1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

liên kết phát triển du lịch vùng bắc trung bộ

185 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 185
Dung lượng 1,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

+ Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án: - Làm rõ một số vấn đề cơ sở lý luận về phát triển du lịch và liên kết phát triển du lịch; Kinh nghiệm một số quốc gia và một số địa phương trong nước

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học:

1 PGS.TS Nguyễn Đình Long

2 TS Nguyễn Thị Minh Phượng

HÀ NỘI - 9/2020

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 11 1.1 Tổng quan một số công trình nghiên cứu liên quan liên kết và liên kết phát triển vùng 11

1.1.1 Các nghiên cứu liên quan đến liên kết 111.1.2 Các nghiên cứu liên quan đến liên kết 13

1.2 Tổng quan về một số công trình nghiên cứu phát triển du lịch và liên

k ết phát triển du lịch 15 1.3 Những vấn đề rút ra 24 Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ LIÊN KẾT PHÁT TRIỂN DU LỊCH 26 2.1 Du lịch, liên kết, liên kết phát triển du lịch – Một số khái niệm và cách tiếp cận 26

2.1.1 Du lịch, phát triển du lịch, phát triển du lịch bền vững 262.1.2 Vùng, liên kết, liên kết phát triển du lịch 282.1.3 Mục tiêu, nguyên tắc và phạm vi của liên kết vùng trong phát triển du lịch 312.1.4 Điều kiện liên kết vùng trong phát triển du lịch 37

2.2 Nội dung về liên kết phát triển du lịch 40

2.2.1 Liên kết tuyên truyền, quảng bá và xúc tiến xây dựng thương hiệu

du lịch 402.2.2 Liên kết xây dựng sản phẩm du lịch, chương trình du lịch (tour du lịch) chung của toàn vùng 402.2.3 Liên kết đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 412.2.4 Liên kết xây dựng đồng bộ hạ tầng du lịch, đặc biệt là hạ tầng giao thông 422.2.5 Liên kết huy động vốn đầu tư và xây dựng cơ chế chính sách đầu tư phát triển du lịch chung của vùng, rà soát quy hoạch phát triển du lịch phù hợp với thế mạnh của từng địa phương 42

Trang 4

2.2.6 Liên kết hợp tác nâng cao năng lực cạnh tranh du lịch 43

2 3 Các nhân tố ảnh hưởng đến liên kết phát triển du lịch 43

2.4 Kinh nghiệm về liên kết phát triển du lịch và bài học kinh nghiệm cho các tỉnh Bắc Trung Bộ 45

2.4.1 Kinh nghiệm của một số nước trong khu vực 45

2.4.2 Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước 50

2.4.3 Bài học rút ra cho các tỉnh Bắc Trung Bộ 54

Chương 3: THỰC TRẠNG LIÊN KẾT PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI CÁC TỈNH VÙNG BẮC TRUNG BỘ 58

3.1 Tiềm năng và lợi thế của du lịch vùng Bắc Trung Bộ 58

3.1.1 Vị trí địa lý 58

3.1.2 Tài nguyên du lịch 58

3.1.3 Cơ sở hạ tầng 59

3.1.4 Vị trí Vùng du lịch Bắc Trung Bộ trong chiến lược phát triển du lịch của cả nước và quốc tế 59

3.1.5 Thực trạng phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ 61

3.2 Thực trạng liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ 63

3.2.1 Liên kết tuyên truyền quảng bá và xúc tiến du lịch 63

3.2.2 Liên kết phát triển sản phẩm du lịch 67

3.2.3 Liên kết đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 69

3.2.4 Liên kết xây dựng đồng bộ hạ tầng du lịch, đặc biệt là hạ tầng giao thông 71

3.2.5 Liên kết huy động vốn đầu tư và xây dựng cơ chế chính sách đầu tư phát triển du lịch chung của vùng, rà soát quy hoạch phát triển du lịch phù hợp với thế mạnh của từng địa phương 72

3.2.6 Liên kết hợp tác nâng cao năng lực cạnh tranh du lịch 75

3.3 Phân tích mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến liên kết phát triển du lịch ở Bắc Trung Bộ 79

3.3.1 Khái quát về mô hình 79

3.3.2 Xây dựng thang đo và thiết kế bảng hỏi 81

3.3.3 Kết quả đánh giá dựa trên phần gốc của mô hình 82

3.3.5 Kiểm định độ tin cậy của mô hình 104

Trang 5

3.3.6 Đánh giá điểm mạnh, điểm yếu về liên kết phát triển du lịch vùng

Bắc Trung Bộ 108

3.4 Đánh giá chung 111

3.4.1 Kết quả đạt được 111

3.4.2 Những hạn chế và nguyên nhân 112

Chương 4: QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG LIÊN KẾT PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI CÁC TỈNH VÙNG BẮC TRUNG BỘ 120

4.1 Q uan điểm và định hướng liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ 120

4.1.1 Quan điểm 120

4.1.2 Định hướng liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ 121

4.2 Giải pháp tăng cường liên kết phát triển du lịch tại các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ 126

4.2.1 Xây dựng chiến lược hợp tác liên kết vùng du lịch Bắc Trung Bộ 126

4.2.2 Giải pháp liên kết xúc tiến quảng bá và phát triển thương hiệu du lịch vùng Bắc Trung bộ 127

4.2.3 Đẩy mạnh huy động vốn đầu tư phát triển du lịch Bắc Trung bộ 132

4.2.4 Phát triển nguồn nhân lực du lịch vùng Bắc Trung Bộ 134

4.2.5 Liên kết phát triển du lịch trong mô hình quản lý điểm đến 136

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 139

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 142

TÀI LIỆU THAM KHẢO 143

PHỤ LỤC 160

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Phân bổ phỏng vấn du khách tại điểm khảo sát 6

Bảng 3.1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Bắc Trung Bộ thời kỳ 2011 - 2018 60

Bảng 3.2 Lượng khách du lịch đến các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ 58

Bảng 3.3 Doanh thu từ du lịch của các tỉnh trong vùng Bắc Trung Bộ 60

Bảng 3.4 Số lượng buồng lưu trú du lịch của các tỉnh trong vùng Bắc Trung Bộ 61 Bảng 3.5 Số lượng lao động du lịch của các tỉnh trong vùng Bắc Trung Bộ 62

Bảng 3.6 Huy động vốn từ khu vực tư nhân cho phát triển du lịch trên địa bàn các tỉnh Bắc Trung Bộ (2011 – 2018) 74

Bảng 3.7 Hiện trạng hợp tác, liên kết du lịch vùng Bắc Trung Bộ 76

Bảng 3.8 Đặc điểm cá nhân của chuyên gia được hỏi ý kiến 83

Bảng 3.9 Đánh giá về các tài nguyên phát triển du lịch các tỉnh Bắc Trung Bộ 84

Bảng 3.10 Đánh giá về các tài nguyên thừa kế 85

Bảng 3.11 Đánh giá về các tài nguyên tạo thêm 85

Bảng 3.12 Đánh giá về các yếu tố phụ trợ 86

Bảng 3.13 Đánh giá về liên kết phát triển của chính quyền tỉnh đối với du lịch tại vùng Bắc Trung Bộ 88

Bảng 3.14 Đánh giá về các điều kiện hoàn cảnh 91

Bảng 3.15 Đánh giá về thị trường 92

Bảng 3.16 Đánh giá về kết quả hoạt động du lịch 93

Bảng 3.17 Đặc điểm nhân khẩu học của du khách được điều tra 94

Bảng 3.18 Tỷ trọng du khách theo nghề nghiệp 95

Bảng 3.19 Tỷ trọng du khách theo địa phương 96

Bảng 3.20 Mục đích chuyến thăm của du khách 97

Bảng 3.21 Số lần đi du lịch vùng Bắc Trung Bộ 97

Bảng 3.22 Hình thức tổ chức chuyến đi 97

Bảng 3.23 Hình thức thu thập thông tin về du lịch các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ 98

Bảng 3.24 Phương tiện giao thông 98

Bảng 3.25 Mức chi tiêu 98

Bảng 3.26 Khoản chi tiêu tốn kém nhất 99

Trang 7

Bảng 3.27 Đánh giá về sản phẩm/điểm thu hút du lịch 99

Bảng 3.28 Đánh giá về an ninh, trật tự, môi trường xã hội 101

Bảng 3.29 Đánh giá về vệ sinh, môi trường 101

Bảng 3.30 Đánh giá về cơ sở hạ tầng, tiện ích 101

Bảng 3.31 Đánh giá về giá cả 102

Bảng 3.32 Đánh giá về độ tin cậy, cởi mở, chuyên nghiệp của cư dân, nhân viên, cán bộ bản địa 103

Bảng 3.33 Đánh giá về thương hiệu điểm đến du lịch vùng Bắc Trung Bộ 103

Bảng 3.34 Kết quả phân tích hệ số Cronbach Alpha phần gốc của mô hình 104

Bảng 3.35 Kết quả phân tích nhân tố khám phá phần gốc của mô hình 106

Trang 8

DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

Sơ đồ 1.1: Mô hình liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ 4

Hình 2.1: Các bên tham gia trong các hoạt động du lịch 31

Hình 2.2: Các phạm vi của hợp tác, liên kết vùng trong phát triển du lịch 35

Sơ đồ 2.1: Các nhân tố ảnh hưởng đến liên kết phát triển du lịch 45

Biểu đồ 3.1 So sánh chuyển dịch cơ cấu kinh tế Bắc Trung Bộ giai đoạn 2011 - 2018 60

Biểu đồ 3.2 So sánh lượng khách du lịch nội địa đến các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ qua các năm (ĐVT: lượt khách) 59

Biểu đồ 3.3 So sánh lượng khách du lịch quốc tế đến các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ qua các năm (ĐVT: lượt khách) 59

Biểu đồ 3.4 So sánh lượng buồng lưu trú du lịch của các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ qua các năm (ĐVT: buồng) 61

Biểu đồ 3.5 So sánh lao động du lịch của các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ qua các năm 63

Biểu đồ 3.6 So sánh huy động vốn từ khu vực tư nhân cho phát triển du lịch trên địa bàn các tỉnh Bắc Trung Bộ 74

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng, mang nội dung văn hóa sâu sắc, có tính liên kết ngành, liên vùng và xã hội hóa cao Liên kết là một yếu tố không thể thiếu trong phát triển du lịch Liên kết góp phần phát huy tối đa lợi thế của các chủ thể liên kết, tạo sự đa dạng, phong phú sản phẩm du lịch, giảm thiểu khiếm khuyết, tạo

sự bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau giữa các điểm đến, thúc đẩy phát triển du lịch

Liên kết vùng cũng như liên kết vùng du lịch bao hàm liên kết phát triển nội vùng và phát triển liên vùng Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp chiu sự tác động của nhiều ngành, đồng thời chịu ảnh hưởng của nhiều cấp theo chiều dọc và chiều ngang Liên kết phát triển du lịch vùng cho phép khai thác lợi thế về tài nguyên du lịch, về cơ

sở hạ tầng và các nguồn lực khác của các địa phương và doanh nghiệp tham gia liên kết Mặt khác phát triển liên kết vùng du lịch còn là nhân tố quan trọng để làm tăng khả năng cạnh tranh, thu hút các nguồn lực đầu tư cho du lịch, thu hút khách du lịch đến vùng du lịch với tư cách là một điểm đến thống nhất và đến lãnh thổ của từng địa phương liên kết Liên kết phát triển du lịch đã hình thành và phát triển từ nhiều năm trước đây Ngay từ khi Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường, khả năng đi lại, giao thương giữa các vùng, miền trở nên thuận lợi, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, vấn đề liên kết phát triển du lịch đã được đặt ra và ngày càng trở nên cấp thiết Trước đây, sự liên kết thường tập trung giữa các địa phương, điểm đến du lịch có khoảng cách gần về địa lý, thuận lợi về giao thông Ngày nay, liên kết phát triển du lịch được thực hiện theo nhiều chiều, không chỉ giữa những điểm đến liền kề mà cả những điểm đến xa có chung định hướng phát triển; không chỉ giữa hai hay một vài điểm đến, địa phương mà còn giữa các vùng, miền; không chỉ liên kết trong phạm vi quốc gia mà còn liên kết giữa các quốc gia trong một khu vực (ví dụ như liên kết giữa các quốc gia ASEAN trong phát triển du lịch)

Chính vì vậy, ngành du lịch Việt Nam được Đảng, Nhà nước xác định là ngành kinh tế quan trọng và được xác định tập trung nguồn lực để đến năm 2020 trở thành ngành kinh tế mũi nhọn tại Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/01/2017 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn [4] Trong các Nghị quyết của Đảng và trong Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 201 ngày 22/01/2013 [16] và Quyết định số 2161/QĐ - TTg ngày 11/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt "quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng Bắc Trung

Bộ đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030" đã xác định: đến năm 2020, du lịch cơ bản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, có tính chuyên nghiệp, cạnh tranh được với các nước trong khu vực và thế giới Đồng thời, cũng đã khẳng định vị trí, vai trò quan

Trang 10

trọng của du lịch vùng Bắc Trung Bộ trong Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam, góp phần kết nối với các vùng du lịch trong nước, trong khu vực và quốc tế

Khu vực Bắc Trung Bộ gồm 06 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên – Huế, có dân số trên 10 triệu người với 25 dân tộc anh em cùng sinh sống; Là vùng có khá nhiều tiềm năng, lợi thế phát triển du lịch đặc thù, đặc sắc mà các vùng khác không có Thứ nhất, đây là vùng duy nhất có kế cấu địa phương trải dài liên tục, từ Thanh Hóa vào đến Thừa Thiên Huế, các tỉnh nối liền một dải, một tỉnh chỉ tiếp giáp với hai tỉnh hai đầu, trừ Thừa Thiên – Huế tiếp giáp với 3 tỉnh Thứ hai,địa thế của vùng nối liền với biển (biển Đông) và núi (dãy Trường Sơn), sau lưng là nước bạn Lào Đồng bằng ít, núi nhiều, độ dốc lớn, rất khó khăn trong việc phát triển các loại kết cấu hạ tầng, đặc biệt là hạ tầng giao thông Tuy nhiên, tính theo

tỷ lệ chiều dài “biên giới” với diện tích của vùng, tiềm năng “mở cửa – hội nhập” của Bắc Trung Bộ là khá lớn Thứ ba, đây là vùng có nhiều tài nguyên du lịch đặc sắc và đẳng cấp

Vùng có nhiều tài nguyên du lịch tự nhiên đẳng cấp cao, thậm chí ở đẳng cấp quốc tế như khu vực hang động Sơn Đoòng –Phong Nha – Kẻ Bàng (Quảng Bình), Núi Bạch Mã, bãi biển Lăng Cô (Thừa Thiên – Huế), rừng quốc gia Vũ Quang (Hà Tĩnh), rừng quốc gia Pù Mát (Nghệ An), thành nhà Hồ, suối Cá thần (Thanh Hóa),…Những đặc sản tự nhiện chỉ có ở vùng Bắc Trung Bộ như gió Lào, vùng Đầm phá Thừa Thiên Huế, các cồn cát trắng Quảng Bình, Quảng Trị,… vốn là những yếu tố gây bất lợi thế cho phát triển du lịch của vùng nhưng hiện nay, đây có thể được coi là tiềm năng lợi thế tuyệt đối để phát triển du lịch đẳng cấp cao

Tài nguyên văn hóa – lịch sử của vùng cũng khá phong phú Là nơi tập trung 4

di sản thế giới được UNESCO công nhận, đó là Thành nhà Hồ, Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, Quần thể di tích cố đô Huế và Nhã nhạc – âm nhạc cung đình Việt Nam Nơi đây là quê hương của nhiều danh nhân nổi tiếng Việt Nam như: Hồ Chí Minh, Nguyễn Du, Phan Bội Châu, Trần Phú, Võ Nguyên Giáp, Lê Duẩn, , các vua nhà Lê, nhà Hồ, nhà Nguyễn, chúa Nguyễn, chúa Trịnh,…; Là nơi tập trung nhiều di tích lịch sử, cách mạng có giá trị như Kinh thành Huế, đường mòn Hồ Chí Minh, địa đạo Vịnh Mốc, nghĩa trang Trường Sơn, căn cứ Cồn Tiên, Thành cổ Quảng Trị,… Nơi đây còn là quê hương của nhiều lễ hội độc đáo như: lễ hội Lam Kinh (Thanh Hóa), lễ hội đền Cuông (Nghệ An), lễ hội Hòn Chén (Thừa Thiên – Huế); đặc biệt là Festival Huế được tổ chức định kỳ 2 năm một lần đã trở thành một sự kiện văn hóa mang tầm quốc tế được nhiều du khách trong và ngoài nước quan tâm

Trang 11

Tuy có tiềm năng, lợi thế lớn, mức độ khác biệt nhưng du lịch của vùng vẫn còn kém phát triển Vì sao vậy? Một là, cũng như các vùng, các địa phương khác trên cả nước, du lịch vùng Bắc Trung Bộ vẫn phát triển theo logic cổ điển (du lịch “đi sau”) Tính “tự lực địa phương” là chính, do đó, chia cắt, manh mún, nghèo nàn và không thể phối hợp vẫn là đặc điểm chính Hình thái du lịch chủ đạo vẫn chỉ là “nghỉ mát – tắm biển” có tính thời vụ, “nhờ trời” Các lợi thế, tính đặc sắc riêng của các địa phương không được kết nối, tạo ra sức mạng cộng hưởng nên khó phát huy Hai là, thiếu nguồn lực khởi động, thiếu hạ tầng kết nối quốc tế đúng tầm, đúng cách, chưa có nhà đầu tư chiến lược, thiếu cơ chế phối hợp, liên kết và vận hành phù hợp, không có chính sách đột phá, không đủ quyền chủ động điều hành và tổ chức,…đều có thể là nguyên nhân dẫn đến liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ còn chưa thực sự mạnh để khẳng định vai trò và tiềm năng du lịch của vùng

Chính vì vậy, việc đánh giá đúng thực trạng liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ trong thời gian quan để nhìn nhận đúng nguyên nhân của vấn đề liên kết phát triển du lịch của vùng còn yếu kém, để nhận diện, phác họa đúng chân dung đối tượng mà du lịch Bắc Trung Bộ đang nhắm đến để hội nhập quốc tế, đồng thời, định hướng và tìm giải pháp tăng cường liên kết du lịch để có thể làm cho ngành du lịch đóng vai trò “ngành mũi nhọn” tại vùng Bắc Trung Bộ Vấn đề đặt ra là cần phát huy những lợi thế khác biệt bà trội bật đảm bảo chi vùng phát triển du lịch như thế nào? Cơ

sở nào để thực hiện? và giải pháp nào để tăng cường liên kết du lịch của vùng Bắc Trung Bộ trong thời gian tới? Xuất phát từ những lý do đó, nghiên cứu sinh đã lựa

chọn đề tài “Liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ” làm đề tài luận án tiến

sỹ chuyên ngành Quản lý kinh tế với mong muốn đóng góp thêm những cơ sở lý luận

và thực tiễn cho quá trình liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ thời gian tới

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

+ Mục đích nghiên cứu của luận án là nhằm làm rõ các vấn đề về lý luận và

thực tiễn về liên kết du lịch của các tỉnh Bắc Trung Bộ Từ đó, đề xuất các giải pháp tăng cường liên kết phát triển du lịch các tỉnh Bắc Trung Bộ

Để đạt được mục đích này, luận án hướng đến việc trả lời các câu hỏi nghiên cứu:

1 Liên kết phát triển du lịch là gì? Có những nhân tố nào ảnh hưởng đến quá trình liên kết đó?

2 Thực trạng liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ như thế nào?

3 Cần có những giải pháp nào để tăng cường liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ trong thời gian tới?

Trên cơ sở xác định mục đích nghiên cứu, luận án sẽ giải quyết các nhiệm vụ đặt

ra theo sơ đồ mô hình nghiên cứu như sau:

Trang 12

Sơ đồ 1.1: Khung phân tích liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ

Liên kết huy động vốn đầu tư và xây dựng cơ chế chính

sách đầu tư phát triển du lịch Liên kết xây dựng đồng bộ hạ tầng du lịch Liên kết đào tạo và phát triển nguồn nhân lực Liên kết phát triển sản phẩm du lịch Liên kết tuyên truyền quảng bá và xúc tiến du lịch

Liên kết phát triển du lịch trong mô hình quản lý điểm

đến Phát triển nguồn nhân lực du lịch vùng Bắc Trung Bộ

Đẩy mạnh huy động vốn đầu tư phát triển du lịch Bắc

Trung Bộ

Liên kết xúc tiến quảng bá và phát triển thương hiệu du

lịch Xây dựng chiến lược hợp tác liên kết du lịch

Trang 13

+ Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án:

- Làm rõ một số vấn đề cơ sở lý luận về phát triển du lịch và liên kết phát triển

du lịch; Kinh nghiệm một số quốc gia và một số địa phương trong nước về phát triển

du lịch, từ đó rút ra bài học đối với các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ

- Đánh giá đúng thực trạng về liên kết phát triển du lịch của các tỉnh Bắc Trung

Bộ trong thời gian qua, đưa ra các thành tựu, thách thức và hạn chế, đồng thời làm rõ nguyên nhân dẫn đến các hạn chế đó

- Đề xuất một số giải pháp tăng cường liên kết phát triển du lịch các tỉnh Bắc Trung Bộ trong thời gian tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

+ Đối tượng nghiên cứu: Liên kết phát triển du lịch

+ Phạm vi nghiên cứu:

 Phạm vi về nội dung:

Luận án chỉ tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến liên kết phát triển du

lịch tại các tỉnh Bắc Trung Bộ như: (1) Liên kết tuyên truyền quảng bá và xúc tiến du lịch; (2) Liên kết phát triển sản phẩm du lịch; (3) Liên kết đào tạo và phát triển nguồn nhân lực; (4) Liên kết xây dựng đồng bộ hạ tầng du lịch, đặc biệt là hạ tầng giao thông; (5) Liên kết huy động vốn đầu tư và xây dựng cơ chế chính sách đầu tư phát triển du lịch chung của vùng, rà soát quy hoạch phát triển du lịch phù hợp với thế mạnh của từng địa phương; (6) Liên kết hợp tác nâng cao năng lực cạnh tranh du lịch

 Phạm vi về không gian:

Luận án nghiên cứu liên kết phát triển du lịch trên địa bàn các tỉnh Bắc Trung Bộ

 Phạm vi thời gian:

Thời gian nghiên cứu tập trung vào giai đoạn 2015 – 2019, dự báo cho đến năm

2025 và những năm tiếp theo

4 Phương pháp nghiên cứu

Để đánh giá liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ, luận án không chỉ dựa vào phân tích định tính (thông qua miêu tả) mà còn cung cấp những phân tích định lượng (thông qua điều tra, phân tích thống kê số liệu) Cụ thể, những phương pháp sau

sẽ được đưa vào sử dụng:

4.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu

* Chọn mẫu điều tra:

+ Lựa chọn mẫu điều tra: Đối tượng điều tra và phỏng vấn mẫu nghiên cứu gồm

2 nhóm đối tượng: (1) các chuyên gia (đó là các chuyên gia du lịch làm việc tại các trường đại học, viện nghiên cứu, cơ quan quản lý nhà nước cả ở cấp trung ương và cấp địa phương, các doanh nhân, nhân viên kinh doanh du lịch; (2) khách du lịch (khách nội địa và quốc tế)

Trang 14

+ Quy mô và cách chọn mẫu:

- Đối với nhóm chuyên gia thì dự kiến số lượng phiếu điều tra phỏng vấn xin

ý kiến là 150 phiếu (150 người) Các chuyên gia được chọn một cách có chọn lọc nhằm đảm bảo thu thập được những thông tin chính xác Mặt khác, đối tượng được phỏng vấn ở nhiều địa điểm khác nhau chứ không tập trung một nơi cũng như nghề nghiệp khác nhau nhằm thu được những thông tin đa dạng về nhân khẩu học

Việc phỏng vấn lấy ý kiến chuyên gia thực hiện bằng cách gặp gỡ, liên lạc để chuyên gia đồng ý đánh giá sau đó gửi cho chuyên gia Bảng hỏi qua email hoặc trực tiếp bản in Chuyên gia có thể cho ý kiến trực tiếp vào file mềm rồi trả lời lại bằng email hoặc bản in

- Đối với khách du lịch dự kiến 250 phiếu cho cả khách nội địa và nước ngoài Thời điểm lấy ý kiến đánh giá của du khách chọn thời điểm đông khách tại các điểm

du lịch tại vùng Bắc Trung Bộ Nguyên tắc chọn du khách phỏng vấn theo cách thức ngẫu nhiên Phân bổ phỏng vấn du khách đã thực hiện cụ thể như sau:

Bảng 1.1 Phân bổ phỏng vấn du khách tại điểm khảo sát

năm (do thời gian này ít mưa) Vì vậy, cuộc điều tra mới nhất tập trung vào việc đánh

giá nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển khách du lịch đến vùng Bắc Trung Bộ, tác giả luận án đã chọn thời điểm điều tra được chọn từ tháng 5  9/2018 Số phiếu được tính theo công thức: n Ns22 Z22 2

như vậy, đặc biệt với số lượng mẫu lớn bảo đảm tính chính xác và đại điện dự theo tính chất của từng điều tra Từng điều tra đã tham khảo và trao đổi với nhiều nhóm chuyên gia để chọn điểm, chọn mẫu nhằm bảo đảm được tính chất ổn định của khách

du lịch cộng đồng

- Thiết kế phiếu theo thang đo được đo lường bằng thang Likert 5 điểm, trong

đó 1 là Rất kém; 2 là Kém; 3 là Trung bình; 4 là Khá và 5 là Tốt

Trang 15

4.2 Phương pháp thu thập và phân tích số liệu

4.2.1 Số liệu thứ cấp

- Các tài liệu, thông tin, kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến

đề tài Điều tra, thu thập, nghiên cứu kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp du lịch, các định hướng, chính sách của cơ quan quản lý nhà nước về du lịch tại địa phương

- Số liệu về tình hình phát triển kinh tế, xã hội của các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ

từ năm 2010 đến 2018 (Niên giám thống kê, Cục Thống kê các tỉnh)

- Nguồn số liệu được dùng trong nghiên cứu này bao gồm là những thông tin đã được công bố trên sách báo, tạp chí, trên các trang web, các báo cáo của Sở, Ban, Ngành các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ, gồm: (i) dựa trên các tư liệu, số liệu thống kê và các nguồn dữ liệu, tài liệu từ các cơ quan chức năng tỉnh; (ii) ý kiến của các doanh nghiệp, du khách, người dân tham gia hoạt động kinh doanh du lịch trên địa bàn các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ; (iii) Ý kiến của các cán bộ thuộc các cơ quan chức năng của tỉnh Nhóm nghiên cứu đã kết hợp nhiều kỹ thuật thu thập thông tin để thu thập thông

tin một cách tương đối đầy đủ và chính xác theo những mục tiêu nghiên cứu đã đề ra

- Thu thập tài liệu liên quan từ các cơ quan chức năng tỉnh

- Phỏng vấn trực tiếp doanh nghiệp, du khách, người dân

- Phỏng vấn gián tiếp, phỏng vấn sâu một số cán bộ thuộc các cơ quan chức năng cấp tỉnh, huyện

- Toạ đàm với cán bộ thuộc các cơ quan chức năng cấp tỉnh, huyện và doanh nghiệp

N ội dung thu thập số liệu điều tra

STT Nội dung thu

thập số liệu Nơi thu thập số liệu Cách thu thập số liệu

1

Quy hoạch phát triển

du lịch - Bắc Trung Bộ, Sở Văn UBND các Tỉnh vùng

hóa - Thể thao và du lịch các tỉnh

- Các doanh nghiệp du lịch các tỉnh

- Đề án phát triển du lịch các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ đến năm 2020, tầm nhìn 2030

- Thu thập từ báo cáo của các doanh nghiệp các tỉnh Bắc Trung Bộ giai đoạn 2010 - 2018

- Các doanh nghiệp kinh doanh du lịch trong và ngoài vùng

- Báo cáo tổng kết tình hình phát triển du lịch các tỉnh Bắc Trung Bộ giai đoạn 2010 - 2018

- Thu thập số liệu từ báo cáo của các doanh nghiệp các tỉnh Bắc Trung Bộ giai đoạn 2010 -

2018

3 Quản lý, phát triển tài

nguyên du lịch và cơ

sở hạ tầng phục vụ du

- Tác giả điều tra thực tế

- Sở Văn hóa-thể thao và

du lịch

- Thống kê tài nguyên du lịch các tỉnh Bắc Trung Bộ giai đoạn 2010 - 2018

Trang 16

STT Nội dung thu

thập số liệu Nơi thu thập số liệu Cách thu thập số liệu

lịch trên địa bàn - Các khu, điểm du lịch

trong tỉnh - du lịch Điều tra, đánh giá tài nguyên

+ Báo cáo tổng kết tình hình phát triển du lịch các tỉnh Bắc Trung Bộ giai đoạn 2010 -

+ Điều tra tại các khu, điểm du lịch trong tỉnh, địa bàn dân cư tại khu, điểm du lịch

+ Số liệu thống kê từ các tỉnh Bắc Trung Bộ giai đoạn 2010 -

2018 về nguồn nhân lực

+Thu nhập các mẫu điều tra về nguồn nhân lực, ngành nghề, thu nhập của dân cư trên địa bàn điều tra

2018

- Sở Văn hóa-thể thao và

du lịch

+ Phỏng vấn chính quyền địa phương (huyện, xã, thôn, buôn )

- Đề án phát triển du lịch các tỉnh Bắc Trung Bộ giai đoạn

2010 - 2018 + Qui chế phối hợp hoạt động kinh doanh du lịch trên địa bàn

- Du khách trong và ngoài tỉnh

- Phỏng vấn dân cư tại địa bàn khu du lịch

+ Thu thập ý kiến các doanh nghiệp, du khách đến tham quan tại các khu, điểm du lịch + Thu thập, tổng hợp ý kiến đánh giá, nhận xét của người dân trên địa bàn du lịch

+ Phỏng vấn một số hãng

lữ hành du lịch trong và ngoài vùng

+ Phỏng vấn hướng dẫn viên và nhân viên các khu, điểm du lịch

+ Thu thập ý kiến các hãng lữ hành đến khu, điểm du lịch năm

2019

+ Thu thập ý kiến, đánh giá, nhận xét của hướng dẫn viên, nhân viên du lịch tại các khu, điểm du lịch

Trang 17

4.2.2 Số liệu sơ cấp

- Nghiên cứu tài liệu tại bàn: Tập hợp, sưu tầm và phân tích các nghiên cứu có

liên quan đã được công bố Phương pháp này giúp tìm ra khoảng trống cả về lý luận lẫn thực tiễn để nghiên cứu có thể bổ sung, đóng góp Phương pháp này còn giúp tiếp cận các thành tựu, kết quả và cách giải quyết vấn đề, phương pháp nghiên cứu mà các học giả đi trước đã sử dụng thành công, nhờ đó có thể tiết kiệm thời gian, công sức và

đi thẳng vào những vấn đề mà nghiên cứu đặt ra một cách hiệu quả nhất

4.2.3 Phương pháp phân tích số liệu

- Phương pháp chuyên gia: Đối tượng chuyên gia mà nghiên cứu này sẽ tiếp

cận, đó là các nhà nghiên cứu, giảng viên, doanh nhân, nhân viên kinh doanh, cán bộ quản lý nhà nước, v.v… thuộc lĩnh vực du lịch Những đối tượng này sẽ được phỏng vấn, hỏi ý kiến về các tiêu chí đánh giá liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ lấy ra từ mô hình tích hợp đánh giá năng lực cạnh tranh du lịch của Dwyer và Kim (2003) [105] Trên cơ sở đó một mô hình phù hợp sẽ được xây dựng nhằm đánh giá liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ Các tiêu chí trong mô hình đánh giá sẽ được xây dựng và chuyển thành bảng hỏi dùng để điều tra phỏng vấn các đối tượng nghiên cứu

Ngoài ra, nghiên cứu này còn có mục tiêu khuyến nghị các giải pháp chính sách nhằm tăng cường liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ, do đó nội dung của phỏng vấn còn quan tâm đến những ý kiến của chuyên gia trong đề xuất các giải pháp chính sách nhằm tăng cường liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ

- Phương pháp nghiên cứu so sánh: với mục tiêu và đối tượng nghiên cứu là

đánh giá liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ nên phương pháp nghiên cứu

so sánh được lựa chọn sử dụng Phương pháp này giúp nghiên cứu có thể tìm ra được những điểm tương đồng cũng như sự khác biệt giữa liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ

- Phương pháp xử lý số liệu:

Sử dụng xác suất thống kê để kiểm định độ tin cậy về kết quả điều tra phỏng vấn của các đối tượng Sử dụng phần mềm SPSS 22.0 để phân tích Cronbach Alpha nhằm loại biến có hệ số tương quan với biến tổng nhỏ đồng thời kiểm tra độ tin cậy của các thang đo Thêm vào đó phầm mềm SPSS 22.0 cũng được sử dụng để phân tích nhân tố khám phá EFA

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Là một nghiên cứu mang tính hệ thống liên quan đến liên kết phát triển du lịch các tỉnh Bắc Trung Bộ, luận án đã có những đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn như sau:

- Luận án đã hệ thống hóa được các vấn đề lý luận về liên kết vùng, liên kết phát triển du lịch cả trong và ngoài nước, làm rõ nội hàm liên kết phát triển du lịch,

Trang 18

phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến liên kết phát triển du lịch Luận án đã tổng kết được bài học kinh nghiệm về liên kết phát triển du lịch của các quốc gia trong khu vực Châu Á và các địa phương trong nước như vùng Nam Bộ, vùng Tây Bắc Từ đó, rút ra bài học kinh nghiệm về liên kết phát triển du lịch các tỉnh Bắc Trung Bộ

- Luận án đã đưa ra các quan điểm về liên kết vùng và liên kết phát triển du lịch

- Đánh giá thực trạng liên kết phát triển du lịch các tỉnh Bắc Trung Bộ, những thuận lợi và hạn chế, chỉ rõ các nguyên nhân dẫn đến những hạn chế đó Và đề xuất các nhóm giải pháp, kiến nghị nhằm tăng cường liên kết phát triển du lịch tại các tỉnh Bắc Trung Bộ

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

+ Ý nghĩa lý luận của luận án:

- Lý luận về liên kết vùng, liên kết phát triển du lịch thực hiện trong luận án góp phần khẳng định việc liên kết phát triển du lịch là yếu tố quan trọng nhất để đảm bảo hiệu quả kinh tế - xã hội của hoạt động này, là cơ sở gợi mở cần thiết cho các nghiên cứu tiếp theo

- Kết quả nghiên cứu cho thấy muốn tăng cường liên kết phát triển du lịch cần quy hoạch tập trung xây dựng sản phẩm du lịch đặc trưng cho từng vùng, tránh tình trạng chồng chéo, liên kết du lịch giữa các tỉnh trong vùng và các vùng trong cả nước, nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý và những người trực tiếp tham gia hoạt động du lịch Bên cạnh đó là định hướng phát triển du lịch từ chiều rộng sang chiều sâu, phát triển du lịch bền vững với chất lượng dịch vụ cao hơn; tăng cường

sự phối hợp giữa các cấp, các ngành…; vì vậy tính đồng bộ trong thực hiện các giải pháp cần phải được đặc biệt quan tâm

+ Ý nghĩa thực tiễn của luận án:

- Luận án đã đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ; các giải pháp này nếu được áp dụng sẽ góp phần tăng cường liên kết phát triển du lịch Bắc Trung Bộ trong thời gian tới

- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể là tài liệu tham khảo bổ ích cho các đối tượng có nhu cầu tìm hiểu về vấn đề liên kết vùng, liên kết du lịch; các địa phương khác trong cả nước cũng có thể tìm thấy những thông tin bổ ích trong luận án này

7 Kết cấu của Luận án

Ngoài Lời mở đầu, kết luận, danh mục công trình nghiên cứu, phụ lục, nội dung luận án được trình bày trong 4 chương:

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu có liên quan đến luận án

Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về liên kết phát triển du lịch

Chương 3: Phân tích thực trạng liên kết phát triển du lịch tại các tỉnh Bắc Trung Bộ Chương 4: Quan điểm, định hướng và giải pháp tăng cường liên kết phát triển

du lịch tại các tỉnh Bắc Trung Bộ

Trang 19

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

Liên kết phát triển du lịch giữa các địa phương trong vùng, giữa vùng với các địa bàn khác trong một nước và liên kết quốc tế, với các nước nằm trong khu vực nhằm đa dạng hóa sản phẩm du lịch phù hợp với thế mạnh của từng địa phương, tạo

sự độc đáo trong các tour du lịch, tăng cường chất lượng sản phẩm du lịch, xúc tiến quảng bá du lịch , vừa tạo sự hài hòa, thống nhất và sức mạnh tổng hợp của từng địa phương, của vùng nhằm tạo lập không gian du lịch thống nhất toàn vùng để cùng phát triển, tăng khả năng cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế Lý luận và thực tiễn về liên kết phát triển du lịch được đề cập trong một số các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm như sau:

1.1 Tổng quan một số công trình nghiên cứu liên quan liên kết và liên kết phát triển vùng

1.1.1 Các nghiên cứu liên quan đến liên kết

Thuật ngữ liên kết (linkage) từ lâu đã được sử dụng trong nhiều ngành khoa học khác nhau như vật lý học, sinh học, quân sự, chính trị học,… Trong mỗi ngành nó lại

có nội hàm và ý nghĩa riêng Ngay bản thân trong lý thuyết phát triển, thuật ngữ liên kết, với các tác giả khác nhau, cũng được dùng với nhiều cách khác nhau Trong lý thuyết phát triển, thuật ngữ liên kết được sử dụng đầu tiên trong các công trình của Perroux (1955) [165] và Hirschman (1958) [130] Tuy vậy, Perroux và Hirschman lại

đi theo hai hướng khác nhau, và chính hai hướng đi này có ảnh hưởng chi phối đối với nhiều công trình nghiên cứu về liên kết của các tác giả đi sau

Hirschman (1958) [130] sử dụng khái niệm liên kết bao gồm các liên kết ngược (backward linkages, upstream linkages) và liên kết xuôi (forward linkages, downstream linkages) Hiệu ứng liên kết ngược (backward linkage effects) nảy sinh từ nhu cầu cung ứng đầu vào của một ngành nào đó mới được thiết lập; còn hiệu ứng liên kết xuôi phát sinh từ việc sử dụng đầu ra của ngành đó như là đầu vào của các hoạt động kéo theo Ông khuyến nghị cần tập trung đầu tư vào những ngành có các mối liên kết mạnh, để thông qua sức lan tỏa của chúng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (tăng trưởng không cân đối) Với cách quan niệm của mình khi định nghĩa liên kết là quá trình làm thế nào một hoạt động này dẫn đến một hoạt động khác và giải thích thêm rằng liên kết tồn tại

Trang 20

khi một hoạt động đang diễn ra kéo theo các chủ thể khác bắt đầu một hoạt động mới, Hirschman đã gây ra rất nhiều sự nhầm lẫn về sau này khi không có sự phân biệt bản thân mối liên kết với những hiệu ứng của nó (Kristiansen, 2003) [146]

Ở góc độ khác, Perroux (1955) [165] tiếp cận liên kết vùng dựa trên ý tưởng về

“cực tăng trưởng”, với chiến lược thiết lập các khu vực trong đó có ngành có sức lan tỏa mạnh Từ đó, ngành cốt lõi này tạo xung lực cho sự phát triển của các khu vực và ngành khác trong phạm vi lân cận

Mặc dù vậy, nhiều người cho rằng quan điểm về không gian kinh tế và không gian địa lý của Perroux không trùng khớp Vì thế Boudeville (1966) [86] đã cố gắng nhấn mạnh yếu tố địa lý trong lý thuyết cực tăng trưởng bằng cách đưa ra các ranh giới

rõ ràng về mặt địa lý của các hiệu ứng phát triển tích cực (Capello, 2007) [88] Từ đây, yếu tố then chốt trong phát triển không chỉ là sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các ngành nữa mà để có sự phát triển kinh tế vùng phải có sự tập trung về mặt không gian của các hoạt động sản xuất; và Boudeville giả định luôn rằng sự tập trung đó nằm ở đô thị Các liên kết trong phát triển vùng ở đây nằm ở sự tương tác giữa cực tăng trưởng/đô thị và các vùng nằm trong ảnh hưởng của nó

Một cách tiếp cận khác ngược với kiểu liên kết cực/trung tâm tăng trưởng nêu trên do Friedman and Douglass (1978) [112] đề xuất Đây là cách tiếp cận theo kiểu từ dưới lên (bottom-up), hướng tới giải quyết các vấn đề nghèo đói thông qua các dự án ở nông thôn và nông nghiệp, với sự tham gia liên kết của nhiều phía: khu vực tư nhân và nhà nước, các trung tâm nghiên cứu và các trường đại học, các tổ chức xã hội,…, và được triển khai trên quy mô tương đối nhỏ Nói cách khác, theo cách tiếp cận này, sự phát triển vùng có thể đạt được một cách tốt nhất thông qua sự kết nối giữa phát triển

đô thị và phát triển nông thôn ở cấp độ địa phương (Douglass, 1998) [102]

Douglass (1998) chỉ ra 5 liên kết cần lưu ý: (1) Hệ thống thương mại và vận tải

đô thị và sản xuất nông nghiệp; (2) Các dịch vụ vật tư nông nghiệp và cường độ sản xuất nông nghiệp; (3) Các thị trường hàng hóa phi nông nghiệp và thu nhập và sức cầu

ở nông thôn; (4) Công nghiệp chế biến và đa dạng hóa nông nghiệp; và (5) Việc làm phi nông nghiệp và lao động nông thôn

Martin (2003) [155] tiếp cận khái niệm liên kết giữa đô thị và nông thôn trong vùng trên cơ sở phức hợp các mối quan hệ trong đó Có 7 liên kết chủ yếu: (1) Liên kết

về cơ sở hạ tầng bao gồm đường sá, cảng và hệ thống cơ sở giáo dục và y tế; (2) Liên

Trang 21

kết kinh tế bao gồm cấu trúc thị trường, các dòng vốn, lao động và nguyên vật liệu, hợp tác trong sản xuất và chuyển giao công nghệ; (3) Liên kết dịch chuyển dân số bao gồm các dòng di cư tạm thời và lâu dài; (4) Liên kết xã hội bao gồm tương tác giữa các nhóm xã hội, tôn giáo và văn hóa, và sức khỏe, kỹ năng của dân cư; (5) Liên kết tổ chức bao gồm các chuẩn mực và quy tắc, các tổ chức chính thức và phi chính thức; (6) Liên kết hành chính bao gồm các mối quan hệ về cơ cấu hành chính, các chuỗi quyết định chính trị phi chính thức; và (7) liên kết môi trường bao gồm các mối quan hệ về vốn tự nhiên và chất thải

Trên khía cạnh khác, xem xét mối quan hệ giữa kinh tế, xã hội và thể chế, Kristiansen (2003) [146] chia liên kết thành 3 nhóm: (1) Liên kết như là tổng giá trị kinh

tế của các giao dịch giữa các khu vực kinh tế hay khu vực địa lý theo thời gian; (2) Liên kết như là mối liên hệ liên tục giữa các tác nhân kinh tế, bị chi phối bởi các hợp đồng hoặc

sự can thiệp của nhà nước; và (3) Liên kết như các quan hệ xã hội hay mạng lưới mà có thể được sử dụng để phát triển vốn xã hội, văn hóa và con người hay thúc đẩy giá trị của các quyết định, giao dịch kinh doanh hoặc phát triển kinh tế

1.1.2 Các nghiên cứu liên quan đến liên kết

Ở Việt Nam, hiện đã có nhiều kết quả nghiên cứu về vai trò của liên kết trong phát triển nông nghiệp nói riêng và phát triển kinh tế - xã hội nói chung theo hướng bền vững ở các vùng khác nhau Vấn đề liên kết ở nhiều vùng ở Việt Nam đều đã được xem xét, chẳng hạn Vũ Thành Hưng (2011) [40] đánh giá về liên kết phát triển Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, Vũ Minh Trai (2011) [71] nghiên cứu vị trí và vai trò của

Hà Nội trong mối liên kết vùng kinh tế Đồng Bằng Sông Hồng Về liên kết phát triển ở miền Trung và Tây Nguyên, có các nghiên cứu của Lê Thế Giới (2008) [23], Đào Hữu Hòa (2008) [26], Trương Bá Thanh (2009) [65], Nguyễn Danh Sơn (2010) [60], Trần

Du Lịch (2011) [45], Nguyễn Văn Huân (2012) [31] và Nguyễn Danh Sơn (2014) [61] Đối với liên kết phát triển ở phía Nam, có các công trình của Nguyễn Xuân Thắng (2010) [66], Trương Thị Hiền (2011) [39] hay Đinh Sơn Hùng (2011) [29], trong số nhiều tác giả khác Các tác giả đều thống nhất rằng điều quan trọng là phải có

sự liên kết hỗ trợ cùng phát triển, cần xoá bỏ “cát cứ hành chính”, cần có “người nhạc trưởng” để chỉ huy sự phát triển của một vùng

Các nghiên cứu vùng mang tính nền tảng về vùng cũng được nhiều tác giả thực hiện Chẳng hạn, Lê Thông và Nguyễn Văn Phú (2004) [67] đã đưa ra một số lý luận

Trang 22

cơ bản về vùng và phát triển vùng, đó là các khái niệm về vùng, vùng kinh tế; quan niệm về phát triển bền vững theo vùng; vấn đề xử lý liên vùng trong quá trình phát triển vùng; cơ chế chính sách phát triển vùng; vấn đề phát triển các lãnh thổ đặc biệt

và các trung tâm đô thị làm hạt nhân đột phá trên các vùng Trong đó các tác giả đã đua ra các quan điểm phát triển vùng trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đến năm 2020 gồm các điểm: (1) Phát triển vùng có trọng tâm, trọng điểm, tránh tràn lan, dàn trải Trước hết tạo ra sự phát triển nhanh của một vùng lãnh thổ làm động lực, đột phá cho sự phát triển chung của cả nước; (2) Mỗi vùng luôn chú ý phát hiện những nhân tố mới, nổi trội để hình thành các hạt nhân trong vùng để bứt phá đi trước, trở thành động lực trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của cả nước; (3) Bên cạnh phát triển có trọng điểm, luôn chú ý đến sự phát triển của các vùng kém phát triển

ở mức độ nhất định nhằm đảm bảo ổn định và phát huy tiềm năng thế mạnh của tất cả các vùng; (4) Phát triển vùng trên cơ sở tận dụng khả năng tài nguyên, nguồn nhân lực tại chỗ và đáp ứng nhu cầu thị trường, đảm bảo lợi ích cộng đồng trong mỗi vùng và hiệu quả kinh tế - xã hội cao; (5) Phát triển vùng phải đảm bảo “giữ được bản sắc vùng”, mỗi vùng phải thể hiện được đặc thù của mình cả về kinh tế và văn hoá; và 6) Phát triển kinh tế vùng phải đảm bảo bền vững cho mỗi vùng và cho cả nền kinh tế Các tác giả Đỗ Hoài Nam và Võ Đại Lược (2005) [51] đã có đánh giá tương đối toàn diện về vấn đề phát triển các vùng Theo đó, sự phát triển kinh tế thị trường sẽ tạo

ra sự chênh lệch về trình độ phát triển và thu nhập, vì những vùng có nhiều lợi thế cạnh tranh sẽ tăng trưởng cao hơn các vùng sâu vùng xa, các thành phố sẽ có tốc độ tăng trưởng cao hơn các vùng nông thôn, những lao động có kỹ năng cũng sẽ có thu nhập cao hơn những lao động không có kỹ năng Do vậy sự chênh lệch về phát triển là khó tránh khỏi Và cũng phải nói là kinh tế thị trường ra đời cùng với sự chênh lệch về phát triển, vì nếu một quốc gia phải cùng một lúc đầu tư phát triển đồng đều tất cả các vùng - kể cả các vùng có lợi thế, cũng như các vùng không có lợi thế, thì quốc gia đó khó có thể tăng trưởng cao được và cũng khó có các nhà đầu tư chịu lỗ để kinh doanh

ở những vùng không có lợi thế cạnh tranh Mọi nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường đều phải tìm kiếm lợi nhuận, họ sẽ tìm đến những nơi có lợi nhất để kinh doanh, do vậy ở đó phát triển và những nơi kém lợi thế sẽ kém, hoặc không phát triển, những lĩnh vực kinh doanh cũng vậy Đó là quy luật của kinh tế thị trường Sự chênh lệch về trình độ phát triển do lợi thế cạnh tranh tạo ra sẽ thúc đẩy tăng trưởng và phát

Trang 23

triển, tạo ra những cơ hội để các chính phủ có thể hỗ trợ cho các vùng sâu vùng xa, những người nghèo, giảm bớt sự bất bình đẳng duy trì được sự ổn định xã hội và an ninh quốc gia Tuy vậy trong cuốn sách này các tác giả không đi sâu giải quyết các vấn

đề liên kết vùng để các vùng cùng phát triển một cách bền vững

Về vai trò của liên kết vùng, Lê Anh Đức (2014) [21] khẳng định, liên kết vùng

là đòi hỏi tất yếu hiện nay bởi ba lý do: (1) Liên kết vùng nâng cao khả năng cạnh tranh; (2) Liên kết tạo ra lợi thế so sánh và phân công hợp lý hơn; và (3) Liên kết để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu Luận điểm này tiếp nối và bổ sung cho nghiên cứu của Đào Hữu Hòa (2008) [26] cho rằng liên kết vùng mang lại nhiều lợi ích cho các bên tham gia: (1) Tăng quy mô hoạt động nhằm đạt đến quy mô hiệu quả nhờ có phân công lao động xã hội; (2) Tăng khả năng linh hoạt của mỗi bên trong việc phát huy thế mạnh; (3) Tăng được sức mạnh cạnh tranh chung nhờ phối hợp sử dụng được những ưu thế riêng biệt của các bên; và (4) Giảm thiểu các rủi ro nhờ chia cơ chế sẻ trách nhiệm giữa các bên tham gia

Ngoài các nghiên cứu liên kết theo chiều cạnh không gian hành chính, liên kết vùng thông qua các chủ thể cũng đã được đào xới Đào Hữu Hòa (2008) [26] và Lê Anh Vũ (2016) [74] cho rằng liên kết kinh tế được là sự thiết lập các mối quan hệ giữa các chủ thể sản xuất, kinh doanh, có thể giữa các doanh nghiệp thuộc cùng lĩnh vực hoạt động, giữa các đối tác cạnh tranh hoặc giữa các doanh nghiệp có các hoạt động mang tính chất bổ sung, nhằm tiết kiệm thời gian, tiết kiệm chi phí, đạt hiệu quả cao hơn trong sản xuất - kinh doanh, tạo ra sức mạnh cạnh tranh, cùng nhau chia sẻ các khả năng, mở ra những thị trường mới Mặc dù vậy, hầu hết các tác giả đều không đưa

ra khái niệm liên kết vùng là gì, và nếu có đưa ra thì quan niệm cũng có sự khác biệt đáng kể hoặc chỉ tập trung chủ yếu vào liên kết kinh tế vùng

1.2 Tổng quan về một số công trình nghiên cứu phát triển du lịch và liên

Trang 24

học giả đã lập luận rằng cơ sở lý thuyết của liên kết vùng trong du lịch xuất phát từ chiến lược điểm đến của Porter (1990) [173], quan niệm về du lịch của Gilbert (1984) [119] nhà nước và hàng hóa hoặc khái niệm chuyên môn hóa năng động và đổi mới thường xuyên của Poon (1994) [171] Trong lĩnh vực liên kết cụm, Anderson et al (2004) [77] lập luận rằng việc hình thành các mối quan hệ hợp tác chặt chẽ hoặc liên minh giữa các chủ thể là rất quan trọng để nâng cao khả năng cạnh tranh và đẩy mạnh liên kết du lịch Coi điểm đến là một loại hình du lịch đặc biệt, nhiều nghiên cứu đã nhấn mạnh sự cần thiết phải hợp tác và liên kết (Gunn, 1997) [122] Đạt được mức độ cao của liên kết, với các sản phẩm và dịch vụ khác biệt dựa trên sự đổi mới thường xuyên, là một chiến lược cho tăng khả năng cạnh tranh của các điểm đến du lịch một cách bền vững, vì lợi ích của địa phương cộng đồng Gần đây, các mối liên kết du lịch

đã chuyển từ một cách tiếp cận dựa trên cạnh tranh sang một phương pháp hợp tác (Baggio et al., 2013 [80]; Mariani và Kylanen, 2014 [154]) theo hướng du lịch các điểm đến được quảng bá, tiếp thị và giao dịch như một nỗ lực chung (Wang & Shaul, 2008) [198]

Khi các công ty du lịch tham gia sâu hơn vào các mạng lưới khu vực, trong nước

và quốc tế, việc hợp tác và duy trì các mối quan hệ trong mạng lưới kinh doanh trở nên cần thiết để nâng cao hiệu quả cạnh tranh (Erkus-Otzurk và Eraydın, (2010) [109]; Plummer et al., (2006) [168]) Nhìn chung, các nghiên cứu cho thấy rằng liên kết vùng không chỉ là một yêu cầu cho du lịch phát triển trong một thời kỳ nhất định nhưng cũng

là một lựa chọn không thể thiếu để phát triển du lịch Các nghiên cứu quốc tế về hội nhập khu vực có thể cung cấp cơ sở lý thuyết và thực tiễn hữu ích cho nghiên cứu khu vực tại Việt Nam

Ở Việt Nam có những nghiên cứu sau đây nghiên cứu về ngành du lịch:

Đề tài cấp bộ “Cơ sở khoa học và giải pháp phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam” của Phạm Trung Lương năm 2002 [46] Kết quả nghiên cứu là thử nghiệm xây

dựng mô hình phát triển du lịch bền vững trong điều kiện cụ thể của Việt Nam và đề xuất

hệ thống các giải pháp đảm bảo phát triển du lịch bền vững trong điều kiện Việt Nam

Du lịch là một hoạt động có tính thời vụ cao, nhất là hoạt động du lịch biển, do đó

“Nghiên cứu ảnh hưởng của tính mùa vụ du lịch đến hoạt động du lịch ở Việt Nam” của

Nguyễn Thăng Long năm 1998 [49] đã nghiên cứu tác động của tính thời vụ đối với hoạt động của một số loại hình du lịch chủ yếu ở Việt Nam bao gồm: du lịch biển, du

Trang 25

lịch núi, du lịch lễ hội và du lịch tham quan nghiên cứu Đề tài đã xác lập được cơ sở khoa học về ảnh hưởng của tính thời vụ trong hoạt động du lịch góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh du lịch và là căn cứ để xây dựng các giải pháp cụ thể nhằm hạn chế ảnh hưởng của tính thời vụ trong hoạt động kinh doanh du lịch ở những vùng lãnh thổ khác nhau với những mức độ ảnh hưởng khác nhau

Với mục tiêu là đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm thúc đẩy sự phát triển của các

khu du lịch quốc gia biển miền Trung một cách hiệu quả và bền vững, tác giả Nguyễn Thu Hạnh đã tiếp cận theo phương pháp khảo sát thực địa, điều tra xã hội học, phương pháp bản đồ, phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp ma trận, chuyên gia, dự báo (cả định tính và định lượng) để đánh giá tiềm năng tài nguyên và hiện trạng các khu du lịch biển một cách hệ thống và tổng quát nhằm nhận biết rõ vai trò ảnh hưởng

của các yếu tố đến phát triển khu du lịch biển trong đề tài cấp bộ năm 2009 "Cơ sở khoa h ọc phát triển các khu du lịch quốc gia biển miền Trung", từ đó đánh giá được

thực trạng phát triển du lịch biển tại các địa bàn để có các định hướng và giải pháp phát triển các khu du lịch biển phù hợp với tương lai [34]

Liên quan đến chính sách phát triển biển có cuốn “Chính sách, pháp luật biển của

Vi ệt Nam và chiến lược phát triển bền vững” do tác giả Hoàng Ngọc Giao, Nguyễn Bá

Diễn (chủ biên) được xuất bản năm 2006 bởi NXB Tư pháp Cuốn sách đề cập một cách tổng quan đến các vấn đề chính sách pháp luật về biển cũng như các nguyên tắc phát triển bền vững [22]

Trong đó đi sâu nghiên cứu các chính sách biển của Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và phát triển bền vững, các vấn đề hợp tác quốc tế Đề cập đến các chính sách của phát triển du lịch bền vững ở những vùng sinh thái nhạy cảm như du lịch

ven biển, miền núi, sinh thái, các tác giả Nguyễn Đình Hoè, Vũ Văn Hiếu (trong cuốn “Du lịch bền vững” - NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001) đã chứng minh được rằng do tính

nhạy cảm của hoạt động du lịch ở ven biển nên cần thiết phải có những chính sách phù hợp

để đảm bảo tính bền vững của khu vực cũng như quốc gia, vùng hay địa phương trong phát triển du lịch [27]

Bên cạnh đó, có khá nhiều đề tài dưới hình thức luận án, luận văn nghiên cứu các vấn

đề có nội dung liên quan đến quản lý nhà nước về phát triển du lịch nói chung và du lịch

biển cấp độ quốc gia Với tác giả Hoàng Văn Hoan trong luận án tiến sĩ năm 2002“Hoàn thiện quản lý nhà nước về lao động trong kinh doanh du lịch ở Việt Nam” thì tiếp cận trên

Trang 26

góc độ các công cụ quản lý nhà nước (trong đó có chính sách) đối với lao động trong kinh doanh du lịch ở Việt Nam [28]

Từ năm 2006 đến nay, trong các đề tài cấp Bộ, nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau trong phát triển du lịch, khi đề cập đến các giải pháp thúc đẩy du lịch phát triển thì liên kết giữa du lịch - hàng không luôn được coi trọng và được xem là một trong các giải pháp quyết định cho sự phát triển của ngành du lịch

Đề tài cấp Bộ (2006): “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp đầu tư phát triển khu

du lịch” do Thạc sĩ Lê Văn Minh chủ nhiệm và Viện Nghiên cứu và Phát triển Du lịch

chủ trì [50] Đề tài tập trung vào nghiên cứu vai trò của đầu tư trong phát triển các khu

du lịch, khi nêu ra các giải pháp để tạo lập các điều kiện hạ tầng vật chất - kỹ thuật bảo đảm cho các khu du lịch hoạt động có hiệu quả, tác giả đã đề xuất các giải pháp liên kết với các ngành liên quan, trong đó liên kết với ngành giao thông vận tải được chú trọng Đặc biệt, đề tài nhấn mạnh tới việc hình thành các cơ sở hạ tầng giao thông như đường xá, sân bay, bến cảng, coi đây là điều kiện hạ tầng vật chất kỹ thuật thiết yếu đảm bảo cho các khu du lịch ra đời và hoạt động có hiệu quả

Đề tài cấp Bộ (2007): “Nghiên cứu xây dựng sản phẩm du lịch Việt Nam có tính cạnh tranh trong khu vực và quốc tế” do Tiến sĩ Đỗ Cẩm Thơ chủ nhiệm, Viện Nghiên

cứu và Phát triển Du lịch chủ trì [69], trong đó đã trình bày được những vấn đề cơ bản

về sức cạnh tranh của sản phẩm du lịch, phân tích được cấu thành sản phẩm chung của điểm đến và sản phẩm theo các loại hình du lịch, định vị được sản phẩm du lịch Việt Nam trên thị trường khu vực và quốc tế Đặc biệt khi đề cập đến đặc trưng của sản phẩm du lịch được cấu tạo bởi sự liên kết hoạt động giữa các ngành, vùng đề tài đã tập trung phân tích vai trò của liên kết giữa hàng không và du lịch như một trong các giải pháp cơ bản đề giảm chi phí, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm du lịch, nhất là sản phẩm của lữ hành du lịch

Đề tài cấp Bộ (2011): “Hiện trạng và giải pháp phát triển các khu du lịch biển quốc gia tại vùng du lịch Bắc Trung Bộ”do Nguyễn Thu Hạnh chủ nhiệm, Viện Nghiên

cứu và Phát triển Du lịch chủ trì [35] Đề tài đã làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về du lịch biển và phát triển du lịch biển quốc gia, tác giả đề tài đã nêu ra 10 bài học kinh nghiệm, trong đó đã khẳng định: Việc tổ chức hình thành khu du lịch phải gắn liền với mạng lưới giao thông đường bộ, đường sông, đường biển, đường sắt và đường không Đặc biệt cần tìm địa hình thuận lợi để phát triển các cảng hàng không cho loại hình LCA

Trang 27

nhằm gắn khu du lịch với các thị trường du lịch quốc tế lớn, bảo đảm cho khu du lịch phát triển và tăng trưởng ổn định, bền vững

Luận án tiến sĩ kinh tế, “Năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch Việt Nam” (2010)

của Nguyễn Tuấn Anh, bảo vệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội [2] Trong luận án, tác giả

đã trình bày cơ sở lý luận, thực tiễn về năng lực cạnh tranh của các điểm đến du lịch Trong đó đã đưa ra khái niệm điểm đến và năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch Trong cấu thành năng lực điểm đến, tác giả coi việc hình thành cơ sở hạ tầng giao thông hoàn chỉnh cho các điểm đến du lịch, đặc biệt là phát triển các cảng hàng không, nhất là các cảng hàng không dùng cho các loại máy bay giá rẻ có thể cất hạ cánh thuận lợi nhằm liên kết với loại hình vận tải này để giảm chi phí cho các sản phẩm lữ hành

du lịch, nối liền điểm đến với các trung tâm du lịch của khu vực và quốc tế, tăng sức cạnh tranh của các điểm đến

+ Khi phân tích thực trạng của các điểm đến du lịch của Việt Nam, tác giả đã chỉ

ra hạn chế về năng lực cạnh tranh của các điểm đến du lịch nước ta là thiếu một hệ thống hạ tầng giao thông hiện đại, hoàn chỉnh, đặc biệt là nhiều điểm đến du lịch ở quá

xa các cảng hàng không

+ Trong 7 nhóm khuyến nghị chính sách và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các điểm đến thì giải pháp xây dựng một hệ thống giao thông đồng bộ, hiện đại, đặc biệt là những điểm đến du lịch có địa hình thuận lợi có thể phát triển các cảng hàng không phụ tạo điều kiện để các hãng LCA cung ứng LCAS là một giải pháp quan trọng

Luận án tiến sĩ kinh tế, “Thị trường du lịch Quảng Ninh trong hội nhập kinh tế quốc tế” (2011) của Trần Xuân Ảnh, bảo vệ tại Học viện Chính trị-Hành chính quốc

gia Hồ Chí Minh [3]

+ Trong luận án, tác giả đã trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn về thị trường du lịch như: Khái niệm về thị trường du lịch, cấu thành và đặc điểm của thị trường du lịch, cơ chế hoạt động của thị trường du lịch và kinh nghiệm phát triển thị trường du lịch ở các tỉnh thành phố trong và ngoài nước bài học cho Quảng Ninh

+ Trong phân tích thực trạng phát triển thị trường du lịch Quảng Ninh và trong các giải pháp thúc đẩy thị trường du lịch phát triển Khi phân tích về tạo lập môi trường du lịch Quảng Ninh trong hội nhập kinh tế quốc tế, tác giả đã nhấn mạnh đến phát triển hệ thống đường bộ, đường thủy và đường không Đặc biệt sự liên kết giữa hàng không, trong đó có LCA với các cơ sở lưu trú, du thuyền và đưa khách tham

Trang 28

quan vịnh bằng các loại máy bay du lịch và máy bay lên thẳng

Luận án tiến sĩ kinh tế, “Phát triển kinh doanh lưu trú du lịch tại vùng du lịch Bắc Bộ của Việt Nam” (2011) của Hoàng Thị Lan Hương, bảo vệ tại Đại học Kinh tế

Quốc dân, Hà Nội [36]

+ Trong luận án, tác giả đã trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn về lưu trú du lịch và kinh doanh lưu trú du lịch, xây dựng được một hệ thống các tiêu thức đánh giá về kinh doanh lưu trú du lịch Trong đó phân tích các tiêu thức xác định kinh doanh lưu trú du lịch bền vững với việc liên kết với các hãng hàng không, trong đó

có LCA để duy trì lượng khách ổn định là một tiêu thức quan trọng

+ Trong phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp đảm bảo cho kinh doanh lưu trú du lịch phát triển bền vững thì liên kết giữa du lịch - hàng không được xem như một tiêu thức, giải pháp giúp loại hình kinh doanh này phát triển

Luận án tiến sĩ, “Phát triển dịch vụ lữ hành du lịch trong điều kiện hội nhập kinh

tế quốc tế: Kinh nghiệm một số nước Đông Á và gợi ý chính sách cho Việt Nam” (2012)

của Nguyễn Trùng Khánh bảo vệ tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Xã hội Việt Nam [41]

+ Nội dung cơ bản của luận án là hướng vào phân tích lý luận về lữ hành du lịch, dịch vụ lữ hành du lịch và các đặc điểm cơ bản của dịch vụ lữ hành du lịch trong hội nhập kinh tế quốc tế

+ Phân tích kinh nghiệm phát triển dịch vụ lữ hành du lịch trong hội nhập kinh tế quốc tế của một số nước Đông Á như Trung Quốc, Malaysia, Thái Lan, từ đó rút ra bài học cho Việt Nam

+ Đặc biệt, tác giả luận án kết luận, khi phân tích về các bài học phát triển dịch

vụ lữ hành du lịch thì liên kết du lịch - hàng không được coi như là một yếu tố quan trọng để phát triển các doanh nghiệp lữ hành du lịch Việt Nam Trong đó được tác giả tập trung phân tích những lợi thế căn bản của quan hệ liên kết này trong phát triển các doanh nghiệp lữ hành và bảo đảm thành công các hoạt động của chúng

Hoàng Văn Hoa và các cộng sự (2018), Liên kết khu vực trong du lịch: trường

hợp nghiên cứu tại Việt Nam, Tạp chí của Học viện Quản lý văn hóa nghệ thuật quốc gia Herald, năm 2018 [211] Nghiên cứu này được thực hiện để điều tra các tình huống hiện tại về mối liên kết khu vực trong phát triển du lịch ở các khu vực Trung du

và vùng núi phía Bắc Việt Nam Dữ liệu được thu thập từ một cuộc khảo sát trên 755

Trang 29

người, bao gồm các quan chức từ các cơ quan quản lý nhà nước phụ trách du lịch, các quan chức và nhân viên tại các khu du lịch, công ty du lịch, nhà khoa học du lịch và khách du lịch Ngoài ra, chúng tôi đã tiến hành nhóm tập trung và phỏng vấn các quan chức cơ quan du lịch và các công ty du lịch ở các tỉnh miền trung và miền núi của Việt Nam Kết quả cho thấy sự phát triển du lịch ở Việt Nam nói chung và khu vực Tây Bắc nói riêng là vô cùng rời rạc, chưa hình thành mối liên kết khu vực; các dự án phát triển du lịch khu vực và quốc gia chỉ mang tính hình thức Một số nguyên nhân là chính sách hội nhập khu vực hạn chế, thiếu các cơ chế quản trị khu vực thích hợp và

sự tham gia không tích cực của khu vực tư nhân trong hội nhập khu vực Dựa trên những phát hiện, chúng tôi đề xuất một mô hình liên kết ngành du lịch; bên cạnh đó, ý nghĩa chính sách được đưa ra để thực hiện các chính sách liên kết ở Việt Nam nói riêng và rộng hơn cho các nước mới nổi nói chung.1

Hoàng Văn Hoa và các cộng sự (2018), Liên kết vùng phát triển du lịch Việt Nam, Bài viết đăng trên https://www.preprints.org/manuscript/ năm 2018 [212] Nghiên cứu này được thực hiện để điều tra tình trạng liên kết vùng trong phát triển du lịch ở vùng Trung du và miền núi phía Bắc Việt Nam Dữ liệu được thu thập từ một cuộc khảo sát trên 755 người, bao gồm các quan chức từ các cơ quan quản lý nhà nước phụ trách du lịch, các quan chức và nhân viên tại các khu du lịch, công ty du lịch, nhà khoa học du lịch và khách du lịch Ngoài ra, chúng tôi đã tiến hành 10 cuộc thảo luận nhóm, phỏng vấn 30 quan chức cơ quan du lịch nhà nước và các công ty du lịch ở các tỉnh miền trung và miền núi của Việt Nam Kết quả cho thấy sự phát triển du lịch ở Việt Nam nói chung và khu vực Tây Bắc nói riêng là vô cùng rời rạc, chưa hình thành mối liên kết khu vực; Các chương trình phát triển du lịch khu vực và quốc gia chỉ mang tính hình thức Nguyên nhân chính của tình hình là chính sách hội nhập khu vực hạn chế ở Việt Nam, thiếu cơ chế quản trị khu vực thích hợp và sự tham gia không tích cực của khu vực tư nhân trong hội nhập khu vực Dựa trên những phát hiện, chúng tôi

đề xuất một mô hình liên kết ngành du lịch; bên cạnh đó, các hàm ý chính sách được đưa ra để thực hiện chính sách liên kết ở khu vực Trung du và vùng núi phía Bắc2 Hoàng Ngọc Hải và cộng sự (2020), Liên kết vùng trong phát triển du lịch ở các tỉnh Tây Bắc của Việt Nam, bài viết đăng trên Tạp chí lý luận (bản online) ngày 22/03/2020 [213] Bài viết đã cho thấy liên kết khu vực để tạo ra các sản phẩm du lịch

1 http://journals.uran.ua/visnyknakkkim/article/view/178168

2 https://www.preprints.org/manuscript/201807.0578/v1

Trang 30

tiêu biểu và độc đáo để thu hút khách du lịch đã được triển khai ở nhiều nơi trên thế giới cũng như tại Việt Nam Đối với Tây Bắc, liên kết là một xu hướng tốt, đã được tích cực tham gia vào nhiều địa phương để phát triển du lịch, một số mô hình liên kết

đã cho thấy kết quả ban đầu Bài viết này nhằm cung cấp một số gợi ý về chính sách liên kết khu vực cho phát triển du lịch Tây Bắc dựa trên phân tích kết quả cũng như những hạn chế cần khắc phục ở các tỉnh Tây Bắc3.

Ngoài ra, Nghiên cứu nổi bật nhất về hội nhập khu vực tại Việt Nam là "Nghiên cứu về chính sách và Khuyến nghị về phát triển liên kết vùng và kinh tế khu vực (Kinh

tế trung ương Ủy ban, 2015) [7] Nghiên cứu đã nâng cao kinh nghiệm quốc tế về kinh

tế khu vực phát triển và hội nhập khu vực, để cung cấp một cái nhìn tổng quan về phát triển kinh tế khu vực và hội nhập khu vực và đề xuất một số giải pháp cho phát triển kinh tế khu vực và khu vực liên kết tại Việt Nam

Trần Đình Thiên (2016) [68] và Vũ Trọng Bình (2017) [13] đã nhấn mạnh tình hình của khu vực liên kết tại Việt Nam Các tác giả này cho rằng mối liên kết khu vực

ở Việt Nam vẫn còn hạn chế, chưa chưa thành lập thể chế quản trị khu vực, mỗi tỉnh

có quy mô kinh tế nhỏ, chưa thành lập một chuỗi liên kết

Ngô Thắng Lợi và Vũ Cương (2015) [44], Liên kết phát triển và tổ chức điều phối liên kết phát triển vùng kinh tế trọng điểm ở Việt Nam, Nxb Lý luận chính trị

Nghiên cứu này đã phân tích ba yếu tố liên kết phát triển trong nền kinh tế trọng điểm khu vực: liên kết phát triển kinh tế, liên kết phát triển cơ sở hạ tầng (giao thông, điện, Nước); liên kết để giải quyết ô nhiễm môi trường và liên kết phát triển nguồn nhân lực Tuy nhiên, các khu vực kinh tế trọng điểm vẫn chủ yếu phát triển dựa trên số lượng, không hình thành kinh tế khu vực không gian

Trần Đình Thiên (2016) [68], Thể chế điều hành liên kết phát triển vùng độc lập – yếu tố quyết định sự phát triển cấp vùng, Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế: Liên kết trong quá trình tái cơ cấu kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng ở Việt Nam Bài viết đã phân tích và đánh giá các hoạt động liên quan đến các tỉnh ven biển miền Trung Có nhiều hạn chế về khu vực hóa ở Việt Nam, như thiếu nhận thức về sự cần thiết phải liên kết vùng và ý tưởng hội nhập khu vực trong phát triển kinh tế xã hội

Vũ Trọng Bình (2017) [13], Phát triển kinh tế vùng – vấn đề và giải pháp, Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia: Thực trạng và giải pháp liên kết vùng, tiểu vùng trong

3 northwest-provinces-of-vietnam.html

Trang 31

http://lyluanchinhtri.vn/home/en/index.php/practice/item/689-regional-linkage-in-tourism-development-in-the-phát triển du lịch ở Tây Bắc, Nxb Lao động – xã hội Bài viết nhấn mạnh rằng liên kết vùng tại Việt Nam vẫn là tự nguyện, ít dựa trên cơ sở khoa học và lập luận thực tế, thiếu động lực cho các bên liên quan, thiếu liên kết chặt chẽ giữa các địa phương và thiếu quản trị thể chế khu vực thích hợp

Trong bối cảnh của Việt Nam, gần đây đã có một số bài viết về liên kết du lịch được công bố trên các tạp chí khoa học và hội nghị, hội thảo Nội dung của các bài viết này bao gồm một số vấn đề chính sau đây:

Đầu tiên, quan điểm, mục tiêu và nội dung của liên kết du lịch

Vũ Trọng Bình (2017), Trần Đình Thiên (2016) đã đưa ra quan điểm về mối liên kết du lịch: bình đẳng, cùng có lợi; liên kết dựa trên tinh thần tự nguyện; mối liên kết được thiết kế thành các dự án và chương trình cụ thể rõ ràng mục tiêu

Hà Văn Siêu (2017) [53], Tiềm năng và giải pháp liên kết vùng, tiểu vùng phát triển du lịch ở vùng miền núi Tây Bắc, Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia: Thực trạng

và giải pháp liên kết vùng, tiểu vùng trong phát triển du lịch ở Tây Bắc, Nxb Lao động – xã hội Nghiên cứu này đã xây dựng 6 nguyên tắc: chấp hành, tự nguyện, đồng thuận, bình đẳng, tương hỗ lợi ích, chia sẻ Tương tự, Phạm Trung Lương (2014), Phát triển

du lịch Điện Biên trong mối liên kết với vùng Tây Bắc, Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Phát huy giá trị đặc biệt của di tích lịch sử Điện Biên Phủ để đẩy mạnh phát triển du lịch Điện Biên trong mối liên kết với vùng Tây Bắc, ngày 13/03/2014, Điện Biên Phủ Bài viết này cũng cụ thể hóa 3 nguyên tắc bình đẳng, tình nguyện, thiết kế thành các dự

án, chương trình liên kết du lịch

Hà Văn Siêu (2017) cho rằng mục tiêu liên kết du lịch đang nâng cao hiệu quả tăng trưởng kinh tế, Đảm bảo sự hài lòng của khách du lịch, xây dựng cạnh tranh thương hiệu du lịch, thiết lập điểm chung tài nguyên của toàn khu vực, tạo thành khu vực du lịch quốc gia quan trọng và tuyến du lịch Và nhấn mạnh vào nội dung của sản phẩm liên kết du lịch phát triển

Phạm Trung Lương (2014) [47] đã đặt mục tiêu dài hạn để khai thác và phát huy hiệu quả tiềm năng và thế mạnh của từng khu vực; các Mục tiêu ngắn hạn là ưu tiên đầu tư vào các lĩnh vực quan trọng như phát triển du lịch cơ sở hạ tầng, kết nối "điểm đến" với các điểm đến du lịch chính của khu vực, đang phát triển sản phẩm du lịch, đào tạo nguồn nhân lực

Vũ Trọng Bình (2017), Trần Đình Thiên (2016) đã phác thảo nội dung liên kết:

Trang 32

phân phối lại lực lượng sản xuất; điều chỉnh quy hoạch phát triển du lịch; xây dựng đồng bộ vận tải liên tỉnh cơ sở hạ tầng; thiết lập không gian du lịch thống nhất; đào tạo chung và phát triển nguồn nhân lực; đến huy động vốn đầu tư và xây dựng cơ chế chính sách chung cho toàn khu vực; phối hợp xúc tiến du lịch

Nguyễn Văn Khánh (2016) [43], Phát triển bền vững vùng Tây Bắc: Từ chính sách đến thực tiễn, Nxb Thế giới Trong nghiên cứu này đã đề xuất rằng nội dung liên quan nên bao gồm sự phát triển của chiến lược, kế hoạch và chính sách phát triển du lịch; phối hợp giữa các tỉnh phát triển cơ chế liên kết hiệu quả; liên kết du lịch cần tăng cường cả liên kết ngang và dọc liên kết

Thứ hai, giải pháp tăng cường liên kết du lịch

Trần Hữu Sơn (2016) [57], Nguyễn Ngọc Sơn (2015) [59] đã đề xuất một số đề xuất: lập kế hoạch du lịch khu vực, thiết lập cơ cấu tổ chức quản lý khu du lịch; tăng cường quản lý liên kết ngang và dọc; quảng bá và phát triển thương hiệu du lịch; huy động các nguồn lực trong việc liên kết quảng bá và quảng cáo du lịch; phát triển sản phẩm du lịch và quản lý chất lượng sản phẩm du lịch

Như vậy, kết quả của nhóm công trình khoa học này có ý nghĩa về mặt thực

tiễn quan trọng đối với xu thế phát triển ngành du lịch ở Việt Nam Kết quả này đã đưa ra được nhiều hướng mở cho quá trình phát triển ngành du lịch nói chung, đồng thời gìn giữ và phát huy bản sắc và giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế nói riêng Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu

về vấn đề liên kết du lịch nói chung và liên kết du lịch các tỉnh Bắc Trung Bộ Chính vì vậy, đây chính là khoảng trống cho nghiên cứu của nghiên cứu sinh

1.3 Những vấn đề rút ra

Qua nghiên cứu các công trình trong và ngoài nước, những vấn đề sau đây đã được đề cập đến, luận án sẽ kế thừa và tiếp tục phát triển, hoàn thiện theo hướng phù hợp với nội dung và yêu cầu của đề tài luận án đề ra:

Thứ nhất, một số công trình trong và ngoài nước đã đề cập tới khái niệm phát

triển du lịch, liên kết phát triển du lịch và vai trò của liên kết phát triển du lịch Tuy nhiên, để sử dụng được các khái niệm trên trong luận án cần phải khái quát lại và bổ sung những đặc trưng mới cho phù hợp với nội dung và yêu cầu của luận án đòi hỏi

Thứ hai, trong một số công trình đã đề cập đến nội dung liên kết phát triển du lịch

Những nội dung này luận án đã kế thừa và phát triển rộng ra, gắn kết các đặc điểm các

Trang 33

hoạt động du lịch của vùng Bắc Trung Bộ cho phù hợp và tương đồng hơn

Thứ ba, nhiều tư liệu thực tiễn và tình hình hoạt động liên kết phát triển du lịch ở

một số quốc gia và địa phương trong nước được tác giả luận án kế thừa và cơ cấu lại theo các tiêu thức cho phù hợp với đề tài

Thứ tư, hầu như tất cả các công trình nghiên cứu đều đề cập tới quan điểm,

phương hướng và hệ thống các giải pháp để thúc đẩy du lịch phát triển Ở đây luận án chỉ kế thừa các giải pháp liên kết du lịch hoặc liên kết du lịch để phát triển

và hoàn thiện hơn

Cho đến nay, tác giả luận án chưa có tìm thấy một luận án nào viết về liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ Do đó, nội dung cốt lõi trong đề cương được phê duyệt của luận án do tác giả tự nghiên cứu và triển khai Đó là các nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất, chứng minh tính khách quan của liên kết phát triển du lịch do yêu cầu

phát triển nội tại của các địa phương, trong đó sản phẩm du lịch với tư cách là sản phẩm ra đời trên cơ sở tài nguyên của địa phương và liên kết với các dịa phương khác trong vùng để tăng giá trị gia tăng của ngành dịch vụ du lịch

Thứ hai, phân tích thực trạng liên kết phát triển du lịch trên địa bàn các tỉnh Bắc Trung Bộ với các nội dung cốt lõi: (1) Liên kết tuyên truyền quảng bá và xúc tiến du lịch; (2) Liên kết phát triển sản phẩm du lịch; (3) Liên kết đào tạo và phát triển nguồn nhân lực; (4) Liên kết xây dựng đồng bộ hạ tầng du lịch, đặc biệt là hạ tầng giao thông; (5) Liên kết huy động vốn đầu tư và xây dựng cơ chế chính sách đầu tư phát triển du lịch chung của vùng, rà soát quy hoạch phát triển du lịch phù hợp với thế mạnh của từng địa phương; (6) Liên kết hợp tác nâng cao năng lực cạnh tranh du lịch

Thứ ba đưa ra được những quan điểm cơ bản và hệ thống các giải pháp khả thi để

tăng cường liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ và bảo đảm cho nó phát triển

ổn định bền vững trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Trang 34

Ngày nay, du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến không chỉ

ở các nước phát triển mà còn ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Tuy nhiên, cho đến nay, nhận thức về nội dung du lịch vẫn chưa thống nhất Do hoàn cảnh khác nhau, dưới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau, mỗi tổ chức, mỗi cá nhân có cách hiểu khác nhau về du lịch

Theo Hiệp hội quốc tế các tổ chức du lịch (IUOTO), du lịch được hiểu là việc đi lại của từng cá nhân hoặc một nhóm người rời khỏi chỗ ở của mình trong một khoảng thời gian ngắn đến các vùng xung quanh để nghỉ ngơi, giải trí và chữa bệnh

Năm 1963, Hội nghị Liên hợp quốc về du lịch (tổ chức tại Rome) cho rằng: “Du lịch và tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ với mục đích hòa bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc” [64] Năm 1980, Tổ chức Du lịch quốc tế (tại Hội nghị Manila) đưa ra định nghĩa về

du lịch như sau: “Du lịch là việc lữ hành của mọi người bắt đầu từ mục đích không phải là di cư và một cách hòa bình, hoặc xuất phát từ mục đích thực hiện sự phát triển

cá nhân về các phương diện kinh tế, xã hội, văn hóa tinh thần cùng với việc đẩy mạnh

sự hiểu biết và hợp tác giữa mọi người” [141]

Năm 1991, Hội nghị quốc tế về thống kê du lịch đưa ra định nghĩa: “Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên, trong một khoảng thời gian ít hơn khoảng thời gian đã được tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng đến thăm” [19]

Ở Việt Nam, theo khoản 1 Điều 3 Luật Du lịch năm 2017, du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác [55]

Từ những định nghĩa trên, theo tác giả, du lịch là hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu khám phá, tìm hiểu, trải nghiệm và vui chơi, giải trí trong một khoảng thời gian nhất định; là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư

Du lịch là một ngành năng động và cạnh tranh, đòi hỏi khả năng thích ứng với nhu cầu và mong muốn của khách hàng vì sự hài lòng, an toàn và hưởng thụ của khách hàng

là trọng tâm chính của kinh doanh du lịch Mục tiêu phát triển của ngành du lịch là góp phần nâng cao về chất lượng và sự đa dạng của các sản phẩm và dịch vụ du lịch tại các điểm đến mục tiêu nhằm tăng số lượng khách du lịch, thu nhập ngoại tệ và việc làm

Trang 35

Phát triển du lịch chủ yếu đề cập đến tình hình tăng trưởng chất lượng trong các ngành

du lịch về sự phát triển, mạnh mẽ kế hoạch và chính sách và tiếp thị trên toàn thế giới Hơn nữa, phát triển du lịch bao gồm cách tiếp cận điểm đến, cơ sở vật chất thích hợp như khách sạn, phương tiện giao thông, tiện nghi, để khách du lịch có sự hài lòng hoàn toàn ở điểm đến cụ thể Chất lượng là lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất của công ty du lịch hoặc chìa khóa để cạnh tranh [162]

Từ đó có thể hiểu phát triển du lịch là một khái niệm chỉ quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với các mục đích hợp pháp khác

Các tiêu chí về phát triển du lich cũng nằm chung trong các tiêu chí phát triển kinh

tế - xã hội nói chung Theo đó, phát triển du lịch là quá trình các cơ quan nhà nước,đơn

vị kinh doanh, các tổ chức cùng phối hợp để thúc đẩy du lịch phát triển, tạo việc làm, nâng cao mức sống của người dân địa phương nơi có du lịch Việc phát triển du lịch cũng cần đảm bảo các nhân tố cho phát triển bao gồm: (i) khai thác hợp lý các tài nguyên du lịch trên cơ sở nghiên cứu, chọn lọc các tài nguyên du lịch hấn dẫn, xây dựng thành các sản phẩm du lịch đặc thù, các sản phẩm du lịch chính và các sản phẩm du lịch

bổ trợ; khai thác các tài nguyên du lịch phù hợp với đặc thù của địa phương và của vùng; khai thác tài nguyên du lịch đi đôi với việc trùng tu, tôn tạo, bảo vệ các tài nguyên, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống; (ii) đảm bảo đem lại lợi ích kinh tế cho các bên liên quan bao gồm cộng đồng dân cư, các nhà đầu tư, các doanh nghiệp Đồng thời, đảm bảo sự liên kết chặt chẽ và bình đẳng giữa các địa phương tham gia vào chuỗi cung ứng các sản phẩm du lịch; (iii) bảo vệ môi trường tự nhiên, môi trường xã hội ở các khu/điểm/tuyến du lịch; khai thác các tài nguyên du lịch đi đôi với việc đầu tư cho các hoạt động bảo vệ môi trường tự nhiên, môi trường xã hội ở các khu/điểm/tuyến du lịch

Như vậy, theo tác giả, phát triển du lịch là một dạng phát triển kinh tế với tư cách là một ngành Các chỉ số thể hiện kết quả của quá trình phát triển du lịch bao gồm: số lượng khách du lịch và thu nhập du lịch; số lượng lao động/số việc làm mà ngành du lịch tạo ra; số lượng các doanh nghiệp du lịch được thành lập; số lượng các khu/điểm du lịch, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch được xây dựng để đáp ứng nhu cầu của khách trong một khoảng thời gian nhất định tại điểm đến cụ thể Điểm đến đó có thể là khu vực, quốc gia, vùng, địa bàn, hoặc địa phương (tỉnh/thành phố)

Theo UNEP và UNWTO, du lịch bền vững là du lịch giảm thiểu các chi phí và nâng cao tối đa các lợi ích của du lịch cho môi trường thiên nhiên và cộng đồng địa phương, và có thể được thực hiện lâu dài nhưng không ảnh hưởng xấu đến nguồn sinh thái mà du lịch phụ thuộc vào Du lịch bền vững là việc di chuyển và tham quan đến các vùng tự nhiên một cách có trách nhiệm với môi trường để tận hưởng và đánh giá cao tự nhiên (và tất cả những đặc điểm văn hoá kèm theo, có thể là trong quá khứ và

cả hiện tại) theo cách khuyến cáo về bảo tồn, có tác động thấp từ du khách và mang lại những lợi ích cho sự tham gia chủ động về kinh tế - xã hội của cộng đồng địa phương [202] Cần xem xét đầy đủ các tác động kinh tế, xã hội và môi trường hiện tại và tương lai nhằm giải quyết các nhu cầu của du khách, các ngành công nghiệp, môi trường và cộng đồng chủ nhà

Trang 36

Theo UNWTO “phát triển du lịch bền vững đáp ứng các nhu cầu của khách du lịch hiện nay và cộng đồng sở tại trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho phát triển du lịch trong tương lai” [193] Phát triển du lịch bền vững cần được chấp nhận như là tất cả các loại của sự phát triển du lịch mà tạo nên một đóng góp đáng kể hay, ít nhất, không mâu thuẫn với việc duy trì các nguyên tắc phát triển trong một thời gian vô hạn định mà không ảnh hưởng đến khả năng của các thế hệ tương lai đáp ứng nhu cầu và ham muốn của họ Khái niệm phát triển du lịch bền vững không chỉ tập trung vào việc bảo vệ môi trường mà còn tập trung vào việc duy trì những văn hóa của địa phương và đảm bảo việc phát triển kinh tế, mang lại lợi ích công bằng cho các nhóm đối tượng tham gia

Theo khoản 14 Điều 3 Luật Du lịch Việt Nam năm 2017, phát triển du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng đồng thời các yêu cầu về kinh tế - xã hội và môi trường, bảo đảm hài hòa lợi ích của các chủ thể tham gia hoạt động du lịch, không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch trong tương lai [55]

Từ những phân tích trên, theo tác giả, du lịch được coi là phát triển bền vững khi nền

du lịch đó tốt cho đất nước ở thời điểm hiện tại và còn bền vững lâu dài mai sau

2.1.2 Vùng, liên kết, liên kết phát triển du lịch

2.1.2.1 Khái niệm vùng trong phát triển du lịch

Vùng du lịch là một cộng đồng lãnh thổ của các xí nghiệp chuyên môn hóa phục

vụ khách du lịch, có quan hệ mật thiết về kinh tế nhằm thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của khách trên cơ sở sử dụng tổng thể tự nhiên, văn hóa lịch sử hiện có và các điều kiện kinh tế - xã hội của lãnh thổ [75] Một số nghiên cứu cho thấy, vùng du lịch là không gian du lịch gồm nhiều địa phương khác nhau, là một tổng thể thống nhất của các đối tượng tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội Ở đó có các yếu tố của du lịch như tài nguyên

du lịch, cơ sở hạ tầng du lịch, nguồn lao động du lịch, nhu cầu và số lượng khách du lịch và các yếu tố kinh tế - xã hội khác Đặc trưng của mỗi vùng thể hiện ơ sự khác biệt về tài nguyên du lịch và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch

Để liên kết phát triển du lịch, việc tổ chức lãnh thổ du lịch là vấn đề được quan tâm hàng đầu, lý do là không thể tổ chức và quản lý có hiệu quả hoạt động liên kết nếu không xem xét khía cạnh không gian (lãnh thổ) của nó Tổ chức lãnh thổ du lịch (Territorial organization of tourism) là phân chia lãnh thổ quốc gia thành các vùng kinh tế du lịch, nhằm phát huy lợi thế, tổ chức và kinh doanh du lịch đạt hiệu quả kinh

tế, xã hội và môi trường cao nhất Tổ chức lãnh thổ du lịch được hiểu là: (1) Một hệ thống liên kết không gian của các đối tượng du lịch và các cơ sở phục vụ; (2) Nhằm sử dụng tối ưu các nguồn tài nguyên, kết cấu hạ tầng và các nhân tố khác; (3) Tổ chức lãnh thổ du lịch mang tính lịch sử

Có hai hình thức tổ chức lãnh thổ du lịch phổ biến bao gồm:

Một là, hệ thống lãnh thổ du lịch Đó là một thành tạo toàn vẹn về hoạt động và lãnh thổ, có sự lựa chọn các chức năng xã hội nhất định Một trong những chức năng được lựa chọn là phục hồi và tái tạo sức khỏe, khả năng lao động, thể lực và trí lực Hệ thống lãnh thổ du lịch chỉ là nơi tập trung tài nguyên du lịch và công trình kĩ thuật, do

đó các hệ thống lãnh thổ du lịch có thể không khép kín toàn bộ lãnh thổ tự nhiên Hệ thống lãnh thổ du lịch là hạt nhân tạo nên vùng du lịch

Hệ thống được tạo thành bởi các phân hệ có quan hệ mật thiết với nhau, gồm: (i) Phân hệ khách: Là phân hệ trung tâm, chi phối các thành phần khác của hệ thống Số

Trang 37

lượng và đặc điểm xã hội, nhân khẩu, dân tộc của khách du lịch quyết định các thành phần khác của hệ thống (ii) Phân hệ tài nguyên: Là điều kiện để thoã mãn nhu cầu nghỉ ngơi du lịch và là cơ sở lãnh thổ cho việc hình thành hệ thống (iii) Phân hệ công trình kĩ thuật: Đảm bảo cho cuộc sống bình thường của khách và nhân viên phục vụ về ăn

ở, đi lại và những nhu cầu giải trí, tham quan, đặc biệt như chữa bệnh (iv) Phân hệ cán

bộ nhân viên phục vụ: Đáp ứng các dịch vụ cho khách hàng và đảm bảo cho các xí nghiệp hoạt động bình thường (v) Bộ phận điều khiển: Có nhiệm vụ giữ cho cả hệ thống nói chung và từng phần hệ nói riêng hoạt động tối ưu

Hai là, vùng du lịch Vùng du lịch là một hệ thống lãnh thổ kinh tế - xã hội, một tập hợp các hệ thống lãnh thổ du lịch thuộc mọi cấp có liên hệ với nhau và các xí nghiệp thuộc cơ sở hạ tầng nhằm đảm bảo cho hoạt động của các hệ thống lãnh thổ du lịch có chung chuyên môn hoá và các điều kiện kinh tế xã hội để phát triển du lịch Như vậy vùng du lịch gồm 2 yếu tố có quan hệ mật thiết với nhau: Hệ thống lãnh thổ

du lịch; và không gian kinh tế - xã hội bao quanh

Vùng du lịch có không gian rộng hơn, bao gồm cả các khu vực sản xuất hàng hoá, vật liệu, năng lượng, kho tàng, các công trình công cộng Vùng du lịch là không gian kinh tế -

xã hội nên có tính chất lịch sử, nghĩa là có thể thay đổi theo thời gian [214]

Á vùng du lịch được hiểu là cấp phân vị thứ hai sau vùng du lịch, là noi tập hợp các điểm du lịch, trung tâm du lịch (nếu có) và các tiểu vùng du lịch, tạo thành không gian lãnh thổ du lịch lớn hơn tiểu vùng du lịch; Á vùng du lịch bao gồm cả những địa phương không có điểm du lịch Trong Á vùng du lịch, sự chuyên môn hóa bắt đầu hình thành, tuy chưa đậm nét Sự hình thành Á vùng du lịch phụ thuộc vào nhiều yếu

tố Ở một số vùng du lịch, có thể không định hình rõ Á vùng du lịch và trong nhiều trường hợp, hệ thống phân vị chỉ thực sự có 4 cấp: Điểm du lịch – Trung tâm du lịch – Tiểu vùng du lịch – Vùng du lịch

Trung tâm du lịch là sự kết hợp lãnh thổ của các điểm du lịch với mật độ cao, bao gồm các điểm du lịch chức năng được đặc trưng bởi sự gắn kết lãnh thổ về mặt kinh tế

- kỹ thuật và tổ chức, nơi có cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch khá đồng

bộ để đáp ứng nhu cầu đa dạng của du khách trong thời gian lưu trua dài Trung tâm

du lịch có quy mô nhất định về mặt diện tích, thường tương ứng với 1 tỉnh, là nơi có khả năng tạo vùng cao và liên kết vùng rất cao nên thường được xem là hạt nhân của vùng hay cực tăng trưởng của vùng du lịch

Điểm du lịch là cấp thấp nhất trong hệ thống phân vị Về mặt lãnh thổ, điểm du lịch có quy mô nhỏ, là nơi tập trung một loại tài nguyên nào đó (tự nhiên, văn hóa – lịch sử hoặc kinh tế - xã hội) hoặc một công trình riêng biệt phục vụ du lịch hoặc kết hợp cả hai ở quy mô nhỏ Điểm du lịch có thể được phân thành hai loại: điểm tài nguyên và điểm chức năng Sự kết nối các điểm du lịch gắn với các hệ thống giao thông (đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không) và các dịch vụ sẽ tạo thành tuyến du lịch; thời gian lưu trú của khách du lịch ở địa điểm du lịch thường là tương đối ngắn

2.1.2.2 Liên kết vùng du lịch

Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, liên quan tới nhiều ngành nghề, nhiều bên tham gia Các hoạt động đi du lịch và kinh doanh du lịch cũng diễn ra trên phạm vi rộng, đòi hỏi sự hợp tác của các bên trong quá trình tổ chức hoạt động du lịch, kinh doanh và quản lý du lịch

Trang 38

Trước hết, xét trên góc đi chuyến đi của khách du lịch, được hiểu là quá trình rời khỏi chỗ ở thường xuyên, di tới và lưu lại một địa điểm mới thể tham quan, tìm hiểu, khám phá, nghỉ ngơi …, hoạt động du lịch trải trên một phạm vi rộng, với thời gian dài (ít nhất là một ngày, theo định nghĩa du lịch của Tổ chức Du lịch Thế giới - UNWTO) Quá trình đi du lịch của khách trải qua nhiều địa phương khác nhau, ít nhất là trên quãng đường từ nơi cư trú của khách tới nơi khách đi du lịch Hoạt động của khách du lịch cũng không bó hẹp tại một địa điểm, một điểm du lịch mà thường có xu hướng tới nhiều điểm du lịch khách nhau có thể ở nhiều địa phương khác nhau

Liên kết vùng du lịch bao gồm liên kết nội vùng và liên kết vùng

Liên kết nội vùng là sự hợp tác, hỗ trợ và phân công giữa các á vùng (nếu có), các tiểu vùng và các địa phương trong vùng dựa trên những lợi thế so sánh của từng á vùng (nếu có), tiểu vùng và từng địa phương nhằm thực hiện thành công các định hướng chiến lược phát triển du lịch của chính các á vùng, tiểu vùng và các địa phương trong vùng

Liên kết liên vùng là sự hợp tác và phân công giữa vùng du lịch dựa trên những lợi thế so sánh của từng vùng nhằm thực hiện thành công các định hướng chiến lược phát triển du lịch, góp phần tích cực thúc đẩy sự phát triển du lịch của chính các vùng

du lịch đó Thông thường liên kết liên vùng được thực hiện giữa hai vùng có địa giới liền kề

Theo tác giả, liên kết vùng du lịch chính là hợp tác và phân công giữa các bên tham gia trong một số lĩnh vực phát triển du lịch chính, bao gồm: hợp tác phân bổ lại nguồn lực, điều chỉnh quy hoạch phát triển phù hợp với thế mạnh của từng địa phương trong vùng, trong từng giai đoạn phát triển; liên kết trong phát triển sản phẩm du lịch, đặc biệt là các sản phẩm đặc trưng của nhóm các địa phương, của các tiểu vùng trong vùng hoặc giữa hai vùng du lịch liền kề; liên kết trong xúc tiến quảng bá và phát triển thương hiệu điểm đến và sản phẩm du lịch; liên kết thiết lập sự thống nhất về không gian du lịch vùng (hệ thống điểm, tuyến du lịch) thông qua phát triển hạ tầng kết nối lãnh thổ; liên kết trong đào tạo phát triển nguồn nhân lực; hợp tác trong huy động vốn đầu tư

và xây dựng cơ chế chính sách để đầu tư phát triển du lịch chung của vùng; hợp tác cải thiện môi trường kinh doanh và đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh vùng du lịch; hợp tác xây dựng hệ thống thông tin và trao đổi thông tin du lịch phục vụ các mục tiêu phát triển du lịch của vùng; hợp tác bảo vệ môi trường đối với các vấn đề môi trường mang tính vùng, ứng phó với thiên tai và biến đổi khí hậu trong lĩnh vực du lịch

Liên kết tiểu vùng là liên kết các loại phân vị lãnh thổ thuộc vùng du lịch Tuy nhiên, đối với liên kết tiểu vùng có một số nội dung liên kết cụ thể không được đặt ra Tuy nhiên, liên kết vùng và liên kết tiểu vùng du lịch sẽ rất khó thực hiện nếu không

có tổ chức chuyên trách quản lý hoạt động du lịch của vùng và từng tiểu vùng Điều này cũng đồng nghĩa với việc sẽ không có chủ thể cụ thể đại diện vùng và các tiểu vùng tham gia thực hiện liên kết Chính vì vậy, có lúc, liên kết vùng và liên kết tiểu vùng chỉ mang ý nghĩa “biểu trưng” và “ý tưởng” trong quy hoạch phát triển du lịch của vùng du lịch, đặc biệt là kết nối giao thông

Ở góc độ tiêu dùng sản phẩm và dịch vụ du lịch, khách du lịch thường tiêu dùng nhiều loại sản phẩm và dịch khác nhau, từ những sản phẩm mang tính đặc trưng của

du lịch như khách sạn, nhà hàng, tua du lịch, tới cá sản phẩm mang tính bổ trợ, có thể

là những sản phẩm hàng hóa thông thường tại địa phương

Trang 39

Doanh nghiệp lư trú Các loại hình doanh nghiệp cung cấp dịch vụ du lịch khác

Các doanh nghiệp cung cấp cho doanh nghiệp du lịch Người quản lý điểm du lịch

Chính quyền tại điểm du lịch Chính quyền địa phương (xã, huyện, tỉnh, Trung ương) Các cơ quan tham gia (các ngành) khác

Các tổ chức xã hội có liên quan Các bên tham gia khác

Hình 2.1: Các bên tham gia trong các hoạt động du lịch

Nguồn: Xây dựng của tác giả

Ở góc độ kinh doanh du lịch, hoạt động du lịch gắn theo một chuỗi giá trị dài (UNWTO 2013) [193] Một tour du lịch liên quan tới nhiều dịch vụ như lưu trú, ăn uống, mua sắm … Chính những dịch vụ này, như kinh doanh ăn uống, đòi hỏi phải mua sắm nhiều nguyên vật liệu, hàng hóa khác nhau từ địa phương cũng như những nơi khác Chính vì vậy, du lịch được xem là một “ngành kinh tế tổng hợp” với sự tham gia của nhiều ngành kinh tế khác nhau Mối liên hệ, hợp tác giữa các ngành, các doanh nghiệp là điều kiện không thể thiếu

Phát triển du lịch là một mục tiêu quan trọng trong phát triển kinh tế vùng đồng thời cũng có thể coi là một yếu tố/điều kiện thúc đẩy việc thực thi các chính sách phát triển vùng, liên kết vùng và tiểu vùng ở những khu vực địa lý có chung đặc điểm tự nhiên, nhân văn, có thể kết nối tạo thành các tiềm năng hợp tác phát triển du lịch để mang lại giá trị kinh tế, đóng góp vào tăng trưởng vùng Chính vì vậy, ban hành chính sách phát triển du lịch dựa trên liên kết vùng và tiểu vùng cần căn cứ tiếp cận hai chiều với vai trò của Chính phủ trong xác định chiến lược phát triển vùng, liên kết vùng; ưu tiên đầu tư đảm bảo các điều kiện phát triển tiểu vùng và vai trò chủ động của chính quyền địa phương trong xác định các mục tiêu phát triển du lịch theo hướng liên kết vùng, tiểu vùng

2.1.3 Mục tiêu, nguyên tắc và phạm vi của liên kết vùng trong phát triển du lịch

2.1.3 1 Mục tiêu

Liên kết phát triển du lịch nhằm khai thác tối đa và phát huy có hiệu quả các tiềm năng, thế mạnh của từng địa phương, của từng tiểu vùng và toàn vùng góp phần thúc đẩy tăng trưởng du lịch nhanh và bền vững Phát triển mạnh các sản phẩm du lịch đặc thù của từng địa phương và vùng có giá trị gia tăng lớn, có sức cạnh tranh ở tầm quốc gia, khu vực và quốc tế; góp phần tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo, nâng cao mức sống và trình độ dân trí cho các cộng đồng địa phương

Một là, tạo ra lợi thế cạnh tranh về du lịch vùng trong kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế như giảm chi phí du lịch, quản lý tài nguyên bền vững, tăng hiệu quả đầu

Trang 40

tư công và đầu tư xã hội, tăng quy mô du lịch Khi các tỉnh trong vùng tham gia vào hoạt động liên kết du lịch, sẽ có nhiều thỏa thuận hợp tác được thiết lập đa phương và song phương tạo thành mạng lưới du lịch, làm giản chi phí và các rào cản Liên kết du lịch còn làm hình thành các giá trị chung mà mỗi chủ thể phải tôn trọng Mặt khác, tương tác trong liên kết du lịch sẽ tạo ra luồng thông tin và kiến thức lan tỏa trong mạng lưới, mạng lưới càng dày, sức lan tỏa càng cao là điều không xảy ra nếu như không thực hiện liên kết

Hai là, phát huy tối đa và sử dụng hợp lý lợi thế một vùng về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội thành lợi thế cạnh tranh tổng hợp, thúc đẩy chuyên môn hóa sản xuất, qua đó phát huy tiềm năng và lợi thế của từng địa phương và nâng cao khả năng cạnh tranh Trong điều kiện tương đồng về các tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa giữa các tỉnh trong vùng, liên kết tiểu vùng, tiểu vùng kết nối các lợi thế tuyệt đối này thành một chỉnh thể phân công và chuyên môn hóa sản xuất Từng địa phương sẽ tập trung vào các thế mạnh nổi bật, đặc thù và trao đổi với các địa phương khác tạo thành một chuỗi sản phẩm du lịch liên hoàn và các tỉnh đều có lợi trong mối quan hệ này

Ba là, tìm ra các điểm đột phá phát triển của các trung tâm, cực tăng trưởng du lịch, tạo nên các tác động lan tỏa phát triển cho các địa phương khác; thúc đẩy cải cách thể chế, thu hút đầu tư, hội nhập quốc tế; nâng cao hiệu quả hoạt động du lịch, vai trò vượt trội về hiệu quả đầu tư và lan tỏa, khả năng cửa ngõ kết nối quốc tế của các trung tâm tăng trưởng thông qua việc rà soát khoanh vùng chuẩn xác, xây dựng cơ chế chính sách du lịch thực sự có tính vượt trội, tăng cường tính tập trung kinh tế

Bốn là, thúc đẩy liên kết quốc tế, xây dựng hình ảnh vùng du lịch có tính đặc thù cao, có khả năng cạnh tranh quốc tế; giảm chi phí, chồng chéo trong đầu tư, hạn chế mâu thuẫn trong quy hoạch và đầu tư, thu hút đầu tư giữa các địa phương

Năm là, giảm dần tình trạng phát triển chênh lệch giữa các địa phương, với việc hình thành các cơ chế, chính sách đặc thù, phù hợp, có tính ưu đãi về du lịch cho các vùng khó khăn, nhất là về đầu tư công và các dịch vụ công cơ bản; chính sách đặc thù cho từng vùng khó khăn, kết nối với các vùng kinh tế trọng điểm nhằm tạo ra sự liên kết và tham gia các vùng này vào quá trình phát triển

Sáu là, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng, tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo cho các cộng đồng dân cư Các hoạt động du lịch sẽ góp phần quan trọng tăng nguồn thu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo tác dụng lan tỏa phát triển các ngành nghề khác trên địa bàn Hoạt động du lịch, nhất là du lịch cộng đồng góp phần quan trọng tạo thêm việc làm, góp phần xóa đói giảm nghèo và bảo đảm sinh kế bền vững cho cộng đồng dân cư bản địa

Bảy là, bảo vệ môi trường tài nguyên du lịch thông qua các cam kết về chất lượng dịch vụ, phương tiện đối với các doanh nghiệp lữ hành; phối hợp tuyên truyền nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường cho khách du lịch và các cộng đồng dân cư; tổ chức các lớp tập huấn về bảo vệ môi trường cho nhân dân địa phương

2.1.3.2 Nguyên tắc

Có rất nhiều các nguyên tắc khác nhau trong liên kết vùng, tiểu vùng theo các tiếp cận khác nhau Theo tác giả Nguyễn Văn Huân (2012), liên kết vùng cần được

thực hiện dựa trên các nguyên tắc cơ bản là: (1) Phân bố các ngành và phân bố vùng

phải dựa trên các lợi thế so sánh có thể làm cho tổng chi phí sản xuất và phân phối sản

Ngày đăng: 25/12/2020, 10:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ngô Đức Anh (2007), “Khả năng cạnh tranh và hướng phát triển du lịch Việt Nam thời kỳ hậu WTO”, T ạ p chí Du l ị ch Vi ệ t Nam, số 7/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng cạnh tranh và hướng phát triển du lịch Việt Nam thời kỳ hậu WTO”, "Tạp chí Du lịch Việt Nam
Tác giả: Ngô Đức Anh
Năm: 2007
2. Nguyễn Tuấn Anh (2010), “Năng lự c c ạnh tranh điểm đế n c ủ a du l ị ch Vi ệ t Nam ”, Luận án tiến sỹ, Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Năng lực cạnh tranh điểm đến của du lịch Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tuấn Anh
Năm: 2010
3. Trần Xuân Ảnh (2011), “Thị trường du lịch Quảng Ninh trong hội nhập kinh tế quốc tế”, Lu ậ n án ti ế n s ỹ , Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường du lịch Quảng Ninh trong hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Trần Xuân Ảnh
Năm: 2011
13. Vũ Trọng Bình (2017), Phát triển kinh tế vùng – vấn đề và giải pháp, Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia: Thực trạng và giải pháp liên kết vùng, tiểu vùng trong phát triển du lịch ở Tây Bắc, Nxb Lao động – xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển kinh tế vùng –vấn đề và giải pháp
Tác giả: Vũ Trọng Bình
Nhà XB: Nxb Lao động – xã hội
Năm: 2017
14. Báo cáo tổng kết của Đề tài cấp Nhà nước “Nghiên cứu rà soát, đánh giá kết quả, tác động và đề xuất giải pháp triển khai thực hiện hiệu quả Quyết định 79/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ”, mã số: KHCN-TB.02X/13-18. Đề tài được tài trợ bởi Chương trình Khoa học và Công nghệ phục vụ phát triển bền vững vùng Tây Bắc, ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu rà soát, đánh giá kết quả, tác động và đề xuất giải pháp triển khai thực hiện hiệu quả Quyết định 79/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ
15. Chính phủ (2011), Quyết định số 2473/QĐ-TTg ngày 30/12/2011 phê duyệt “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2011
16. Chính phủ (2013), Quyết định số 201/QĐ-TTg ngày 22/01/2013 phê duyệt “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
19. Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa (2008), Giáo trình kinh tế du lịch , Nxb. Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội, 2008, tr.19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế du lịch
Tác giả: Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa
Nhà XB: Nxb. Đại học kinh tế quốc dân
Năm: 2008
21. Lê Anh Đức (2014). Mấy vấn đề liên kết kinh tế vùng. Tạp chí Kinh tế và Dự báo, 18, tr. 15-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Kinh tế và Dự báo
Tác giả: Lê Anh Đức
Năm: 2014
22. Hoàng Ngọc Giao, Nguyễn Bá Diễn (chủ biên) (2006), “ Chính sác h, pháp luật biển của Việt Nam và chiến lược phát triển bền vững” , NXB Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách, pháp luật biển của Việt Nam và chiến lược phát triển bền vững”
Tác giả: Hoàng Ngọc Giao, Nguyễn Bá Diễn (chủ biên)
Nhà XB: NXB Tư pháp
Năm: 2006
23. Lê Thế Giới (2008). Xây dựng mô hình hợp tác và liên kết vùng trong phát triển bền vững vùng kinh tế trọng điểm miền Trung. Tạp chí K hoa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng, 2, tr. 167-177 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học và Công nghệ
Tác giả: Lê Thế Giới
Năm: 2008
24. Trần Thị Bích Hằng (2012),“ Gi ải pháp nâng cao năng lự c c ạ nh tranh c ủ a doanh nghi ệp nhà nướ c kinh doanh du l ị ch sau c ổ ph ần hóa trên đị a bàn Hà N ội”, Luận án tiến sỹ, Đại học Thương mại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước kinh doanh du lịch sau cổ phần hóa trên địa bàn Hà Nội”
Tác giả: Trần Thị Bích Hằng
Năm: 2012
25. Trần Thị Minh Hòa, Giáo trình Marketing du lịch (viết chung với Nguyễn Văn Mạnh, Nguyễn Đình Hòa...), Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Marketing du lịch
Nhà XB: Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân
26. Đào Hữu Hòa (2008). Liên kết trong chính sách thu hút đầu tư phát triển công nghiệp của các địa phương Vùng Kinh tế trọng điểm Miền Trung – Thực trạng và giải pháp. Tạp chí Kh oa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng, 6(29), tr. 101-109 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học và Công nghệ
Tác giả: Đào Hữu Hòa
Năm: 2008
27. Nguyễn Đình Hoè, Vũ Văn Hiếu (2001), “Du lịch bền vững” - NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch bền vững
Tác giả: Nguyễn Đình Hoè, Vũ Văn Hiếu
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
28. Hoàng Văn Hoan (2002), Luận án Tiến sỹ Hoàn thiện quản lý nhà nước về lao động trong kinh doanh du lịch ở Việt Nam, Trường ĐH KTQD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện quản lý nhà nước về lao động trong kinh doanh du lịch ở Việt Nam
Tác giả: Hoàng Văn Hoan
Năm: 2002
29. Đinh Sơn Hùng (2011). Cơ chế liên kết kinh tế giữa vùng ĐBSCL và TP.HCM - Thực trạng và giải pháp. Viện nghiên cứu phát triển Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế liên kết kinh tế giữa vùng ĐBSCL và TP.HCM - Thực trạng và giải pháp
Tác giả: Đinh Sơn Hùng
Năm: 2011
83. Butler, R.W. (2011). Tourism area life-cycle. Contemporary Tourism Reviews. Goodfellow Publishers Limited(http://www.goodfellowpublishers.com/free_files/fileTALC.pdf) Link
167. Prem Nath, Mr Minas Papademetriou, Dr Kasem Piluek and Dr Edward M Herath, (1999). The vegetable sector in Thailand a review. http://www.fao.org/3/a- ac145e.pdf Link
207. Walter Christaller (1933), Christaller’s Central Place Theory. https://web.archive.org/web/20070928200411/http://www.thinkgeography.org.uk/AS%20Human%20Settlement/cpt%202.pdf Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w