Nhà nước tạo lập đồng bộ các loại thị trường, quản lý, điều tiết nhịpnhàng, có hiệu lực làm cho nền kinh tế tăng trưởng và phát triển

2.3.2 : Chức năng nhà nước về quản lý kinh tế :

Ở Việt Nam hiện nay , chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước là yếu tố

quan trọng đảm bảo định hướng XHXN của nền kinh tế Trong quá trình

chuyển đổi cơ chế kinh tế từ kế hoạch hóa tập chung sang cơ cấu thị trường đòi hỏi phải giảm sự can thiệp trực tiếp của Nhà nước trong hoạt động của

Ngày đăng: 30/12/2020, 23:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w