Muốn vậy, không chỉ Chính phủ phải tăngcường đổi mới, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà còn đòi các địa phương phải xây dựng được hệ thống chính quyền
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRẦN MAI NHÂN
ĐÁNH GIÁ CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC VỀ CHẤT LƯỢNG QUẢN TRỊ CÔNG VÀ HÀNH CHÍNH CÔNG CẤP
TỈNH TẠI LONG AN
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRẦN MAI NHÂN
ĐÁNH GIÁ CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC VỀ CHẤT LƯỢNG QUẢN TRỊ CÔNG VÀ HÀNH CHÍNH CÔNG CẤP
TỈNH TẠI LONG AN
Chuyên ngành: Kinh tế học
Mã số chuyên ngành:
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ HỌC
Giảng viên: TS NGUYỄN THANH NGUYÊN
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2016
Trang 31 Vấn đề nghiên cứu: 1
2 Câu hỏi nghiên cứu: 2
3 Mục tiêu nghiên cứu: 2
4 Đối tượng, phạm vi và mẫu nghiên cứu: 2
5 Phương pháp nghiên cứu: 3
6 Cơ sở lý luận: 4
6.1 Các khái niệm: 4
6.1.1 Khu vực tư và khu vực công: 4
6.1.1.1 Khu vực tư: 4
6.1.1.2 Khu vực công: 4
6.1.2 Hàng hóa, dịch vụ công: 5
6.1.3 Quản trị hành chính công: 6
6.1.3.1 Hành chính: 6
6.1.3.2 Hành chính công: 6
6.1.3.3 Cán bộ, công chức, viên chức: 7
6.1.3.4 Thủ tục hành chính: 8
6.1.3.5 Dịch vụ hành chính công: 11
6.1.3.6 Quản lý (hành chính) công truyền thống: 12
6.1.3.7 Quản trị công mới (hành chính phát triển): 14
6.1.4 Sự hài lòng: 16
6.2 Các nghiên cứu trước: 17
6.2.1 Nghiên cứu trong nước: 17
6.2.1.1 Mô hình một cửa, một cửa liên thông tại thành phố Hồ Chí Minh: 17
6.2.1.1.1 Các mô hình áp dụng cơ chế một cửa: 17
6.2.1.1.2 Mô hình Hệ thống quản lý theo kết quả (Performance Management System - PMS): 18
6.2.1.2 Mô hình phân cấp quản lý công tác tổ chức cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan hành chính nhà nước ở tỉnh Vĩnh Phúc: 19
6.2.1.3 Mô hình xây dựng cơ cấu cán bộ, công chức cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh của tỉnh Bắc Ninh: 19
6.2.1.4 Mô hình xây dựng hệ thống thông tin đô thị của thành phố Đà Lạt: 20
6.2.1.5 Các nghiên cứu liên quan đến nghiên cứu của đề tài tại Long An: 21
6.2.2 Nghiên cứu ngoài nước: 22
Trang 46.2.2.3 Mô hình của Boyne: 24
6.2.2.4 Mô hình quản lý công của Singapore: 26
6.2.2.5 Mô hình lấp chổ trống: 27
7 Giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu: 28
7.1 Giả thuyết nghiên cứu: 28
7.2 Mô hình nghiên cứu đề nghị: 28
7.3 Định nghĩa các biến trong nghiên cứu: 29
7.3.1 Các dịch vụ công: 29
7.3.2 Cơ sở vật chất, kỹ thuật: 30
7.3.3 Thủ tục hành chính: 31
7.3.4 Nguồn nhân lực (Cán bộ, công chức, viên chức): 32
8 Điểm mới của nghiên cứu: 33
9 Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu: 34
10 Kết cấu dự kiến của luận văn nghiên cứu: 34
11 Tiến độ thực hiện nghiên cứu: 35
12 Tài liệu tham khảo: 35
Trang 51 Vấn đề nghiên cứu:
Trong điều kiện đất nước ngày càng hội nhập sâu, rộng với thế giới, thời gianqua cùng với sự phát triển chung của đất nước, chính quyền địa phương và nhân dânLong An đã có nhiều nổ lực, đề ra nhiều giải pháp kinh tế, xã hội,… nhằm thực hiệnmục tiêu phát triển bền vững của tỉnh nhà
Cùng với sự phát triển ngày càng nhanh của kinh tế – xã hội như ngày nay,
nền hành chính nhà nước cũng có sự phát triển theo xu hướng tiến bộ (chuyển từ
hành chính cai trị sang hành chính phục vụ) Trong điều kiện khoa học hành chính
của Việt Nam ra đời và phát triển rất muộn, lại phải chịu sự tác động trực tiếp củaChính trị, vì vậy tính độc lập của khoa học hành chính là khá mờ nhạt Nói cáchkhác là Việt Nam chúng ta thực sự chưa có một mô hình hành chính công Trongkhi khoa học hành chính trên thế giới đã có quá trình phát triển khá dài và gần đâycũng đã xuất hiện nhiều thuật ngữ mới như “quản trị công mới” hay “hành chínhphát triển”…
Để đưa đất nước phát triển bền vững và hội nhập thành công, ngoài sự quyếttâm về mặt chính trị, Việt Nam chúng ta cũng cần phải xây dựng cho mình mô hìnhquản trị công có hiệu quả nhằm giải phóng lực lượng sản xuất, huy động và sử dụng
có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng,thông thoáng, thuận lợi, minh bạch nhằm giảm thiểu chi phí về thời gian và kinh phícủa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế và người dân trong việc tuânthủ các thủ tục hành chính nhà nước Muốn vậy, không chỉ Chính phủ phải tăngcường đổi mới, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
mà còn đòi các địa phương phải xây dựng được hệ thống chính quyền địa phươnghiện đại, dân chủ và pháp quyền, hoạt động thông suốt, hiệu lực, hiệu quả…
Với mục tiêu góp phần cùng cả nước hội nhập thành công và phát triển bềnvững, việc nghiên cứu, đánh giá đầy đủ các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng quảntrị công cấp tỉnh là cần thiết để xây dựng chính quyền địa phương hiện đại, dân chủ,hoạt động hiệu quả thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội… Đây cũng là lý do để tôi
chọn đề tài nhiên cứu “Đánh giá của cán bộ, công chức về chất lượng quản trị công và hành chính công cấp tỉnh tại Long An” làm đề cương luận văn tốt nghiệp
Trang 62 Câu hỏi nghiên cứu:
Với thực tế tại địa phương và kết quả đánh giá các chỉ số (PCI, PAPI) có liênquan đến công tác quản trị hành chính công tại tỉnh Long An cho thấy, công tácquản trị hành chính công của tỉnh Long An chưa tốt, chưa hiệu quả, thể hiện qua kếtquả đánh giá của chỉ số PCI thay đổi nhiều qua các năm Trước tình hình đó, câu hỏiđược đặt ra là:
Câu hỏi 1: Yếu tố nào ảnh hưởng đến chất lượng quản trị hành chính công
cấp tỉnh tại Long An?
Câu hỏi 2: Mức độ tác động của các yếu tố đó đến chất lượng quản trị hành
chính công cấp tỉnh tại Long An như thế nào?
3 Mục tiêu nghiên cứu:
- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng quản trị hành chính côngcủa tỉnh Long An
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản trị hành chính côngtrên địa bàn tỉnh Long An
4 Đối tượng, phạm vi và mẫu nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu là công tác quản trị hành chính công cấp tỉnh tạiLong An
- Đối tượng khảo sát là cán bộ, công chức, viên chức đang công tác tại các
sở, ngành của tỉnh Long An
- Đề tài nghiên cứu dự kiến phạm vi khảo sát là cán bộ, công chức, viên chứcđang công tác tại các sở, ngành, địa phương thuộc tỉnh Long An: Sở Kế hoạch vàĐầu tư, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Công thương, Sở Tài chính và Văn phòng
Ủy ban nhân dân tỉnh…
- Mẫu nghiên cứu được xác định bằng cách: Số mẫu khảo sát = Sở, ngành, địa phương x Mỗi đối tượng khảo sát tối thiểu là 30 người x Số đối tượng x Số lĩnh vực khảo sát.
Dự kiến mẫu khảo sát ít nhất là 300 mẫu, cụ thể như sau:
Sở, ngành, địa phương được khảo sát: 05 (Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tàinguyên và Môi trường, Sở Công thương, Sở Tài chính và Văn phòng Ủy ban nhân
Trang 7+ Các vấn đề còn lại bao gồm: thủ tục hành chính; điều kiện vật chất,
kỹ thuật; nguồn nhân lực)
Phương pháp chọn mẫu trong nghiên cứu là phương pháp chọn mẫu thuậntiện thông qua việc phỏng vấn trực tiếp, kết hợp với việc gửi bảng khảo sát qua thưđiện tử (email)
5 Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng
Đề tài được tiến hành qua hai giai đoạn, đó là:
Giai đoạn nghiên cứu sơ bộ: Đây là giai đoạn sử dụng phương pháp nghiêncứu định tính kết hợp kỹ thuật chuyên gia nhằm xác định và bổ sung những tiêu chíđánh giá, điều chỉnh thang đo và hoàn chỉnh bảng câu hỏi để tiến hành nghiên cứuchính thức
Giai đoạn nghiên cứu chính thức: Đây là giai đoạn sử dụng phương phápđịnh lượng, từ kết quả nghiên cứu của giai đoạn nghiên cứu sơ bộ, sau khi xác địnhđược thang đo và bảng câu hỏi hoàn chỉnh sẽ tiến hành phỏng vấn chính thức để thuthập dữ liệu thực tế Áp dụng thang đo Likert 05 bậc để khảo sát sự hài lòng (mức
độ đánh giá) của cán bộ, công chức đối với chất lượng quản trị hành chính công cấptỉnh tại Long An, với:
1 – Hoàn toàn không đồng ý;
Trang 8công chức, viên chức thông qua kiểm định Cronbach's Alpha, phân tích nhân tốkhám phá (EFA), phân tích One Way ANOVA để nhận diện các yếu tố được cho làphù hợp, cuối cùng sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính để phân tích ảnh hưởng củacác biến độc lập liên quan đến mức độ hài lòng của cán bộ, công chức đối với hiệuquả quản trị hành chính công Các công việc trên được thực hiện trên phần mềm xử
lý số liệu thống kê SPSS phiên bản 22.0
6.1.1.2 Khu vực công:
Khu vực công là khu vực không chịu sự tác động có hiệu quả của thị trườngcạnh tranh, bao gồm các hoạt động tạo ra các sản phẩm, dịch vụ phục vụ nhu cầucủa xã hội do nhà nước trực tiếp đầu tư, quản lý hoặc do tư nhân đầu tư quản lýnhưng có sự chi phối đặc biệt của nhà nước thông qua hệ thống luật pháp, chínhsách, tiêu chuẩn riêng biệt (Nguyễn Thuấn, 2005)
Chúng ta có thể tổng quát các hoạt động thuộc khu vực công là các hoạt độngthuộc các lĩnh vực:
- Xây dựng, hoàn thiện, thực hiện và duy trì hệ thống luật pháp của quốc giamột cách có hiệu quả Tức là các hoạt động bao gồm cả các chức năng lập pháp vàhành pháp Đây là hoạt động rất quan trọng thuộc khu vực công và cũng chỉ tồn tại
ở khu vực công mà thôi
- Các hoạt động dưới dạng các chính sách của chính phủ như các chính sách
về thuế, phạt tiền, chính sách về trợ cấp, hệ thống các quy định tiêu chuẩn về môitrường, về an toàn thực phẩm, về quy định đô thị và về vệ sinh lao động…
- Các hoạt động về cung ứng dịch vụ, sản xuất hàng hóa công cộng Việc sản
Trang 9xuất hàng hóa công cộng phục vụ cho các cá nhân, cho nền kinh tế có thể thông quacác chủ thể là các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc sở hữu nhà nước
mà cũng có thể thuộc sở hữu tư nhân nhưng chịu sự chi phối đặc biệt của nhà nước
6.1.2 Hàng hóa, dịch vụ công:
Hàng hóa công trong nhiều trường hợp được gọi là dịch vụ công NguyễnThuấn (2005) cho rằng, hàng hóa công hay dịch vụ công là hàng hóa, dịch vụ màmọi người trong xã hội có thể sử dụng, dùng chung với nhau, việc sử dụng củangười này không ảnh hưởng đáng kể đến việc sử dụng của người khác Hàng hóa,dịch vụ công cộng là loại hàng hóa, dịch vụ thỏa mãn được một hoặc cả hai đặcđiểm sau:
- Đặc điểm thứ nhất đó là, nó không phải được dành riêng cho ai, không ai cóquyền sở hữu cá nhân về hàng hóa, dịch vụ ấy Thật khó để buộc mọi người phải trảtiền trực tiếp khi sử dụng hàng hóa, dịch vụ mà không dành riêng cho mình, bởi vìnếu không trả tiền trực tiếp, họ cũng có thể hưởng thụ được hàng hóa, dịch vụ ấy
- Đặc điểm thứ hai là, việc sử dụng hàng hóa, dịch vụ công của người nàykhông ảnh hưởng đáng kể đến việc sử dụng của người khác Bởi vì chi phí tăngthêm để tiêu dùng một hàng hóa, dịch vụ tăng thêm là rất nhỏ, gần như bằng không
Tuy nhiên, không phải bất kỳ một hàng hóa, dịch vụ công nào cũng bảo đảmmột cách nghiêm ngặt các đặc điểm trên, tùy theo mức độ bảo đảm mà người ta cóthể chia thành hai loại hàng hóa, dịch vụ công Đó là hàng hóa, dịch vụ công thuầntúy và hàng hóa, dịch vụ công không thuần túy
Hàng hóa, dịch vụ công có những đặc trưng cơ bản sau:
- Thứ nhất là, những hoạt động phục vụ cho nhu cầu, lợi ích chung thiết yếu,các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và công dân
- Thứ hai là, nhà nước có trách nhiệm đảm bảo các dịch vụ này cho xã hội.Ngay cả khi nhà nước chuyển giao dịch vụ này cho tư nhân cung ứng thì nhà nướcvẫn có vai trò điều tiết đặc biệt nhằm đảm bảo công bằng trong phân phối các dịch
vụ công, khắc phục những khiếm khuyết của thị trường
- Thứ ba là, khi thực hiện cung ứng các dịch vụ công, các cơ quan nhà nước
và các tổ chức được ủy nhiệm cung ứng có sự giao dịch cụ thể với các tổ chức vàcông dân
Trang 10- Sau cùng đó là, nhà nước cung ứng dịch vụ công thường thông qua quan hệthị trường không đầy đủ Thông thường người sử dụng dịch vụ công không trực tiếptrả tiền hay nói đúng hơn là đã trả tiền dưới hình thức đóng thuế vào ngân sách nhànước.
Khác biệt của dịch vụ công so với các dịch vụ thông thường là bởi dịch vụcông luôn gắn với thẩm quyền mang tính pháp lý, phục vụ cho hoạt động quản lýnhà nước, tính không vụ lợi và mọi người dân đều có quyền ngang nhau trong việctiếp nhận, sử dụng dịch vụ công
6.1.3.2 Hành chính công:
Hành chính công là hoạt động của Nhà nước, của các cơ quan Nhà nướcmang tính quyền lực Nhà nước, sử dụng quyền lực Nhà nước để quản lý công việccông của Nhà nước nhằm phục vụ lợi ích chung hay lợi ích riêng hợp pháp của côngdân Do vậy, hành chính công bao hàm toàn bộ các cơ quan thuộc chính quyền của
bộ máy hành pháp từ Trung ương tới các cấp chính quyền địa phương, toàn bộ cácthể chế và hoạt động của bộ máy ấy và tất cả những người làm việc trong bộ máy đó(Lê Thị Vân Hạnh, 2006)
Trong nghiên cứu của mình, Phạm Đức Toàn (2012) còn cho rằng hành chính
công (public administration), quản lý công (public management), quản trị hành chính công hay quản lý hành chính nhà nước (govermance) có sự đồng nhất với
nhau và trong nhiều trường hợp, được sử dụng thay thế cho nhau Với cách hiểuchung, hành chính công là nền hành chính, là thiết chế thực hiện quyền hành pháp,đưa chính sách, pháp luật vào cuộc sống Nền hành chính là khái niệm tổng quát,bao gồm các yếu tố: hệ thống thể chế, pháp luật, thủ tục hành chính; chức năng,
Trang 11nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành của bộ máy hành chính nhà nước cáccấp; đội ngũ cán bộ, công chức; nguồn lực tài chính, công sản và các điều kiện vậtchất, kỹ thuật đảm bảo thực thi công vụ hiệu quả Cung ứng dịch vụ công là mộttrong những chức năng cơ bản mà các nhà nước giao cho nền hành chính đảm trách.Trong quá trình phát triển của nền hành chính, dịch vụ công được mở rộng trênnhiều lĩnh vực khác nhau, với yêu cầu về chất lượng ngày càng cao Nền hành chínhphát triển phải phối hợp và điều hoà các nguyện vọng cá nhân với lợi ích của cộngđồng, của đất nước, hướng tới các mục tiêu của một xã hội dân chủ Nhà nướckhông ôm đồm, tự mình giải quyết tất cả các vấn đề xã hội mà đẩy mạnh dân chủ
hoá gắn với phân quyền, xã hội hoá nhằm tập trung thực hiện tốt vai trò “lái
thuyền” Nhiều hoạt động cung ứng dịch vụ công được chuyển cho các khu vực
ngoài nhà nước thực hiện Theo cách tiếp cận này, hành chính công được coi là
quản lí công hay mô hình quản trị công mới (New Public Management - NPM) Đó
là sự điều hành, giám sát và quản lí các chủ thể khác nhau của xã hội nhằm phục vụtốt hơn các nhu cầu chính đáng của nhân dân
Trong nghiên cứu này, hành chính dựa theo khái niệm của Phạm Đức Toàn(2012), vì đây là khái niệm có tính chất bao quát, gần đúng theo mô hình quản trịhành chính công của nhà nước Việt Nam hiện nay và cũng theo hướng tiếp cận với
mô hình quản trị công mới
6.1.3.3 Cán bộ, công chức, viên chức:
- Quốc hội (2008), đã thông qua Luật Cán bộ, Công chức theo đó tại Điều 4của Luật đã xác định cán bộ, công chức:
Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức
vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhànước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trungương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh(sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhànước Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân ViệtNam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhândân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chínhtrị - xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức
Trang 12danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế vàhưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch,chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chứcchính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộcQuân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhânquốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩquan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sựnghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội(sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị
sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp cônglập theo quy định của pháp luật
- Quốc hội (2010), đã thông qua Luật Viên chức theo đó tại Điều 2 của Luật
đã xác định, Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm,làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương
từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật
6.1.3.4 Thủ tục hành chính:
Chính phủ (2010) xác định, “Thủ tục hành chính” là trình tự, cách thức thực
hiện, hồ sơ và yêu cầu, điều kiện do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy
định để giải quyết một công việc cụ thể liên quan đến cá nhân, tổ chức “Cơ sở dữ
liệu quốc gia về thủ tục hành chính” là tập hợp thông tin về thủ tục hành chính và các
văn bản quy phạm pháp luật có quy định về thủ tục hành chính được xây dựng, cậpnhật và duy trì trên Trang thông tin điện tử về thủ tục hành chính của Chính phủnhằm đáp ứng yêu cầu công khai, minh bạch trong quản lý hành chính nhà nước, tạothuận lợi cho tổ chức, cá nhân truy nhập và sử dụng thông tin chính thức về thủ tụchành chính
Chính phủ (2010) qui định, thủ tục hành chính công phải bảo đảm cácnguyên tắc: (1) Đơn giản, dễ hiểu và dễ thực hiện (2) Phù hợp với mục tiêu quản lýhành chính nhà nước (3) Bảo đảm quyền bình đẳng của các đối tượng thực hiện
Trang 13thủ tục hành chính (4) Tiết kiệm thời gian và chi phí của cá nhân, tổ chức và cơquan hành chính nhà nước (5) Đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất, đồng
bộ, hiệu quả của các quy định về thủ tục hành chính; thủ tục hành chính phải được
cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định trên cơ sở bảo đảm tính liên thông giữacác thủ tục hành chính liên quan, thực hiện phân công, phân cấp rõ ràng, minh bạch,hợp lý; dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật có quy định về thủ tục hànhchính thuộc thẩm quyền của cơ quan nào, cơ quan đó phải có trách nhiệm hoànchỉnh
Theo Chính phủ (2010), nguyên tắc để thực hiện thủ tục hành chính là phải:(1) Bảo đảm công khai, minh bạch các thủ tục hành chính đang được thực hiện (2) Bảođảm khách quan, công bằng trong thực hiện thủ tục hành chính (3) Bảo đảm tínhliên thông, kịp thời, chính xác, không gây phiền hà trong thực hiện thủ tục hànhchính (4) Bảo đảm quyền được phản ánh, kiến nghị của các cá nhân, tổ chức đốivới các thủ tục hành chính (5) Đề cao trách nhiệm của cán bộ, công chức trong giảiquyết công việc cho cá nhân, tổ chức
Theo Chính phủ (2010), thông tin về thủ tục hành chính đã được người cóthẩm quyền công bố phải được công khai đầy đủ, thường xuyên, rõ ràng, đúng địachỉ, dễ tiếp cận, dễ khai thác, sử dụng, được đăng tải trên Cơ sở dữ liệu quốc gia vềthủ tục hành chính và niêm yết tại trụ sở cơ quan, đơn vị trực tiếp giải quyết thủ tụchành chính cho cá nhân, tổ chức, (1) Đăng tải trên cổng thông tin điện tử của Chínhphủ hoặc trang thông tin điện tử của cơ quan ban hành văn bản có quy định về thủtục hành chính và cơ quan thực hiện thủ tục hành chính (2) Thông báo trên cácphương tiện thông tin đại chúng
Theo Chính phủ (2010), cán bộ, công chức được phân công thực hiện thủ tụchành chính phải (1) Thực hiện nghiêm túc, đầy đủ nhiệm vụ được giao trong quátrình thực hiện thủ tục hành chính (2) Phải tạo thuận lợi cho đối tượng thực hiệnthủ tục hành chính; có tác phong, thái độ lịch sự, nghiêm túc, khiêm tốn; ngôn ngữgiao tiếp phải chuẩn mực, rõ ràng, mạch lạc trong thực hiện thủ tục hành chính (3)Tiếp nhận và giải quyết hồ sơ của cá nhân, tổ chức theo quy định (4) Hướng dẫn tổchức, cá nhân thực hiện trình tự, hồ sơ hành chính đầy đủ, rõ ràng, chính xác không
để tổ chức, cá nhân phải đi lại bổ sung hồ sơ quá hai lần cho một vụ việc, trừ trường
Trang 14hợp tổ chức, cá nhân thực hiện không đúng theo hướng dẫn của cán bộ, công chứcđược phân công thực hiện thủ tục hành chính (5) Chấp hành nghiêm túc các quyđịnh của cấp có thẩm quyền về thủ tục hành chính đã được người đứng đầu Bộ, cơquan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương công bố.(6) Chủ động tham mưu, đề xuất, sáng kiến cải tiến việc thực hiện thủ tục hànhchính; kịp thời phát hiện, kiến nghị với cơ quan, người có thẩm quyền để sửa đổi,
bổ sung, thay đổi hoặc hủy bỏ, bãi bỏ các quy định về thủ tục hành chính không phùhợp, thiếu khả thi (7) Phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan trong việcthực hiện thủ tục hành chính
Theo Chính phủ (2010), cơ quan thực hiện thủ tục hành chính phải có tráchnhiệm (1) Sử dụng, bố trí cán bộ, công chức có phẩm chất đạo đức tốt, văn hóa giaotiếp chuẩn mực, đủ trình độ về chuyên môn, nghiệp vụ và năng lực phù hợp để thựchiện thủ tục hành chính (2) Hướng dẫn, giải thích, cung cấp thông tin chính xác,đầy đủ, kịp thời về thủ tục hành chính cho cá nhân, tổ chức có liên quan (3) Cấpgiấy biên nhận hồ sơ, tài liệu theo quy định (4) Bảo quản và giữ bí mật về hồ sơ tàiliệu và các thông tin liên quan đến bí mật cá nhân trong quá trình giải quyết theoquy định của pháp luật, trừ trường hợp phải thu thập, công bố thông tin, tư liệu theoquyết định của cơ quan, tổ chức nhà nước có thẩm quyền (5) Nêu rõ lý do bằng vănbản trong trường hợp từ chối thực hiện hoặc có yêu cầu bổ sung giấy tờ trong thờihạn giải quyết theo quy định (6) Không tự đặt ra thủ tục hành chính, hồ sơ, giấy tờngoài quy định của pháp luật (7) Phối hợp và chia sẻ thông tin trong quá trình giảiquyết công việc của cá nhân, tổ chức (8) Hỗ trợ người có công, người cao tuổi,người tàn tật, người nghèo, phụ nữ mang thai, trẻ mồ côi và người thuộc diện bảotrợ xã hội khác trong thực hiện thủ tục hành chính (9) Thực hiện cơ chế một cửa,một cửa liên thông trong thực hiện thủ tục hành chính (10) Tiếp nhận, xử lý cácphản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức trong thực hiện thủ tục hành chính (11)Ứng dụng công nghệ thông tin và các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong thực hiện thủtục hành chính
Việc ứng dụng công nghệ thông tin và các tiến bộ khoa học kỹ thuật của cơquan thực hiện thủ tục hành chính là điều kiện quan trọng để triển khai các dịch vụhành chính công trên Mạng thông tin điện tử hành chính của Chính phủ trên
Trang 15Internet Xây dựng và sử dụng thống nhất biểu mẫu điện tử trong giao dịch giữa cơquan hành chính nhà nước, tổ chức và cá nhân, đáp ứng yêu cầu xử lý công việc củatừng cơ quan hành chính nhà nước, giữa các cơ quan hành chính nhà nước với nhau
và trong giao dịch với tổ chức, cá nhân, đặc biệt là trong hoạt động dịch vụ hànhchính công, dịch vụ công của đơn vị sự nghiệp công; đơn giản và cải cách thủ tụchành chính; ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông trong quy trình xử lý côngviệc của từng cơ quan hành chính nhà nước, giữa các cơ quan hành chính nhà nướcvới nhau và trong giao dịch với tổ chức, cá nhân, đặc biệt là trong hoạt động dịch vụhành chính công, dịch vụ công của đơn vị sự nghiệp công
6.1.3.5 Dịch vụ hành chính công:
Kotler (2001) định nghĩa rằng dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích cung ứngnhằm để trao đổi, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu.Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất
Chính phủ (2007) ban hành Nghị định số 64/2007/NĐ-CP về ứng dụng côngnghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước đã qui định như sau: Dịch vụhành chính công là những dịch vụ liên quan đến hoạt động thực thi pháp luật, khôngnhằm mục tiêu lợi nhuận, do cơ quan nhà nước (hoặc tổ chức, doanh nghiệp được
ủy quyền) có thẩm quyền cấp cho tổ chức, cá nhân dưới hình thức các loại giấy tờ
có giá trị pháp lý trong các lĩnh vực mà cơ quan nhà nước đó quản lý
Chính phủ (2007), qui định các dịch vụ hành chính công phải đảm bảo được các yêu cầu cơ bản sau đây:
- Thứ nhất, phải đảm bảo sự dễ dàng tiếp cận của công dân khi đến các cơquan nhà nước Tuyên truyền làm cho người dân hiểu được quyền hưởng dịch vụhành chính công và cơ quan nhà nước có trách nhiệm cung cấp và tạo mọi điều kiệnthuận lợi cho người dân
- Thứ hai là, đảm bảo cung cấp cho công dân đầy đủ những thông tin cầnthiết bằng ngôn ngữ dễ hiểu, công khai minh bạch về giải quyết các công việc hànhchính
- Thứ ba, đảm bảo chất lượng dịch vụ hành chính công, giải quyết nhanhchóng, chính xác, đúng qui định của pháp luật, đáp ứng tốt nhất yêu cầu của công
Trang 16- Thứ tư là, đảm bảo tiếp nhận, giải quyết những thông tin phản hồi
- Sau cùng đó là, đảm bảo cung ứng dịch vụ hành chính công công bằng đốivới mọi người dân
6.1.3.6 Quản lý (hành chính) công truyền thống:
Quản lý công truyền thống (traditional public management) hay còn gọi làhành chính công là khái niệm đã có từ thời rất lâu và cùng song hành với sự tồn tạicủa Nhà nước Mặc dù hệ thống hành chính nhà nước xuất hiện lâu đời, nhưng môhình truyền thống của hành chính công chỉ thực sự được hình thành và phát triển từcuối thế kỷ 19 Có thể nói trong số rất nhiều học giả thì Weber được xem là học giả
có ảnh hưởng lớn nhất đến sự hình thành và phát triển của Quản lý công truyềnthống
Weber (trích theo Hughes O.E, 2012) cho rằng, mô hình truyền thống sửdụng các nguyên tắc pháp lý được sắp xếp theo hệ thống pháp luật hoặc các quyđịnh về hành chính Mô hình truyền thống được hiểu là cách thức tổ chức và hoạtđộng của các cơ quan nhà nước thuộc các kiểu nhà nước trong lịch sử Cũng nhưcác cơ quan, các tổ chức trên cơ sở những nguyên tắc nhất định (bao gồm nguyêntắc chính trị - xã hội và nguyên tắc tổ chức - kỹ thuật) do nhà nước hoặc các chủ thểđặt ra mà bản chất chủ yếu thiên về kỹ trị Phương thức hoạt động dựa trên cơ sở thihành các quy định một cách kém linh hoạt, lấy tổ chức thứ bậc chặt chẽ, trình tự,thủ tục và việc thực hiện các thủ tục đó theo quy trình mà ít quan tâm đến kết quảhoạt động của nhà nước hoặc các cơ quan, tổ chức khu vực công Weber đưa ra sáunguyên tắc cơ bản của học thuyết quan liêu, nền tảng của phương thức quản lý côngtruyền thống Nguyên tắc thứ nhất là quyền lực phải được hình thành bởi các quyđịnh của pháp luật, ngoài ra không còn loại quyền nào khác có thể bắt buộc mọingười phải tuân thủ Nguyên tắc thứ hai của Weber cũng là nguyên tắc phổ biếnnhất, được gọi là nguyên tắc thứ bậc trong quản lý Nguyên tắc này yêu cầu quyềnlực phải được thiết lập và duy trì trong tổ chức theo một hệ thống thứ bậc nhất định.Thẩm quyền, quyền lực không phụ thuộc vào bất cứ cá nhân nào trong tổ chức màphụ thuộc vào vị trí, cấp bậc mà cá nhân nắm giữ trong hệ thống thứ bậc của tổchức Nguyên tắc thứ ba xác định rằng tài liệu thành văn là nguồn hết sức quan
Trang 17trọng để đảm bảo hiệu quả quản lý và tính vô tư của nền hành chính, với lập luậnrằng các quy định của luật chỉ được áp dụng một cách thống nhất cho mọi trườnghợp khi nó được viết và lưu trữ thành văn Nguyên tắc thứ tư nhấn mạnh hành chính
là một nghề đặc biệt, có được thông qua đào tạo nên không phải ai cũng có thể làmđược Nguyên tắc thứ năm khẳng định hành chính phải là công việc được làm trọnthời gian, thay vì bán thời gian như trước đó Nguyên tắc cuối cùng của Weber chỉ
ra rằng quản lý công là công việc có thể được học, bởi vì nó tuân thủ theo nhữngquy tắc chung nhất định Những quy tắc này có thể được thực hiện theo cùng mộtcách bởi bất kỳ người nào nắm giữ một vị trí, công việc nhất định trong tổ chức
Theo Hughes (2012), Quản lý công truyền thống có những điểm khác biệtcăn bản so với các mô hình hành chính trước, đó là sự thay thế của nền hành chínhtồn tại dựa trên sự tin tưởng, trung thành đối với cá nhân bằng nền hành chính tồntại dựa trên các quy định của pháp luật Các quy định thành văn thực sự đã gópphần quan trọng trong việc đảm bảo luật pháp được áp dụng như nhau cho mọingười trong mọi tình huống, không phân biệt người đó là ai, làm gì Sự bình đẳngtrong xã hội nhờ vậy được thực hiện và củng cố Thêm vào đó, các nguyên tắc củaWeber còn góp phần quan trọng trong việc ổn định nền hành chính, bởi vì hệ thống
tổ chức và các quy định của nó không lệ thuộc vào bất kỳ cá nhân nào trong tổchức, không bị mất đi khi một cá nhân bất kỳ nào đó rời khỏi tổ chức Quản lý côngtruyền thống vì vậy được áp dụng rộng rãi bởi nhiều quốc gia trên thế giới và trênthực tế đã đạt được rất nhiều thành công trong suốt thời kỳ phát triển công nghiệphóa
Tuy nhiên, các nguyên tắc của quản lý công truyền thống cũng bị đánh giá làquá cứng nhắc, thiếu tính linh hoạt, là mầm mống tạo ra những kẻ cơ hội hơn làkhuyến khích những người năng động, sáng tạo; làm cho tư duy của những ngườihoạt động trong lĩnh vực công trở nên chậm chạp, ngại thay đổi, sợ va chạm, khôngthích mạo hiểm; lãng phí các nguồn lực thay vì sử dụng chúng một cách hiệu quả
Bộ máy nhà nước do vậy dư thừa quá nhiều người, nhiều người không làm đượcviệc, nhưng cũng không thể cho nghỉ Sự thăng tiến trong tổ chức theo hệ thống thứbậc thường được xem xét dựa trên thâm niên công tác hơn là năng lực cá nhân Điềunày làm cho lĩnh vực công thiếu hấp dẫn đối với những người trẻ và những người
Trang 18thực sự có năng lực.
Tóm lại hành chính truyền thống là cách thức tổ chức, hoạt động của các cơquan nhà nước trên cơ sở những nguyên tắc, quy tắc nhất định do nhà nước hoặccác chủ thể đặt ra mà bản chất chủ yếu thiên về tính “cai trị”, phương thức hoạtđộng dựa trên cơ sở thi hành các quy định một cách “cứng nhắc”, lấy tổ chức thứbậc chặt chẽ, trình tự, thủ tục và việc thực hiện nghiêm ngặt các thủ tục đó làm biệnpháp tối ưu mà ít quan tâm đến kết quả hoạt động của nhà nước, của các cơ quan, tổchức hay của công chức nhà nước
6.1.3.7 Quản trị công mới (hành chính phát triển):
Theo Hughes (2012), vào những năm 1980 – 1990 đã nổi lên một phươngpháp mới để quản lý khu vực công, như là một phản ứng trực tiếp cho những mốiquan tâm về sự không thỏa đáng của mô hình hành chính truyền thống Sự thay đổidiễn ra từ cái gốc của vấn đề: chú ý vào vấn đề chi trả cho trách nhiệm cá nhân vàkết quả đạt được của người quản lý Ở đây có một mục đích rõ ràng: bỏ đi cách tạothành những tổ chức của cơ quan công quyền cổ điển, tính cá nhân, điều kiện làmviệc trở nên linh hoạt hơn Mục tiêu của tổ chức và cá nhân được đưa ra rõ ràng,những thành quả có thể đo lường được Tương tự, hệ thống ước lượng các chươngtrình trở nên phổ biến và chặc chẽ hơn trước đó Chức năng của chính phủ bám sátvới yêu cầu của thị trường Chính phủ đóng và trò là đòn bẩy, là người định hướngcho sự phát triển của xã hội Sự thay đổi từ hành chính công sang quản trị côngmang lại một thuật ngữ mới đó là Quản trị công mới
Theo Hood (1991), sự cải cách từ nền móng thị trường thường được nhậndạng như là một điểm đặc trưng của Quản trị công mới Có một sự thống nhất ở đây
là quản trị công thực sự khác biệt với quản lý hành chính công Điểm khác biệt mấuchốt của quản trị công với quản lý hành chính công là nhà quản trị công chịu tráchnhiệm cá nhân cho việc phân phối các kết quả
Quản trị công mới, theo Hood (1991, trích bởi Hughes, 2012), biểu thị mộtcách rộng rãi các chính sách của chính phủ nhằm mục đích hiện đại hóa và tăngcường hiệu quả khu vực công Quản trị công mới thường được sử dụng khi nói đến
“Mô hình hành chính công theo các tiêu chí hiện đại, chủ động, năng động, nhạybén, thích nghi cao nhằm đáp ứng tối đa các yêu cầu quản lý và hiệu quả cung cấp
Trang 19dịch vụ công trong các điều kiện kinh tế thị truờng phát triển mạnh mẽ và bối cảnhquan hệ quốc tế ngày càng phụ thuộc chặt chẽ lẫn nhau”.
Ngày nay quản trị công hay còn gọi là hành chính phát triển đã thay thế mộtcách hiệu quả mô hình quản lý công truyền thống Trong tương lai khu vực công sẽ
có rất nhiều thay đổi: về lãnh đạo, sự cai quản, sự cộng tác… Quản trị công không
có nghĩa là bắt chước sự thực hiện ở khu vực tư nhân Nó có nghĩa là đặc tính củaquản trị công cần được ứng dụng Nó cần sự cân nhắc khác nhau giữa các khu vựcnhưng vẫn khẳng định rằng công việc được thực hiện bởi những nhân viên phục vụcông mang tính quản trị hơn là quản lý hành chính Chuyển đổi từ “Hành chínhcông truyền thống” sang “Quản trị công” là xu hướng phổ biến trên thế giới, đặcbiệt là những nước có nền kinh tế thị trường phát triển
Đặc trưng của quản trị công mới theo Hood (1991, trích bởi Hughes, 2012)bao gồm 07 điểm chính sau:
(1) Thực tiễn quản trị chuyên nghiệp trong lĩnh vực công Điều này có nghĩa
là để cho những người quản lý quản trị hoặc như Hood đề cập nó là “quản trị tùy ýnăng động, có thể nhìn thấy được của các tổ chức từ việc đặt con người lên hàngđầu”
(2) Các tiêu chuẩn và các biện pháp thực hiện rõ ràng Mục tiêu cần được xácđịnh rõ ràng Trách nhiệm giải trình đòi hỏi phải có một tuyên bố rõ ràng về mụctiêu Hiệu quả đòi hỏi phải có một cái nhìn nghiêm khắc vào các mục tiêu
(3) Tập trung vào kiểm soát đầu ra Các nguồn lực được chuyển đến khu vựctheo hiệu suất đo được, vì nhu cầu phải nhấn mạnh kết quả chứ không phải là thủtục
(4) Thay đổi theo hướng phân tách các đơn vị trong khu vực công Phân chiacác đơn vị lớn thành các đơn vị nhỏ, tài trợ riêng biệt và cho giao dịch với nhau trên
có sở nguyên tắc “chiều dài cánh tay” (không bị tác động lẫn nhau)
(5) Thay đổi để cạnh tranh mạnh hơn trong khu vực công Xu hướng hợpđồng kỳ hạn và thủ tục đấu thầu công khai Sử dụng sự cạnh tranh là chìa khóa đểgiảm chi phí và nâng cao tiêu chuẩn
(6) Một nhấn mạnh từ phong cách thực hành quản trị khu vực tư nhân Thoátkhỏi kiểu mệnh lệnh quân sự, đạo đức công vụ và linh hoạt trong việc tuyển dụng
Trang 20và khen thưởng.
(7) Một nhấn mạnh về kỷ luật mạnh hơn và sự cẩn thận trong sử dụng tàinguyên Hood xem đây là “cắt giảm chi phí trực tiếp, nâng cao kỷ luật lao động,thắt chặt nhu cầu công đoàn, giới hạn chi phí biến chứng đối với kinh doanh” và “sựcần thiết phải kiểm tra nhu cầu tài nguyên của khu vực công, làm việc nhiều hơnvới chi phí ít hơn”
Nhìn chung, quản trị công mới (hành chính phát triển) có cách tiếp cận mớiđối với hành chính công truyền thống Sự xuất hiện của mô hình này đã làm chocách thức hoạt động của khu vực công có nhiều thay đổi đáng kể Với các đặc tínhcủa mô hình mới: hiệu quả hoạt động quản lý, phi quy chế hoá, phân quyền, ápdụng một số yếu tố của cơ chế thị trường, gắn bó với chính trị, tư nhân hoá mộtphần hoạt động của Nhà nước, vận dụng nhiều phương pháp quản lý doanh nghiệp,
xu hướng quốc tế hoá; quản trị công mới xuất hiện nhằm khắc phục những yếu kémkhông phù hợp của mô hình hành chính truyền thống Nền kinh tế Việt Nam đangvận hành theo cơ chế thị trường và ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tếtoàn cầu Chức năng của Chính phủ chắc chắn sẽ phải đối mặt với những thách thứccủa thị trường trong nước và thị trường thế giới Vận dụng những nhân tố hợp lýcủa mô hình quản trị công mới (hành chính phát triển) để xây dựng một mô hìnhmang tính đặc sắc Việt Nam, đẩy mạnh cải cách hành chính theo kịp cải cách kinh
tế đang là câu hỏi đặt ra đối với các nhà lãnh đạo, quản lý và các nhà nghiên cứukhoa học
6.1.4 Sự hài lòng:
Sự hài lòng (satisfaction) là mức độ của trạng thái cảm giác của một ngườibắt nguồn từ việc so sánh kết quả thu được từ việc tiêu dùng sản phẩm hàng hóa haydịch vụ với những kỳ vọng của người đó Mức độ hài lòng phụ thuộc sự khác biệtgiữa kết quả nhận được và kỳ vọng, nếu kết quả thực tế thấp hơn kỳ vọng thì kháchhàng không hài lòng; nếu kết quả thực tế tương xứng với kỳ vọng thì khách hàng sẽhài lòng; nếu kết quả thực tế cao hơn kỳ vọng thì khách hàng rất hài lòng (PhilipKotler, 2001) Từ định nghĩa có thể thấy được sự hài lòng của khách hàng phụ thuộcvào mức độ kỳ vọng của khách hàng
Trong nghiên cứu này, bộ máy công quyền tỉnh Long An đóng vai trò là
Trang 21người phục vụ, là người cung cấp các dịch vụ công cho người dân, doanh nghiệp và
cả cán bộ, công chức, viên chức đang công tác trong bộ máy nhà nước tại địaphương (gọi chung là công dân) và được xem là những khách hàng Chính vì vậy,việc nghiên cứu chất lượng quản trị hành chính công cấp tỉnh tại Long An qua đánhgiá của cán bộ, công chức, viên chức gần giống như đánh giá của người dân vàdoanh nghiệp, tuy nhiên đứng trên gốc độ là người cung ứng dịch vụ cũng như làngười sử dụng dịch vụ hành chính công để đánh giá sẽ mang giá trị cao hơn và có ýnghĩa quan trọng trong việc cải cách hành chính công vì nhiều khả năng ứng dụng
sẽ đạt ở mức cao hơn
6.2 Các nghiên cứu trước:
6.2.1 Nghiên cứu trong nước:
6.2.1.1 Mô hình một cửa, một cửa liên thông tại thành phố Hồ Chí Minh:
6.2.1.1.1 Các mô hình áp dụng cơ chế một cửa:
Viện nghiên cứu Trung ương (2007), cho rằng Dự án cải cách hành chínhthành phố Hồ Chí Minh đã trải qua một thời gian dài thử nghiệm nhiều phươngpháp với những mô hình khác nhau tuỳ thuộc vào từng thời điểm và điều kiện kinh
tế xã hội của thành phố Mô hình được thử nghiệm sau là sự cải tiến và nâng cấpcủa các mô hình thí điểm trước Ba mô hình áp dụng cơ chế một cửa của thành phố
Hồ Chí Minh đó là: “Mô hình một cửa đơn giản”, “Tổ nghiệp vụ hành chính công”,
“Tổ công tác liên ngành”, và “Mô hình một dấu”
Nếu như “Mô hình một cửa đơn giản” đã khá thành công trong việc xâydựng được một đơn vị tổ chức đảm bảo việc nhận mọi yêu cầu và kết quả xử lý cácyêu cầu dịch vụ công của nhân dân thì mô hình “Tổ nghiệp vụ hành chính công” làmột nỗ lực tiếp theo nhằm tăng cường hiệu quả bên trong của đơn vị tổ chức đóthông qua việc tách và đưa ra các chức năng dịch vụ công của các phòng ban chứcnăng liên quan về đơn vị này Mặt khác, “Mô hình một cửa đơn giản” và “Tổ nghiệp
vụ hành chính công” được thiết kế và vận hành ở các cấp quận/huyện và phường/xãhoặc trong một phạm vi sở/ngành riêng lẻ Do vậy, việc áp dụng cơ chế một cửa đốivới các yêu cầu dịch vụ hành chính công đòi hỏi sự tham gia của nhiều sở/ngành vàcác cấp quận/huyện cần có một mô hình mới, đó là “Tổ công tác liên ngành” (Việnnghiên cứu Trung ương, 2007)