1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề cương tốt nghiệp thạc sĩ kinh tế

44 51 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 1,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với sự phát triển chung của cả nước, chính quyền địa phương và nhân dân Long An thời gian qua đã có nhiều nổ lực, thực hiện nhiều giải pháp để phát triển kinh tế, xã hội; giữ vững an ninh, chính trị; cải cách thủ tục hành chính nhằm phục vụ người dân ngày một tốt hơn. Với mục tiêu góp phần xây dựng chính quyền địa phương năng động, hiệu quả tạo điều kiện thúc đẩy hơn nữa cho phát triển kinh tế, xã hội… Do vậy, việc nghiên cứu, đánh giá đầy đủ các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng quản trị công cấp tỉnh là cần thiết để có những giải pháp phù hợp xây dựng chính quyền địa phương năng động, hiệu quả.Đề tài nhiên cứu “Đánh giá của cán bộ, công chức về chất lượng quản trị hành chính công cấp tỉnh tại Long An” được thực hiện không nằm ngoài mục đích góp phần xây dựng nền hành chính công hiệu quả, phục vụ tốt cho người dân.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRẦN MAI NHÂN

ĐÁNH GIÁ CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC VỀ CHẤT LƯỢNG QUẢN TRỊ HÀNH CHÍNH CÔNG CẤP TỈNH TẠI

LONG AN

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRẦN MAI NHÂN

ĐÁNH GIÁ CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC VỀ CHẤT LƯỢNG QUẢN TRỊ HÀNH CHÍNH CÔNG CẤP TỈNH TẠI

LONG AN

Chuyên ngành: Kinh tế học

Mã số chuyên ngành: 60 03 01 01

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THANH NGUYÊN

Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2016

Trang 3

1 Vấn đề nghiên cứu: 1

2 Câu hỏi nghiên cứu: 3

3 Mục tiêu nghiên cứu: 3

4 Đối tượng, phạm vi và mẫu nghiên cứu: 4

5 Phương pháp nghiên cứu: 4

6 Cơ sở lý luận: 5

6.1 Các khái niệm: 5

6.1.1 Khu vực tư và khu vực công: 5

6.1.1.1 Khu vực tư: 5

6.1.1.2 Khu vực công: 6

6.1.2 Hàng hóa, dịch vụ công: 6

6.1.3 Quản trị hành chính công: 7

6.1.3.1 Hành chính: 7

6.1.3.2 Hành chính công: 8

6.1.3.3 Cán bộ, công chức, viên chức: 9

6.1.3.4 Thủ tục hành chính: 10

6.1.3.5 Dịch vụ hành chính công: 12

6.1.3.6 Quản lý (hành chính) công truyền thống: 13

6.1.3.7 Quản trị công mới (hành chính phát triển): 15

6.1.4 Sự hài lòng: 18

6.2 Các nghiên cứu trước: 18

6.2.1 Nghiên cứu trong nước: 18

6.2.1.1 Mô hình một cửa, một cửa liên thông tại thành phố Hồ Chí Minh: 18

6.2.1.1.1 Các mô hình áp dụng cơ chế một cửa: 18

6.2.1.1.2 Mô hình hệ thống quản lý theo kết quả (Performance Management System - PMS): 19

6.2.1.2 Mô hình phân cấp quản lý công tác tổ chức cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan hành chính nhà nước ở tỉnh Vĩnh Phúc: 20

6.2.1.3 Mô hình xây dựng cơ cấu cán bộ, công chức cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh của tỉnh Bắc Ninh: 21

6.2.1.4 Mô hình xây dựng hệ thống thông tin đô thị của thành phố Đà Lạt: 22

6.2.1.5 Các nghiên cứu liên quan đến nghiên cứu của đề tài tại Long An: 22

6.2.2 Nghiên cứu ngoài nước: 23

Trang 4

6.2.2.2 Mô hình của New Zealand: 24

6.2.2.3 Mô hình của Boyne: 25

6.2.2.4 Mô hình quản lý công của Singapore: 27

6.2.2.5 Mô hình lấp chổ trống: 28

7 Giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu: 29

7.1 Giả thuyết nghiên cứu: 29

7.2 Mô hình nghiên cứu đề nghị: 30

7.3 Định nghĩa các biến trong nghiên cứu: 31

7.3.1 Các dịch vụ công: 31

7.3.2 Cơ sở vật chất, kỹ thuật: 31

7.3.3 Thủ tục hành chính: 32

7.3.4 Nguồn nhân lực (Cán bộ, công chức, viên chức): 33

8 Điểm mới của nghiên cứu: 34

9 Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu: 35

10 Kết cấu dự kiến của luận văn nghiên cứu: 35

11 Tiến độ thực hiện nghiên cứu: 36

12 Tài liệu tham khảo: 36

Trang 5

1 Vấn đề nghiên cứu:

Chúng ta biết rằng Đại hội VI của Đảng (tháng 12 - 1986) được xem là cột mốc quan trọng cho sự phát triển của đất nước Đại hội đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, bao gồm đổi mới tư duy, đổi mới tổ chức cán bộ, đổi mới phương pháp lãnh đạo và phong cách làm việc Trong đó, đặc biệt nhấn mạnh phải đổi mới

tư duy và trước hết là tư duy kinh tế; phải nắm vững và vận dụng đúng các quy luật khách quan vào thực tiễn cuộc sống của đất nước Việt Nam chúng ta thực hiện

đường lối đổi mới với ba trụ cột chính: thứ nhất đó là, chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang vận hành theo cơ chế thị trường; thứ hai là, phát triển nền

kinh tế nhiều thành phần trong đó khu vực tư nhân đóng vai trò ngày càng quan

trọng; thứ ba là, chủ động hội nhập kinh tế khu vực và thế giới một cách hiệu quả

và phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam

Sau ba mươi năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực giáo dục đào tạo, văn hóa, xã hội, khoa học công nghệ, an ninh quốc phòng Nền kinh tế luôn duy trì được tốc độ tăng trưởng khá liên tục trong nhiều năm Việc bình thường hóa quan hệ, ký hiệp định thương mại tự do với Mỹ và với các nước, các nền kinh tế khác trên thế giới; tham gia tổ chức thương mại thế giới (WTO); gần đây là hoàn thành đàm phán các cam kết, thỏa thuận Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) và tham gia cộng đồng kinh tế Asian (AEC) đã thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam hội nhập sâu, rộng vào kinh tế thế giới, là cơ hội tranh thủ các nguồn lực bên ngoài để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm đạt mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại

Trong điều kiện hội nhập, bên cạnh việc xây dựng, ban hành nhiều luật, bộ luật, các thể chế kinh tế thị trường ở Việt Nam cũng từng bước được hình thành và phát triển Chính phủ xóa bỏ dần cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp; coi trọng quan hệ hàng hóa – tiền tệ; tập trung vào các biện pháp quản lý kinh tế; thành lập nhiều tổ chức tài chính, ngân hàng; hình thành các thị trường cơ bản như thị trường tiền tệ, thị trường lao động, thị trường hàng hóa, thị trường đất đai, Cải cách hành chính được đẩy mạnh nhằm nâng cao tính cạnh tranh của nền kinh tế, tạo môi

Trang 6

trường thuận lợi và đầy đủ điều kiện hơn cho hoạt động kinh doanh, phát huy mọi nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế và phát triển đất nước Chiến lược cải cách hành chính giai đoạn 2001-2010 và tiếp theo là Chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2011-2020 (Nghị quyết 30c/NQ-CP được Chính phủ ban hành ngày 08/11/2011), đã nhấn mạnh việc sửa đổi các thủ tục hành chính, luật pháp, cơ chế quản lý kinh tế đã thể hiện quyết tâm của Chính phủ nhằm tạo ra một thể chế năng động, đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới Chúng ta có thể nói, những cải cách mạnh mẽ trong 30 năm qua đã mang lại cho đất nước những thành quả rất đáng phấn khởi; tạo được môi trường kinh tế thị trường có tính cạnh tranh và năng động Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần được khuyến khích phát triển, tạo nên tính hiệu quả trong việc huy động các nguồn lực xã hội phục vụ cho tăng trưởng kinh tế, phát triển đất nước Các quan hệ kinh tế đối ngoại trở nên thông thoáng hơn, thu hút ngày càng nhiều các nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, mở rộng thị trường cho hàng hóa xuất khẩu, phát triển thêm một số lĩnh vực hoạt động tạo ra nguồn thu ngoại tệ ngày càng lớn như du lịch, xuất khẩu lao động, kiều hối,…

Cùng với sự phát triển ngày càng nhanh của kinh tế, khoa học công nghệ

nền hành chính nhà nước cũng có sự phát triển theo xu hướng tiến bộ (chuyển từ hành chính cai trị sang hành chính phục vụ) Trong điều kiện khoa học hành chính

của Việt Nam ra đời và phát triển muộn, lại phải chịu sự tác động trực tiếp của chính trị, vì vậy tính độc lập của khoa học hành chính là khá mờ nhạt và chưa thực

sự có một mô hình hành chính công hoàn chỉnh Trong khi khoa học hành chính trên thế giới đã có quá trình phát triển khá dài và gần đây cũng đã xuất hiện nhiều thuật ngữ mới như “quản trị công mới” hay “hành chính phát triển”… Với mục tiêu đưa đất nước phát triển bền vững và hội nhập thành công, ngoài sự quyết tâm về mặt chính trị, Việt Nam chúng ta cũng cần phải xây dựng cho mình mô hình quản trị công năng động, hiệu quả nhằm giải phóng lực lượng sản xuất, huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, thông thoáng, thuận lợi, minh bạch, giảm thiểu chi phí về thời gian và kinh phí của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế và người dân trong việc tuân thủ các qui định nhà nước Muốn vậy, không chỉ Chính phủ phải tăng cường đổi mới, hoàn

Trang 7

thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà còn đòi hỏi các địa phương phải xây dựng được hệ thống chính quyền địa phương hiện đại, dân chủ và pháp quyền, hoạt động thông suốt, hiệu lực, hiệu quả…

Cùng với sự phát triển chung của cả nước, chính quyền địa phương và nhân dân Long An thời gian qua đã có nhiều nổ lực, thực hiện nhiều giải pháp để phát triển kinh tế, xã hội; giữ vững an ninh, chính trị; cải cách thủ tục hành chính nhằm phục vụ người dân ngày một tốt hơn Với mục tiêu góp phần xây dựng chính quyền địa phương năng động, hiệu quả tạo điều kiện thúc đẩy hơn nữa cho phát triển kinh

tế, xã hội… Do vậy, việc nghiên cứu, đánh giá đầy đủ các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng quản trị công cấp tỉnh là cần thiết để có những giải pháp phù hợp xây dựng chính quyền địa phương năng động, hiệu quả và cũng là lý do để tôi chọn đề

tài nhiên cứu “Đánh giá của cán bộ, công chức về chất lượng quản trị hành chính công cấp tỉnh tại Long An” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp

của mình

2 Câu hỏi nghiên cứu:

Với thực tế tại địa phương và kết quả đánh giá các chỉ số (PCI, PAPI) có liên quan đến công tác quản trị hành chính công tại tỉnh Long An cho thấy, công tác quản trị hành chính công của tỉnh Long An chưa tốt, chưa hiệu quả, thể hiện qua kết quả đánh giá của chỉ số PCI thay đổi nhiều qua các năm Trước tình hình đó, câu hỏi được đặt ra là:

Câu hỏi 1: Yếu tố nào ảnh hưởng đến chất lượng quản trị hành chính công cấp tỉnh tại Long An?

Câu hỏi 2: Mức độ tác động của các yếu tố đó đến chất lượng quản trị hành

chính công cấp tỉnh tại Long An như thế nào?

3 Mục tiêu nghiên cứu:

- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng quản trị hành chính công của tỉnh Long An

- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản trị hành chính công trên địa bàn tỉnh Long An

Trang 8

4 Đối tượng, phạm vi và mẫu nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu là công tác quản trị hành chính công cấp tỉnh tại Long An

- Đối tượng khảo sát là cán bộ, công chức, viên chức đang công tác tại các

sở, ngành của tỉnh Long An

- Đề tài nghiên cứu dự kiến phạm vi khảo sát là cán bộ, công chức, viên chức đang công tác tại các sở, ngành thuộc tỉnh Long An: Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Công thương, Sở Tài chính và Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh…

- Mẫu nghiên cứu được xác định bằng cách: Số mẫu khảo sát = Sở, ngành, địa phương x Mỗi đối tượng khảo sát tối thiểu là 30 người x Số đối tượng x Số lĩnh vực khảo sát

Dự kiến mẫu khảo sát ít nhất là 300 mẫu, cụ thể như sau:

Sở, ngành, địa phương được khảo sát: 05 (Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Công thương, Sở Tài chính và Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh);

Đối tượng được khảo sát: 01 đối tượng (cán bộ, công chức, viên chức); Lĩnh vực khảo sát: 02 lĩnh vực bao gồm:

+ Các dịch vụ công bao gồm: dịch vụ y tế, giáo dục, hạ tầng (điện, nước, đường giao thông,…)

+ Các vấn đề còn lại bao gồm: thủ tục hành chính; điều kiện vật chất,

kỹ thuật; nguồn nhân lực)

Phương pháp chọn mẫu trong nghiên cứu là phương pháp chọn mẫu thuận tiện thông qua việc phỏng vấn trực tiếp, kết hợp với việc gửi bảng khảo sát qua thư điện tử (email)

5 Phương pháp nghiên cứu:

Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng

Đề tài được tiến hành qua hai giai đoạn, đó là:

Giai đoạn nghiên cứu sơ bộ: Đây là giai đoạn sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp kỹ thuật chuyên gia nhằm xác định và bổ sung những tiêu chí đánh giá, điều chỉnh thang đo và hoàn chỉnh bảng câu hỏi để tiến hành nghiên cứu

Trang 9

chính thức

Giai đoạn nghiên cứu chính thức: Đây là giai đoạn sử dụng phương pháp định lượng, từ kết quả nghiên cứu của giai đoạn nghiên cứu sơ bộ, sau khi xác định được thang đo và bảng câu hỏi hoàn chỉnh sẽ tiến hành phỏng vấn chính thức để thu thập dữ liệu thực tế Áp dụng thang đo Likert 05 bậc để khảo sát mức độ đánh giá của cán bộ, công chức đối với chất lượng quản trị hành chính công cấp tỉnh tại Long

lý số liệu thống kê SPSS phiên bản 22.0

Trang 10

6.1.1.2 Khu vực công:

Khu vực công là khu vực không chịu sự tác động có hiệu quả của thị trường cạnh tranh, bao gồm các hoạt động tạo ra các sản phẩm, dịch vụ phục vụ nhu cầu của xã hội do nhà nước trực tiếp đầu tư, quản lý hoặc do tư nhân đầu tư quản lý nhưng có sự chi phối đặc biệt của nhà nước thông qua hệ thống luật pháp, chính sách, tiêu chuẩn riêng biệt (Nguyễn Thuấn, 2005)

Chúng ta có thể tổng quát các hoạt động thuộc khu vực công là các hoạt động thuộc các lĩnh vực:

- Xây dựng, hoàn thiện, thực hiện và duy trì hệ thống luật pháp của quốc gia một cách có hiệu quả Tức là các hoạt động bao gồm cả các chức năng lập pháp và hành pháp Đây là hoạt động rất quan trọng thuộc khu vực công và cũng chỉ tồn tại

ở khu vực công mà thôi

- Các hoạt động dưới dạng các chính sách của chính phủ như các chính sách

về thuế, phạt tiền, chính sách về trợ cấp, hệ thống các quy định tiêu chuẩn về môi trường, về an toàn thực phẩm, về quy định đô thị và về vệ sinh lao động…

- Các hoạt động về cung ứng dịch vụ, sản xuất hàng hóa công cộng Việc sản xuất hàng hóa công cộng phục vụ cho các cá nhân, cho nền kinh tế có thể thông qua các chủ thể là các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc sở hữu nhà nước

mà cũng có thể thuộc sở hữu tư nhân nhưng chịu sự chi phối đặc biệt của nhà nước

6.1.2 Hàng hóa, dịch vụ công:

Hàng hóa công trong nhiều trường hợp được gọi là dịch vụ công Nguyễn Thuấn (2005) cho rằng, hàng hóa công hay dịch vụ công là hàng hóa, dịch vụ mà mọi người trong xã hội có thể sử dụng, dùng chung với nhau, việc sử dụng của người này không ảnh hưởng đáng kể đến việc sử dụng của người khác Hàng hóa, dịch vụ công cộng là loại hàng hóa, dịch vụ thỏa mãn được một hoặc cả hai đặc điểm sau:

- Đặc điểm thứ nhất đó là, nó không phải được dành riêng cho ai, không ai có quyền sở hữu cá nhân về hàng hóa, dịch vụ ấy Thật khó để buộc mọi người phải trả tiền trực tiếp khi sử dụng hàng hóa, dịch vụ mà không dành riêng cho mình, bởi vì nếu không trả tiền trực tiếp, họ cũng có thể hưởng thụ được hàng hóa, dịch vụ ấy

- Đặc điểm thứ hai là, việc sử dụng hàng hóa, dịch vụ công của người này

Trang 11

không ảnh hưởng đáng kể đến việc sử dụng của người khác Bởi vì chi phí tăng thêm để tiêu dùng một hàng hóa, dịch vụ tăng thêm là rất nhỏ, gần như bằng không Tuy nhiên, không phải bất kỳ một hàng hóa, dịch vụ công nào cũng bảo đảm một cách nghiêm ngặt các đặc điểm trên, tùy theo mức độ bảo đảm mà người ta có thể chia thành hai loại hàng hóa, dịch vụ công Đó là hàng hóa, dịch vụ công thuần túy và hàng hóa, dịch vụ công không thuần túy

Hàng hóa, dịch vụ công có những đặc trưng cơ bản sau:

- Thứ nhất là, những hoạt động phục vụ cho nhu cầu, lợi ích chung thiết yếu, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và công dân

- Thứ hai là, nhà nước có trách nhiệm đảm bảo các dịch vụ này cho xã hội Ngay cả khi nhà nước chuyển giao dịch vụ này cho tư nhân cung ứng thì nhà nước vẫn có vai trò điều tiết đặc biệt nhằm đảm bảo công bằng trong phân phối các dịch

vụ công, khắc phục những khiếm khuyết của thị trường

- Thứ ba là, khi thực hiện cung ứng các dịch vụ công, các cơ quan nhà nước

và các tổ chức được ủy nhiệm cung ứng có sự giao dịch cụ thể với các tổ chức và công dân

- Sau cùng đó là, nhà nước cung ứng dịch vụ công thường thông qua quan hệ thị trường không đầy đủ Thông thường người sử dụng dịch vụ công không trực tiếp trả tiền hay nói đúng hơn là đã trả tiền dưới hình thức đóng thuế vào ngân sách nhà nước

Khác biệt của dịch vụ công so với các dịch vụ thông thường là bởi dịch vụ công luôn gắn với thẩm quyền mang tính pháp lý, phục vụ cho hoạt động quản lý nhà nước, tính không vụ lợi và mọi người dân đều có quyền ngang nhau trong việc

Trang 12

6.1.3.2 Hành chính công:

Hành chính công là hoạt động của Nhà nước, của các cơ quan Nhà nước mang tính quyền lực Nhà nước, sử dụng quyền lực Nhà nước để quản lý công việc công của Nhà nước nhằm phục vụ lợi ích chung hay lợi ích riêng hợp pháp của công dân Do vậy, hành chính công bao hàm toàn bộ các cơ quan thuộc chính quyền của

bộ máy hành pháp từ Trung ương tới các cấp chính quyền địa phương, toàn bộ các thể chế và hoạt động của bộ máy ấy và tất cả những người làm việc trong bộ máy đó (Lê Thị Vân Hạnh, 2006)

Trong nghiên cứu của mình, Phạm Đức Toàn (2012) còn cho rằng hành chính

công (public administration), quản lý công (public management), quản trị hành chính công hay quản lý hành chính nhà nước (govermance) có sự đồng nhất với

nhau và trong nhiều trường hợp, được sử dụng thay thế cho nhau Với cách hiểu chung, hành chính công là nền hành chính, là thiết chế thực hiện quyền hành pháp, đưa chính sách, pháp luật vào cuộc sống Nền hành chính là khái niệm tổng quát, bao gồm các yếu tố: hệ thống thể chế, pháp luật, thủ tục hành chính; chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành của bộ máy hành chính nhà nước các cấp; đội ngũ cán bộ, công chức; nguồn lực tài chính, công sản và các điều kiện vật chất, kỹ thuật đảm bảo thực thi công vụ hiệu quả Cung ứng dịch vụ công là một trong những chức năng cơ bản mà các nhà nước giao cho nền hành chính đảm trách Trong quá trình phát triển của nền hành chính, dịch vụ công được mở rộng trên nhiều lĩnh vực khác nhau, với yêu cầu về chất lượng ngày càng cao Nền hành chính phát triển phải phối hợp và điều hoà các nguyện vọng cá nhân với lợi ích của cộng đồng, của đất nước, hướng tới các mục tiêu của một xã hội dân chủ Nhà nước không ôm đồm, tự mình giải quyết tất cả các vấn đề xã hội mà đẩy mạnh dân chủ

hoá gắn với phân quyền, xã hội hoá nhằm tập trung thực hiện tốt vai trò “lái thuyền” Nhiều hoạt động cung ứng dịch vụ công được chuyển cho các khu vực

ngoài nhà nước thực hiện Theo cách tiếp cận này, hành chính công được coi là

quản lí công hay mô hình quản trị công mới (New Public Management - NPM) Đó

là sự điều hành, giám sát và quản lí các chủ thể khác nhau của xã hội nhằm phục vụ tốt hơn các nhu cầu chính đáng của nhân dân

Trong nghiên cứu này, hành chính dựa theo khái niệm của Phạm Đức Toàn

Trang 13

(2012), vì đây là khái niệm có tính chất bao quát, gần đúng theo mô hình quản trị hành chính công của nhà nước Việt Nam hiện nay và cũng theo hướng tiếp cận với

mô hình quản trị công mới

6.1.3.3 Cán bộ, công chức, viên chức:

- Quốc hội (2008), đã thông qua Luật Cán bộ, Công chức theo đó tại Điều 4 của Luật đã xác định cán bộ, công chức:

Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức

vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước

Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị

sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật

- Quốc hội (2010), đã thông qua Luật Viên chức theo đó tại Điều 2 của Luật

đã xác định, Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm,

Trang 14

làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương

từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật

6.1.3.4 Thủ tục hành chính:

Chính phủ (2010) xác định, “Thủ tục hành chính” là trình tự, cách thức thực

hiện, hồ sơ và yêu cầu, điều kiện do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy

định để giải quyết một công việc cụ thể liên quan đến cá nhân, tổ chức “Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính” là tập hợp thông tin về thủ tục hành chính và các

văn bản quy phạm pháp luật có quy định về thủ tục hành chính được xây dựng, cập nhật và duy trì trên Trang thông tin điện tử về thủ tục hành chính của Chính phủ nhằm đáp ứng yêu cầu công khai, minh bạch trong quản lý hành chính nhà nước, tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân truy nhập và sử dụng thông tin chính thức về thủ tục hành chính

Chính phủ (2010) qui định, thủ tục hành chính công phải bảo đảm các nguyên tắc: (1) Đơn giản, dễ hiểu và dễ thực hiện (2) Phù hợp với mục tiêu quản lý hành chính nhà nước (3) Bảo đảm quyền bình đẳng của các đối tượng thực hiện thủ tục hành chính (4) Tiết kiệm thời gian và chi phí của cá nhân, tổ chức và cơ quan hành chính nhà nước (5) Đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất, đồng

bộ, hiệu quả của các quy định về thủ tục hành chính; thủ tục hành chính phải được

cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định trên cơ sở bảo đảm tính liên thông giữa các thủ tục hành chính liên quan, thực hiện phân công, phân cấp rõ ràng, minh bạch, hợp lý; dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật có quy định về thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền của cơ quan nào, cơ quan đó phải có trách nhiệm hoàn chỉnh

Theo Chính phủ (2010), nguyên tắc để thực hiện thủ tục hành chính là phải: (1) Bảo đảm công khai, minh bạch các thủ tục hành chính đang được thực hiện (2) Bảo đảm khách quan, công bằng trong thực hiện thủ tục hành chính (3) Bảo đảm tính liên thông, kịp thời, chính xác, không gây phiền hà trong thực hiện thủ tục hành chính (4) Bảo đảm quyền được phản ánh, kiến nghị của các cá nhân, tổ chức đối với các thủ tục hành chính (5) Đề cao trách nhiệm của cán bộ, công chức trong giải quyết công việc cho cá nhân, tổ chức

Theo Chính phủ (2010), thông tin về thủ tục hành chính đã được người có

Trang 15

thẩm quyền công bố phải được công khai đầy đủ, thường xuyên, rõ ràng, đúng địa chỉ, dễ tiếp cận, dễ khai thác, sử dụng, được đăng tải trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính và niêm yết tại trụ sở cơ quan, đơn vị trực tiếp giải quyết thủ tục hành chính cho cá nhân, tổ chức, (1) Đăng tải trên cổng thông tin điện tử của Chính phủ hoặc trang thông tin điện tử của cơ quan ban hành văn bản có quy định về thủ tục hành chính và cơ quan thực hiện thủ tục hành chính (2) Thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng

Theo Chính phủ (2010), cán bộ, công chức được phân công thực hiện thủ tục hành chính phải (1) Thực hiện nghiêm túc, đầy đủ nhiệm vụ được giao trong quá trình thực hiện thủ tục hành chính (2) Phải tạo thuận lợi cho đối tượng thực hiện thủ tục hành chính; có tác phong, thái độ lịch sự, nghiêm túc, khiêm tốn; ngôn ngữ giao tiếp phải chuẩn mực, rõ ràng, mạch lạc trong thực hiện thủ tục hành chính (3) Tiếp nhận và giải quyết hồ sơ của cá nhân, tổ chức theo quy định (4) Hướng dẫn tổ chức, cá nhân thực hiện trình tự, hồ sơ hành chính đầy đủ, rõ ràng, chính xác không

để tổ chức, cá nhân phải đi lại bổ sung hồ sơ quá hai lần cho một vụ việc, trừ trường hợp tổ chức, cá nhân thực hiện không đúng theo hướng dẫn của cán bộ, công chức được phân công thực hiện thủ tục hành chính (5) Chấp hành nghiêm túc các quy định của cấp có thẩm quyền về thủ tục hành chính đã được người đứng đầu Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương công bố (6) Chủ động tham mưu, đề xuất, sáng kiến cải tiến việc thực hiện thủ tục hành chính; kịp thời phát hiện, kiến nghị với cơ quan, người có thẩm quyền để sửa đổi,

bổ sung, thay đổi hoặc hủy bỏ, bãi bỏ các quy định về thủ tục hành chính không phù hợp, thiếu khả thi (7) Phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc thực hiện thủ tục hành chính

Theo Chính phủ (2010), cơ quan thực hiện thủ tục hành chính phải có trách nhiệm (1) Sử dụng, bố trí cán bộ, công chức có phẩm chất đạo đức tốt, văn hóa giao tiếp chuẩn mực, đủ trình độ về chuyên môn, nghiệp vụ và năng lực phù hợp để thực hiện thủ tục hành chính (2) Hướng dẫn, giải thích, cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ, kịp thời về thủ tục hành chính cho cá nhân, tổ chức có liên quan (3) Cấp giấy biên nhận hồ sơ, tài liệu theo quy định (4) Bảo quản và giữ bí mật về hồ sơ tài liệu và các thông tin liên quan đến bí mật cá nhân trong quá trình giải quyết theo

Trang 16

quy định của pháp luật, trừ trường hợp phải thu thập, công bố thông tin, tư liệu theo quyết định của cơ quan, tổ chức nhà nước có thẩm quyền (5) Nêu rõ lý do bằng văn bản trong trường hợp từ chối thực hiện hoặc có yêu cầu bổ sung giấy tờ trong thời hạn giải quyết theo quy định (6) Không tự đặt ra thủ tục hành chính, hồ sơ, giấy tờ ngoài quy định của pháp luật (7) Phối hợp và chia sẻ thông tin trong quá trình giải quyết công việc của cá nhân, tổ chức (8) Hỗ trợ người có công, người cao tuổi, người tàn tật, người nghèo, phụ nữ mang thai, trẻ mồ côi và người thuộc diện bảo trợ xã hội khác trong thực hiện thủ tục hành chính (9) Thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong thực hiện thủ tục hành chính (10) Tiếp nhận, xử lý các phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức trong thực hiện thủ tục hành chính (11) Ứng dụng công nghệ thông tin và các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong thực hiện thủ tục hành chính

Việc ứng dụng công nghệ thông tin và các tiến bộ khoa học kỹ thuật của cơ quan thực hiện thủ tục hành chính là điều kiện quan trọng để triển khai các dịch vụ hành chính công trên Mạng thông tin điện tử hành chính của Chính phủ trên Internet Xây dựng và sử dụng thống nhất biểu mẫu điện tử trong giao dịch giữa cơ quan hành chính nhà nước, tổ chức và cá nhân, đáp ứng yêu cầu xử lý công việc của từng cơ quan hành chính nhà nước, giữa các cơ quan hành chính nhà nước với nhau

và trong giao dịch với tổ chức, cá nhân, đặc biệt là trong hoạt động dịch vụ hành chính công, dịch vụ công của đơn vị sự nghiệp công; đơn giản và cải cách thủ tục hành chính; ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông trong quy trình xử lý công việc của từng cơ quan hành chính nhà nước, giữa các cơ quan hành chính nhà nước với nhau và trong giao dịch với tổ chức, cá nhân, đặc biệt là trong hoạt động dịch vụ hành chính công, dịch vụ công của đơn vị sự nghiệp công

6.1.3.5 Dịch vụ hành chính công:

Kotler (2001) định nghĩa dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích cung ứng nhằm để trao đổi, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất

Chính phủ (2007) ban hành Nghị định số 64/2007/NĐ-CP về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước đã qui định như sau: Dịch vụ

Trang 17

hành chính công là những dịch vụ liên quan đến hoạt động thực thi pháp luật, không nhằm mục tiêu lợi nhuận, do cơ quan nhà nước (hoặc tổ chức, doanh nghiệp được

ủy quyền) có thẩm quyền cấp cho tổ chức, cá nhân dưới hình thức các loại giấy tờ

có giá trị pháp lý trong các lĩnh vực mà cơ quan nhà nước đó quản lý

Chính phủ (2007), qui định các dịch vụ hành chính công phải đảm bảo được các yêu cầu cơ bản sau đây:

- Thứ nhất, phải đảm bảo sự dễ dàng tiếp cận của công dân khi đến các cơ quan nhà nước Tuyên truyền làm cho người dân hiểu được quyền hưởng dịch vụ hành chính công và cơ quan nhà nước có trách nhiệm cung cấp và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người dân

- Thứ hai là, đảm bảo cung cấp cho công dân đầy đủ những thông tin cần thiết bằng ngôn ngữ dễ hiểu, công khai minh bạch về giải quyết các công việc hành chính

- Thứ ba, đảm bảo chất lượng dịch vụ hành chính công, giải quyết nhanh chóng, chính xác, đúng qui định của pháp luật, đáp ứng tốt nhất yêu cầu của công dân

- Thứ tư là, đảm bảo tiếp nhận, giải quyết những thông tin phản hồi

- Sau cùng đó là, đảm bảo cung ứng dịch vụ hành chính công công bằng đối với mọi người dân

6.1.3.6 Quản lý (hành chính) công truyền thống:

Quản lý công truyền thống (traditional public management) hay còn gọi là hành chính công là khái niệm đã có từ thời rất lâu và cùng song hành với sự tồn tại của Nhà nước Mặc dù hệ thống hành chính nhà nước xuất hiện lâu đời, nhưng mô hình truyền thống của hành chính công chỉ thực sự được hình thành và phát triển từ cuối thế kỷ 19 Có thể nói trong số rất nhiều học giả thì Weber được xem là học giả

có ảnh hưởng lớn nhất đến sự hình thành và phát triển của Quản lý công truyền thống

Weber (trích theo Hughes O.E, 2012) cho rằng, mô hình truyền thống sử dụng các nguyên tắc pháp lý được sắp xếp theo hệ thống pháp luật hoặc các quy định về hành chính Mô hình truyền thống được hiểu là cách thức tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước thuộc các kiểu nhà nước trong lịch sử Cũng như

Trang 18

các cơ quan, các tổ chức trên cơ sở những nguyên tắc nhất định (bao gồm nguyên tắc chính trị - xã hội và nguyên tắc tổ chức - kỹ thuật) do nhà nước hoặc các chủ thể đặt ra mà bản chất chủ yếu thiên về kỹ trị Phương thức hoạt động dựa trên cơ sở thi hành các quy định một cách kém linh hoạt, lấy tổ chức thứ bậc chặt chẽ, trình tự, thủ tục và việc thực hiện các thủ tục đó theo quy trình mà ít quan tâm đến kết quả hoạt động của nhà nước hoặc các cơ quan, tổ chức khu vực công Weber đưa ra sáu nguyên tắc cơ bản của học thuyết quan liêu, nền tảng của phương thức quản lý công truyền thống Nguyên tắc thứ nhất là quyền lực phải được hình thành bởi các quy định của pháp luật, ngoài ra không còn loại quyền nào khác có thể bắt buộc mọi người phải tuân thủ Nguyên tắc thứ hai của Weber cũng là nguyên tắc phổ biến nhất, được gọi là nguyên tắc thứ bậc trong quản lý Nguyên tắc này yêu cầu quyền lực phải được thiết lập và duy trì trong tổ chức theo một hệ thống thứ bậc nhất định Thẩm quyền, quyền lực không phụ thuộc vào bất cứ cá nhân nào trong tổ chức mà phụ thuộc vào vị trí, cấp bậc mà cá nhân nắm giữ trong hệ thống thứ bậc của tổ chức Nguyên tắc thứ ba xác định rằng tài liệu thành văn là nguồn hết sức quan trọng để đảm bảo hiệu quả quản lý và tính vô tư của nền hành chính, với lập luận rằng các quy định của luật chỉ được áp dụng một cách thống nhất cho mọi trường hợp khi nó được viết và lưu trữ thành văn Nguyên tắc thứ tư nhấn mạnh hành chính

là một nghề đặc biệt, có được thông qua đào tạo nên không phải ai cũng có thể làm được Nguyên tắc thứ năm khẳng định hành chính phải là công việc được làm trọn thời gian, thay vì bán thời gian như trước đó Nguyên tắc cuối cùng của Weber chỉ

ra rằng quản lý công là công việc có thể được học, bởi vì nó tuân thủ theo những quy tắc chung nhất định Những quy tắc này có thể được thực hiện theo cùng một cách bởi bất kỳ người nào nắm giữ một vị trí, công việc nhất định trong tổ chức Theo Hughes (2012), Quản lý công truyền thống có những điểm khác biệt căn bản so với các mô hình hành chính trước, đó là sự thay thế của nền hành chính tồn tại dựa trên sự tin tưởng, trung thành đối với cá nhân bằng nền hành chính tồn tại dựa trên các quy định của pháp luật Các quy định thành văn thực sự đã góp phần quan trọng trong việc đảm bảo luật pháp được áp dụng như nhau cho mọi người trong mọi tình huống, không phân biệt người đó là ai, làm gì Sự bình đẳng trong xã hội nhờ vậy được thực hiện và củng cố Thêm vào đó, các nguyên tắc của

Trang 19

Weber còn góp phần quan trọng trong việc ổn định nền hành chính, bởi vì hệ thống

tổ chức và các quy định của nó không lệ thuộc vào bất kỳ cá nhân nào trong tổ chức, không bị mất đi khi một cá nhân bất kỳ nào đó rời khỏi tổ chức Quản lý công truyền thống vì vậy được áp dụng rộng rãi bởi nhiều quốc gia trên thế giới và trên thực tế đã đạt được rất nhiều thành công trong suốt thời kỳ phát triển công nghiệp hóa

Tuy nhiên, các nguyên tắc của quản lý công truyền thống cũng bị đánh giá là quá cứng nhắc, thiếu tính linh hoạt, là mầm mống tạo ra những kẻ cơ hội hơn là khuyến khích những người năng động, sáng tạo; làm cho tư duy của những người hoạt động trong lĩnh vực công trở nên chậm chạp, ngại thay đổi, sợ va chạm, không thích mạo hiểm; lãng phí các nguồn lực thay vì sử dụng chúng một cách hiệu quả

Bộ máy nhà nước do vậy dư thừa quá nhiều người, nhiều người không làm được việc, nhưng cũng không thể cho nghỉ Sự thăng tiến trong tổ chức theo hệ thống thứ bậc thường được xem xét dựa trên thâm niên công tác hơn là năng lực cá nhân Điều này làm cho lĩnh vực công thiếu hấp dẫn đối với những người trẻ và những người thực sự có năng lực

Tóm lại hành chính truyền thống là cách thức tổ chức, hoạt động của các cơ quan nhà nước trên cơ sở những nguyên tắc, quy tắc nhất định do nhà nước hoặc các chủ thể đặt ra mà bản chất chủ yếu thiên về tính “cai trị”, phương thức hoạt động dựa trên cơ sở thi hành các quy định một cách “cứng nhắc”, lấy tổ chức thứ bậc chặt chẽ, trình tự, thủ tục và việc thực hiện nghiêm ngặt các thủ tục đó làm biện pháp tối ưu mà ít quan tâm đến kết quả hoạt động của nhà nước, của các cơ quan, tổ chức hay của công chức nhà nước

6.1.3.7 Quản trị công mới (hành chính phát triển):

Theo Hughes (2012), vào những năm 1980 – 1990 đã nổi lên một phương pháp mới để quản lý khu vực công, như là một phản ứng trực tiếp cho những mối quan tâm về sự không thỏa đáng của mô hình hành chính truyền thống Sự thay đổi diễn ra từ cái gốc của vấn đề: chú ý vào vấn đề chi trả cho trách nhiệm cá nhân và kết quả đạt được của người quản lý Ở đây có một mục đích rõ ràng: bỏ đi cách tạo thành những tổ chức của cơ quan công quyền cổ điển, tính cá nhân, điều kiện làm việc trở nên linh hoạt hơn Mục tiêu của tổ chức và cá nhân được đưa ra rõ ràng,

Trang 20

những thành quả có thể đo lường được Tương tự, hệ thống ước lượng các chương trình trở nên phổ biến và chặc chẽ hơn trước đó Chức năng của chính phủ bám sát với yêu cầu của thị trường Chính phủ đóng và trò là đòn bẩy, là người định hướng cho sự phát triển của xã hội Sự thay đổi từ hành chính công sang quản trị công mang lại một thuật ngữ mới đó là Quản trị công mới

Theo Hood (1991), sự cải cách từ nền móng thị trường thường được nhận dạng như là một điểm đặc trưng của Quản trị công mới Có một sự thống nhất ở đây

là quản trị công thực sự khác biệt với quản lý hành chính công Điểm khác biệt mấu chốt của quản trị công với quản lý hành chính công là nhà quản trị công chịu trách nhiệm cá nhân cho việc phân phối các kết quả

Quản trị công mới, theo Hood (1991, trích bởi Hughes, 2012), biểu thị một cách rộng rãi các chính sách của chính phủ nhằm mục đích hiện đại hóa và tăng cường hiệu quả khu vực công Quản trị công mới thường được sử dụng khi nói đến

“Mô hình hành chính công theo các tiêu chí hiện đại, chủ động, năng động, nhạy bén, thích nghi cao nhằm đáp ứng tối đa các yêu cầu quản lý và hiệu quả cung cấp dịch vụ công trong các điều kiện kinh tế thị trường phát triển mạnh mẽ và bối cảnh quan hệ quốc tế ngày càng phụ thuộc chặt chẽ lẫn nhau”

Ngày nay quản trị công hay còn gọi là hành chính phát triển đã thay thế một cách hiệu quả mô hình quản lý công truyền thống Trong tương lai khu vực công sẽ

có rất nhiều thay đổi: về lãnh đạo, sự cai quản, sự cộng tác… Quản trị công không

có nghĩa là bắt chước sự thực hiện ở khu vực tư nhân Nó có nghĩa là đặc tính của quản trị công cần được ứng dụng Nó cần sự cân nhắc khác nhau giữa các khu vực nhưng vẫn khẳng định rằng công việc được thực hiện bởi những nhân viên phục vụ công mang tính quản trị hơn là quản lý hành chính Chuyển đổi từ “Hành chính công truyền thống” sang “Quản trị công” là xu hướng phổ biến trên thế giới, đặc biệt là những nước có nền kinh tế thị trường phát triển

Đặc trưng của quản trị công mới theo Hood (1991, trích bởi Hughes, 2012) bao gồm 07 điểm chính sau:

(1) Thực tiễn quản trị chuyên nghiệp trong lĩnh vực công Điều này có nghĩa

là để cho những người quản lý quản trị hoặc như Hood đề cập nó là “quản trị tùy ý năng động, có thể nhìn thấy được của các tổ chức từ việc đặt con người lên hàng

Trang 21

đầu”

(2) Các tiêu chuẩn và các biện pháp thực hiện rõ ràng Mục tiêu cần được xác định rõ ràng Trách nhiệm giải trình đòi hỏi phải có một tuyên bố rõ ràng về mục tiêu Hiệu quả đòi hỏi phải có một cái nhìn nghiêm khắc vào các mục tiêu

(3) Tập trung vào kiểm soát đầu ra Các nguồn lực được chuyển đến khu vực theo hiệu suất đo được, vì nhu cầu phải nhấn mạnh kết quả chứ không phải là thủ tục

(4) Thay đổi theo hướng phân tách các đơn vị trong khu vực công Phân chia các đơn vị lớn thành các đơn vị nhỏ, tài trợ riêng biệt và cho giao dịch với nhau trên

cơ sở nguyên tắc “chiều dài cánh tay” (không bị tác động lẫn nhau)

(5) Thay đổi để cạnh tranh mạnh hơn trong khu vực công Xu hướng hợp đồng kỳ hạn và thủ tục đấu thầu công khai Sử dụng sự cạnh tranh là chìa khóa để giảm chi phí và nâng cao tiêu chuẩn

(6) Một nhấn mạnh từ phong cách thực hành quản trị khu vực tư nhân Thoát khỏi kiểu mệnh lệnh quân sự, đạo đức công vụ và linh hoạt trong việc tuyển dụng

và khen thưởng

(7) Một nhấn mạnh về kỷ luật mạnh hơn và sự cẩn thận trong sử dụng tài nguyên Hood xem đây là “cắt giảm chi phí trực tiếp, nâng cao kỷ luật lao động, thắt chặt nhu cầu công đoàn, giới hạn chi phí biến chứng đối với kinh doanh” và “sự cần thiết phải kiểm tra nhu cầu tài nguyên của khu vực công, làm việc nhiều hơn với chi phí ít hơn”

Nhìn chung, quản trị công mới (hành chính phát triển) có cách tiếp cận mới đối với hành chính công truyền thống Sự xuất hiện của mô hình này đã làm cho cách thức hoạt động của khu vực công có nhiều thay đổi đáng kể Với các đặc tính của mô hình mới: hiệu quả hoạt động quản lý, phi quy chế hoá, phân quyền, áp dụng một số yếu tố của cơ chế thị trường, gắn bó với chính trị, tư nhân hoá một phần hoạt động của Nhà nước, vận dụng nhiều phương pháp quản lý doanh nghiệp,

xu hướng quốc tế hoá; quản trị công mới xuất hiện nhằm khắc phục những yếu kém không phù hợp của mô hình hành chính truyền thống Nền kinh tế Việt Nam đang vận hành theo cơ chế thị trường và ngày càng hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tế toàn cầu Chức năng của Chính phủ chắc chắn sẽ phải đối mặt với những thách thức

Trang 22

của thị trường trong nước và thị trường thế giới Vận dụng những nhân tố hợp lý

của mô hình quản trị công mới (hành chính phát triển) để xây dựng một mô hình

mang tính đặc sắc Việt Nam, đẩy mạnh cải cách hành chính theo kịp cải cách kinh

tế đang là câu hỏi đặt ra đối với các nhà lãnh đạo, quản lý và các nhà nghiên cứu

khoa học

Theo quan điểm hành chính phát triển hay quản trị công mới, hành chính

công thực hiện theo cơ chế áp dụng một số yếu tố của cơ chế thị trường, gắn bó với

chính trị, tư nhân hoá một phần hoạt động của Nhà nước Như vậy, chính quyền các

cấp cần phải xác định rõ những hoạt động nào của nhà nước đang đảm nhiệm hiện

nay không hiệu quả, kém chất lượng, trong khi đó tư nhân có thể đảm nhiệm và có

hiệu quả cao hơn cần chuyển các hoạt động đó sang tư nhân Đề tài này thực hiện

công việc đánh giá các hoạt động nào của nhà nước đang đảm nhiệm hiện nay

không hiệu quả, kém chất lượng để đề xuất các hướng nhằm đảm bảo cải cách hành

chính công theo hướng hành chính phát triển

6.1.4 Sự hài lòng:

Sự hài lòng (satisfaction) là mức độ của trạng thái cảm giác của một người

bắt nguồn từ việc so sánh kết quả thu được từ việc tiêu dùng sản phẩm hàng hóa hay

dịch vụ với những kỳ vọng của người đó Mức độ hài lòng phụ thuộc sự khác biệt

giữa kết quả nhận được và kỳ vọng, nếu kết quả thực tế thấp hơn kỳ vọng thì khách

hàng không hài lòng; nếu kết quả thực tế tương xứng với kỳ vọng thì khách hàng sẽ

hài lòng; nếu kết quả thực tế cao hơn kỳ vọng thì khách hàng rất hài lòng (Philip

Kotler, 2001) Từ định nghĩa có thể thấy được sự hài lòng của khách hàng phụ thuộc

vào mức độ kỳ vọng của khách hàng

Trong nghiên cứu này, bộ máy công quyền tỉnh Long An đóng vai trò là

người phục vụ, là người cung cấp các dịch vụ công cho người dân, doanh nghiệp và

cả cán bộ, công chức, viên chức đang công tác trong bộ máy nhà nước tại địa

phương (gọi chung là công dân) và được xem là những khách hàng Chính vì vậy,

việc nghiên cứu chất lượng quản trị hành chính công cấp tỉnh tại Long An qua đánh

giá của cán bộ, công chức, viên chức gần giống như đánh giá của người dân và

doanh nghiệp, tuy nhiên đứng trên gốc độ là người cung ứng dịch vụ cũng như là

người sử dụng dịch vụ hành chính công để đánh giá sẽ mang giá trị cao hơn và có ý

Comment [1]: Kiểm tra tài liệu tham khảo

Ngày đăng: 24/12/2020, 13:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Mô hình đánh giá của cán bộ, công chức, viên chức - Đề cương tốt nghiệp thạc sĩ kinh tế
Hình 1 Mô hình đánh giá của cán bộ, công chức, viên chức (Trang 34)
Bảng 3: Các biến quan sát cho yếu tố “Thủ tục hành chính” - Đề cương tốt nghiệp thạc sĩ kinh tế
Bảng 3 Các biến quan sát cho yếu tố “Thủ tục hành chính” (Trang 37)
Bảng 4: Các biến quan sát cho yếu tố “Cán bộ, công chức, viên chức” - Đề cương tốt nghiệp thạc sĩ kinh tế
Bảng 4 Các biến quan sát cho yếu tố “Cán bộ, công chức, viên chức” (Trang 38)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w