Do có địa hìnhkhá bằng phẳng và ít núi non nên khí hậu Nam Bộ ít có sự phân hóa theo độcao mà chủ yếu là sự phân hóa theo hướng nằm ngang, từ đó tạo nên nhiềunét khác biệt so với đặc điể
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
TÔN SƠN
ĐẶC ĐIỂM KHÍ HẬU NAM BỘ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC ĐỊA LÍ
Hµ Néi, 2011
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
TÔN SƠN
ĐẶC ĐIỂM KHÍ HẬU NAM BỘ
Chuyên ngành : Địa lí tự nhiên
Mã số
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC ĐỊA LÍ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Đặng Duy Lợi
Hµ Néi, 2011
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn với đề tài “Đặc điểm khí hậu Nam Bộ” được hoàn thành tại khoa
Địa Lí, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học nghiêm túc,
sự chỉ bảo tận tình của PGS.TS Đặng Duy Lợi Với lòng biết ơn sâu sắc, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến PGS.TS Đặng Duy Lợi.
Tác giả cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới tập thể các thầy cô giáo trong khoa Địa Lí, tổ Địa lí tự nhiên – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã quan tâm, giúp đỡ
và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn.
Tác giả xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các cơ quan: Thư viện khoa Địa Lí – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Thư viện Quốc gia Việt Nam, Viện khoa học Khí tượng thủy văn và Môi trường, Đài Khí tượng thủy văn khu vực Bắc Bộ,…
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với gia đình, cơ quan, bạn
bè và đồng nghiệp đã dành cho tôi rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ trong quá trình học tập tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
Trong luận văn chắc hẳn không tránh khỏi những hạn chế và thiếu xót Tác giả luận văn rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến quý báo của quý thầy cô và các bạn đồng nghiệp để luận văn của tôi được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày….tháng….năm 2011
Tác giả luận văn
Tôn Sơn
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢN ĐỒ
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Thời gian Mặt Trời lên thiên đỉnh tại một số địa điểm ở Nam Bộ Bảng 1.2 Độ cao Mặt Trời giữa trưa ngày 15 hàng tháng trên các vĩ độ chính Bảng 1.3 Thời gian chiếu sáng vào ngày 15 hàng tháng trên các vĩ độ chính Bảng 1.4 Số giờ nắng trung bình tháng và năm tại một số địa điểm ở Nam Bộ.Bảng 1.5 Bức xạ tổng cộng trung bình tháng và năm tại Tân Sơn Nhất và Cần Thơ
(kcal/cm2).
Bảng 1.6 Cán cân bức xạ trung bình tháng và năm ở TP Hồ Chí Minh và Cần
Thơ (kcal/cm2).
Bảng 2.1 Nhiệt độ không khí trung bình tháng và năm tại Nam Bộ.
Bảng 2.2 Nhiệt độ không khí cao nhất trung bình tháng và năm tại Nam Bộ Bảng 2.3 Nhiệt độ không khí thấp nhất trung bình tháng và năm tại Nam Bộ Bảng 2.4 Nhiệt độ không khí cao nhất tuyệt đối tháng và năm tại Nam Bộ Bảng 2.5 Nhiệt độ không khí thấp nhất tuyệt đối tháng và năm tại Nam Bộ Bảng 2.6 Biên độ ngày của nhiệt độ ở Nam Bộ.
Bảng 2.7 So sánh biên độ ngày của nhiệt độ giữa TP Hồ Chí Minh và Hà Nội Bảng 2.8 Biên độ nhiệt năm một số trạm ở Nam Bộ.
Bảng 2.9 So sánh chế độ nhiệt giữa Đông Nam Bộ và Đồng bằng SCL.
Bảng 2.10 Lượng mưa trung bình tháng và năm ở Nam Bộ.
Bảng 2.11 Số ngày mưa trung bình tháng và năm ở Nam Bộ.
Bảng 2.12 Lượng mưa ngày lớn nhất tháng và năm ở Nam Bộ.
Bảng 2.13 Lượng mưa các tháng mùa mưa ở Nam Bộ.
Bảng 2.14 Lượng mưa các tháng mùa khô ở Nam Bộ.
Bảng 2.15 Độ ẩm tuyệt đối trung bình tháng và năm ở Nam Bộ.
Bảng 2.16 Độ ẩm tương đối trung bình tháng và năm ở Nam Bộ.
Bảng 2.17 Lượng bốc hơi (PICHE) trung bình tháng và năm ở Nam Bộ.
Trang 6Bảng 2.18 Chỉ số ẩm ướt ở Nam Bộ.
Bảng 2.19 Hệ số tương quan nhiệt ẩm ở Nam Bộ.
Bảng 2.20 Khí áp mực trạm trung bình tháng và năm ở Nam Bộ.
Bảng 2.21 Khí áp mực trạm cao nhất, thấp nhất tuyệt đối tháng và năm ở Nam Bộ.Bảng 2.22 Tốc độ gió trung bình tháng và năm ở Nam Bộ.
Bảng 2.23 Tốc độ gió mạnh nhất tháng và năm ở Nam Bộ.
Bảng 2.24 Nhiệt độ trung bình năm qua các thập kỷ ở Nam Bộ.
Bảng 2.25 Lượng mưa năm trung bình qua các giai đoạn ở Nam Bộ.
Bảng 2.26 Hệ số biến động (Cv) của lượng mưa tại TP HCM, Huế và Hà Nội.
Bảng 2.27 Tỷ lệ gió chướng trong các tháng tại một số địa điểm ở Nam Bộ Bảng 2.28 Số ngày dông tại trạm trung bình năm ở Nam Bộ.
Bảng 2.29 Chỉ số khô hạn tại một số địa điểm ở Nam Bộ.
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong số các thành phần cấu tạo nên một địa tổng thể tự nhiên, khíhậu là thành phần quan trọng không thể thiếu Giữa khí hậu và các thànhphần tự nhiên khác (đất, nước, sinh vật ) luôn có mối quan hệ qua lại và tácđộng lẫn nhau Khí hậu tác động đến các yếu tố tự nhiên khác như một nhân
tố thành tạo và tạo nên sự đa dạng, phong phú của tự nhiên Ngược lại cácthành phần tự nhiên khác lại tác động trở lại đối với khí hậu, tạo nên các đặcđiểm khí hậu, làm cho khí hậu không chỉ có sự thay đổi theo thời gian màcòn có sự phân hóa theo không gian
Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa, với nguồn nhiệt dồi dào vàlượng ẩm phong phú Tuy nhiên, do lãnh thổ nước ta kéo dài theo hướngkinh tuyến và chịu sự chi phối của nhiều yếu tố nên khí hậu có sự phân hóa
đa dạng, phức tạp theo hướng Bắc – Nam, Đông – Tây và từ thấp lên cao.Khí hậu Việt Nam được chia làm 2 miền với 7 vùng khí hậu, trong đó vùngkhí hậu Nam Bộ nằm ở tận cùng phía Nam của Tổ quốc[19] Do có địa hìnhkhá bằng phẳng và ít núi non nên khí hậu Nam Bộ ít có sự phân hóa theo độcao mà chủ yếu là sự phân hóa theo hướng nằm ngang, từ đó tạo nên nhiềunét khác biệt so với đặc điểm khí hậu của các vùng khác trong cả nước
Nam Bộ vốn đã nổi tiếng là vựa lúa lớn nhất cả nước, là xứ sở miệtvườn, là địa bàn chiến lược và trọng điểm phát triển kinh tế – xã hội trong
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tuy nhiên, sự phát triểncủa vùng hiện nay chưa tương xứng với những tiềm năng và lợi thế mà vùng
có được, nhất là các điều kiện về khí hậu Vì vậy, việc nghiên cứu khí hậuNam Bộ có ý nghĩa thực tiễn rất lớn trong việc đánh giá đúng tiềm năng vàkhai thác có hiệu quả hơn nữa tài nguyên khí hậu của vùng, phục vụ cho mọiyêu cầu xây dựng và phát triển của đất nước
Trang 8Trước tình hình biến đổi khí hậu hiện nay, Nam Bộ trong thời gian tới
có thể bị tác động rất lớn do mực nước biển dâng cao và nguồn nước cácsông bị cạn kiệt Vì vậy, việc nghiên cứu đặc điểm khí hậu Nam Bộ còngiúp cho con người có những biện pháp ứng phó có hiệu quả với những biếnđổi khí hậu trong tương lai
2 Mục đích, giới hạn, nhiệm vụ của đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu các đặc điểm chính của khí hậu Nam Bộ
và phân vùng khí hậu Nam Bộ phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội
2.2 Giới hạn đề tài
Về mặt lãnh thổ, đề tài giới hạn nghiên cứu khu vực Nam Bộ trongphạm vi 17 tỉnh từ Bình Phước trở xuống phía Nam và hai thành phố làthành phố Hồ Chí Minh và thành phố Cần Thơ Trong đó, các tỉnh BìnhPhước, Tây Ninh, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu và thành phố
Hồ Chí Minh thuộc vùng Đông Nam Bộ; và các tỉnh Long An, Đồng Tháp,
An Giang, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, KiênGiang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và thành phố Cần Thơ thuộc vùng TâyNam Bộ (còn gọi là Đồng bằng sông Cửu Long)
2.3 Nhiệm vụ đề tài
- Phân tích và làm rõ các nhân tố hình thành đặc điểm khí hậu Nam Bộ
- Nghiên cứu đặc điểm khí hậu Nam Bộ thông qua tìm hiểu các yếu tố khíhậu và những đặc trưng riêng biệt của khu vực
3 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
3 1 Phương pháp luận
3 1.1 Quan điểm tổng hợp
Quan điểm tổng hợp trong nghiên cứu địa lí tự nhiên là việc nghiêncứu các đối tượng trong tổng hòa các mối liên hệ giữa chúng với nhau Cácđối tượng địa lí có mối quan hệ chặt chẽ và tạo thành một thể thống nhất
Trang 9Do vậy, khi nghiên cứu không thể tách rời các đối tượng nghiên cứu ra khỏimối quan hệ với các đối tượng khác.
Vận dụng quan điểm tổng hợp khi nghiên cứu khí hậu Nam Bộ, đề tàixác định, một mặt khí hậu là một thành phần quan trọng của tự nhiên có mốiquan hệ tác động qua lại với các thành phần tự nhiên khác trong thể tổnghợp, mặt khác khí hậu là một tổng thể có sự kết hợp chặt chẽ giữa các yếu tốkhí hậu và hệ thống thời tiết tạo nên đặc trưng chung của khí hậu cả vùng,cũng như sự phân hóa của nó tại các khu vực lãnh thổ
3.1.2 Quan điểm lãnh thổ
Trong nghiên cứu địa lí, bất kỳ một sự vật, hiện tượng nào cũng đềuphải gắn với một không gian lãnh thổ nhất định Trong không gian đó, cácđối tượng địa lí phản ánh những đặc trưng riêng của khu vực, là cơ sở đểphân biệt lãnh thổ này với các lãnh thổ xung quanh Trong mỗi một lãnh thổ,các đối tượng địa lí tự nhiên luôn có sự thống nhất nội tại, nhưng đồng thời
có sự phân hóa thành các khu vực khác nhau và có mối quan hệ mật thiếtvới các lãnh thổ xung quanh
Vận dụng quan điểm lãnh thổ khi nghiên cứu đặc điểm khí hậu Nam
Bộ, đề tài xác định khí hậu Nam Bộ có mối quan hệ chặt chẽ với khí hậu cáclãnh thổ xung quanh (khu vực xích đạo, biển Đông và vịnh Thái Lan, NamTrung Bộ, Tây Nguyên, Campuchia…) Việc nghiên cứu nhằm nêu lênnhững đặc trưng riêng của khí hậu Nam Bộ, cũng như mối liên hệ với cácvùng khí hậu khác trong cả nước
3.1.3 Quan điểm hệ thống
Quan điểm hệ thống cho rằng tất cả các sự vật, hiện tượng địa lí đều
có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau tạo thành một thể thống nhất vàhoàn chỉnh Mỗi hệ thống vừa là một bộ phận của hệ thống lớn hơn, vừa cóthể phân chia thành các đơn vị nhỏ hơn
Vận dụng quan điểm hệ thống, nghiên cứu khí hậu Nam Bộ là một bộphận không thể tách rời của khí hậu Việt Nam, là một bộ phận của miền
Trang 10khí hậu phía Nam, nhưng trong nội bộ vùng lại có sự phân hóa thành cáctiểu vùng và các khu vực khí hậu khác nhau.
3.1.4 Quan điểm sinh thái
Theo quan điểm sinh thái, môi trường ảnh hưởng quyết định đến sựtồn tại, sinh trưởng và phát triển của sinh vật Mỗi cá thể cũng như các quần
xã sinh vật đều có mối quan hệ chặt chẽ với các nhân tố môi trường xungquanh Sự thay đổi của điều kiện khí hậu sẽ dẫn đến sự thay đổi của các yếu
tố môi trường, do đó sẽ tác động tới sự tồn tại, sinh trưởng và phát triển củasinh vật Ở Nam Bộ, điều kiện khí hậu quyết định tính chất của các vùngsinh thái, đồng thời các tiểu vùng khí hậu cũng là các tiểu vùng sinh tháikhác nhau Vì vậy, khi nghiên cứu khí hậu Nam Bộ cần phải xem xét mộtcách toàn diện mối quan hệ giữa các điều kiện khí hậu với môi trường sinhthái và sự phát triển của sinh vật
Với điều kiện khí hậu nóng ẩm quanh năm, mưa đủ, nắng nhiều, lại
có ít thiên tai và thời tiết thất thường, khí hậu Nam Bộ rất thuận lợi cho sựphát triển nông nghiệp, tạo khả năng phát triển nhiều loài cây lương thực,cây ăn quả và cây công nghiệp nhiệt đới, cũng như chăn nuôi các gia súc,gia cầm và thủy sản kém chịu lạnh
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu
Để thực hiện đề tài, tác giả đã tiến hành thu thập nhiều tài liệu có liênquan, nguồn tài liệu thu thập được từ nhiều cơ quan, trung tâm nghiên cứukhu vực và quốc gia Trong đó, các số liệu khí hậu chủ yếu được lựa chọn từ
kết quả đo đạc tại các trạm khí tượng Nam Bộ trong “Chương trình 42A” của Tổng cục Khí tượng Thủy văn, cùng các số liệu cập nhật được trong
những năm gần đây
Trên cơ sở các số liệu và các tài liệu thu thập được, tác giả đã tiếnhành chọn lọc và dùng các phương pháp toán học để tính toán nhằm tìm racác chỉ số khí hậu cần thiết phục vụ cho quá trình nghiên cứu
Trang 113.2.2 Phương pháp phân tích – tổng hợp tư liệu
Đây là phương pháp quan trọng và được sử dụng một cách hiệu quảtrong quá trình nghiên cứu Phương pháp phân tích – tổng hợp được dùng đểphân tích mối quan hệ giữa các yếu tố hình thành khí hậu, đặc điểm khí hậuNam Bộ, cũng như so sánh sự khác biệt về các đặc điểm khí hậu giữa cáckhu vực trong nội bộ vùng, giữa Nam Bộ với các vùng khí hậu khác trong cảnước
3.2.3 Phương pháp bản đồ – biểu đồ
Phương pháp bản đồ là phương pháp hữu hiệu dùng để thể hiện sựphân bố không gian của các đối tượng địa lí Nghiên cứu bản đồ, thành lậpbản đồ là việc bắt đầu, cũng là việc kết thúc của quá trình nghiên cứu địa lí,thể hiện mọi kết quả nghiên cứu của các công trình
Phương pháp này được tác giả sử dụng trong suốt quá trình nghiêncứu Bắt đầu từ việc nghiên cứu bản đồ nhằm nắm bắt khái quát và nhanhchóng khu vực nghiên cứu, từ đó vạch ra các tuyến, điểm khảo sát đặc trưngcủa khu vực; cuối cùng là việc thành lập các bản đồ thành phần (bản đồnhiệt độ trung bình năm, lượng mưa trung bình năm…) và quan trọng hơn làbản đồ phân vùng khí hậu Nam Bộ
Trong quá trình nghiên cứu, việc thành lập các biểu đồ thể hiện một
số yếu tố khí hậu chính thông qua việc sử dụng các phần mềm nhưMapinfor, Excel…là rất cần thiết, nó giúp cho việc nhìn nhận vấn đề mộtcách khách quan và từ đó rút ra đặc điểm phân hóa khí hậu của Nam Bộ
3.2.4 Phương pháp thực địa
Đ ây là phương pháp đặc trưng trong nghiên cứu địa lí Điều tra, khảo sátthực địa nhằm đối chiếu số liệu thu thập được, kiểm chứng và bổ sung những thông tin từthực tế cho những nhận xét, đánh giá đã được đưa ra trước đó
5
Trang 124 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Quá trình nghiên cứu về khí hậu Việt Nam nói chung và khí hậu Nam
Bộ nói riêng đã được nhiều nhà khoa học quan tâm Trong đó có thể chia ralàm 3 nhóm nghiên cứu, đó là: nhóm các nhà khí hậu học, nhóm các nhà địa
lí học và nhóm các nhà nghiên cứu ứng dụng thuộc các chuyên ngành nông– lâm nghiệp, thổ nhưỡng, y học, kỹ thuật…
- Nhóm các nhà Khí hậu học: Nam Bộ được nghiên cứu như một vùng
khí hậu nằm trong miền khí hậu phía Nam Tiêu biểu như các công trình:
+ Khí hậu Việt Nam của Phạm Ngọc Toàn và Phan Tất Đắc.
+ Khí hậu và tài nguyên khí hậu Việt Nam của Nguyễn Đức Ngữ
và Nguyễn Trọng Hiệu
+ Phân vùng khí hậu Việt Nam của Nguyễn Hữu Tài + Giáo trình tài nguyên khí hậu của Mai Trọng Thông.
+ Khí tượng – Thời tiết – Khí hậu của Nguyễn Đức Nghĩa.
- Nhóm các nhà Địa lí học: Nam Bộ được nghiên cứu với tư cách là
một khu tự nhiên độc lập Các tác giả đã nghiên cứu về tự nhiên Nam Bộ trên cơ sở phântích các đặc điểm tự nhiên với những mặt thuận lợi và hạn chế, với điểm khác biệt so vớicác khu vực khác trong cả nước Các công trình tiêu biểu như:
+ Địa lí tự nhiên Việt Nam của Vũ Tự Lập
+ Thiên nhiên Việt Nam của Lê Bá Thảo.
+ Địa lí tự nhiên Việt Nam 1, 2 của Đặng Duy Lợi (chủ biên).
+ Sinh khí hậu Việt Nam của Viện Địa Lí, Viện Khoa học & Công
nghệ Việt Nam
+ Địa lí Đồng bằng sông Cửu Long của Lê Bá Thảo.
- Nhóm các nhà khoa học chuyên ngành nghiên cứu khí hậu, thời
tiết như một yếu tố tự nhiên quan trọng quyết định điều kiện hình thành đất và môitrường sinh thái của sinh vật Các tác giả tiêu biểu như: Thái Văn Trừng, Lâm CôngĐịnh, Nguyễn Văn Trương, Tôn Thất Chiểu
6
Trang 13Những công trình nghiên cứu về khí hậu Việt Nam được liệt kê trênđây là chưa thật đầy đủ và chỉ mang tính chất tiêu biểu Tuy nhiên, chúng ta
có thể thấy khí hậu Nam Bộ mới chỉ được nghiên cứu và phản ánh vớinhững đặc điểm chung mang tính khái quát nhất, mà chưa được nghiên cứumột cách cụ thể và chi tiết với tư cách là một thành phần của một miền tựnhiên
5 Những đóng góp của đề tài
- Nghiên cứu các nhân tố và điều kiện hình thành khí hậu Nam Bộ
- Nghiên cứu các đặc điểm khí hậu Nam Bộ và xây dựng bản đồ một số yếu tố khí hậu cơ bản của khu vực Nam Bộ
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn được cấu trúc thành 3 chương:
Chương 1: Các nhân tố hình thành khí hậu Nam BộChương 2: Các đặc trưng của khí hậu Nam BộChương 3: Phân vùng khí hậu Nam Bộ
Trang 14CHƯƠNG 1 CÁC NHÂN TỐ HÌNH THÀNH KHÍ HẬU NAM BỘ
1.1 Bức xạ Mặt trời
1.1.1 Vị trí địa lí
Là vùng đồng bằng rộng lớn nằm ở tận cùng phía Nam của Tổ quốc,lãnh thổ Nam Bộ bao gồm 19 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương: BìnhPhước, Bình Dương, Đồng Nai, Tây Ninh, Bà Rịa – Vũng Tàu và thành phố
Hồ Chí Minh thuộc miền Đông Nam Bộ; và các tỉnh Long An, Tiền Giang,Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Đồng Tháp, Hậu Giang, Sóc Trăng, AnGiang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau và thành phố Cần Thơ thuộc miềnTây Nam Bộ, còn được gọi là Đồng bằng sông Cửu Long Nam Bộ có diệntích tự nhiên là 63.297,5 km2, với tổng số dân là 31.204.258 người (tính đếnngày 01/04/2009)
Nam Bộ nằm trong hệ tọa độ địa lí từ 8034’B đến 12016’B, kinh độ từ
104026’Đ đến 107015’Đ Như vậy, lãnh thổ Nam Bộ trải dài trên 3042’ vĩtuyến (tức khoảng 414 km) và trải rộng 2049’ kinh tuyến (khoảng 345 km)
Về vị trí tiếp giáp, phía Tây giáp vịnh Thái Lan, phía Đông và Nam giápbiển Đông, phía Bắc và Tây Bắc giáp Campuchia, phía Đông Bắc giáp TâyNguyên và Cực Nam Trung Bộ
Vị trí địa lí như vậy đã quy định Nam Bộ nằm hoàn toàn trong vùngnội chí tuyến thuộc bán cầu Bắc, gần xích đạo hơn chí tuyến Trong năm, tất
cả các địa điểm ở Nam Bộ đều có hai lần Mặt Trời lên thiên đỉnh, độ caoMặt Trời ít thay đổi trong năm Nam Bộ có chế độ nhiệt dạng xích đạo, vớihai cực đại ứng với khoảng thời gian Mặt Trời lên thiên đỉnh (gần các ngàyXuân phân (21/3) và Thu phân (23/9)) và hai cực tiểu ứng với thời gian có
độ cao Mặt Trời nhỏ nhất (gần các ngày Hạ chí (22/6) và Đông chí (22/12))
Trang 15Vị trí nội chí tuyến cũng quy định một đặc điểm quan trọng về hoànlưu, đó là sự hiện diện của gió mậu dịch, luồng gió đặc trưng cho vùng nộichí tuyến Mặt khác, do vị trí địa lí của mình, Nam Bộ còn chịu sự chi phối
ưu thế của hoàn lưu gió mùa trong khu vực Đông Nam Á Trong thực tế, hai
cơ chế hoàn lưu này đã phối hợp tác động, khi thì tăng cường, khi thì đối lậpnhau, tạo nên những đặc điểm riêng của hoàn lưu khu vực
Nằm ở tận cùng phía Nam của bán đảo Đông Dương, với ba mặt giápbiển, Nam Bộ chịu ảnh hưởng sâu sắc của biển Đông Toàn vùng có đến9/19 tỉnh thành tiếp giáp với biển, với đường bờ biển dài trên 870 km kéodài từ Bà Rịa – Vũng Tàu đến Hà Tiên (Kiên Giang), và nơi nằm xa biểnnhất là điểm cực Bắc thuộc tỉnh Bình Phước cũng chỉ cách biển Đôngkhoảng 180 km Biển Đông có tác dụng điều hòa khí hậu, làm giảm bớt biên
độ nhiệt độ ngày – đêm cũng như các cực trị của nhiệt độ Hơn nữa, do Nam
Bộ là một vùng đồng bằng rộng lớn và khá bằng phẳng nên ảnh hưởng củabiển có điều kiện xâm nhập sâu vào đất liền, không gây ra nhiều sự khácbiệt khí hậu giữa các vùng gần biển và xa biển
Vị trí địa lí như trên giúp cho Nam Bộ có điều kiện khí hậu ổn địnhhơn cả, ít có thời tiết bất thường, ít có thiên tai so với các vùng khác trênphạm vi cả nước Nam Bộ ít khi có bão, nếu có bão cũng xảy ra muộn (chủyếu vào tháng 11, tháng 12) Bão có sức gió yếu, gây ra mưa nhưng vớicường độ nhỏ hơn so với Bắc Bộ và Trung Bộ Tuy nhiên, bão xuất hiện làmmực nước biển dâng cao, làm úng ngập các khu vực ven biển, gây thiệt hạimùa màng và tình trạng xâm nhập mặn trên diện rộng
1.1.2 Bức xạ Mặt trời
1.1.2.1 Độ cao Mặt trời và số giờ nắng
Nằm trong phạm vi từ vĩ độ 12016’B đến mũi Cà Mau 8034’B, Nam
Bộ được thừa hưởng một chế độ Mặt Trời nhiệt đới, mà tiêu biểu là hiệntượng Mặt Trời lên thiên đỉnh tại mỗi địa phương hai lần trong năm và độcao Mặt Trời ít thay đổi trong năm (Bảng 1.1)
Trang 16Bảng 1.1: Thời gian Mặt Trời lên thiên đỉnh tại một số địa điểm ở Nam Bộ (ngày – tháng )
(Nguồn: Tài liệu thí điểm môn Địa Lí của BGD & ĐT – năm 2003)
Do nằm trong vùng vĩ độ thấp và có hiện tượng Mặt trời lên thiên
đỉnh đầu tiên trong năm (ngày 12/4 tại mũi Cà Mau) nên khoảng cách giữa
hai lần Mặt Trời lên thiên đỉnh ở Nam Bộ rất lớn (tại mũi Cà Mau khoảng
cách đó khoảng 5 tháng từ 12/4 đến 01/9) Khoảng cách ấy sẽ được rút ngắn
khi vĩ độ địa lí tăng lên: 134 ngày tại Sóc Trăng (9036’B), 130 ngày tại Mỹ
Tho (10022’B), 125 ngày tại Tây Ninh (11019’B) Điều này đã dẫn đến một
hệ quả quan trọng trong sự phân hóa chế độ nhiệt của Nam Bộ, với sự xuất
hiện của hai cực đại ứng với những thời gian Mặt Trời lên thiên đỉnh và hai
cực tiểu ứng với thời gian có độ cao Mặt Trời nhỏ nhất (chế độ nhiệt dạng
xích đạo)
Một trong những đặc trưng tiêu biểu của chế độ bức xạ là độ cao Mặt
Trời giữa trưa ngày 15 hàng tháng (Bảng 1.2)
Bảng 1.2: Độ cao Mặt Trời giữa trưa ngày 15 hàng tháng trên các vĩ độ chính (độ, phút)
Trang 17Từ bảng 1.2 cho thấy, Nam Bộ có độ cao Mặt Trời thấp nhất vào
tháng 12, tháng 1 với các giá trị của góc nhập xạ phần lớn không vượt quá
600, cao nhất chỉ đạt 60022’ ở vĩ độ 8034’B Sang tháng 2, tháng 3 độ cao
Mặt Trời tăng dần lên nhưng nhìn chung vẫn còn thấp Mặc dù vậy, thời
gian này Nam Bộ vẫn có độ cao Mặt Trời lớn hơn so với các khu vực khác
trong cả nước Từ tháng 4 đến tháng 9, độ cao Mặt trời ở hầu hết các nơi đều
trên 750 Đặc biệt, tháng 4 và tháng 8 có độ cao Mặt Trời lớn nhất phù hợp
với thời gian Mặt Trời lên thiên đỉnh, phần lớn các nơi đều có giá trị trên
850
Như vậy, với chu kỳ ngày, độ cao Mặt Trời thấp nhất vào sáng sớm
rồi tăng dần, cao nhất vào giữa trưa, sau đó giảm dần và thấp nhất vào chiều
tối Với chu kỳ năm, độ cao Mặt Trời tương đối thấp trong các tháng mùa
đông và tương đối cao trong các tháng mùa hè, cao nhất vào các ngày Mặt
Trời qua thiên đỉnh
Thời gian chiếu sáng cũng biến đổi theo chu kỳ năm tương tự như độ
cao Mặt Trời Thời gian chiếu sáng thường cao vào thời kỳ mùa hè (trên 12h
chiếu sáng trong ngày nhưng không vượt quá 13h), cao nhất vào tháng 6,
tháng 7 Thời gian chiếu sáng thấp vào thời kỳ mùa đông (trên 11h chiếu
sáng mỗi ngày nhưng không vượt quá 12h), thấp nhất vào tháng 12, tháng 1
(Nguồn: Khí hậu và TN khí hậu Việt Nam – Nguyễn Đức Ngữ, Nguyễn Trọng Hiệu)
Số giờ nắng trung bình năm ở Nam Bộ dao động từ 2200 – 2800 giờ
Nơi có số giờ nắng trung bình năm cao nhất là Mộc Hóa 2.797,8 giờ, Tây
Trang 18Ninh 2.777 giờ, Phước Long 2.765,4 giờ…Một số nơi có số giờ nắng trungbình năm thấp hơn cả là Cà Mau 2.262,6 giờ, Côn Đảo 2.318,1 giờ, PhúQuốc 2.340,2 giờ…Theo quy luật chung, số giờ nắng ở Nam Bộ phân bốkhông đều giữa các tháng trong năm Mùa đông nắng nhiều, nhiều nhất vàocác tháng khô hạn cuối mùa (tháng 2,3); mùa hè ít nắng, ít nhất vào cáctháng mưa nhiều giữa mùa (tháng 8,9,10).
Vào mùa đông (từ tháng 11 – tháng 4), phần lớn các địa điểm ở Nam
Bộ đều có số giờ nắng trên 200 giờ/tháng Tháng có số giờ nắng cao nhất làtháng 3 với nhiều nơi có số giờ nắng trên 300 giờ/tháng (Bạc Liêu 314 giờ,Càng Long 309 giờ, Mỹ Tho 307 giờ…), và đây chính là thời kỳ cao điểmcủa mùa khô
Vào mùa hạ (từ tháng 5 – tháng 10), tất cả các địa điểm ở Nam Bộđều có số giờ nắng trên 120 giờ/tháng, nhưng thường không vượt quá 200giờ/tháng (thấp nhất là 126 giờ ở Phú Quốc) Riêng tháng 5 – tháng đầu mùa
hạ, số giờ nắng ở phần lớn các địa điểm đều trên 200 giờ, thấp nhất cũng đạt
172 giờ ở Cà Mau Thời kỳ này có số giờ nắng nhỏ hơn so với mùa đông vì
có liên quan đến số ngày có nhiều mây, số ngày mưa và lượng mưa vào giữa
và cuối mùa hạ
Với quan niệm “mùa nắng” là thời gian có số giờ nắng trung bình
trên 100 giờ/tháng thì Nam Bộ có mùa nắng kéo dài quanh năm[19] Đặcbiệt, nhiều nơi có từ 5 đến 10 tháng có số giờ nắng trên 200 giờ xảy ra trongnăm (Mộc Hóa 10 tháng, Tây Ninh 9 tháng, Cao Lãnh 9 tháng…) (Bảng1.4)
Trang 19Bảng 1.4: Số giờ nắng trung bình tháng và năm tại một số địa điểm ở Nam Bộ (giờ)
Tháng
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Trạm
Biên Hòa 266.7 255 283 259 234 161 194.3 183 169.7 211 197.4 236 2.650,3 Phước Long 301.9 272 285 244 254 162.7 206.5 160 175.2 195 246 261.9 2.765,4 Đồng Phú 279.3 252 273 239 253 165.3 197 169 175.9 196 222.1 240.4 2.661,3
Sở Sao 271 262 291 257 228 173 205.6 180 179.7 203 209 241 2.699,3 Tây Ninh 280.9 260 280 256 253 172.4 201.6 193 197 206 228.5 248.6 2.777,0 Tân Sơn Nhất 244.5 246 272 239 195 171.2 180.4 172 162 182 200.4 222.7 2.488,9 Vũng Tàu 264.3 261 293 274 239 179 221.3 198 185.2 190 215.9 230.2 2.750,3 Côn Đảo 205.2 222 264 268 214 162.1 180.1 172 155.4 155 155.4 163.9 2.318,1 Mộc Hóa 274.8 264 288 248 235 168.1 211.5 199 200.3 217 240.5 251.1 2.797,8
Ba Tri 251.6 265 300 265 227 147.8 193 175 168.7 178 209.4 206.6 2.587,4 Càng Long 256.6 271 309 272 216 158.1 200.6 170 165.3 181 215.3 218.1 2.633,1
Mỹ Tho 270.2 273 307 273 222 158.8 213.2 198 177 180 225 218.5 2.715,0 Cần Thơ 257.2 248 288 264 213 176.7 185.3 179 166.8 176 189.6 208.3 2.551,3 Sóc Trăng 244.9 257 272 247 184 148.8 170 158 146.2 165 201.2 205.8 2.399,6 Cao Lãnh 273.4 261 296 259 231 160.6 207.1 188 186.3 201 221.2 233.2 2.717,9 Phú Quốc 249.4 227 271 250 203 128.5 158.5 126 135.1 173 183.8 236 2.340,2 Rạch Giá 232.9 222 241 234 204 166.9 177.9 162 164.3 179 200.9 224.1 2.409,3 Châu Đốc 281.8 256 293 238 232 161.5 207.6 183 193.2 211 224.6 249.8 2.732,0 Bạc Liêu 245.4 262 314 270 209 140.6 191.4 162 159.7 172 197 201.1 2.523,0
Cà Mau 237.4 235 252 225 172 142 160.4 150 146.4 156 185.6 200.8 2.262,6
(Nguồn: Số liệu khí hậu Việt Nam – Chương trình 42A)
Như vậy, độ cao Mặt Trời, thời gian chiếu sáng và số giờ nắng là những
yếu tố thể hiện rõ nét chế độ bức xạ nội chí tuyến của khu vực Nam Bộ Và
theo quy luật chung, độ cao Mặt trời càng lớn, thời gian chiếu sáng trong ngày
càng dài, số giờ nắng trong năm càng nhiều thì lượng bức xạ tổng cộng nhận
Trang 20năng lượng, từ đó làm cơ sở đánh giá cán cân bức xạ mà còn là một trongnhững cơ sở để xác định mùa mưa, mùa khô của khí hậu Nam Bộ.
1.1.2.2 Bức xạ tổng cộng
Trong điều kiện vĩ độ thấp, quanh năm độ dài ban ngày đều lớn, lại cóthêm một mùa khô kéo dài từ 5 – 6 tháng trong điều kiện trời quang mây,nên Nam Bộ có khả năng nhận được một lượng bức xạ Mặt Trời rất
13
Trang 21lớn Đại bộ phận lãnh thổ Nam Bộ đều có lượng bức xạ tổng cộng thực tế
trung bình năm ( − ) trên 140 kcal/cm2/năm, thậm chí có nơi trên 160
Mỹ Tho 14 14.5 14 15.3 13.9 12.5 12.7 12.3 11.9 12.5 12.4 13 162.0 Bến Tre 14.5 14.2 14.6 15.1 13.6 12.5 12.5 12.3 11.7 12.5 12.2 12.6 160.0 Tân An 13.9 14.3 16.8 15.3 13.9 12.3 12.8 12.3 11.7 12.4 12.4 12.7 160.8 Cần Thơ 13.5 13.8 16.2 14.7 13.4 12.2 12.5 12.3 11.7 12.3 12.1 12.3 157.0 Rạch Giá 12.7 12.7 14.7 14.2 13.2 11.8 12 11.9 11.7 12.1 11.7 12.1 150.9
Cà Mau 14 16.4 13.8 12 10.9 11.5 11.2 11.1 11.1 11.3 11.3 11.6 148.1
(Nguồn: Địa lí tự nhiên Việt Nam 2 – Đặng Duy Lợi)
−
Mặc dù có lượng bức xạ tổng cộng thực tế trung bình năm ( Q ) cao hơn
so với phần lớn các khu vực khác trong cả nước, nhưng so với vùng cực Nam
−
Trung Bộ thì Nam Bộ có lượng bức xạ tổng cộng thực tế trung bình năm ( Q
) thấp hơn (ở Ninh Thuận, Bình Thuận trên 180 kcal/cm2/năm) Lượng bức
xạ tổng cộng thực tế dồi dào của dải ven biển cực Nam Trung Bộ có liên
quan đến điều kiện ít mây, ít mưa của vùng này
Bức xạ tổng cộng có sự thay đổi theo biến trình năm khá rõ rệt Biến
trình năm của bức xạ tổng cộng vừa thể hiện quy luật biến đổi của điều kiện
thiên văn, vừa chịu ảnh hưởng của cơ chế hoàn lưu gió mùa
Trên tất cả các địa điểm thuộc Nam Bộ (với khoảng cách giữa hai lần
Mặt Trời lên thiên đỉnh cách xa nhau, vào sau Xuân phân và trước Thu
phân) có lượng bức xạ tổng cộng tương đối cao vào nửa sau mùa đông – nửa
Trang 22kcal/cm2/tháng, Tân An 16,8 kcal/cm2/tháng…); tương đối thấp vào nửa saumùa hè – nửa đầu mùa đông, thấp nhất vào các tháng 8,9,10 (ở TP Hồ
14
Trang 23Chí Minh 13,0 kcal/cm2/tháng, Cần Thơ 11,7 kcal/cm2/tháng…) Điều này
có liên quan chủ yếu đến lượng mây khá lớn trong các tháng mùa mưa ở khuvực Nam Bộ (lượng mây trung bình trong các tháng mùa mưa ở Nam Bộđều trên 7/10 bầu trời, trong khi các tháng mùa khô lượng mây trung bìnhchỉ đạt từ 4 – 6/10 bầu trời )
Biên độ trung bình năm của bức xạ tổng cộng (chênh lệch giữa thángcao nhất và tháng thấp nhất) ở Nam Bộ khoảng 3 – 7 kcal/cm2/năm (TP HồChí Minh 6,8 kcal/cm2/năm, Cần Thơ 4,5 kcal/cm2/năm…) Như vậy, biên
độ năm của bức xạ tổng cộng ở Nam Bộ gần tương đương với vùng Tây Bắc(khoảng 6 – 8 kcal/cm2/năm), nhưng lại thấp hơn so với các khu vực khác(vùng Đông Bắc, đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, TâyNguyên có biên độ năm của bức xạ tổng cộng lên đến 7 – 12 kcal/cm2/năm)
1.1.2.3 Cán cân bức xạ
Cán cân bức xạ là đại lượng đặc trưng cho khả năng thu và chi nănglượng của mặt đất Cán cân bức xạ một mặt phản ánh các đặc điểm vĩ độ vàchế độ Mặt Trời, nhưng mặt khác lại phụ thuộc chặt chẽ vào tính chất của bềmặt đệm Vì vậy, các trị số của cán cân bức xạ biến đổi trong những giớihạn khá rộng rãi, tùy mùa và tùy nơi
Ở Nam Bộ, do có độ cao Mặt Trời lớn, thời gian chiếu sáng đồng đều, sốgiờ nắng trong năm lớn, có mùa khô kéo dài và đặc biệt không chịu ảnh hưởng của giómùa cực đới trong mùa đông nên có cán cân bức xạ khá
cao và các giá trị đều đạt trên 75 kcal/cm2/năm (TP Hồ Chí Minh 90,4 kcal/
cm2/năm, Cần Thơ 77,6 kcal/cm2/năm…) Như vậy, cán cân bức xạ củaNam Bộ cao hơn hẳn so với chỉ tiêu cán cân bức xạ của khí hậu nhiệt đới(75 kcal/cm2/năm) (Bảng 1.6)
Trang 24Bảng 1.6: Cán cân bức xạ trung bình tháng và năm ở TP Hồ Chí Minh và Cần Thơ (kcal/cm 2 )
Tháng
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Trạm
Tân Sơn Nhất 7.2 8.2 9.8 9.1 7.8 6.8 7.9 7.2 6.2 7.2 6.2 6.8 90.4 Cần Thơ 6.5 7.2 8.6 8 6.3 5.6 6.1 5.7 5.9 5.4 5.7 6.6 77.6
(Nguồn: Số liệu khí hậu Việt Nam – Chương trình 42A)
Cũng như bức xạ tổng cộng, biến trình năm của cán cân bức xạ chịuảnh hưởng chủ yếu của điều kiện thiên văn Nam Bộ có cán cân bức xạ
tương đối cao trong các tháng giữa và cuối mùa đông; tương đối thấp trong
các tháng cuối mùa hè, đầu mùa đông Mặc dù biến trình năm của cán cân
bức xạ ở Nam Bộ không thể hiện rõ rệt nhưng cũng quan sát thấy có hai cực
đại và hai cực tiểu: cực đại chính vào tháng 3 và cực đại phụ vào tháng 7;
hai cực tiểu rơi vào tháng 12 và tháng 6 (phù hợp với thời gian Mặt Trời
đang ở vị trí xa nhất trên các vĩ độ Nam Bộ) Vào tháng 3, tháng 4, trong khi
Nam Bộ có trị số cán cân bức xạ khá cao (8 –
10 kcal/cm2/tháng) thì các khu vực phía Bắc (gồm Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ) cótrị số cán cân bức xạ khá thấp (2 – 7 kcal/cm2/tháng) Sở dĩ như vậy là vì Nam Bộ đangtrong giai đoạn trước hoặc sau Mặt Trời lên thiên đỉnh lần thứ nhất, đồng thời là cuốimùa khô, trong khi ở miền Bắc đang trong giai đoạn độ cao Mặt Trời còn khá thấp, đồngthời là nửa cuối mùa đông thường có nhiều ngày mưa phùn
Biên độ trung bình năm của cán cân bức xạ ở Nam Bộ tương đối thấp,vào khoảng 3 – 6 kcal/cm2 (TP Hồ Chí Minh 3,6 kcal/cm2, Cần Thơ
3,2 kcal/cm2…); thấp hơn so với các khu vực khác với giá trị lên đến 6 – 8
kcal/cm2 (Đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Bắc Tây
Nguyên và phần Đông của Đông Bắc)
Như vậy, có thể khẳng định rằng cán cân bức xạ ở Nam Bộ khôngnhững cao mà còn khá đồng đều giữa các tháng Trong khi đó cán cân bức
xạ ở phía Bắc vừa thấp vừa có biên độ lớn, rất thấp trong các tháng
Trang 25mùa đông, thấp nhất vào nửa sau của mùa này do ảnh hưởng của thời tiếtmưa phùn.
1.2 Hoàn lưu khí quyển
Là vùng đất nằm ở tận cùng phía Nam của Tổ quốc, không nằm ngoàiquy luật chung, lãnh thổ Nam Bộ vừa nằm trong phạm vi ảnh hưởng của giómậu dịch đặc trưng cho vùng nội chí tuyến, vừa chịu ảnh hưởng của hoànlưu gió mùa trong khu vực Đông Nam Á Trong thực tế, hai cơ chế hoàn lưunày đã phối hợp tác động, khi thì tăng cường, khi thì đối lập nhau, tạo nênnhững đặc điểm riêng biệt của hoàn lưu khu vực, đem lại những hệ quả khíhậu không giống với các khu vực khác, ngay cả những khu vực thuộc vùngĐông Nam Á nói chung và phần Bắc của lãnh thổ nước ta nói riêng
Như đã biết, tiêu biểu cho hoàn lưu trong khu vực nội chí tuyến là giómậu dịch Gió mậu dịch thổi tới lãnh thổ Việt Nam nói chung và Nam Bộnói riêng là gió mậu dịch xuất phát từ rìa phía Tây Nam của áp cao chí tuyếnThái Bình Dương, mang theo khối không khí tương đối nóng và ẩm, do nó
đã đi qua một chặng đường dài trên vùng biển nhiệt đới Gió mậu dịch thổiđến khu vực Nam Bộ có hướng Đông Bắc, trùng với hướng gió mùa mùađông nhưng có tính chất khác hẳn Với tính chất là một thứ gió thổi đều đặnmang theo khối không khí nhiệt đới chí tuyến, gió mậu dịch quy định mộtchế độ thời tiết rất ổn định, với đặc trưng nóng khô là chủ yếu Tuy nhiên,nếu gặp những điều kiện thời tiết thuận lợi, gió mậu dịch có thể mang lạimưa và thời tiết xấu
Vào mùa đông, ở Nam Bộ, gió mùa mùa đông và hoàn lưu gió mậudịch bán cầu Bắc đã mang lại một loại hình thời tiết nóng khô rất ổn định
Ở đây, không khí cực đới “không đủ sức” tràn về nên cũng không quan sát được
frônt cực đới, mặt khác dải hội tụ nhiệt đới lúc này lại đang hoạt động ở bán cầu Nam nênNam Bộ thiếu đi các nhiễu động gây mưa trong mùa đông Riêng những cơn mưa vàođầu mùa đông (tháng 11, tháng 12), phần
Trang 26lớn do chịu ảnh hưởng của những nhiễu động và ảnh hưởng của các cơn bãomuộn cuối mùa hạ.
Ngược lại, vào mùa hạ gió mậu dịch bán cầu Bắc chỉ phát huy tácdụng khi gió mùa mùa hạ suy yếu Đặc biệt, khi gió mậu dịch bán cầu Bắchoạt động có hướng đối diện với gió mùa Tây Nam (khối không khí nhiệtđới vịnh Bengan và khối không khí xích đạo) và nơi xảy ra sự hội tụ mạnh
mẽ của chúng là dải hội tụ nhiệt đới – tác nhân gây mưa chủ yếu trong mùa
hạ ở Nam Bộ Hơn nữa, dọc theo dải hội tụ nhiệt đới thường xuất hiệnnhững vùng gió xoáy, đôi khi mạnh lên thành bão gây ảnh hưởng trên mộtdiện khá rộng
Như vậy, gió mậu dịch bán cầu Bắc không còn là nhân tố thườngxuyên chi phối khí hậu Nam Bộ, mà chỉ phát huy tác dụng có điều kiện bêncạnh một nhân tố quan trọng hơn là gió mùa Áp cao chí tuyến Bắc TháiBình Dương, trung tâm tác động chủ yếu của gió mậu dịch trong khu vựcnày bị đẩy lùi về phía Đông (gần bờ biển Châu Mỹ), và chỉ trong những điềukiện thuận lợi nào đó mới lấn về phía Tây thành một lưỡi áp cao ảnh hưởngtới khu vực Đông Nam Á Thật vậy, vào mùa đông Nam Bộ chịu sự khốngchế thường xuyên của khối khí nhiệt đới biển Đông Trung Hoa (Tp), đây là
khối khí vừa được “nhiệt đới hóa” trên vùng biển Đông Trung Quốc Ngược
lại vào mùa hạ, ở Nam Bộ thống trị là luồng gió mùa mùa hạ mang theo cáckhối khí nóng ẩm là khối khí nhiệt đới vịnh Bengan (TBg) và khối khôngkhí xích đạo (Em) Gió mậu dịch bán cầu Bắc chỉ phát huy tác dụng khi giómùa mùa đông hoặc gió mùa mùa hạ suy yếu
1.2.1 Hoàn lưu mùa đông
Do nằm ở vùng vĩ độ thấp và chịu ảnh hưởng của bức chắn địa hình(các khối núi lan ra sát biển và có hướng Tây Bắc – Đông Nam của dãyTrường Sơn), Nam Bộ hầu như không chịu ảnh hưởng của gió mùa cực đớitrong mùa đông Có thể nói, vĩ độ 160B (dãy Bạch Mã) là giới hạn ảnh
Trang 27hưởng sâu nhất về phía Nam của khối không khí cực đới ở Việt Nam nóiriêng và khu vực Đông Nam Á nói chung.
Vào mùa đông, Nam Bộ vừa chịu ảnh hưởng của khối không khí nhiệtđới biển Đông Trung Hoa (Tp), vừa chịu ảnh hưởng của hoàn lưu gió mậudịch có nguồn gốc từ rìa của áp cao chí tuyến Tây Thái Bình Dương Mặc
dù về bản chất, khối không khí nhiệt đới biển Đông Trung Hoa có nhiều néttương đồng so với khối không khí nhiệt đới biển Thái Bình Dương, nhưng
về nguồn gốc lại khác hẳn, nó không xuất phát từ rìa áp cao chí tuyến TháiBình Dương mà có nguồn gốc là khối không khí cực đới Xibia đã bị biếntính trở nên ấm và ẩm hơn do tồn tại lâu ngày trên vùng biển Đông TrungQuốc; tuy vậy có nhiệt độ và độ ẩm thấp hơn chút ít so với không khí nhiệtđới biển thuần túy Nhiệt độ trung bình của khối không khí này là 18 – 200C(thấp nhất 14 – 150C) và độ ẩm tương đối thay đổi phụ thuộc vào khốikhông khí cực đới có nguồn gốc lục địa (NPc đất) hay khối không khí cựcđới di chuyển qua biển (NPc biển): khoảng 80 – 85% nếu là NPc đất và 90%nếu là NPc biển Càng đi về phía Nam, nhiệt độ và độ ẩm không khí càngtăng, tạo nên sự chênh lệch nhiệt độ tới 20C và độ ẩm tương đối tới 5% giữaNam Bộ và Bắc Bộ
Nếu như ở phía Bắc, khối không khí nhiệt đới biển Đông Trung Hoachỉ phát huy ảnh hưởng khi gió mùa cực đới suy yếu, thì ở Nam Bộ khối khínày chiếm ưu thế rõ rệt và chính nó chi phối mùa đông ở khu vực này Tuynhiên, vào những tháng đầu và cuối mùa đông, khối khí này thường hoạtđộng xen kẽ với hoàn lưu gió mậu dịch và hệ quả thời tiết mà chúng gây rathường khá đồng nhất, đến mức khó có thể phân biệt hai khối khí này ởNam Bộ
Nói chung, khối khí nhiệt đới biển Đông Trung Hoa khi tràn tới Nam
Bộ là một khối khí ấm và ẩm, khá ổn định, mang lại thời tiết nắng nóng, ítmây và tạnh ráo, thậm chí gây khô hạn nghiêm trọng trong các tháng mùađông ở khu vực này Trong trường hợp có những điều kiện động lực thuận
Trang 28lợi (rãnh thấp, các xoáy thuận, dải hội tụ…), khối khí nhiệt đới biển ĐôngTrung Hoa cũng có khả năng gây mưa đáng kể, đôi khi có cả dông trongthời kỳ mùa đông.
1.2.2 Hoàn lưu mùa hạ
Vào mùa hạ, ở Nam Bộ có thể phân biệt được hai luồng gió mùa mùa
hạ Một luồng từ phía Tây thổi tới là khối không khí nhiệt đới vịnh Bengan(TBg), hoạt động chủ yếu vào các tháng đầu mùa hạ; luồng phía Nam làkhối không khí xích đạo (Em) xuất phát từ áp cao Nam Thái Bình Dươngthổi lên, hoạt động mạnh vào các tháng giữa và cuối mùa hạ Nhìn chung, đóđều là những luồng không khí có nguồn gốc từ vùng biển xích đạo và nhiệtđới nên có nhiệt độ cao và lượng ẩm rất lớn
1.2.2.1 Khối không khí nhiệt đới vịnh Bengan (TBg)
Là luồng phía Tây của gió mùa mùa hạ ở Nam Bộ, khối khí nhiệt đớivịnh Bengan có thể phát sinh ngay trong khu vực biển Bắc Ấn Độ Dương,nhưng cũng có thể là gió mậu dịch bán cầu Nam xuất phát từ áp cao Nam
Ấn Độ Dương vượt xích đạo đi lên, nên mang đầy đủ những thuộc tính nóng
ẩm của không khí nhiệt đới biển Khối khí này có nhiệt độ trung bình từ 25– 270C, độ ẩm tuyệt đối 20g/m3, và độ ẩm tương đối khoảng 85% So vớikhối không khí xích đạo, khối khí nhiệt đới vịnh Bengan có nhiệt độ và độ
ẩm thấp hơn
Khối khí nhiệt đới vịnh Bengan hoạt động ở Nam Bộ chủ yếu vào cáctháng đầu mùa hạ (tháng 5,6), với tần suất đạt trên dưới 40% Nhưng từtháng 7 trở đi, khối khí này đã bị suy yếu và nhường địa vị ưu thế cho luồngphía Nam là khối không khí xích đạo, tần suất của nó thường chỉ đạt dưới20%
trải qua một quá trình biến tính nào, nên vẫn giữ nguyên các thuộc tính nóng và ẩm củakhông khí nhiệt đới biển Nguyên nhân là do Nam Bộ có địa hình khá bằng phẳng và khốikhí này chỉ phải di chuyển qua một dải
Trang 29đất hẹp bên phía Thái Lan và Campuchia trước khi đến với Nam Bộ Vớithuộc tính nóng ẩm, không khí nhiệt đới biển vịnh Bengan thường mang lạithời tiết nóng bức, kèm theo mưa dông nhiệt đầu mùa hạ Đặc biệt, khi gặpđiều kiện nhiệt động lực thuận lợi luồng gió mùa phía Tây có thể mang lạimưa lớn trên một diện rộng.
Không giống như ở Nam Bộ, khối khí nhiệt đới vịnh Bengan thổi đếnvùng duyên hải Trung Bộ, Tây Bắc (đôi khi cả Bắc Bộ) đã trải qua một quátrình biến tính rất mạnh mẽ, do phải di chuyển qua bề mặt đất liền khá rộnglớn của phần Tây bán đảo Đông Dương Kết hợp với địa hình núi cao, khốikhí này đã gây ra hiệu ứng phơn với thời tiết nóng và khô rất đặc trưng ởvùng duyên hải Trung Bộ và Tây Bắc nước ta
1.2.2.2 Khối không khí xích đạo (E m )
Xuất phát từ vùng áp cao Nam Thái Bình Dương ở bán cầu Nam, khốikhông khí xích đạo vượt qua xích đạo thổi đến Nam Bộ và trở thành giómùa Tây Nam chính thức So với không khí nhiệt đới vịnh Bengan, khôngkhí xích đạo có nhiệt độ và độ ẩm lớn hơn (nhiệt độ trung bình từ 26
– 300C, độ ẩm tương đối từ 85 – 95%)
Khối không khí xích đạo hoạt động ở Nam Bộ trong suốt mùa hạ, vàođầu mùa thường hoạt động xen kẽ với khối khí nhiệt đới vịnh Bengan và cótần suất nhỏ, nhưng từ tháng 7 trở đi khối khí này đã chiếm ưu thế rõ rệt vàchi phối mùa hạ ở khu vực này Ở Nam Bộ, sự phân biệt giữa hai khối khínày không rõ rệt vì đều có nguồn gốc từ biển, không tìm thấy sự chênh lệchnhiệt độ đáng kể giữa thời gian đầu mùa hạ (chịu ảnh hưởng của không khínhiệt đới vịnh Bengan) và thời gian cuối mùa hạ (chịu ảnh hưởng của khốikhí xích đạo)
Khối không khí xích đạo thường hoạt động trong điều kiện có rãnhthấp nội chí tuyến, bão…nên thường mang lại thời tiết xấu, nhiều mây và cómưa lớn Có thể nói, không khí xích đạo là nguồn cung cấp ẩm chủ yếu,
Trang 30góp phần vào việc tạo thành lượng mưa mùa hạ, đặc biệt là những trườnghợp mưa lớn kéo dài.
Ngoài ra, trong mùa hạ bên cạnh các luồng gió mùa Tây Nam chiếm
ưu thế rõ rệt thì ở phía Đông, trên biển Đông đôi khi vẫn có sự hoạt độngcủa gió mậu dịch bán cầu Bắc xuất phát từ rìa của áp cao Thái Bình Dươngthổi tới, với hướng gió Đông Bắc ở khu vực này
Như vậy, trong mùa hạ Nam Bộ vừa chịu ảnh hưởng của hai luồnggió mùa mùa hạ (khối khí nhiệt đới vịnh Bengan và khối không khí xíchđạo), vừa chịu ảnh hưởng của hoàn lưu gió mậu dịch bán cầu Bắc (khối khínhiệt đới biển xuất phát từ rìa của áp cao Thái Bình Dương), và sự hội tụgiữa chúng đã tạo nên một dạng nhiễu động quan trọng trong mùa hạ là dảihội tụ nhiệt đới – tác nhân gây mưa chủ yếu trong mùa hạ Trong nhiễu độngnày, các khối không khí nóng ẩm liên tục được bốc lên cao, nhiệt độ giảm đirất nhanh tạo điều kiện ngưng tụ hơi nước và gây ra mưa lớn kéo dài Đặcbiệt, dọc theo dải hội tụ nhiệt đới thường xuất hiện những vùng gió xoáy,đôi khi phát triển mạnh lên thành áp thấp nhiệt đới (có sức gió tới cấp 6) vàbão (có sức gió trên cấp 6 – 7) gây ảnh hưởng trên một diện khá rộng
Tóm lại, do đặc điểm về hoàn cảnh địa lí, gió mùa hoạt động ở khuvực Nam Bộ nói riêng và ở Việt Nam nói chung không thuộc về một cơ chếthuần nhất Nó được tạo thành từ nhiều trung tâm tác động khác nhau,thường xuyên tranh chấp với nhau Trong mối quan hệ phức tạp với hoànlưu gió mậu dịch, gió mùa đã tạo thành một hình thái khí hậu độc đáo ởNam Bộ với đặc điểm nổi bật nhất là sự phân hóa thành hai mùa mưa vàmùa khô khá rõ rệt, tương ứng với sự thống trị của các khối khí theo mùa.Nếu như vào mùa đông, điều kiện hoàn lưu tương đối đồng nhất về tính chấtnhiệt đã quy định tính ổn định khá cao trong chế độ nhiệt của Nam Bộ, thìvào mùa hạ, chính hoàn lưu gió mùa với những nhiễu động gây mưa (bão,dải hội tụ nhiệt đới, dông…) xảy ra thất thường trong quá trình mùa
Trang 31cũng như từ năm này qua năm khác lại là nguyên nhân gây nên những biếnđộng mạnh mẽ trong chế độ mưa của khu vực này.
1.3 Đặc điểm bề mặt đệm
Nếu như điều kiện bức xạ và hoàn lưu gió mùa nhiệt đới đã quy địnhnhững đặc điểm cơ bản của khí hậu Nam Bộ là có một nền nhiệt độ cao ổnđịnh, với một chế độ mưa ẩm phong phú và phân hóa theo mùa sâu sắc, thìđiều kiện bề mặt trong sự tác động qua lại mật thiết với các nhân tố trên đãđem lại những khác biệt về đặc điểm khí hậu giữa các khu vực khác nhau,
tạo nên một “bức tranh” phân hóa khí hậu đa dạng trên vùng đồng bằng
rộng lớn này
1.3.1 Địa hình
Nam Bộ là vùng đồng bằng rộng lớn nằm ở tận cùng phía Nam củađất nước, trải dài từ rìa các cao nguyên Nam Trung Bộ đến tận mũi Cà Mau.Lãnh thổ Nam Bộ bao gồm 2 bộ phận có độ cao khác nhau là đồng bằng caoĐông Nam Bộ và đồng bằng châu thổ sông Cửu Long Ranh giới giữa chúng
là một đường tương đối thẳng chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, từTây Ninh qua thành phố Hồ Chí Minh, men theo rìa Bắc của châu thổ sôngĐồng Nai rồi chấm dứt ở Phước Lễ, tương ứng với giới hạn phân bố của phù
sa cổ
Về mặt địa hình, Đông Nam Bộ nằm trong vùng chuyển tiếp giữa cácvùng Tây Nguyên, duyên hải Nam Trung Bộ và đồng bằng sông Cửu Long.Miền này nằm ngay dưới chân các cao nguyên Bảo Lộc – Di Linh, chạy dài
từ Tây Ninh đến Bà Rịa – Vũng Tàu, rìa phía Nam thoai thoải và thấp dầnxuống đồng bằng châu thổ sông Cửu Long Toàn miền có diện tích tự nhiên
là 23.563,5 km2, với độ cao trung bình từ vài chục mét tới khoảng 200m,bao gồm hai bậc địa hình có độ cao khác nhau: bán bình nguyên đất đỏbadan ở phía Bắc có độ cao từ 50 – 200m và đồng bằng thềm phù sa cổ ởphía Nam có độ cao 25 – 50m Hai bậc địa hình này chạy
Trang 32song song theo hướng Tây Bắc – Đông Nam và dốc nghiêng từ Đông Bắcxuống Tây Nam.
Các cao nguyên đất đỏ badan trải ra thành những khoảnh rộng (ở cáctỉnh Đồng Nai và Bình Phước), phủ lên trên nền đá granit cổ bị sụt lún Đâykhông phải là một vùng núi mà là một bề mặt bán bình nguyên, các lõmtrũng của địa hình nguyên thủy được lấp đầy bởi dung nham của núi lửa,làm tăng tính chất bằng phẳng của nó
Đồng bằng thềm phù sa cổ ở phía Nam chạy dài từ Tây Ninh đến BàRịa – Vũng Tàu (nơi tiếp giáp với đồng bằng sông Cửu Long) có địa hìnhkhá thoải, lớp phù sa cổ chẳng khác gì một tấm chăn trùm lên nền đá phiến
và đá cát kết (tuổi Triat và Jura) Phù sa cổ thấy rõ ràng nhất ở hạ lưu sôngĐồng Nai, xung quanh Hố Nai, Long Bình, Thủ Đức dưới dạng những đồicao đến 100m thoải, rộng và hạ thấp dần về phía TP Hồ Chí Minh TheoE.Xôranh, chính sông Mê Công trước kia khi chảy qua miền này là nhân tốchính cấu tạo nên các bậc thềm ấy
Vùng đất cao Đông Nam Bộ khi ra đến gần biển thì bị ngăn cách ởphía Nam với châu thổ sông Đồng Nai bởi hàng loạt những ngọn núi ở BàRịa – Vũng Tàu: núi Bao Quan (529m), núi Thị Vải (461m), núi Đá Đựng,núi Điện Bà và Hòn Chóp Mao (338m) Đặc biệt, trên lãnh thổ Đông Nam
Bộ còn tồn tại nhiều ngọn núi có độ cao gần 1000m như núi Chứa Chan(839m) ở Đồng Nai, núi Bà Rá (736m) ở Bình Phước, núi Bà Đen (936m)
ở Tây Ninh…Ngoài ra, ở Đông Nam Bộ còn có dạng địa hình đầm lầy là các bãitriều ngập mặn ven biển thuộc các cửa sông Đồng Nai, sông Sài Gòn và sông Thị Vải
Về phương diện địa hình, Đông Nam Bộ không bị ngập nước trongmùa mưa nên rất thuận lợi cho việc sản xuất nông nghiệp cơ giới hóa, trồngcác loại cây chịu khô và các cây công nghiệp, cây ăn quả lâu năm…
Tiếp giáp với vùng đất cao Đông Nam Bộ là châu thổ sông Cửu Long.Đây là vùng đồng bằng được hình thành do quá trình bồi đắp phù
24
Trang 33sa của sông Mê Công, nên có địa hình thấp và khá bằng phẳng, độ cao trungbình khoảng 2m so với mặt nước biển Có thể nhận thấy, bề dày của lớp phù
sa mới càng ra phía biển càng lớn, ở Nam châu thổ dày hơn
ở phía Bắc châu thổ (ở TP Hồ Chí Minh bề dày đó chỉ khoảng vài mét, nhưng
nó đã đạt 20m ở Long An, 70m ở Mỹ Tho, 110m ở Bạc Liêu, 200m ở Cà Mau…)
Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích tự nhiên khoảng 40.000 km2,trong đó có 15.000 km2 bị phèn, hơn 10.000 km2 bị ngập lũ hàng năm Địahình bề mặt châu thổ với nhiều vùng đất trũng lầy bùn (Đồng Tháp Mười, tứgiác Long Xuyên, U Minh…) và hàng loạt các cồn cát duyên hải Các vùngtrũng này thường bị ngập nước trong mùa mưa, mùa lũ thường bị ngập sâutới 2 – 3m Về phía cực Tây (An Giang, Kiên Giang), lẻ tẻ nhô lên vài ngọnnúi thấp kế tiếp với dãy Con Voi trên lãnh thổ Campuchia, tiêu biểu như:núi Cấm (705m), núi Cô Tô (614m), núi Dài (554m)…
Do có địa hình thấp và khá bằng phẳng nên đồng bằng sông CửuLong thoát lũ chậm vào mùa mưa, đôi khi còn làm ngập úng cả một vùng
rộng lớn hàng chục nghìn km2 và gây nhiều thiệt hại cho mùa màng Ngượclại, vào mùa khô nước mặn lại có điều kiện xâm nhập sâu vào đất liền từ 20– 65km, ảnh hưởng đến hơn một triệu hecta đất ven biển Thêm vào đó, do
sự bồi tụ không đều nhau nên bề mặt đồng bằng còn có sự phân hóa thànhcác vùng cao thấp khác nhau như vùng trũng Đồng Tháp Mười, tứ giácLong Xuyên…và vùng đất cao giữa sông Tiền, sông Hậu
Hiện nay, bề mặt đồng bằng sông Cửu Long vẫn còn tiếp tục đượcphù sa mùa lũ bồi đắp hàng năm, riêng mũi Cà Mau hàng năm lấn ra biểntrung bình từ 60 – 80m Tuy nhiên, cũng cần phải nói rằng ở bờ biển Nam
Bộ không phải nơi nào cũng được bồi tụ phù sa, mà ở một số nơi bờ biển bịsạt lở do tác dụng phá hủy của sóng biển và thủy triều (tiêu biểu như ở CàMau từ xóm Rạch Gốc đến cửa sông Gành Hào, vùng biển Trà Vinh thuộccác huyện Cầu Ngang và huyện Duyên Hải…) Hơn nữa, cùng với việc xây
25
Trang 34dựng ngày càng nhiều các đập thủy điện lớn ở vùng thượng nguồn sông MêCông của các quốc gia trong vùng, đã có tác dụng làm ngăn chặn và giảmbớt lượng phù sa tràn về bồi đắp cho vùng đồng bằng trù phú này Hậu quả
là đất đai ngày càng bị xấu đi, môi trường sống của nhiều loài sinh vật bịhủy hoại và ảnh hưởng lớn đến các hoạt động sản xuất cũng như sinh hoạtcủa nhân dân trong vùng
Như vậy, có thể khẳng định rằng Nam Bộ là một vùng đồng bằngrộng lớn và bằng phẳng, đồng thời ít bị chia cắt nhất ở nước ta, với hai bậcđịa hình có độ cao khác nhau là đồng bằng cao Đông Nam Bộ và đồng bằngchâu thổ sông Cửu Long Sự đồng nhất về mặt địa hình tạo điều kiện cho sựđồng nhất tương đối về đặc điểm khí hậu giữa các khu vực khác nhau trongvùng, đặc biệt là trong chế độ nhiệt
1.3.2 Thủy văn
Thủy văn là một thành phần rất quan trọng của tự nhiên, nó có tácđộng sâu sắc và cũng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của tự nhiên cũng như mọimặt hoạt động của đời sống con người Nó trực tiếp tham gia vào vòng tuầnhoàn vật chất và năng lượng trong các cảnh quan tự nhiên Ở Nam Bộ, đặcđiểm thủy văn phản ánh rõ nét tính chất khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, vớithủy chế của sông ngòi gồm hai mùa rõ rệt (mùa cạn và mùa lũ) tương ứngvới hai mùa khô và mùa mưa của khí hậu nhiệt đới
Do có địa hình thấp và bằng phẳng, lại nằm ở hạ lưu của các con sônglớn nên Nam Bộ có mạng lưới sông ngòi, kênh rạch chằng chịch, đan xenlẫn nhau, có nguồn nước dồi dào, nhiều phù sa Đặc biệt, ở đây có hai hệthống sông lớn với diện tích lưu vực trên 10.000 km2 là hệ thống sông ĐồngNai – Vàm Cỏ và hệ thống sông Cửu Long
a/ Hệ thống sông Đồng Nai – Vàm Cỏ
Hệ thống sông Đồng Nai – Vàm Cỏ là hệ thống sông lớn thứ 3 trong
cả nước, sau hệ thống sông Hồng và sông Cửu Long Đây là một hệ thốngkép, vì hai con sông Đồng Nai và sông Vàm Cỏ chỉ gặp nhau ở cửa Soi
Trang 35Rạp và được nối với nhau bằng các kênh nhân tạo Diện tích toàn lưu vực là44.100 km2, phát triển chủ yếu ở Nam Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, đồngbằng sông Cửu Long và một phần trên đất Campuchia rộng 6.530 km2(chiếm 14,8% diện tích toàn lưu vực).
Hệ thống sông Đồng Nai – Vàm Cỏ có tới 265 phụ lưu, trong đó cácphụ lưu quan trọng là: sông Đa Đưng, sông Đắc Nông, sông La Ngà, sông
Bé, sông Sài Gòn, sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây Sau khi tiếp nhậnthêm nguồn nước của sông Sài Gòn, sông Đồng Nai đổ ra biển theo ba cửachính là cửa Lòng Tàu, cửa Soi Rạp và cửa Đồng Thanh
Hệ thống sông Đồng Nai – Vàm Cỏ có tổng lượng nước là 32,8 tỷ m3/năm, tương ứng với lớp dòng chảy 814mm, trong tổng lượng này phần nướcđược cung cấp từ Campuchia qua các sông Vàm Cỏ và sông Sài Gòn là 2,4
tỷ m3/năm (chiếm 7,3%) Mô đun dòng chảy toàn lưu vực là 26,1 l/s/km2,tuy nhiên có sự phân phối không đều trong toàn lưu vực Lượng phù sa cũngkhông nhiều, tổng lượng vào khoảng 3,36 triệu tấn/năm, ứng với độ đụcbình quân khoảng 200 g/m3, và hệ số xâm thực khoảng 227 tấn/năm/km2
Thủy chế sông Đồng Nai khá đơn giản, với một mùa lũ và một mùacạn kế tiếp nhau Tại Trị An, mùa lũ kéo dài 5 tháng (từ tháng 7 – tháng 11),lượng nước chiếm tới 82,8% tổng lượng năm, và tháng có lượng nước lớnnhất là tháng 9, chiếm tới 22% tổng lượng năm Mùa cạn kéo dài 7 tháng (từtháng 12 – tháng 6), lượng nước chiếm 17,2% tổng lượng năm; và tháng cólượng nước nhỏ nhất là tháng 3 hoặc tháng 4, có lượng nước bằng 1% tổnglượng năm Lũ trên sông Đồng Nai không đột ngột, do mạng lưới sông códạng hình lông chim, độ dốc lưu vực nhỏ, lớp vỏ phong hóa dày và độ chephủ rừng còn cao Đặc biệt, vào mùa cạn còn chịu ảnh hưởng của thủy triều,nhất là trên các sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ
27
Trang 36b/ Hệ thống sông Cửu Long (sông Mê Công)
Đây là hệ thống sông lớn nhất Đông Dương, diện tích lưu vực tới795.000 km2, trong đó phần nằm trên lãnh thổ Việt Nam là 68.725 km2(chiếm 8,64%) Chiều dài dòng chính tới 4.500 km, nhưng đoạn chảy quanước ta chỉ có 230 km (chiếm 5,1%) nằm trong vùng hạ lưu và cửa sông
Sông Mê Công bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng (Trung Quốc) ở độcao khoảng 5.000m, chảy qua 6 quốc gia gồm Trung Quốc, Mianma, Lào,Thái Lan, Campuchia và Việt Nam Ở Việt Nam, sông Mê Công chảy quavùng đồng bằng sông Cửu Long với hai dòng chính là sông Tiền và sôngHậu, theo hướng Tây Bắc – Đông Nam trước khi đổ ra biển Đông thông quachín cửa nên gọi là sông Cửu Long (gồm cửa Tiểu, cửa Đại, cửa Ba Lai,Hàm Luông, Cổ Chiên, Cung Hầu, Định An, Bát Xắc và cửa Tranh Đề) Hệthống sông Mê Công có rất nhiều phụ lưu, riêng ở nước ta đã có
286 phụ lưu từ cấp 1 đến cấp 6, trong đó lớn hơn cả là sông Xrê Pốc ở Tây
Nguyên (dài 315 km, diện tích lưu vực là 30.100 km2), lưu vực sông NậmRốm ở Điện Biên – Lai Châu (dài 75 km, diện tích lưu vực là 1.650 km2),lưu vực sông Xê Băng Hiên ở Quảng Trị – Thừa Thiên Huế (dài 25 km, diệntích lưu vực là 775 km2)…
Hai nhánh sông quan trọng hơn cả là sông Tiền và sông Hậu, vì cácsông này đã nhận nước của toàn bộ hệ thống sông Mê Công, với tổng lượngdòng chảy hết sức phong phú, lên tới 507 tỷ m3/năm (chiếm 60,4% tổnglượng nước sông ngòi ở Việt Nam) Trong tổng lượng nước này, phần từnước ngoài chảy vào là 451 tỷ/m3/năm (chiếm 89%), còn phần sản sinh tạiViệt Nam là 56 tỷ/m3/năm (chiếm 11%) Khi chảy vào lãnh thổ Việt Nam ởNam Bộ, lượng nước của sông Tiền tại Tân Châu chiếm gần 80%, còn củasông Hậu tại Châu Đốc chỉ có 20% Chỉ đến khi sông Tiền chia nước chosông Hậu qua sông Vàm Nao thì lượng nước của hai sông này mới tươngđương nhau, lượng nước của sông Tiền tại Mỹ Thuận là 50,52%
Trang 37và lượng nước của sông Hậu tại Cần Thơ tăng lên 49,48% tổng lượng nướccủa sông Cửu Long.
Tổng lượng phù sa của sông Cửu long rất lớn (đạt 70 triệu tấn/năm),nhưng độ đục trung bình của nó không cao, chỉ vào khoảng 100 – 150 g/m3,
hệ số xâm thực đạt 76 – 100 tấn/km2/năm Khối lượng phù sa đồ sộ này vẫnkhông ngừng bồi đắp cho vùng đồng bằng châu thổ sông Cửu Long thêmmàu mỡ và hàng năm tiến ra biển tới hàng trăm mét
Chế độ nước của sông Cửu Long đơn giản và điều hòa Mùa lũ kéodài khoảng 5 – 6 tháng (từ tháng 7 – tháng 11,12), với lượng nước chiếmkhoảng 80% tổng lượng nước cả năm, đỉnh lũ thường rơi vào tháng 9 hoặctháng 10 Mùa cạn kéo dài 6 – 7 tháng (từ tháng 12, tháng 1 – tháng 6),chiếm khoảng 20% tổng lượng nước cả năm và tháng kiệt nhất là tháng 3,tháng 4 Lũ trên sông Cửu Long khi lên và khi rút đều diễn ra từ từ vì lưuvực sông dài có dạng hình lông chim, diện tích lớn, độ dốc bình quân nhỏ vàchủ yếu là do tác dụng điều hòa của biển Hồ tại Campuchia Điều đáng chú
ý là sông Cửu Long cũng chịu tác động mạnh mẽ của thủy triều, nhất làtrong các tháng mùa cạn Mức độ nhiễm mặn 10/00 có thể vào sâu trên sôngTiền đến 50 km, trên sông Hậu là 60 km; hoặc mức độ nhiễm mặn 40/00cũng có thể vào sâu trong các sông đến 30 km
Bên cạnh hai hệ thống sông lớn kể trên, ở Nam Bộ còn có rất nhiềusông nhỏ tập trung chủ yếu ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, tiêu biểu nhưsông Cái Lớn, Cái Bé, Ông Đốc, Bẩy Hạp, Cửa Lớn, Gành Hào, MỹThạnh Các sông nối với nhau bằng hệ thống kênh rạch (tự nhiên hay nhântạo), chảy ra cả biển Đông và vịnh Thái Lan Mạng lưới kênh rạch ở Nam
Bộ rất chằng chịt, giống như một “mạng nhện”, trong đó lớn nhất là các
kênh Vĩnh Tế, Tri Tôn, Ba Thê, Hà Tiên – Rạch Giá, Rạch Sỏi, Cái Bè, ÔMôn, Xã Nô, Chắc Bằng, Phụng Hiệp, Cà Mau – Bạc Liêu…Hệ thống này
có vai trò rất quan trọng trong việc thoát nước vào mùa lũ, tích trữ và cungcấp nước vào mùa khô, là hệ thống giao thông đường thủy, nguồn cung cấp
Trang 38tôm cá tự nhiên và mặt nước nuôi trồng thủy sản Đối với khí hậu, chúng cóvai trò điều hòa khí hậu trong vùng, nhờ vậy mà Nam Bộ có khí hậu mát mẻ
và ít khắc nghiệt hơn so với các khu vực khác trong cả nước
Như vậy, sông ngòi ở Nam Bộ có chế độ nước theo hai mùa rõ rệt,tương ứng với các mùa khí hậu Mùa lũ diễn ra từ tháng 7 đến tháng 11,trùng với thời kỳ mùa mưa; mùa cạn từ tháng 12 đến tháng 6, trùng với thời
kỳ mùa khô Trong mùa lũ, nước lớn, mực nước sông dâng cao, đồng thờisông cũng vận chuyển nhiều phù sa Ngược lại vào mùa cạn, mực nước sôngxuống thấp, lòng sông thu hẹp, phơi bãi cát ngổn ngang, nước trong và hàmlượng phù sa nhỏ Tuy nhiên, chế độ nước của sông ngòi ở Nam Bộ hay cónhững biến động thất thường, có những năm lũ về rất sớm nhưng cũng cónhững năm lũ xảy ra muộn, làm đảo lộn mọi sinh hoạt của một vùng nôngthôn rộng lớn, mùa màng bị thất thu, nhiều nơi còn bị mất trắng, ảnh hưởng
rõ rệt đến đời sống nhân dân
1.3.3 Lớp phủ thổ nhưỡng – sinh vật
1.3.3.1 Lớp phủ thổ nhưỡng
Nam Bộ có lớp phủ thổ nhưỡng phong phú và đa dạng, phản ánh môitrường nhiệt đới ẩm gió mùa với sự tham gia của nhiều nhân tố hình thànhđất Đất ở đây phân bố khá tập trung và liền dải, nổi bật là đất đỏ badan, đấtxám bạc màu trên phù sa cổ (tập trung chủ yếu ở vùng Đông Nam Bộ); vàcác loại đất phù sa, đất phèn, đất mặn…tập trung chủ yếu ở vùng Đồng bằngsông Cửu Long
a/ Đất đỏ badan
Đất đỏ badan tập trung chủ yếu ở các tỉnh Bình Phước, Bình Dương
và Đồng Nai Đất có màu đỏ thẫm, tầng đất dày, tỷ lệ sét cao thường trên50%, đất có cấu trúc viên phổ biến từ 3 – 5mm, tơi xốp, thoáng khí nênthấm nước tốt Nhờ có khả năng thấm nước tốt nên đất có khả năng hạn chếquá trình rửa trôi trên mặt, đặc biệt là khi có thêm lớp phủ thực vật Do cónhiều sét nên khả năng giữ nước của đất rất cao Đất giàu lân, nghèo kali,
Trang 39tỷ lệ ôxit sắt và nhôm khá nhiều, có khi đạt tới 30 – 40% Nhược điểm củađất là không thường xuyên duy trì được độ ẩm, nên vào mùa khô cây thường
bị thiếu nước nghiêm trọng
Đất đỏ badan là loại đất tốt, thích hợp cho việc trồng các loại câycông nghiệp lâu năm, cây ăn quả có rễ ăn sâu như: cao su, cà phê, chè, sầuriêng, chôm chôm…Khi khai thác cần có biện pháp bảo vệ như chống xóimòn, giữ ẩm cho đất vào mùa khô, bón thêm phân lân, kali và cả đạm nếucần thiết Tuy nhiên, do không bảo vệ tốt nên độ phì của đất ở nhiều vùnghiện nay đang bị suy giảm rõ rệt, vì vậy cần phải có các biện pháp sử dụngđất hợp lý
Đất xám bạc màu trên phù sa cổ chiếm diện tích lớn nhất ở ĐôngNam Bộ (trên 900 nghìn ha, phân bố ở các tỉnh Bình Phước, Bình Dương,Tây Ninh và Đồng Nai), vùng rìa của châu thổ sông Cửu Long (các tỉnhLong An, Đồng Tháp) Tuy có nhược điểm là đất chua, nghèo, khô hạnnhưng đất tơi xốp, thoáng khí, thoát nước, và có địa hình bằng phẳng nênthích hợp cho việc trồng các loại cây ăn quả, cây công nghiệp Nếu có cácbiện pháp cải tạo tốt, làm giàu đất bằng phân hữu cơ, có thể trồng hoa màu,cây lương thực
c/ Đất phù sa
Nhóm đất phù sa có diện tích 1.185 ha (chiếm 29,2% tổng diện tíchvùng Đồng bằng sông Cửu Long, và khoảng 1/3 tổng diện tích đất phù sa
Trang 40của cả nước), phân bố chủ yếu ở các vùng ven sông Tiền, sông Hậu, rộngnhất là dải ven bờ Bắc sông Tiền từ Hồng Ngự đến Mỹ Tho.
Do thủy chế sông điều hòa, quá trình bồi lắng diễn ra từ từ nên đất cóthành phần cơ giới nặng, thường là thịt đến sét ở nơi ngập nhiều Đất phù sasông Cửu Long là loại đất tốt nhất cho sản xuất nông nghiệp, đất thườnggiàu mùn, mức độ bão hòa bazơ cao, đạm, lân, nhất là kali vào loại khá Khitrở thành đất chuyên trồng lúa nước thì có sự biến đổi do thời gian ngậpnước lâu và bị cày bừa liên tục Tầng trên mặt có màu nâu nhạt do có sự rửatrôi sét, tầng giữa màu xẫm hơn, thành phần cơ giới nặng, ôxit sắt bao phủhạt đất tạo nên những vệt đỏ Tầng dưới cùng do bị ngập nước thường xuyênnên đã xuất hiện quá trình glây, có màu xanh xám Tất nhiên, sự phân tầngnhư trên không đồng nhất ở mọi nơi, tùy thuộc vào địa hình cao thấp, vàochế độ tưới tiêu và kỹ thuật canh tác
Có thể nói, đây là nhóm đất trẻ và phì nhiêu nhất ở Đồng bằng sôngCửu Long, có khả năng cho năng suất cây trồng cao và thích hợp với nhiềuloại cây trồng như lúa, hoa màu, rau và hoa, cây công nghiệp ngắn ngày vàdài ngày, cây ăn quả…Tuy nhiên, hiện nay ở vùng Đồng bằng sông CửuLong, đất phù sa chỉ phát triển ở những dải đất cao, các giồng ven sôngthoát nước, còn các vùng đất thấp thường bị nhiễm mặn hoặc nhiễm phèn, bịglây hóa
d/ Đất phèn
Đất phèn chiếm diện tích khá lớn ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long,với 1.600 nghìn ha (chiếm 39,4% diện tích của vùng), phân bố tập trung ởvùng Đồng Tháp Mười, tứ giác Long Xuyên, bán đảo Cà Mau…Đất phèn có
tỷ lệ hữu cơ cao, mức độ phân giải thấp, đạm tổng số khá, lân tổng số trungbình và nghèo, giàu kali, lân dễ tiêu rất nghèo, đất rất chua, Al3+ di độngcao, SO4-2 cao, thành phần cơ giới nặng vì đất có nhiều sét
Nhìn chung, đất phèn có hàm lượng dinh dưỡng khá cao, nhưng dotrong đất có chứa nhiều độc tố nên gây ảnh hưởng xấu cho cây trồng